
Kinh Bại Vong
I. Giới Thiệu
Kinh Bại Vong (Parabhava-sutta) rút từ Tập Kinh (Suttanipata), kệ số 91-115, trang 18-20, Pali Text Society. Cũng như Kinh Chơn Hạnh Phúc (Mahamangala Sutta), kinh nầy do một thiên nhân hỏi nguyên nhân dẫn đến bại vong. Nội dung gồm 12 cửa bại vong. Từ điều thứ nhất đến điều thứ mười hai, không có gì khó hiểu. Ví dụ điều thứ nhất: "Thích chánh pháp thành công, ghét chánh pháp bại vong" có nghĩa là ưa thích đạo lý gồm qui luật thiên nhiên và lối sống cao đẹp thì có thể thành tựu sự nghiệp; trái lại chê ghét đạo lý thì thất bại thua thiệt; hoặc điều mười hai: nếu sanh trong gia đình vua chúa hay gia đình có quyền thế mà tham vọng quá lớn, không biết tài sản địa vị của mình đang có, luôn luôn vơ vét, bốc lột tiền của, của người khác và tranh dành quyền thế để thống trị kẻ dưới thì nhất định sẽ đi đến chỗ tiêu diệt.
Đọc qua mười hai cửa bại vong, chúng ta thấy rõ đạo Phật với những lời dạy do chính Phật Tổ thuyết giảng không phải là một "triết lý phù phiếm" mà là một đạo lý cao siêu song thực tiển giúp con người sống đẹp, sống cao và sống rộng. Có thể nói đạo Phật là những liều thuốc cứu người khỏi bịnh hoạn và có được sức khỏe để sống vui.
Đọc kinh Phật, chúng ta thấy có rất nhiều bài kinh sâu xa do Phật giảng cho các vị xuất gia tu hành như các thầy Tỳ kheo, các vị A-la-hán những cũng không ít bài kinh thực tiển do Phật giảng cho các Phật tử tại gia, những người tôn kính ba ngôi báu song vẫn sống với gia đình và trong xã hội.
Nội dung của những bài kinh ấy nhiều khi có vẽ trái ngược nhau. Ví dụ trong Kinh Chơn Hạnh Phúc Phật dạy người Phật tử tại gia thương mến vợ con, trong khi trong kinh Pháp cú, kệ 345, Phật dạy các thầy Tỳ kheo xem vợ con là giây trói buộc còn chắt hơn giây sắt. Nhưng sự thật thì không có gì mâu thuẩn nếu xem những bài kinh ấy là những liều thuốc trị bịnh mà không phải là những chủ thuyết và nhất là không phải là những tín điều (dogma).
Vì thế, người giảng kinh phải biết rõ nội dung kinh và căn cơ người nghe kinh, và người nghe kinh, đọc kinh cũng phải biết rõ kinh nào thích hợp với khả năng tu hành và hoàn cảnh sinh sống của mình. Nếu không, thì thuyết pháp chẳng khế cơ và nghe pháp không lợi ích. Và trong thực tế, sâm nhung dù quí bổ cũng có thể làm chết người được.
Đức Phật quả là đấng trí tuệ và từ bi vì Phật không những chỉ đường cho chúng ta đi đến chơn trời hạnh phúc mà còn dặn chúng ta tránh những lối rẻ dẫn đến bại vọng.
II. Chánh Kinh:
Kinh Bại Vong (Paràbhava) (Sn 18)
(Hòa thượng Thích Minh Châu dịch)
Như vầy tôi nghe:
Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, khu vườn ông Anàthapindika. Rồi một Thiên nhơn, sau khi đêm gần mãn, với dung sắc thù thắng, chói sáng toàn vùng Jetavana, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Đứng một bên, Thiên nhân ấy bạch Thế Tôn với những bài kệ:
Thiên nhân:
91. Về bại vong con người,
Con hỏi Gotama,
Con đến hỏi Thế Tôn,
Cửa vào của bại vong?
Thế Tôn:
92. Thật dễ hiểu thành công,
Thật dễ hiểu bại vong,
Ưa mến pháp, thành công,
Thù ghét pháp bại vong.
Thiên nhân:
93. Như vậy, chúng con rõ,
Thứ nhất về bại vong,
Thứ hai, mong Ngài nói,
Cửa vào của bại vong?
Thế Tôn:
94. Ai mến kẻ bất thiện,
Không ái luyến bậc thiện,
Thích pháp kẻ bất thiện,
Chính cửa vào bại vong.
Thiên nhân:
95. Như vậy, chúng con rõ,
Thứ hai về bại vong,
Thứ ba, mong Ngài nói,
Cửa vào của bại vong?
Thế Tôn:
96. Người tánh ưa thích ngủ,
Thích hội chúng, thụ động,
Biếng nhác, thường phẫn nộ,
Chính cửa vào bại vong.
Thiên nhân:
97. Như vậy, chúng con rõ,
Thứ ba về bại vong.
Thứ tư, mong Ngài nói,
Cửa vào của bại vong?
Thế Tôn:
98. Ai với mẹ hay cha,
Già yếu, tuổi trẻ hết,
Tuy giàu không giúp đỡ,
Chính cửa vào bại vong.
Thiên nhân:
99. Như vậy, chúng con rõ,
Thứ tư về bại vong.
Thứ năm, mong Ngài nói,
Cửa vào của bại vong?
Thế Tôn:
100. Ai nói dối lường gạt,
Sa-môn, Bà-la-môn,
Hay các khất sĩ khác,
Chính cửa vào bại vong.
Thiên nhân:
101. Như vậy, chúng con rõ,
Thứ năm về bại vong.
Thứ sáu, mong Ngài nói,
Cửa vào của bại vong?
Thế Tôn:
102. Người giàu có tài sản,
Có vàng bạc thực vật,
Hương vị ngọt một mình,
Chính cửa vào bại vong.
Thiên nhân:
103. Như vậy, chúng con rõ
Thứ sáu về bại vong.
Thứ bảy, mong Ngài nói,
Cửa vào của bại vong?
Thế Tôn:
104. Người tự hào về sanh,
Về tài sản dòng họ,
Khinh miệt các bà con,
Chính cửa vào bại vong.
Thiên nhân:
105. Như vậy, chúng con rõ,
Thứ bảy về bại vong,
Thứ tám, mong Ngài nói,
Cửa vào của bại vong?
Thế Tôn:
106. Người đắm say nữ nhân,
Đắm say rượu, cờ bạc,
Hoang phí mọi lợi đắc,
Chính cửa vào bại vong.
Thiên nhân:
107. Như vậy, chúng con rõ,
Thứ tám về bại vong.
Thứ chín, mong Ngài nói,
Cửa vào của bại vong?
Thế Tôn:
108. Không vừa đủ vợ mình,
Được thấy giữa dâm nữ,
Được thấy với vợ người,
Chính cửa vào bại vong.
Thiên nhân:
109. Như vậy, chúng con rõ,
Thứ chín về bại vong.
Thứ mười, mong Ngài nói,
Cửa vào của bại vong?
Thế Tôn:
110. Người tuổi trẻ đã qua,
Cưới cô vợ vú tròn,
Ghen nàng không ngủ được,
Chính cửa vào bại vong.
Thiên nhân:
111. Như vậy, chúng con rõ,
Thứ mười về bại vong.
Thứ mười một, xin nói,
Cửa vào của bại vong?
Thế Tôn:
112. Đàn bà, hay đàn ông,
Rượu chè, tiêu hoang phí,
Được địa vị quyền thế,
Chính cửa vào bại vong.
Thiên nhân:
113. Như vậy, chúng con biết,
Thứ mười một bại vong.
Thứ mười hai, xin nói,
Cửa vào của bại vong?
Thế Tôn:
114. Tài sản ít, ái lớn,
Sanh gia đình hoàng tộc,
Ở đây muốn trị vì,
Chính cửa vào bại vong.
115. Bại vong này ở đời,
Bậc trí khéo quán sát,
Đầy đủ với chánh kiến,
Sống hạnh phúc ở đời.
Kinh Ba Tĩnh Lặng
I- Giới Thiệu
Kinh nầy rút từ "Phật thuyết như vầy" (Itivuttaka) trong 15 quyển thuộc Tiểu Bộ (Khuddakanikaya), Pali Text Society, trang 56; Hòa thượng Thích Minh Châu đã dịch, Tu thư Phật Học Vạn Hạnh xuất bản 1982. Nội dung nói về ba sự tĩnh lặng: Thân tĩnh lặng, Lời tĩnh lặng, và Ý tĩnh lặng.
Tất cả hoạt động của con người tuy nhiều song có thể gồm thâu vào ba loại: thân, lời và ý.
Hoạt động của thân, lời và ý nơi người thường thì ồn ào và đưa đến đau khổ bởi vì một người không tu dưỡng có thể có những hoạt động giết hại, trộm cướp, tà hạnh (thân), nói dối, nói hai lưỡi, nói thêu dệt, nói thô ác (lời), tham lam, tàn bạo, hiểu sai (ý).
Trái lại, hoạt động của thân, lời và ý nơi người tu hành, đạo sĩ, thì tĩnh lặng và đưa đến an vui bởi vì một người hướng đến giác ngộ giải thoát luôn luôn tôn trọng sự sống, tài sản và hạnh phúc gia đình của người khác. Người xuất gia thì phạm hạnh (thân), nói thật, nói hòa giải, nói đúng, nói hiền diệu (lời), giúp đở, cho vui, hiểu đúng (ý).
Nói rộng ra, sở dĩ cuộc đời trở nên ồn ào, đau khổ là vì con người và xã hội sinh hoạt theo chiều hướng không lành mạnh. Nếu con người và xã hội chịu đổi lại cách sống và sống theo chiều hướng lành mạnh thì cuộc sống sẽ tĩnh lặng, an vui. Muốn được tĩnh lặng, an vui, con người cần phải tu dưỡng hay được giáo dục để những lậu-hoặc (asava) sau đây không còn là sức mạnh thúc đẩy hoạt động của con người:
1. lậu-hoặc về dục lạc (kamasava),
2. lậu-hoặc về hiện hữu hay bản ngã (bhavasava),
3. lậu-hoặc về tà kiến (ditthasava),
4. lậu-hoặc về vô minh (avijjasava).
"Có bên trong thì hiện ra ngoài" (hữu ư tất hình ư ngoại). Một khi các lậu-hoặc không còn thì giác ngộ, giải thoát, nghĩa là con người vẫn hành động, nói năng và suy nghĩ song luôn luôn tĩnh lặng như mặt nước hồ thu đêm rằm.
Thiền quán có khả năng ngăn đổi con người ồn ào thành con người tĩnh lặng. Các thần giáo thường an ủi con người với phương pháp cầu nguyện. Phật giáo, với phương pháp thiền quán, giúp con người diệt trừ các lậu-hoặc để được tĩnh lặng hoàn toàn.
"Thích Ca Mâu Ni" là "Đức Phật tĩnh lặng (muni) thuộc giòng Thích Ca (Sakya)". Phật tử là người tu học để được tĩnh lặng như Phật tổ.
Cuộc sống hôm nay, nhứt là ở các thành phố phương tây quả thật là ồn ào và đau khổ, vì thế đạo lý của Phật Tổ Thích Ca Mâu Ni rất cần thiết cho chúng ta.
II- Chánh Kinh
Điều này do Thế tôn và A-la-hán nói và tôi được nghe:
"Này các Tỳ kheo, có ba sự tĩnh lặng. Những gì là ba? Thân tĩnh lặng, lời tĩnh lặng, và ý tĩnh lặng. Này các Tỳ kheo, ấy là ba sự tĩnh lặng."
Thế tôn nói ý nghĩa này; điều này lại được nói:
"Thân tĩnh lặng, lời tĩnh lặng, ý tĩnh lặng không lậu-hoặc. Đủ tĩnh lặng của đạo sĩ, gọi là 'Tâm sạch điều ác'.
Ý nghĩa này do Thế tôn nói và tôi được nghe.
Kinh Bát Ðại Nhân Giác
Chương II
Giải Thích Nội Dung Kinh Bát Ðại Nhân Giác
Kinh Bát Ðại Nhân Giác, bố cục thành ba phần:
- Phần mở đầu chỉ một câu đơn giản như là giới thiệu tám điều giác ngộ.
- Phần hai là nội dung tám điều giác ngộ ấy.
- Phần ba là phần khuyến khích tu tập theo tám điều giác ngộ ấy, phần này coi như là phần kết thúc của kinh.
Ðể giải thích sát với kinh văn chúng tôi trình bày theo cách thông thường, nghĩa là mỗi Bài gồm phần chánh văn (xem thêm bản chữ Hán ở Phụ lục), dịch nghĩa, giải thích và kết luận.
A. Phần Mở Ðầu
Bài I
I. Chánh Văn
Vi Phật đệ tử
Thường ư trú dạ
Chí tâm tụng niệm
Bát Ðại Nhân Giác.
II. Dịch Nghĩa
Là đệ tử của Ðức Phật thì ngày cũng như đêm chí thành đọc tụng và quán niệm tám điều giác ngộ của Bậc Ðại Nhân.
III. Giải Thích Nội Dung
Lời mở đầu ngắn gọn và đơn giản, có tính cách giới thiệu chủ đề, không như phần mở đầu của các kinh khác thường có. Ðiều nầy chứng tỏ Ngài An Thế Cao đã trích lục, soạn thảo tám điều giác ngộ, Ngài chủ động giới thiệu để người đọc có thể đi thẳng vào nội dung.
Mặc dù ngắn gọn nhưng tha thiết, vừa nói lên trách nhiệm và bổn phận của người Phật tử vừa chỉ dẫn những điều cụ thể phải thực hành.
Trách nhiệm của người Phật tử là gì? Ở đây không nói là người xuất gia, vậy từ Phật tử chỉ chung cho tại gia và xuất gia. Mang danh con của Phật thì phải thể hiện tính của Phật, đấy là chỗ khác biệt giữa người Phật tử và không là Phật tử; đấy là trách nhiệm của người Phật tử, những biểu hiện ở hành vi và ngôn ngữ cũng như tâm ý của người Phật tử luôn có sự cao thượng, lợi ích và hạnh phúc cho những người xung quanh.
Ðể xứng đáng với danh nghĩa là con của Phật, người Phật tử phải có quá trình tu tập bản thân; không phải tụng kinh, niệm Phật theo thời khóa nhất định mà sự tu tập ấy phải diễn ra mọi lúc, mọi nơi. Vì vậy, lời mở đầu gọi là Trú Dạ, là ngày cũng như đêm. Như vậy mới đủ năng lực chuyển hóa tính phàm phu của mình.
Tụng niệm không có nghĩa là đứng trước bàn Phật tụng kinh gõ mõ là đủ. Tụng là đọc tụng, còn niệm là an trú tâm vào đối tượng, còn gọi là chánh niệm, là hướng tâm, an trú tâm vào đối tượng, ở đây chính là Tám Ðiều Giác Ngộ của Bậc Ðại Nhân. Do tụng và niệm thường xuyên làm huân tập chủng tử thiện pháp, trí tuệ ngày càng lớn, thân tâm càng thanh tịnh, càng ngày càng gần với tính Phật như vậy xứng đáng là con của Phật.
Bậc Ðại Nhân là người lớn, là người trưởng thành, chỉ cho những người không còn bị sai khiến hay bị chế ngự bởi các phiền não, dục vọng. Theo truyền thống Ðại thừa thì chỉ cho Phật và Bồ Tát, theo truyền thống Nguyên thủy, đó là những vị chứng quả A La Hán hay trên đường chứng quả A La Hán.
IV Kết Luận
Lời mở đầu Kinh Bát Ðại Nhân Giác tuy ngắn gọn nhưng nói lên được mục đích và yêu cầu của một người Phật tử. Dù tại gia hay xuất gia người Phật tử cần phải tu tập quán chiếu ngày đêm các thiện pháp để tăng trưởng công đức và thành tựu cứu cánh Niết Bàn.
Ðiều quan trọng là những gì mà chư Phật, các bậc Thánh hiền đã tu tập, đã thành tựu thì con của Phật phải làm theo, không nhiều thì ít để phần nào xứng đáng với danh xưng Phật tử.
________________________________________
B. Phần Nội Dung Kinh
Bài II
I. Chánh Văn
Ðệ nhứt giác ngộ
Thế gian vô thường
Quốc độ nguy thúy
Tứ đại khổ không
Ngũ ấm vô ngã
Sanh diệt biến dị
Hư ngụy vô chủ
Tâm thị ác nguyên
Hình vi tội tẩu
Như thị quán sát
Tiệm ly sanh tử
II. Dịch Nghĩa
Ðiều thứ nhất, giác ngộ rằng cuộc đời là vô thường, vũ trụ mong manh tạm bợ. Sự cấu tạo của bốn đại là trống rỗng và có tác dụng gây đau khổ, tập hợp năm ấm là vô ngã, sinh diệt thay đổi không ngừng, không thực và không có chủ thể. Tâm ta là cội nguồn phát sinh điều ác, thân ta là nơi tích tụ tội lỗi. Quán chiếu như thế dần dần thoát ly sanh tử.
III. Giải Thích Nội Dung
Ðiều giác ngộ thứ nhất, được coi là tu quán Tứ Niệm Xứ. Quán Tứ Niệm Xứ là pháp tu đặc biệt của Phật giáo, là pháp môn quan trọng, là con đường duy nhất dẫn đến Niết Bàn (Ekayana-maggo). Tác dụng của pháp quán này được Ðức Phật dạy rất rõ trong Kinh Niệm Xứ, Trung A Hàm 98: "Nếu Tỳ Kheo nào trong từng khoảnh khắc lập tâm chánh trụ nơi bốn Niệm Xứ, nếu buổi sáng thực hành như vậy thì buổi tối liền được thăng tấn. Nếu buổi tối thực hành như vậy thì nhất định sáng hôm sau sẽ được thăng tấn" (Trung A Hàm I. T 578). Nội dung của chánh niệm chính là quán niệm về Tứ Niệm Xứ. Vì vậy điều thứ nhất giác ngộ được coi là tương đương với chánh niệm của kinh Bát Niệm, phép quán niệm về bản chất của vũ trụ nhân sinh được đưa vào đầu tiên nhằm củng cố cái nhìn của người Phật tử bằng chánh kiến, là sự nhận thức rõ về sự vật hiện tượng. Quán niệm không phải là cái suy nghĩ hay nhận thức thông thường mà là ý thức về đối tượng, duy trì ý thức ấy trên đối tượng, đồng thời đi sâu vào lòng đối tượng ấy, nhờ đó mà ta có cái nhìn rõ về đối tượng. Kết quả của sự quán chiếu đối tượng như thế là sự hợp nhất giữa chủ thể và đối tượng, ta hiểu đối tượng như chính ta.
Ðối tượng của sự quán chiếu thứ nhất là nhân sinh và vũ trụ:
" Cuộc đời là vô thường
Vũ trụ mong manh tạm bợ".
Quán chiếu về tính cách vô thường của đời sống con người và hoàn cảnh mà con người đang sống làm cho ta thấy rõ bản chất của sự vật. Chúng ta đau khổ vì chúng ta ngu si không thấy rõ tính chất vô thường mong manh tạm bợ của cuộc đời, vì không thấy rõ nên ta tham đắm chấp thủ cuộc đời rằng cái này là ta, là của ta, từ đó phiền não sinh ra: tham, sân, kiêu căng, hoài nghi, sợ sệt ...
* Thân thể là vô thường: Ðây là điều dễ hiểu dễ thấy nhưng ít người chấp nhận một cách sâu sắc, có sinh thì có già, có bệnh và chết. Sự chuyển biến hủy hoại theo thời gian của thân thể là một sự thật khách quan. Sự đau khổ của chúng ta không phải là do tính vô thường của thân thể mà chính là do chấp thủ, tham đắm vào thân thể mà đau khổ phát sinh.
* Tâm lý là vô thường: Tâm của ta không đứng yên một chỗ mà là chuyển biến liên tục như dòng nước chảy xiết buồn, vui, thương, ghét, giận, lo lắng, những quan điểm, khái niệm đúng, sai, tốt, xấu thay đổi không ngừng nhấp nhô như sóng biển bất tận, vui đó rồi buồn đó, thương rồi giận... không ai làm chủ được tâm lý của mình.
* Tình cảm là vô thường: Tình thương của cha mẹ đối với con cái, vợ đối với chồng, anh em, bạn bè, quê hương đất nước... không có gì là chắc chắn bền bỉ. Tình yêu rồi thù hận, trung thành rồi phản bội, thương nhau lắm cắn nhau đau...
* Tài sản tiền bạc là vô thường: Có rồi không, được rồi mất, giàu rồi nghèo, hết sức mong manh tạm bợ, dễ bị lửa cháy, nước trôi, nhà nước tịch thu, trộm cướp và con cái phá tán.
* Danh vọng địa vị là vô thường: Công danh sự nghiệp chức tước địa vị thăng giáng vô thường, vinh quang rồi tủi nhục, kính trọng hay khinh bỉ không có gì tồn tại mãi.
* Hoàn cảnh vô thường: Hoàn cảnh xã hội, đường lối sách lược luôn luôn thay đổi, đất lở, sông bồi, núi non hay biển cả, mây gió trăng sao đều luôn luôn chuyển biến "thương hải biến vi tang điền" là điều thường thấy.
Tất cả đều nằm trong qui luật : vô thường, hoại diệt. Quán chiếu về tính chất vô thường của vũ trụ nhân sinh không nhằm mục đích đưa đến thái độ bi quan yếm thế mà chính là hướng dẫn ta có cái nhìn chính xác về sự thật của đời sống. Nhờ có cái nhìn rõ ràng và sáng suốt như vậy mà ta được an ổn, trầm tĩnh, không ưu tư sầu muộn, đau khổ về đời sống, ta đạt được giải thoát, tự do. Trong kinh Pháp Cú, Ðức Phật dạy:
"Hãy nhìn như bọt nước
Hãy nhìn như huyễn cảnh
Quán nhìn đời như vậy
Thần chết không bắt gặp"
Ðối tượng quán chiếu tiếp theo là bốn đại và năm uẩn để thấy được tính chất vô ngã của chúng, nghĩa là thấy được sự trống rỗng không có chủ thể của bốn đại và năm uẩn. Bốn đại là bốn nguyên tố vật chất theo quan điểm triết học Ấn Ðộ cổ đại tất cả hình thể vật chất đều do sự cấu thành của bốn nguyên tố nầy. Nhưng khi diễn tả sự cấu thành thân thể con người, đạo Phật không dừng ở đó mà thêm hai nguyên tố nữa là không đại và thức đại. Năm uẩn là năm nhóm tạo thành con người gồm: Sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Sắc là thân thể bao gồm bốn đại ở trên; thọ là nhóm cảm giác; tưởng là nhóm tri giác; hành là nhóm động lực tâm lý và thức là nhóm nhận thức. Nói một cách tổng quát thì con người do bốn đại và năm uẩn cấu thành, ngoài bốn đại và năm uẩn không có cái gì gọi là con người cả.
Quán chiếu về bốn đại tức là bốn yếu tố vật chất để thấy rõ bản chất trống rỗng của chúng. Cần chú ý là vật chất ở đây chỉ cho thân thể của ta. Thân ta nếu phân tích sẽ thấy nó gồm có đại địa, tức xương thịt, các chất rắn; Thủy đại tức nước tiểu, mồ hôi, nước mắt nói chung là chất lỏng; Hỏa đại là hơi ấm, nhiệt độ thân thể, còn nhiệt độ là còn sống; Phong đại là thể khí như không khí để thở, khoảng không chứa đựng các loại khí... Nếu bốn yếu tố nầy đầy đủ điều hoà thì thân thể ta khỏe mạnh, nếu một trong bốn yếu tố mất thăng bằng thì thân thể bị bệnh hoặc khó chịu ngay. Bản chất của chúng là không có tự tính, chúng phải dựa vào nhau mà tồn tại hay nói cách khác chúng tồn tại do duyên sinh. Vì vậy không có gì là chắc chắn bảo đảm, chúng vô thường. Thân thể chúng ta là vô thường như phép quán đầu tiên, chúng vô thường vì chúng trống rỗng, nghĩa là vô ngã. Chúng vô ngã vì chúng tồn tại có điều kiện. Ðó là qui luật của thực tại. Vì vậy kinh văn nói: "Sự cấu tạo của bốn đại là trống rỗng". Sự vô thường, vô ngã của bốn đại là qui luật khách quan, nhưng tại sao trong kinh văn cho là "khổ"? Thực ra cái khổ không do vô thường hay vô ngã của thân thể mà do nhận thức chấp thủ rằng thân thể là thường, là ngã, là tôi, là của tôi mà sinh ra cái khổ, nên kinh văn (được) dịch là "có tác dụng gây ra đau khổ". Vậy đau khổ ở đây là do không quán chiếu để thấy rõ bản chất của thân thể (hay của bốn đại) là "vô ngã" mà chấp vào nó nên "khổ".
Quán chiếu về bốn đại tức là quán chiếu về yếu tố sắc uẩn trong năm uẩn. Tiếp tục quán chiếu về bản chất của con người chính ta, bằng cách soi chiếu sâu sắc vào năm uẩn, về mặt tinh thần, tâm lý thì được chia thành bốn nhóm:
1. Nhóm cảm giác (Vedanà): Là thọ hay cảm thọ. Nhìn sâu vào nhóm cảm thọ ta sẽ nhận diện bộ mặt thật của chúng; chúng sinh trưởng và hoại diệt như thế nào? Cảm thọ có nhiều loại, khái quát có ba loại chính: Cảm thọ khổ, cảm thọ vui sướng, cảm thọ trung tính (không khổ, không vui). Một cảm giác sinh khởi nó tùy thuộc các điều kiện nhân duyên. Nó không tự tồn tại và không có giá trị lâu bền. Một cảm giác dễ chịu thoải mái do đâu mà sinh? Nguồn gốc của nó có thể từ vật chất như ta có một món tiền lớùn hay một bữa ăn ngon chẳng hạn. Nguồn gốc của nó có thể từ tâm lý như khi ta thương yêu hay thưởng thức một bài thơ hay, ta khoan khoái dễ chịu. Quán chiếu sâu hơn ta thấy các cảm thọ còn tùy thuộc rất nhiều yếu tố như không gian, thời gian, trình độ văn hóa, thời tiết, điều kiện xã hội.... rõ ràng là cái cảm giác buồn hay vui chứa đựng cả một bầu trời duyên sinh chỉ cần thiếu đi một yếu tố, chi tiết nào đó cảm thọ vui sẽ giảm hoặc mất đi. Vậy ở trong cảm thọ cái gì là cái ta, cái của ta? Chúng không thực và không có chủ thể.
2. Nhóm tri giác (Tưởng - sannakhandha): Chúng là sự nhận thức, sự cấu thành khái niệm về đối tượng là vật lý hay tâm lý. Ðây là nhóm nhận thức sau khi các giác quan tiếp xúc với ngoại cảnh; nó thu nhận đối tượng và biểu tượng hóa cái đối tượng của giác quan. Tưởng thiết lập cơ sở các dữ liệu cho nhận thức lý luận, cho sự nhận thức sâu hơn về thế giới vật lý hay tâm linh. Nhóm tri giác có sáu loại tượng ưng với sáu giác quan tiếp xúc với sáu đối tượng mà sanh nhận thức về các đối tượng ấy.
Cũng như Thọ (cảm giác), nhóm Tưởng đòi hỏi và tùy thuộc vào rất nhiều yếu tố, nhiều điệu kiện nhân duyên, sự cấu thành nhận thức, khái niệm về sự vật là như thế nào; tùy thuộc vào yếu tố không gian, thời gian, thời tiết, điều kiện văn hóa, xã hội ... ở trong chúng không có cái gì gọi là bền vững hay riêng lẻ.
3. Nhóm tạo tác tâm lý (Hành - sankhàra): Hành là quá trình tạo tác tâm lý, một loại ý định,chủ tâm. Thực ra thọ hay tưởng đều thuộc về hành nhưng thọ và tưởng không tạo tác kết quả nghiệp nên được tách riêng. Hành mới có tác dụng tạo nghiệp đưa đến thiện, ác và tái sanh.
Những hiện tượng tâm lý gọi chung là tâm hành, Duy thức học gọi là tâm sở -- cảm giác và tri giác không phải là những hoạt động ý chí nên không bao gồm trong hành uẩn. Hành uẩn gồm những tâm lý phát sinh động lực và tạo tác dụng thúc đẩy năng lực đi tới như tham dục, sân hận, hãm hại hoặc ước muốn, tin tưởng, tinh tấn ... Những hoạt động tâm lý thuộc hành uẩn diễn ra khi sáu giác quan tiếp xúc với sáu đối tượng giác quan.Ví dụ khi mắt thấy sắc đẹp sinh ra tham muốn, sự vướng mắc vào đối tượng tham đắm hay giận hờn, nó tùy thuộc rất nhiều điều kiện khác nhau, nói cách khác nó cũng do duyên sinh không có yếu tố tạo tác tâm lý nào là cố định, tự phát. Chúng tùy thuộc vào nhân duyên mà sinh và nhân duyên mà diệt.
4. Nhóm Thức (Vinnàna): Thức là một phản ứng căn bản khi giác quan tiếp xúc với đối tượng, gồm sáu loại: Nhãn thức, nhĩ thức,tỷ thức, thiệt thức, thân thức và ý thức. Về sau, Ðại thừa duy thức triển khai thêm hai thức nữa là Mạt na thức và A lại gia thức, gọi một cách tổng quát là tâm vương. Cần phân biệt thức uẩn và tưởng uẩn. Thức thì nhận biết đối tượng - sự hiện diện của đối tượng. Ví dụ khi mắt thấy sắc, thức nhận thức về sự hiện của một đối tượng như bông hoa chẳng hạn. Còn tưởng là tri giác sẽ nhận ra đấy là hoa hồng hay hoa lài, màu đỏ hay màu trắng.
Thức, theo Phật giáo, không phải là một linh hồn tồn tại độc lập, Ðức Phật dạy: "Thức được gọi tên tùy theo điều kiện nhờ đó mà đó sinh khởi: Nhờ con mắt và đối tượng con mắt mà thức phát sinh, gọi là nhãn thức ... Thức tồn tại nhờ sắc ...nhờ thọ ... nhờ hành ..." Như vậy thức không tồn tại độc lập và không có cái ngã trong thức.
Tóm lại quán chiếu để thấy rõ bốn đại và năm uẩn là trống rỗng, là vô ngã, là duyên sinh. Nhờ thấy rõ bản chất của chúng mà đoạn trừ được tham ái và chấp thủ vào chúng. Khi đã buông xả ý niệm về thân tôi, về tôi, về tự ngã của tôi thì mọi ảo tưởng về thân sẽ tan biến gọi là đoạn trừ thân kiến, bước đầu của bậc Kiến đạo.
Ðối tượng quán chiếu thứ ba là khía cạnh bất thiện của thân và tâm, cũng có nghĩa phải thấy rõ mặt tiêu cực, nguy hiểm của thân và tâm để mà đề phòng, hạn chế xu hướng phát triển của chúng.
Kinh văn dạy: "Phải quán chiếu tâm ta là cội nguồn phát sinh điều ác, thân ta là nơi tích tụ tội lỗi". Trước hết cần xác định rằng: Ðiều ác, điều bất thiện là do tâm tạo tác chứ không phải từ bên ngoài phát sinh, đây là lập trường căn bản của giáo lý về nghiệp. Trong Kinh Pháp Cú, Ðức Phật dạy: "Trong các pháp tâm dẫn đầu, tâm làm chủ, tâm tạo tác tất cả. Nếu đem tâm nhiễm ô để nói năng hay hành động thì kết quả đau khổ đi theo như bánh xe lăn theo con vật kéo xe... Nếu đem tâm thanh tịnh để nói năng hay hành động thì kết quả hạnh phúc đi theo như bóng theo hình". Thiện, ác, đau khổ hay hạnh phúc đều xuất phát từ tâm ý. Tuy nhiên ở đây kinh chỉ đề cập đến khía cạnh bất thiện, đau khổ mà thôi. Từ những nhận thức sai lầm dẫn đến các tâm lý bất thiện tham, sân, si, mạn, nghi, tạo thành động lực cho ác nghiệp. Cũng cần phải thấy rõ sức mạnh của nghiệp bất thiện nó có mặt từ quá khứ, tức là nhiều đời kiếp về trước nên khó đoạn trừ, đừng chủ quan, hời hợt và coi thường chúng; có quán chiếu sâu sắc mới thấy những tiềm ẩn vi tế, gốc gác sâu xa của chúng. Thân thể là nơi tích tụ tội lỗi, đây cũng là quán chiếu để thấy rõ mặt tiêu cực của thân. Thân vật lý nó có những quy luật tồn tại riêng của chúng; chúng có những nhu cầu (tồn tại ) sinh tồn. Những đòi hỏi thỏa mãn nếu ta không nhận ra đâu là nhu cầu thực và chính đáng, đâu là nhu cầu giả tạo không cần thiết của thân thì rõ ràng ta bị thân lôi cuốn vào tội lỗi. Phần lớn những tội lỗi sinh ra do thân làm động cơ, làm điều kiện; tất cả những nhu cầu ăn, mặc thỏa mãn sinh lý, những lạc thú đều từ thân, do thân. Vì vậy, không nên coi thân là quan trọng mà phải thấy rõ chúng đề sử dụng chúng như là phương tiện tu tập và hành đạo.
IV. Kết Luận
Ðiều giác ngộ thứ nhất là quán chiếu để thấy rõ pháp ấn: Vô thường, Khổ, Không, Vô ngã, ở nơi thân tâm của con người với mục đích bỏ những vướng mắc tham đắm, chấp thủ đối với con người và cuộc đời. Duy trì sự quán chiếu ấy trên đối tượng thân, tâm, hoàn cảnh của mình; mình sẽ có thái độ ứng xử thích hợp với chân lý. Ðây không phải là lối nhìn bôi đen đời sống, là lối nhìn tiêu cực, mà chính là cách nhìn của tuệ nhãn đầy tích cực, nó có tác dụng mang lại sinh lực cho chúng ta. Con người đau khổ mất mát sinh lực chính là do nhìn đời ngược lại. Thành tựu các "niệm xứ" như kinh đã dạy, tức là bước vào Thánh đạo, không có con đường nào khác. Nhãn quan của đạo Phật về cuộc đời quá rõ như kinh Kim cương dạy:
" Nhứt thiết hữu vi pháp
Như mộng huyễn bào ảnh
Như lộ diệc như điện
Ưng tác như thị quán".
________________________________________
Bài III
I. Chánh Văn
Ðệ nhị giác tri
Ða dục vi khổ
Sanh tử bì lao
Tùng tham dục khởi
Thiểu dục vô vi
Thân tâm tự tại.
II. Dịch Nghĩa
Ðiều thứ hai giác ngộ rằng ham muốn nhiều thì đau khổ nhiều. Những nỗi khốn khổ trong cõi sanh tử đều do tham dục mà sanh. Người ít ham muốn, không tạo tác (nghiệp bất thiện) nên thân tâm được tự tại.
III. Giải Thích Nội Dung
Ðiều giác ngộ thứ hai nói về nguồn gốc đau khổ là do tham dục. Tham nhiều thì khổ nhiều, người ít tham dục thì không bôn ba tìm kiếm, không tạo nghiệp bất thiện, không bị các đối tượng của dục hay ngoại duyên chi phối nên được thảnh thơi, thoải mái, an vui.
Ðiều này nói lên một chân lý: Khổ và điều kiện sanh ra khổ, đó là lòng ham muốn nhiều của con người. Cái khổ do tham là một kinh nghiệm thực tế mà ai cũng kinh qua. Các đối tượng để mình tham muốn có năm loại tiêu biểu: Tiền bạc, sắc đẹp, danh vọng, ăn uống, ngủ nghỉ, hay nói cách khác, sắc đẹp, tiếng hay, mùi thơm vị ngon, xúc chạm êm dịu. Tại sao tham muốn các đối tượng nầy là khổ? Thực ra, khi ta tham muốn các đối tượng ấy là ta sướng chứ không phải khổ, khổ không bao giờ là đối tượng mong cầu của ai cả. Khổ có nhiều phương diện:
1. Khổ về cảm thọ hay cảm giác: sung sướng, hạnh phúc là một cảm giác mà Phật học gọi là lạc thọ, ngược lại đau khổ cũng là một cảm giác gọi là khổ thọ. Cả hai loại cảm thọ này thường đi đôi với nhau, đôi khi chúng làm điều kiện cho nhau: " cái này có nên cái kia có" vui quá thì sẽ buồn quá " trèo cao té nặng" ... Cảm giác hạnh phúc và khổ đau là bản chất của tham dục. Khi một đối tượng thích ý có mặt nó đem đến cho ta khoái cảm, nhưng khi đối tượng ấy thay đổi, không có mặt nữa nó đem đến cho ta đau khổ, cũng như có thương nên mới có hận, nếu không thương thì làm gì có thù hận!
Trong Kinh Ðại Khổ Uẩn (Trung Bộ Kinh I), Ðức Phật dạy: "Bản chất của dục có ba khía cạnh, mà người tu hành cần phải biết rõ: Vị ngọt của dục, vị đắng của dục và sự giải thoát khỏi chúng".
Vị ngọt của dục: Các đối tượng tham dục đem đến cho con người khoái lạc, sung sướng, thích thú. Vì vậy ai cũng mong cầu tham đắm chúng, những lạc thú này thỏa mãn cảm giác lạc thọ của các giác quan và bản năng hưởng thụ của con người, làm cho cuộc sống của con người trở nên thú vị, có ý nghĩa hơn. Sự hấp dẫn của chúng không dễ thấy được một cách sâu sắc. Có một chuyện ngụ ngôn Phật giáo kể rằng: " Có một người tử tù vượt ngục, bị các con voi của vua rượt đuổi phía sau. Trong cơn nguy kịch, anh ta bị rơi xuống một cái giếng sâu, may thay anh ta nắm được một sợi dây leo khá chắc. Các con voi đã đến và gầm thét trên miệng giếng. Anh nhìn quanh giếng thấy có ba con rồng đang há miệng chờ, bốn góc giếng có bốn con rắn độc đang lăm le chực mổ, nguy hơn nữa là có hai con chuột đang gặm nhấm hai đầu sợi dây leo mà anh đang bám vào, tình thế tuyệt vọng. Trong lúc ấy có một bầy ong bay ngang qua, anh ta ngước cổ há miệĩng nhìn, bầy ong tình cờ làm rơi xuống năm giọt mật ngay miệng anh. "Ôi! giọt mật ngọt làm sao!" Anh thốt lên. Trong phút chốc anh ta quên mất sự khốn cùng của mình". Năm giọt mật ấy dụ cho năm dục, nó tạo nên lạc thú cho con người. Nói chung những gì đem đến hỷ và lạc đó là vị ngọt của ngũ dục.
Cảm thọ lạc thú có một tính chất nữa là rất chóng tàn. Khi lạc thọ đã qua đi sẽ để lại tâm hồn ta một nỗi trống trải, lạc lõng, nó hình thành một nhu cầu, thúc đẩy tái tạo lạc thọ ấy và chúng ta lên đường tìm kiếm. Nhưng những lạc thọ đã kinh nghiệm không còn hấp dẫn nữa, không còn "lạc" nữa, phải tìm kiếm lạc thú mới, nghĩa là lạc thú có cường độ cao hơn... cứ thế mà tiếp diễn, rồi nỗi khổ xuất hiện...
2. Khổ vì đấu tranh: Ðể đạt được các đối tượng lạc thú không phải dễ dàng, phải có sự mưu tính, nỗ lực, phải tranh đấu, phải hy sinh... mới có được. Trong kinh Ðại Khổ Uẩn Phật dạy: Vị đắng của dục hay sự nguy hiểm của tham dục cần phải hiểu rõ rằng:
- Ðể có các đối tượng tham dục, để thỏa mãn nhu cầu của tham dục, con người phải nỗ lực tìm kiếm chúng, phải đầu tắt mặt tối, phải vất vả, phải hy sinh... may ra mới có được những gì mình muốn.
- Những người vất vả như vậy mà vẫn hai bàn tay trắng không có kết quả gì, thất vọng buồn phiền.
- Có những nguời may mắn hơn, có được những gì mình muốn nhưng phải lo giữ gìn, sợ hãi sẽ mất mát, hao mòn.
- Do mình có tài sản hay mình muốn tài sản, lạc thú mà cha con tranh chấp, vợ chồng chia tay, bạn bè hãm hại, anh em kiện cáo nhau, dối trá lường gạt, hãm hại... xảy ra.
- Do tham dục mà xóm làng, băng đảng, quốc gia... gây chiến tranh đổ máu, chết chóc... xảy ra cục bộ hay toàn diện.
Do tham dục mà con người sống như cầm thú, sát sinh, trộm cắp, tà dâm, ác nghiệp...
Do vậy chết trong đau khổ, đọa vào đoạ xứ, địa ngục... Ðó là ý nghĩa của kinh văn: "Những nỗi khốn khổ trong cõi sinh tử đều do tham dục mà sanh".
Người ít dục, ít ham muốn lạc thú thì ít khốn khổ hơn, được thanh thản thoải mái hơn như trong Kinh Ðại Khổ Uẩn (sđđ), Ðức Phật dạy là sự xuất ly khỏi dục.
Trước hết, do nhận thức rõ vị ngọt và sự nguy hiểm của dục nên sự hấp dẫn của chúng không đủ lực để cuốn hút, chi phối ta nữa. Sau đó trong quá trình quán chiếu tu tập sự an lạc của thiền hay của pháp sanh khởi, chuyển hướng tư duy của ta và chuyển hóa bản năng hưởng thụ dục lạc. Nhờ đó, ta xuất ly khỏi tầm ảnh hưởng của dục. Ðó gọi là thiểu dục vô vi, thân tâm tự tại.
IV. Kết Luận
Ham cầu nhiều thì vất vả,khổ sở nhiều; đó là quy luật, đó là con đường phàm phu ngu muội. Con người cứ tưởng rằng họ đạt được nhiều tiền bạc hay địa vị cao là họ thỏa mãn, họ có hạnh phúc. Nhưng thực tế thì vui ít, hạnh phúc ít mà buồn sầu đau khổ thì nhiều. Cuối cùng con người cũng nhận ra chân lý đơn giản này khi họ buộc phải từ bỏ tất cả, như khi chết chẳng hạn...
Nỗi đau khổ của cuộc đời giống như nồi nước đang sôi, ngọn lửa làm cho nước sôi là ngọn lửa tham dục, ngọn lửa càng lớn, nước càng sôi và càng cạn kiệt,ngọn lửa càng yếu thì nước sôi sẽ bớt nhiệt độ và hết sôi.Cũng vậy, ngọn lửa tham dục bớt đi thì đau khổ sẽ giảm, giảm mãi hằng ngày đến lúc không còn gì để giảm nữa (vô vi) thì sự giải thoát tối hậu được thành tựu.
________________________________________
Bài IV
I. Chánh Văn
Ðệ tam giác tri
Tâm vô yểm túc
Duy đắc đa cầu
Tăng trưởng tội ác
Bồ Tát bất nhĩ
Thường niệm tri túc
An bần thủ đạo
Duy tuệ thị nghiệp
II. Dịch Nghĩa
Ðiều thứ ba giác ngộ rằng tâm ta không bao giờ biết chán đối với dục lạc, luôn muốn dược nhiều, vì vậy tội ác tăng trưởng. Bậc Bồ Tát thì không như vậy, họ luôn nghĩ đến sự biết đủ, sống an vui thanh đạm để hành đạo, lấy trí tuệ làm sự nghiệp của mình.
III. Giải Thích Nội Dung
1. Như đã trình bày ở Bài trước, dục lạc có vị ngọt, sự hấp dẫn nhưng đồng thời nó cũng có vị đắng, sự nguy hiểm. Sự nguy hiểm ấy chính là không bao giờ thỏa mãn. Vì vậy, không bao giờ người ta biết dừng lại đối với các lạc thú thế tục. Con người luôn tìm kiếm lạc thú, những kích thích mới; nó đẩy con người đi về phía trước một cách mù quáng giống như những con thiêu thân lao vào ánh lửa. Một người đã bị một lạc thú nào đó hấp dẫn, trở thành mục tiêu hay lý tưởng của đời mình, như đối tượng là tiền bạc chẳng hạn, thì lòng họ không bao giờ biết đủ hoặc biết dừng lại. Lòng tham của họ sẽ là "vô đáy", như một guồng máy đã khởi động là không ngừng quay cho đến khi nào bị hư hay hết nhiên liệu, đây là một thực tế tâm lý. Vì vậy tội ác ngày càng nhiều do phải chiếm đoạt cho được mục đích vô tận ấy.
Xu hướng tìm kiếm lạc thú là xu hướng chung của loài người, các loài động vật cũng vậy, đó là bản năng thụ hưởng. Hạnh phúc là từ ngữ văn vẽ của từ lạc thú; hạnh phúc là mục tiêu của đời sống con người. Những quan niệm về hạnh phúc thông thường là chiếm hữu càng nhiều càng tốt các đối tượng dục lạc, thỏa mãn nhu cầu lạc thú của các giác quan mà trong kinh gọi là dục lạc, phàm phu lạc. Vì nhu cầu hưởng thụ là bản năng nên nó không tự dừng lại được. Có người đọc câu "Nghĩ đến thân thể đừng cầu không tật bệnh. Vì không tật bệnh thì tham dục dễ sanh", ở trong luận Bảo Vương Tam Muội, người ấy cho rằng đối trị tham dục bằng cách cứ để cho tật bệnh rề rề như vậy không cần chữa chạy dứt điểm. Họ quên rằng dù bệnh nặng tham dục vẫn tồn tại, chẳng qua "lực bất tòng tâm" mà thôi.
Làm sao dừng lại được lòng tham dục? Phải nỗ lực tu tập, phải "rèn luyện" mà thôi. Kinh Trung Bộ đưa ra công thức: "Nhàm chán đưa đến ly tham, ly tham đưa đến đoạn diệt, đoạn diệt đưa đến Niết Bàn". Vậy để dừng lại tham dục phải có thái độ nhàm chán. Bằng cách nào để được nhàm chán? Ðể giải quyết vấn đề, Ðạo Phật đưa ra tám vạn bốn ngàn pháp môn. Do vậy, có người cho rằng Ðạo Phật là đạo diệt dục, khô khan. Ðạo Phật chủ trương diệt dục nhưng dục ở đây là tham dục, dục vọng vị kỷ không phải dục hướng thượng, thiện dục hay pháp dục. Vấn đề nhàm chán trước hết tùy thuộc vào năng lực quán chiếu, thấy rõ bản chất của dục, sự nguy hiểm và không đáng kể về giá trị của chúng, một số phương pháp cụ thể được đưa ra ở trong kinh Nhất Thiết Lậu Hoặc, An Trú Tầm... nhờ quán thấy rõ mà đoạn trừ mầm móng tư duy bất thiện: Dục, sân, si. Sau đó là sự gần gũi, tu tập trong chánh pháp phát triển xu hướng ngược lại của thói thường như trong kinh văn gọi là "Thường niệm tri túc".
2.Vì biết rõ sự nguy hiểm của dục lạc và lòng ham muốn vô tận là cội nguồn sanh tử nên các bậc Bồ tát không nghĩ, không làm theo thói thường của phàm phu mà làm ngược lại. Bồ Tát là chữ viết tắt của Bồ Ðề Tát Ðỏa (Bodhisattva). Nghĩa là chúng sanh giác ngộ (Bodhi: sự giác ngộ, trí tuệ, Sattva: chúng sanh). Người giác ngộ gọi là Bồ tát (Hữu tình giác) và làm cho chúng sanh giác ngộ gọi là Bồ tát (Giác hữu tình). Bồ tát là người giác ngộ nên thấy rõ qui luật của hạnh phúc và khổ đau rằng tham muốn nhiều thì tội ác tăng trưởng, khổ đau có mặt; ít ham muốn, biết đủ thì trí tuệ tăng trưởng, hạnh phúc có mặt...
Người biết đủ là biết hài lòng với những gì mình có được, đó là hạnh phúc và giàu có nhất trên cõi đời nầy. Người giàu có là người thỏa mãn sung sướng. Ngược lại người nghèo là người luôn thiếu thốn, khao khát, người không biết đủ luôn luôn thiếu thốn khao khát, luôn tìm kiếm nên họ là người nghèo, cho dù tài sản của họ nhiều đến đâu đi nữa. Giàu hay nghèo, thiếu hay đủ, chỉ trong một ý niệm mà thôi. Trong kinh Di Giáo Phật dạy: "Tri túc giả tuy ngọa địa thượng do vi lạc, bất tri túc giả tuy xử thiên đường diệc bất xứng ý" (Người biết đủ dù nằm ở trên đất cũng thấy an lạc, còn người không biết đủ dù được ở thiên đường cũng không vừa ý).
- Người giác ngộ (Bồ tát) hay là người Phật tử không có nghĩa là người hoàn toàn vô dục, vô cầu. Vô dục,vô cầu là đối với dục lạc phàm phu vị kỷ, tác hại đưa đến đau khổ.Người Phật tử hướng tâm mong cầu của mình về tha nhân và về pháp mà kinh Trung Bộ gọi là Thánh cầu (Dhamma-chanda) kinh văn nầy gọi là Duy Tuệ Thị Nghiệp. Kinh Thánh Cầu, Phật dạy: "Cầu cái không sanh, không già, không bệnh, không chết, không sầu, không ô nhiễm". Ðó là sự mong cầu của Bồ tát hay của các bậc Thánh nhân, các đệ tử của Ðức Phật.
- Tại sao tu hành là: "An bần thủ đạo"? Phải chăng đạo Phật muốn bần cùng hóa xã hội nhân sinh? Dĩ nhiên là không. Mục tiêu của đạo Phật là đời sống an lạc và hạnh phúc chân thật chứ không phải là đời sống giàu hay nghèo. Chấp thủ vào, bám víu vào những cái gì mà bản chất chúng là vô thường, vô ngã thì chắc chắn sẽ gặt hái khổ đau. Lòng tham là đầu mối của các bám víu, vướng mắc như vậy, cho nên rũ bỏ đi lòng tham vô độ thì đời sống của ta và của người mới nhẹ nhàng, thanh thản, mới có hạnh phúc. Vậy một người nghèo mà tham đắm nhiều thì sẽ khổ vô cùng, còn một người giàu mà ít tham đắm thì vẫn hạnh phúc, thanh thản như thường.
- Mặt khác sống đạm bạc để hành đạo dễ hơn là sống với nhu cầu hưởng thụ cao."Giàu sang học đạo là khó" (Kinh Tứ Thập Nhị Chương). Thật vậy, khi mình có quá nhiều nhu cầu không chán thì phải hướng tâm tìm kiếm, phải đầu tư ý chí, tình cảm, sức khỏe, trí khôn và thời gian để đạt được những gì mình cầu mong. Như vậy, con người ta bị nô lệ cho dục vọng, bị cuốn hút vào hướng đi và mục tiêu vô bổ. Trái lại, biết tri túc an phận thanh bần để có thì giờ, sức lực, ý chí làm giàu đời sống tâm linh, đời sống trí tuệ. Hướng đời mình vào hướng đi thánh thiện và siêu thoát, chỉ có trí tuệ mới đáp ứng cho nhu cầu và hướng đi ấy nên gọi là Duy Tuệ Thị Nghiệp.
IV.Kết Luận
Có hai con đường mà ta phải chọn lựa: Một là lao đầu vào đời sống thế tục tìm kiếm lạc thú và đương nhiên hưởng thụ cả đau khổ, con đường đó được làm bằng dục vọng và tội lỗi. Hai là con đường xuất thế siêu thoát lên trên mọi cám dỗ dục lạc, thành tựu những an lạc siêu thế, chấm dứt khổ đau, con đường nầy được làm bằng tri túc và trí tuệ, đấy là con đường của đệ tử xuất gia, của người tu sĩ Phật giáo, đây là con đường của người cư sĩ thực hành Bồ tát hạnh.
________________________________________
Bài V
I. Chánh Văn
Ðệ tứ giác tri
Giải đãi trụy lạc
Thường hành tinh tấn
Phá phiền não ác
Tồi phục tứ ma
Xuất ấm giới ngục.
II. Dịch Nghĩa
-Ðiều thứ tư giác ngộ rằng lười biếng sẽ đưa đến sa đọa. Vì vậy nên thường tinh tấn tu tập để phá giặc phiền não, hàng phục bốn loài ma, vượt thoát ngục tù của năm ấm và ba cõi.
III. Giải Thích Nội Dung
Ba điều đầu của tám điều giác ngộ trang bị cho hành giả khả năng nhận thức về bản chất thế giới (điều1), chỉ cho hành giả thấy rõ nguồn gốc của đau khổ là tham dục (điều 2) và con đường khởi hành là tri túc, khai mở trí tuệ (điều 3). Ðến bây giờ điều thứ tư, chính là sự dấn thân thực hiện hành trì. Biết mà không làm thì cũng như không biết, học mà không hành thì không có kết quả thực tiễn.
Nhận thức là bước đầu, sự thấy biết một cách sâu sắc và triệt để về thiện và bất thiện, về phàm phu và Thánh đạo sẽ tạo cho tâm thức hành giả một ước vọng: Ước vọng đạt đến mục tiêu giải thoát. Ước vọng nầy kích thích hành động để hướng dẫn hành động, tức là sự nỗ lực hành trì..Sự tu tập hành trì có kết quả hay không, nhanh hay chậm tùy thuộc vào nhân duyên mà hành giả có được, nhân duyên chủ yếu là ý chí nỗ lực, kinh gọi là Tinh Tấn.
Tu tập là một quá trình, đòi hỏi duy trì ước muốn và nỗ lực thường xuyên, như giọt nước tuy yếu nhưng cứ nhiễu giọt không ngừng có thể làm thủng một tảng đá. Tảng đá trong tâm ta là một nền tảng vô minh phiền não đã được kết tụ rất lâu ngày. Vì vậy, chỉ cần thiếu nỗ lực nhiệt tâm trong một khoảng thời gian ngắn nào đó, trong khoảng không gian, hoàn cảnh nào đó là có thể làm đổ vỡ toàn bộ công trình mà ta đã xây dựng hoặc ít nhất cũng làm chậm bước tu tập của mình. Nên Kinh văn gọi là "lười biếng sẽ đưa đến đọa lạc".
Lười biếng nghĩa là lười biếng làm điều thiện, biết đó là điều tốt mà không thực hiện, hoặc thực hiện mà không đến nơi đến chốn, nửa vời... Ðọa lạc có nghĩa là rơi xuống hoặc thối lui, rơi xuống chỗ thấp kém hèn hạ của phàm phu, thối lui tức có tiến bộ trong tu tập mà không giữ được thành quả, không phát huy thành quả ấy được.
Người tu hành như là một chiến sĩ ra mặt trận chiến đấu với giặc phiền não. Phiền não được gọi là giặc vì chúng có khả năng tàn phá và gieo rắc đau khổ cho cuộc đời của chính mình và tha nhân. Tham lam, sân hận, si mê.... là những phiền não có hoạt động rộng và có lực lượng rất mạnh mẽ, nổi có chìm có, khả năng biến hóa ẩn tàng khó phát hiện và rất khó đối phó. Thấy được chúng là một chuyện, biết chỗ ẩn trú của chúng là một chuyện khác và thắng nó hay tiêu diệt được nó lại là một chuyện khác nữa. Vì vậy mà nội dung của tinh tấn được coi là Tứ Chánh Cần, tức là bốn phương diện tinh tấn:
1. Nỗ lực đoạn trừ các điều ác chưa sinh tức chúng còn trong trứng nước, chưa được sanh ra.
2. Nỗ lực đoạn trừ các điều ác đã sanh, không cho chúng phát triển.
3. Nỗ lực thực hành, khơi dậy các điều thiện chưa sinh được sinh ra.
4. Nỗ lực thực hành, phát huy các điều thiện đã được tăng trưởng.
Bốn khía cạnh của tinh tấn là những sách lược để chiến thắng. Một mặt kiềm chế, phát hiện và tiêu diệt giặc phiền não; một mặt nhận chân thúc đẩy, hỗ trợ cho các thiện pháp xuất hiện và tăng trưởng. Như vậy, trước hết là chặn đứng sự bành trướng của phiền não, sau đó quân bình lực lượng giữa trí tuệ và phiền não; cuối cùng phát triển khả năng và sức mạnh trí tuệ để chiến thắng giặc phiền não.
Bất cứ một công việc gì, một công trình gì, một pháp môn tu tập nào đều phải có sự nỗ lực cần thiết và đủ để đưa đến thành công. Trên con đường tu tập đoạn trừ các phiền não và phát triển các hạnh lành, tinh tấn là một yếu tố quan trọng. Tính chất của tinh tấn là một năng lực tổng hợp giữa sự thấy biết, ước muốn và chánh niệm tỉnh giác. Mục đích của tinh tấn ở đây nói rõ, đó là đoạn trừ giặc phiền não, hàng phục bốn loài ma, thoát khỏi ngục tù của năm ấm ba cõi.
Giặc phiền não là những tâm lý ô nhiễm bất thiện, có loại thuộc bản năng tiềm ẩn, có loại thuộc mới huân tập, mặt nổi. Căn cứ của giặc phiền não là vô minh và chấp ngã.
Bốn loài ma: Ma là những gì làm chướng ngại sự tu tập.
a. Phiền não ma: Chính là giặc phiền não, khi ma này xuất hiện thì đau khổ, rối loạn tăng trưởng, thiện pháp tổn giảm.
b. Ngũ ấm ma: Do chấp thủ sai lầm về thân thể, bị các nhu cầu bất thiện của thân thể lôi cuốn, chi phối mà ta làm cho các ác pháp tăng trưởng, thiện pháp tổn giảm. Do chấp thủ các cảm thọ sung sướng, ghét bỏ các cảm thọ đau khổ và không tỉnh giác với cảm giác thọ không khổ, không vui mà tâm ta bị dẫn dắt, bị đẩy vào vòng cương tỏa của chúng làm cho tâm bất an, ác pháp tăng trưởng, thiện pháp tổn giảm. Do chấp thủ, vướng mắc vào khái niệm, tư duy, thành kiến, sai lầm, tức là bị tưởng ấm chi phối làm ngăn che sự sáng suốt của trí tuệ; do vậy các tưởng bất thiện sinh, trí tuệ tổn giảm. Do chấp thủ, vướng mắc vào sự hoạt động thầm kín, tức động lực tâm lý như tham lam, sân hận... tạo thành xu hướng nội tâm làm cho ác pháp tăng trưởng, thiện pháp khó sanh. Do sự qui định và hạn chế của tâm thức vốn chất chứa năng lực của cảm thọ, tư duy, ý chí bất thiện ô nhiễm mà ta không có cơ hội để tăng trưởng thiện pháp.
Giải thích về ngũ ấm ma, có thể hiểu hai phương diện: Chủ quan và khách quan. Chủ quan nghĩa là do sự chấp thủ, sự vướng mắc của nhận thức về năm ấm mà cản trở sự hiểu biết rõ về bản chất của chúng. Khách quan là chính năm ấm ấy tạo ra năng lực chướng ngại cho sự giác ngộ như câu nói "hữu thân hữu khổ". Cả hai mặt nầy bao gồm trong nghĩa ngũ ấm ma.
c. Tử ma: Là một loại chướng ngại đưa đến chấm dứt sinh mệnh của con người, làm cho công trình tu tập dang dở hoặc không tu tập được. Như vậy những gì được coi là tử ma? Có thể đó là quỉ sứ yêu tinh tác họa, đó là bệnh tật hiểm nghèo, những tai nạn, có thể đó là những thế lực hữu hình hay vô hình nào đó. Tóm lại, những gì đưa đến chấm dứt sinh mệnh một cách bất thường thì gọi là tử ma.
d. Thiên ma: Ðây là một loài ma đặc biệt và siêu hình, còn gọi là Tha Hóa Tự Tại Thiên Vương Ma hay Ma-Vương-Ba-Tuần, chỉ cho thế lực siệu nhiên trong vũ trụ tạo lực cản đối với một người sắp sửa giác ngộ, sắp vượt thoát khỏi sự cương tỏa của ma giới.
Thoát khỏi ngục tù của năm ấm ba cõi: Năm ấm đã giải thích. Ba cõi là dục giới, sắc giới, vô sắc giới. Ba cõi được coi là ngục tù, là nhà lửa. "Tam giới vô an du như hỏa trạch", là những trói buộc giam hãm của dục và ái. Dục giới là nơi chúng sanh bị trói buộc bởi sự tham dục, dục lạc của giác quan. Sắc giới là nơi chúng sanh bị trói buộc bởi các ái nhiễm của thọ lạc vi tế. Vô sắc giới là nơi chúng sanh bị trói buộc bởi sự ái nhiễm về tưởng. Dục hay ái đều cùng một bản chất và cùng tác dụng trói buộc chúng sanh gắn chặt với dòng sanh tử vô tận. Vì vậy, tinh tấn rất quan trọng, nó sẽ là sức mạnh để vượt qua từng cửa ái hoặc từng giai đoạn tu tập. Nếu vượt qua được các từng cấp của dục giới thì sẽ rơi vào sắc giới ...tiếp tục tinh tấn sẽ vượt thoát trói buộc của ba cõi.
IV. Kết Luận
Sự tu tập cũng như chèo thuyền ngược nước không chèo là bị dừng lại và thối chuyển, tinh tấn là một đức tính cần thiết cho sự chèo con thuyền Bát Nhã vượt biển sanh tử. Ðã là một đức tính thì cũng cần phải tu tập: Tinh tấn tu tập hạnh tinh tấn, không có cái gì tự có hoặc ngẫu nhiên. Tất cả đều tuân thủ các quy luật nhân quả, nghiệp báo, duyên sinh. Nhân như thế nào, duyên như thế nào, thì quả báo như thế ấy.
Hạt nhân hay chủng tử vô minh chấp ngã phiền não đã được tích lũy nhiều đời, có sức mạnh rất lớn, không dễ đoạn trừ. Các loại phiền não, bốn ma, năm ấm, giới đều nằm trong đó. Chánh kiến nhận thức được bản chất, chỗ trú ẩn của chúng rồi mới dùng trí tuệ, tinh tấn đoạn trừ chúng. Những khả năng ấy cũng đều nằm trong tâm thức. Tinh tấn là khai thác triệt để khả năng ấy.
________________________________________
Bài VI
I. Chánh Văn
Ðệ ngũ giác ngộ
Ngu si sinh tử
Bồ Tát thường niệm
Quảng học đa văn
Tăng trưởng trí tuệ
Thành tựu biện tài
Giáo hóa nhất thiết
Tất dĩ đại lạc.
II. Dịch Nghĩa
Ðiều thứ năm giác ngộ rằng: Do vô minh mà bị trôi dạt trong ba cõi sanh tử. Vì vậy các vị Bồ Tát thường nhớ rằng cần phải học rộng, nghe nhiều, tăng trưởng trí tuệ, thành tựu khả năng biện tài để giáo hóa cho tất cả mọi người đều đạt được hạnh phúc chân thật.
III. Giải Thích Nội Dung
- Ðiều giác ngộ thứ năm nói đến sự quan trọng của trí tuệ trong vấn đề tu tập và trong công cuộc hóa độ chúng sanh. Trí tuệ cũng là khả năng quán chiếu để thấy rõ nguồn gốc của đau khổ phàm phu là do tham dục, mong cầu nhiều, để chấm dứt đau khổ ấy phải tu tập hạnh ít muốn, biết đủ và trí tuệ. Ý nghĩa này đã được đề cập ở điều một, hai, ba.
Trí tuệ trong điều năm này có phạm vi và tác dụng lớn hơn:
1. Trí tuệ là sự thấy rõ nguồn gốc của sinh tử, nguồn gốc của sinh tử là vô minh. Ðau khổ của cuộc đời có mặt là do tham lam, sân hận; tham lam, sân hận có mặt là do ngu si. Ngu si đồng nghĩa với vô minh, cho nên cần phải rõ nguồn gốc của mọi thứ trên dòng sanh tử luân hồi là do vô minh.
Vô minh là gì? Chính là sự không hiểu rõ cuộc đời là vô thường, vô ngã, duyên sinh, không hiểu rõ khổ, nguyên nhân của khổ, sự diệt khổ và con đường đưa đến khổ diệt; không hiểu rõ lậu hoặc, nguyên nhân của lậu hoặc, sự đoạn trừ lậu hoặc và con đường đưa đến sự đoạn trừ lậu hoặc... Ðó là định nghĩa về vô minh một cách căn bản và truyền thống. Vậy thì ta hiểu rõ các nguyên lý trên nhờ học tập, nhờ tu tập quán chiếu về đặc tính vô thường, vô ngã... Vô minh có chấm dứt hay không? Chưa thể chấm dứt vô minh hoàn toàn được. Bởi lẽ vô minh là một động lực tâm lý mù quáng thuộc bản năng, đó là tập khí được tích lũy qua nhiều kiếp sống. Vì vậy nó có cội nguồn rất sâu trong tạng thức của chúng sinh. Có khi ta biết rằng việc ấy là bất thiện, là không nên làm nhưng ta vẫn cứ làm, không đủ sức cưỡng lại. Hình như nó có một sức mạnh tiềm ẩn nằm ngoài sự kiểm soát của chúng ta. Ðấy là vô minh.
Vô minh đã được tích lũy, nay nó chỉ biểu hiện ra những gì mà chúng vốn có. Tham dục, sân hận là biểu hiện của vô minh, càng phát triển tham sân thì lực lượng vô minh càng được củng cố vun bồi và nó tiếp tục có sức mạnh để biểu hiện trong tương lai. Vì vậy, để chặn đứng dòng chảy của vô minh, Ðức Phật dạy hãy khơi dậy, phát triển cái "minh", cái vô si có trong mỗi người. Vô tham, vô sân, vô si là những động lực tích cực có thể chặn đứng sự phát triển của vô minh. Ðể phát triển được "minh", con người cần phải được giáo dục để kiềm chế bản năng, để nâng cao nhận thức. Như vậy, giáo dục là con đường đưa đến "minh". Bồ Tát là người giác ngộ nên biết rất rõ quy luật đưa đến "minh", đó là "học rộng nghe nhiều". Trong kinh Kitagiri (Kinh Trung Bộ Quyển II ) Ðức Phật dạy 14 giai đoạn tu tập đưa đến minh như sau:
1) Có lòng tin vào bậc Ðạo sư: Bước đầu của lộ trình tu tập cần phải nương tựa vào một bậc Ðạo sư, bậc Ðạo sư ấy mình đã biết và tin tưởng rằng có khả năng giúp mình khai mở trí tuệ. Có lòng tin mình mới an tâm qui hướng về Ðạo sư ấy.
2) Ðến gần: Phải đến gần gũi với vị Ðạo sư ấy mình mới có cơ hội tiếp nhận những gì cần thiết.
3) Tôn kính: Tỏ lòng tôn kính Ðạo sư, phục vụ chăm sóc hầu hạ bậc Ðạo sư những gì cần thiết, bày tỏ thành tâm của mình trên con đường tu học.
4) Lắng nghe: Là thái độ thành khẩn thiết tha trong học tập, sẵn sàng lắng nghe bất cứ điều gì từ bậc Ðạo sư. Với thái độ sẵn sàng như vậy, bậc Ðạo sư sẽ sẵn sàng dạy.
5) Nghe pháp: Ðây là giai đoạn bước vào thế giới Phật pháp, những điều bậc Ðạo sư dạy luôn được nghe với sự phấn khởi cần mẫn.
6) Thọ trì pháp: Nhờụ nghe một cách phấn khởi thích thú ta sẽ nhớ những gì được nghe một cách đầy đủ.
7) Suy tư ý nghĩa: Là sự thọ trì một cách đầy đủ lời dạy của bậc Ðạo sư. Qua đó, ý nghĩa sâu sắc của lời dạy dần dần hiển lộ bởi sự suy tư của mình, càng suy tư ý nghĩa càng sáng.
8) Chấp nhận học pháp: Sau khi suy tư hiểu rõ nghĩa lý, tâm không còn thắc mắc chống đối, tâm thuận theo pháp, chấp nhận học pháp ấy. Ðến đây, tư tưởng đã thông suốt.
9) Ước muốn sanh khởi: Sau khi chấp nhận học pháp rồi, niềm hoan hỷ sẽ khởi lên trong tâm, tâm muốn dấn thân thực hiện các học pháp ấy, muốn thực hành.
10) Nỗ lực hành trì: Do ước muốn khởi lên nên tâm nỗ lực hành trì pháp mà Ðạo sư đã dạy để tự mình đạt được những gì đã thông suốt trong lý thuyết.
11) Cân nhắc: Nỗ lực nhưng không bị mù quáng, bởi sự xác quyết trong quá trình thực hành sẽ nảy sinh những mâu thuẫn, lệch lạc. Ta cần phải tỉnh táo để cân nhắc suy xét để tìm ra đường lối thích hợp nhất.
12) Tinh cần tu học: Sau khi vừa học, vừa làm, vừa cân nhắc đã đầy đủ, con đường đã ổn định, sự phát triển hướng đi bằng sự tinh tấn không gián đoạn sẽ có kết quả tốt.
13) Tự thân chứng sự thật: Với sự tinh cần trên, ta sẽ đạt được kinh nghiệm tự thân về thực tại vô ngã,cảm nhận được pháp vị giải thoát.
14) Trí tuệ thể nhập sự thật: Ðạt được trí tuệ viên mãn, thành tựu giải thoát hoàn toàn.Nghĩa là " minh" sanh, " tuệ" sanh, chấm dứt sanh tử luân hồi.
Thành tựu được trí tuệ tối thượng bằng " quảng học đa văn" qua 14 giai đoạn như trong kinh Kitagiri đề cập thì mới thật sự hữu hiệu. Có người học Phật vì nghĩ rằng cần "quảng học đa văn" nên lao đầu vào học tập, môn nào cũng học, trường nào cũng học, ai nói gì cũng nghe, thâm nhập rất nhiều tư liệu gọi là "kiến văn quảng bác" nhưng phiền não không vì vậy mà được đoạn trừ. Ðây là một sự hiểu lầm tai hại, cả cuộc đời phung phí cho kiến thức bao la của thế gian.
2. Tác dụng của trí tuệ đặc biệt ở chỗ giáo dục mọi người đạt được hạnh phúc trong cuộc sống mà kinh văn gọi là "Thành tựu được biện tài để giáo hoá tất cả đều được an lạc". Trí tuệ biện tài là một khả năng bén nhạy về mặt lý luận để nhiếp phục tha nhân. Con người cảm nhận, tiếp nhận thế giới qua âm thanh ngôn ngữ, do đó giáo dục chủ yếu vẫn là ngôn ngữ, khả năng thuyết phục của ngôn ngữ rất cao làm cho con người chấp nhận, hiểu biết và thực hành theo chánh đạo. Kinh tạng Nikàya đưa ra bốn pháp Vô ngại giải. (Patisambhidà) là Nghĩa vô ngại giải, Pháp vô ngại giải, Từ vô ngại giải, Biện tài vô ngại giải. Kinh tạng Ðại thừa cũng có bốn pháp biện tài: Pháp vô ngại biện tài, Nghĩa vô ngại biện tài, Từ vô ngại biện tài và Nhạo thuyết vô ngại biện tài.
a. Pháp vô ngại biện tài: Là thông suốt hệ thống tư tưởng Phật học, pháp môn nào cũng thông suốt, cũng hiểu nguyên tắc, đường lối của pháp môn ấy.
b. Nghĩa vô ngại biện tài:Ý nghĩa sâu xa của Kinh - Luật - Luận đều hiểu thấu, dù lời lẽ cổ xưa, phương thức diễn đạt không hiện đại, thuật ngữ khó hiểu, nghĩa là hiểu được ý tứ của bất cứ pháp nào.
c. Từ vô ngại biện tài: Hiểu biết phong phú về từ ngữ để diễn đạt tư tưởng, từ ngữ chuyên môn của các lĩnh vực khác nhau và hiểu được các loại ngôn ngữ khác nhau.
d. Nhạo thuyết vô ngại biện tài: Khả năng diễn đạt hấp dẫn dễ thuyết phục, phù hợp với căn cơ, trình độ văn hoá, phong tục tập quán của con người và xã hội, làm cho người nghe vui vẻ và chấp nhận.
Một người có được khả năng trí tuệ biện tài như vậy là một ngôi sao sáng ngời giữa bầu trời Phật pháp. Họ sẽ đem đến lợi ích rất lớn cho nhiều người, cho nhiều quốc độ khác nhau, Phật pháp đuợc truyền rộng, và hạnh phúc mà Phật pháp đem đến cho người tiếp nhận chính là niềm hạnh phúc chân thật nhất.
IV. Kết Luận
Vô minh là cội nguồn của sanh tử, của đau khổ. Chấm dứt vô minh là mục tiêu của đạo Phật và của người đệ tử Phật. Con đường để đoạn trừ được vô minh là con đường phát triển trí tuệ, tức là làm cho "minh" xuất hiện thì "vô minh diệt". Trí tuệ có được là qua quá trình học tập biết nhiều qua văn huệ, tư huệ, tu huệ. Nhờ học rộng biết nhiều mà thành tựu được khả năng trí tuệ biện tài tức là hiểu biết và lý luận sắc bén.Nhờ vậy mà giáo hóa được nhiều loại chúng sanh khác nhau, nhiều quốc độ khác nhau. Phật pháp được gieo rắc rộng rãi, sự hạnh phúc mọi loài chúng sanh được phổ cập.
Trí tuệ trong Bài giác ngộ thứ năm nầy là trí tuệ đi vào lĩnh vực chuyên môn, nghĩa là phát huy tác dụng độ sanh, tác dụng giáo dục để thành đạt mục đích phổ cập hóa Phật pháp vào đời sống con người và xã hội.
________________________________________
Bài VII
I. Chánh Văn
Ðệ lục giác tri
Bần khổ đa oán
Hoạnh kết ác duyên
Bồ tát bố thí
Ðẳng niệm oán thân
Bất niệm cựu ác
Bất tắng ác nhân.
II. Dịch Nghĩa
Ðiều thứ sáu giác ngộ rằng sự nghèo khổ sinh ra oán hận, tạo thêm duyên nghiệp bất thiện. Vì thế, Bồ tát cần thực hành hạnh bố thí một cách bình đẳng giữa kẻ ghét với người thương. Hãy quên đi những điều xấu ác mà họ đã gây cho mình, không nên ghét bỏ những người ác.
III. Giải Thích Nội Dung
Ðiều giác ngộ thứ sáu nói về công hạnh bố thí của người tu Bồ tát hạnh. Bài nầy có hai ý.
1. Hiểu rõ cái vòng lẩn quẩn của người nghèo khó: Do nghèo nên con người dễ sinh ra bất mãn, ganh tỵ, hận thù. Ðối với bản thân, họ không hài lòng với chính mình, tâm lý xáo trộn bất an. Ðối với gia đình vợ con họ quạu cọ không vui, dễ sân hận vì họ cảm thấy mình không đủ tài, không được coi trọng, dễ gây đổ vỡ tình cảm. Ðối với bạn bè xóm giềng, họ tự ty hoặc nghi ngờ và sanh tâm đố kỵ, ganh tỵ. Nói chung, họ bất mãn và không có niềm tin vào cái thiện, cái chân. Do vậy, cái nghèo dễ đẩy con nguời vào con đường tội lỗi, làm các việc bất thiện để mau giàu. Họ vi phạm luật pháp, đánh mất nhân cách, đạo đức... Vì vậy, cuộc đời của họ càng khốn đốn hơn, càng khốn đốn họ càng bất mãn oán hận... Ðó là cái vòng lẩn quẩn của con người bị cái nghèo khó bức bách.
Người thực hành hạnh Bồ Tát quán chiếu thấy rõ sự nghèo khó sẽ dẫn con người đến phạm tội, sẽ đưa xã hội vào sự bất an. Ðức Phật đã từng nêu lên thực trạng ấy rằng: "Do nghèo khổ mà trộm cướp bạo hành, giết hại, dối trá tăng trưởng làm cho băng hoại xã hội" (Kinh Trường Bộ: Chuyển Luân Thánh Vương và Sư Tử Hống). Ngài đã từng khuyên các vị vua cai trị không nên dùng hình phạt độc ác với ý nghĩa rằng nhờ đó mà trộm cắp cướp giật được diệt trừ. Ngài dạy rằng: " Những người nào có khả năng về nông nghiệp, chăn nuôi hãy cấp cho họ thực phẩm và thực vật; người nào có khả năng về thương nghiệp thì cấp cho họ vốn đầu tư; người nào có khả năng về quan chức thì cấp cho họ thực phẩm và lương bổng... tuỳ theo khả năng ngành nghề chuyên môn mà ban cho họ cái cần thiết... họ sẽ chuyên tâm vào công việc của mình, có phương tiện để sống nên không còn phạm tội quấy nhiễu trị an mà còn đóng góp vào ngân sách quốc gia" (Trường Bộ Kinh, Kutadanda). Ðể cho sự nghèo khổ giảm bớt áp lực, để cho tâm tư của người nghèo được an ổn và để cho xã hội được bình an thịnh vượng, Bồụ Tát phát nguyện thực hành bố thí, nghĩa là bố thí tiền bạc, vật chất an ủi phần nào nỗi đau của sự nghèo khó. Chúng ta có thể thấy rằng đây là một công hạnh tu tập mà phần lớn là khả năng của người Bồ Tát tại gia, tức người Phật tử cư sĩ.
Có thể chúng ta có một cách lý giải khác rằng: Nghèo khổ ở đây là nghèo về đạo đức, nghèo về trí tuệ. Do vậy phiền não tham hận thù sinh ra, các ác nghiệp được nối kết. Thế nên Bồ Tát phải thực hành pháp thí làm cho mọi người được mở con mắt trí tuệ thấy được chân lý, đoạn tận nghiệp duyên bất thiện. Nghèo tinh thần, nghèo trí tuệ sẽ đưa đến phiền não sanh trưởng và nghiệp ác sẽ phát sinh. Bố thí ở đây là pháp thí, đây là khả năng của Bồ Tát xuất gia. Tuy vậy ý nghĩa của điều giác ngộ thứ sáu này nặng về hạnh bố thí tài vật, mà hạnh nầy hợp với sở trường của người cư sĩ tại gia hơn là xuất gia. Trong Ðại Trí Ðộ Luận nói: "Như Ðức Phật dạy: Ở đời có hai hạng người khó được: một là trong hàng xuất gia, vị Tỳ Kheo được phi thời giải thoát; hai là trong hàng tại gia, kẻ bạch y thường hành bố thí thanh tịnh".
2. Bố thí bình đẳng: Tức là bố thí với tâm vô chấp, tâm vị tha và tâm giải thoát. Thường thì người bố thí có tâm phân biệt người mình thương hay người dễ thương, mình sẽ đối xử rộng rãi hơn, mau mắn hơn; còn người dễ ghét hay người nghịch với mình, có thể mình cũng cho nhưng có giới hạn hơn, ít hoan hỷ hơn. Thái độ bố thí của Bồ tát không phân biệt như vậy mà bố thí với tâm bình đẳng, vô chấp gọi là bố thí Ba la mật. Trong Ðại-Trí-Ðộ-Luận, Bố thí Ba la mật là: "Nếu bố thí còn có ba thứ chướng ngại chấp có ta cho, người kia nhận và tài vật bố thí thì rơi vào cảnh giới ma, chưa lìa khỏi các nạn. Còn như Bồ tát bố thí cả ba thứ đều thanh tịnh không chướng ngại thì được chư Phật khen ngợi, gọi là Ba-la-mật" (ÐTÐL - trang 467 của HT Thiện Siêu dịch).
Bố thí mà tâm không bình đẳng, bị các phiền não sai sử như thương, ghét, giận tức hay vui buồn thì bố thí rất hạn chế, kết quả không cao và không phù hợp với con đường giải thoát và chí nguyện độ sanh. Bố thí như vậy gọi là bố thí không thanh tịnh. Theo Ðại-Trí-Ðộ-Luận bố thí không thanh tịnh là: "Hàng ngu si bố thí mà không hiểu gì; hoặc vì cầu tài nên bố thí; vì sợ hiềm trách nên bố thí; vì sợ sệt nên bố thí; hoặc vì muốn cầu ý người nên bố thí; hoặc sợ chết nên bố thí; hoặc dối người làm cho họ mừng nên bố thí; hoặc tự cho giàu sang nên bố thí; hoặc tranh hơn nên bố thí; hoặc ganh ghét sân si nên bố thí; hoặc kiêu ngạo tự cao nên bố thí; hoặc vì danh dự nên bố thí; hoặc vì chú nguyện nên bố thí; hoặc vì giải trừ suy hoại cầu tốt lành nên bố thí; hoặc vì qui tụ đông người nên bố thí; hoặc vì khinh hèn không cung kính nên bố thí. Cách bố thí như vậy gọi là bố thí không thanh tịnh"(sđd T443). Quan điểm về bố thí thanh tịnh thì ngược lại các điều trên, bố thí như vậy có ý nghĩa rất cao dựa trên nguyên lý Không-VôTướng-Vô nguyện.
Trong kinh tạng Nguyên thủy, các động cơ bố thí cũng được đề cập đến tương tự như trên:
1) Vì có người đến (đông đảo) nên bố thí.
2) Vì sợ hãi nên bố thí.
3) Vì nghĩ rằng "nó đã cho ta" nên bố thí.
4) Vì nghĩ rằng "nó sẽ cho ta" nên bố thí.
5) Vì nghĩ rằng "Bố thí là tốt lành" nên bố thí.
6) Vì nghĩ rằng "mình giàu có, người kia nghèo thật không xứng đáng nếu không cho" nên bố thí.
7) Vì nghĩ rằng "do ta bố thí mà tiếng tốt được truyền đi xa" nên bố thí.
8) Vì trang nghiêm tâm, trang bị tâm nên bố thí.
Tám động cơ khác nữa là:
1) Vì lòng tham mà bố thí
2) Vì sân hận mà bố thí.
3) Vì ngu si mà bố thí.
4) Vì sợ hãi nên bố thí.
5) Vì theo truyền thống nên bố thí.
6) Vì muốn quả báo cõi trời nên bố thí.
7) Vì nghĩ rằng: "Bố thí làm cho tâm được hoan hỷ" nên bố thí.
8) Vì trang nghiêm tâm trang bị tâm nên bố thí. (Anguttara Nikàya III, Chương VIII Pháp).
- Như vậy mười sáu động cơ bố thí không thanh tịnh của Ðại Trí Ðộ Luận và mười sáu động cơ bố thí của Kinh Tăng Chi có khá nhiều điều giống nhau. Bố thí được coi là đúng chánh pháp và đúng hành vi của một người có trí tuệ là "Ðể trang nghiêm tâm, trang bị tâm" (theo Kinh Tăng Chi), nghĩa là tâm được thanh tịnh vượt thoát các phiền não chấp thủ mà trong Ðại Trí Ðộ Luận gọi là bố thí Ba La Mật: -Không chấp thủ người cho, kẻ nhận và của cho. Ðó là tâm vô chấp, tâm bình đẳng xả bỏ được nhân ngã.
- Chấp thủ bất cứ một điều gì thô hay tế, trong hay ngoài đều có tác dụng làm cho tâm ô nhiễm. Thông thường, khi ta có thiện cảm với ai, thương mến ai thì ta rất dễ mở rộng lòng mà cho một cách vui vẻ không tiếc, ngược lại đã không thương thì cõi lòng khép lại, vì vậy tu tập lòng từ bi sẽ rất dễ dàng thực hành bố thí; bố thí là sự thể hiện của tâm từ bi. Tâm chướng ngại cho tâm từ bi là tâm sân hận; sự giận ghét đưa đến chướng ngại làm hạn chế hành động bố thí. Cho nên, điều giác ngộ thứ sáu này nói rất rõ rằng Bồ Tát tu hạnh bốù thí phải có tâm bình đẳng không phân biệt người thương, kẻ thù và đặc biệt cần phải đối trị tâm sân hận và "không nên nghĩ nhớ đến điều xấu ác mà kẻ khác đã làm cho mình, cũng không nên có tâm ghét bỏ kẻ ác".Ðiều đó nói lên ý nghĩa chân chính của hạnh bố thí theo Phật giáo.
Ðể có được hành động bố thí vô chấp, vô cầu, vô nguyện thì người hành bố thí phải có trí tuệ, thấy được tính vô ngã của vạn pháp. Nhờ đó mà tâm vượt thoát sự giới hạn của tình cảm thông thường thương, ghét. Tâm thương ghét, thù hận, làm trở ngại lớn cho hành động bố thí, như Jesus nói: "Nếu con chỉ thương những người thương con thì con có công gì đâu?"( Ðó chỉ là sự trao đổi mà thôi! ). Không những không có công mà có tội là gây thêm sự bất mãn hận thù.
IV. Kết Luận
- Bố thí là một công hạnh có tác dụng lợi ích rất đặc biệt, biểu hiện đủ hai mặt: Phước đức và trí tuệ.
- Phước đức có được là do đem đến cho chúng sanh bị đau khổ niềm an ủi, sự an tâm, sự đầy đủ, giảm cho họ những áp lực của đời sống mà có thể đưa họ vào con đường tội phạm tối tăm. Làm cho người khác được an vui hạnh phúc là ý nghĩa của phước đức.
-Trí tuệ là do thực hành bố thí mà quán chiếu thực trạng đau khổ của đời sống, nhận được chân lý khổ đế. Mặt khác, mình thấy được tự tính vô ngã trong mọi thứ mà mình nắm trong tay: Không có người cho kẻ nhận và của cho. Thực hành tâm bình đẳng, xả bỏ chấp thủ nhân, ngã, bỉ, thử, chủ thể, đối tượng... đạt được tâm thư thái thanh thản, giải thoát là ý nghĩa của trí tuệ.
Một người là đệ tử của Phật luôn được trang bị giáo dục để có được hai đức tính căn bản này là phước đức và trí tuệ. Qua hành động bố thí, ta có thể thành đạt hai đức tính ấy.
________________________________________
Bài VIII
I. Chánh Văn
Ðệ thất giác ngộ
Ngũ dục quá hoạn
Tuy vi tục nhân
Bất nhiễm thế lạc
Thường niệm tam y
Ngõa bát pháp khí
Chí nguyện xuất gia
Thủ đạo thanh bạch
Phạm hạnh cao viễn
Từ bi nhất thiết.
II. Dịch Nghĩa
Ðiều thứ bảy giác ngộ rằng: Năm loại dục là nguyên nhân gây ra tội lỗi và tai họa. Vậy tuy làm người cư sĩ mà sống không đắm nhiễm năm thứ vui phàm tục ấy. Tâm thường nghĩ đến ba y và bình bát. Tâm nguyện hướng về đời sống xuất gia. Vì vậy, sống thanh tịnh, giữ gìn đạo hạnh, tu tập phạm hạnh thanh cao, thương yêu tất cả muôn loài.
III. Giải Thích Nội Dung
Ðiều thứ bảy giác ngộ về sự nguy hiểm của các dục lạc thế gian mà người cư sĩ đang sống ở trong đó; sự nguy hiểm ấy có hai mặt là phát sinh hành vi tội ác, nảy sinh những tai ương hoạn nạn, khổ đau.
Là một người cư sĩ tại gia thực hành Bồ tát hạnh, người Phật tử phải có đời sống biểu hiện sự giác ngộ, nghĩa là phải vượt lên trên các dục lạc phàm tình, giống như hoa sen ở trong bùn vượt lên trên bùn mà không hôi mùi bùn. Trên căn bản đạo đức thanh tịnh ấy, người cư sĩ phát triển lòng từ bi và cứu độ chúng sanh có hiệu quả.
Ðiều thứ bảy nầy có các quan điểm khác nhau giải thích về nó; có người cho rằng đây là hạnh ly nhiễm của người xuất gia, nghĩa là người xuất gia hành đạo giữa đời thường có thể bị hệ lụy tham đắm năm dục. Như vậy cũng không có gì là sai. Tuy nhiên Kinh văn ghi rất rõ là: "tuy vi tục nhân" thì ta phải hiểu là người thế tục, "người đời". Các giảng sư Trung Hoa như Ngài Thái Hư Ðại sư, Ngài Tinh Vân... đều giảng là người cư sĩ. Trong tác phẩm "Dịch giải tám điều giác ngộ của Bậc Thượng Nhân" Hoà Thượng Trí Quang viết: "Ðiều giác ngộ thứ bảy dạy riêng cho Phật tử tại gia. Phật tử tại gia nên tâm niệm xuất gia, nên sống theo hạnh ly nhiễm: "cái hạnh hoa sen". Chúng tôi cho rằng đây là điều dạy cho người cư sĩ để họ thực hành mục đích giải thoát trong đời sống thế tục. Nâng cao vai trò người cư sĩ trong đời sống xã hội, thực hành Bồ tát hạnh, hoằng pháp lợi sinh như người xuất gia là đường lối Phật hóa nhân gian của Phật giáo Ðại thừa.
Người cư sĩ đạt được giải thoát giữa đời sống thế tục qua các giai đoạn tu tập nhưng không nhiễm dục lạc, sống đời thanh bạch, phạm hạnh cao viễn và thương yêu muôn loài thì giá trị của người cư sĩ rất lớn, tác dụng rất lớn đối với cuộc đời. Ðây là đời sống lý tưởng của Bồ tát đạo. Thực ra, trong Kinh tạng Nguyên Thủy, Ðức Phật đã đưa ra mô thức của đời sống giải thoát ở trong thế tục, như trong kinh Tăng Chi, Ngài dạy có bốn hạng xuất gia:
1. Thân xuất gia mà tâm không xuất gia.
2. Tâm xuất gia mà thân không xuất gia.
3. Thân và tâm đều xuất gia.
4. Thân và tâm đều không xuất gia. - (Chương Bốn pháp)
Vậy, hạng thứ hai, tâm xuất gia mà thân không xuất gia, chính là mô thức tu tập của Bồ tát cư sĩ.
Ðời sống của người cư sĩ tại gia bị vây quanh bởi năm dục thật không dễ dàng đoạn trừ chúng để thực hành hạnh ly nhiễm. Kinh Trung Bộ có ghi rằng: Có lần một vị cư sĩ đến gặp đức Phật và trình bày rằng ông ta nhờ thâm hiểu lời Phật dạy, nên thấy rất rõ năm dục là nguy hiểm, hạ liệt, ô uế, vui ít khổ nhiều... nhưng tại sao ông ta không đoạn trừ được chúng? Ðức Phật đã dạy: -"Sở dĩ ông ta không đoạn trừ được năm dục là vì ông còn sống đời sống thế tục, nên dù biết rõ về dục mà vẫn không đoạn trừ được chúng".
Người tại gia sống với thói quen hưởng thụ các dục lạc, lệ thuộc các cảm thọ lạc thú, bị ràng buộc rất khó thoát ly. Hưởng thụ dục lạc là bản năng của sinh vật, của con người, vì vậy chỉ cần chạm nhẹ là đánh thức bản năng ngay. Ðời sống của người cư sĩ đối với các đối tượng của dục lạc luôn kích thích bản năng hưởng lạc làm cho nó luôn tăng trưởng, rất khó xả ly chúng. Có những cư sĩ học rộng hiểu nhiều, học vị cao, có công đức lớn đối với đạo pháp, lãnh hội được Phật pháp cao siêu nên họ tưởng mình đã được tự tại giải thoát giữa đời thường. Thực ra, họ rất khó vượt ra cái thói quen hưởng thụ: ăn ngon, mặc đẹp, ngủ nghỉ dễ chịu, nhu cầu tình dục, và các thú vui tế nhị khác... Thói quen tiện nghi đã tạo cho họ dấu ấn trên thân thể, não bộ... nên nó có sức mạnh tiềm ẩn khó nhận ra, vì vậy mà khó đoạn trừ được chúng.
Ðể đạt được trình độ "Bất nhiễm thế lạc" như Kinh văn đã dạy: Người cư sĩ phải kiến tạo cho mình một thói quen, một lối tư duy mới, đó là thường nhớ nghĩ đến ba y và bình bát. Ba y và bình bát là tài sản bất ly thân của người xuất gia. Ba y gồm có An-đà-hội, dịch là Tác-vụ-y, nghĩa là khi chấp tác lao động phục dịch... thì bận y này; Y Uất-đa-la-tăng dịch là Nhập chúng y, nghĩa là khi vào trong chúng Tăng làm các Phật sự như: Trai tăng, nghe pháp, tụng kinh, tọa thiền...thì bận y này; và y Tăng-già-lê dịch là Tạp-toái-y nghĩa là loại y này gồm nhiều mảnh ráp lại (có loại: y 9 điều, y 11 điều, y 13 điều...) dùng để bận khi thăng tòa thuyết pháp, vào làng khất thực, hàng phục ngoại đạo... Bình bát Phạn ngữ là Bát-đa-la dịch là ứng lượng khí nghĩa là phù hợp dung lượng để đựng thực phẩm. Y thì hoại sắc không đẹp, mang ý nghĩa giải thoát: giải thoát ý niệm đẹp đẽ của sắc tướng. Bình bát thể hiện tính chất giải thoát sự hệ lụy của món ăn. Thường nghĩ đến ba y và bình bát nghĩa là không tìm kiếm lạc thú ở nơi ăn và mặc, do đó không hệ lụy vấn đề ăn mặc. Thường nhớ nghĩ đến y bát tức đi ngược lại thói quen hưởng thụ về món ăn và mặc, đó là hai thói quen quan trọng của đời sống thế tục.
Vậy bước đầu chú tâm giảm thiểu nhu cầu hưởng thụ mang tính thô thiển bề ngoài, họ tạo được khoảng cách giữa đức hạnh và sự cám dỗ của lạc thú. Mặc dù sống trong vòng vây của các dục nhưng đã tạo được ranh giới cần thiết để có sự bảo hộ đạo hạnh. Như người Bồ Tát cư sĩ ăn chay chẳng hạn, họ sẽ tự tại với các lạc thú và sự tranh giành món ăn ngon của những người xung quanh, họ cảm thấy "đứng ngoài" mặc dù ở chung với nhau.
Bước tiếp theo người cư sĩ nuôi dưỡng một ước muốn, một "chí nguyện" từ bỏ đời sống thế tục. Ðây là một bước đi quan trọng để thoát vòng vây của dục. Ngũ dục là đối tượng của ước muốn, là nguyện vọng của đa số, của thường tình; nay ta không nuôi dưỡng ước vọng đó nữa, ta nuôi dưỡng ước vọng khác: đời sống giải thoát, đời sống viễn ly. Tâm dục bất thiện nay biến thành tâm dục thiện, hướng thượng, nhờ vậy mà thay đổi xu hướng của tâm, thay đổi được bản năng. Như vậy, ta tạo được một ranh giới cần thiết cho tâm hướng thượng trong biển tâm nhiễm ô.
Qua hai bước trên, người cư sĩ có đươcĩ sức mạnh căn bản của thân và của tâm, từ đó họ tiến lên bước thứ ba: Thay đổi toàn bộ lối sống của mình và của cả gia đình mình; nghĩa là sống một đời sống thanh bạch, đạm bạc về vật chất, về hình thức, nhưng phong phú giàu có về tinh thần, mà kinh văn gọi là "thủ đạo thanh bạch".
Cuộc sống của người cư sĩ không phải là một cuộc sống đơn độc mà còn có gia đình vợ con thân thuộc... Cho nên những bước tu tập của mình phải đủ sức cảm hóa gia đình vợ con... để họ cùng tu với mình, cùng nhìn về một hướng... đây là một điều khó cho một người tu tại gia. Cuộc sống đạm bạc thanh cao của ta sẽ đổ vỡ nếu không được sự trợ duyên của vợ con. Mặt khác, nếu ta không cảm hóa thuyết phục được vợ con tu tập thì ta chỉ là người cư sĩ thường thôi chứ không thực hành nổi vai trò và hạnh nguyện của một cư sĩ Bồ Tát. Bởi lẽ, chúng sinh trong nhà mà mình không độ được làm sao độ được chúng sanh ở ngoài. Thiền truyện Trung Hoa có đề cập đến gia đình ông Bàng Long Uẩn đắc đạo cả nhà là một mô hình lý tưởng cho người cư sĩ tại gia.
Thay đổi lối sống từ hưởng thụ dục lạc qua lối sống thanh bạch đạo vị, tức là kiến tạo được một môi trường thuận lợi cho sự tu tập, là tạo điều kiện quá độ cho một đời sống mới: Ðời sống phạm hạnh và tình thương muôn loài.
Ðời sống phạm hạnh là đời sống không có tình dục và các thú vui phàm tục, không coi trọng hay bị lệ thuộc vào ân ái vợ chồng, không bị ràng buộc bởi tình yêu giới tính. Tình ân ái là một loại tình thương mang tính trói buộc, vị kỷ có tác dụng làm con người gắn chặt hơn nữa vào đời sống bản năng và sự đau khổ. Cho nên, đời sống phạm hạnh là đời sống từ bỏ tình yêu vị kỷ, phát triển tình yêu vị tha. Ðây là lý do tại sao kinh văn lại đưa công hạnh phạm hạnh vào trong đời sống của Bồ Tát cư sĩ. Tâm từ đối với muôn loài không thể có nơi Bồ Tát cư sĩ, nếu họ còn đắm nhiễm ân ái, lạc thọ vị kỷ. Sống phạm hạnh trong đời sống thế tục không dễ dàng và vấn đề giác ngộ đạo lý của vợ con là điều phải có. Vấn đề phạm hạnh của người cư sĩ có thể có hai cách hiểu: Một là đoạn trừ dâm dục; hai là không bị trói buộc và đắm nhiễm dâm dục, không bị tình ân ái cản trở hay hạn chế sự phát triển từ bi tâm. Một đời sống như vậy thì không khác nội dung đời sống của một vị Bồ Tát xuất gia.
IV. Kết Luận
Người cư sĩ sống đời sống thế tục có kinh nghiệm phong phú, có sự hiểu biết sâu sắc về con người: căn cơ, trình độ, tâm lý, ước muốn của họ; hiểu biết một cách trực tiếp về bản chất của đời sống xã hội. Vì vậy họ có thể hiểu biết cảm thông và thương yêu con người một cách chân thật. Tuy vậy, để đạt được một đời sống lý tưởng "tâm xuất gia mà thân không xuất gia", đạt được mục đích và hạnh nguyện của một Bồ Tát cư sĩ thì họ phải thực hành tuần tự từng bước:
- Quán chiếu để thấy rõ bản chất của năm dục lạc đưa đến tội ác và tai ương hoạn nạn, mà hoạn nạn lớn nhất là bị che khuất trí tuệ và chìm đắm trong vòng sanh tử. Phải tu tập để chiến thắng sự kiềm tỏa của năm dục, phải triệt tiêu áp lực của chúng trong nội tâm mình.
- Phải tạo thói quen, xu hướng mới cho tâm thức, hướng tư duy về sự giải thoát, về đời sống viễn ly thành tựu được chánh tư duy, thiện tâm bắt đầu tỏa sáng.
- Kiến tạo một đời sống đạm bạc thanh cao. Trong đó bao gồm các đối tượng bên cạnh mình như vợ con...để thiết lập cuộc sống chung giàu trí tuệ và an lạc.
- Từ đó, thiết lập đời sống phạm hạnh coi nhẹ tình yêu ân ái vợ chồng giới tính biến thành tình yêu vị tha đối với muôn loài, biến các chất liệu của tình thương đau khổ, hạn chế thành chất liệu tình thương vô lượng, an lạc.
Như vậy, người cư sĩ có thể kiến tạo đạo tràng giữa cõi nhân gian, hoàn thành hạnh nguyện độ tha của Bồ Tát đạo.
________________________________________
Bài IX
I. Chánh Văn
Ðệ bát giác tri
Sanh tử xí nhiên,
Khổ não vô lượng
Phát đại thừa tâm,
Phổ tế nhất thiết,
Nguyện đại chúng sanh
Thọ vô lượng khổ
Linh chư chúng sanh
Tất cánh đại lạc
II. Dịch Nghĩa
Ðiều thứ tám giác ngộ rằng lửa sanh tử bừng cháy làm chúng sanh thọ khổ vô lượng. Vì vậy Bồ tát phát tâm Ðại thừa cứu giúp tất cả. Nguyện thay thế cho chúng sanh chịu các khổ não vô lượng ấy. Làm cho mọi loài chúng sanh đạt được niềm vui tối thượng.
III. Giải Thích Nội Dung
Ðiều thứ tám là điều giác ngộ sau cùng của Kinh Tám Ðiều Giác Ngộ của Bậc Ðại Nhân. Ðiều giác ngộ này là đỉnh cao của Bồ Tát hạnh, hay nói cách khác đây là đỉnh điểm của từ bi tâm. Có thể nói, điều giác ngộ thứ tám này là tư tưởng chủ đạo, là mục tiêu của Kinh Bát Ðại Nhân Giác.
Như đã nói ở phần nhận thức tổng quát, hướng đi của kinh Bát Ðại Nhân Giác là cổ xúy tư tưởng Ðại thừa. Khai triển Bồ Tát hạnh và có hướng nghiêng về Bồ Tát cư sĩ. Ðiều thứ bảy tình thương vị tha đã được xây dựng, tình thương ấy đã được trí tuệ bình đẳng làm nền ở điều thứ sáu, đến đây lộ trình tâm đã lên đến đỉnh cao, sự hợp nhất của trí tuệ và từ bi trí tuệ và từ bi này được thiết lập trên nền tảng tâm thanh tịnh, qua quá trình tu tập lâu dài (điều 1, 2, 3, 4, 5). Ngài An Thế Cao đã xây dựng lộ trình tu tập một cách hệ thống, biện chứng. Ðỉnh điểm của trí tuệ và từ bi gồm có:
1. Sanh tử xí nhiên, khổ não vô lượng: Sự giác ngộ về thế giới chủ quan và khách quan bao gồm lục đạo, ba cõi đều nằm trong biển lửa, nói cách khác chúng là lửa, như Kinh nói: "Tam giới vô an du như hỏa trạch"-(ba cõi không yên giống như ngôi nhà lửa) - Thế giới ấy được kiến tạo bằng lửa tham dục, lửa sân hận và lửa ngu si mê muội. Như vậy chúng sanh nói chung, con người nói riêng đang sống ở trong đó phải chịu đựng nhiều nỗi đau khổ bất tận, chịu những kết quả của tham, sân, si, tứùc nghiệp báo nặng nề. Hình ảnh ngôi nhà lửa hay ngọn lửa bùng cháy của cõi sanh tử tạo ấn tượng mạnh mẽ về những nỗi khốn đốn thương đau của mọi loài. Chỉ nói về con người cũng thấy rõ nỗi khổ là vô lượng: có những loại khổ thuộc về thân thể sinh lý, có những loại khổ thuộc về tâm lý, có những nỗi khổ thuộc về hiện tượng, có những nỗi khổ thuộc về bản chất... Những nỗi khổ ấy có mặt thường xuyên hoặc âm ỉ, hoặc bộc phát, làm cho sự có mặt của con người luôn kéo theo sự có mặt của bất an, khổ đau và rối loạn. Bề ngoài thì có người giàu sang, kẻ nghèo hèn; người thông minh tài trí, kẻ thì đần độn ngu si; người thì thành công rực rỡ, kẻ thì thất bại chua cay; người thì mạnh mẽ vẹn toàn, kẻ thì yếu đuối bịnh hoạn... Nhưng tất cả mọi người đều có một mẫu số chung: đó là nỗi Ðau Khổ, mỗi người đều có nỗi đau khổ riêng tùy theo tâm trạng, hoàn cảnh, địa vị... mà mỗi người gánh lấy niềm đau nỗi bất an của riêng mình, làm như đau khổ là tài sản của nhân loại như Ôn Như Hầu nói:
"Thảo nào khi mới chôn nhau
Ðã mang tiếng khóc ban đầu mà ra
Khóc vì nỗi thiết tha sự thế
Ai bày trò bãi bể nương dâu..."
Nhờ trí tuệ mới nhận chân ra được dòng sanh tử bùng cháy và nhờ từ bi mà cảm được nỗi khổ vô lượng.
2. Phát tâm Ðại thừa phổ tế nhất thiết: Tâm Ðại Thừa có nghĩa là tâm Ðại Bi, tâm cứu giúp tất cả chúng sanh đều được thoát khổ, là tâm ước muốn và hành động vì lợi ích cho muôn loài. Ðể phát được tâm này ta phải thấy rõ và cảm thông được nỗi khổ vô tận của mọi người trong dòng đời đen bạc.
Khi ta thấy rõ nỗi khổ thực sự của người nào thì ta sẽ thương người ấy, ta không còn buồn, giận, đố kỵ với người ấy. Quán chiếu cái khổ của mọi người để phát khởi tình thương là một pháp tu tập từ bi tâm. Có những người hung dữ độc ác nhưng khi ta thấy họ bị đánh đập đầy thương tích, đang quằn quại trong vũng máu ta liền thay đổi thái độ: không ghét hay giận họ nữa mà ta thương xót và giúp đỡ họ.
Khi ta thấy ai khổ thì ta thương người ấy, đó là cái thấy hạn chế, nghĩa là cái thấy bằng mắt đòi hỏi phải có hình ảnh cụ thể, trường hợp cụ thể ta mới xúc động, ta mới thương. Vì vậy người được ta thương phải là người đang bị tai ương hoạn nạn và phải gần ta, ta mới thấy, mới gặp. Có người không có tình thương ai khi ở nhà, nhưng khi vào bệnh viện thấy cảnh đau đớn của bệnh nhân liền khởi tâm thương yêu. Ðó là tình thương bình thường, không phải là Ðại bi tâm.
Ðể đạt được tâm đại bi cần phải quán chiếu, phải thấy bằng tuệ nhãn đưa tâm từ bi đến với muôn loài không giới hạn, nhờ thấy được ngọn lửa sanh tử bùng cháy nên thấy nỗi khổ vô lượng của chúng sanh. Vì vậy phát triển tâm đại bi cứu giúp tất cả. Trong Kinh Từ Bi, Ðức Phật dạy: Người tu tập tâm thương yêu luôn tâm niệm rằng " Nguyện cho tất cả loài sinh vật trên trái đất đều được sống an lành, những loài yếu, những loài mạnh, những loài cao, những loài thấp,những loài lớn, những loài nhỏ, những loài ở gần những loài ở xa, những loài đã sanh và những loài sắp sanh ..." "Ta hãy đem lòng từ bi không giới hạn của ta mà bao trùm cả thế gian và muôn loài, từ trên xuống dưới, từ trái sang phải, lòng từ bi không bị bất cứ cái gì làm ngăn cách, tâm ta không còn vương vấn một chút gì hờn oán hoặc căm thù. Bất cứ lúc nào khi đi, khi đứng, khi ngồi, khi nằm, miễn là còn thức, ta nguyện duy trì trong ta chánh niệm từ bi" (Metta Sutta - Nhất Hạnh dịch).
Lòng đại bi thương yêu một cách vẹn toàn viên mãn không có chỗ khuyết hay khoảng hở như được diễn tả trong kinh Từ Bi và đối tượng của tâm đại bi cũng đầy đủ viên mãn không thiếu sót, không hạn chế, đó là ý nghĩa của "Phát đại thừa tâm phổ tế nhất thiết"
3. Nguyện đại chúng sanh thọ vô lượng khổ: Tâm đại bi đã viên mãn chín mùi thì sẽ tạo ra tác dụng tích cực một cách tự nhiên; như ta thương ai một cách đầy đủ thì ta sẽ có hành động, bước đầu là hành động giúp đỡ cho họ cái gì mà họ cần để bày tỏ sự cảm thông hoặc để thỏa mãn nội tâm chất chứa đầy tình thương của mình. Giả sử người kia không muốn nhận sự giúp đỡ của mình, họ từ chối... điều đó làm mình đau xót lắm! Ðó là thái độ tâm lý của một bà mẹ thương đứa con của mình.
Bước thứ hai là muốn chia sẻ nỗi đau mà người kia đang gánh chịu mình không thể thờ ơ trước sự đau khổ của kẻ khác, mình không muốn đứng ngoài, hay nói cách khác mình không thể đứng ngoài được khi chánh niệm từ bi luôn có mặt. Với tâm từ bi bao trùm mọi loài viên mãn cả không gian và thời gian mình cảm được cái khổ của mọi người nên nỗi đau của người sẽ là nỗi đau của mình. Dưới trí tuệ quán chiếu duyên khởi thì mọi loài, mọi người và mọi vật tương quan tương duyên và tương tác với nhau, làm sao ta có thể tách rời khỏi vạn vật được?
Tâm đại bi muốn thay thế cho chúng sanh thọ khổ là đỉnh cao của công trình tu tập từ bi tâm, tiêu biểu cho hạnh nguyện đại bi này là Bồ Tát Ðịa Tạng Vương: "Ðịa ngục vị không thệ bất thành Phật, chúng sanh độ tận phương chứng bồ đề" ( nếu chúng sanh trong địa ngục chưa hết, ta chưa thành Phật, chúng sanh đã độ hết rồi mới chứng quả Bồ Ðề). Ðây là một tâm nguyện, một ước vọng vĩ đại mà tâm vô ngã làm nền- ta và chúng sanh là một, ta ở trong chúng sanh, chúng sanh ở trong ta. Vậy chúng sanh chưa thành Phật ta làm sao thành?!
Có cách giải thích điều "Nguyện thay thế chúng sanh thọ khổ vô lượng" là một nghịch hành pháp môn, trong Túc Sanh truyện có khá nhiều chuyện minh họa cho pháp môn nầy như thí thân cho cọp đói, bố thí vợ con... Ðó là một đời sống mang tính chất lý tưởng hơn là hiện thực. Ðiều thực hiện ở đây chính là tâm thương yêu rộng lớn biểu hiện trí tuệ thể nhập thực tại mà kinh sách thường nói: "vô duyên đại từ, đồng thể đại bi". Tâm nguyện thay thế chúng sanh thọ khổ chính là tâm từ bi viên mãn.
4. Linh chư chúng sanh tất cánh đại lạc: - Diệu dụng của tâm từ bi là đem đến sự an vui hạnh phúc cho mọi người. Ðể đạt được kết quả tốt đẹp ấy, người tu Bồ Tát hạnh phải dùng các phương tiện khác nhau để cảm hóa con người. Phương tiện độ sanh của Bồ tát rất đa dạng, đôi khi thi hành các phương tiện bề ngoài như là không tốt nhưng đạt được mục đích hóa độ, có thể nói phương tiện có đến tám vạn bốn ngàn môn. Trong kinh Nguyên Thủy cũng như Ðại thừa, Ðức Phật khái quát bốn cách độ sanh chính, gọi là Tứ Nhiếp pháp: Bố thí, Ái ngữ, Lợi hành, Ðồng sự.
Khi ta đã có sẵn tâm từ bi bao la thì tác dụng độ sanh là một nhu cầu thiết yếu như ăn, uống, hít thở... không kể Nguyên thủy hay đường lối Ðại thừa đều như vậy, vì vậy ta sẽ có phương cách độ người, giúp người. Sự cứu giúp chúng sanh ở đây không còn đơn giản là bố thí vật chất hay tinh thần để con người có được niềm vui mà ta làm thế nào để mọi người đều đạt được niềm vui tối thượng, nghĩa là giải thoát hoàn toàn sanh tử. Nếu chưa đạt được như vậy thì Bồ Tát không thể nào thỏa mãn được như hạnh nguyện của Bồ Tát Ðịa Tạng Vương. Vì vậy, lời nguyện hằng ngày của Phật tử biểu hiện ý chí mạnh mẽ, lòng từ vô biên:
" Chúng sanh vô biên thệ nguyện độ
Phiền não vô tận thệ nguyện đoạn
Pháp môn vô lượng thệ nguyện học
Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành"
IV. Kết Luận
Ðiều giác ngộ thứ tám là đỉnh cao của lộ trình tu tập Bồ Tát hạnh. Ở đó thể hiện trí tuệ và từ bi viên mãn, đồng thời thể hiện tác dụng hóa độ chúng sanh một cách cao độ. Tất cả những khả năng ấy đều được nói đến trong Kinh tạng Nguyên Thủy cũng như Ðại Thừa. Ở đây biểu hiện rất rõ hướng đi của mẫu người lý tưởng: Bồ Tát nhập thế. Ðây là con đường mà người Bồ Tát cư sĩ có rất nhiều điều kiện và cơ hội thực hành.
- Khổ và thoát khổ là mối tư duy chân chính xuyên suốt mọi pháp môn tu tập. Làm cho mình hết khổ, giúp cho người bớt khổ là một công trình đòi hỏi trí tuệ, sức lực và thời gian. Còn hòa vào đời chịu cảnh tối tăm lem luốc để dẫn dắt chúng sanh lên bờ giải thoát là một hạnh nguyện vĩ đại của những Ðại Sĩ, cũng gọi là hạnh nguyện hay sự giác ngộ của Bậc Ðại Nhân mà Kinh này đề cập đến.
________________________________________
C. Phần Kết Thúc Kinh
Bài X
I. Chánh Văn
Như thử bát sự
Nãi thị chư Phật
Bồ Tát Ðại Nhân
Chi sở giác ngộ
Tinh tấn hành đạo
Từ bi tu huệ
Thừa pháp thân thuyền
Chí Niết Bàn ngạn
Phục hoàn sanh tử
Ðộ thoát chúng sanh
Dĩ tiền bát sự
Khai đạo nhất thiết
Linh chư chúng sanh
Giác sanh tử khổ
Xã ly ngũ dục
Tu tâm thánh đạo
Nhược Phật đệ tử
Tụng thử bát sự
Ư niệm niệm trung
Diệt vô lượng tội
Tiến thú Bồ Ðề
Tốc chứng chánh giác.
Vĩnh đoạn sanh tử
Thường trụ khoái lạc
II. Dịch Nghĩa
Tám điều nói trên là những điều giác ngộ của chư Phật, các vị Bồ Tát và các Bậc Ðại Nhân. Các Ngài đã tinh tấn hành đạo, tu tập từ bi và trí tuệ, nương thuyền pháp thân mà lên bờ Niết Bàn, rồi lại trở về cõi sanh tử để giúp chúng sanh được giải thoát. Các ngài lấy tám điều giác ngộ này mà chỉ dẫn chúng sanh. Làm cho mọi chúng sanh giác ngộ được nỗi khổ sanh tử mà buông bỏ năm dục lạc hướng tâm về con đường Thánh.
Nếu là đệ tử của Phật thì phải đọc tụng tám điều này. Ở nơi mỗi ý niệm đều như vậy diệt được vô lượng tội, hướng đến giác ngộ, mau lên chánh giác. Vĩnh viễn đoạn trừ sanh tử, thường ở trong sự an lạc Niết Bàn.
III. Giải Thích Nội Dung
Phần kết thúc Kinh là những lời nói lên tác dụng siêu việt của tám điều giác ngộ của Bậc Ðại Nhân nhằm khích lệ tinh thần tu tập của các hành giả Phật tử. Phần nầy có thể chia thành hai ý chính:
1. Tác dụng xuất thế của tám điều giác ngộ:
Tám điều giác ngộ nầy không phải là pháp môn thông thường mà nó có giá trị và lợi ích rất lớn: Là phương tiện để giải thoát của chư Phật, Bồ tát, Thánh Hiền... Các Ngài nhờ nỗ lực tu tập theo tám điều giác ngộ nầy mà viên mãn được đức tánh từ bi và trí tuệ, nhờ từ bi và trí tuệ viên mãn mà tạo thành chiếc thuyền pháp thân dẫn đến bến bờ Niết Bàn - giải thoát tối hậu.
Tác dụng xuất thế gồm những gì? Ðó là tu tập quán chiếu Tứ Niệm Xứ, trang bị cho mình nhận thức rõ về thân, về thọ, về tâm và về pháp. Tu tập hạnh thiểu dục tri túc sống đời thanh bạch từ bỏ các lạc thú ở đời. Nhờ vậy trí tuệ được tăng trưởng - tuệ giải thoát phát sinh.
- Con đường tu tập để làm thanh tịnh Thân - Khẩu - Ý, đoạn trừ các ác nghiệp và các ô nhiễm tâm lý, làm chủ được các hành vi bản năng, mở rộng đường cho trí tuệ và giải thoát; đó là con đường tu tập chung của mọi người Phật tử. Dĩ nhiên người xuất gia có lợi thế hơn. Ðây là công hạnh căn bản, là hiện tướng giải thoát của người tu, nếu không có hay không đạt được hoặc không qua lộ trình tâm thanh tịnh nầy thì không có lộ trình giải thoát nào, nghĩa là muốn qua sông thì phải biết bơi, còn sử dụng khả năng biết bơi để cứu người hay không là chuyện khác. Vì vậy không thể chấp nhận một người Phật tử, nhất là Phật tử xuất gia mà tham lam, sân hận quá lớn, không có lý do chính đáng nào biện minh cho các việc làm hay hành vi bất thiện.
- Con đường Bồ tát hạnh hay Ðại thừa cũng dựa trên cơ sở giải thoát và thanh tịnh nầy mà hướng tâm về cứu độ chúng sanh.
- Thuyền pháp thân được làm bằng trí tuệ và từ bi, trí tuệ và từ bi được làm bằng chất liệu thanh tịnh không ô nhiễm. Con thuyền ấy đưa hành giả đến bờ giải thoát.
2. Tác dụng nhập thế của tám điều giác ngộ:
- Tu tập hạnh thanh tịnh giải thoát xuất thế đối với đường lối của Kinh tám điều giác ngộ có hai mục đích: Một là trang bị cho mình khả năng giải thoát khỏi sự trói buộc của sanh tử. Hai là sử dụng khả năng ấy để giúp cho chúng sanh cũng được lợi ích giải thoát như mình. Thực ra, bản chất của giáo pháp mà Ðức Phật dạy luôn bao hàm hai khả năng ấy.
- Trong lời kết thúc nói rằng: sau khi các Ngài đắc đạo nhờ tu tập tám điều giác ngộ, các Ngài từ cõi Niết Bàn trở về cõi sinh tử giúp chúng sanh giải thoát. Ðiều nầy rất rõ ràng, trước khi hóa độ chúng sanh thì phải hóa độ mình trước, mình có giác ngộ, có giải thoát mới "trở về" hóa độ chúng sanh, chứ không phải mình chưa giải thoát mà vội độ sanh chỉ tăng trưởng phiền não và tội lỗi. Vì vậy, ta không có lý do gì để phê bình những người đang nỗ lực tu tập "độ mình" là những người tiêu cực, ích kỷ.
Tuy nhiên, nếu mình "độ mình" lâu quá, chúng sanh đang đau khổ mà mình chưa "công viên quả mãn" thì có phải đang bỏ rơi chúng sanh hay không? Có lẽ đó là một điều lo xuất phát từ thiện ý nhưng cũng như lo "voi chết không có hòm", kiểu nói của tục ngữ Việt Nam.
Con đường tu tập của Phật giáo không nên phân cách quá cứng ngắc giữa độ mình và độ người. Nếu quán chiếu theo chân lý duyên sanh, ta sẽ thấy: Ðộ mình là độ người, độ người cũng là độ mình. Chất liệu tu tập có chất liệu từ bi thì hệ quả tất nhiên là có độ chúng sanh. Vì vậy, không thể nói Ðại thừa mới hoá độ chúng sanh được, còn các đường tu tập khác thì không!
Tác dụng nhập thế của tám điều giác ngộ là thành tựu biện tài thuyết pháp cảm hóa chúng sanh, giúp đỡ cho chúng sanh về mặt vật chất cũng như tinh thần để họ bớt khổ, tạo cho họ cơ hội để họ tu tập hướng thượng, hướng thiện. Lấy nếp sống mẫu mực thanh bạch và vô dục của mình làm tấm gương, làm thân giáo để mọi người quay về chánh đạo. Cuối cùng nếu cần thiết, mình có thể nhập cuộc nhận lãnh khổ đau nếu đó là điều giúp cho mọi người bớt khổ thêm vui. Ðó là con đường nhập thế của Bồ tát, của Kinh Tám Ðiều Giác Ngộ.
Tất cả mọi phương tiện mà Bồ tát thực hành đối với chúng sanh đều phải hướng đến các tác dụng cụ thể:
a."Linh chúng sanh giác sanh tử khổ": Làm cho chúng sanh có được trí tuệ nhận chân khổ đế mà cái khổ lớn nhất là cái khổ của sự sanh tử luân hồi. Ðiều nầy không dễ, người ta dễ dàng nhận thức hay chấp nhận chân lý khổ như: khổ về sanh, lão, bệnh, tử, thương yêu mà phải xa nhau, ghét mà phải gần nhau, hoặc cầu mong mà không toại ý, tức là những cái khổ mang tính hiện tượng, còn cái khổ bản chất thì họ không biết và rất khó biết. Vì vậy, họ chỉ mong hết khổ thông thường chứ không mong được giải thoát.
b. "Xả ly ngũ dục": Làm cho chúng sanh nhận chân được Tập đế là nguyên nhân của khổ, tham ái ngũ dục. Chúng sanh đang ở trong cuộc đời, đang hưởng thụ ngũ dục, đang hướng tâm trí đến các đối tượng của dục và vì vậy mà họ đang đau khổ. Làm cho chúng sanh thấy rõ bản chất của dục là nguy hiểm luôn gây ra hậu quả đau khổ, để họ dần dần nhận thức và từ bỏ chúng.
c. Tu hành thánh đạo: Làm cho chúng sanh hiểu được Ðạo đế, tu hành con đường dẫn đến đoạn trừ khổ đau.
- Tu hành thánh đạo là gì? - Chính là tu tập hành trì Bát Chánh Ðạo: Chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định. Nếu chúng sanh tu tập thánh đạo nầy thì chắc chắn thoát ly khổ ách.
- Ðoạn cuối cùng nhắc nhở khích lệ người đệ tử Phật phải đọc tụng và nhớ nghĩ đến tám điều giác ngộ nầy. Ðược như vậy thì trong từng ý nghĩ tiếp diễn chỉ có thiện pháp, không có ác niệm, ác pháp. Nhờ đó mà ác nghiệp được tiêu diệt, dẫn đến giác ngộ, thành tựu thánh quả và khổ sanh tử chấm dứt, hưởng niềm vui tối thượng, an lạc Niết Bàn.
IV.Kết Luận
- Lời kết thúc kinh bao hàm ý nghĩa khái quát con đường tu tập của kinh, đó là thực hành sự thanh tịnh làm cho tâm hết ô nhiễm thành tựu các đức tính trí tuệ và từ bi, nhờ đó mà được giải thoát tối thượng. Sau khi đạt được sự giải thoát thực hành hạnh lợi tha dùng khả năng giải thoát giác ngộ của mình giúp cho mọi người có điều kiện hướng về chân lý và giải thoát như mình.
- Ðồng thời, lời kết thúc cũng đưa ra mục tiêu cụ thể cho hành giả thực hành công cuộc hóa độ làm cho chúng sanh nhận chân về sự khổ, về nguyên nhân đưa đến khổ và con đường đưa đến diệt khổ.
-Cuối cùng là khích lệ tu tập bằng cách nêu bật lên công dụng quán chiếu chánh niệm đưa đến đoạn trừ ác nghiệp thành tựu Niết Bàn.
Con đường mà kinh Bát Ðại Nhân Giác giới thiệu là con đường thuận tiện cho đời sống của người cư sĩ thực hành để đáp ứng nguyện vọng của Bồ Tát dấn thân vào đời cứu độ chúng sanh. Con đường ấy đặc biệt ở chỗ sống giữa cuộc đời bụi bặm mà không dính bụi, ngược lại có thể chuyển hóa bụi bặm ô nhiễm thành thanh tịnh thanh lương.
KINH BÁT ĐẠI NHÂN GIÁC LƯỢC GIẢI
Nay nói phần đầu:
Là đệ tử Phật, phải ngày lẫn đêm, chí tâm tụng niệm, Tám Điều Giác Ngộ của bậc đại nhân.
Bất kể tại gia, xuất gia, hễ đã quy y nơi Phật, đều là đệ tử Phật. Đã là đệ tử Phật, ắt phải hằng tu Tám Điều Giác Ngộ này. Nói cả ngày lẫn đêm để nêu rõ công phu không gián đoạn. Bảo chí tâm là chỉ sự chân thành tha thiết. Lại nói tụng niệm, để hiển bày văn nghĩa thuần tịnh, ghi nhớ không quên vậy. Tám Điều Giác Ngộ, sẽ chú thích trong văn kết thán.
Thứ hai giải riêng tám điều:
- Trước nhất giác vô thường vô ngã:
Giác ngộ thứ nhất: Thế gian vô thường, quốc độ mong manh, tứ đại khổ không, năm ấm vô ngã, sinh diệt đổi dời, hư ngụy không chủ, tâm là nguồn ác, thân là mọi tội, quán sát như vậy, xa dần sinh tử.
Đây là cửa đầu nhập đạo, trước bầy pháp ngã pháp hai chấp. Trước tiên, quán thế gian vô thường, quốc độ mong manh, như các thứ bờ cao thành hồ, hang sâu hóa gò, quán như vậy, ắt nơi y báo (1) không còn tham cầu. Thứ đến do bốn đại quán thân, đất nước gió lửa gây hại lẫn nhau, nên có 404 bệnh khổ. Đại nào cũng không thật tính, nên cứu cánh đều không. Lại do năm uẩn quán tâm, thọ tưởng hành thức hợp cùng sắc thân gọi là năm ấm, thọ tưởng hành thức hợp cùng sắc thân gọi là năm ấm, nơi đây thực chẳng có ngã và ngã sở, chỉ là pháp sanh diệt biến hoại đổi dời trong từng sát na, không thật nên hư ảo, chẳng chân thành giả ngụy. Chỉ do nơi các tướng đổi thay nên thật không chủ, do vậy nơi chánh báo (2) không khởi tâm tham đắm. Lại thân tâm chính báo này, dẫu ta có yêu mến nó, cũng chí luống công chẳng được lợi ích, mà còn do vừa mê sáu trần duyên cảnh, cho là tướng tự tâm, tâm lập tức trở thành cội gốc của tội ác. Vừa mê bốn đại tưởng tướng của tự thân, thân liền thành chỗ chứa mọi tội lỗi. Nếu không xét thấu điều này, tất hại cho sự an lành vô cùng. Có quán sát được vậy, ắt hai chấp thân tâm giảm nhẹ, đó là phương tiện thứ nhất xa dần sinh tử.
- Thứ hai giác thường tu thiểu dục:
Giác tri thứ nhì: Đa dục là khổ, sinh tử nhọc nhằn, do tham dục khởi, thiểu dục vô vi (3), thân tâm tự tại.
Đã do điều giác ngộ thứ nhất hàng phúc kiến hoặc (4) nay lại do điều giác ngộ thứ hai hàng phục tư hoặc (5) vậy. Tư hoặc tuy nhiều, dục tham đứng đầu, hễ tu thiểu dục, tất ngộ vô vi mà được tư tại.
- Thứ ba giác tri túc thủ đạo.
Giác tri thứ ba: Tâm không chán đủ, chỉ hay đa cầu, tăng trưởng tội ác, Bồ Tát không vậy, thường niệm tri túc, an bần giữ đạo, Huệ là sự nghiệp.
Đã tu thiểu dục, nên tu tri túc, bằng cách chuyên tâm nơi huệ nghiệp vậy. Người đa dục không tri túc, ngăn che trí huệ vô cùng. Nay nơi thiểu dục, lại thêm tri túc, tất huệ nghiệp tự nhiên thăng tiến.
Thứ tư thường hành tinh tiến:
Giác tri thứ tư: Giãi đãi đọa lạc, thường hành tinh tiến, phá ác phiền não, hàng phục bốn ma, ra khỏi nhà ngục ấm giới.
Phàm gọi là thiểu dục tri túc, chính là muốn tự xét sức mình để làm các việc. Nếu mượn cớ tri túc mà ngồi trong hầm giãi đãi, tất đọa lạc càng sâu, nên phải thường hành tinh tiến để phá trừ hai món phiền não kiến tư. Trừ ma phiền não, ắt hàng phục được hết ấm ma, tử ma (6), có như vậy mới ra khỏ nhà ngục ngũ ấm thập bát giới (7).
-Thứ năm giác đa văn trí huệ.
Giác ngộ thứ năm: Sinh tử ngu si, Bồ Tát thường niệm, quảng học đa văn, tăng trưởng trí huệ, thành tựu biện tài, giáo hóa hết thảy, khiến được vui lớn.
Tuy nói tinh tiến, mà không quảng học đa văn để tăng trưởng trí huệ, tất thành cái lỗi ám chứng (8), lai có nghe mà không huệ, như đem lửa tự đốt; có huệ mà thiếu nghe, như cầm dao tự cắt. Nghe (Văn) và Huệ phải đầy đủ, mới tự lợi lợi tha.
-Thứ sáu giác bố thí bình đẳng.
Giác tri thứ sáu: Nghèo khổ đa oán, thường kết ác duyên, Bồ Tát bố thí, oán thân bình đẳng, không nhớ ác cũ, không ghét ác nhân.
Tuy có trí huệ mà không phúc đức, cũng không sao tự lợi lợi tha, nên cần hành đủ tam đàn vậy. Biết nghèo khổ nhiều oán trái, nên hành bố thí, đó là tài thí. Rõ oán thân nên bình đẳng, mà không nhớ ghét, tức vô úy thí. Pháp thí như văn trên đã nói, nay thêm tài thí và vô úy thí để đủ tam đàn vậy.
-Thứ bảy giác xuất gia phạm hạnh.
Giác ngộ thứ bẩy: Năm dục tội lỗi, tuy là tục nhân, không nhiễm dục lạc thế gian, thường niệm pháp thí, ba y một bát, chí nguyện xuất gia, thủ đạo thanh bạch, phạm hạnh cao vời, từ bi mọi loài.
Tuy trí huệ phúc đức, nếu không dứt hẳn ngũ dục gia đình, ắt không sao thiệu long Tam Bảo, thụ trì Phật pháp. Phải biết ba đời chư Phật, chưa từng không thị hiện thân xuất gia mà thành đạo cả. Tam y (9), một là An Đà Hội, hai là Ưu Đa La Tăng, ba là Tăng Già Lê. Nên tuy cư thân xuất gia mà không giữ đạo thanh bạch, phạm hạnh cao vời, tư bi với muôn loài, tất chỉ là gã trộm Phật hình nghi, càng gây thêm tội, phải hiểu rõ như vậy.
-Thứ tám giác đại tâm phổ tế.
Giác tri thứ tám: Sinh tử thiêu đốt, khổ não vô cùng, phát tâm đại thừa, cứu vớt hết thảy, nguyện thay chúng sanh, chịu vô lượng khổ, khiến mọi chúng sanh, tất cánh an lạc.
Tuy đã xuất gia, không phát tâm Đại thừa rộng độ, tất từ tâm không trọn, không phát tâm chịu khổ thay chúng sanh, ắt bi tâm không vẹn. Từ bi trọn đủ mới thức là người con chấn hương gia nghiệp nhà Phật.
Phần kết thán:
Tám điều như vậy, là chỗ giác ngộ của Bậc Đại Nhân, chư Phật bồ Tát tinh tấn hành đạo từ bi tu huệ, ngồi thuyền pháp thân đến bờ Niết Bàn lại vào sinh tử độ thoát chúng sanh, dùng tám điều này khai đạo tất cả, khiến các chúng sanh rõ sinh tử khổ, xả bỏ ngũ dục, tu tâm thánh đạo. Nếu đệ tử Phật, trong hằng mỗi niệm, tụng tám điều này, diệt vô lượng tội, tiến đến Bồ Đề, tốc chứng chính giác, vĩnh đoạn sanh tử, thường trụ khoái lạc.
Từ Tu Tám điều như vậy trở xuống đến chữ thứ 16, kết thành danh nghĩa. Từ Tinh Tiến hành đạo trở xuống đến chữ thứ 16, kết thành công đức tự giác. Thuyền Pháp thân chỉ cho đức tánh giác ngộ, bờ Niết Bàn hiển bày chỗ tu đức. Từ Lại vào sinh tử độ thoát chúng sanh trở xuống đến chữ thứ 32 (tu tâm thánh đạo), kết thành công đức giác tha, chỉ có tự giác mới giác tha được. Từ Nếu đệ tử phật cho hết phần kết thán, kết thành công đức tụng niệm. Đã thường tụng văn này, tất khéo hiểu chân ý nghĩa, nhờ khéo tư duy nghĩa này, mà có thể tự giác giác tha. Do vậy diệt tội lỗi và đoạn trừ sinh tử khổ, hướng đến bờ giác và chứng được sự an lạc vĩnh hằng.
Chú Thích Kinh Bát Đại Nhân Giác
Y Báo: Y báo và chánh báo gọi chung là nhị báo. Y báo còn gọi là Y qủa, tức quốc độ,thế giới, nhà cửa, khí cụ các thứ, do nghiệp đời trước mà chúng sanh cảm được, thân của chúng sanh nương các thứ này mà tồn tại, nên gọi là Y báo.
Chính báo: Còn gọi là Chính qủa, tức thân ngũ uẩn, chúng sanh do nghiệp đời trước mà cảm được thân này, đó là qủa báo chính, nên gọi là chính báo (xem Hoa Nghiêm Đại sớ 1)
Vô Vi:
Kiến tư: Là Kiến hoặc và Tư hoặc, còn gọi là Kiến Ái, Kiến Tu, Tứ Trụ, Nhiễm Ô Vô Tri, Chi Mạt Vô Minh, Thông Hoặc, Giới Nội Hoặc, đều khái qúat gọi chung phiền não của Tam Giới.
Kiến Hoặc: Các loại vọng kiến, phân biệt và suy lường lệch lạc của các đạo lý, mà phát sanh ra các thự vọng hoặc như Ngã Kiến, Biên Kiến.
Tư Hoặc: Các mê tình như Tham, Sân, Si, các vọng hoặc phát khởi do tư lự các sự vật ở thế gian.
Như vậy dựa theo sự mê chấp, gọi là Kiến hoặc là Lý hoặc, Tư Hoặc là Sự Hoặc. Vì Kiến hoặc là những thứ tà tưởng, thường kiên, ngã kiến phát sanh bởi sự mê lầm chân lý, vô thường, vô ngã, và vì Tư hoặc là những vọng tình tham sân si phát sinh do sự mê nhiễm sắc thanh của cás sự vật ở thế gian. Song phâng Kiến, hoặc, Tư Hoặc theo mê lý và mê sự, là theo Pháp Tướng của Tiểu Thừa Câu Xá. Còn theo Pháp Tướng của Đại Thừa Duy Thức, thì phân loại theo hai thứ Phân Biệt khởi và Câu Sinh khởi. Hai chướng phiền não là sở tri do Phân Biệt khởi là Kiến hoặc, hai chướng phiền não và sở tri do Câu Sinh Khởi là Tư Hoặc. Lại gọi là Kiến vì gồm hai nghĩa.
a) Các hoặc bị đoạn trừ khi chiếu kiến chân lý, nên gọi là kiến hoặc
b) Kiến có nghĩa suy lường, hoặc này lấy suy lường làm tính, nên gọi là kiến hoặc.
Tư cũng có hai nghĩa:
a) Một khi đã kiến thấy chân lý đoạn kiến hoặc rồi\, lại tư duy tu tập chân lý để đoạn hoặc này, nên gọi là tư hoặc.
b) Vì tư duy thế gian, vọng chấp sự vật mà khởi hơặc nên gọi là tư hoặc.
Cả hai hoặc này là nhân chính thọsinh tử trong tam giới, đoạn hai hoặc này mới thoát được sanh tử trong tam giới. Ðoạn hoặc cũng theo thứ tự, trước đoạn kiến hoặc, sau đoạn tư hoặc. Kiến hoặc có tính mãnh lợi, khi kiến (thấy) đế lý liền đoạn sạch. Còn tính hoặc có tính độn muội , phải nhiều lần tư duy đế lý mới từ từ đoạn được. Vị đoạn kiến hoặc gọi là kiến đạo, vị đoạn tư hoặc gọi là tu đạo. Vị đoạn cả hai hoặc gọi là Vô Học đạo.
Thiên Thai Tông quy kết hết thảy vọng hoặc làm ba thứ:
a) Kiến Tư là chướng ngăn Niết Bàn.
b) Trần Sa là chướng ngăn Bồ Ðề.
c) Vô Minh là chướng ngăn Trung Ðạo thật tướng.
Tư Hoặc:
Ấm ma, Thiên ma, Tử Ma: Gọi là Tam Ma. Chỉ trì tập âm nghĩa giải thích Tam Ma như sau:
1) Phiền não ma: Chỉ hết thảy vọng hoặc trong Tam giới, các vọng hoặc này nhiễu loạn tâm thần hành giả, khiến không thành tựu Bồ đề được, nên gọi là Phiền não ma. Ngũ ấm ma được nhiếp trong ma này.
2) Thiên ma: Tức trời thứ sáu của dục giới. Nếu người nào muốn cần tu các thắng thiện để siêu xuất sinh tử của Tam giới, ắt bị Thiên ma này chướng ngại, tạo nên đủ nhiễu loạn, khiến hành giả không thể thành tụu được thiện căn xuất thế. Gọi đó là Thiên ma.
3) Tử ma: Chỉ bốn đại phân tán, cái chét ngăn chận sự kéo dài huệ mệnh, nên gọi là Tử ma.
Lại Trí Ðộ Luận quyển năm và Nghĩa Lâm Chương quyển sáu gọi Phiền Não ma, Ấm ma, Thiên ma và Tử ma là Tứ ma.
1) Phiền não ma: Các thứ phiền não tham dục , san khuể thường gây não hại thân tâm, nên gọi là Ma.
2) Ấm ma: Hay còn gọi là ngũ chúng ma, tan dịch là Uẩn ma. Năm ấm thường sinh đủ mọi khổ não , nên gọi là Ma\.
3) Tử ma: Sự chết hay đoạn mệnh căn của người nên gọi là Ma.
4) Thiên ma: TứcTha Hóa Tự Tại Thiên Tử Ma, tân dịch là Tự Tại Thiên Ma, là ma vương của trời thứ sáu dục giới\, thường phá ại các thiện sự của người, nên gọi là ma. Chỉ có ma này trong tứ ma là bổn pháp, còn ba thứ kia theo ý nghĩa mà gọi là ma.
Thập bát giới: Gồm lục căn (Nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý). Lục trần: (Sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp), và lục thức (nhãn cho đến ý thức). Giới có hai nghĩa sai khác, vật này vật nọ không xen tạp được nhau. Ðại Thừa Nghĩa Chương quyển tám mạt (Giới là phân giới, do các pháp có tính khác biệt gọi là "Giới"). Vì lục căn, lục trần, lục thức có tính cách khác biệt, nên gọi chung là 18 giới. Lại Câu Xá Luận quyển nhất nói: "Giới có nghĩa các loại pháp (pháp chủng tộc), như trong một núi có nhiều loại như đồng , sắt, vàng, ... gọi là đa giới (nhiều chất loại). Như vậy một thân hoặc một tương tục có đến 18 loại pháp chủng tộc , gọi là 18 giới . Hiểu theo nghĩa trên, giới của Tam giới và Thập Bát giới là giới theo Ða giới, không nên hiểu theo là pháp giới.
Ám Chướng: Chuyên lấy tọa thiền làm công phu , còn nơi văn nghĩa của nghĩa lý thì mờ ám.
Tam Y: Y phục do Phật chế phân làm ba loại :
1) Tăng Già Lê (Sanghati) dịch là Chú Tụ Thời Y. Y này để mặc vào những lúc đại chúng tề tập truyền giới hay thuyết giới .
2) Uất Ða La Tăng (Uttarasanga) dịch là Thượng Y (y trên) mặc trên y An Ðà Hội .
3) An Ðà Hội (Antarvasaka) dịch là Trung Trước Y (áo mặc bên trong).
Sau này ba y được theo Ðiều , như An Ðà Hội là Ngũ điều y, Uất Ðà La Tăng là Thất Ðiều Y, và Tăng Già Le là Cửu Ðiều trở lên, hay còn gọi là Ðại y.
Kinh Bốn Lãnh Vực Quán Niệm
Tôi nghe như vầy: Một thuở nọ, Đức Phật đang cư trú ở Kammasadamma, một khu phố của dân Kuru. Một hôm, Ngài gọi các vị chư tăng: “Nầy các thầy”. Chư tăng đáp: “Thưa Đức Thế Tôn”. Đức Phật nói: “Nầy các vị, đây là con đường duy nhất để thanh tịnh thân tâm, vượt thắng phiền não, diệt trừ ưu khổ, đạt tới chánh đạo và chứng nhập niết bàn - đó là con đường của bốn lãnh vực quán niệm”.
Bốn lãnh vực quán niệm là những lãnh vực gì?
Nầy các vị, người hành giả an trú trong sự quán niệm về thân thể nơi thân thể, tinh cần, ý thức rõ ràng và sáng suốt về thân thể, xa lìa mọi tham đắm và ưu tư đối với cuộc đời.
Người ấy an trú trong sự quán niệm về cảm thọ nơi cảm thọ, tinh cần, ý thức rõ ràng và sáng suốt về cảm thọ, xa lìa mọi tham đắm và ưu tư đối với cuộc đời.
Người ấy an trú trong sự quán niệm về tâm thức nơi tâm thức, tinh cần, ý thức rõ ràng và sáng suốt về tâm thức, xa lìa mọi tham đắm và ưu tư đối với cuộc đời.
Người ấy an trú trong sự quán niệm về đối tượng của tâm thức nơi đối tượng của tâm thức, tinh cần, ý thức rõ ràng và sáng suốt về đối tượng của tâm thức, xa lìa mọi tham đắm và ưu tư đối với cuộc đời.
Nầy các vị, người hành giả an trú trong sự quán niệm về thân thể nơi thân thể như thế nào?
Người ấy tìm đến một khu rừng, tới một gốc cây, hay một nơi vắng vẻ, ngồi xuống trong tư thế kiết già, giữ thân hình ngay thẳng và thiết lập sự quán niệm trên đối tượng thiền định. Với ý thức rõ ràng và sáng suốt, người ấy thở vào. Với ý thức rõ ràng và sáng suốt, người ấy thở ra.
Thở vào một hơi thở dài, người ấy ý thức rằng: “ta đang thở vào một hơi thở dài”. Thở ra một hơi thở dài, người ấy ý thức rằng: “ta đang thở ra một hơi thở dài”.
Thở vào một hơi thở ngắn, người ấy ý thức rằng: “ta đang thở vào một hơi thở ngắn”. Thở ra một hơi thở ngắn, người ấy ý thức rằng: “ta đang thở ra một hơi thở ngắn”.
Người hành giả tự mình thực tập như sau:
Với ý thức rõ ràng về toàn hơi thở, ta thở vào. Với ý thức rõ ràng về toàn hơi thở, ta thở ra.
Với ý thức rõ ràng về sự lắng dịu nơi hơi thở, ta thở vào. Với ý thức rõ ràng về sự lắng dịu nơi hơi thở, ta thở ra.
Như người thợ tiện khéo tay hay người thợ học nghề, khi xoay một vòng dài, người ấy ý thức rằng: “ta đang xoay một vòng dài”. Hay xoay một vòng ngắn, người ấy ý thức rằng: “ta đang xoay một vòng ngắn”.
Cũng như người hành giả thở vào một hơi thở dài, người ấy ý thức rằng: “ta đang thở vào một hơi thở dài”. Thở ra một hơi thở dài, người ấy ý thức rằng: “ta đang thở ra một hơi thở dài”.
Thở vào một hơi thở ngắn, người ấy ý thức rằng: “ta đang thở vào một hơi thở ngắn”. Thở ra một hơi thở ngắn, người ấy ý thức rằng: “ta đang thở ra một hơi thở ngắn”.
Người hành giả tự mình thực tập như sau:
Với ý thức rõ ràng về toàn hơi thở, ta thở vào. Với ý thức rõ ràng về toàn hơi thở, ta thở ra.
Với ý thức rõ ràng về sự lắng dịu nơi hơi thở, ta thở vào. Với ý thức rõ ràng về sự lắng dịu nơi hơi thở, ta thở ra.
Và như thế, người hành giả an trú trong sự quán niệm về thân thể nơi thân thể, hoặc bên trong, hoặc bên ngoài, hoặc bên trong và bên ngoài thân thể. Người ấy an trú trong sự quán niệm về quá trình sinh khởi, hoặc quá trình hủy diệt, hoặc quá trình sinh khởi và quá trình hủy diệt nơi thân thể. Hoặc người ấy quán niệm rằng: “có thân thể đây”, như thế đủ để phát khởi sự quán chiếu và ý thức về thân thể. Người ấy không lệ thuộc vào bất cứ gì nơi tham đắm, cũng không bám víu vào bất cứ gì trong cuộc đời. Người hành giả quán niệm về thân thể nơi thân thể là như vậy, thưa các vị.
Khi đi, người hành giả ý thức rằng: “ta đang đi”. Khi đứng, người hành giả ý thức rằng: “ta đang đứng”. Khi ngồi, người hành giả ý thức rằng: “ta đang ngồi”. Khi nằm, người hành giả ý thức rằng: “ta đang nằm”. Bất cứ thân thể đang ở trong tư thế nào, người hành giả cũng ý thức về tư thế đó.
Và như thế, người hành giả an trú trong sự quán niệm về thân thể nơi thân thể, hoặc bên trong, hoặc bên ngoài, hoặc bên trong và bên ngoài thân thể. Người ấy an trú trong sự quán niệm về quá trình sinh khởi, hoặc quá trình hủy diệt, hoặc quá trình sinh khởi và quá trình hủy diệt nơi thân thể. Hoặc người ấy quán niệm rằng: “có thân thể đây”, như thế đủ để phát khởi sự quán chiếu và ý thức về thân thể. Người ấy không lệ thuộc vào bất cứ gì nơi tham đắm, cũng không bám víu vào bất cứ gì trong cuộc đời. Người hành giả quán niệm về thân thể nơi thân thể là như vậy, thưa các vị.
Khi đi tới hay đi lui, người hành giả ý thức rõ ràng về việc đó. Khi nhìn trước hay nhìn sau, cúi xuống hay đứng lên, người hành giả ý thức rõ ràng về việc đó. Khi mặc áo cà sa hay mang bình bát, người hành giả ý thức rõ ràng về việc đó. Khi ăn hay uống, nhai hay nếm, người hành giả ý thức rõ ràng về việc đó. Khi đi đại tiện hay tiểu tiện, người hành giả ý thức rõ ràng về việc đó. Khi đi hay đứng, nằm hay ngồi, ngủ hay thức, nói hay im lặng, người hành giả cũng ý thức rõ ràng về việc đó.
Và như thế, người hành giả an trú trong sự quán niệm về thân thể nơi thân thể, hoặc bên trong, hoặc bên ngoài, hoặc bên trong và bên ngoài thân thể. Người ấy an trú trong sự quán niệm về quá trình sinh khởi, hoặc quá trình hủy diệt, hoặc quá trình sinh khởi và quá trình hủy diệt nơi thân thể. Hoặc người ấy quán niệm rằng: “có thân thể đây”, như thế đủ để phát khởi sự quán chiếu và ý thức về thân thể. Người ấy không lệ thuộc vào bất cứ gì nơi tham đắm, cũng không bám víu vào bất cứ gì trong cuộc đời. Người hành giả quán niệm về thân thể nơi thân thể là như vậy, thưa các vị.
Người hành giả quán niệm về chính thân thể nầy, từ gót chân trở lên và từ đỉnh đầu trở xuống, bao bọc bởi một lớp da và chứa đầy các loại bất tịnh. Thuộc về thân thể nầy: “tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, tủy, thận, gan, hoành cách mạc, lá lách, phổi, ruột, bao tử, phân, mật, đàm, mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, nước bọt, nước mủ, nước khớp xương, nước tiểu”.
Nầy các vị, thí dụ có một cái bao đựng các loại ngũ cốc như gạo lức, gạo hẻo rằng, lúa, đậu xanh, đậu ngự, mè, gạo trắng. Hai đầu bao có thể mở ra được. Một người có mắt tốt khi mở bao ra, thấy rõ mọi loại hạt chứa đựng trong đó. Đây là gạo lức, gạo hẻo rằng, lúa, đậu xanh, đậu ngự, mè, gạo trắng.
Cũng như thế, khi quán niệm về thân thể nầy, người hành giả thấy được mọi thứ, từ gót chân đến đỉnh đầu và từ đỉnh đầu xuống gót chân, bao bọc bởi một lớp da và chứa đầy các loại bất tịnh. Thuộc về thân thể nầy: “tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, tủy, thận, gan, hoành cách mạc, lá lách, phổi, ruột, bao tử, phân, mật, đàm, mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, nước bọt, nước mủ, nước khớp xương, nước tiểu”.
Và như thế, người hành giả an trú trong sự quán niệm về thân thể nơi thân thể, hoặc bên trong, hoặc bên ngoài, hoặc bên trong và bên ngoài thân thể. Người ấy an trú trong sự quán niệm về quá trình sinh khởi, hoặc quá trình hủy diệt, hoặc quá trình sinh khởi và quá trình hủy diệt nơi thân thể. Hoặc người ấy quán niệm rằng: “có thân thể đây”, như thế đủ để phát khởi sự quán chiếu và ý thức về thân thể. Người ấy không lệ thuộc vào bất cứ gì nơi tham đắm, cũng không bám víu vào bất cứ gì trong cuộc đời. Người hành giả quán niệm về thân thể nơi thân thể là như vậy, thưa các vị.
Lại nữa, nầy các vị. Trong bất cứ tư thế nào của thân thể, người hành giả cũng quán niệm về những yếu tố cấu tạo thành thân thể. Trong thân thể nầy, có yếu tố đất, có yếu tố nước, có yếu tố lửa, có yếu tố gió. Như người đồ tể rành nghề hay người thợ học nghề, khi giết một con bò, ngồi giữa ngả tư và xẻ con bò ra thành nhiều phần. Người hành giả cũng vậy, trong bất cứ tư thế nào của thân thể, cũng quán niệm về những yếu tố cấu tạo thành thân thể. Trong thân thể nầy, có yếu tố đất, có yếu tố nước, có yếu tố lửa, có yếu tố gió.
Và như thế, người hành giả an trú trong sự quán niệm về thân thể nơi thân thể, hoặc bên trong, hoặc bên ngoài, hoặc bên trong và bên ngoài thân thể. Người ấy an trú trong sự quán niệm về quá trình sinh khởi, hoặc quá trình hủy diệt, hoặc quá trình sinh khởi và quá trình hủy diệt nơi thân thể. Hoặc người ấy quán niệm rằng: “có thân thể đây”, như thế đủ để phát khởi sự quán chiếu và ý thức về thân thể. Người ấy không lệ thuộc vào bất cứ gì nơi tham đắm, cũng không bám víu vào bất cứ gì trong cuộc đời. Người hành giả quán niệm về thân thể nơi thân thể là như vậy, thưa các vị.
Lại nữa, nầy các vị. Như khi thấy một xác chết bị bỏ nơi bãi tha ma, đã được một ngày, hai ngày, hoặc ba ngày, sình trương, thâm tím và thối rữa. Người hành giả quán niệm về thân thể đây cũng vậy, cũng sẽ trở thành như thế, không có cách nào tránh thoát.
Và như thế, người hành giả an trú trong sự quán niệm về thân thể nơi thân thể, hoặc bên trong, hoặc bên ngoài, hoặc bên trong và bên ngoài thân thể. Người ấy an trú trong sự quán niệm về quá trình sinh khởi, hoặc quá trình hủy diệt, hoặc quá trình sinh khởi và quá trình hủy diệt nơi thân thể. Hoặc người ấy quán niệm rằng: “có thân thể đây”, như thế đủ để phát khởi sự quán chiếu và ý thức về thân thể. Người ấy không lệ thuộc vào bất cứ gì nơi tham đắm, cũng không bám víu vào bất cứ gì trong cuộc đời. Người hành giả quán niệm về thân thể nơi thân thể là như vậy, thưa các vị.
Rồi như thấy một xác chết bị bỏ nơi bãi tha ma, bị quạ rỉa, bị diều hâu, kên kên và chó sói rừng gặm xé, bị dòi bọ rúc rỉa. Người hành giả quán niệm về thân thể đây cũng vậy, cũng sẽ trở thành như thế, không có cách nào tránh thoát.
Và như thế, người hành giả an trú trong sự quán niệm về thân thể nơi thân thể, hoặc bên trong, hoặc bên ngoài, hoặc bên trong và bên ngoài thân thể. Người ấy an trú trong sự quán niệm về quá trình sinh khởi, hoặc quá trình hủy diệt, hoặc quá trình sinh khởi và quá trình hủy diệt nơi thân thể. Hoặc người ấy quán niệm rằng: “có thân thể đây”, như thế đủ để phát khởi sự quán chiếu và ý thức về thân thể. Người ấy không lệ thuộc vào bất cứ gì nơi tham đắm, cũng không bám víu vào bất cứ gì trong cuộc đời. Người hành giả quán niệm về thân thể nơi thân thể là như vậy, thưa các vị.
Rồi như thấy một xác chết bị bỏ nơi bãi tha ma, chỉ còn lại bộ xương dính ít thịt và máu, các khớp xương còn gắn liền nhau bởi gân cốt.
Rồi như thấy một xác chết bị bỏ nơi bãi tha ma, chỉ còn lại bộ xương không còn chút thịt nào nhưng vẫn còn dính chút máu, các khớp xương còn gắn liền nhau bởi gân cốt.
Rồi như thấy một xác chết bị bỏ nơi bãi tha ma, chỉ còn lại bộ xương không còn chút thịt nào và cũng không còn chút máu nào, các khớp xương còn gắn liền nhau bởi gân cốt.
Rồi như thấy một xác chết bị bỏ nơi bãi tha ma, chỉ còn lại đống xương rời rạc, chỗ nầy là xương tay, xương chân, chỗ kia là xương đùi, xương mông, xương sống, đầu lâu.
Rồi như thấy một xác chết bị bỏ nơi bãi tha ma, chỉ còn lại đống xương trắng màu vỏ ốc.
Rồi như thấy một xác chết bị bỏ nơi bãi tha ma, chỉ còn lại đống xương khô đã hơn một năm.
Rồi như thấy một xác chết bị bỏ nơi bãi tha ma, chỉ còn lại đống xương rã nát thành tro bụi.
Người hành giả quán niệm về thân thể đây cũng vậy, cũng sẽ trở thành như thế, không có cách nào tránh thoát.
Và như thế, người hành giả an trú trong sự quán niệm về thân thể nơi thân thể, hoặc bên trong, hoặc bên ngoài, hoặc bên trong và bên ngoài thân thể. Người ấy an trú trong sự quán niệm về quá trình sinh khởi, hoặc quá trình hủy diệt, hoặc quá trình sinh khởi và quá trình hủy diệt nơi thân thể. Hoặc người ấy quán niệm rằng: “có thân thể đây”, như thế đủ để phát khởi sự quán chiếu và ý thức về thân thể. Người ấy không lệ thuộc vào bất cứ gì nơi tham đắm, cũng không bám víu vào bất cứ gì trong cuộc đời. Người hành giả quán niệm về thân thể nơi thân thể là như vậy, thưa các vị.
Nầy các vị, người hành giả an trú trong sự quán niệm về cảm thọ nơi cảm thọ như thế nào?
Khi có một cảm giác khoái lạc, người hành giả ý thức: “ta đang có một cảm giác khoái lạc”. Khi có một cảm giác đau khổ, người hành giả ý thức: “ta đang có một cảm giác đau khổ”. Khi có một cảm giác không khoái lạc cũng không đau khổ, người hành giả ý thức: “ta đang có một cảm giác không khoái lạc cũng không đau khổ”.
Khi có một cảm giác khoái lạc về thể xác, người hành giả ý thức: “ta đang có một cảm giác khoái lạc về thể xác”. Khi có một cảm giác khoái lạc về tinh thần, người hành giả ý thức: “ta đang có một cảm giác khoái lạc về tinh thần”.
Khi có một cảm giác đau khổ về thể xác, người hành giả ý thức: “ta đang có một cảm giác đau khổ về thể xác”. Khi có một cảm giác đau khổ về tinh thần, người hành giả ý thức: “ta đang có một cảm giác đau khổ về tinh thần”.
Khi có một cảm giác không khoái lạc cũng không đau khổ về thể xác, người hành giả ý thức: “ta đang có một cảm giác không khoái lạc cũng không đau khổ về thể xác”. Khi có một cảm giác không khoái lạc cũng không đau khổ về tinh thần, người hành giả ý thức: “ta đang có một cảm giác không khoái lạc cũng không đau khổ về tinh thần”.
Và như thế, người hành giả an trú trong sự quán niệm về cảm thọ nơi cảm thọ, hoặc bên trong, hoặc bên ngoài, hoặc bên trong và bên ngoài cảm thọ. Người ấy an trú trong sự quán niệm về quá trình sinh khởi, hoặc quá trình hủy diệt, hoặc quá trình sinh khởi và quá trình hủy diệt nơi cảm thọ. Hoặc người ấy quán niệm rằng: “có cảm thọ đây”, như thế đủ để phát khởi sự quán chiếu và ý thức về cảm thọ. Người ấy không lệ thuộc vào bất cứ gì nơi tham đắm, cũng không bám víu vào bất cứ gì trong cuộc đời. Người hành giả quán niệm về cảm thọ nơi cảm thọ là như vậy, thưa các vị.
Nầy các vị, người hành giả an trú trong sự quán niệm về tâm thức nơi tâm thức như thế nào?
Khi tâm thức có tham dục, người hành giả ý thức là tâm thức mình có tham dục. Khi tâm thức không có tham dục, người hành giả ý thức là tâm thức mình không có tham dục.
Khi tâm thức có sân hận, người hành giả ý thức là tâm thức mình có sân hận. Khi tâm thức không có sân hận, người hành giả ý thức là tâm thức mình không có sân hận.
Khi tâm thức có si mê, người hành giả ý thức là tâm thức mình có si mê. Khi tâm thức không có si mê, người hành giả ý thức là tâm thức mình không có si mê.
Khi tâm thức có thu nhiếp, người hành giả ý thức là tâm thức mình có thu nhiếp. Khi tâm thức có tán loạn, người hành giả ý thức là tâm thức mình có tán loạn.
Khi tâm thức trở thành rộng lớn, người hành giả ý thức là tâm thức mình trở thành rộng lớn. Khi tâm thức trở thành hạn hẹp, người hành giả ý thức là tâm thức mình trở thành hạn hẹp.
Khi tâm thức đạt đến trạng thái cao nhất, người hành giả ý thức là tâm thức mình đạt đến trạng thái cao nhất. Khi tâm thức không đạt đến trạng thái cao nhất, người hành giả ý thức là tâm thức mình không đạt đến trạng thái cao nhất.
Khi tâm thức có định, người hành giả ý thức là tâm thức mình có định. Khi tâm thức không có định, người hành giả ý thức là tâm thức mình không có định.
Khi tâm thức có giải thoát, người hành giả ý thức là tâm thức mình có giải thoát. Khi tâm thức không có giải thoát, người hành giả ý thức là tâm thức mình không có giải thoát.
Và như thế, người hành giả an trú trong sự quán niệm về tâm thức nơi tâm thức, hoặc bên trong, hoặc bên ngoài, hoặc bên trong và bên ngoài tâm thức. Người ấy an trú trong sự quán niệm về quá trình sinh khởi, hoặc quá trình hủy diệt, hoặc quá trình sinh khởi và quá trình hủy diệt nơi tâm thức. Hoặc người ấy quán niệm rằng: “có tâm thức đây”, như thế đủ để phát khởi sự quán chiếu và ý thức về tâm thức. Người ấy không lệ thuộc vào bất cứ gì nơi tham đắm, cũng không bám víu vào bất cứ gì trong cuộc đời. Người hành giả quán niệm về tâm thức nơi tâm thức là như vậy, thưa các vị.
Nầy các vị, người hành giả an trú trong sự quán niệm về đối tượng của tâm thức nơi đối tượng của tâm thức như thế nào?
Trước hết, người hành giả quán niệm về năm hiện tượng ngăn che như đối tượng của tâm thức nơi đối tượng của tâm thức. Quán niệm bằng cách nào?
Khi có một niệm ái dục, người hành giả ý thức mình có một niệm ái dục. Khi không có một niệm ái dục, người hành giả ý thức mình không có một niệm ái dục.
Khi một niệm ái dục chưa phát sanh, nay bắt đầu phát sanh, người hành giả ý thức được sự sanh khởi ấy. Khi một niệm ái dục đã phát sanh, đang được khử diệt, người hành giả ý thức được sự khử diệt ấy. Khi một niệm ái dục đã được khử diệt và không còn phát khởi lại nữa, người hành giả cũng ý thức được về điều đó.
Khi có một niệm sân hận, người hành giả ý thức mình có một niệm sân hận. Khi không có một niệm sân hận, người hành giả ý thức mình không có một niệm sân hận.
Khi một niệm sân hận chưa phát sanh, nay bắt đầu phát sanh, người hành giả ý thức được sự sanh khởi ấy. Khi một niệm sân hận đã phát sanh, đang được khử diệt, người hành giả ý thức được sự khử diệt ấy. Khi một niệm sân hận đã được khử diệt và không còn phát khởi lại nữa, người hành giả cũng ý thức được về điều đó.
Khi có sự mê muội và buồn ngủ, người hành giả ý thức mình có sự mê muội và buồn ngủ. Khi không có sự mê muội và buồn ngủ, người hành giả ý thức mình không có sự mê muội và buồn ngủ.
Khi sự mê muội và buồn ngủ chưa phát sanh, nay bắt đầu phát sanh, người hành giả ý thức được sự sanh khởi ấy. Khi sự mê muội và buồn ngủ đã phát sanh, đang được khử diệt, người hành giả ý thức được sự khử diệt ấy. Khi sự mê muội và buồn ngủ đã được khử diệt và không còn phát khởi lại nữa, người hành giả cũng ý thức được về điều đó.
Khi có sự giao động bất an và hối hận, người hành giả ý thức mình đang có sự giao động bất an và hối hận. Khi không có sự giao động bất an và hối hận, người hành giả ý thức mình không có sự giao động bất an và hối hận.
Khi sự giao động bất an và hối hận chưa phát sanh, nay bắt đầu phát sanh, người hành giả ý thức được sự sanh khởi ấy. Khi sự giao động bất an và hối hận đã phát sanh, đang được khử diệt, người hành giả ý thức được sự khử diệt ấy. Khi sự giao động bất an và hối hận đã được khử diệt và không còn phát khởi lại nữa, người hành giả cũng ý thức được về điều đó.
Khi có sự nghi ngờ, người hành giả ý thức mình đang có sự nghi ngờ. Khi không có sự nghi ngờ, người hành giả ý thức mình không có sự nghi ngờ.
Khi sự nghi ngờ chưa phát sanh, nay bắt đầu phát sanh, người hành giả ý thức được sự sanh khởi ấy. Khi sự nghi ngờ đã phát sanh, đang được khử diệt, người hành giả ý thức được sự khử diệt đó. Khi sự nghi ngờ đã được khử diệt và không còn phát khởi lại nữa, người hành giả cũng ý thức được về điều đó.
Và như thế, người hành giả an trú trong sự quán niệm về đối tượng của tâm thức nơi đối tượng của tâm thức, hoặc bên trong, hoặc bên ngoài, hoặc bên trong và bên ngoài đối tượng của tâm thức. Người ấy an trú trong sự quán niệm về quá trình sinh khởi, hoặc quá trình hủy diệt, hoặc quá trình sinh khởi và quá trình hủy diệt nơi đối tượng của tâm thức. Hoặc người ấy quán niệm rằng: “có đối tượng của tâm thức đây”, như thế đủ để phát khởi sự quán chiếu và ý thức về đối tượng của tâm thức. Người ấy không lệ thuộc vào bất cứ gì nơi tham đắm, cũng không bám víu vào bất cứ gì trong cuộc đời. Người hành giả quán niệm về năm hiện tượng ngăn che như đối tượng của tâm thức nơi đối tượng của tâm thức là như vậy, thưa các vị.
Tiếp đó, người hành giả quán niệm về sự bám víu vào năm uẩn như đối tượng của tâm thức nơi đối tượng của tâm thức. Quán niệm bằng cách nào?
Người hành giả quán niệm như sau:
“đây là hình sắc, đây là sự phát sinh của hình sắc, đây là sự hủy diệt của hình sắc”.
“đây là cảm thọ, đây là sự phát sinh của cảm thọ, đây là sự hủy diệt của cảm thọ”.
“đây là tri giác, đây là sự phát sinh của tri giác, đây là sự hủy diệt của tri giác”.
“đây là sự vận hành tâm tư, đây là sự phát sinh của sự vận hành tâm tư, đây là sự hủy diệt của sự vận hành tâm tư”.
“đây là ý thức phân biệt, đây là sự phát sinh của ý thức phân biệt, đây là sự hủy diệt của ý thức phân biệt”.
Và như thế, người hành giả an trú trong sự quán niệm về đối tượng của tâm thức nơi đối tượng của tâm thức, hoặc bên trong, hoặc bên ngoài, hoặc bên trong và bên ngoài đối tượng của tâm thức. Người ấy an trú trong sự quán niệm về quá trình sinh khởi, hoặc quá trình hủy diệt, hoặc quá trình sinh khởi và quá trình hủy diệt nơi đối tượng của tâm thức. Hoặc người ấy quán niệm rằng: “có đối tượng của tâm thức đây”, như thế đủ để phát khởi sự quán chiếu và ý thức về đối tượng của tâm thức. Người ấy không lệ thuộc vào bất cứ gì nơi tham đắm, cũng không bám víu vào bất cứ gì trong cuộc đời. Người hành giả quán niệm về sự bám víu vào năm uẩn như đối tượng của tâm thức nơi đối tượng của tâm thức là như vậy, thưa các vị.
Tiếp đó, người hành giả quán niệm về sáu giác quan và sáu đối tượng của giác quan như đối tượng của tâm thức nơi đối tượng của tâm thức. Quán niệm bằng cách nào?
Người hành giả ý thức về mắt, ý thức về đối tượng của mắt là hình sắc, ý thức về những ràng buộc tạo nên do mắt và hình sắc. Người ấy ý thức về những ràng buộc chưa phát sanh, nay đang phát sanh, về những ràng buộc đã phát sanh, nay đang được khử diệt, về những ràng buộc đã được khử diệt và không còn phát khởi lại nữa.
Người hành giả ý thức về tai, ý thức về đối tượng của tai là âm thanh, ý thức về những ràng buộc tạo nên do tai và âm thanh. Người ấy ý thức về những ràng buộc chưa phát sanh, nay đang phát sanh, về những ràng buộc đã phát sanh, nay đang được khử diệt, về những ràng buộc đã được khử diệt và không còn phát khởi lại nữa.
Người hành giả ý thức về mũi, ý thức về đối tượng của mũi là mùi hương, ý thức về những ràng buộc tạo nên do mũi và mùi hương. Người ấy ý thức về những ràng buộc chưa phát sanh, nay đang phát sanh, về những ràng buộc đã phát sanh, nay đang được khử diệt, về những ràng buộc đã được khử diệt và không còn phát khởi lại nữa.
Người hành giả ý thức về lưỡi, ý thức về đối tượng của lưỡi là vị nếm, ý thức về những ràng buộc tạo nên do lưỡi và vị nếm. Người ấy ý thức về những ràng buộc chưa phát sanh, nay đang phát sanh, về những ràng buộc đã phát sanh, nay đang được khử diệt, về những ràng buộc đã được khử diệt và không còn phát khởi lại nữa.
Người hành giả ý thức về thân, ý thức về đối tượng của thân là sự xúc chạm, ý thức về những ràng buộc tạo nên do thân và sự xúc chạm. Người ấy ý thức về những ràng buộc chưa phát sanh, nay đang phát sanh, về những ràng buộc đã phát sanh, nay đang được khử diệt, về những ràng buộc đã được khử diệt và không còn phát khởi lại nữa.
Người hành giả ý thức về tâm ý, ý thức về đối tượng của tâm ý là tư tưởng, ý thức về những ràng buộc tạo nên do tâm ý và tư tưởng. Người ấy ý thức về những ràng buộc chưa phát sanh, nay đang phát sanh, về những ràng buộc đã phát sanh, nay đang được khử diệt, về những ràng buộc đã được khử diệt và không còn phát khởi lại nữa.
Và như thế, người hành giả an trú trong sự quán niệm về đối tượng của tâm thức nơi đối tượng của tâm thức, hoặc bên trong, hoặc bên ngoài, hoặc bên trong và bên ngoài đối tượng của tâm thức. Người ấy an trú trong sự quán niệm về quá trình sinh khởi, hoặc quá trình hủy diệt, hoặc quá trình sinh khởi và quá trình hủy diệt nơi đối tượng của tâm thức. Hoặc người ấy quán niệm rằng: “có đối tượng của tâm thức đây”, như thế đủ để phát khởi sự quán chiếu và ý thức về đối tượng của tâm thức. Người ấy không lệ thuộc vào bất cứ gì nơi tham đắm, cũng không bám víu vào bất cứ gì trong cuộc đời. Người hành giả quán niệm về sáu giác quan và sáu đối tượng của giác quan như đối tượng của tâm thức nơi đối tượng của tâm thức là như vậy, thưa các vị.
Tiếp đó, người hành giả quán niệm về bảy yếu tố của sự giác ngộ như đối tượng của tâm thức nơi đối tượng của tâm thức. Quán niệm bằng cách nào?
Khi có yếu tố chánh niệm, người hành giả ý thức là mình đang có chánh niệm. Người ấy quán niệm rằng: “tâm mình đang có chánh niệm”. Khi không có chánh niệm, người hành giả ý thức là mình không có chánh niệm. Người ấy ý thức về chánh niệm chưa phát sanh, nay đang phát sanh, về chánh niệm đã phát sanh, nay đang thành tựu.
Khi có yếu tố trạch pháp, người hành giả ý thức là mình đang có sự quyết trạch về các pháp. Người ấy quán niệm rằng: “tâm mình đang có sự quyết trạch về các pháp”. Khi không có sự quyết trạch về các pháp, người hành giả ý thức là mình không có sự quyết trạch về các pháp. Người ấy ý thức sự quyết trạch về các pháp chưa phát sanh, nay đang phát sanh, về sự quyết trạch về các pháp đã phát sanh, nay đang thành tựu.
Khi có yếu tố tinh tấn, người hành giả ý thức là mình đang có sự tinh tấn. Người ấy quán niệm rằng: “tâm mình đang có sự tinh tấn”. Khi không có sự tinh tấn, người hành giả ý thức là mình không có sự tinh tấn. Người ấy ý thức về sự tinh tấn chưa phát sanh, nay đang phát sanh, về sự tinh tấn đã phát sanh, nay đang thành tựu.
Khi có yếu tố hoan hỷ, người hành giả ý thức là mình đang có sự hoan hỷ. Người ấy quán niệm rằng: “tâm mình đang có sự hoan hỷ”. Khi không có sự hoan hỷ, người hành giả ý thức là mình không có sự hoan hỷ. Người ấy ý thức về sự hoan hỷ chưa phát sanh, nay đang phát sanh, về sự hoan hỷ đã phát sanh, nay đang thành tựu.
Khi có yếu tố khinh an, người hành giả ý thức là mình đang có sự khinh an. Người ấy quán niệm rằng: “tâm mình đang có sự khinh an”. Khi không có sự khinh an, người hành giả ý thức là mình không có sự khinh an. Người ấy ý thức về sự khinh an chưa phát sanh, nay đang phát sanh, về sự khinh an đã phát sanh, nay đang thành tựu.
Khi có yếu tố định, người hành giả ý thức là mình đang có định. Người ấy quán niệm rằng: “tâm mình đang có định”. Khi không có định, người hành giả ý thức là mình không có định. Người ấy ý thức về sự định tâm chưa phát sanh, nay đang phát sanh, về sự định tâm đã phát sanh, nay đang thành tựu.
Khi có yếu tố buông xả, người hành giả ý thức là mình có buông xả. Người ấy quán niệm rằng: “tâm mình có buông xả”. Khi không có buông xả, người hành giả ý thức là mình không có buông xả. Người ấy ý thức về sự buông xả chưa phát sanh, nay đang phát sanh, về sự buông xả đã phát sanh, nay đang thành tựu.
Và như thế, người hành giả an trú trong sự quán niệm về đối tượng của tâm thức nơi đối tượng của tâm thức, hoặc bên trong, hoặc bên ngoài, hoặc bên trong và bên ngoài đối tượng của tâm thức. Người ấy an trú trong sự quán niệm về quá trình sinh khởi, hoặc quá trình hủy diệt, hoặc quá trình sinh khởi và quá trình hủy diệt nơi đối tượng của tâm thức. Hoặc người ấy quán niệm rằng: “có đối tượng của tâm thức đây”, như thế đủ để phát khởi sự quán chiếu và ý thức về đối tượng của tâm thức. Người ấy không lệ thuộc vào bất cứ gì nơi tham đắm, cũng không bám víu vào bất cứ gì trong cuộc đời. Người hành giả quán niệm về bảy yếu tố của sự giác ngộ như đối tượng của tâm thức nơi đối tượng của tâm thức là như vậy, thưa các vị.
Tiếp đó, người hành giả quán niệm về bốn sự thật cao quý như đối tượng của tâm thức nơi đối tượng của tâm thức. Quán niệm bằng cách nào?
Khi sự kiện là đau khổ, người hành giả quán niệm: “đây là đau khổ”. Khi sự kiện là nguyên nhân đưa đến đau khổ, người hành giả quán niệm: “đây là nguyên nhân đưa đến đau khổ”. Khi sự kiện là sự chấm dứt đau khổ, người hành giả quán niệm: “đây là sự chấm dứt đau khổ”. Khi sự kiện là con đường đưa đến sự chấm dứt đau khổ, người hành giả quán niệm: “đây là con đường đưa đến sự chấm dứt đau khổ”.
Và như thế, người hành giả an trú trong sự quán niệm về đối tượng của tâm thức nơi đối tượng của tâm thức, hoặc bên trong, hoặc bên ngoài, hoặc bên trong và bên ngoài đối tượng của tâm thức. Người ấy an trú trong sự quán niệm về quá trình sinh khởi, hoặc quá trình hủy diệt, hoặc quá trình sinh khởi và quá trình hủy diệt nơi đối tượng của tâm thức. Hoặc người ấy quán niệm rằng: “có đối tượng của tâm thức đây”, như thế đủ để phát khởi sự quán chiếu và ý thức về đối tượng của tâm thức. Người ấy không lệ thuộc vào bất cứ gì nơi tham đắm, cũng không bám víu vào bất cứ gì trong cuộc đời. Người hành giả quán niệm về bốn sự thật cao quý như đối tượng của tâm thức nơi đối tượng của tâm thức là như vậy, thưa các vị.
Nầy các vị, người hành giả nào thực hành được bốn lãnh vực quán niệm trên trong bảy năm, người ấy có thể đạt được quả vị chánh trí ngay nơi đây và trong kiếp này. Hoặc nếu còn dư báo thì cũng sẽ đạt được quả vị không còn trở lại.
Nầy các vị, đừng nói gì đến bảy năm. Người nào thực hành được bốn lãnh vực quán niệm trên trong sáu năm, năm năm, bốn năm, ba năm, hai năm, hoặc một năm, người ấy cũng có thể có khả năng đạt được quả vị chánh trí ngay nơi đây và trong kiếp này. Hoặc nếu còn dư báo thì cũng sẽ đạt được quả vị không còn trở lại.
Nầy các vị, đừng nói gì đến một năm. Người nào thực hành được bốn lãnh vực quán niệm trên trong bảy tháng, sáu tháng, năm tháng, bốn tháng, ba tháng, hai tháng, một tháng, hoặc nửa tháng, người ấy cũng có thể có khả năng đạt được quả vị chánh trí ngay nơi đây và trong kiếp nầy. Hoặc nếu còn dư báo thì cũng sẽ đạt được quả vị không còn trở lại.
Nầy các vị, đừng nói gì đến nửa tháng. Người nào thực hành được bốn lãnh vực quán niệm trên trong một tuần, người ấy cũng có thể có khả năng đạt được quả vị chánh trí ngay nơi đây và trong kiếp nầy. Hoặc nếu còn dư báo thì cũng sẽ đạt được quả vị không còn trở lại.
Đó là lý do tại sao mà tôi đã nói: “đây là con đường duy nhất để thanh tịnh thân tâm, vượt thắng phiền não, diệt trừ ưu khổ, đạt tới chánh đạo và chứng nhập niết bàn - đó là con đường của bốn lãnh vực quán niệm”.
Đức Phật đã nói như vậy. Các vị hành giả hoan hỷ ghi nhận và thực tập theo lời Ngài.
- source: four foundations of mindfulness, Trường Đinh dịch thuật
KINH BẢY CÁCH TU
I. ĐẠI Ý KINH
Đức Phật giới thiệu bảy phương pháp diệt trừ tận gốc rễ của lậu hoặc, phiền não. Tuỳ theo căn tánh, hành giả chọn lựa cho mình phương pháp thích hợp nhất để giải phóng tất cả trói buộc, sống an lành và hạnh phúc, ngay bây giờ và tại đây.
II. NỘI DUNG KINH
Đối tượng thính chúng được đức Phật giảng dạy phương pháp diệt trừ lậu hoặc là “người biết và người thấy.”
Hai loại tác ý: Tác ý là nền tảng nhận thức, theo đó, lậu hoặc sinh khởi hay bị đoạn diệt. Do không như lý tác ý, các lậu hoặc chưa sanh được sanh khởi và các lậu hoặc đã sanh được tăng trưởng. Do như lý tác ý, các lậu hoặc chưa sanh không sanh khởi và các lậu hoặc đã sanh được trừ diệt.
1) Trừ diệt lậu hoặc bằng tri kiến:
Phàm phu do không tuệ tri nên tác ý các pháp không cần phải tác ý và không tác ý các pháp cần phải tác ý.
Không cần tác ý mà lại tác ý: do vậy 3 lậu (dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu) chưa sanh được sanh khởi, hay đã sanh được tăng trưởng.
Tác ý các pháp cần tác ý: nhờ đó, 3 lậu (dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu) chưa sanh không sanh khởi, hay đã sanh được trừ diệt.
Không như lý tác ý về quá khứ: "Ta có mặt hay không? Ta có mặt như thế nào? Ta có mặt với hình vóc như thế nào?
Không như lý tác ý về vị lai: "Ta có mặt hay không? Ta có mặt như thế nào? Ta có mặt với hình vóc như thế nào?”
Không như lý tác ý về hiện tại: "Ta có mặt hay không? Ta có mặt như thế nào? Ta có mặt với hình vóc như thế nào? Chúng sanh từ đâu đến? Và rồi nó sẽ đi đâu?”
Hậu quả của không như lý tác ý: sáu tà kiến (còn gọi kiến trù lâm, kiến hoang vu, kiến hý luận, kiến tranh chấp, kiến kiết phược) xuất hiện: 1) Ta có tự ngã", 2) Ta không có tự ngã, 3) Do tự mình, ta tưởng tri ta có tự ngã, 4) Do tự mình, ta tưởng tri ta không có tự ngã, 5) Không do tự mình, ta tưởng tri ta có tự ngã, 6) Chính tự ngã của ta nói, cảm giác, hưởng thọ quả báo các nghiệp thiện ác đã làm chỗ này, chỗ kia, chính tự ngã ấy của ta là thường trú, thường hằng, hằng tồn, không chuyển biến, và sẽ vĩnh viễn tồn tại.
Do bị tà kiến trói buộc, phàm phu không được giải thoát khỏi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não.
Nhờ như lý tác ý: "Đây là khổ," "Đây là khổ tập," "Đây là khổ diệt," "Đây là con đường đưa đến khổ diệt," ba kiết sử là thân kiến, nghi, giới cấm thủ được trừ diệt. Đây gọi là các lậu hoặc phải do tri kiến được đoạn trừ.
2) Trừ diệt lậu hoặc bằng phòng hộ: Với như lý giác sát, người trí sống phòng hộ mắt, tai, mủi, lưởi, thân và ý; nhờ đó, các lậu hoặc được diệt trừ và nhiệt não không còn.
3) Trừ diệt lậu hoặc bằng thọ dụng:
a) Y phục để che đậy sự trần truồng, ngăn ngừa lạnh, nóng, ruồi, muỗi, gió, sức nóng mặt trời, các loài bò sát.
b) Thực phẩm không phải để hưởng thụ, thoã mãn, tự làm đẹp thân, mà chỉ để thân được sống lâu và sống khoẻ, hỗ trợ con đường tu tập, nhờ đó diệt trừ các cảm thọ cũ và không cho khởi lên các cảm thọ mới, không còn lỗi lầm, sống được an ổn.
c) Sàng toạ chỉ với mục đích sống độc cư an tịnh.
d) Dược phẩm để trị bệnh, ngăn chận các cảm giác khổ đã sanh, để được ly khổ hoàn toàn.
4) Trừ diệt lậu hoặc bằng kham nhẫn:
a) Kham nhẫn khí hậu và thời tiết: lạnh, nóng.
b) Kham nhẫn thực phẩm: đói, khát.
c) Kham nhẫn ngoại duyên: sự xúc phạm của ruồi, muỗi, gió, sức nóng mặt trời, các loài bò sát.
d) Kham nhẫn thị phi: kham nhẫn những cách nói mạ lỵ, phỉ báng.
e) Kham nhẫn cảm thọ khổ của thân (thống khổ, khốc liệt, đau nhói, nhức nhối, không sung sướng, không thích thú, chết điếng người).
5) Trừ diệt lậu hoặc bằng tránh né:
a) Tránh né thú dữ: voi, ngựa, cọp, rắn, chó sói v.v...
b) Tránh né ngoại cảnh: khúc cây, gai góc, hố sâu, vực núi, ao nước nhớp, vũng nước.
c) Tránh né nơi chốn: những trú xứ không nên lai vãng, những chỗ ngồi không đáng ngồi.
d) Tránh né người bất thiện: bạn bè hay người ác độc nếu giao du thì bị người trí nghi ngờ, khinh thường.
6) Trừ diệt lậu hoặc bằng trừ diệt:
a) Dục niệm: tư duy, ý niệm hướng về dục, ước muốn thoã mãn dục tính, lệ thuộc dục vọng; xem khoái lạc giác quan là cứu cánh của cuộc sống.
b) Sân niệm: tư duy, ý niệm hay khuynh hướng bực tức, giận dữ, chống đối đối tượng, thể hiện qua lời tục tĩu, thô bạo, thiếu ái ngữ; qua hành động nóng nải và các biểu hiện nôn nóng.
c) Hại niệm: tư duy, ý niệm hay khuynh hướng tiêu diệt, cản phá đối tượng không thích; hãm hại, trù dập, ức hiếp người khác.
d) Bất thiện, đã khởi lên, đang hiện hữu hay sẽ có mặt; không để chúng tồn tại lâu dài trong ý nghĩ và việc làm.
7) Trừ diệt lậu hoặc bằng tu tập (bhāvanā):
Ngoài hỗ trợ bằng phương pháp đoạn trừ lậu hoặc trên nền tảng ngăn ngừa các tâm lý dục, sân, hại và các pháp bất thiện, hành giả còn phải vận dụng 7 yếu tố giác ngộ: a) chánh niệm, b) trạch pháp, c) tinh tấn, d) hoan hỷ, e) khinh an, f) định tĩnh, g) xả ly, hướng đến viễn ly, ly tham và giải thoát.
Bệnh Nào Thuốc Nấy: những lậu hoặc nào phải do tri kiến được đoạn trừ đã được tri kiến đoạn trừ, những lậu hoặc nào phải do phòng hộ được đoạn trừ đã được phòng hộ đoạn trừ, những lậu hoặc nào phải do thọ dụng dược đoạn trừ đã được thọ dụng đoạn trừ, những lậu hoặc nào phải do kham nhẫn được đoạn trừ đã được kham nhẫn đoạn trừ, những lậu hoặc nào phải do tránh né được đoạn trừ đã được tránh né đoạn trừ, những lậu hoặc nào phải do trừ diệt được đoạn trừ đã được trừ diệt đoạn trừ, những lậu hoặc nào phải do tu tập được đoạn trừ đã được tu tập đoạn trừ. Nhờ đó, con người được sống trong phòng hộ tất cả lậu hoặc, đã đoạn diệt khát ái, đã thoát ly kiết sử, đã chánh quán kiêu mạn, đã diệt tận khổ đau.
III. CHÚ THÍCH THUẬT NGỮ
Lậu hoặc (P. āsava, S. āsrava): sự ô nhiễm, mê lầm (hoặc) hay rỉ chảy (lậu) của tâm, có khả năng làm chúng sanh rơi rớt (lậu) trong sanh tử luân hồi. Có ba loại lậu hoặc: a) dục lậu (kāmāsava): sự ô nhiễm do tham đắm khoái lạc giác quan; b) hữu lậu (bhavāsava): sự ô nhiễm do tham đắm tái sanh ở thế giới sắc thể và thế giới vô sắc thể; c) kiến lậu (diṭṭhāsava): sự ô nhiễm do chấp thủ vào quan điểm sai lầm, hay do thiếu tuệ giác về bốn chân lý thánh.
Như lý tác ý (yoniso manasikāraṃ) thường được dịch trong tiếng Anh là “thích hợp để chú ý” (fit for attention) hay “sự chú ý không ngoan” (wise attention), “sự phản ánh thông thái” (wise reflection), hay “sự chú tâm có lý trí” (rational attention) vốn không phản ánh đúng được thật chất của thái độ nhận thức này. Như lý tác ý là cách viết theo cấu trúc Hán Việt, thay vì phải gọi là “tác ý như lý” là cách dụng tâm hay nhận thức phù hợp với “đạo” hay nguyên lý vận hành của mọi sự vật hiện tượng. Đây là cách thức đặt tâm vào quỷ đạo chân lý, phản ánh loại nhận thức sự kiện phù hợp với luật duyên khởi, luật nhân quả đang diễn ra hay tương thích với bản chất của sự vật hiện tượng đang diễn ra xung quanh ta.
Không như lý tác ý (ayoniso manasikāraṃ) hay còn gọi là “tác ý không như lý” tức là cách dụng tâm hay nhận thức không phù hợp với “đạo”, hay nhận thức trái ngược lại với chân lý hay nguyên lý vận hành của mọi sự vật hiện tượng. Chẳng hạn, nhận thức “thường còn” trong vô thường; nhận thức có một bản ngã bất biến trong các sự vật không thực thể; nhận thức hạnh phúc trong khi sự kiện diễn ra là khổ đau.
Sáu giác quan: mắt, tai, mủi, lưởi, thân và ý là các cơ năng nhận thức trên cơ sở tưởng tri và ý niệm hoá.
Bảy giác tri: bảy yếu tố giúp cho hành giả đạt được sự giác ngộ: chánh niệm, trạch pháp, tinh tấn, hoan hỉ, khinh an, thiền định và buông xả.
Tà kiến (micchādiṭṭhi): quan niệm hay nhận thức không dựa trên lý duyên khởi, lý nhân quả, lý vô thường và lý vô ngã.
Kiến trù lâm (diṭṭhigaharam): tà kiến như rừng rậm; đây là quan niệm hay nhận thức sai lầm trói buộc con người như rừng cây làm cho người lạc lối bị mê hồn trận, không biết lối ra.
Kiến hoang vu (diṭṭhiṭhikantāram) tà kiến như bình nguyên hoang dã, làm người tu tập hành mất định hướng trên con đường đạo.
Kiến hý luận (diṭṭhivisūkam): tà kiến là nhận thức sai lầm, trói buộc con người trong các lý luận quanh co, vô ích cho đạo đức và nhận thức.
Kiến tranh chấp (diṭṭhivipphanditam): tà kiến trói buộc con người trong sự bảo thủ quan điểm của mình như chân lý, phủ định xung đột với các quan điểm khác, là đầu mối của chấp trước, tranh giành và đấu tranh.
Kiến kiết phược (diṭṭhisamyojanam): tà kiến trói buộc con người, làm cho con người không thể vùng vẫy nổi, sai sử con người trong khổ đau và luân hồi.
IV. NHẬN XÉT
Khái niệm “tưởng tri” và “thắng tri” được kinh này thay thế bằng hai khái niệm “tác ý không như lý” và “tác ý như lý.” Khi dụng tâm chân chánh thì đó là tác ý như lý. Đây cũng chính là “chánh kiến” tức cái nhìn đúng với bản chất của sự vật. Khi dụng tâm không chân chánh thì đó là “tác ý không như lý” và đây chính là tà kiến. Bài kinh này dạy chúng ta cách thức tác ý dụng tâm để mang lại giá trị hạnh phúc và an vui. Tất cả các nhận thức không theo quỹ đạo đó cần phải được loại trừ.
Nhận thức trong Kinh này được xem là đầu mối của khổ đau hoặc hạnh phúc, sinh tử hoặc giải thoát. Vấn đề không nằm ở đối tượng được nhận thức, mà nằm ở xu hướng của nhận thức. Nếu nhận thức đúng với chân lý thì đó là thắng tri của bậc thánh, vượt thoát khỏi mọi hệ luỵ. Ngược lại, nếu nhận thức không phù hợp với chân lý thì đó là tưởng tri, dấy khởi các tâm lý tham lam, sân hận, si mê, lôi kéo con người vào từ trừng của sinh tử.
Đối tượng tu tập của kinh này là phiền não lậu hoặc, những tâm lý âm tính, trói buộc chúng sanh trong khổ đau. Phương pháp tu tập trong Kinh này khởi đi bằng nhận thức “như lý tác ý” để thành tựu được đời sống đạo đức thanh tịnh. Nói cách khác, để có được hạnh phúc khỏi những đau khổ, hành giả phải điều chỉnh nhận thức và sự tác ý về đối tượng nhận thức.
Nếu các Kinh khác nhấn mạnh đến gốc rễ của lậu hoặc chính là các tâm lý tham, sân và si thì Kinh này đề cập đến cách thức nhận thức không đúng với chân lý tạo nên gốc rễ của phiền não, lậu hoặc. Điểm đặc biệt của Kinh này là đề cập đến 7 góc độ góp phần tạo ra lậu hoặc: nhận thức sai lầm, thiếu sự phòng hộ các giác quan, thọ dụng để thoã mãn các dục, thiếu kham nhẫn, không biết tránh né những thứ cần tránh né, không đoạn trừ các bất thiện pháp, và không tu tập các yếu tố dẫn đến sự giác ngộ. Con đường giải thoát hay con đường chế ngự lậu hoặc được khởi đi bằng nhận thức chân chánh và phát huy các đức tính đối lập với các cá tính vừa nêu.
Bài kinh này đề cập đến “như lý tác ý” như nhận thức chánh kiến, giúp con người dập tắt khổ đau. Qua đó, chúng ta thấy rằng trí tuệ đóng vai trò quan trọng trong Phật giáo. Nơi nào có trí tuệ nơi đó có hạnh phúc. Mấu chốc của con đường tu tập trong Kinh này chính là đoạn trừ lậu hoặc bằng các từ bỏ thái độ chấp thủ quan điểm. Khi thái độ chấp thủ không còn, lề lối nhận thức theo truyền thống hay theo kinh nghiệm hữu ngã không còn chỗ đứng. Nhờ đó, các tác ý hưởng dục, tác ý giận dữ, tác ý sát hại, tác ý bất thiện hoàn toàn vắng mặt. Sự giác ngộ theo đó được trưởng thành.
VI. CÂU HỎI THẢO LUẬN
1. Tại sao Kinh không đề cập sáu hay tám, mà chỉ có bảy phương pháp tu tập diệt trừ lậu hoặc. Số bảy trong Kinh này là con số biểu tượng hay mang một ý nghĩa nào khác?
2. Ngoài bảy cách thức tu tập trong Kinh, quý vị có phát kiến ra cách thức nào khác không mà vẫn có hiệu quả trong việc diệt trừ các lậu hoặc cá nhân ?
3. Theo bạn, các phương pháp tu tập trong Kinh này có giá trị tuyệt đối cho tất cả đối tượng khác nhau trong nhiều trường hợp khác nhau, hay chỉ áp dụng cho từng trừng hợp và từng đối tượng cụ thể ?
4. Theo bạn, cái gì làm cho bạn khổ đau nhất trong đời. Nếu bạn phải giáp mặt với khổ đau đó một lần nữa thì bạn chọn phương pháp nào trong bảy cách thức tu tập trong kinh này để giải quyết khổ đau đó?
5. Trong bảy phương pháp tu tập trong Kinh này, bạn thích phương pháp nào nhất? Tại sao?
Kinh Bốn Niệm Xứ
I- Giới Thiệu
Bản kinh " Bốn Niệm Xứ " nầy rút ra từ Tương Ưng Bộ (Samyuttanikaya), tập V, trang 141. Tu thư Phật học Vạn Hạnh, năm 1982 đã ấn hành trọn bộ 5 quyển.
So với các kinh cũng nói về Bốn niệm xứ (Trường bộ kinh số 22, Trung bộ kinh số 10) thì bản kinh nầy ngắn và gọn hơn. Giới thiệu bản kinh nầy với đọc giả Hương Sen, chúng tôi muốn nói lên một sự thật: Bốn-niệm-xứ hoặc được trình bày chung trong 37 pháp trợ đạo (Bodhi pakkhiya dhamma) hay 8 chánh đạo (Ariya-magga), hoặc được trình bày riêng, như trong bản kinh nầy, là phương pháp tu dưỡng vừa căn bản vừa phổ biến -- căn bản vì do chính Phật tổ Thích Ca thuyết minh, phổ biến vì được tất cả bộ phái từ Thượng tọa bộ (Theravada) cho đến Thiền tông (Ch'an, Zen); trong khi đó phương pháp niệm A-Di-Đà cầu sanh Cực Lạc chỉ được một số thuộc Phật giáp phát triển ở Việt Nam, Trung Quốc, Nhật bản thực hành, phương pháp niệm Kinh Diệu Pháp Liên Hoa chỉ được một số thuộc tông phái Nhật liên (Nichiren) ở Nhật bản thực hành, phương pháp niệm thần chú (Mantra) Um-mani-padme-hum chỉ được một số theo Mật tông ở Tây tạng hay Bắc tông thực hành.
Phương pháp Bốn niệm xứ nầy được Phật tổ thuyết minh trong bốn điều quán niệm: 1) Quán niệm về thân thể, 2) Quán niệm về cảm thọ, 3) Quán niệm về tâm ý, và 4) Quán niệm về các pháp.
Phương pháp nầy giúp người tu thiền đạt được trí tuệ , thấy rõ sự thật: 1) nơi thân là "bất tịnh", 2) cảm thọ là " Khổ ", 3) tâm là " Vô thường ", và 4) pháp là "Vô ngã ", và do đó giải thoát tự tại đối với cuộc đời.
Phật tổ xem phương pháp Bốn niệm xứ nầy như là "con đường duy nhất khiến các loài hữu tình được thanh tịnh , chế ngự sầu bi, tiên trừ khổ ưu, thông ngộ chơn lý , chứng đạt Niết bàn."
Một khi chính Phật tổ đã minh xác đây là "con đường duy nhất đưa đến Niết bàn" thì Phật tử không cần mà cũng không nên phát minh con đường tắt dễ đi nào khác nếu muốn giác ngộ, giải thoát như Phật tổ.
II- Chánh Kinh
Tôi nghe như vầy.
Một thời Thế tôn ở tại Vesali [1] trong rừng Ambapali [2].
Tại đây, Thế tôn gọi các Tỳ kheo: "Này các Tỳ kheo!"
- "Bạch Thế tôn", các Tỳ kheo ấy đáp Thế tôn.
Rồi Thế tôn nói như sau:
- Này các Tỳ kheo, có con đường [3] khiến các loài hữu tình được thanh tịnh, chế ngự sầu bi, tiêu trừ khổ ưu, thông ngộ chân lý [5], chứng đạt Niết bàn [4]. Ấy là Bốn niệm xứ (Satipatthana) [6].
Những gì là bốn?
Các Tỳ kheo, ở đây, Tỳ kheo quán niệm [4] về thân thể [7], dũng mãnh, tỉnh giác, chánh niệm, điều phục tham ưu trong đời.
Này các Tỳ kheo, con đường duy nhất nầy khiến các loại hữu tình được thanh tịnh, chế ngự sầu bi, tiêu diệt khổ ưu, thông ngộ chơn lý, chứng đạt Niết bàn. Ấy là bốn niệm xứ.
Thế tôn thuyết giảng như vậy, các Tỳ kheo ấy hoan hỷ tín thọ lời Thế tôn dạy.
III- Chú Thích Sơ Lược
[1]. Vesali: nay là tỉnh Besarh, ở phía Bắc Ấn độ nhưng dân cư thưa thớt. Đại hội Phật giáo lần thứ hai sau khi Phật viên tịch được tổ chức tại đây để xét lại những điểm sai khác với giới luật.
[2]. Ambapali: một phụ nữ ăn chơi sau được Phật hóa và cúng rừng xoài cho Giáo hội. Phật thuyết Kinh Bốn Niệm xứ ở đó.
[3]. Con đường duy nhất (Ekayano-magga): Đạo Phật nguyên thủy không hề chia ra Tiểu thừa, Đại thừa, Tối thượng thừa. Chính Phật tuyên bố trong Kinh Chuyển Pháp Luân rằng do không ngộ bốn chơn lý cao cả mà Phật mới tự nhận là đã thành Phật.
Vì thế con đường duy nhất ở đây không có nghĩa cao thấp, so với các phương pháp tu dưỡng khác, mà là con đường đúng đắn dẫn đến Niết bàn. Về sau vì có sự cạnh tranh giữa các bộ phái nên những danh từ "Tiểu thừa, Đại thừa, Tối thượng thừa" mới được ra đời và áp dụng cho tới ngày nay.
[4]. Theo Kinh Đại Niệm Xứ (Maha Satipatthana) thì nếu tu dưỡng đúng theo phương pháp Bốn niệm xứ trong thời gian 7 năm hoặc 7 tháng người tu thiền có thể ngay trong hiện tại: 1) thành tựu chánh trí, 2) chứng quả Bất Hoàn (A-na-hàm - Anagami), và sau khi chết sanh về Tịnh độ (Suddhavasa) và ở đó thì chứng được Niết bàn.
[5]. Thông ngộ Chơn lý ở đây chỉ cho sự hiểu biết và thực hành đúng theo chánh đạo.
[6]. Bốn niệm xứ (Satipatthana): Bốn phương thức áp dụng chánh niệm hay quán niệm.
[7]. Quán niệm về thân thể hay thân trên thân nghĩa là quán niệm: hơi thở, động tác, thành phần vật chất nơi thân, phân tích bốn yếu tố (tứ đại) nơi thân, phân tích bốn yếu tố (tứ đại) nơi thân, quán niệm thân thể nơi bãi tha ma.
[8]. Quán niệm về cảm thọ hay thọ trên các cảm thọ nghĩa là quán niệm cảm thọ vui, không vui, trung tính nơi thân và tâm.
[9]. Quán niệm về tâm ý hay tâm trên tâm nghĩa là quán niệm nơi tâm có hay không có Tham sân si...
[10]. Quán niệm về các pháp hay đối tượng tâm ý nghĩa là quán niệm sự có mặt hay không có mặt của 5 triền cái: ái dục, sân hận, thụy miên, trạo hối, nghi, và của 7 giác chi: niệm, trạch pháp, tinh tấn, hỷ, khinh an, định, xả, hay quán niệm theo bốn chơn lý cao cả.
KINH CHUẨN ÐỀ ÐÀ LA NI HỘI THÍCH
THẤT CÂU CHI PHẬT MẪU
SỞ THUYẾT ÐÀ LA NI KINH HỘI THÍCH
Ðời Thiên Trúc, Ngài Tam Tạng Pháp Sư Quảng Trí Bất Không phụng chiếu dịch Phạn ra Hán văn.
Thanh Việt Ðông, Ðảnh Hổ Sơn, Ngài Ca Môn Hoằng Tán phát Bồ Ðề tâm hội thích (gồm thâu các bộ mà giải thích).
Tỳ Khưu Thích Viên Ðức dịch Hán ra Việt.
Quyển Hạ
NÓI ÐẾN PHƯƠNG PHÁP HỌA TƯỢNG
PHẬT MẪU CHUẨN ÐỀ
(Cũng gọi là Tôn Na Bồ Tát)
Lấy vải lụa trắng tốt, lựa bỏ lông tóc, treo nơi vách tường thanh tịnh, trước lấy đàn hương thoa khắp, dùng ứ già ẩm thực, tùy sức cúng dường. Vị họa sư (họa sĩ) phải thọ bát quan trai giới thanh tịnh, vẽ tượng của Ngài sắc thái phải sáng suốt rực rỡ, các vật dụng và đồ đựng đều phải hoàn toàn mới, phải điều hòa các màu sắc, vẽ tượng Phật Mẫu Chuẩn Ðề, thân sắc vàng hay trắng, ngồi kiết già phu, ngồi trên hoa sen, thân có viền tròn hào quang mặc áo sa lụa mỏng, như áo Thập Ba la mật Bồ Tát, trên có hoa. Y dưới sắc trắng. Lại mỗi góc thiên y có quấn đan chuỗi ngọc anh lạc, đầu đội mão, tay cầm pháp loa, đeo vòng xuyến, ngón đàn và huệ đeo vòng ngọc báu (Hai ngón tay út).
GIẢI: Ðàn huệ tức hai ngón tay út.
Ngài Kim Cang Trí dịch: Các thứ trang nghiêm nơi thân lưng, dưới mặc y trắng, trên y có hoa. Lại thân mặc áo khinh la, tay áo thiên y rộng rãi, dây đeo quanh thân lưng màu sắc như ánh trời sáng sớm mai, cổ tay đeo vòng xuyến trắng lóng lánh như kim cương, trên mỗi mỗi tay có bảy báu trang nghiêm, mười tám tay đều có đeo vòng.
Mặt tượng Ngài có ba con mắt và mười tám tay, hai tay trên là ấn tướng thuyết pháp, bên hữu tay thứ hai là ấn thí vô úy, tay thứ ba cầm kiếm, tay thứ tư cầm bảo mạng (Xâu tràng hoa báu), tay thứ năm cầu câu duyên quả (tiếng Phạn nói vi nhã bố la ca quả). Trung Hoa dịch Tử mãn quả, (xứ Tây vức có, ở đây không có), tay thứ sáu cầm búa bén, tay thứ bảy cầm móc câu, tay thứ tám cầm Kim Cang xử, tay thứ chín cầm tràng chuỗi. (Ngài Kim Cang trí dịch: Tay thứ tư trì niệm châu (chuỗi), tay thứ 9 cầm bảo mạng, Pháp Hiền dịch: Tay thứ tư cầm bảo cái linh (chuông lắc) mà không có bảo mạng).
Bên tả tay thứ hai cầm như ý bảo tràng, tay thứ ba cầm hoa sen hồng vừa nở, tay thứ tư cầm bình quân trì (bình nước tắm), tay thức năm cầm dây quyến sách, tay thứ sáu cầm bánh xe pháp luân, tay thứ bảy cầm thương khư (con ốc, pháp loa), tay thứ tám cầm hiền bình (Tức cam lồ tịnh bình) tay thứ chín cầm kinh Bát Nhã Phạn.
Hai bên dưới hoa sen vẽ nước, trong nước có Nan Ðà Long Vương, Ô Ba Nan Ðà Long Vương, nâng đỡ hoa sen (Ngài Kim Cang Trí dịch: hai vị Long Vương chung phò đỡ cây hoa sen) bên tòa phía mặt vẽ người trì tụng, tay cầm lư hương chiêm ngưỡng Thánh Chuẩn Ðề Phật Mẫu xót thương người trì tụng, đôi mắt nhìn xuống, trên vẽ hai vị Tịnh Cư Thiên Tử, một gọi Cu Tố Ðà Thiên Tử tay cầm tràng hoa nương hư không bay đến rưới hoa cúng dường Thánh Chuẩn Ðề.
Tượng vẽ rồi, tùy sức Tăng thứ thỉnh bày vị Tăng cúng dường, thỉnh khai quang minh chú nguyện, tán thán. Nơi dưới tượng nên viết:
Pháp Nhân Duyên Khởi Kệ:
Chư pháp tùng duyên khởi,
Như Lai thuyết thị nhơn,
Bỉ pháp nhơn duyên tận,
Thị đại Sa Môn thuyết.
Nghĩa: Các pháp theo duyên khởi,
Như Lai nói là nhơn,
Pháp kia nhơn duyên hết,
Là đại Sa Môn nói.
Ðem tượng vào tịnh thất bí mật cúng dường, lấy lụa trắng phủ kín tượng lại, khi trì tụng mở ra chiêm lễ cúng dường, niệm tụng rồi phủ lụa kín lại, dè dặt không cho người thấy. Vì sao vậy? Theo sư Thọ Nghi Quỹ họa tượng pháp. Nếu chuyền cho người xem tượng, bị ma dòm ngó, nên cần phải bí mật.
GIẢI: Bạch diệp (lụa trắng) nếu không có người dệt tốt nhứt, cùng vải tốt Âu Tây giống nhau, dài ngắn rộng hẹp nên khéo dùng đó, như không có vải tơ, có thể lấy vải tốt Âu Mỹ thay thế cũng được, sắc phải trong sạch, không nên dùng keo da, phải dùng keo trắng thơm, nếu thứ này không có, nên dùng keo cây đào, hoặc lựa lấy trái bồ kết lớn tốt, bỏ vỏ thô ở trên, lấy chất trắng sạch bên trong làm keo, hoặc ma huỳnh đậu trắng, bạch cập dùng làm keo đều được.
Tăng thứ ấy, nghĩa là sợ không có tài lực, không thể tổng thỉnh chúng Tăng được…Bởi vì đức Như Lai không cho lựa thỉnh, cho nên tùy theo trong Tăng chúng, thứ đệ Tăng sai mà phó thỉnh.
PHỤ NGŨ HỐI KINH
(Nghi pháp sám ngũ hối)
Kinh dạy rằng: Mỗi khi vào đạo tràng, trước nên lễ Phật, sám hối, tùy hỷ, khuyến thỉnh, phát nguyện, rồi nên thọ Bồ đề tâm giới. Năm pháp này là của các Bồ Tát trong sáu thời tu hành.
Qui tắc trong các kinh luận rất đầy đủ. Nay lược chép ra đây rất đơn giản, để tiện cho người hành giả tu trì.
Ban đầu vào đạo tràng quỳ gối chấp tay, chuyên tâm định ý, tay bưng lư hương.
Nguyện rằng:
Nguyện mây hương hoa này,
Biến khắp mười phương cõi,
Tất cả các Phật độ,
Vô lượng hương trang nghiêm.
Ðầy đủ Bồ Tát đạo,
Thành tựu hương Như Lai.
(Cúng dường hương hoa rồi, đứng dậy lễ kính Tam-Bảo)
Nhứt tâm đảnh lễ Tỳ Lô Giá Na Mâu Ni Thế Tôn (1 lễ)
(Phân biệt Thánh vị tu chứng pháp môn nói rằng: Ðức Như Lai tối sơ nơi Vô thượng thừa, phát tâm Bồ đề, do Ðức Phật A Súc gia trì cho nên chứng được viên mãn Bồ đề tâm, do chứng Bồ đề nên ngoại cảm trong hư không, Ðức Phật Bảo Sanh quán đảnh, thọ ngôi vị Pháp Vương trong ba cõi, do Ðức Phật Quán Tự Tại Vương gia trì, nói lời chuyển pháp luân vô lượng tu đa la pháp môn, do Ðức Phật Bất Không Thành Tựu gia trì nơi các việc Phật sự và việc hữu tình, đã tu hành lợi lạc hết thảy đều thành tựu. Vậy cho nên sau đây thứ lớp lễ bái.)
Nhứt tâm đảnh lễ A Súc Thế Tôn (1 lễ)
-Nhứt tâm đảnh lễ Bảo Sanh Thế Tôn (1 lễ)
Nhứt tâm đảnh lễ Quán Tự Tại Vương Thế Tôn (1 lễ)
Nhứt tâm đảnh lễ Bất Không Thành Tựu Thế Tôn (1 lễ)
Nhứt tâm đảnh lễ Cực Lạc Thế Giới A Di Ðà Thế Tôn (1 lễ)
Nhứt tâm đảnh lễ Thập Phương Pháp Giới Chư Phật Thế Tôn (1 lễ)
Nhứt tâm đảnh lễ Thất Cu Chi Phật Mẫu Sở Thuyết Ðại Chuẩn Ðề Ðà Ra Ni (3 lễ)
Nhứt tâm đảnh lễ Thập Phương Pháp Giới Tu Ða La Tạng Nhứt Thiết Ðà Ra Ni môn (1 lễ)
Nhứt tâm đảnh lễ Tỳ Lô Giá Na cung điện trung Thất Cu Chi Chuẩn Ðề Phật Mẫu Bồ Tát Ma Ha Tát (3 lễ)
Nhứt tâm đảnh lễ Quán Tự Tại Bồ Tát Ma Ha Tát (1 lễ)
Nhứt tâm đảnh lễ Di Lặc Bồ Tát Ma Ha Tát (1 lễ)
Nhứt tâm đảnh lễ Hư Không Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát (1 lễ)
Nhứt tâm đảnh lễ Phổ Hiền Bồ Tát Ma Ha Tát (1 lễ)
Nhứt tâm đảnh lễ Kim Cang Thủ Bồ Tát Ma Ha Tát (1 lễ)
Nhứt tâm đảnh lễ Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát Ma Ha Tát (1 lễ)
Nhứt tâm đảnh lễ Trừ Cái Chướng Bồ Tát Ma Ha Tát (1 lễ)
Nhứt tâm đảnh lễ Ðịa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát (1 lễ)
Nhứt tâm đảnh lễ Vô Năng Thắng Bồ Tát Ma Ha Tát (1 lễ)
Nhứt tâm đảnh lễ Ðại Thế Chí Bồ Tát Ma Ha Tát (1 lễ)
Nhứt tâm đảnh lễ Thập Phương Pháp Giới Nhứt Thiết Bồ Tát Ma Ha Tát (1 lễ)
Nhứt tâm đảnh lễ Ma Ha Ca Diếp Tôn Giả Chư Ðại Thanh Văn Tăng (1 lễ)
Nhứt tâm đảnh lễ Thập Phương Pháp Giới Nhứt Thiết Tam Thừa Hiền Thánh Tăng (1 lễ)
GIẢI: Như trên đều lễ một lễ đến Chuẩn Ðề Phật Mẫu và Chuẩn Ðề Ðà Ra Ni, mỗi câu cần ba lễ. Ðây là nhơn pháp làm chủ của đạo tràng. Cho nên lễ bái rồi tiếp đến sám hối, người tu hành nên tưởng tự thân mình đối trước ngôi Tam-Bảo chớ nghĩ tội đời trước và đời nay đã tạo. Nếu không sám hối phải đọa A Tỳ địa ngục, thọ cực đại khổ, đâu có thể thành tựu được chỗ tu hành diệu hạnh Chơn ngôn? Kinh Trì Minh Tạng Nghi Quỹ nói rằng: Người tu hành Du Già pháp môn. Nếu muốn tu tập cầu các Tất Ðịa, trước tự thân mình phải tu các pháp sám hối, để trừ túc nghiệp đời trước, khiến không chướng nạn, nếu không như thế, Thánh đạo khó thành. Ngài Kim Cang Trí dịch bổn kinh và ghi quỹ này, tùy chép ra năm pháp sám hối mà văn rất gọn ghẽ, sợ người tu hành xem văn trình bày khó hiểu, để muốn cho khẩn thiết tinh thành, nên ở đây trình bày thêm yếu chỉ của các kinh cho rõ. Như Vô Lượng Thọ Nghi Quỹ nói: Thân mình phải năm vóc sát đất, tưởng ở trước mỗi Ðức Phật, Bồ Tát cung kính làm lễ, rồi liền quỳ gối chấp tay, đem lòng chí thành phát lồ sám hối, tất cả tội chướng từ vô thỉ đến giờ, vui mừng tùy hỷ chư Phật, Bồ Tát, Thanh Văn, Duyên Giác và các phước nghiệp của tất cả hữu tình đã tu. Lại quán tưởng mười phương thế giới, chỗ nào có các đức Như Lai mới thành chánh giác, nên thỉnh Chuyển pháp luân, nơi nào có các đức Như Lai hiện vào cõi Niết Bàn, xin thỉnh ở lại đời lâu dài không vào Niết Bàn. Lại phát nguyện rằng: con đã chứa nhóm thiện căn, lễ Phật, sám hối, tùy hỷ, khuyến thỉnh, đem phước tụ này hồi thí cho tất cả hữu tình, cho đến thấy Phật nghe pháp mau chứng Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề, biết như vậy rồi tâm sanh tha thiết miệng tuyên sám hối:
Con đệ tử … chí tâm sám hối, những tội từ vô thỉ sanh tử đến giờ, theo ác lưu chuyển, cùng chung các chúng sanh, tạo nghiệp chướng tội, bởi tham sân si trói buộc, do thân khẩu ý tạo năm tội vô gián và mười nghiệp ác, tự làm, bảo người khác làm, thấy kẻ khác làm sanh lòng vui mừng; hoặc vật của tháp, vật của Tăng, tự tại phí dụng, đối với các người lành sanh lòng phỉ báng, thấy các bậc tu học Thanh Văn, Duyên Giác Ðại Thừa, con ưa sanh lòng mắng chửi, khiến cho các người tu hành tâm sanh buồn phiền, thấy có kẻ nào hơn mình sanh lòng ganh ghét, đối với pháp thí, tài thí thường sanh keo kiết, bị vô minh che lấp, hoặc tâm tà kiến. Không tu nhơn lành, khiến ác tăng trưởng, ở chỗ các Phật, mà khởi lên phỉ báng, những tội như vậy Phật đều thấy biết. Con nay qui mạng đối trước chư Phật, Bồ Tát, Thánh chúng thảy đều trình bày tội lỗi, không dám che giấu, tôi chưa làm con không dám gây tạo, những tội đã làm con đều xin sám hối, nghiệp chướng đã tạo đáng đọa tam đồ và ở chỗ tám nạn. Con nguyện đời này, có bao nghiệp chướng đều được tiêu diệt, đã có ác báo đời sau không thọ, cũng như quá khứ, vị lai, hiện tại, các đại Bồ Tát tu Bồ đề hạnh, đã có nghiệp chướng thảy đều sám hối. Nghiệp chướng của con nay cũng sám hối, hết thảy phát lồ không dám che giấu, tội đã làm nguyện được trừ diệt, tội ác vị lai không dám tạo nữa.
(Sám hối rồi qui mạng lễ Tam-Bảo)
Con đệ tử hết lòng vui mừng tùy hỷ, quá khứ, vị lai, hiện tại tất cả chúng sanh, tu hành bố thí, trì giới, tâm huệ đã có căn lành. Con nay thảy đều thâm sanh tùy hỷ, do làm phước tùy hỷ như vậy, cho nên chắc chắc sẽ thu hoạch được quả tôn trọng thù thắng Vô thượng Vô đẳng. Lại ở quá khứ vị lai, hiện tại, tất cả chư Phật, Bồ Tát, Thanh Văn, Duyên Giác đã chứa nhóm vô lượng công đức. Con nay chí tâm thảy đều tùy theo mà vui mừng khen ngợi.
(Tùy hỷ rồi qui mạng lễ Tam-Bảo)
Con đệ tử … chí tâm khuyến thỉnh mười phương tất cả chư Phật Thế Tôn, hiện được Vô thượng Bồ đề, chưa Chuyển pháp luân. Con đều chí thành khuyến thỉnh chuyển đại pháp luân, an vui hữu tình. Mười phương tất cả chư Phật Thế Tôn, muốn xả báo thân vào cõi Niết Bàn. Con nay cúi đầu đảnh lễ, hết lòng khuyến thỉnh trụ ở đời lâu, độ thoát và an vui cho tất cả chúng sanh.
(Khuyến thỉnh rồi qui mạng lễ Tam-Bảo)
Con đệ tử … hết lòng hồi hướng từ vô thỉ đến ngày nay, đối với ngôi Tam-Bảo đã tu hành thành tựu các căn lành, cho đến bố thí cho tất cả chúng sanh một vắt cơm. Lại nữa đem hết công đức trì tụng bí mật, sám hối, khuyến thỉnh, tùy hỷ, các căn lành ấy thảy đều thu nhiếp đem hồi thí cho tất cả chúng sanh, không tâm hối tiếc, là phần giải thoát căn lành đã nhiếp. Như chư Phật Thế Tôn đã thấy biết, không thể tính lường vô ngại thanh tịnh. Những công đức căn lành đã có như vậy, thảy đem hồi thí tất cả chúng sanh, không trụ tâm tướng, không xả tướng tâm. Con cũng như vậy, công đức căn lành, thảy đều hồi thí tất cả chúng sanh, cùng các chúng sanh đồng chứng Vô thượng Bồ đề, được tất cả trí, nhơn căn lành này, lại còn xuất sanh vô lượng pháp lành, cũng đều hồi hướng Vô thượng bồ đề. Lại như quá khứ, vị lai, hiện tại chư đại Bồ Tát, khi tu hành các căn lành công đức, thảy đều hồi hường tất cả chủng trí. Vậy con đã có công đức căn lành, cũng đều hồi hướng Vô thượng Bồ đề, các căn lành ấy nguyện cùng tất cả chúng sanh đều thành chánh giác. Như các chư Phật ngồi nơi đạo tràng dưới cội Bồ đề, không thể nghĩ bàn vô ngại thanh tịnh, an trụ nơi vô tận Pháp Tạng Ðà Ra Ni, Thủ Lăng Nghiêm định, phá ma Ba Tuần, vô lượng binh chúng, trong một sát na thảy đều thấy rõ, nơi khoảng nửa đêm được cam lồ pháp, chứng cam lồ nghĩa. Con và chúng sanh nguyện đều đồng chứng Diệu Giác như vậy, cũng như chư Phật, thị hiện ứng hóa, đắc Vô thượng Bồ đề, chuyển Diệu pháp luân, độ các chúng sanh.
(Hồi hướng rồi qui mạng lễ Tam-Bảo)
Con đệ tử … chí tâm phát nguyện, nguyện các chúng sanh hết thảy phát tâm Vô thượng Bồ đề, thường nhớ nghĩ công đức trí huệ của mười phương chư Phật. Lại nguyện tất cả chúng sanh phá dứt vô minh, được thấy Phật tánh, cũng như các đại Bồ Tát, tất cả Thiên Long Bát Bộ, tăng ích oai quang, ủng hộ quốc độ và nơi đạo tràng, dẹp các oán ma, khiến con đã tu pháp yếu bí mật của chư Phật mau được thành tựu.
(Phát nguyện rồi qui mạng lễ Tam-Bảo)
GIẢI: Kế đến nên tự thọ Bồ đề tâm giới, như trên văn sám hối, tùy hỷ, khuyến thỉnh, hồi hướng, chép ra trong kinh Kim Quang Minh, năm pháp đều rõ. Sám hối có công năng trừ chướng, diệt tội. Lễ Phật hay trừ ngã mạn chướng, được thân tôn quý. Sám hối hay trừ ba chướng, được y (y báo) chánh (chánh báo) đầy đủ. Tùy hỷ hay trừ tật đố chướng, được đại quyến thuộc. Khuyến thỉnh hay trừ mạn pháp chướng, được đa văn trí huệ. Hồi hướng là tự hồi những thiện căn đã tu, hướng về ba chỗ, tức thật tướng Bồ đề và đối với chúng sanh hay trừ trước hữu, cùng tâm xan lẫn. Do hồi hướng chút căn lành, biến nhập ba cõi như giọt nước rơi vào biển lớn, như tiếng nhập vào góc loa thời âm thinh bay vang xa. Phát nguyện hay trừ chướng thoái lui, được tổng trì các hạnh, mau được diệu quả. Hồi hướng liền kiêm phát nguyện, nay ở nơi hồi hướng mở ra lời phát nguyện để đối trị tâm không quyết định và chướng hỷ thoái lui. Hoặc khi vào đạo tràng, lễ Phật cho đến hồi hướng trì tụng rồi mới kiêm phát nguyện cũng được. Niệm tụng rồi như trước, thứ lớp kiết ấn tụng Chơn ngôn một biến, lại tu ngũ hối. Nếu thời gian mau, không thể như trước tụng hết văn sám hối, có thể tụng bài kệ sau đây:
Con đệ tử … hết lòng sám hối
Ðại Thánh Chuẩn Ðề Tôn
Tất cả chúng Hiền Thánh
Thân này hoặc thân trước
Ðã tạo các nghiệp ác
Các tội đều sám hối.
Con đệ tử … hết lòng khuyến thỉnh
Tất cả mười phương Phật
Hiện được thành đạo
Con thỉnh Chuyển pháp luân
An vui các chúng sanh
Mười phương tất cả Phật
Nếu muốn vào Niết Bàn
Con nay cúi đầu lễ
Khuyến thỉnh ở lại đời.
Con đệ tử … hết lòng tùy hỷ
Ba đời các Như Lai
Bồ Tát chúng Thanh Văn
Người tu tập tam thừa
Cho đến các phàm phu
Ðã có các phước lành
Thí giới thiền định huệ
Nhẫn nhục và tinh tấn
Con nay đều tùy hỷ.
Con đệ tử … hết lòng phát nguyện
Nguyện khắp các chúng sanh
Thảy phát tâm Bồ đề
Vĩnh dứt các phiền não
Sẽ chứng nhất thiết trí
Lại nguyện con nay tu
Chuẩn Ðề hạnh bí mật
Mong cầu các Tất Ðịa
Tùy tâm chóng thành tựu.
Con đệ tử … hết lòng hồi hướng
Con đem các tu phước
Và cùng hạnh Chơn ngôn
Hồi hướng các hữu tình
Chung thành Vô thượng đạo
Lại nay đem chỗ tu
Lễ bái và sám hối
Khuyến thỉnh cùng tùy hỷ
Phát nguyện hồi hướng thiện
Hết thảy thí chúng sanh
Vĩnh dứt khổ tam đồ
Ðồng đến đại Bồ đề
Pháp giới chơn như hải.
PHỤ TRÌ TỤNG PHÁP YẾU
Nay pháp yếu này là vì người sơ cơ tu hành, y kinh tu tập tam nghiệp chưa thuần, không thể tu tập các pháp quán hạnh. Tuy nhiên nghe Ðà Ra Ni, công đức thù thắng, tâm muốn mau trì tụng; hoặc người độn căn, nghe kinh Chơn ngôn quán hạnh, lòng sanh lui sợ, mất pháp mầm Bồ đề, vô lượng công đức như kinh đã nói. Nếu có người vừa tụng một biến, liền sanh pháp mầm Bồ đề, huống gì thường hay niệm tụng thọ trì. Do căn lành này mau thành Phật chủng, vô lượng công đức thảy đều thành tựu. Cho nên Trì Minh Tạng nói: Nếu có chúng sanh làm đại ác nghiệp, không có thiện chủng, nơi tâm Bồ đề không do đâu sanh khởi, Bồ đề phần pháp vĩnh không chứng đắc. Người như vậy may gặp tri thức, tụng Chơn ngôn này, một phen tai nghe, trọng tội giảm kém, giống lành liền sanh. Huống nữa hằng thường trì tụng, chuyên chú tinh cần. Mạng Trà La sớ nói: Niệm Như Lai Thần chú, tâm khế hợp Như Lai tâm. Tụng Mật ngôn Bồ Tát, nguyện nguyện phù hợp nguyện của Bồ Tát, sanh tử nào mà không ra khỏi, Niết Bàn nào mà không đắc chứng. Có điều lợi ích như thế nên do đây làm tập pháp yếu này để tiện người tu hành thọ trì nếu muốn trì tụng trước cần dứt bặt các duyên, khởi khẩn trọng tâm tưởng điều khó gặp, đến trước Thánh tượng, hoặc đối trước Kính đàn, đứng thẳng chấp tay đảnh lễ. Ðây là Ấn tướng Tối thượng Ðảnh lễ Chuẩn Ðề Bồ Tát. Vậy sau chú tâm quán tưởng tôn dung, năm vóc sát đất, đảnh lễ mười phương Phật, Pháp, Tăng Tam-Bảo, kế đến lễ Tỳ Lô Giá Na Mâu Ni Như Lai, Chuẩn Ðề Phật Mẫu, Quán Thế Âm Bồ Tát, Kim Cang Thủ Bồ Tát và tất cả Thánh chúng rồi, quỳ gối chấp tay hết lòng sám hối. Nói như thế này: Con đệ tử từ vô thỉ đến giờ, thân khẩu ý đã tạo ra các tội, nay đối trước Tam-Bảo chư Phật, Bồ Tát, phát lồ sám hối, không dám che giấu, cho đến quá khứ, hiện tại, vị lai ba đời chư Phật, Bồ Tát, các món công đức phức trí viên mãn, con nay tùy hỷ.
Kế đến ngồi Kim Cang chánh tọa, lấy chân mặt đè lên vế bên trái, hoặc ngồi bán già, hoặc tùy ý ngồi. Kế đến kiết đại ấn tam muội, lấy hai tay mở ngửa ra, tay mặt để lên tay trái, hai ngón tay cái giáp móng lại với nhau, để ngang dưới rún. Ấn này hay diệt tất cả cuồng loạn vọng niệm tạp nhiễm suy nghĩ. Ðã lắng định thân tâm rồi, liền quán tưởng sáu đường chúng sanh, từ vô thỉ đến nay ở trong biển khổ sanh tử, luân hồi nơi sáu thú, nguyện các chúng sanh kia phát Bồ đề tâm, tu hành Bồ Tát hạnh, mau được ra khỏi, suy nghĩ vậy rồi, liền nhập định pháp giới tam muội. Nghĩa là tưởng tự thân trên đảnh của mình có chữ Phạn thơ LAM tự, chữ này biến ánh sáng chiếu khắp cũng như ngọc Minh Châu tròn sáng, hoặc như mặt trăng rằm. Tưởng chữ này rồi, lại kết ấn Kim Cang quyền, lấy ngón cái tay bên trái bấm vào tiết thứ nhứt dưới ngón vô danh, còn bốn ngón kia nắm chặt ngón tay cái lại, hình như cầm cú. Ấn này hay trừ nội ngoại chướng nhiễm, thành tựu tất cả công đức. Tay mặt cầm chuỗi, miệng tụng tịnh pháp giới Chơn ngôn 21 biến. Chơn ngôn: Úm Lam (hoặc riêng trì chữ Lam cũng được, Lam hoặc Lãm)
Chữ Lam tịnh pháp giới này, nếu tưởng hoặc tụng hay khiến ba nghiệp thảy đều thanh tịnh, tất cả tội chướng tận diệt tiêu trừ. Lại hay thành tựu xong xuôi tất cả việc thù thắng, tùy chỗ trụ xứ thảy được thanh tịnh, y phục không tịnh lại được tịnh y, thân không tắm rửa lại được sạch sẽ. Nếu dùng nước làm, sạch không gọi là chơn tịnh, nếu gồm pháp giới tâm, Lam tự này tịnh đó, tức gọi rốt ráo thanh tịnh bình. Như một hạt linh đơn, điểm sắc thành vàng báu. Một chữ Chơn ngôn biến nhiễm thành tịnh. Kệ rằng:
Ra tự sắc trắng sạch
Không điểm trang nghiêm đó.
(Chữ Phạn Ra trên an không điểm tức thành Lam vậy.)
Như trên đảnh kia Minh Châu để nơi nhục kế, Chơn ngôn đồng pháp giới, vô lượng các tội trừ. Tất cả chạm chỗ uế, phải gia Tự môn này. Cho nên Liên hoa bộ niệm tụng pháp nói: Nếu chạm chỗ dơ uế, phải quán tưởng trên đảnh có chữ pháp giới sanh ra, phóng ánh sáng sắc đỏ. Nghĩa là Lam tự vậy.
(Nếu thật không có ngoại duyên đầy đủ, không có nước tắm rửa, thiếu y mới thanh tịnh, dùng chữ Lam này tịnh đó, nếu ngoại duyên đầy đủ mà không tắm rửa thay áo mới, để làm phép tịnh này là người không có lòng cung kính, là người biếng nhác, chính là lỗi khinh mạn vậy. Như thế làm sao phước sanh tội diệt được? Thành tựu việc sở cầu Tất Ðịa. Nếu trước như pháp tắm rửa sạch sẽ, mặc y mới thanh tịnh, lại dùng Chơn ngôn này tịnh nữa, tức trong ngoài thanh tịnh, việc mong cầu sẽ mau được linh nghiệm).
Kến đến tụng Hộ thân Chơn ngôn, theo bản kinh, kiết đệ nhị căn bản ấn, tụng tâm Chơn ngôn 7 biến, hoặc kiết Vô Năng Thắng Bồ Tát ấn, tụng Vô Năng Thắng Chơn ngôn 7 biến, thời nay phần nhiều tụng các bộ khác. Nghĩa là Văn Thù Nhứt Tự Chơn ngôn: Úm Xỉ Lâm
Chữ Xỉ Lâm này là hai âm (nhị hiệp), hoặc ba âm (tam hiệp): Thất li long, hoặc bốn âm (tứ hiệp): Thể li hê dâm. Ngài Nghĩa Tịnh dịch: Thất lạc hê diêm. Bốn chữ như vậy họp làm một tiếng mới thành Phạn âm một chữ. Như không thể hiểu rành Phạn âm thì thật khó được chơn diệu. Một chữ vương chú này, công lực rất lớn không thể nghĩ bàn. Như Văn Thù Nhứt Tự Ðà Ra Ni Pháp nói: Ðức Thế Tôn bảo các chư Thiên rằng: Nên biết Ðà Ra Ni này là vua lớn trong các chú, có đại thần lực. Nếu có người trai lành, gái tín hay thọ trì, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát thường đến đến ủng hộ, hoặc khi thức, hoặc trong chiêm bao, vì hiện thân tướng và các việc lành. Chú này còn hay nhiếp được Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, huống các Bồ Tát khác và các chúng Hiền Thánh, thế, xuất thế gian. Chú này có công năng tiêu trừ các tội ngũ nghịch, tứ trọng và nghiệp thập ác. Nên biết chú này đối với các Thần chú trong thế gian và xuất thế gian rất là thù thắng hơn hết. Là tâm của chư Phật hay khiến tất cả sở nguyện thảy đều đầy đủ. Khi chưa làm phép (tác pháp) tức hay thành tựu tốt đẹp các việc như ý. Nếu phát Vô thượng Bồ đề tâm, tụng ột biến có năng lực thủ hộ tự thân mình. Nếu tụng hai biến có năng lực thủ hộ đồng bạn. Nếu tụng ba biến có năng lực thủ hộ người trong một nhà. Nếu tụng bốn biến có năng lực thủ hộ người trong một thành. Nếu tụng năm biến có năng lực thủ hộ người trong một nước. Nếu tụng sáu biến có công năng thủ hộ người trong nhứt thiên hạ. Nếu tụng bảy biến có công năng thủ hộ người trong tứ thiên hạ. Nếu mỗi buổi sớm mai tụng một chú này vào trong nước rửa mặt hay khiến người thấy sanh lòng hoan hỷ, còn nói rằng: Nếu có chúng sanh bị Phi đầu quỷ bắt giữ, lấy tay mình thoa nơi mặt người kia, tụng chú 108 biến, làm ra tướng mạo đáng sợ, liền lấy tay trái kiết bổn sanh ấn (lấy ngón tay cái co để trong lòng bàn tay, bốn ngón sau nắm ngón tay cái lại, hình như cầm cú) tức tự nộ hét, đôi mắt ngầm nghiêm, tụng Thần chú này mà thoa vào người bịnh hoạn, bịnh tức trừ. Nếu tất cả quỷ gây làm hoạn bịnh, dùng chú này chú vào tay mặt 108 biến, thiêu an tức hương xông đó, tay trái kiết ấn bổn sanh tay mặt xoa vào đầu người bịnh, bịnh tức trừ lành. Nếu muốn đi qua tất cả chỗ hiểm nạn, sư tử, hổ lang, độc xà, oán tặc, nên cần phải thân tâm không được gần gũi người nữ và ăn đồ ngũ tân, tất cả rượu thịt, đối các chúng sanh khởi đại bi tưởng, chí tâm tụng chú 49 biến, thì các oán ác tự nhiên lui tản, giả như có gặp cũng đều hoan hỷ. Chú này có những chúng sanh, hoặc một kiếp, hoặc vô lượng kiếp, cho đến danh tự cũng không thể nghe được, huống gì được thấy mà chuyên tâm trì tụng. Ðà Ra Ni này hay khiến chúng sanh hiện đời và đương lai thường được an ổn, cùng các Như Lai và chúng đại Bồ Tát, thường làm quyến thuộc. Vậy cho nên phải ân cần sanh tâm tưởng khó gặp, không nên khinh nhẹ, khởi nghi hoặc tâm, rộng như các kinh đã nói, không thể chép hết.
(Bộ khác dịch rằng: Nếu tụng 100 biến hay hộ một nước, nếu tụng 1000 biến hay hộ tứ thiên hạ. Bản cựu khiến tụng một chữ chú vương rồi, lại tụng Lục Tự Ðại Minh Chơn ngôn, 108 biến, vậy sau mới tụng Chuẩn Ðề Ðà Ra Ni, nay sợ nhiều xen lộn bộ khác, người tu hành thấy khó trì tụng, nên ở nơi đây không chép ra, như muốn trì sau này sẽ tụng.)
Kế đến tụng gia trì sổ châu Chơn ngôn, dùng bột hương thoa vào chuỗi, để chuỗi trên hai tay ngang ngực. Tụng Chơn ngôn 7 biến gia trì nơi tràng chuỗi.
Chơn ngôn: Úm - Phệ lô giá na, ma la ta phạ hạ (7 biến)
Gia trì nơi chuỗi rồi, tâm nghĩ miệng phát lời nguyện rằng: con nay muốn niệm tụng, xin nguyện Bổn Tôn chư Phật, Bồ Tát, gia trì hộ niệm khiến cho con mau được như ý sở cầu nguyện mãn. Vậy sau lấy tay trái ngón vô danh và ngón cái nương châu, tay mặt lấy ngón tay cái và ngón vô danh lần từng hạt chuỗi, phải để nơi trước ngực, lắng lòng quán tưởng Chuẩn Ðề Phật Mẫu cùng các quyến thuộc đoanh vây xung quanh, rõ ràng phân minh như đối trước tòa. Khi tụng Chuẩn Ðề Chơn ngôn âm thinh không chậm không mau, mỗi khi xưng đến chữ Ta Phạ Hạ đồng thời lần qua một hạt chuỗi. Hoặc 108 biến, hoặc 1080 biến. Thường phải hạn định không được thiếu bớt, nếu mờ loạn ấy, tụng 108 biến rồi sau tùy ý tán trì đó. Hoặc kiết căn bản đại ấn, nơi trên tay của Bồ Tát ký số niệm tụng, tụng rồi xả ấn lên đảnh, nếu tụng 108 biến mãn rồi, không thể ký số nhiều, nên dùng tay trái kiết Kim Cang quyền ấn, tay mặt cầm chuỗi niệm tụng căn bản Chơn ngôn:
Nẵng Mồ Táp Ða Nẫm, Tam Miệu Tam Một Ðà Cu Ðê Nẫm, Ðát Nễ Dã Tha. Úm - Chiết Lệ Chủ Lệ Chuẩn Ðề Ta Phạ Hạ.
Nếu việc mong cầu muốn mau được thành tựu, phải y nơi trước bản kinh làm đủ phép tắc, dứt trừ rượu thịt và ngũ tân mới được ứng nghiệm. Như hoặc tùy thời thu hoạch lợi ích, diệt tội sanh phước. Người tại gia không thể hoàn toàn đoạn dứt rượu thịt, thê thiếp, có thể mười ngày trai mà trì tụng. Như muốn trường trì không gián đoạn, thì chẳng những mười ngày chay, dù cho có rượu thịt vợ con đi nữa, chỉ nên một lòng tụng trì cũng được lợi ích, có thể khiến người đoản mạng tăng tuổi thọ, tật bịnh được tiêu trừ.
(Trong kinh luật gọi người tại gia không thể trường trì trai giới, ở nơi mỗi tháng trong mười ngày chay, thọ trì bát quan trai giới, đoạn dứt sát, đạo, dâm, vọng, tửu, hương hoa, ca vũ, hý lạc, hết thảy tám việc ấy là Giới, quá ngọ không ăn ấy là Trai. Do mười ngày tịnh trì trai giới này, nên khiến tụng Chơn ngôn quyết được mau hiệu nghiệm. Thời nay không biết trai giới, chỉ không ăn thịt uống rượu cho đó là trai, việc này đã lầm lâu rồi vậy. Riêng đây cho người trì tụng rượu thịt vợ con ấy, bởi gần đây kẻ thế tục rượu thịt vợ con là thường nghiệp của họ, tuy nghe Phật giới mà tập tánh khó cải đổi. Nếu không nhờ dùng Thần chú đại bất tư nghì này để cứu vớt thì biết ngày nào được ra khỏi sanh tử. Cho nên Phật Ðảnh Tụng dạy: Không trì trai ấy mà gọi là trì trai, không trì giới ấy mà gọi là trì giới. Nếu nghe niệm Phật đảnh Ðà Ra Ni liền được đầy đủ Thanh Văn giới. Còn người nào có trai giới thanh tịnh, y pháp trì tụng, đâu không mau ra khỏi sanh tử ư? !
Hoặc có người vô tướng vô phước, cầu quan không toại ý, nghèo cùng khốn khổ, cơm không no miệng, áo không đủ che thân. Thường trì tụng Thần chú Chuẩn Ðề này, hay khiến hiện đời hưởng được phước báu như vua Chuyển luân. Sở cầu quan vị quyết được toại lòng. Nếu cầu trí huệ, hoặc nam nữ thảy đều vừa ý. Chơn ngôn này giống như ma ni bảo châu, tất cả tùy tâm ưa muốn đều được, cho đến muốn thỉnh Phạm Vương, Ðế Thích, Tứ Thiên Vương, Diêm La, Thiên Tử v.v… chỉ tụng chú này tùy thỉnh quyết đến, nếu có sai khiến tùy tâm mình nguyện. Chú này đối với Nam Thiệm Bộ châu, có thế lực lớn, dời núi Tu Di, khô nước đại hải, chú vào cây khô phát sanh hoa quả. Huống gì lại hay y pháp trì tụng, không chuyển nhục thân, đắc được đại thần túc thông, bay thẳng vào Ðâu Suất Thiên cung, nghe được Chánh pháp của đức Di Lặc, và bay khắp mười phương thế giới hầu hạ chư Phật, được thọ ký Bồ đề.
Nếu muốn thành tựu đàn pháp, như trước y kinh làm các phép tắc. Hoặc chỉ dùng Kính đàn, nên lấy một cái kính mới chưa từng dùng, để trước tượng Phật, theo tháng ngày 15 (rằm) nơi ban đêm hướng về Ðông phương, để kính trước tòa, tùy sức trang nghiêm cúng dường đầy đủ các hương hoa ứ già tịnh thủy, nhiên hậu kiết Căn bản đại ấn, để nơi ngang ngực, tụng căn bản Chơn ngôn, chú nguyện vào Kính đàn 108 biến, lấy đãy bỏ kính vào, thường đem theo nơi thân, mỗi khi muốn niệm tụng, chỉ lấy Kính đàn để trước mặt, kiết ấn Chuẩn Ðề tụng chú, nếu không thể hằng ngày đối kính niệm tụng, chỉ đối với mười ngày chay đối trước Kính đàn niệm tụng, còn các ngày khác không đối kính niệm tụng cũng được, nếu không có Kính đàn, chỉ quán tưởng một Kính đàn trước mặt trì tụng cũng thành tựu. Hoặc không thể quán tưởng, chỉ cần chuyên chú niệm tụng cũng thành tựu. Thần chú Chuẩn Ðề này là bảy trăm bảy mươi ức các đức Như Lai đồng nói. Ngài Long Thọ Bồ Tát làm bài kệ khen ngợi rằng:
Chuẩn Ðề công đức tụ, tịch tịnh tâm thường tụng.
Nhứt thiết chư đại nạn, vô năng xâm thị nhơn.
Thiên thượng cập nhơn gian, thọ phước như Phật đẳng.
Ngộ thử như ý châu, định hoạch Vô Ðẳng Ðẳng.
Dịch:
Chuẩn Ðề công đức tụ, vắng lặng tâm thường tụng.
Tất cả các đại nạn, không thể xâm hại người.
Trên trời và cõi người, thọ phước ngang bằng Phật.
Gặp châu như ý này, đắc định chứng Bồ đề.
Thời nay phần nhiều ở nơi sau Chuẩn Ðề Chơn ngôn kiêm trì tụng Phật Ðảnh Ðại Luân Nhứt Tự Minh Vương Chơn ngôn: Gọi là Thần chú Bộ Lâm (Ðây là Phạn tự Bộ Lâm kéo lưỡi ngân âm thanh dài ra, hai chữ hợp lại làm một chữ, cũng nói Bộ Lâm hoặc Phô Long. Lại nói
Bộ Lung, hoặc Bột Long. Bất Không Tam tạng dịch: Bột Lỗ Úm, ba chữ hợp làm một chữ. Chú rằng chữ Lỗ kéo dài lưỡi chung làm một âm. Lại nữa tiếng kéo dài ra từ trong yết hầu mà phát ra âm thinh như đánh trống lớn. Bản xưa dịch Bộ Lâm hơi sai không được đúng lắm. Như vậy âm giọng rất khó đúng chỉ người nào giỏi Phạn âm mới có thể được đó.
Kinh Căn Bản Nghi Quỹ nói: Phật Ðảnh Ðại Luân Nhứt Tự Minh Vương này được thành tựu, cho đến đối với Chánh pháp của các đức Như Lai khi sắp muốn diệt, có công năng làm các Phật sự. Lại hay ủng hộ tất cả Pháp Tạng của các đức Như Lai. Một chữ Minh Vương này, sau khi Phật diệt độ trong thời kỳ mạt pháp, giúp đỡ người tu hành ở trong thế gian được thù thắng hơn tất cả Chơn ngôn và chư Phật, Bồ Tát cũng thảy đều thọ trì, bởi vì quá khứ Phật, Bồ Tát đã truyền nói. Nếu ở chỗ nào có người tu hành chuyên tâm trì tụng Ðại Minh chú này, ở chỗ đó trong khoảng địa giới năm do tuần có tất cả ác tinh diệu (sao xấu) không dám xâm gần, các ác quỷ thần đều tự chạy trốn tản mất, cho đến tất cả các ác không dám làm hại, hơn nữa đối với Thiên nhơn, Thánh nhơn cũng không dám gần. Nếu người trì tụng tất cả nghiệp chướng đều được thanh tịnh, nếu có ủng hộ hay ẩn thân mình, nhập vào tất cả trong nhiều các bộ, không chỗ chướng ngại, đối với thế gian và xuất thế gian không dám làm hại, có công năng bẽ gãy tất cả các ác chú trong thế gian. Chơn ngôn này là đỉnh đầu của tất cả chư Phật, là tâm của Văn Thù Bồ Tát, hay ban thí vô úy (không sợ hãi) hay ban an vui cho tất cả chúng sanh, phàm có tu trì tùy ý đắc quả, đồng ngọc như ý châu có công năng làm mãn nguyện tất cả, nếu trì tụng các Thần chú khác mà không thành tựu, nên dùng Chơn ngôn này cùng chung Thần chú khác đồng trì tụng, quyết định thành tựu. Nếu không thành tựu và linh nghiệm thì các chư thần của Thần chú kia đầu sẽ phá bể làm bảy phần. Phải biết Chơn ngôn này hay giúp tất cả Thần chú mau được thành tựu.
Nếu muốn trì riêng Chơn ngôn ngày để cầu tất cả pháp thành tựu, phải y vào bản kinh kia làm phép tắc niệm tụng. Nếu người trì tụng không thể y như trước, tụng tịnh pháp giới Chơn ngôn và hộ thân Chơn ngôn, cho đến Ðaị Luân Nhứt Tự Chơn ngôn ấy, thì có thể chuyên trì Chuẩn Ðề Ðà Ra Ni này cũng được thắng diệu. Hoặc có người tuổi già suy yếu sức hơi thở ngắn ít, không thể tụng toàn bộ Chơn ngôn. Ðầu tiên tụng ba biến rồi sau chỉ tụng từ chữ Úm (Án) trở xuống chín chữ cũng được. Lại hoặc không thể kiết Chuẩn Ðề đại ấn, nên kiết Kim Cang quyền ấn niệm tụng, phàm khi tụng chú hết rồi, liền dùng ấn Kim Cang quyền, miệng tụng Thần chú Hồng Hồng cho liên tiếp, và ấn vào năm chỗ sau đây: ấn trên trán, kế ấn vai bên mặt, kế ấn vai bên trái, kế ấn nơi giữa ngực, sau ấn trên yết hầu, ấn xong xả ấn lên đảnh, có công năng trừ tất cả ma chướng, thành tựu tất cả việc thù thắng. Lại tùy ở chỗ nào muốn trừ dẹp quỷ thần, có thể kiết Kim Cang giới, chỉ tụng Chuẩn Ðề Thần chú Chơn ngôn chú vào trong nước hương thơm 21 biến, sái vẩy tám phương trên dưới, tức thành toái trừ kiết giới. (Trì Minh Tạng Nghi Quỹ nói: Hoặc làm phép tắc khi ở trong đàn, hoặc khi nằm ngủ, hoặc bị ác mộng tức tụng Phật nhãn Chơn ngôn 800 biến, khi đương tụng tay mặt cầm chuỗi, tay trái cầm Kim Cang xử. Chơn ngôn: Úm - Ðộ Nẵng Phạ Nhựt Ra Hác)
Mỗi ngày y pháp trì tụng, cần phải thân thời hạn định. Nếu một thời trì tụng, nên trì buổi sáng, nếu hai thời trì tụng kiêm cả hoàng hôn (tối sẩm). Nếu ba thời trì tụng thời gia thêm chánh ngọ (giữa trưa). Như nhiều công việc không thể y thời, chỉ thời nào cũng được trì tụng. Nếu hạng thượng căn trì tụng, Tam Mật tương ưng, một Thân mật (kiết ấn ngồi ngay thẳng), hai Ngữ mật (miệng tụng Chơn ngôn Thần chú), ba Ý mật (một niệm chuyên pháp, hoặc tưởng Chơn ngôn Phạn tự hoặc duyên tiếng trì tụng, hoặc tưởng dung nhan Thánh tượng Chuẩn Ðề, hoặc tưởng trong tay của Bồ Tát cầm các vật hoa quả.)
Kinh Thần Biến Sớ nói: Nếu dùng Tam Mật làm môn tu hành, không cần phải trải qua nhiều kiếp số tu các hạnh. Chỉ ở hiện đời này đầy đủ các Ba la mật. Ngũ Bí Mật Nghi Quỹ nói: Tam Mật Kim Cang để làm tăng thượng duyên hay có công năng chứng quả vị của ba thân Tỳ Lô Giá Na thanh tịnh. Thích Ðà Ra Ni văn tự nói: Nếu các chư Phật không tu Tam Mật môn, không y Phổ Hiền hạnh nguyện mà được thành Phật là điều không có lý. Nếu thành Phật với Tam Mật môn và Phổ Hiền hạnh nguyện có thôi nghỉ là điều không có lý. Nếu chánh trì tụng ba thời chưa mãn 108 biến, không được cùng người nói chuyện, như muốn nói chuyện nơi trên lưỡi tưởng chữ Phạn Lam, dù có nói chuyện cũng không thành gián đoạn. Khi nói rồi liền phải trì tụng như trước.
Hỏi: Chỉ trì một đạo Chơn ngôn công đức thành tựu hay là phải rộng trì nhiều đạo Chơn ngôn công đức mới thành tựu?
Ðáp: Ðây có hai môn:
1-Tùy căn ưa muốn nghĩa là người có nhiều món ưa thích không đồng. Hoặc ưa trì tụng ba đạo Chơn ngôn, cho đến một trăm đạo Chơn ngôn v.v… ở trong đó tùy căn cơ ưa muốn, đều được trì tụng.
2-Muốn mau được thành tựu, nghĩa là muốn cầu tất cả công đức mau được thành tựu, nên chuyên trì tụng một đạo Chơn ngôn thành thời tất cả Chơn ngôn công đức thảy đều thành tựu. Cho nên kinh Văn Thù Nghi Quỹ nói: Nếu muốn tất cả công đức thành tựu, không được riêng đối với Chơn ngôn mà sanh khởi tư tưởng (đừng sanh tâm dị biệt đối với các Thần chú, Thần chú nào cũng sanh tâm chí kính, cũng là pháp thành Phật tất cả.)
Như trên tuy có các số đạo Chơn ngôn đều cùng trì tụng với Chuẩn Ðề Thần chú, thứ lớp trợ giúp mau thành thắng diệu vậy. Lại nữa mỗi ngày đối kính trì tụng, ban đầu khi muốn trì tụng, phải theo như bản kinh. Quán tưởng tâm ta như một mặt trăng tròn sáng rực rỡ, có chín chữ Thánh Chuẩn Ðề Phạn tự, mỗi mỗi chữ tưởng có các thứ ánh sáng chiếu khắp nơi tâm nguyệt tròn sáng ấy. Hoặc không thể tưởng được chín chữ, nên có thể tưởng trong tâm Nguyệt luân tròn sáng ấy, tưởng một chữ Phạn ÚM hoặc tưởng chín chữ Phạn an bố khắp thân mình mình, trong ấy có Chơn ngôn chín chữ Phạn tự, ánh hào quang sáng rực rỡ. Như Ngài Kim Cang Trí đã dịch bản tụng rằng:
ÚM tưởng an trên đảnh đầu, sắc kia trắng như mặt trăng. Chiếu phóng vô lượng quang, trừ diệt tất cả chướng.
(Tức đồng Phật, Bồ Tát, rờ trên đảnh đầu người.)
CHIẾT an nơi hai mắt, sắc kia như nhật nguyệt.
Chiếu phá các ngu ám, hay phát thâm huệ minh.
LỆ an nơi trên cổ, sắc biếc như lưu ly.
Hiển bày các sắc tướng, lần đủ trí Như Lai.
CHỦ an nơi giữa ngực, sắc trong như tơ lụa.
Khiến tâm được thanh tịnh, mau đến đường Bồ đề.
LỆ an nơi hai vai, sắc như màu vàng ròng.
Do quán sắc tướng này, được mặc giáp tinh tấn.
CHUẨN tưởng nơi trong rún, sắc kia diệu vàng trắng.
Mau lên diệu đạo tràng, không thoái Bồ đề tâm.
ÐỀ an hai bắp vế, sắc kia màu vàng lợt.
Mau chứng đạo Bồ đề, được ngồi tòa Kim Cang.
TA PHẠ an hai cổ chân, sắc kia đỏ rực rỡ.
Thường hay tưởng chữ này, mau được chuyển pháp luân.
HA an nơi hai chân, sắc sáng như trăng tròn.
Hành giả quán chữ này, mau được đến viên tịch.
Xét trong bộ Hiển Mật Viên Thông, lấy chữ nghĩa của các bộ Ðà Ra Ni an bố quán tưởng, là bởi
sợ người sơ học đời nay khó thu nhận thực hành, cho nên y bổn tông làm pháp yếu trì tụng. Hoặc muốn quán tưởng các chữ nghĩa khác ấy, phải như bổn kinh trong đó chép ra một pháp riêng khác cho được rõ hơn, như có người không thể quán tưởng chữ Phạn, chỉ chuyên tâm trì tụng cũng đầy đủ tất cả tam muội (chánh định). Kinh Ðại Bi Tâm Ðà Ra Ni nói: Ðà Ra Ni là thiền định tạng, trăm ngàn tam muội thường hiện tiền, nếu có người khẩn thiết trì tụng, hoặc gặp các thứ ma chướng, hoặc thoạt nhiên run sợ, hoặc miệng lưỡi khó tụng, hoặc thân tâm bất an, hoặc nhiều hờn giận, hoặc nhiều ngủ nghỉ, hoặc các dị tướng, hoặc ở nơi Thần chú sanh tâm nghi ngờ, không muốn trì tụng nữa .v.v… phải có pháp đối trị, nên y vào bổn kinh, kiết đệ nhị căn bản, tụng tâm Chơn ngôn, hoặc làm phép Vô Năng Thắng Chơn ngôn ấn khế, hoặc quán tưởng chữ Phạn RA hoặc quán chữ A theo đó làm một phép, tùy quán tưởng một chữ các cảnh giới kia tự nhiên tiêu diệt. Nếu phân biệt tâm nhiều, nên quán chữ SÁI tức thành vô phân biệt. Nếu trước hữu vi tâm nhiều nên quán chữ HÀM tức đắc nhơn duyên pháp vốn không. Kinh Trì Minh Tạng nói: Người tu hành khi muốn làm các phép tắc, trước hết cần phải lặng tâm xa lìa các chỗ ồn ào, ở nơi thân phần của mình, tưởng tướng vi diệu của các chữ, mỗi mỗi được hiện ra trước mắt, nếu được hiện tiền thì tất cả tội cấu đều được tiêu diệt vi diệu chữ ấy, trước nơi cửa miệng tưởng chữ Xả, nơi trên vai mặt tưởng chữ Ám, nơi trên vai trái tưởng chữ Á, nơi trên đầu tưởng chữ Ám, nơi trên tay mặt tưởng chữ A, trên tay trái tưởng chữ PHẠ, nơi giữa rung tưởng chữ Hồng, lại nơi khắp thân tưởng chữ A. Người tu hành mỗi khi tưởng như vậy là chữ nơi thân phần khi ấy hiện ra. Tức liền tụng Chơn ngôn: Hồng Tả Lệ Tổ Lệ Tôn Nễ, Hồng. Chơn ngôn này tụng 10 vạn biến (nhứt lạc xoa) hay trừ tất cả tội. Lại Chơn ngôn: Úm Tả Lệ Tổ Lệ Tôn Nễ, Phấn Tra. Chơn ngôn này nếu tụng đến nhứt lạc xoa (10 vạn biến) đắc đại trí huệ. Lại Chơn ngôn: Nẵng Mồ, Tả Lệ Chủ Lệ Tôn Nễ, Nẵng Mồ. Chơn ngôn này thường trì hay trừ tất cả trần cấu. Chữ Xá là Diệu Cát Tường Bồ Tát căn bổn. Chữ Muội là Từ Thị Bồ Tát căn bản. Chữ Thất Trị là Như Lai căn bổn. Chữ Ám là Phổ Hiền Bồ Tát căn bản. Chữ Ác là Hư Không Tạng Bồ Tát căn bản. Chữ A là tất cả Như Lai căn bản. Chữ A lại là Quán Tự Tại Bồ Tát căn bản, lại là Kim Cang Thủ Bồ Tát căn bản. Chữ Hồng là Diệm Mạng Ðắc Ca Phẫn Nộ Minh Vương căn bản.
Nay lược chép ra ấn tướng, trước đứng ngay thẳng, sau lui lại rồi xoay bên mặt, lấy hai tay, nắm mỗi tay lại mởi ngón tay giữa ra làm tướng lay động. Ðây gọi là Nhã Phạ Nẵng ấn, nếu người tu hành ở trong đại nạn, hoặc bị cấm trói thời dùng đó, tất cả việc không thể làm hại.
Lại lấy tay mặt nắm lại ngón tay giữa thẳng lên, đây gọi là Tràng ấn, nếu khi chiến đấu, hoặc khi có đại bố sợ hãi thì dùng. Lại trước ngồi kiết già phu, lấy tay bên tả nắm lại đứng thẳng ngón tay cái, lấy tay mặt nắm ngón tay cái bên trái an để nơi rún, đây gọi là pháp ấn cầu giải thoát, dùng thì tất cả thiên nhơn thảy đều khen ngợi. Lại nữa lấy hai tay mở ra các ngón tay cách nhau, để nơi trên đầu triển chuyển như tướng bánh xe, ấn này gọi là Bát Bức Luân, oai lực hay đoạn trừ tất cả đại ác.
Lại trước đứng ngay thẳng tát hữu vũ thế (Múa mạnh bên mặt) xoay chuyển bên mặt, lấy tay mặt làm phép thí nguyện, tay trái làm phép tam phan tướng (?) an trên nơi trán, rồi trở lại tát hữu vũ thế (múa mạnh bên mặt) rồi trở lại tát tả vũ thế (múa mạnh bên trái): Ðây gọi là phương vị ấn, có công năng hàng phục sư tử, long, hổ và các bộ đa tất xá tả quỷ .v.v… Cho đến các kẻ đạo tặc (trộm cướp).
Lại lấy hai tay, để trên mỗi cánh tay, các đầu ngón tay thẳng đứng, đây gọi là Bát lị già ấn, hay trừ tất cả bịnh ngược (rét).
Lại lấy hai tay nắm lại với nhau, lấy ngón tay cái tréo lại nhau, đây gọi là Ðảo xử ấn, để dùng dứt trừ đại ác tú diệu (sao ác).
Lại lấy ngón tay cái mặt và ngón tay út an để nơi đầu ngón tay trỏ, đây gọi là Bát trí ta ấn, hay hàng phục A Tô La.
Lại lấy hai tay chấp lại hai ngón cái hình như kim châm, đây gọi Thuyết pháp ấn để dùng khi cúng dường đức Bổn Tôn, sẽ được chư Phật, Bồ Tát và Thiên Long, Bát Bộ, các vị Trì Minh Thiên Tôn thảy đều vui mừng hay ban thí cho sự thành tựu. (Như trên các ấn, đều tụng Bổn bộ Chơn ngôn.) Như muốn thành tựu đại sự mau cầu linh nghiệm ấy, quyết phải cần y kinh lập đàn làm các pháp tắc mới thu hoạch được kết quả như ý mong muốn.
TU BI ÐIỀN VÀ KÍNH ÐIỀN
1- TU KÍNH ÐIỀN.
Hành giả tu hạnh Du Già, muốn được huệ tăng trưởng, phước trí viên minh quyết cần
phải rộng tu hai món phước điền Bi và Kỉnh. Trên hết cúng dường mười phương Tam-Bảo, dưới cứu giúp lục đạo tứ sanh, để làm nền tảng cho định huệ căn bản cho Bồ đề. Cho nên nói rằng: Bồ đề tâm có hai thứ độ vô biên chúng sanh để làm nhơn, làm quả cho Vô thượng Bồ đề. Mạn Trà La Sớ nói: Luận kẻ làm đạo, trên nếu không cúng dường chư Phật, Bồ Tát thì làm thế nào khai mở trí huệ mong cầu Bồ đề, dưới nếu không cứu giúp chư tiên, ngã quỷ, thì thế nào có hạnh từ bi? Như muốn tu kính điền phải y bản kinh kiết ngũ cúng dường ấn tụng căn bản Chơn ngôn, vận tưởng cúng dường Bổn Tôn chư Phật, Bồ Tát, tất cả Thánh chúng đã thành tựu sở nguyện phước trí viên mãn. Như hoặc thường tu cúng dường không thể y kinh làm đủ phép tắc. Nay căn cứ vào các bộ Ðà Ra Ni và Thành Phật Tâm Yếu mà chép ra, trước hết ở trước Thánh tượng nhứt tâm cung kính, năm vóc sát đất, khắp lễ mười phương pháp giới, vô tận Phật, Pháp, Tăng Tam-Bảo. Như ngũ tự Ðà Ra Ni tụng khiến kiết Kim Cang ấn, lấy hai tay đôi lưng nhau, hai ngón út hai ngón cái câu móc với nhau, miệng tụng Chơn ngôn 7 biến.
Chơn ngôn: ÚM, PHẠ NHỰT RA VẬT (Ðọc việc hay phệ).
Tụng rồi xả ấn lên trên đảnh, do Chơn ngôn ấn pháp này oai lực không thể nghĩ bàn, tự nhiên biến khắp pháp giới vô tận Tam-Bảo, trước các ngôi Tam-Bảo đều có tự thân lễ bái phụng sự, nhiên hậu lấy đồ ăn uống hương hoa các thứ v.v… tùy sức bày biện nhiều món để trong đồ thanh tịnh, kiết phổ thông kiết tường ấn, ấn đó lấy tay mặt, ngón tay cái cùng ngón vô danh bấm nhau lại ba ngón tay kia mở tản ra, tụng tịnh pháp giới Chơn ngôn, gia trì 21 biến.
Chơn ngôn: Úm Lam (21 biến).
Do sức Chơn ngôn gia trì và oai lực của ấn, các món đồ vật thực ăn uống thảy đều tự nhiên thanh tịnh, khắp nơi pháp giới.
Liên Hoa bộ niệm tụng pháp nói rằng: Ðối với tất cả các món cúng dường hương hoa v.v… chữ LAM tự này phóng ánh sáng sắc trắng, tức không thể uế xúc, vật đã cúng dường đều khắp pháp giới. Kế đến tụng vô lượng oai đức tự tại quang minh thắng diệu lực Biến thực Chơn ngôn: chấp tay gia trì 21 biến.
Chơn ngôn: Nẵng mồ tát phạ đát tha, nghiệt đa phạ lồ chỉ đề, úm tam bạt ra tam bạt ra hồng (21 biến).
Do sức gia trì Chơn ngôn này, cho nên các món ăn uống kia biến thành thức ăn ngon lành của chư Thiên thượng vị cam lồ, phụng hiến cúng dường mười phương vô tận Tam-Bảo, cũng là tán thán, khuyến thỉnh, tùy hỷ công đức. Kiết xuất sanh cúng dường ấn, hai tay chấp lại mười ngón ngoài tréo nhau, hai lóng đầu của các ngón giao nhau, để trên đảnh đầu, tụng xuất sanh cúng dường Chơn ngôn 21 biến: ÚM. Do Chơn ngôn này và ấn oai lực không thể nghĩ bàn, tự nhiên biến khắp pháp giới, xuất sanh vô tận hương hoa, đèn nến, tràng phan, bảo cái, y phục, ngọa cụ, lầu các, âm nhạc v.v… các món cúng dường đầy đủ biến khắp pháp giới vô tận Tam-Bảo v.v… Nếu không có các món ẩm thực hương hoa v.v… chỉ đối trước Phật vận tưởng kết ấn tụng chú, cũng tự nhiên xuất sanh các món cúng dường như trên đầy đủ khắp pháp giới Tam-Bảo.(Ðây là biến thực Chơn ngôn lý thú công đức như sau sẽ rộng rõ).
1- KẾ ÐẾN TU BI ÐIỀN
Muốn cúng chí đồ ăn cho chư Tiên, lấy một cái đồ thanh tịnh đựng đầy các thức ăn uống, tụng biến thực Chơn ngôn 21 biến, ném vào trong dòng nước trong sạch, tức biến thành món ăn mỹ diệu của Thiên Tiên, cúng dường trăm ngàn ức hằng hà sa số chư Tiên, hết thảy các chư Tiên kia được gia trì món ăn mỗi mỗi đều thành tựu sở nguyện các thiện công đức. Nếu người nào lấy Chơn ngôn này gia trì trong đồ ăn uống cúng thí cho chúng chư Tiên, hay khiến hiện đời tăng trưởng phước thọ, tâm được thanh tịnh thấy nghe chánh giải, đầy đủ thành tựu Phạm Thiên oai đức, tất cả oán thù không thể xâm hại.
Muốn cứu tế các loài ngã quỷ, mỗi buổi sớm chiều hay các thời khác cũng đều không ngại. Lấy đồ sạch đựng ít nước tịnh thủy để vào ít cơm và đồ ăn như bánh, lấy tay trái cầm đồ đựng, tay mặt kiết Bảo ấn. (Lấy ngón tay cái, ngón tay trỏ, ngón tay giữa, ngón tay út mở ra, lấy ngón vô danh dùng khoáy vào trên đồ ăn, thí cho các Tiên ăn cũng dùng ấy này). Tụng Biến thực Chơn ngôn 7 biến gia trì rồi nhiên hậu xưng danh hiệu bốn đức Như Lai.
Nam Mô Ða Bảo Như Lai (hay phá nghiệp xan lẫn của ngã quỷ, được phước đức viên mãn.)
Nam Mô Diệu Sắc Thân Như Lai (hay trừ hình hài xấu xí của ngã quỷ, được sắc tướng đầy đủ.)
Nam Mô Quảng Bát Thân Như Lai (hay khiến yết hầu ngã quỷ mở lớn ăn được đồ cúng thí, hết thảy được no đủ.)
Nam Mô Ly Bố Úy Như Lai (hay trừ tất cả sự sợ hãi của ngã quỷ được xa lìa quỷ đạo.)
Xưng Như Lai danh hiệu rồi, gảy móng tay bảy lần, lấy đồ ăn kia để trên đất sạch, mở tay mặt rưới đó (trên đá sạch, cây, đồ sành cũng được.) Phật dạy gia trì Ðà Ra Ni này 7 biến, hay khiến tất cả các món ăn uống biến thành các thứ cam lồ, ăn uống no đủ, trăm ngàn ức na do tha hằng hà sa số tất cả quỷ thần và hết thảy các loại ngã quỷ khác đều được no đủ, các chúng ngã quỷ như vậy, mỗi mỗi đều được 49 hộc to lớn các đồ ăn uống, như nước Ma Già Ðà. Nước và đồ ăn uống đồng pháp giới, ăn được đồ ăn vô tận ấy đều được thành Thánh quả, giải thoát khổ thân được sanh lên cõi trời và sanh về Tịnh độ. Người hay cúng thí, hiện đời được đầy đủ vô lượng phước đức, thời đồng với công đức cúng dường trăm ngàn ức các đức Như Lai không khác.
GIẢI: Phải biết đây là sức vô lượng oai đức, tự tại quang minh thắng diệu. Biến thực Ðà Ra Ni, tức là bí tạng của ba đức. Bí tạng này, đầy đủ tất cả pháp, có công năng lưu xuất vô cùng, xuất sanh vô lượng châu biến pháp giới, khắp cúng dường ba đức: Pháp thân, Bát Nhã, Giải thoát và đầy đủ Thường, Lạc, Ngã, Tịnh, bốn đức của pháp thân, không riêng gì Pháp thân có đầy đủ Bát Nhã và Giải thoát; mà Bát Nhã, Giải thoát cũng đầy đủ như vậy. Nói oai đức tự tại ấy; tức là Giải thoát đức. Quang minh ấy; là Bát Nhã đức. Thắng diệu ấy; là Pháp thân đức. Lực ấy là sức của ba đức. Phạm ngữ Ðà Ra Ni đây dịch rằng: Tổng trì nghĩa là Tổng trì ba đức, tóm lại là ở nơi nhứt tâm, một tâm đủ tam đức, pháp nhĩ đầy đủ như vậy. Song nhứt tâm tức Ðà Ra Ni. Ðà Ra Ni tức là pháp thực, đều lấy ba đức chung làm Thể, cũng đều lấy ba đức chung làm Dụng. Người ở bên Viên giáo, do hay rõ biết bí tạng của ba đức đầy đủ tất cả pháp, tất cả các pháp thể của nó là ba đức. Cho nên nêu Thể khởi Dụng làm ra hiện tiền những phần ban thí ra các món ăn, ở trong mỗi mỗi món ăn ấy, xuất sanh tất cả Thiên Tu Ðà Cam Lồ Vị và hết sức vui mừng, phàm những món như bơ, phô ma, đề hồ, tất cả các món ăn mỹ vị thảy đều đầy đủ. Ở đây trong mỗi mỗi vị cũng lại xuất sanh hương thơm vi diệu, hoa báu nhiệm mầu, áo trời đẹp đẽ, chuỗi ngọc trân châu, các thứ xe báu, tất cả đồ phục dụng, chuông khánh, kim bạt, thiều sáo, sừng ốc, nhạc cụ, đờn ca, tất cả diệu âm, dòng suối trong mát, ao tắm thanh tịnh, hoa trái vườn rừng, hào quang chiều sáng, lâu đài cung điện, tất cả trụ xứ. Lại ở trong mỗi mỗi mỹ vị, mỗi mỗi phục dụng, mỗi mỗi diệu âm, mỗi mỗi trụ xứ. Mỗi vật kia xuất sanh tất cả diệu cúng của lục trần, như trên đều chu biến khắp hết. Một món đồ ăn đựng nhỏ cho đến một thìa, mà chỗ thọ dụng năng thí mầu nhiệm không thể nghĩ bàn ấy. Vì đây một tức toàn thể của ba đức.
Tôi nay trì ba đức này, đã huân ướp diệu cúng của sáu trần khắp thí pháp giới vô lượng quần sanh, một thời đầy đủ, không còn thiếu kém. Tuy vật ban thí mà cũng vốn không có ta, và chúng sanh, cũng không có tướng, là vì không quán vậy. Tuy lại không, mà cùng không giữ lấy, không vật, không ta, không chúng sanh, người thí, kẻ thọ và những vật trong ấy đều uyển nhiên rõ ràng có thể thấy được, là bởi vì nhờ ở sự quán tưởng, trong một tâm rõ biết người thí, kẻ thọ và các vật đã bố thí, chẳng phải có, cũng chẳng phải không có, tam luân cu tuyệt (cả ba đều tuyệt nhiên vắng lặng). Là bởi vì trong ấy do sức quán tưởng, ba quán chiều trong một niệm, đắc không sau, không trước, tưởng gì? Nghĩ gì? Hãy luyện pháp quán tưởng như vậy mà tu hạnh bố thí. Ấy là không trụ tưởng bố thí, hay là các chúng sanh thọ thí. Khi bố thí này mỗi mỗi món ăn tự nhiên đều được thiền duyệt pháp hỷ. Vì vậy ở cõi Trời chuyển thêm thắng phước, nơi cõi Người thì đốn ngộ nguồn chơn, ở Tu la thì tâm được điều phục, ở Ngã quỷ thì được no đủ, ở Súc sanh thì tự được trí huệ, nơi Ðịa ngục vĩnh thoát giam cầm câu thúc. Liền khi bấy giờ đều hối hận ăn năn nghiệp nhơn đã tạo, tiến cầu đạo quả xuất thế. Nên biết là pháp, là thực đều được lợi lạc. Thí như ướp thuốc, thuốc tùy sức lửa, nhập vào trong thân người, bịnh hoạn trừ diệt trở lại khỏe mạnh, pháp thực ăn vào cũng lại như vậy. Hoặc gần hoặc xa trọn phá vô minh.
Nếu lấy một bát nước, dùng Cam lồ Chơn ngôn gia trì 7 biến, tán rải nơi hư không, một giọt nước kia, tức biến thành 10 hộc vị cam lồ, tất cả ngã quỷ đều được uống đủ, không có thiếu kém, thảy đều đầy đủ sung mãn.
Chơn ngôn: Nam Mô tố rô bá da, đát đa nga tha da, đát điệt tha – Úm tố rô tố rô bá ra tố rô bá ra tố rô ta phạ ha (7 biến).
GIẢI: Giả như không có đồ ăn uống, tức dùng Cam lồ Chơn ngôn gia trì trong nước đem thí, khiến tất cả ngã quỷ thảy đều no đủ. Nếu có bốn chúng đệ tử, dùng Chơn ngôn này và danh hiệu bốn đức Như Lai gia trì đồ ăn uống mà bố thí các loài ngã quỷ, thì hay được đầy đủ vô lượng công đức, tuổi thọ sống lâu phước đức tăng vinh. Lại được nhan sắc trắng đẹp, oai đức mạnh mẽ, mau chóng đầy đủ đàn Ba la mật (Bố thí Ba la mật). Tất cả Dạ Xoa, La Sát, các ác Quỷ Thần, người chẳng phải người v.v… đều kính nể người đó, không dám lại gần xâm hại.
TRÍ CỰ NHƯ LAI TÂM PHÁ ÐỊA NGỤC
CHƠN NGÔN
Kinh Biệt Hành nói: Thần chú này nếu tụng một biến, địa ngục Vô gián tan nát như vi trần, những chúng sanh thọ khổ ở trong đó, thảy đều sanh về Cực Lạc. Nếu viết Thần chú này bằng chữ Phạn nơi chuông, nơi trống, nơi linh, nơi khánh, có các âm thanh, hoặc trên bảng mộc v.v… Chúng sanh nào nghe được tiếng ấy, các tội thập ác ngũ nghịch thảy đều tiêu diệt, không còn đọa vào trong các ác thú.
Chơn ngôn: Nẵng mồ a sái tra tất để nẫm, Tam ma dã tam mẫu đà cố trí nẫm; Úm cấn nghiết nẵng phạ bà, tất đề lị đề lị hồng. (Viết chữ Hán và chữ Phạn trên chuông, trống rất là nhiệm mầu.)
TỲ LÔ GIÁ NA
PHẬT ÐẠI QUÁN ÐẢNH QUANG CHƠN NGÔN
Kinh Bất Không Quyến Thần Biến nói: Nếu có các chúng sanh tạo đủ mười điều ác, năm nghịch tội, bốn trọng giới, tội số như vi trần đầy khắp thế giới, thân hoại mạng chết thần thức đọa vào các ác đạo. Dùng Chơn ngôn này gia trì vào đất, cát, 108 biến tán rải nơi vong linh, nơi tử thi, nơi hài cốt, rải trên mồ mả, vong linh kia nếu ở địa ngục, ngã quỷ, tu la, súc sanh v.v… nhờ sức Chơn ngôn gia trì tức liền khi ấy được ánh hào quang của chư Phật rọi vào, thân trừ các tội báo, bỏ thân khổ sở, vãng sanh về Tây phương Cực Lạc thế giới, hóa sanh trong hoa sen, thẳng đến thành Phật, không còn đọa lạc.
Chơn ngôn: Úm a mộ già vĩ lô tả nẵng ma hạ, mẫu nại ra ma nĩ bát nạp mạ nhập phạ ra, bát ra mạt đa dã hồng (108 biến).
GIẢI: A mộ già đây nói rằng vô gián đoạn. Vĩ lô tả nẵng cũng nói Phệ lô giá na. Hoặc dùng giấy, vải lụa, viết chép Thần chú này để nơi vong nhơn nơi trên thân, hoặc trên hài cốt cũng rất nhiệm mầu. Có bài kệ rằng: Chơn ngôn Phạn tự chạm xúc nơi thi cốt của vong nhơn, được sanh về cõi tịnh độ, thấy Phật nghe pháp, gần gũi thọ ký mau chứng Vô thượng đại Bồ đề. Kinh Bất Không Quyến nói: Nếu nghe Thần chú này hai, ba, đến bảy lần trải qua nơi tai mình, tức được trừ diệt tất cả tội chướng. Nếu có chúng sanh, chầy năm nhiều tháng bịnh hoạn khổ sở hoành hành, vạn mối sầu khổ; ấy là người bịnh do nghiệp báo đời trước, tụng Chơn ngôn này trước người bịnh nhơn một, hai đến ba ngày, mỗi ngày lớn tiếng tụng Thần chú này 1080 biến thì được trừ diệt túc nghiệp bịnh chướng. Nếu bị quỷ mị làm nhiễu hại cuồng loạn mất tiếng không nói được, trì Chơn ngôn này gia trì nơi tay 108 biến thoa nơi đầu mặt, để tay nơi ngực nơi trán gia trì 1080 biến bịnh được trừ lành. Nếu các quỷ thần vọng lượng làm bịnh, gia trì nơi chỉ ngũ sắc 108 biến thành 108 gút, đeo trên lưng, tay, cổ người bịnh, hoặc gia trì nơi áo mặc, bịnh kia liền trừ lành.
QUÁN TỰ TẠI BỒ TÁT CAM LỒ CHƠN NGÔN
Kinh Quán Tự Tại Bồ Tát Ðà Ra Ni nói: Nếu người tụng chú này, đời quá khứ, hiện tại đã tạo tứ trọng , ngũ nghịch, hủy báng kinh Phương Ðẳng, tội nhứt xiển đề, hết thảy các tội đều được tiêu diệt không còn dư sót, thân tâm nhẹ nhàng, trí huệ minh mẫn. Nếu thân hoặc lời nói thảy hay lợi lạc tất cả hữu tình. Nếu có chúng sanh rộng tạo tất cả các tội Vô gián, nếu được gặp người trì chú này, hình bóng chói vào thân của người kia, thoạt được cùng nói chuyện, hoặc nghe tiếng nói người kia, tội chướng thảy đều tiêu diệt. Nếu muốn lợi ích tất cả hữu tình, mỗi khi trời mưa khởi đại bi tâm, ngửa mặt hướng hư không tụng Chơn ngôn này 21 biến, mỗi giọt mưa kia thấm nhuần tất cả hữu tình, diệt hết tất cả nghiệp trọng tội, đều được lợi lạc.
Chơn ngôn: Nẵng mồ ra đát nẵng, đát ra dạ dả, nẵng mồ a lị dã, phạ lồ chỉ đế thấp phạ ra dả, mạo địa tát đát phạ dả, ma hạ tát đát phạ dả, ma ha ca rô nĩ ca dả, đát nễ dã tha. Úm Ðộ Nĩnh Ðộ Nĩnh, Ca Ðộ Nĩnh Ta Phạ Hạ.
(Ca hoặc nói hát nê, hoặc nói nhĩ nĩnh, hoặc nói nễ.)
GIẢI: Nếu muốn lược tụng, chỉ trì từ chữ Úm trở xuống, chữ Úm trở lên là lời quy kính, chánh chú là từ chữ Úm. Nếu chép Chơn ngôn Phạn tự này trên chuông, trống, khánh v.v… tất cả những vật có ra tiếng, các chúng sanh nghe tiếng kia thảy đều thanh tịnh, mạng chung được sanh về Tây phương Tịnh độ.
LỤC TỰ ÐẠI MINH CHƠN NGÔN
- Úm ma ni pát mê hum.
- Úm ma ni bát di hồng.
- Úm ma ni pết nạp minh hồng.
Kinh Trang Nghiêm Bảo Vương nói: Khi bấy giờ đức Quán Tự Tại Bồ Tát nói Thần chú Ðại Minh này, bốn đại bộ châu và cung điện của các cõi trời, thảy đều rung động, nước bốn biển lớn, nổi sóng ào ạt. Hết thảy các ma làm việc chướng ngại đều sợ hãi chạy trốn tản mất.
Phật bảo Trừ Cái Chướng Bồ Tát rằng: Sáu chữ Ðại Minh Ðà Ra Ni này khó được gặp gỡ, nếu có người nào được sáu chữ Ðại Minh Vương đây, thì người đó tham, sân, si, độc không thể nhiễm ô. Nếu đeo mang trì giữ nơi thân, người đó cũng không nhiễm trước bịnh ba độc. Chơn ngôn này vô lượng tương ưng, với các Như Lai mà còn khó biết, huống gì Bồ Tát làm thế nào biết được. Ðây là chỗ bổn tâm vi diệu của Quán Tự Tại Bồ Tát. Nếu người nào thường hay thọ trì chú Ðại Minh này, ở lúc trì tụng có 99 căn già hà sa số Như Lai tập hội, lại có vi trần số Bồ Tát tập hội, lại có vô số Thiên Long, Bát Bộ đến để hộ vệ người ấy. Người trì tụng Thần chú này bảy đời dòng họ đều sẽ được giải thoát, trong bụng có các loài trùng sẽ được địa vị bất thoái chuyển của Bồ Tát. Nếu đeo trì trong thân trên đảnh, có người được thấy người đeo trì ấy cũng như đồng thấy thân Kim Cang của Như Lai. Nếu hay y pháp niệm tụng, tức được vô tận biện tài, ngày ngày thường đủ sáu Ba la mật, viên mãn công đức. Nếu trong miệng hơi thở ra chạm vào người nào, người đó liền khởi tâm lành, xa lìa các sân độc, sẽ được bất thoái chuyển Bồ Tát, mau chứng Vô thượng Bồ đề. Người đeo trì giữ gìn chú này, lấy tay rờ đến người nào, hoặc lấy đôi mắt liếc nhìn đến các loài dị loại, các hữu tình, thảy đều mau được địa vị Bồ Tát. Người như vậy vĩnh viễn không thọ các khổ sanh, lão, bịnh, tử. Lại nữa Phật nói: Vi trần đã có, ta có thể đếm số lượng kia được, cho đến nước đại hải ta có thể biết số lượng kia. Nếu có người niệm sáu chữ Ðại Minh một biết, đã được công đức mà ta không thể đếm tính số lượng, giả như trong bốn đại châu, tất cả kẻ nam nữ đều chứng được địa vị Thất Ðịa Bồ Tát, công đức đã có cùng với người niệm Lục Tự Ðại Minh một biến mà công đức không sai khác. Nếu có người viết chép Ðại Minh này, đồng với viết chép tám vạn bốn ngàn Pháp Tạng. Nếu lấy kim bảo cõi trời tạo hình tượng của các đức Như Lai số như vi trần, không bằng chép viết một chữ trong sáu chữ Ðại Minh này, chỗ thu hoạch công đức quả báo không thể nghĩ bàn, người ấy sẽ được 108 món Tam ma địa môn. Chỉ niệm một biến sẽ được tất cả Như Lai đem y phục, ẩm thực, thuốc thang và đồ ngồi nằm đầy đủ tất cả để cúng dường. Pháp này ở trong Ðại Thừa rất là tối thượng, tinh thuần vi diệu. Tất cả Như Lai và các Bồ Tát thảy đều cung kính chấp tay làm lễ.
Khi nói sáu chữ Chơn ngôn này, có bảy mươi trăm ức các đức Như Lai đều đến tập hội, đồng nói: Thất Cu Chi Chuẩn Ðề Ðà Ra Ni. Vậy nên biết sáu chữ Chơn ngôn cùng với Chuẩn Ðề Chơn ngôn đầu đuôi tương tu. Như muốn cùng Chuẩn Ðề Chơn ngôn đồng tụng ấy, có thể ở trước Chuẩn Ðề Chơn ngôn niệm tụng. Song cần yếu hiệp hai chữ nạp minh làm một chữ mới phù hợp Phạn âm. Hoặc muốn riêng trì tụng, công đức như trên đã nói. Nếu muốn như pháp kiết đàn niệm tụng rõ như bản kinh văn, đây không chép hết.
A DI ÐÀ PHẬT NHẤT TỰ TÂM CHÚ
Chơn ngôn “Hật Rị”.
Om A Mi Tabha Hrih.
Úm A Di Ðát Phạ Hật Rị Sa Ha.
Câu chú này luôn luôn đi theo với Úm Ma Ni Pát Mê Hum (Hồng). Căn cứ theo chư sư truyền lại, nên thêm Úm A Di Ðát Phạ và thêm chữ Ta Ha cũng được.
Kinh dạy: Chữ Hật Rị (HRIH) Ðủ bốn chữ thành một Chơn ngôn. Chữ Hạ tự môn, nghĩa là tất cả pháp nhơn bất khả đắc. Chữ RA tự môn, nghĩa là tất cả pháp ly trần. Trần nghĩa là ngũ trần (sắc, thinh, hương, vị, xúc). Cũng gọi hai món chấp trước năng thủ và sở thủ. Chữ Y tự môn, là tự tại bất khả đắc, hai điêm ác tự nghĩa. Chữ Ác gọi là Niết Bàn. Do giác ngộ các pháp vốn không sanh, đều xa lìa món chấp trước, chứng được pháp giới thanh tịnh. Chữ Hật Rị này cũng nói làm tàm (hổ thẹn), nếu nói đủ là tàm quí (hổ thẹn), tự thẹn với lương tâm mình và xấu hổ đối với kẻ khác, vì thế nên không làm tất cả điều bất thiện vậy. Ðầy đủ tất cả pháp lành vô lậu vậy. Cho nên Liên Hoa Bộ cũng gọi là Pháp Bộ.
Do gia trì chữ Hật Rị này mà ở thế giới Cực Lạc, nước, chim, cây, rừng đều diễn nói pháp âm. Rộng như trong kinh đã thuyết minh. Nếu có người nào trì một chữ Chơn ngôn này, có công năng hay diệt trừ tai họa, tật bệnh. Sauk hi chết sẽ sanh về cõi An-Lạc quốc, được thượng phẩm thượng sanh. Ðây là nhứt thông tu Quán Tự Tại tâm Chơn ngôn của người tu hành và cũng là hay trợ giúp cho các người tu các bộ Du Già vậy.
VĂN THÙ BỒ TÁT NGŨ TỰ TÂM CHÚ
- A ra bạt giả na.
Kim Cang Ðảnh Kinh Ngũ Tự Chơn ngôn Thắng Tướng nói: Nếu người vừ tụng một biến, như tụng tám vạn bốn ngàn thập nhị Vi Ðà tạng kinh. Nếu tụng hai biến Văn Thù, Phổ Hiền liền theo gia bị, Hộ Pháp, Thiện Thần ở trước người đó. Lại nữa, nếu tụng một biến hay trừ tất cả khổ nạn của người tu hành. Nếu tụng hai biến trừ diệt ức kiếp sanh tử trọng tội. Nếu tụng ba biến tạm muội hiện tiền. Nếu tụng bốn biến được tổng trì bất vong. Nếu tụng năm biến mau thành Vô thượng Bồ đề. Nếu người nhứt tâm ở riêng chỗ vắng vẻ, viết năm chữ Phạn làm vòng đàn pháp, y pháp niệm tụng mãn một tháng rồi, Văn Thù Bồ Tát liền hiện thân kia, ở trong hư không diễn nói pháp yếu, khi bấy giờ người tu hành được túc mạng trí, biện tài vô ngại, thần túc tự tại, thắng nguyện thành tựu, phước trí đầy đủ, mau chưóng Như Lai pháp thân. Chỉ có tín tâm thọ trì thì trải qua mười sáu đời quyết định thành Chánh giác.
GIẢI: (Muốn làm phép gia trì kiết giới, rõ như Ngũ Tự Tâm Ðà Ra Ni phẩm.)
ÐẠI BẢO QUẢNG BÁT LẦU CÁC THIỆN TRỤ BÍ MẬT ÐÀ RA NI
Nẵng mồ tát phạ đát tha, nghiệt đa nẫm, Úm vĩ bổ lã nghiệt bệ, mạ nĩ bát ra bệ, đát tha đa nễ nại xả nĩnh, mạ nĩ mạ nĩ, tô bát ra bệ, vĩ mạ lê, ta nghiệt ra, nghiễm tỷ lệ, Hồng hồng nhập phạ lã, nhập phạ lã, một đà vĩ lô chỉ đế, hủng đế dạ địa sắc sỉ, đa nghiệt bệ, ta phạ ha.
Tâm chú: Úm ma nĩ phạ nhựt ra hồng.
Tùy tâm chú: Úm ma nĩ đà lị hồng phấn tra.
Chú này trước sau có ba nhà dịch, bản dịch ban đầu bị mất, người tên Khai Nguyên lục chép ra vào đời Lương Trung Hoa, sau Ngài Bồ Ðề Lưu chỉ dịch, đến lượt thứ ba Ngài Bất Không Tam Tạng dịch. Nay sợ người mới học khổ nỗi Phạn âm, nên mới giảo đính lại cả ba bản dịch, chép ra chính bản văn của Ngài Bất Không Tam Tạng, còn chữ của hai bản dịch kia không đồng, nên bản này rõ hơn, để cho người tu tập âm giọng không còn nghi trệ.
Kinh dạy rằng: Ðà Ra Ni này có đại oai đức. Phật do đây thành đạo, do đây hàng ma, hay diệt ác chướng hay thành lục độ. Nếu chép nơi chuông, trên điện, trên lụa, vải, trên giấy, trên vách tường, bảng v.v… những vật trên đó có các chúng sanh mắt tạm được thấy. Hoặc thân tay chạm đến, hoặc chói qua trong hình bóng và các người khác đụng chạm đến người này, hoặc mang nơi thân, hoặc đeo nơi đảnh, hoặc chép nơi trên vật có tiếng, hoặc người nghe thấy tiếng ấy, hoặc người đọc tụng, hoặc chỉ nghe tên Ðà Ra Ni này, những chúng sanh như vậy, dù có những tội tứ trọng, ngũ nghịch thập ác, thảy đều tiêu diệt, quyết định sẽ chứng đắc Vô thượng Bồ đề, hay ở nơi hiện đời được vô lượng trăm ngàn công đức, thường được quốc vưong, tể quan, bốn chúng cung kính vui mừng, không thọ thế gian các thứ khổ não, độc dược, dao gậy, các nạn nước lửa, tất cả các ác thú như sư tử, cọp, sói không dám làm hại. Lại không bị các nạn trộm cướp, các độc xà, các tà thần, quỷ mị. Hiện thân không thọ tất cả các bịnh: nghĩa là bịnh rét, bịnh mắt, bịnh tai, bịnh mũi, bịnh lưỡi, bịnh răng, bịnh môi, bịnh yết hầu, bịnh đầu, bịnh cổ. Các bịnh của chi phần: Bịnh tay, lưng, hông, rún, trĩ, đái sưng, lị, nhọt rò, nhọt, đầu gối, gót chân, mụn con, ban, dạ dày, ghẻ lở, sẹo, lác, hắc lào, hết thảy các bịnh như vậy không dính vào thân. Không bị trù rủa, yếm đảo độc trùng, chú trớ, thư nộp, mà dính nơi thân, không bị tai hoạnh mà chết. Nằm ngủ yên ổn, thức thì an vui, ở trong chiêm bao mộng thấy trăm ngàn cõi Phật. Cùng thấy chư Phật và Bồ Tát đoanh vây chung quanh, khi mạng gần chết tâm không tán loạn, tất cả chư Phật hiện ra trước mặt an ủi. Lại tất cả các loài bàng sanh như nai, chim, mòng, muỗi, trùng, kiến, ong bướm cho đến thai noãn, thấp, hóa, các loài hữu tình nghe danh Ðà Ra Ni này, hoặc thân chạm xúc, hoặc trong bóng ngã qua, quyết định sẽ đắc Vô thượng Bồ đề.
Lại có người nào trên đảnh núi cao, tụng Ðà Ra Ni này, tầm mắt phóng thấy tận đến chỗ nào, tất cả chúng sanh ở nơi ấy đều được diệt trừ tất cả tội nghiệp (rộng như trong kinh đã dạy.)
CÔNG ÐỨC BẢO SƠN ÐÀ RA NI
Nam Mô Phật Ðà da
Nam Mô Ðạt Ma da
Nam Mô Tăng Già da
Úm tất đế hộ rô rô, tất đô rô, chỉ rị ba, kiết rị bà, tất đạt rị, bố rô rị, ta phạ ha.
(Chữ hộ cũng nói là hồ, đô cũng đọc là độ, chỉ cũng đọc giá, ba cũng đọc bà, lị cũng đọc nĩ khứ thinh.)
Kinh Ðại Tập nói: Nếu người tụng chú này một biến, như lễ Ðại Phật Danh kinh bốn vạn năm ngàn bốn trăm biến. Lại như chuyển Ðại Tạng 60 vạn 5 ngàn 4 trăm biến. Tạo tội quá mười cõi sát độ, đọa vào A Tỳ địa ngục chịu tội, kiếp hết lại sanh nơi khác để chịu tội. Niệm chú này một biến, tội kia đều được tiêu diệt, không còn đọa vào địa ngục, khi mạng chung quyết định vãng sanh Tây phương thế giới, được thấy Phật A Di Ðà, thượng phẩm thượng sanh.
GIẢI: Tạo tội hơn mười sát độ ấy, nghĩa là tội đã tạo quá hơn mười thế giới vi trần; kiếp hết lại sanh, nghĩa là cõi Ta Bà thế giới này khi đã hoại diệt, tội kia chưa hết, liền gởi sanh trong địa ngục ở thế giới phương khác. Cõi này thành rồi đời người tội nhơn kia trở về trong địa ngục phương này mà chịu khổ báo.
TAM TỰ TỔNG TRÌ CHƠN NGÔN
- Úm Á Hồng
- Úm A Hum
- Án dạ hồng.
Du Già Ðại giá Vương kinh nói: Chữ Úm là Ðại Biến Chiếu Như Lai tức Phật Tỳ Lô Giá Na. Chữ Á là Vô Lượng Thọ Như Lai, tức Phật A Di Ðà. Chữ Hồng là A Súc Như Lai, tức Bất Ðộng Phật. Ðức Như Lai nhơn ở trong nhiều năm tu trì hành đạo không đắc Bồ đề, sau tu tập quán tưởng này, trong khoảng nửa đêm liền thành Chánh giác. Nghĩa là chữ ÚM gồm đủ vô lượng pháp môn, là mẫu của tất cả Chơn ngôn (Thần chú). Tất cả Như Lai đều nhơn quán tưởng chữ này mà được thành Phật. Chữ A (hay Á) là Tỳ Lô Phật thân, cũng là pháp giới, cũng là Bồ đề tâm. Nếu người tưởng niệm, hay sanh vô lượng công đức. Chữ Hồng tổng nhiếp Kim Cang bộ, tất cả Chơn ngôn (Thần chú) là chủ thân Kim Cang bộ, cũng là ba môn giải thoát. Nếu thường tưởng niệm, hay trừ tất cả tội chướng, thành tựu tất cả công đức. Ba giải thoát môn: 1- Không giải thoát môn, 2- Vô tướng giải thoát môn, 3- Vô nguyện giải thoát môn. Căn bản các hạnh của đại Bồ Tát từ sơ phát tâm đến “Nhứt thiết trí”.
Chư Giáo Quyết Ðịnh Danh Nghĩa Luận nói: Chữ Hồng tức Pháp thân, chữ A tức Báo thân, chữ Úm tức Hóa thân. Ba chữ như vậy nhiếp cả ba thân này, để phân biệt nói tam thừa và đạo giải thoát, ấy là nhơn chánh thuyết, nói có Thanh Văn, Duyên Giác và Nhứt thiết trí. Do trí xuất hiện nói tất cả pháp, tức ba chữ kia cũng là Kim Cang tam nghiệp, như thật an trụ; nghĩa là Úm – A - Hồng. Trong chữ Úm này, là Kim Cang thân nghiệp, chữ A Kim Cang ngữ nghiệp, chữ Hồng Kim Cang tâm nghiệp. Lại nữa, chữ Hồng là tâm trí giác liễu (rõ thấu tất cả) tất cả pháp như trên đã nói. Phải biết tất cả văn tự đều từ chữ Úm A Hồng ba chữ mà ra, do đó nên các pháp khởi lên các tướng phân biệt tất cả pháp kia, đều cùng Úm – A hai chữ trước sau nhiếp nhau. Chữ Hồng trong đây, xuất sanh tất cả, ở trong ba cõi, xuất hiện các sắc; nghĩa là có Thiên, Nhơn, Long, A tu la, Ca lầu la, Khẩn Na La, Càn thác bà. Thành tựu Trì Minh Thiên, Cát Tường Thiên, Biện Tài Thiên, Ô Ma Thiên, Ðế Thích Thiên, Phạm Vương Thiên, Na La Diên Thiên, Ðại Tự Tại Thiên, những trời như vậy, và Thiên hậu đã có tất cả trong cõi hữu tình kẻ nam tử, người nữ nhơn cho đến hết thảy các Phật, Bồ Tát đều từ chữ Hồng này xuất sanh biến hóa, kia mỗi một tâm, trụ tướng chữ này, nếu khi tâm tưởng chữ này, phải trụ nơi hư không, xuất sanh ra vô ngại, nghĩa là tâm ba cõi, đồng một tâm này, được nhập vào tâm rồi, tức được gọi là hiện chứng Bồ đề, phải biết tâm này là vô đẳng, vô thủ, vô trước, vô trụ, vô biểu, vô tướng, tức là hư không bình đẳng tất cả trí vô sở đắc, tương ưng không tự, không tha, tương ưng chánh hạnh. Thế gian đã có Chiên đà la tối hạ chủng tộc v.v… các loại kia cũng bình đẳng các hạnh cho đến các loại súc sanh, kia đã có hạnh, các hạnh sai khác. Các hạnh như vậy, tuy lại sai khác, đều cũng không lìa nhứt thiết trí, trí tương ưng chánh hạnh v.v…
Thành Phật Nghi Quỹ tụng rằng:
Do tụng chữ Úm này, gia trì oai lực vậy.
Dù quán tưởng không thành, nơi các Phật hải hội.
Các cúng dường mây biển, chơn thật đủ thành tựu.
Do chư Phật chắc thật, pháp nhĩ đã thành vậy.
Do vừa tụng chữ Á, diệt sạch các tội chướng.
Ðược các vui ý lạc, đồng đẳng tất cả Phật.
Vượt hơn các chúng ma, không thể làm chướng ngại.
Ðáng thọ các thế gian, rộng nhiều thứ cúng dường.
Do gia trì chữ Hồng, cọp sói các trùng độc,
Ác tâm người chẳng người, không còn thể khuấy phá.
Như Lai mới thành đạo. Nơi dưới cội Bồ đề.
Dùng Ấn Mật ngôn này, phá dẹp chúng Thiên ma.
Kinh Ðại Phật Ðảnh Ðà Ra Ni nói: Giả sử có chúng sanh nơi tâm tán loạn, miệng tụng Thần chú, còn có 8 vạn 4 ngàn na do tha hằng hà sa trăm ức, Kim Cang Tạng Vương Bồ Tát chủng tộc. Mỗi vị đều có các chúng Kim Cang làm quyến thuộc. Ngày đêm thường theo hầu hạ ủng hộ, người này dù cho ma vương rình tìm phương tiện, trọn không thể được, các Thần quỷ núi đi cách xa người thiện nhơn này, ngoài mười do tuần. Nếu có quyến thuộc của ma muốn tìm đến phá rối người thiện ấy, các chúng Kim Cang lấy chày Bảo xử đập nát cái đầu kia cũng như hạt bụi, hằng khiến người này việc làm như nguyện.
GIẢI: Như trên tu trì bi kỉnh các Chơn ngôn, nếu không thể mỗi mỗi tụng trì chép tả ấy, thì tất cả việc làm hết thảy đều dùng Chuẩn Ðề Chơn ngôn cũng được. Vì Chuẩn Ðề Chơn ngôn giống như châu ngọc như ý, nếu người tu hành trì tụng nơi chỗ dùng đó, đều được thành tựu. Như trên tụng trì Chơn ngôn, hay diệt ngũ nghịch, thập ác, tứ trọng tội ấy. Phải biết tội có Tánh tội và Giá tội, sám hối phải đủ Sự Lý. Tánh thời không luận thọ giới hay không thọ giới, làm là có tội. Giá (ngăn) nghĩa là tăng thọ Phật giới, tâm hủy phạm. Sự, cần phải trình bày phát lồ, lễ Phật danh kinh, tu hành các nghi Phương Ðẳng, để hàng phục cội gốc của nghiệp. Lý, nghĩa là chuyên quán thật tướng, đạt tội tánh không, diệt nghiệp căn nguồn. Các Chơn ngôn Thần chú này, nếu hay y pháp tụng trì, tức song vận cả Sự Lý, nguồn tội gốc nghiệp liền tiêu. Nếu phạm cấm giới, căn cứ theo luật nói sám hối, gia thêm Thần chú, thời Sự Lý gồm đủ, Tánh Giá đều tiêu hết không sót. Không thể vừa nghe công lực của Thần chú như thế, liền trái phạm cấm giới, không y luật sám hối thì giá tội cũng phải còn. Hoặc nhờ nương Nghi Quỹ Chơn ngôn lại tạo thêm các lỗi. Thí như người ngu, ỷ thế lực của vua, rộng tạo các ác, họa trọn đứt đầu. Nghiệp tâm không dứt, tội thật khó trừ, quyết khiến thân tâm đều tiêu, mới được diệt tội, như ánh mặt trời sương mù tiêu tan.
SỔ CHÂU CÔNG ÐỨC PHÁP
Nói về tràng chuỗi, để tâm ghi nhớ cho người sơ cơ chứa nhóm công đức. Trì ấy là thành đức, đeo là diệt tội cấu, quả tốt của thế gian và xuất thế gian đâu không do đây ư! Như kinh Kim Cang Ðảnh Du Già Niệm Châu nói: Lúc bấy giờ đức Tỳ Lô Giá Na Thế Tôn bảo Ngài Kim Cang Thủ rằng: Lành thay! Lành thay! Vì các Bồ Tát tu Chơn ngôn hạnh, nói các Nghi Quỹ, thương xót đời vị lai, hết thảy hữu tình, nói công đức thắng lợi niệm châu, do nghe như vậy, diệu ý thú ấy, mau chứng Tất Ðịa. Khi bấy giờ Ngài Kim Cang Tát Ðỏa Bồ Tát bạch Phật mà nói: Thưa Thế Tôn! Con nay xin nói. Lúc bấy giờ Kim Cang Tát Ðỏa Bồ Tát nói bài kệ rằng:
Châu biểu thắng quả của Bồ đề,
Nơi trong đoạn dứt hữu vi lậu.
Sợi dây xâu suốt biểu Quán âm,
Mẫu châu biểu tượng Vô Lượng Thọ.
Dùng lần qua khỏi tội vượt pháp,
Ðều do niệm châu chứa công đức.
Xa cừ niệm châu một bội phước.
Gỗ quý niệm châu hai bội phước.
Lấy thiết làm châu ba bội phước,
Thục đồng làm châu bốn bội phước.
Thủy tinh chơn châu và các bảo,
Thứ ấy niệm châu trăm bội phước.
Ngàn bội công đức Ðế Thích hột,
Kim Cang hạt châu trăm ức phước.
Sen hạt niệm châu ngàn trăm ức,
Bồ đề hạt châu vô số phước.
Phật bộ niệm châu Bồ đề hạt
Kim Cang bộ pháp Kim Cang hạt.
Bảo Hộ niệm tụng dùng các bảo,
Liên Hoa bộ châu dùng sen hạt.
Trong yết ma bộ làm niệm châu,
Các châu xen lộn nên xâu lại.
Niệm châu phân biệt có bốn món,
Thượng phẩm tối thắng và trung hạ.
Một ngàn tám mươi là bực trên,
Một trăm lẻ tám châu tối thắng.
Năm mươi bốn châu là bực trung,
Hai mươi bảy châu là bực hạ.
Hai tay trì châu để ngang ngực,
Tịnh lặng lìa niệm tâm chuyên chú.
Bổn Tôn Du Già tâm một cảnh,
Ðều được thành tựu sự lý pháp.
Dù để đầu đảnh hay thân mang,
Hoặc đeo nơi cổ hay nơi tay.
Lời nói luận bàn thành niệm tụng,
Lấy đây niệm tụng ba tịnh nghiệp.
Do để đảnh đầu tịnh vô gián,
Do đeo trên cổ tịnh tứ trọng.
Nắm châu nơi tay trừ trọng tội,
Hay khiến hành giả mau thanh tịnh.
Nếu tu Chơn ngôn Ðà Ra Ni
Niệm các Như Lai Bồ Tát danh.
Ðược thu vô lượng thắng công đức,
Mong cầu thắng nguyện đều thành tựu.
(Ba bộ niệm tụng trì số châu, thủ ấn tướng nay sẽ phân biệt.)
Tô Tất Ðịa cúng dường pháp nói: Lấy tay mặt ngón tay, nắm ngón vô danh, ngón trỏ mở thẳng, ngón giữa ngón út hơi co, lấy ngón trỏ để sát một bên lóng trên ngón giữa. Ðây là thông ba bộ chấp số châu ấn. Liên hoa bộ chấp số châu ấn. Lấy tay mặt ngón cái nắm ngón tay giữa, còn ba ngón kia thì mở ra thẳng, tay trái cũng vậy. Kim Cang bộ chấp châu ấn. Lấy tay mặt nắm lại, mở thẳng ngón cái, nắm ngón trỏ, tay trái cũng vậy. Kinh Trì Minh Tạng Nghi Quỹ nói: bảo người con gái nhỏ lấy chỉ xe lại thành 21 lần, thành rồi mới xâu hạt châu. Khi trì tụng, lấy ngón tay cái nắm một hạt châu, tụng một biến Chơn ngôn.
HÀNH DU GIÀ BÍ MẬT PHÁP YẾU
Ðại Luân Kim Cang Ðà Ra Ni.
Nẵng mồ tư để lị dã, địa vĩ ca nẫm, đát tha nga đa nẫm, ám, vĩ la nể, ma ha chiết ca ra, phạ nhựt lí, ta đa, ta đa, ta ra đế, ta ra đế, đát ra dĩ, đát ra dĩ, vĩ đà ma nể, tam bạn nhã nễ, đát ra ma để, tư đà nhĩ lí da, đát lãm, ta phạ ha.
Phạn âm:
Nô môsi ti li gia, ti mi ca năng, thạc ta gia thạc năng, ản pi la ni, pi la ni, ma kha tchêch cà la, ma di li, sa thạc sa thạc, sa la ti, sa la ti, thạc la ý, thạc la ý, pi thạc ma ni, sam bàn già ni, thạ la ma ni, si tạ mi lì gia, thạ nắng, sa va kha (3 biến).
A Súc Như Lai tụng pháp nói:
Do tụng Chơn ngôn này như vào vòng đàn pháp (Mandala).
Mất niệm phá chánh định, Bồ Tát cùng Thanh Văn.
Thân miệng hai luật nghi, tứ trọng ngũ vô gián.
Các tội chướng như vậy, thảy đều được thanh tịnh.
Lại Cam Lồ Quân Trà Lợi Bồ Tát, niệm tụng nghi nói: Kế đến Kim Cang Luân Bồ Tát ấn, vì nhập vào đàn pháp, thọ được ba đời vô chướng ngại, ba món luật nghi của Bồ Tát, do nhập vào đàn pháp, thân tâm đủ mười vi trần sát thế giới, vi trần số Tam ma da, vô tác giới cấm. Hoặc nhơn co duỗi cúi ngước, phát lời ra hơi, khởi tâm động niệm, quên mất tâm Bồ đề, lui mất căn lành. Lấy ấn khế mật ngôn thù thắng phương tiện này, tụng trì tác ý, hay trừ vi phạm các lỗi lầm. Ta ma da như vậy, tăng thêm ánh quang tỏ. Hay tịnh thân khẩu ý. Ðược thành nhập tất cả đàn, thu hoạch quán đảnh Tam ma da.
CHÚ Ý ẤN TƯỚNG
Hai tay bên trong tréo nhau, đứng thẳng hai ngón tay trỏ khít nhau, lấy hai ngón tay giữa quấn vào hai ngón tay trỏ ở trước lóng thứ nhứt, mỗi ngón tay trỏ đứng nhau, hai ngón cái giáp thẳng nhau. Kiết ấn để ngang ngực, niệm tụng mật ngữ. Nếu chưa nhập đàn không cho làm các phép. Nên dùng Chơn ngôn này, tức sẽ được nhập vào đàn làm các phép tắc, thì không thành tội trộm pháp vậy.
Kết ấn khế, đối với nhà tu Mật tông rất quan trọng, quyết cần phải đến thầy truyền trao cho mới có linh nghiệm, không cho người khác xem thấy. Khi kết ấn phải ở chỗ tịch tịnh, thân thừa thọ bẩm chư sư truyền lại, khi kết ấn phải để kín trong áo y, nếu làm không đúng pháp mà kết ấn, các Mị thần, và Tỳ Na Dạ Ca sẽ làm chướng nạn chết đọa địa ngục. Không được quán đảnh, không phát Bồ đề tâm. Trước các người khác không được kết các ấn khế.
TỤNG KỆ
Khể thủ qui y Tô Tất Ðế
Ðầu diện đảnh lễ Thất Cu Chi,
Ngã kim xưng tán Ðại Chuẩn Ðề,
Duy nguyện từ bi thùy gia hộ.
Nam Mô tát đa nẫm tam miệu tam bồ đà cu chi nẫm đát điệt tha: Úm (Án) Chiết Lệ, Chủ Lệ, Chuẩn Ðề Ta Bà Ha. (Bộ Lâm) (3 lần)
Thiêu hương (thắp hương)
Tụng kệ Chuẩn Ðề và Thần chú ba biến; kính lễ ba lễ.
SÁI TỊNH
Tụng chú Chuẩn Ðề gia trì trong chén hay tịnh bình 21 biến. Sái vẩy nơi thân và nơi đất tám phương trên dưới.
KẾT ẤN HỘ THÂN
Tụng Úm (Án) Xỉ Lâm (21 biến)
Tụng chú Chuẩn Ðề (7 biến)
An ấn nơi trên đảnh, nơi trán, nơi vai mặt, nơi vai trái, nơi tâm (giữa ngực) nơi miệng. Rồi xả ấn lên đảnh đầu.
PHỔ LỄ
Dùng toàn kệ toàn chú Chuẩn Ðề ba biến (3 lễ). Ðứng hay ngồi nơi tòa tùy ý.
TỊNH PHÁP GIỚI
Tụng Úm (Án) Lam (21 biến)
Tụng chú Chuẩn Ðề 3 biến.
Kiết ấn quán tưởng.
Từ chữ Lam biến thành vòng lửa tam giác thiêu tận từ đảnh đến chân của hành giả.
KIẾT GIỚI
Dùng Thần chú Chuẩn Ðề.
Kết ấn.
Trước xoay bên trái niệm ba biến, kế xoay bên mặt niệm ba biến. Sau nơi trán, vai trái, vai mặt, tâm (ngực), nơi miệng đủ năm biến, mỗi nơi một biến.
TRIỆU THỈNH
Dùng Thần chú Chuẩn Ðề. Kiết ấn Chuẩn Ðề (Bổn Tôn ấn) ba biến triệu thỉnh.
Quán tưởng đức Bổn Tôn Chuẩn Ðề giáng lâm an trụ Kính đàn.
CÚNG DƯỜNG
Kết Cúng Dường ấn (Hư Không Tạng ấn)
Tụng Chuẩn Ðề bảy biến.
Tâm quán sáu món cúng dường,
Rất nhiều vô lượng vô số.
BỔN TÔN GIA TRÌ
Kiết ấn Chuẩn Ðề. Tụng chú Chuẩn Ðề bảy biến (rồi xả ấn trên đảnh) ẤN.
Chánh niệm tụng.
Trì châu (lần chuỗi) niệm Chuẩn Ðề chú 108 hay 1080 biến.
TÁN THÁN
Ðại tai Phật Mẫu,
Vô đẳng Vô luân,
Nhứt thập bát tý hiển Oai Thần,
Mật chú lợi Thiên Nhơn.
Lễ niệm công thuần,
Ðờn chỉ xuất mê tân.
Nam Mô Chuẩn Ðề Vương Bồ Tát (3 lần)
(Sau gia trì) chấp tay niệm chú Chuẩn Ðề bảy biến (hoặc tụng kinh chú khác tùy lòng).
TRỞ LẠI CÚNG DƯỜNG
Kết Hư Không Tạng ấn
Tụng chú Chuẩn Ðề bảy biến, quản tưởng sáu món cúng dường.
- Khể thủ quy y Tô Tất Ðế
Ðầu diện đảnh lễ Thất Cu Chi
Ngã kim xưng tán Ðại Chuẩn Ðề
Duy nguyện từ bi thùy gia hộ.
Nam Mô táp đa nẫm tam miệu tam bồ đà cu chi nẫm đát điệt tha:
ÚM CHIẾT LỆ CHỦ LỆ CHUẨN ÐỀ TA BÀ HA. (3 lần)
SỞ NGUYỆN HỒI HƯỚNG
Ngã kim trì tụng Ðại Chuẩn Ðề,
Tức phát Bồ đề quảng đại nguyện
Nguyện ngã công đức giai thành tựu
Nguyện ngã thắng phước biến trang nghiêm,
Nguyện cộng chúng sanh thành Phật đạo.
Ngã tích sở tạo chư ác nghiệp,
Giai do vô thỉ tham sân si.
Tùng thân ngữ ý chi sở sanh,
Nhứt thiết ngã kim giai sám hối.
Ngã đệ tử … sở nguyện.
Linh ngã hiện thế chi nội,
Tất Ðịa đắc thành tựu.
Ngũ phước trùng tăng,
Tha báo chi trung, nhị nghiêm sung bị.
Giải giới ( Kiết giải giới ấn, tụng chú Chuẩn Ðề một biến)
PHỤNG TỐNG ẤN (Ðưa đi)
Tụng Chuẩn Ðề ba biến, đưa ấn ra như hình đồ, rồi xả ấn lên đảnh.
Kế tiếp ấn Hộ thân
Tụng Chuẩn Ðề 7 biến, ấn năm chỗ trên đảnh, trán, vai mặt, vai trái, tâm (ngực), miệng. Rồi xả ấn lên đảnh.
Chấp tay đảnh lễ, tụng toàn bài kệ và toàn chú Chuẩn Ðề ba biến (lễ 3 lễ). Kết phổ lễ ấn.
PHỤ BẢN TRÌ CHÚ THÁP
Người tu hành pháp bí mật, như trong kinh dạy, cần phải đến nơi núi non, hang gọp, nơi hoang đảo, nơi tịnh xứ, nơi mé biển bãi cát, in hình tháp mà trì chú Chuẩn Ðề, nếu chưa có nhơn duyên đi các nơi ấy, ở nơi tịnh thất trang nghiêm, in hình tháp trên giấy trì chú Chuẩn Ðề. Trì Chuẩn Ðề Chơn ngôn mỗi 108 biến chấm vào vòng tròn trên tháp, xong rồi để trước tượng Bổn Tôn Chuẩn Ðề, cầu nguyện những gì mình mong ước.
Như cầu vị Tất Ðịa, hoặc cầu tiêu tai chướng, hoặc cầu phước đức thông minh, cầu tiền tài, hoặc sở cầu như ý v.v…
Cầu nguyện rồi thiêu đốt tháp nơi trong lư. Một tháp chưa thành tiếp niệm hai, ba cho dến bảy, mười, một trăm. Tháp quyết định thành tựu như nguyện.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét