THÍCH TÂM TRỌNG

THÍCH TÂM TRỌNG
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT

Thứ Hai, 10 tháng 6, 2013

KINH A SOA MẠT BỒ TÁT

KINH A SOA MẠT BỒ TÁT Quyển thứ nhất. Nghe như vầy: Một thuở đức Phật ở tại vùng đất du cư của Như Lai với đạo tràng báu nghiêm tịnh lồng lộng. Chính là sự kiến lập của Chánh Giác, đại đức trang nghiêm mà nương theo tích lũy hạnh nghiệp thần diệu, là báo ứng thành Phật, cung của các Bồ tát, tuyên dương vô lượng biến hóa của Như, vào tuệ không đáy, dạo nơi thù thắng, lòng mang vui vẻ, phân tách đều khắp, đã tu hạnh Thánh, hỏi han đương lai, công huân không bờ cõi, danh xưng không giới hạn, bình đẳng Chánh Giác, đã thành Phật đạo, giỏi chuyển pháp luân, khai hóa vô số những môn đồ theo học mà đối với các pháp thường được tự tại, biết tính chúng sinh, hiểu rõ các căn, qua đến bờ kia, tùy lúc phương tiện, trừ các ngăn ngại, Phật sự không chỗ, trụ không chỗ trụ. Ðức Phật cùng với chúng đại Tỳ kheo gồm sáu trăm vạn người. Họ đều là những người tâm hạnh an hòa, tiêu diệt trần lao, ân ái, mọi thứ tệ ác, chính là pháp vương tử của đức Như Lai đã tu pháp thâm áo, do chính pháp sinh ra, uy nghi, lễ tiết, tiến lùi sáng ngời, là thần hộ mệnh của đại chúng, thân cận theo về với Như Lai. Ðức Phật lại cùng với vô cực những Bồ tát, số ấy rất nhiều chẳng thể nói lên hạn lượng. Tất cả Ðại Thánh thần thông đã đạt, chứng được Tổng trì, biện tài vô ngại, thần trí diệu đạt, chẳng thể nêu ví dụ, trong khoảnh khắc một niệm đi đến vô lượng đất nước cúng dường những chúng Như Lai trong mười phương, phụng sự bậc minh thức, nghe pháp không chán, hỏi han thọ trì, tôn phụng, tuyên dương. Các vị ấy thường ôm lòng cần tu, dạy răn quần lê, đầy đủ trí quyền biến, đã độ vô cực, lập vô cái môn, đều vượt qua vọng tưởng, không ứng gì chẳng ứng, gần gũi Nhất thiết trí và các thông tuệ địa. Những vị Bồ tát ấy tên là Thiên Minh Bồ tát, Tuyển Chiến Bồ tát, Chiếu Tạng Bồ tát, Trừ Mạn Bồ tát, Dũng bộ Bồ tát, Nhãn Căn (Quán) Bồ tát, Ly Ngôn Bồ tát, Trừ Minh (tối) Bồ tát.v.v... Những hạng Bồ tát như vậy tụ hội với phước đức chẳng thể nghĩ bàn mênh mông rực rỡ. Tất cả những vị Bồ tát đều như vậy. Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn nhập vào sở nguyện thành hạnh của các Bồ tát. Pháp ấy gọi là Vô Cái môn. Pháp môn này làm tịnh các khai sĩ, nghiêm diệu đạo tràng, pháp lực chánh giác đủ vô sở úy, ở nhà Thánh tuệ dạo chơi các pháp mà được tự tại, nhiếp lấy ấn Tổng trì, hiểu rõ biện tài, đã vào cửa đạo, dùng đại thần thông, đến khắp nơi mở ra ánh sáng, giảng thông phân biệt pháp luân bất thoái, bình đẳng điều ngự các thừa, thông tất cả pháp, không bị phá hoại, ban tuyên các căn ý tính của chúng sinh, thông đạt điều kiên yếu, quyết định tất cả pháp, hàng phục ma trường, theo ứng thuận pháp đều có thể khai hóa. Trần lao kết chặc, mê hoặc tà kiến sáu mươi hai nghi, mở Vô ngại trí, minh giải vô tế, sự khuyến trợ nghiệp liền vi phân phát đi, vào đến đạo tuệ bình đẳng của chư Phật, không thí không mong không xứ sở môn, diễn nói các pháp như xét chân đế, bình đẳng xử sự với có tưởng và cùng vô tưởng, hiểu rõ thâm áo mười hai nhân duyên, tích lũy công đức chẳng thể nói lên hạn lường, trang nghiêm hạnh thân miệng ý của chư Phật, chí được sự biết vô tận do thân tu bốn thánh đế, giáo thọ thân tâm Thanh văn tịch tịnh, hóa độ Duyên giác thừa chứng Nhất thiết trí, đủ A duy nhan hưng khởi Ðại thừa học, vào tất cả pháp mặc tình độc bộ, khen vịnh đức công huân của Như Lai, tùy thời mà tuyên dương, hiển thị, ủy thác, vỗ về, giúp đỡ, răn dạy dần dần, dẫn đường mở mang pháp tạng hiển bày xứ sở ấy, diệt trừ sự ngăn che nhỏ, khai thị ánh sáng. Ðức Thế Tôn đào tạo, diễn giảng, giải thích lời pháp giáo khiến cho lưu bố cùng khắp mười phương. Vào lúc ấy, phương Ðông tự nhiên xuất hiện ánh sáng lớn màu vàng. Ánh sáng ấy soi đến đạo tràng Bảo Tịnh này và sáng chói cả ba ngàn đại thiên thế giới, không đâu chẳng cùng khắp. Ánh sáng rực rỡ che hết cõi này. Mặt trời, mặt trăng, Phạm vương, Ðế Thích và Tứ Thiên Vương, ánh sáng oai thần của họ đều không thể hiện, làm cho ánh sáng của trời đại thần diệu, các đấng tôn quí lồng lộng, trời, rồng, quỉ, thần, Kiền đạp hòa, A tu luân, Ca lâu la, Chân đà la, Ma hầu lặc đều tiêu tan. Ánh sáng của những ngọc Minh nguyệt, ngọc báu Diệm quang, lửa lớn đình liệu... cũng đều tiêu diệt. Chỉ riêng có ánh sáng lớn vô cực của đức Như Lai chí chân và ánh sáng thân những A duy nhan Bồ tát là hiển hiện, còn tất cả những ánh sáng khác đều biến mất. Cả ngàn nước này trở lại xa xăm sâu kín tối tăm. Ánh sáng mặt trời mặt trăng tuy là rộng lớn, nhưng chẳng thể đuổi kịp ánh sáng uy thần lồng lộng chiếu soi đến vùng đó. Ánh sáng ấy chẳng ngại cây cối, tường vách, núi đại Tu di, Tuyết sơn, Hắc sơn, núi Mục Lân, núi Ðại Mục Lân, núi Thiết Vi, núi Ðại Thiết Vi, ánh sáng ấy đều thông qua, soi đến ba ngàn đại thiên thế giới, đến ngục Vô Trạch, soi lên đến cực cùng phương trên. Những người trong địa ngục, ngạ quỉ, súc sinh thì thân họ nhờ ơn luồng ánh sáng này mà mọi nỗi khổ đều tiêu trừ, mọi đau đớn đều ngưng nghỉ, thân tâm được yên ổn, đều chúc mừng nhau tự cho là gặp thời. Ở đạo tràng Bảo Tịnh, phía bên trái đức Phật, liền tự nhiên sinh ra những sáu mươi ức hoa sen bảy báu. Hương thơm hoa ấy sực nức lan tỏa khắp nơi, ngữi được không ai chẳng vui mừng. Hoa ấy nhu nhuyến lớn như bánh xe, màu sắc rực rỡ, cánh hoa nhiều vô số ức. Hình dáng hoa ấy tròn trỉnh do trăm ngàn thứ báu tạo thành. Trên hoa ấy trưng bày trướng giao lộ, trang hoàng tàng che ngọc. Hoa ấy phô bày vẻ đẹp đẽ, tỏa hương thơm ngát khắp cùng ba ngàn đại thiên thế giới. Những hương thơm danh tiếng có trong chư thiên nhân dân của ba ngàn đất nước này gặp phải hương hoa ấy đều cũng tiêu tan. Những loài sống trên trời, ở thế gian nhờ ơn hương hoa này đều ưa pháp hương, chẳng ưa ái dục. Ðến đây, hiền giả Xá Lợi Phất nhìn thấy hiện tượng ánh sáng vô cực hoa sen thanh tịnh như vậy thì kinh ngạc vui mừng không lường, liền đứng dậy, đi đến chỗ đức Phật, quì dài, vòng tay, hỏi đức Thế Tôn rằng : - Hiện tượng con thấy hôm nay là điềm ứng gì? Hiện ra hình tượng, hiển đại quang minh, hoa sen thanh tịnh chẳng thể xưng kể như vậy, từ xưa đến nay con chưa từng thấy nghe. Ðức Phật bảo ngài Xá Lợi Phất rằng : - Có một vị Bồ tát tên là A Soa Mạt từ phương Ðông đến cùng sáu mươi ức Bồ tát với quyến thuộc vây quanh. Những vị ấy sắp đến cõi này nên hiện trước điềm ứng! Ðức Phật nói chưa bao lâu thì Bồ tát A Soa Mạt tức thời hiện thân cùng với sáu mươi ức Bồ tát đồng tiến đến. Do dùng đại thần túc hiển hiện thần uy của Bồ tát, bậc khai sĩ biến hóa làm chấn động nước Phật, tuông ánh sáng chói lòa, mưa xuống mọi hương hoa, lại cũng tấu lên trăm ngàn kỹ nhạc. Ðến đạo tràng Bảo Tịnh rộng rãi rồi, những vị ấy đi đến chỗ đức Phật, trụ trên hư không như ở dưới đất, vòng tay tự qui y, dùng một âm thanh mời gọi ba ngàn đại thiên thế giới, dùng nghĩa kệ khen đức Thế Tôn rằng : Thánh hùng bỏ tham dục Không nhiễm bẩn sạch trong Tuệ ấy trừ u tối Mắt thanh tịnh đem ban. Ðoạn ba cấu mệt nhọc Mọi tỳ vết tiêu tan Các trần lao diệt mãi Nay cúi đầu Thế Tôn! Khử bỏ việc phá hoại Lưới ngu si xẻ tan Thánh chủ có mười lực Sợ hãi đều phục hàng. Siêu việt ở chúng hội Bỏ hết ba buông lung Ðộc bộ như sư tử Dạo bước không kinh hoàng. Ánh sáng ly cấu ấy Không đâu chẳng sáng thông. Nghĩ đến khắp tất cả Tế độ mọi lỗi lầm Vô minh còn che kín Tiêu diệt những tối tăm. Ánh sáng ấy chiếu sáng Như nhật xuất mây tan Thấy mọi người cô khổ (cô độc) Vì họ dấy xót thương. Tiêu trừ già bệnh chết Cứu hộ kẻ lỡ làng (người không ai cứu) Ðạo sư dụ sinh chúng Hoằng từ thường xót thương. Ðã tu hạnh nghiệp ấy Như thầy thuốc chữa bệnh Ngài Xá Lợi ngự chúng Hóa ngu xuẩn vô minh. Nghe xong hoạn người khác Ðộ họ như lái thuyền Trần lao khởi vọng tưởng Ðã hóa độ không lường. Chỗ du cư vị ấy Không (nhiễm) trước như hoa sen Rõ tất cả các pháp Bản tịnh là lặng yên. AÂm thanh miệng đã diễn Ðều sinh từ nhân duyên Không ngang ngạnh tạo tác Ðạt điều này do (tập) quen. Mang từ ai mẫn thế Hàng phục, dạy chúng sinh Như hư không qui mạng Thấy tất cả như trên (đấy). Ở tại nơi pháp thế Chẳng động như đại sơn Chúng sinh do không biết Quen làm nghiệp chẳng cầu (yếu). Tuy sống tập cư xứ Ðều qua nạn tử sinh Mắt đạo rất tươi sáng Giống như hoa sen xanh. Uy thần ấy lồng lộng Như vầng trăng đầy tròn Tất cả người thế gian Ðều chung hỏi han đức Bỏ não (phiền) chẳng ưa tục Nên con lễ Thế Tôn! Ðến đây, ngài A Soa Mạt cùng sáu mươi ức Bồ tát tung bài kệ này, khen ngợi đức Phật xong thì từ hư không hạ xuống, cúi đầu dưới chân đức Phật, nhiễu quanh đức Thánh bảy vòng, lui về ngồi lên hoa sen. Ngài Xá Lợi Phất thừa uy thần đức Phật mà hỏi rằng : - Kính thưa đức Thế Tôn! Bồ tát A Soa Mạt từ đâu lại? Danh hiệu đức Phật ở đó? Ðất nước loại gì? Thế giới xa gần? Cách đây bao xa? Ðức Phật đáp rằng : - Ông tự đem việc này hỏi ông A Soa Mạt thì sẽ được tỏ bày! Ngài Xá Lợi Phất hỏi ngài A Soa Mạt rằng : - Thưa Tộc tính tử! Từ chỗ ngài đến cách đây xa gần? Hiệu đức Phật ấy và thế giới là gì? Ngài A Soa Mạt bảo ngài Xá Lợi Phất rằng : - Trưởng lão còn tư tưởng khứ (đi) lai (lại) ư? Ngài Xá Lợi Phất đáp rằng : - Thưa Tộc tính tử! Tưởng tôi đã đoạn! Ngài A Soa Mạt nói rằng : - Thưa ngài Xá Lợi Phất! Tưởng ấy đoạn rồi thì chí chẳng mang hai, vì sao ngài dấy niệm mà hỏi vấn đề từ đâu lại. Thưa ngài Xá Lợi Phất! Có lại ấy là dấu vết của hợp hội. Giả sử đi là dấu vết của biệt ly. Nếu khiến cho chẳng hợp hội, không biệt ly thì đó không đi, lại. Không đi, lại ấy là hạnh Thánh đạo. Thưa ngài Xá Lợi Phất! Có lại ấy là tướng tự nhiên tạo. Nếu có đi là tướng tội phước hết. Kể ra tội phước là tướng tự nhiên. Nếu đối với những tướng tội phước tận thì không có tướng. Tướng không đến là hướng đến của Thánh đạo. Thưa ngài Xá Lợi Phất! Có lại ấy gọi là tướng sở nguyện (?). Nếu có đến (vãng) thì lìa khỏi sở nguyện. Tướng sở nguyện ấy lìa khỏi tướng sở vãng (đến) tức là tướng của Thánh đạo. Thưa ngài Xá Lợi Phất! Có lại ấy là tướng sinh khởi. Nếu có đến (vãng) thì tức là diệt tướng. Trừ diệt tướng sinh vãng, chẳng khởi, chẳng diệt, không sở trụ thì tức là tướng của Thánh đạo. Thưa ngài Xá Lợi Phất! Tướng có lại ấy là cửa dạy răn (huấn hối môn). Nếu có đến (vãng) thì dạy trao tan hết. Sinh vào cửa vô tận không dạy trao tức là hướng đến Thánh đạo. Thưa ngài Xá Lợi Phất! Nếu có vãng lai thì rơi vào Tục, không có khứ lai mới gọi là đạo. Thưa ngài Xá Lợi Phất! Tiêu diệt khứ lai, trừ khỏi đương lai và các cảnh giới thì mới hướng đến Thánh đạo. Thưa ngài Xá Lợi Phất! Có lại ấy là tướng hiện tại. Nếu có đi thì chính là tướng biệt ly. Ðến với hiện tại và bỏ tướng biệt ly tức là hướng đến Thánh đạo. Thưa ngài Xá Lợi Phất! Có lại ấy chính là tướng duyên khởi báo ứng. Nếu có đi thì hết tướng báo ứng. Không có báo ứng, chẳng khởi, chẳng diệt, đến với vô tướng thì mới hướng đến Thánh đạo. Thưa ngài Xá Lợi Phất! Có lại ấy là theo tục duyên hòa hợp mà đạt đến đường lối. Nếu có đi thì gọi đó là âm thanh. Ngôn giáo văn tự là đường tốt vậy. Giả sử loại trừ âm thanh, văn tự, nhân duyên, đường tắt thì hướng đến Thánh đạo. Ngài Xá Lợi Phất hỏi ngài A Soa Mạt rằng : - Thưa Tộc tính tử! Tôi nay do sự giảng giải này biết ngài có biện tài nên muốn hỏi nhau. Sở dĩ vậy là vì muốn được nghe và thâu thái những điều vốn chưa được nghe. Thưa Tộc tính tử! Giống như vị chúa trùm cửa ải nên được người đẩy cửa hỏi xin ra vào, qua lại. Giả sử có người mang nặng hàng hóa hoặc có người lại đi không. Muốn cầu được thuế ông ấy phải nạn vấn hạch hỏi : “Ngươi mang theo đồ gì thì phải nộp thuế!” Thưa Tộc tính tử! Tôi cũng như vậy, thuộc hạng thấp hèn, là giống Thanh văn nương cậy vào âm thanh người khác mà được giải thoát. Chúng tôi hợp cùng duyên âm hưởng nên thường phải hỏi han để thọ lấy. Các bậc Chánh sĩ.v.v... đem của dùng ủng hộ tách ra nuôi dưỡng Ðại thừa. Từ đó sinh ra Thanh văn, Duyên giác. Do đó cho nên, hay thay! Thưa Tộc tính tử! Ngài vì chúng tôi phân biệt nói rõ chỗ ngài từ đó đến cách đây xa gần? Ðức Như Lai và đất nước hiệu tự là gì? Ngài A Soa Mạt nói rằng : - Thưa ngài Xá Lợi Phất! Ðức Như Lai ở trước mặt, ngài nên khải vấn, ngài sẽ được mở mang, những lưới nghi của chúng hội sẽ được giải quyết! Ngài Xá Lợi Phất trước hỏi đức Phật rằng : - Từ chỗ đến của Bồ tát A Soa Mạt cách đây xa gần? Hiệu của đức Phật ấy là gì? Ðất nước loại nào? Vô ương số người vang danh cõi ấy đều phát ý đạo, mặc giáp đại đức? Ðức Phật dạy rằng : - Xá Lợi Phất! Hãy lắng nghe và suy nghĩ cho tốt! Tên thế giới đó có nói lên công huân và hiệu của đức Như Lai nếu có người nghe thì chớ hoài nghi mà đều phải chung tin tưởng, đức Như Lai Chí Chơn không gì ngăn ngại cũng không ấm cái, tất cả mẫn đạt không gì chẳng thông suốt, đều xin thọ giáo - Ðức Phật bảo ngài Xá Lợi Phất - Phương Ðông cách đây bằng một số cõi Phật nhiều như những bụi chứa trong mười hằng hà sa số các đức Phật. Qua khỏi ngần ấy cõi, có thế giới tên là A Ni Di Sa, ở đó có đức Phật hiệu là Tam Mạn Bạt Ðà Như Lai Chí Chơn Ðẳng Chánh Giác, ngài hiện tại đang nói pháp (A Ni Di Sa : Bất Tuần, Tam Mạn Bạt Ðà : Phổ Hiền). Thế giới Bất Tuần không có tên của Thanh văn, Duyên giác. Thánh chúng của đức Thế Tôn thuần là các Bồ tát ở đời xa xưa tạo hạnh đã hoàn bị : Bố thí, điều ý, an tường, thánh triết, cấm giới, bác văn, tịch không phóng dật, công huân chỉ túc, kiến lập nhàn tịnh, do sức nhẫn nhục lòng chẳng ôm hại, tinh tấn kiên cố tích lũy công đức, thường sống khắc kỷ, khắp đều thiền tư (suy nghĩ) Thoát môn tam muội mà chánh thọ, lấy thần thông tuệ mà tự vui sướng, dùng ánh sáng vô cực trí quang minh để tùy lúc phân biệt, ban tuyên tất cả chương cú nghĩa lý, đã mang lòng từ bình đẳng như hư không. Tấm lòng ai của những vị ấy thương xót chúng sinh, biết chí tánh của họ mà khai hóa. Họ vui mừng thì vì họ mưa xuống pháp vị đạo cam lộ, trừ sạch tất cả sân hận oán kết. Họ hành hộ thì lìa khỏi hai thừa, dùng không, vô tướng lập nên pháp vô nguyện, cứu vớt hoạn nạn trần lao các ma, uế trược, nguy hại. Rõ biết căn bản chúng sinh mà hướng đến mười hai duyên khởi, quan sát bệnh tật của họ ứng bệnh cho thuốc, nắm chắc chế ngự lòng ấy bình đẳng luôn luôn là một như đất nước lửa gió, không có yêu ghét, hàng phục trừ khử tất cả mọi tà dị học. Ngần ấy pháp chiến đấu lập vững tràng phan giống như bậc dũng tướng thống soái đại quân bẻ gãy hàng phục quân địch, vào sâu sự giác ngộ chánh pháp của chư Phật, mười lực vô úy, lìa hai phẩm hội, thuận theo nghiệp nhân duyên hữu vô, siêu việt hạnh các kiến trung gian, ném bỏ ngô ngã và nhân, thọ mạng, xứ sở có không, phản chân, hướng ngụy vốn là đão kiến. Những kinh điển môn, ấn pháp của Như Lai pháp vương in vào đó. Biện tài diễn nói không gì ngăn ngại, ở vô ương số ức trăm ngàn kiếp, âm từ thông suốt không thể ngăn chận (tắc nghẻn) chẳng cho thông lưu. Dùng thần túc của Phật cảm hóa vô lượng Phật quốc, qua lại giáp vòng, cuối rồi lại bắt đầu. Hiểu rõ tùy thời tiêu trừ tất cả sợ sệt, sân nhuế, kiêu mạn, tự đại, diễn nói âm thanh như tiếng rống sư tử, cũng như sấm rền. Quan sát hạnh thượng, trung, hạ của chúng sinh mà làm bạn bè bền vững, đặt họ đất diệt độ rốt ráo vĩnh viễn. Nổi dậy mây vô cực, cảm động rền sấm pháp, thông suốt chớp tuệ giải, mưa xuống nước cam lồ, tuyên dương đạo pháp trân (quí), chẳng đoạn tuyệt Tam Bảo, chí tánh thanh tịnh như ngọc Minh Nguyệt, thông đạt trong ngoài (lộ ra ngoài, gói ở trong). Chánh Giác chiếu sáng, tướng tốt thù thắng là do cấm giới mà tự trang nghiêm. Dùng trăm ngàn đức mà trang sức thân thể, dùng pháp chư Phật đến với A duy nhan nhất sanh bổ xứ, phụng tuân tu hành. Chúng sinh dốc lòng tin nghe lời giáo hóa giải thoát thì tùy theo chí tánh của họ mà khiến cho đều được cả. Giác ý, tổng trì là tòa sư tử nghiêm tịnh đạo tràng. Minh thức siêu nhập vào bốn vô sở úy đều hiện lên sự hưng tạo sự nghiệp, thánh thể chánh giác của chư Phật, lấy bỏ tiến lùi lòng ấy mạnh mẽ mà được tự tại, chuyển pháp luân báu Vô thượng. Lúc bấy giờ, chúng hội nghe đức công huân của các Bồ tát, vui mừng nhảy nhót chẳng thể tự kiềm chế, phát sinh lòng sáng suốt. Họ lấy hoa sen xanh vàng đỏ trắng rất đẹp ở trên trời và các hoa ý để cúng dường đức Phật và tung lên trên Bồ tát A Soa Mạt rồi đồng cất tiếng khen ngợi uy đức rằng : - Chúng con được lợi lắm! Vì thu hoạch được phước khánh (mừng) mới có thể gặp gỡ vị Chánh sĩ này, được nhìn thấy cuộc hội ngộ nhiều thiện lợi. Chúng con cúi đầu qui mạng mà cúng dường ngài. Nếu có chúng sinh được nghe tên của các Bồ tát công huân này thì đức chẳng thể lường và nhờ sự nghe ấy, đều sẽ hưng phát đại tâm Bồ đề. Ðến đây, ba vạn sáu ngàn những người đến hội đó đều phát ý đạo Vô Thượng Chánh Chơn. Ðức Phật nói với ngài Xá Lợi Phất rằng : - Cõi A Ni Di Sa không có địa ngục, ngã quỉ, súc sinh, mọi khổ, các ác, không phụng giới sắc (răn bảo) cũng không phạm cấm, chẳng nghe thấy nữ nhân. Sở dĩ vì sao? Vì đều do giao lộ hoa sen hóa sinh, không có xan tham cũng không dâm dục, sân nhuế, lìa khỏi ngu si sợ sệt... hết thẩy đều không có tên ba thứ độc này, huống là còn có ư? Nhân dân cõi ấy không có thượng, trung, hạ, đẹp, xấu sai biệt đều như nhau không khác, cũng không là ngãvà chẳng phải ngã sở, lại chẳng ăn uống. Sở dĩ vì sao? Vì pháp hỉ (vui) là món ăn, hiểu nghĩa là nước uống, thường tự thản nhiên, tỏ rõ chẳng còn ý niệm khát, cũng không có tư tưởng đói, cũng chẳng phải ta, cũng không có người khác, cũng không hoạn nạn sợ ma chúng. Lại, cõi Phật ấy rất rộng lớn cùng cực, một mặt trời mặt trăng chiếu soi sáu mươi ức khu vực của bốn phương. Sở dĩ vì sao? Vì là sự đạt đến của bổn nguyện Bồ tát. Do đó nên chung một mặt trời mặt trăng. Lại nữa, cõi Phật ấy không có gò đống, cao thấp, nghiêng ngã, khắp nơi đều bằng phẳng, đều là lưu ly xanh biếc, dùng mọi thứ báu đặt xen lẫn vào. Ðất cõi ấy mềm mại như xơ bông vải trời, dùng mười tám việc trang nghiêm quốc giới. Cây cối cõi ấy đều bằng báu hàng ngũ san sát, thường sinh ra hoa quả mà mùa đông mùa hạ luôn luôn sum suê. Ở cõi ấy không có cát, sỏi, đá, mọi tỳ vết dơ bẩn, Hắc sơn, Tuyết sơn... Những núi cõi ấy đều do các báu hợp thành giống như núi Tu di. Ở cõi Phật đó, trên trời dưới đất như nhau không khác, xả bỏ nghiệp ba đời lấy pháp làm của cải. Cõi đó không có vua, chỉ có đức Như Lai Phổ Hiền Chí Chơn làm Pháp vương. Lại nữa, pháp của cõi ấy chẳng dùng văn từ bảo răn. Các vị Bồ tát muốn hỏi han, thính thọ kinh điển thì đi đến chỗ đức Phật, quán tưởng ngài không chán, chẳng biết mệt mỏi. Vì sao vậy? Vì ngay khi lòng của các vị ấy mừng rỡ thì đã chứng được định ý Phật tâm, tức thời gần đến với pháp nhẫn Vô Sở Tùng Sinh. Do đó cho nên hiệu của cõi ấy là Bất Tuần vậy. Sao gọi là được định ý Phật tâm? Chẳng dùng sắc tướng, chẳng dùng cái đẹp, cũng lại chẳng dùng bổn hạnh đời trước mà đạt đến cái đức đó, cũng chẳng hy vọng làm thế, đạt đến thế. Sở dĩ vì sao? Vì chẳng nghĩ đến đời quá khứ, đương lai, cũng lại chẳng nghĩ đến đời hiện tại hôm nay, cũng chẳng do từ năm ấm, sáu bực mà đạt đến đó vậy. Sao gọi là năm? Năm ấm ấy là nghĩ đến sáu căn. Sáu căn ấy là mắt, tai, mũi, miệng, thân, ý riêng biệt. Sáu lực ấy là biết sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp. Chẳng dùng tâm thức thấy nghe mà đạt đến mọi nghiệp này. Chẳng dùng xảo ngụy mà đạt đến sinh diệt. Không ngang bằng, không tà vạy, cũng chẳng tạo ý, không điều hy vọng, cũng chẳng phải do phải, cũng chẳng phải do chẳng phải mà đạt đến. Cũng chẳng từ một, hai, ba mà đạt đến. Chẳng nhân tâm, ý thức, cũng chẳng do hiểu mọi ý niệm trong ngoài, việc vọng tưởng thi phi (phải trái) mà đạt đến đó. Cũng không do sắc thọ (thống dương) tưởng, hành, thức mà đạt đến. Cũng chẳng dùng giới, định, tuệ ý, giải thoát, độ tri kiến, mười lực, bất hộ, bốn vô sở úy, pháp của chư Phật, chẳng thể dùng ý tưởng biết điều đó. Chẳng dùng thấy nghe mà đạt đến điều đó. Chẳng dùng tướng tưởng, cũng không ngã tưởng, chẳng dùng năm ấm, sáu bực, chỗ sinh diệt, cũng không sở trụ, cũng không chẳng trụ, không chỗ sắc thọ tưởng hành thức, cũng chẳng nhãn sắc, nhĩ thanh, tỵ hương, thiệc vị, thân xúc, tâm pháp mà đạt đến điều đó, cũng chẳng được chỗ. Sở dĩ vì sao? Vì chẳng thể dùng mắt mà thấy mọi tướng, chẳng thể thấy chỗ tưởng. Chẳng thấy, chẳng khởi, chẳng diệt, chẳng cuối cùng ấy thì tức là không có bắt đầu. Chỗ trụ ấy là nhân duyên, đã làm mới đạt đến đó, tiêu trừ qui diệt bẩn trần lao. Sở dĩ vì sao? Vì dụng ái dục nên nói rằng phải diệt. Do cái cớ ấy nên đoạn với nhân duyên. Dụng ngô ngã nên do đó phải diệt. Tịnh ấy đều sáng chẳng tăng chẳng giảm, cũng lại chẳng nghĩ đó là an hay đó là khổ. Tác khởi sự tính toán thì chẳng lìa khỏi dục, cũng chẳng dùng ý nghĩ mà lấy làm phiền não. Các tưởng vốn giải thoát nên hành đủ hết. Ðã có thể đủ hết, đạt được như không có thân thì sắc làm sao có thể được. Không có thống thì từ cái gì có dương (bệnh), thường trụ như pháp. Nếu chẳng tưởng đạo thì chẳng phải tục nghiệp. Giả sử không có điều nghe thì từ cái gì mà có thức, không sở kiến thì cũng không sở đắc. Không sở đắc thì sao gọi là giải thoát, cũng lại chẳng được ý niệm tư duy tâm sở pháp, cũng chẳng mang theo và không sở sanh vậy. Chẳng nhìn thấy đến thì chẳng thấy vãng sanh. Vốn chẳng thể được giống như các pháp đều ngang bằng không khác. Ví như có người hướng lên chiêm ngưỡng hư không thì sự nhìn thấy của mắt người ấy chẳng thể phân biệt đâu là không, đâu là chẳng phải hư không. Ý Phật như vậy, khi Bồ tát được định ý Phật tâm thì biết các Phật pháp, mọi thứ tướng tốt đều đầy đủ, thành tựu đạo tuệ hoàn bị. Nhưng điều Như Lai tuyên dương, các vị Bồ tát đều có thể hiểu thông suốt, tức thời khải thọ, phúng tụng, thông lợi. Khắp mọi người có thể hiểu đầy đủ các pháp của đức Phật. Ðức Phật bảo ngài Xá Lợi Phất rằng : - Ðiều ban tuyên ấy của đức Như Lai Phổ Hiền, đầu tiên không có hai lời. Sao gọi là hai? Một là chẳng giảng chấp trước, hai là chẳng nói đoạn dứt, tu hành bình đẳng không có thích hay không. Sao gọi là không (vô)? - Chưa từng có ý nghĩ theo người hỏi han thính thọ, cũng chẳng tự nghĩ là mình có sự hiểu biết. Các vị Bồ tát ấy vừa thấy đức Phật xong liền đầy đủ sáu độ vô cực - Ðức Phật dạy - Sao gọi là đầy đủ? Bỏ mọi sắc tưởng, không điều hy vọng thì đó là đầy đủ Thí độ vô cực. Chẳng tưởng thân Phật, đạt đến “bản vô” thì đã hoàn bị Giới độ vô cực. Sở dĩ vì sao? Vì chẳng tự tưởng nên đã được thành tựu ba mươi hai tướng. Kể ra các pháp giả có danh hiệu, tướng không có tận, trụ là chẳng khởi. Vậy nên gọi là Nhẫn độ vô cực. Tất cả các pháp đều chẳng thể thấy, cũng không có cái để nghe. Sở dĩ vì sao? Vì Bồ tát đại sĩ thấy thiện chẳng vui, thấy ác chẳng buồn, lòng không thích hay không. Vậy nên gọi là Tấn độ vô cực. Lòng chẳng tưởng niệm, chẳng thể tưởng mà lặng yên thì đó gọi là Tịch độ vô cực. Hiểu tướng sắc rỗng không, chẳng do tướng này mà mang lòng tự đại. Vậy nên gọi là Trí độ vô cực - Ðức Phật dạy - Các vị Bồ tát ấy ở tại cõi đó nhân tiện đầy đủ sáu độ vô cực nên chứng được pháp nhẫn Vô Sở Tùng Sinh và quan sát khắp các đất nước Phật trong mười phương, một ít chúng học Bồ tát có thể theo kịp lời răn dạy các Bồ tát của đức Phổ Hiên ở đất nước Bất Tuần. Ngài Xá Lợi Phất nói với ngài Bồ tát A Soa Mạt rằng : - Khoái thay! Thưa ngài! Mọi công huân của các Bồ tát ở cõi Phật đó thật khó lường! Ngài A Soa Mạt liền hỏi ngài Xá Lợi Phất : - Hiền giả có muốn thấy đức Như Lai Phổ Hiền của đất nước Bất Tuần không? Ngài Xá Lợi Phất đáp : - Thưa, muốn thấy! Và chúng hội thì đều sẽ được nhờ ơn phước khánh mà công đức càng tăng! Ngài A Soa Mạt liền ở trên tòa chánh thọ tam muội mà hiện thần túc. Ngài vào tam muội hiệu danh là Biến Kiến Chư Phật Thổ (Thấy khắp các cõi Phật) khiến cho những người trong hội và ngài Xá Lợi Phất đều được tận mắt thấy nước Phật Bất Tuần và đức Như Lai Phổ Hiền. Mọi người không ai chẳng mừng rỡ vì chưa từng có, đều cùng đứng dậy, đều vì đức Phật đó cúi đầu làm lễ. Thánh chỉ của đức Phật sai ngài Xá Lợi Phất và chúng hội, ở trên vạt áo tự nhiên có hoa hương trời, các vị liền lấy, hướng về phía đông, tung lên trên đức Phật đó. Những hoa ấy đến đó, ở trên đức Phật tại đất nước ấy và các vị Bồ tát khắp cùng cõi Phật. Các vị Bồ tát đó tự hỏi đức ấy rằng : “Hôm nay những thứ hoa đặc thù vi diệu này là từ đâu đến mà rực rỡ như vậy (nhường ấy)?” Ðức Như Lai Phổ Hiền bảo các vị Bồ tát rằng : “Ðiềm ứng này chính là A Soa Mạt nay đã đến cõi Nhẫn phụng dưỡng, hỏi han, thính thọ đức Thích Ca Văn Phật và Bồ tát mười phương đều đi đến hội ở đó. Sở dĩ vậy là vì ở đó đang giảng nói đại thừa”. Các vị Bồ tát cõi đó lại hỏi đức Phật rằng : “Sự hiển biến nơi đây là điều ân hóa của thần uy đức Phật nào?” Ðức Phật đó đáp rằng : “Của đức Phật Thích Ca Văn! Bồ tát của mười phương đều đến hội ở đó. Sở dĩ vì sao? Vì nơi đó giảng nói Ðại thừa!” Các vị Bồ tát cõi đó lại hỏi đức Phật đó rằng : “Nơi đây được nghe gì?” Ðức Phật đó bảo rằng : “Ðức Phật Thích Ca Văn diễn nói thông suốt, phân biệt, phẩm Ðại hội duyên!” Các vị Bồ tát đó lại hỏi đức Phật ấy : “Thế giới Nhẫn ấy cách đây xa gần?” Ðức Phật đáp : “Phương tây cách đây như vầy : Những hạt bụi đầy trong những đất nước Phật nhiều bằng mười lần cát sông mà giả sử cứ một hạt bụi đặt vào một cõi Phật như vậy đến hết. Rồi lấy mỗi một những hạt bụi ấy xếp theo thứ tự như các thế giới Phật ở phương tây cho đến số bụi đó hết. Quá khỏi ngần ấy cõi mới đến cõi Nhẫn, chỗ giáo hóa, sinh sống của đức Phật Thích Ca Văn”. Bồ tát cõi đó lại bạch đức Phật ấy rằng : “Chúng con nguyện xin muốn thấy đấng Năng Nhân Ðại Thánh hóa đạo hưng thịnh!” Ðức Phật Phổ Hiền diễn phát ánh sáng của thân mình soi chiếu thông suốt mười phương. Các vị Bồ tát và chúng hội ở đó đều nhìn thấy cõi Ta Bà này. Những vị Bồ tát đó tức thời đều đứng dậy, tự qui mạng từ xa, vì đức Phật Thích Ca Văn nhất tâm đảnh lễ. Chúng Bồ tát đó từ xa thấy cõi Nhẫn đầy tràn Bồ tát, không còn một chỗ trống khuyết thì lấy làm lạ, kinh ngạc vui mừng mà hỏi đức Phật ấy. Ðức Phật đó bảo rằng : “Các chúng Bồ tát của nước Phật mười phương nhiều chẳng thể kể xiết nghe nói nơi đây sẽ ban tuyên phẩm Ðại hội duyên nên đi đến khải thọ”. Ngài Xá Lợi Phất hỏi Bồ tát A Soa Mạt rằng : - Ai cho ngài tự danh là A Soa Mạt? ( A Soa Mạt Hoa dịch là Vô Tận Ý). Ngài A Soa Mạt đáp ngài Xá Lợi Phất rằng : - Do các pháp nên gọi rằng Chẳng thể tận. Sở dĩ vì sao? Vì tất cả các pháp cũng chẳng thể tận. Ngài Xá Lợi Phất nói rằng : - Nguyện xin ngài đem pháp chẳng thể tận mà giảng nói cho! Ngài A Soa Mạt nói rằng : - Vốn khi phát ý cũng chẳng thể tận. Sở dĩ vì sao? Vì ở với khắp những dục, dâm, nộ, si, túy (say) mà không bị trói buộc. Sở dĩ vì sao? Vì chẳng cùng với A la hán và Duyên giác thừa mà đồng trần (đồng chung với trần lao) nên từ khi phát tâm đến nay luôn kiên cố chí ấy, chẳng thể chuyển dời. Sở dĩ vì sao? Vì chẳng bị sự mê hoặc của tà nghiệp, tất cả chúng ma chẳng thể hoại ý. Người có tâm này thì các công đức ấy đều được thành tựu, sống với vô thường mà một mình làm nguyên thủ nắm hết mọi người. Sở dĩ vì sao? Vì có kể là thường thì tức là nghiệp sinh tử. Sở dĩ ngài đặc biệt hiểu được đạo hữu thường nên gọi là ngài ra khỏi vô thường. Từ khi phát tâm trở lại đây, tâm ý thản nhiên không bị phược trước (ràng buộc chấp trước). Sở dĩ vì sao? Vì chẳng lìa khỏi nghiệp công đức của chư Phật, sự nghiệp tu hành không thể bị lỗi lầm. Sở dĩ vậy là vì tất cả mọi ác đều hết sạch, lòng ấy yên ổn mãi mãi, chẳng thể động nên tâm ấy không ai bằng. Sở dĩ vậy là vì ít có ai đuổi kịp nên tâm như Kim Cương. Sở dĩ vậy là vì biết hết nguyên cớ tất cả các pháp chẳng thể tận, nguyên cớ đạo tuệ các pháp trong ngoài, từ khi phát tâm trở lại cứng như kim cương. Bình đẳng với chúng sinh nên tâm ấy chân chất ngay thẳng mà không dua nịnh nên hiệu là Chánh mà không thiên lệch. Từ khi phát tâm đến nay thường mang lòng tươi sáng. Sở dĩ vậy là vì vốn thanh tịnh, đã trừ khử mọi cấu bẩn, tiêu diệt những tối tăm. Tuệ ấy hiển sáng nơi sâu kín đều sáng lên. Từ khi phát tâm đến nay đã tắm rửa mọi dơ bẩn. Sở dĩ vậy là vì niềm tin ấy kiên cố không bỏ được nên phát tâm rất lớn, không có bến bờ. Sở dĩ vậy là vì lòng như hư không, phát tâm sáng mênh mông. Sở dĩ vậy là vì đều nhận độ chúng sinh nên phát tâm vô tận. Sở dĩ vậy là vì tuệ ấy huyền diệu mênh mông không gì ngăn ngại ngay từ lúc phát tâm đầu tiên không có chỗ nào chẳng nhận. Sở dĩ vậy là vì Ðại từ vô cực cũng không tận nên tâm hạnh phát ấy không thể đoạn. Sở dĩ vậy là vì công đức nguyện nên phát tâm rất yên ổn, rất đáng yêu kính. Sở dĩ vậy là vì được sự mừng vui của các chúng sinh nên phát tâm đặc biệt tôn quí, siêu dị với mọi người . Sở dĩ vậy là vì được sự phụng kính của tất cả ngoại học. Thanh văn, Duyên giác, sự phát tâm ấy không có thể biết ý. Sở dĩ vậy là vì chẳng phải là sự đuổi theo kịp của những kẻ phàm tục, giống như người nông phu chẳng thể biết thông việc của bậc Thánh Vương, phát khởi đủ thứ loại lòng. Sở dĩ vậy là vì mỗi mỗi đều từ cái nghiệp vốn đã gieo trồng kia mà thu hoạch kết quả ấy. Tất cả các pháp thường tồn tại nên từ lúc ban đầu phát tâm, lấy đạo làm gốc. Sở dĩ vậy là vì do sự đạt đến đó được yên ổn lớn nên từ khi phát tâm về sau mà tự trang nghiêm. Sở dĩ vậy là vì thành tựu công huân, từ khi phát tâm đến nay, cùng chúng sinh đặc biệt thù thắng.Sở dĩ vậy là vì đạt được Thánh tuệ nên từ khi phát tâm về sau là rất vi diệu. Sở dĩ vậy là vì dùng bố thí rộng rãi đến khắp chúng sinh, nên từ khi phát tâm về sau kiến lập được chí nguyện (đến nguyện, thỏa nguyện). Sở dĩ vậy là vì đầy đủ giới cấm nên từ khi phát tâm về sau mà không ai sánh bằng. Sở dĩ vậy là vì không có điều gì chẳng nhẫn nên từ khi phát tâm về sau không thể ức chế. Sở dĩ vậy là vì dùng hạnh tinh tấn không giải đãi phế bỏ nên từ khi phát tâm về sau không gì làm cho ham thích. Sở dĩ vậy là vì Tịch độ vô cực đạt đến định y nên từ khi phát tâm về sau không chỗ qui thú. Nhân hiểu rõ Trí độ vô cực nên từ khi phát tâm về sau vĩnh viễn không sở trụ. Sở dĩ vậy là vì dùng vô cực Từ nên từ khi phát tâm về sau gốc rễ kiên cường. Sở dĩ vậy là vì dùng hạnh bi ai nên từ khi phát tâm về sau thường mang lòng vui vẻ. Sở dĩ vậy là vì đối với các chúng sinh mang lòng bình đẳng nên từ khi phát tâm về sau tuy gặp khổ vui chẳng lấy làm dao động. Sở dĩ vậy là vì hộ tất cả nên từ khi phát tâm về sau vì các đức Như Lai đã diện kiến mà nuôi dưỡng. Sở dĩ vậy là vì áp dụng thuận theo lời dạy của chư Phật mười phương nên từ khi phát tâm về sau muốn độ mọi khổ nạn của tất cả năm đường. Sở dĩ vậy là vì dẫn đường hóa độ hưng thịnh nên từ khi phát tâm về sau chẳng bỏ Tam Bảo, không điều gì phế bỏ trái quấy. Sở dĩ vậy là vì thuận theo giới cấm của Phật mà thành tựu Thánh chúng. Bồ tát A Soa Mạt lại nói với ngài Xá Lợi Phất rằng : - Tâm Nhất Thiết Trí chắc có thể tận ư? Ngài Xá Lợi Phất đáp rằng : - Chẳng phải vậy! Giống như hư không chẳng thể cùng tận tâm Nhất thiết trí chẳng thể tận cực cùng cũng lại như vậy. Cấm giới của đức Như Lai cũng chẳng thể tận. Sở dĩ vì sao? Vì Giới chính là căn nguyên nên chẳng thể tận. Ðịnh ý của đức Như Lai do không có tận thì trí tuệ giải thoát, độ tri kiến không căn nguyên nên chẳng thể tận. Kể cả mười lực, bốn vô sở úy, mười tám pháp bất cộng chư Phật... những thứ ấy tức là căn, đây cũng là gốc của tâm nên chẳng thể tận. Nói tóm lại tất cả pháp của chư Phật là đứng đầu. Do tâm hạnh ấy nên chẳng thể tận, Tam Bảo chẳng đoạn tuyệt. Nhân cái tâm đó nên chẳng thể tận, giống như bốn đại của tất cả chúng sinh. Cái gì là bốn đại? Là đất nước lửa gió cũng chẳng thể tận. Kể ra dùng tất cả trí tuệ đó nên đều lại hiểu rõ chẳng thể nghĩ bàn tâm hạnh của chúng sinh. Bổn nguyện chẳng đoạn nên chẳng thể tận. Sở dĩ vì sao? Vì tu hành phụng sự đạo nguyện nên chẳng thể tận. Tất cả đều không sở sinh, không gì chẳng hoảng hốt, tất cả căn nguyên cKINH A SOA MẠT BỒ TÁT Hán dịch: Tam Tạng Pháp Sư Trúc Pháp Hộ, Nước Nguyệt Chi - Ðời Tây Tấn - Việt dịch: Tuệ Khai cư sĩ - Phan Rang Chứng nghĩa: Tỳ Kheo Thích Đỗng Minh --- o0o --- Quyển thứ hai. Bồ tát A Soa Mạt nói với ngài Xá Lợi Phất rằng : - Phát tâm Bồ tát vĩnh viễn không cùng tận. Sở dĩ vì sao ? Vì chẳng văn vẻ, cũng chẳng dua nịnh. Tâm ấy chất trực nên gọi là đặc thù. Chẳng làm lời thêu dệt mà dùng thanh tịnh nên bình chánh không tà vậy. Tâm ấy nhu nhuyến mà không thô ác, dốc lòng tin chơn yếu chưa từng biến đổi. Tạo lập kiên cường mà không chuyển động, chánh trụ chẳng lay, không ai có thể ganh ghét mà nhiễu hại. Do những gì nên không thể nhiễu hại ? Do hạnh ấy sửa trị nghiệp không gì có thể đuổi kịp. Có sự kiến tạo thì không ai có thể bài báng. Sở dĩ vì sao không ai có thể chê bai ? Vì dám hưng tạo không căn nguyên. Sở dĩ không căn nguyên sử dụng trung chính nên lời nói chí thành nhất định không có khác. Có sự hưng khởi công đức thì không hy vọng điều gì, chẳng cầu danh xưng, được mọi người khen, đều chung kính ngưỡng thì không thể được kém cỏi (lỗi lầm). Sở dĩ không thể được sự kém cỏi ấy là vì có sự tạo tác yên ổn lâu dài. Sở dĩ vì sao tự đạt đến sự yên ổn vĩnh cữu ? Vì sự hưng khởi công đức không lười biếng mệt mỏi. Sở dĩ chẳng chán là vì do thương xót tất cả chúng sinh vậy. Sở dĩ vì sao thương nghĩ đến chúng sinh ? Vì sử dụng Vô cực từ. Vì người lười biếng mệt mỏi mà hưng khởi tinh tấn. Sở dĩ vì sao ? Vì muốn dùng nuôi dưỡng chúng sinh. Sở dĩ vì sao nuôi dưỡng chúng sinh ? Vì do phương tiện ấy mà thành tựu công đức và hiệu lực của việc tu hành chẳng hy vọng phước. Sở dĩ không cầu là vì tâm ấy thanh tịnh nên đều nhờ ơn pháp. Người không sở cầu cũng có lực. Sao gọi là lực ? Ðó là Phật lực. Dùng nghĩa đó hộ tất cả. Sở dĩ hộ là vì muốn khiến cho quần lê đều được chỗ ấy. Sở dĩ muốn khiến cho đều được chỗ là vì khiến cho không hận. Sở dĩ không hận là vì tạo tác sự nghiệp rất yên ổn chắc chắn. Sở dĩ chắc chắn là do những điều đó không thể chế chỉ, không thể ngăn cản, áp đặt khiến cho dừng tịch nhiên giống như vàng tía mà không lấm bẩn. Sở dĩ ví dụ nó như màu vàng tía vì không có bẩn. Sở dĩ không bẩn là do bản tịnh. Sở dĩ là tịnh vì bản hạnh trừ khử dơ bẩn. Sở dĩ trừ khử dơ bẩn là vì bên trong thanh tịnh. Sở dĩ tiêu trừ lầm lỗi mà lỗi lầm đã hết nên do đó thanh tịnh - Ngài A Soa Mạt nói với ngài Xá Lợi Phất - Tâm đã tịnh thì tham dục chuyển tiêu. Không tham dục ấy chính là chẳng thể tận. Những ác tâm ấy chẳng thể lại loạn. Lại tâm ấy hộ trì sáng suốt đối với ác ý. Do đó cho nên gọi là chẳng thể tận. Tâm ấy sân nộ sở hữu mọi tham, miệt mài với dục, cống cao, tự đại thì những điều chẳng thể đều hết sạch (?). Vì Bồ tát thường hộ tâm này, phải hiểu tâm này mà chẳng thể tận. Bỏ thế lực không xem và các cấu bẩn, phải đạt tâm ấy chẳng khiến cho giải đãi thì biết tâm ấy là chẳng thể tận. Nếu người rối loạn thì tùy lúc bảo hộ. Kẻ vô trí ấy thì nuôi dưỡng khiến cho thành thục. Ðối với tất cả chúng sinh có pháp công đức hay không pháp công đức đều muốn độ thoát đến với đại an thì biết tấm lòng ấy mà chẳng thể tận. Dạy răn tất cả chúng sinh.v.v..., những người ở chỗ ách nạn đều khiến cho hưng lập công đức vô cực thì biết tấm lòng này mãi mãi chẳng thể tận. Ngài Bồ tát A Soa Mạt nói với ngài Xá Lợi Phất rằng : - Sở tập của Bồ tát cũng chẳng thể tận. Sở dĩ vì sao ? Vì sử dụng việc Bố thí nên chẳng thể tận. Những sự có thể ban cho thì đó gọi là tập Thí độ vô cực. Ðối với tất cả vật nhiều ít lấy đủ, chẳng dùng miệt mài thì đó gọi là Giới độ Ba la mật. Tất cả sự nhiễu loạn đối với thân Bồ tát mà chẳng khởi lên lòng sân dù chỉ như một sợi lông một cọng tóc thì đó gọi là tập Nhẫn độ vô cực. Sự tích lũy công đức thường ở trước chúng mà chẳng ở sau chúng thì đó gọi là tập Tấn độ vô cực. Tất cả sở học đều siêng dụng tâm thì đó gọi là tập Tịch độ vô cực. Những điều nghe học đều muốn thông đạt thì đó gọi là tập Trí độ vô cực. Bồ tát thường tu học với Ðại từ. Sao gọi là Ðại từ ? Nếu có người nguy nạn đến qui y mình, muốn cầu cứu tế thì thà mất thân mạng chẳng phụ lời yếu thệ. Ðó gọi là tập Từ. Người hành ai ấy như được khen ngợi hoặc có thêm lợi ích chẳng lấy làm vui vẻ, giả sử có người bài báng chẳng lấy làm lo buồn thì đó là Bồ tát tùy thời xót thương bình đẳng. Sở học của Bồ tát thì do ba việc. Tịnh thân miệng ý, nhất định chẳng truyền bá điều ác, chưa từng nghĩ đến nghiệp tà ngu xuẩn. Bồ tát tuy tự học một mình, không thầy mà cũng chẳng tự đại. Ý sở học ấy chẳng bỏ các thông mẫn tuệ của Phổ trí, nắm cả pháp của chư Phật và nghiệp của Bồ tát, ở tại sở cầu của con người chẳng đi ngược lại lòng của họ, không có sự thiếu thốn, đạt đến tất cả pháp mà được tự tại. Bồ tát lại tập hối lỗi. Thân có tội ác chưa từng che giấu, dùng vô lượng phước khuyến trợ công đức. Bồ tát tu học, khen ngợi, khuyến thỉnh các đức Phật ban tuyên đạo nghĩa, siêng năng tuân phụng học tập pháp của bậc Chánh sĩ. Sở dĩ học pháp Chánh sĩ này là vì muốn thành Chánh giác. Lòng ấy kiên cố chẳng xả bỏ giáp đức Hoằng Thệ vô cực. Sở dĩ chẳng xả bỏ là vì muốn hóa độ tất cả chúng sinh - Ngài Bồ tát A Soa Mạt nói với ngài Xá Lợi Phất - Bồ tát có bốn việc làm chẳng thể tận. Sao gọi là bốn ? Một là khai thị mọi tâm. Hai là pháp thí. Ba là răn dạy chúng sinh. Bốn là tích lũy công đức. Ðó là bốn. Lại có bốn nữa. Một là tu tập tại nơi nhàn cư, núi non, chỗ riêng một mình, có được bố thí ít nhiều lấy đủ mà thôi. Hai là đối với mọi công đức thì không chán đủ. Ba là học rộng chẳng mệt mỏi. Bốn là sở nguyện, trí tuệ chẳng lấy làm nhọc nhằn. Ðó là bốn. Lại có bốn nữa. Một là tính toan khuôn phép đo lường. Hai là tư duy gốc ngọn. Ba là trí suy ngẫm thông đạt. Bốn là việc suy nghĩ đủ khắp. Ðó là bốn. Lại có bốn nữa. Một là lìa khỏi mọi ác mà tu giải thoát vô thượng. Hai là giải thoát vô thượng ấy chính là Bồ tát giáo. Ba là mở các gốc ác. Bốn là nghĩ đến giải thoát vi diệu Vô thượng. Ðó là bốn. Lại có bốn việc nữa. Một là hiểu được năm ấm. Hai là hiểu thấu bốn đại, đất nước lửa gió. Ba là tỏ rõ căn nguyên sáu suy. Bốn là sự nhìn thấy mười hai nhân duyên ấy không có biên tế (bờ cõi). Ðó là bốn. Lại có bốn việc nữa. Một là lời nói sinh tử vô thường mà chẳng thể tận. Hai là lời dạy khổ đau. Ba là lời dạy bảo không ngô ngã. Bốn là nghiệp vô vi tịch mịch cũng không thể tận. Ðó là bốn - Ngài A Soa Mạt nói với ngài Xá Lợi Phất - Nói tóm lại, những học tập của Bồ tát đều gần với Phật đạo. Do đó cho nên phân biệt đạo và tục đều chẳng thể tận. Ngài Bồ tát A Soa Mạt nói với ngài Xá Lợi Phất rằng : - Bồ tát tu hành tâm chẳng thể tận. Sở dĩ vì sao ? Vì đối với mọi công đức mà chẳng giải đãi. Theo thứ tự chuyển dần lên mà thành tựu những chỗ ấy. Cái gọi chỗ ấy là thập địa của Bồ tát. Sự tu hành ấy giống như biển cả tu mãi không chán. Sở dĩ vậy là vì trong nhiều việc cứu độ tất cả chúng sinh thì sự tu hành ấy là đứng đầu. Sở dĩ vậy là vì vượt lên trên sự tu hành ấy thì có thể nắm lấy tổng quát sự tu hành tôi thượng. Những người ở dưới khiến cho chuyên tu hành tất cả pháp, hoặc thọ trì mọi thiện căn. Sở dĩ vì sao ? Vì do tối tôn vậy. Sở dĩ tu nhân độ thì thọ quyết (ký), đều nhờ chuyên tinh sử dụng bất thoái chuyển, tự mình đạt đến đầy đủ. Nhân sự chuyên tinh ấy mà sở nguyện liền thành. Ðã thành Ðại nguyện thì sự tu hành ấy mãi mãi không sự cậy nhờ. Ðó là Ðịnh ý. Nương sự tạo hạnh mềm dẻo tu hành mà chẳng khuyết lậu. Tu hành điều phục ý, chính đạo nghiệp tu hành ấy phải tự giữ gìn. Sở dĩ vì sao ? Vì do chẳng cùng với mọi ác tùng sự nữa. Chuyên tinh bố thí, Bồ tát chẳng để cho thân tâm có sự tham ái càng tăng lên. Chuyên tinh phụng giới cũng là rất khó. Sở dĩ vậy là vì dạy người phạm giới khiến cho chẳng làm ác. Chuyên tinh nhẫn nhục cũng là rất khó. Sở dĩ và là vì tuy ở địa vị tôn quí, của cải giàu có cực vui mà chẳng khinh kẻ nghèo hèn, gầy yếu, liệt nhược. Ðó là Nhẫn nhục. Việc chuyên tu hành tinh tấn là khó và ngồi dưới gốc cây Phật. Nếu có người đến nói rằng, dậy tránh đi cho ta ngồi chỗ ấy, thì trước chọn lấy Phật đạo, rồi nhường chỗ cho người ấy. Ðó là tinh tấn. Chuyên tinh thiền tư sở dĩ khó là vì không thể đuổi theo kịp. Việc tu chuyên tinh liền có thể thành tựu đầy đủ, không điều gì hy vọng. Ðó gọi là Thiền tư. Chuyên tinh trí tuệ là khó. Sở dĩ vì sao ? Vì tích lũy công đức chẳng lấy làm nhọc nhằn, phiền nhiễu. Ðó là trí tuệ. Ra vào, bước đi an tường, hòa nhã, uy nghi đầy đủ. Sở dĩ vậy là vì người ấy công đức phước lộc mạnh không thể nguy hại. Tu vô sở úy hiểu rõ pháp sâu, câu kết lẽ huyền vi, đạt đế cao xa nên phụng tu lòng tôn quí. Sở dĩ vậy là vì ánh sáng ấy rất vi diệu, không gì chẳng đạt nên hành chẳng thể tận. Sở dĩ vì sao ? Vì sự trụ ở kiên cố. Sao gọi là chuyên tinh ? - Ý ấy thản nhiên luôn nghĩ tất cả. Người không chỗ nương thì khiến cho họ được nương. Nếu có người tối tăm thì khiến họ nhìn thấy ánh sáng đạo. Người không chỗ về thì đều nhân được nơi về của họ. Kẻ ấy không bạn lành thì làm bạn lành của họ. Người dua nịnh thì khiến họ tu chất phác. Thấy người kia thô ác thì hiển thị nhẫn nhục, nhu nhuyễn, hòa nhã. Sở dĩ vì sao ? Vì dùng đức giáo hóa nên tại trong dối trá lọc lừa (quỉ quyệt) mà vì họ lộ bày nghĩa chân chánh, ở trong trang sức mà chẳng thêu dệt lớn, tại nơi không đáp lại mà hành báo ân đức, tại chỗ mọi ác mà làm thiện, tại chỗ phế bỏ thoái lui mà tu phúc đức, tại chỗ khinh mạn thường hành cung kính, tại chỗ cống cao chẳng mang lòng tự đại, tại chỗ cầu phương tiện không thể được lầm lỗi, chẳng nghĩ cái ác của người, chẳng tuyên dương khuyết lậu. Nếu tại nơi bất chánh thì liền đi đến nuôi hộ khiến họ vào với chánh đế. Tất cả chúng sinh đi đến được thấy chánh đế thì vui mừng, lòng không sân nhuế. Nếu có can ngăn dẫn dụ thị hiện tiến lùi nên phải vậy hay chẳng vậy thì lòng không thêm bớt, thuần tín việc làm họa phước sẽ về với thân. Hoặc ở tại chỗ đồng trống, núi non thì cũng theo đúng như pháp không khác, chẳng tham lợi hại, chẳng tiếc thân mạng. Vì tâm thanh tịnh ban đầu chẳng tăng giảm, thường thủ hộ miệng mình chẳng dối truyền lời nói, chẳng cầu phụng kính. Sở dĩ vì sao ? Vì luôn luôn biết tiết chế hạn lượng, chỉ túc mà thôi. Tâm ấy nhu hòa, chẳng theo tệ ác mất lễ nghĩa thì có công đức, qua khỏi sinh tử, dứt mọi khổ hoạn. Sở dĩ vì sao ? Do đó cho nên tuệ ý Bồ tát vĩnh viễn chẳng thể tận, sinh tử qua lại cũng chẳng thể tận. Dùng quyền phương tiện, sáng tỏ tùy lúc dạy răn chúng sinh, mê muội đến cuối rồi lại bắt đầu. Chẳng thể tận là khiến cầu ánh sáng Phật đạo chẳng thể tận. Ngài Xá Lợi Phất hỏi ngài A Soa Mạt rằng : - Vả có cái chẳng thể tận khác ư ? Ngài A Soa Mạt đáp rằng : - Có ! Hỏi rằng : - Cái đó là gì ? Ngài A Soa Mạt đáp rằng : - Bồ tát Bố thí lại chẳng thể tận. Sở dĩ vì sao ? Vì lục độ vô cực chẳng thể tận nên Bồ tát bố thí đều không có giới hạn. Cái gọi là hạn là cái này phải, cái này chẳng phải, phải thí cho người này, chẳng thí cho người này... Bố thí mà chẳng cứu giúp đều khắp thì chẳng nên làm bố thí. Ngài Xá Lợi Phất hỏi rằng : - Theo pháp Bồ tát phải bố thí ra sao ? Ngài A Soa Mạt đáp rằng : - Người đói thì cho ăn ! Sở dĩ vì sao ? Con người nương vào ăn mặc mới được còn mạng, có thể sống lại, ngồi, đứng, nói năng được yên ổn, thân thể khang ninh, khí lực cường thịnh. Kẻ khát cho họ uống nước thì tiêu trừ cái khát. Sở dĩ vì sao ? Vì nếu đời sau Bồ tát xoay vần trong sinh tử thường chẳng khao khát thiếu thốn. Có người cầu xe thì liền theo ý họ mà cho. Do quả báo này mà chỗ sinh đời sau, đi đến sở tại bằng thần túc phi hành. Kẻ không áo ấy nhờ được ban cho áo nên cuộc sống đời sau chẳng đường đột mạo phạm mà thường ôm giữ tàm quí. Nếu ở chỗ tối tăm thí cho đèn lửa thì được đạo nhãn thấy thông mười phương. Nếu ở trước Thế Tôn, sư phụ, tự xá, hai thân (cha mẹ) trưởng lão mà tấu xướng kỹ nhạc để làm vui họ thì cuộc sống đời sau được đạo nhĩ (tai đạo) nghe suốt, nghe không cùng cực. Nếu người không hương thơm mà thí cho hương thơm thì cuộc sống đời sau đạt được giới hương, huệ hương, định hương, giải thoát hương, độ tri kiến hương, thân này được phủ hương đức huân. Nếu lại có người danh huân đủ loại hương liền cho sự ưa thích thì thân thể đời sau hương thơm thanh khiết, không ai chẳng vui mừng. Nếu có mùi vị khác lạ ngon ngọt mà người đến xin liền cho theo ý của họ thì cuộc sống đời sau thường được ăn uống món ngon. Hoặc miếng ăn chẳng ngọt mà vào miệng liền trở thành ngon là do sự gieo trồng đời trước nên được cái tướng này. Nếu người không có khăn tay mà nhân đó ban cho thì cuộc sống đời sau thanh tịnh không bẩn, được sự ủng hộ của người. Với kẻ không có người hộ mà vì họ nuôi hộ giống như nhà cửa. Sở dĩ ví như nhà cửa che chở con người là vì tùy theo sự thiếu thốn của họ mà thí cho. Cuộc sống đời sau của người hành thí này đều thu hoạch xứng đáng, liền được chu cấp. Người bệnh cho thuốc thang thì thân thể trong cuộc sống đời sau thường không bệnh, chẳng sinh, chẳng chết, không có mọi hoan nạn, luôn luôn được yên ổn, tất cả đầy đủ, không chỗ nào chẳng là chủ. Với người không kẻ sai khiến mà cấp cho nô tỳ thì cuộc sống đời sau tự nhiên đầy đủ, vua chúa muôn cỗ xe, chế trên, ngự dưới, không có gì thiếu thốn. Với kẻ cầu chúng bảo mà có thể ban cho thì cuộc sống đời sau đầy đủ hết, thành tựu ba mươi hai tướng của bậc đại nhân. Bố thí đủ thứ vật, ngần ấy chủng loại thì cuộc sống đời sau được tám mươi thứ vẻ đẹp. Bố thí voi ngựa thì đời sau được ý Ðại thừa vô cực. Ðem ruộng thí cho thì nhân đó được đầy đủ Tịch độ vô cực. Ðem vợ con thí cho, ban cho của yêu quí mà đời sau lòng không khác thì sẽ được Phật đạo. Sở dĩ vì sao ? Vì Phật là đấng cực thượng tôn, không ai sánh bằng. Giả sử có người theo Bồ tát ấy cầu đầy kho lúa, Bồ tát có thể cho chưa từng tham lận (gian lận) thì đời sau đạt được pháp tạng, đầy tràn đạo tuệ, không thiếu thốn gì. Giả sử Bồ tát được làm vua Chuyển Luân, chúa bốn thiên hạ, bảy báu tràn đầy. Nếu có người đến xin mà chẳng yêu tiếc, liền có thể đem cho hết thì cuộc sống đời sau chứng được Nhất thiết trí, các thông Thánh tuệ, tế độ rộng rãi tất cả. Ðem kỹ nhạc vi diệu mà thí cho thì đời sau được niềm vui Kinh điển. Do niềm vui pháp nên không gì chẳng vui vẻ. Nếu vì người có thế lực địa vị có lòng trung thành giúp đỡ hành pháp Bồ tát giống như bề tôi trung của bậc vương giả. Có người đến cầu sự giúp đỡ cai trị của mình thì liền có thể thí cho. Do đó cho nên đời sau đối với Phật pháp giáo, Bồ tát muốn ngồi đạo tràng ở dưới gốc cây Phật, hàng phục ma binh. Dùng tay thí cho người thì đời sau đứng đầu tất cả đạo pháp. Người bố thí tai, mũi thì thân đời sau đầy đủ, không một khuyết lậu. Người dùng mắt bố thí thì đời sau chứng được Pháp nhãn, đứng đầu tất cả mắt đạo pháp. Người dùng đầu bố thí thì chỗ sinh ra đời sau, được ba đời đặc biệt tôn trọng, độc bộ không bạn bè với những thông mẫn tuệ. Người bố thí da thịt thì đời sau thành Phật đạo người đến nghe Kinh xả bỏ những bất thiện, đều thu hoạch Bồ tát chân chính. Người phá xương đem tủy bố thí thì đời sau được Phật đạo, thân như kim cương, không thể lay động. Ngài A Soa Mạt nói rằng : - Bồ tát chẳng dùng sắc, mà có sự bố thí là do tu chánh. Nếu người đến cầu nhiều, người sau cầu ít thì đều cho khắp, khiến cho đều được đủ. Hoặc khi thí cho chẳng khủng, chẳng bố, chẳng úy, chẳng cụ, không kham, hành khí chẳng ôm lòng hối hận, chưa từng biến đổi. Bồ tát bố thí không khinh mạn, chuyên tâm mà cho. Bố thí không dua nịnh, chẳng đem vật ác, đồ không đúng yêu cầu để cho người. Bồ tát bố thí chưa từng quan sát người này có phúc lộc, người kia có tội ương, không có hồ nghi, chẳng phân biệt tốt xấu, chẳng giữa chừng đoạn dứt và sót lọt việc bố thí. Sao gọi là giữa chừng đoạn dứt và sót lọt sự bố thí ? Ở trong đại hội riêng cho một người, chẳng cho một người mà đều muốn tế độ khắp cùng. Sở dĩ vì sao ? Vì việc bố thí của Bồ tát thường mang lòng thuần tín, chẳng nghĩ đến mệt mỏi, giải đãi, không cho bố thí là hoạn nạn, phiền não. Bồ tát bố thí chẳng kêu gọi người đến trước mà mắt tự thấy mặt mới thí cho. Bồ tát cũng chẳng suy nghĩ người này thiện, người này ác, chẳng nhất định chọn tìm được người thành đạo đến mới cho. Sau khi cho người chẳng nghĩ rằng người này đã được đạo, người này chẳng được đạo. Bồ tát thí cho mà thấy người phụng trì giới đến nhận vật ấy chẳng lấy làm vui mừng, thấy người không giới cũng không dị tâm (khác lòng). Việc thí cho ấy, Bồ tát chẳng mong được đền đáp lại. Có được người để bố thí, Bồ tát cũng chẳng cầu danh xưng, khiến cho xa gần đều nghe, chẳng tự kể lễ, chẳng ghét, bài báng sự thí cho của Bồ tát, chẳng gây phiền não, nhiễu loạn, bố thí chẳng mang lòng hối hận, bố thí không sân nhuế, bố thí không vui mừng. Bồ tát bố thí chẳng nghĩ đời sau sẽ được phước ấy, chẳng khởi lòng giận dữ mắng chửi bố thí ngu dại. Có người đến cầu xin Bồ tát chẳng khước từ người đó trước rồi mới thí cho, chẳng khinh dễ bố thí, chẳng nhờ người khác đem vật đến cho. Sở dĩ vì sao ? Vì phải tự tay mình châm chước. Bồ tát cũng chẳng nghĩ rằng, người ở trước mặt ta thì được cho, kẻ chẳng ở trước mặt ta thì ta chẳng thí cho. Bồ tát bố thí không ngăn ngại, bố thí hết lòng mình, chẳng bố thí làm cho nổi bật, tự tay trao cho, chẳng bố thí trầm ngâm, khi cho, khi chẳng cho. Bồ tát chẳng nghĩ rằng, công việc bố thí của ta mệt mỏi và cực nhọc. Bố thí cho người theo đến xin chẳng nhiều, chẳng ít, chẳng chọn lựa vật xấu đem cho, vật tốt để lại. Nếu có người đến cầu xin thì Bồ tát theo đúng lời yêu cầu của họ chưa từng giảm bớt. Việc bố thí của Bồ tát là thương nghĩ chúng sinh rộng rãi không có thiên lệch, muốn khiến cho người nhận thường được yên ổn. Hoặc thi khí cho thì nghĩ người ấy là người ở trong đất nước của mình. Sở dĩ vì sao ? Vì tất cả đều là đất đạo (đạo địa) của Bồ tát vậy. Lại, người đã thí, ít chẳng khinh mình, nhiều chẳng vui mừng, Bồ tát tuy bố thí nhiều người mà chẳng tự xét rằng, ta nay bố thí rộng rãi đã cho đúng như pháp, không hy vọng. Bồ tát bố thí chẳng nghĩ đến phước này thì sẽ có cuộc sống nhận được quả báo của công đức ấy. Sở dĩ vì sao ? Vì bố thí thì đối với tất cả chúng sinh được nhờ ơn mà người đã thí cũng chẳng nghĩ đến. Bồ tát nghĩ rằng, ở trên trời dưới trời, trong loài người ta riêng đạt đến thế lực tôn quí, việc thí cho ấy là khắp vì chúng sinh. Ta chẳng dùng phước ấy mà mưu cầu địa vị Phạm Vương, Ðế Thích, Tứ Thiên Vương. Ta cũng lại chẳng tham địa vị Chuyển Luân Thánh Vương, chẳng tập theo lòng của hàng Thanh văn, Duyên giác. Bồ tát thí cho, lòng chẳng nghĩ rằng, việc bố thí đầy đủ, cũng chẳng nghĩ thiếu. Ðủ cùng chẳng đủ mà có người được thí thì khiến cho tất cả mọi người chẳng lìa khỏi các thông mẫn tuệ của Phật. Người đã thí cho thường cho ngay lúc ấy, không có ai chẳng được đáp ứng, chẳng đem binh khí, thuốc độc thí cho, đem yên ổn thí cho người, chẳng gia thêm nhiễu hại. Bồ tát bố thí theo pháp giáo của đức Phật, những cái có thể ban cho thì biết tất cả đều rỗng không. Sở dĩ vậy là vì nhân duyên có sự hưng phát. Do vậy cho nên mà chẳng thể tận. Người đã thí cho đều hiểu vô tướng, vì các tưởng kiến lập nhân duyên ấy nên chẳng thể tận. Người đã bố thí đều đạt vô nguyện, vì các nguyện tạo tác nhân duyên lành, do đó cho nên chẳng thể tận. Do ý đạo pháp mà có sự bố thí. Tâm ấy kiên cường đầy đủ, rất yên ổn, không gì phá hoại. Việc bố thí của Bồ tát nếu ở tại ba cõi không thể đạt được thì việc có thể thí cho muốn khiến cho phước ấy chảy về tất cả nghiệp của Bồ tát. Chí ấy thường kiến lập tâm Nhất thiết trí. Do đó cho nên là chẳng thể tận. Người đã thí cho do thoát khỏi các tưởng, nắm hết mọi ma khiến cho chúng chẳng tự tại, lìa khỏi các phiền hà nên chẳng thể tận. Bồ tát đã thí cho mọi sự siêu dị, sáng tỏ Nê Hoàn. Ðã có thể bố thí thì giải quyết mọi lòng hồ nghi nên chẳng thể tận. Người đã thí cho là chánh trụ ở Phật đạo, chẳng mang tấm lòng khác. Việc bố thí ngang bằng với nguyện nên chẳng thể tận. Việc bố thí của Bồ tát là ngồi dưới gốc cây Phật, được thành Chánh giác. Người đã thí cho và vô ương số chẳng thể xưng kể các loài chúng sinh đều nhờ ơn tế độ nên chẳng thể tận. Ngài đã thí cho chẳng thể tận, việc ấy rộng lớn. Người đã thí cho vì được đạo xứ nên không thể lay động, không thể vượt qua, huống lại là người bố thí nên chẳng thể tận. Người đã thí cho thì lòng họ thản nhiên như Nhất thiết trí nên chẳng thể tận. Ngài Xá Lợi Phất nói rằng : - Hay thay ! Hay thay ! Thưa ngài A Soa Mạt ! Ngài đã khen sự bố thí và sự chẳng thể tận của Bồ tát. Khoái thay ! Ðến vậy ! Tôi nguyện muốn thính thọ cấm giới chẳng thể tận ! Ngài A Mạt Soa nói rằng : - Giới thanh tịnh của Bồ tát cũng chẳng thể tận, có sáu mươi bốn việc. Những gì là sáu mươi bốn ? Bồ tát hành động thương người, chẳng ôm lòng độc hại thêm cho chúng sinh. Thân cũng chẳng giết hại, chẳng lấy vật của người, chẳng xâm phạm vợ người khác. Nếu thấy Bồ tát kịp hướng đến chúng sinh thì thường hành chí thành, chưa từng nói hai lưỡi. Có người tranh tụng thì Bồ tát thường hòa giải họ, nhất định không mắng chửi, chẳng nói lời ác khẩu. Sở dĩ vì sao ? Vì Bồ tát thường có xấu hổ, nói năng giữ miệng, chẳng nói dối sự việc. Ðối với tất cả mọi người chẳng có ý niệm ganh ghét, chẳng hưng khởi lòng sân nhuế hướng đến chúng sinh. Sở dĩ vì sao ? Vì nhờ sự có thể nhẫn này mà đời sau được đoạn chính. Tâm ấy thường chân chính chẳng phụng sự học phái khác, luôn luôn mang lòng vui thích tại nơi Phật đạo. Sở dĩ vì sao ? Vì tâm ấy thanh tịnh không có trần cấu, yêu thích Phật pháp. Sở dĩ vậy là vì lý giải pháp không có khác mà có thể vượt lên, hết lòng tại đạo, dụng tâm nhân từ vậy. Nếu thấy Sa môn, phạm chí liền dùng năm vóc mà tự qui y lễ bái. Cái gì là năm ? - Hai tay, hai gối và đầu cổ cúi xuống dưới chân. Sở dĩ vì sao ? Vì nhân được Phật đạo mà tất cả qui y, tâm thường nhu nhuyến, thấy người vi phạm điều sai trái, răn dè mình chẳng vì việc chẳng khiếm khuyết giới. Không có tâm Thanh văn, Duyên giác nên đối với các phạm giới mà không có gì để phạm. Sở dĩ vì sao ? Vì đời sau con người chẳng muốn sinh ra ở tại gia đình đánh cá, săn bắn ngu tối nên thường tu tinh tấn mà chẳng giải đãi. Sở dĩ vì sao ? Vì chẳng tùng sự chung với lũ tà ác. Giới cấm đầy đủ chưa từng khuyết lậu, thân cận kẻ trí đức hiểu được thâm pháp, chẳng vi phạm, dốc lòng tin cấm giới, phụng trì chân chính, thuận theo giới đúng như pháp tất cả chúng sinh đều khen ngợi. Sự hộ trì giới cấm ấy trong suốt chí chơn. Bản tâm khoái lạc nên hành trì giới, không thể truyền đạt lời nói sai quấy lỗi lầm ấy. Lòng không tà vậy nên giới ấy đầy đủ, chẳng lại mê hoặc theo sáu suy. Giới hạnh đã phụng trì không điều gì chẳng tuyên dương, nghe hết những hiểu biết của các đức Phật Chánh Giác. Giới không có cái để cầu như điều mình ưa thích, Giới là biết dừng đủ, không cái để tham lam. Giới ấy thuần khiết trong trẻo, chẳng xen tạp các ác, thân ý thản nhiên không điều ưa thích, thường ưa nhàn cư, chưa từng vui thích theo mọi náo loạn. Giới có thể hoàn bị đúng như lời dạy của đạo pháp, chẳng theo người khác thọ nhận. Cẩn thận cấm giới chẳng lấy quần áo đẹp mà làm đức trang sức, không thể đạt được lời thề đúng như bản nguyện. Cấm giới chẳng lấy ngon ngọt mà làm loạn ý được. Sở dĩ vì sao ? Vì có đạo lực chế ngự mọi ác. Việc làm đúng như Giới thì chư thiên, nhân dân không ai chẳng vui mừng. Hành giới từ tâm ủng hộ chúng sinh. Tu giới bi ai nhẫn nhịn mọi khổ. Tuân theo giới Hộ chẳng giải đãi. Dùng giới tâm bình đẳng (đẳng tâm giới) vì tất cả chúng sinh, mặc cho thiện ác, không hai lòng. Thường xem xét cấm giới chẳng làm tổn hao, chẳng nghe theo lòng ấy mà vì nó ruỗi dong. Giới chẳng nghĩ đến ác, chẳng truyền cái sai quấy của người mà ủng hộ tất cả. Nắm giữ cấm giới kiên cố chẳng nghe theo sự ham muốn của ý ấy. Thuận theo giới bố thí mà nuôi dưỡng tất cả chúng sinh. Vì giới nhẫn nhục mà chẳng dấy lòng. Ðể tâm vào giới tinh tấn thì chẳng hồi chuyển. Giới thiền tư thì được an định. Phụng giới trí tuệ thì rộng nghe chính nghĩa không chán đủ. Tu giới nghe rộng (học rộng) thì giác ngộ pháp cốt yếu. Theo giới thầy lành thì đạt các pháp. Bỏ giới thầy ác thì lìa khỏi mọi tà học, những con đường chẳng chân chính. Giới không cậy thân thì biết những vạn vật đều vô thường. Giới chẳng tham mạng thì nghiệp công đức ấy như vàng ròng tía. Giới không hối hận thì ý ấy thanh tịnh. Giới không hư sức (trang sức rỗng) thì học thanh tịnh. Giới chẳng phiền hà thì ý ấy tươi sáng không cấu bẩn. Giới chẳng đốt cháy thì chẳng thiêu thân. Giới chẳng mê hoặc thì chẳng theo dục. Giới chẳng nguy hại thiêu đốt thì không sự nguy hại. Giới không xúc chạm thì lòng chẳng loạn. Giới phục tâm thì ý không lầm. Giới thông tịch tịnh thì chẳng bị sự dấy lên của nghiệp thế tục. Giới thuận chân chính thì trí đúng như lời dạy. Giới đủ các nguyện là gốc thanh tịnh như giới của Như Lai. Sở dĩ vì sao ? Vì tùy theo điều cần yếu căn bản. Như đức Phật định giới thường mang lòng bình đẳng độ chúng sinh, theo giới Nhất thiết trí vào cửa đạo. Sở dĩ vì sao ? Vì chẳng ôm hận. Ðó là sáu mươi bốn việc của Bồ tát để thanh tịnh cấm giới mà chẳng thể tận. Ngài A Soa Mạt Bồ tát lại nói với ngài Xá Lợi Phất rằng : - Bồ tát lại có tịnh giới, chẳng tự tham thân, chẳng nghĩ tất cả, chẳng tưởng ngã nhân, chẳng kể thọ mạng, chẳng nghĩ sắc thọ tưởng hành thức, chẳng cậy bốn thứ đất nước gió lửa, mỗi thứ đều có giới bốn đại. Chẳng có nhãn sắc, nhĩ thanh, tỵ hương, thiệc vị, thân xúc, tâm pháp, không thân miệng tâm... giới ấy hướng về thanh tịnh, tướng này một lòng mà chẳng mê man. Giới quan sát kỹ các pháp đã qua khỏi không, không tướng, chẳng nguyện, cũng không hình tượng, qua khỏi ba cõi, chẳng chấp trước, chẳng trói buộc. Giới ấy chẳng nghĩ vậy nên chẳng bị đã sinh ra. Sở dĩ vì sao ? Vì không chỗ sinh. Sở dĩ vậy là vì giới không việc làm gì chẳng làm mà vốn không tạo tác. Do đó cho nên giới không có giới hạn bộ phận, việc dừng giữa chừng cũng không chỗ dừng. Sự thanh tịnh của ý là nhận thức của giới cũng không chỗ trụ. Sở dĩ vì sao ? Vì không tưởng niệm. Giới không có sự câu thúc. Sở dĩ vậy là vì không có dục lực, cũng chẳng trụ ở sắc, cũng chẳng trụ vô sắc mà đều đồng trần (đồng chung với thế gian). Ðó gọi là Giới. Lìa khỏi cái nhân dâm nộ si, thoát khỏi ngu tối nên gọi là Giới. Chẳng chấp trước, chẳng đoạn tuyệt, xả bỏ mười hai duyên nên gọi là Giới. Chẳng nghĩ ngã sở trừ ngã chẳng ngã, chẳng trụ ở dục nên đó gọi là Giới. Không tác, chẳng cầu, chẳng trụ sắc tưởng, cũng chẳng ở tại tất cả danh sắc nên đó gọi là Giới. Chẳng theo nhân duyên, không phiền, không hà, vô ngã, phi ngã, chẳng cùng với nghi hoặc hòa hợp, vậy nên gọi là Giới. Cũng chẳng tham phước, chẳng không công đức vì vượt qua các ác, việc phi pháp. Sở dĩ vì sao? - Vì ngu là phi pháp nên gọi là Giới, không có ưu não, thân tâm ấy dừng (chỉ) nên gọi là Giới. Người phụng trì trọng giới thì như bệnh được hết bệnh, chẳng đoạn tuyệt sách vở chân chánh, kinh điển của chư Phật. Thân Pháp thản nhiên nên chẳng đoạn đứt thân pháp. Sở dĩ vì sao ? Vì không hai nghiệp : Một là chẳng chấp trước, hai là chẳng đoạn tuyệt. Chẳng đoạn cái nhân dùng để giải thoát của Thánh chúng, chẳng đoạn các học. Sở dĩ vì sao ? Vì thuận theo cấm giới. Ngài A Soa Mạt Bồ tát nói với ngài Xá Lợi Phất rằng : - Cái nhân vốn thanh tịnh nên chẳng thể tận. Sao gọi là tục giới ? Ðó gọi là chỗ sinh tử cũng có tận vậy. Sở dĩ vì sao ? Vì tại nơi năm đường nên gọi là tận. Sở dĩ tận là vì có qua lại nên chẳng trụ một chỗ. Ngoài giới của thần tiên ngũ thông, trí của thế tục cầu mạng tận thần túc sống lâu hơn. Sở dĩ vì sao ? Vì giới cấm tận. Giới của người, mười thiện cũng có tận nữa. Sở dĩ vì sao ? Vì trái bỏ giới. Giới của các thiên tử cõi dục cũng có tận. Sở dĩ vì sao ? Vì công đức hết. Ðịnh giới của các thiên tử cõi Sắc cũng tận. Sở dĩ vì sao ? Vì định ấy loạn. Tịch giới của các thiên tử cõi Vô Sắc cũng tận. Sở dĩ vì sao ? Vì định ý mê man. Giới của bậc học, bậc vô học, bậc A la hán... những đạo tích ấy cũng tận. Sở dĩ vì sao ? Vì nương cậy vào Nê hoàn. Giới của Duyên giác ấy cũng lại có tận. Sở dĩ tại sao ? Vì không Ðại ai vậy. Ngài A Soa Mạt nói với ngài Xá Lợi Phất rằng : - Chỉ có riêng một mình giới Bồ tát là không thể tận. Ngài Xá Lợi Phất hỏi : - Vì những gì mà giới Bồ tát chẳng thể tận ? Ngài A Soa Mạt đáp rằng : - Giới ấy tận thì ấy đều chẳng phải giới. Sở dĩ giới Bồ tát chẳng thể tận là vì tâm ấy chẳng xả Nhất thiết trí, là giới chính chân, vì chẳng đoạn tuyệt chủng tử nên chẳng thể tận. Sao gọi là đạo quả quả thật không tận ? Cái gọi chủng tử là gọi tâm Bồ tát. Cái gọi quả thật là thập lực của đức Phật... Ðến chẳng thể tận nên gọi là Giới của Bồ tát chẳng thể tận. Ngài A Soa Mạt nói với ngài Xá Lợi Phất rằng : - Nhẫn nhục của Bồ tát cũng chẳng thể tận. Chúng có ba mươi hai việc. Những gì là ba mươi hai việc vô tận ? Chẳng đắm trước dục thì chẳng dấy khởi ý niệm này : Là thân của vợ con ta đều chẳng xâm phạm, chẳng khiến cho người khác xâm phạm. Vậy nên nhẫn nhục cũng chẳng thể tận. Chẳng nghĩ mọi ác, chẳng hận tất cả, chẳng sân giận chúng sinh, chẳng nghĩ đến cái ác của người, chẳng cùng người tranh tụng, chẳng quên trợ giúp người. Có sự hủy báng kích bác cũng chẳng che dấu đùa cợt, tự hộ thân hành, nuôi hộ mọi người, thận trọng tâm mình chẳng buông theo, thường nghĩ đến đức lành, không có ý ái dục, đức trang nghiêm thân, tin làm thiện hay ác sẽ được báo ứng, miệng chẳng nói dối, tâm ấy thanh tịnh. Tâm Bồ tát mạnh mẽ chẳng bỏ tất cả, tự suy tính kỹ càng tà niệm trong lòng mà hiểu biết chúng. Lòng hòa thuận nhu nhuyến nuôi hộ lòng ấy khiến cho việc ác chẳng sinh. Bồ tát tu hạnh thanh tịnh sinh lên cõi Phạm thiên, rồi từ trên trời xuống trở lại nhân gian, đầy đủ tướng đức, tám mươi vẻ đẹp, đạt đến hòa âm giống như Phạm thiên thóat dâm nộ si. Chẳng dùng dung nhan ác sân hận hướng về con người, việc làm công đức chưa từng quên mất, hàng phục ngoại học và mọi thuật tà khác, bỏ hết mọi bệnh, chẳng gặp ách nạn, thuận theo đầy đủ đạo pháp của chư Phật. Ðó là ba mươi hai việc nhẫn nhục đều chẳng thể tận, chính là nhẫn nhục của Bồ tát. Sao gọi là nhẫn nhục ? - Như bị mắng chửi mà thân lặng lẽ chẳng hòa theo họ. Như bị người đánh đập mà chẳng nghĩ đánh trả lại họ. Ðó gọi là Nhẫn nhục. Sở dĩ vì sao ? Vì chẳng thấy người đánh, chẳng nhìn thấy thân mình và cây gậy vốn không. Như có người sân giận cũng chẳng ôm hận. Lời nói như huyễn hóa. Người kia khởi ý đến mà ta chẳng sinh lòng đối nghịch thì có thể hàng phục được ý. Nếu người nghĩ ác thì lòng như chẳng biết, tự nghĩ suy rằng, người ấy mang theo ác, ta chẳng nên bắt chước. Có người khen ngợi thì chẳng cảm động vui mừng. Sở dĩ vì sao ? Vì chẳng phát sinh ý niệm này thì được ích lợi vậy. Hàng phục tâm nên nếu có suy hao, chẳng lấy làm lo buồn, mình tự biết đủ. Thấy người khen chẳng lấy làm tốt đẹp. Nếu có người bài báng chẳng lấy làm xao động. Sở dĩ vì sao ? Vì trí rộng lớn. Có người cung kính chẳng tự cống cao, sửa tính yên ổn. Người bày lễ bái chẳng lấy làm vui vẻ, cũng chẳng nói rằng, ông nên phải vậy. Nếu được địa vị thế lực chẳng lấy làm tự đại. Sở dĩ vì sao ? Vì lòng chẳng động vậy. Vì thương xót chúng sinh nên tuy ở tại cần khổ mà chẳng cho là hoạn nạn chán nản. Ở tại chỗ vui chẳng lấy làm vui mừng. Hiểu rõ việc thế tục đều là vô thường, chẳng vì tám việc đời (tám nạn) mà thấy khuynh động. Sở dĩ vì sao ? Vì sống trong đó mà chẳng bị sự quấây nhiễu của con người, nhất định chẳng đáp trả lại. Người không dám phạm thì giả sử có người chia xẻ thân mình thành từng đốt từng đốt mà đều có thể nhẫn được. Nhân muốn đầy đủ nghiệp của Bồ tát nên nếu có người hại thân thì nhất định không có ý khác, rõ thân tứ đại hợp thành, tan diệt thì có thể tham bao nhiêu cho đủ ? Sở dĩ vì sao ? Vì nhờ nhẫn này nên sẽ được thân Phật. Nhẫn hết mọi não hại chẳng thể kể là khó. Sở dĩ vì sao ? Vì nhờ đó được đạt đến sự kiến lập yên ổn lớn đến đạo lực. Bồ tát nếu ở tại trong Phạm Chí học thì hiện thân vào lửa không bị thương hại. Nếu muốn khiến cho người ấy biết lòng thanh tịnh, hóa ý nghi hoặc khiến cho chí phản lại cái nhân chân thật thì được lên trời. Phạm chí học ấy ưa thích đền thờ lửa thì sự hiện vào của Bồ tát, không gì chẳng biến đổi, đạo đức siêu việt thù thắng không ai có thể theo kịp. Sở dĩ vì sao ? Vì những Phạm vương, Ðế thích, vua trời bốn phương đều cúi đầu trước Bồ tát và vì ngài làm lễ. Nhẫn nhục của Bồ tát không có biên để (bờ, đáy). Do đó cho nên gọi là chẳng hết. Bị người mắng chửi mà nhẫn nhịn, chẳng lấy làm hận, cũng chẳng nghĩ là ai mắng chửi ta. Nhân sự tịch nhiên đó liền vào pháp nhẫn. Bồ tát chẳng suy nghĩ người đó mắng chửi mắt, tai, mũi, miệng, thân, ý của ta. Còn nếu mắng chửi tâm ư ? Thì mắng chửi ở đâu vậy ? Thông qua các suy liền đạt được pháp nhẫn chẳng nghĩ tất cả những ai đến mắng chửi thì liền có thể được vào Nhẫn không người. Các nhẫn đó, thì đều chẳng là nhẫn. Sở dĩ vì sao ? Vì là giả có hiệu vậy. Chắc chắn kể ra nhẫn ấy giống như tiếng vang trong núi. Có hiểu được vấn đề này thì vào được nhẫn vô thường. Chẳng nghĩ được ngã và được người khác, đạt đến nhẫn trung hòa cũng chẳng tự nghĩ : Thân theo lời pháp giáo, người nào đó (mỗ) chẳng trụ ở pháp. Ðó gọi là nhẫn. Ta, một mình trụ ở đạo, còn người khác thì chẳng kiến lập đạo, chẳng dấy khởi ý niệm ấy. Ta nghĩ không chẳng nghĩ thật, nghĩ không tư tưởng chẳng nghĩ có tưởng, nghĩ nhẫn không còn chẳng nghĩ nhẫn khác, nghĩ nhẫn không nguyện chẳng nghĩ nhẫn có nguyện, không sinh tử, chẳng có chung thỉ. Nhẫn là có thể, không chẳng có thể. Nhẫn là có đức, chẳng là không đức. Nghĩ nhẫn không sinh, chẳng nghĩ có sinh. Nhẫn qua khỏi đời chẳng cùng đời hòa hợp. Nhẫn là vào đạo, chẳng là không đạo. Nghĩ nhẫn là giải thoát, chẳng là không thoát. Lý giải nhẫn là Nê hoàn chẳng là sinh tử. Nhẫn nhục của Bồ tát chẳng sinh ý niệm này. Sở dĩ vì sao ? Vì chẳng bình đẳng vậy. Sao gọi là nhẫn bình đẳng của Bồ tát ? Lý giải vào rỗng không, không có gì đoạn dứt, không có gì chấp trước. Ðó là nhẫn của Bồ tát. Cũng chẳng nghĩ sinh, chẳng nghĩ chẳng sinh, chẳng nghĩ hóa sinh. Nếu không hóa sinh thì chẳng dấy niệm nói có cùng không. Hiểu rõ ý nghĩa này, đến chẳng thể tận. Do đó gọi là chẳng thể tận. Nhẫn đều không sở tác, chẳng nghĩ đương nhiên và cùng chẳng đương nhiên, không có hiện thì không trói buộc, không cởi mở, cũng không cái sinh ra, không có tạo khởi. Ðã không cái sinh ra thì chẳng thể tận. Nhẫn ấy như vậy thì chính là chứng được pháp nhẫn Vô sở tùng sinh. Như kể từ được pháp nhẫn Vô sở tùng sinh cho đến lúc Như Lai ngồi dưới gốc cây Phật thì người nhẫn này ứng được thọ quyết (thọ ký) nói chẳng thể tận. Khi nói phẩm pháp Nhẫn này thì người ở tại đại hội ấy đều khen rằng : - Hay thay ! Hay thay ! Quả thật như lời nói của ngài A Soa Mạt không có khác ! Mười vạn trời đều dùng hoa trời, danh hương, tràng phan, bảo cái tung lên trên thân ngài A Soa Mạt và các vị Bồ tát để cúng dường. Kỹ nhạc của chư thiên tự nhiên kêu lên để cho các vị vui vẻ. Lòng họ đều sáng suốt, mang ý nghĩ rộng lớn, tất cả đều nói lên rằng: - Nguyện khiến cho các chúng sinh đều được sáng. Như nhẫn của đức Như Lai mà họ nghe âm thanh này chẳng khủng, chẳng cụ, lòng chẳng ở trong sự lo lắng thì những hoa, danh hương, tràng phan, bảo cái sẽ tràn đầy khắp ba ngàn đại thiên cõi Phật ủa các pháp vô cùng nên chẳng thể tận.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét