Kho báu của trí tuệ
Có một kẻ trộm tối đến chui vào một ngôi chùa, muốn ăn cắp đồ đạc, nhưng lục rương cho đến tủ đều không tìm ra món gì đáng giá để trộm, bất đắc dĩ nên định bỏ đi.
Lúc này Thiền sư đang ngủ trên giường mở miệng nói: “Ê, người bạn kia, đã muốn đi thì luôn tiện đóng cửa dùm tôi!”
Kẻ trộm giật mình, liền nói: “Ông vốn lười biếng như thế sao, ngay đóng cửa cũng nhờ người khác đóng, thảo nào trong chùa ngươi chẳng có gì đáng giá”.
Thiền sư Vô Tướng nói: “Người bạn này quá đáng quá rồi, lẽ nào bắt kẻ già nua này mỗi ngày cực khổ kiếm tiền mua đồ đạc cho ngươi ăn trộm sao?”
Tên trộm cảm thấy gặp phải Hoà thượng này thật là hết cách rồi.
Thực tế,Thiền sư không phải không có thứ gì. Đồ vật mà Thiền sư có là kho báu vô tận, kẻ khác không thể trộm đem đi được. Người trong đời chỉ biết sưu cao thuế nặng, người chết vì của, tâm bị của cải trói buộc. Bạn có tiền rồi, thì ngay kẻ cắp cũng không bỏ qua cho bạn, chẳng bằng có kho báu trí năng vô hạn trong bản tánh của mình, đây mới là của cải mà bất cứ kẻ nào cũng không thể ăn cắp đi được.
Khổ đau
Không cần một nền triết học cao siêu hay trí tuệ của một tôn giáo uy tín, ai cũng có thể tự cảm nhận về khổ đau như một sự thật luôn hiện hữu trong thế gian này. Đến nỗi người ta còn thốt lên rằng đời người có khác gì một bản trường ca thống khổ đầy nước mắt.
Nhớ những lần nằm liệt trên giường bệnh, ăn uống hay ngủ nghỉ đều khó khăn, cộng với sự đau nhức ở bộ phận nào đó trên cơ thể làm ta rã rời và vô cùng mệt mỏi. Với những chứng bệnh không quá nặng và có cách điều trị tốt thì cơ hội bình phục sẽ xảy ra nhanh, trong khi những kẻ xấu số phải đón nhận chứng bệnh nan y nguy kịch, hay những người già phải sống chung với những căn bệnh dai dẳng đến cuối đời thì mới thật chua xót.
Ngay cái già nua cũng đã đem tới nhiều khổ lụy. Mỗi ngày nhìn thấy tuổi thanh xuân của mình phóng đi vội vã, nhường chỗ cho những gì thuộc về úa tàn, lụn bại, ai mà chẳng nao lòng luyến tiếc. Càng cố gắng làm thêm nhiều việc để người trẻ đừng coi thường thì ta càng bộc lộ sự xuống cấp của mình. Tuổi già rất dễ quên trước quên sau, có khi muốn gọi ngay tên một người để chứng tỏ mình vẫn chưa quên người ấy, nhưng lục lọi cả giờ trong ký ức mà ta chẳng tài nào nhớ nỗi. Những lúc ấy thật đáng giận.
Và rồi sự thật là ai cũng phải già, ai cũng phải bệnh và ai cũng phải chết. Có thể nói tử biệt là nỗi đau thống thiết nhất của nhân sinh. Cái khổ phải độc hành với con đường mịt mờ phía trước cũng chưa bằng cái khổ phải bỏ lại những người thương yêu. Có nhiều cuộc phân kỳ không dự báo trước do biến cố bất ngờ xảy ra, khiến không ai kịp nhìn thấy mặt nhau để nói lời từ biệt mới thật sự là đoạn trường thương đau.
Đoạn trường có nghĩa là đứt ruột. Cái đau của sự chia lìa giữa hai con người thương yêu nhau có khác gì cái đau của khúc ruột bị cắt đứt làm đôi. Có lẽ vì thế mà người ta sắp sau nỗi khổ tử biệt chính là niềm sầu sinh ly. Thương nhau mà không được sống bên nhau, kẻ chân trời người góc bể, cũng là một khối sầu quá lớn.
Người ta đã viết không biết bao nhiêu bài thơ hay những bản tình ca đẫm lệ để ta thán cho cái niềm đau này. Thậm chí có người chỉ cần được sống bên người mình thương thêm một lần, một ngày hay vài phút giây ngắn ngủi để rồi xa nhau mãi mãi thì cũng mãn nguyện, vì với họ sự sống biệt ly đã là một sự chết rồi.
Nếu biệt ly đem tới cái đau day dứt cho những người thương yêu nhau thì hội ngộ chung thuyền sẽ là nỗi khổ triền miên cho những tâm hồn lạc lõng không hòa chung nhịp. Mỗi ngày phải đối diện, phải tiếp xúc với người mà mình có biết bao điều ngăn cách và chán ghét thì có khác gì sống trong hỏa ngục. Đôi khi vì lý do gì đó mà ta phải phục tùng mệnh lệnh, phải im lặng lắng nghe những lời quở trách vô cớ, hoặc phải có trách nhiệm chăm sóc hay yêu thương những kẻ ấy thì còn kinh khủng hơn cả sự đọa đày.
Chưa nói tới những biến động lớn lao về đời sống vật chất như sự suy sụp đột ngột của kinh tế thị trường, sự lừa đảo trong hợp tác làm ăn, hoặc bị chèn ép hoặc tước đoạt quyền lực, hoặc những tổn thất về danh dự như sự xúc phạm, hủy nhục hay phản bội cũng có thể tạo nên những cân não nặng nề. Ta đã từng chứng kiến không ít kẻ kẹt vào danh lợi và ái tình mà đã trở thành nạn nhân của những chứng bệnh tâm thần hay trầm cảm, thậm chí họ chọn luôn giải pháp kết liễu cuộc đời mình để mong chấm dứt cơn khổ não.
Xem ra không có cái khổ nào nhỏ hơn cái khổ nào, vì cái khổ nào cũng làm cho ta nhọc nhằn và cạn kiệt năng lượng. Và cũng không cần chứng minh gì thêm nữa, tự thân ai cũng công nhận khổ đau là một sự thật luôn hiện hữu và đeo bám thân phận mỗi con người. Dù cố gắng không nhìn bằng con mắt bi quan thì ta cũng không thể nào phủ nhận, bởi không ít lần trong thinh vắng ta đã kêu lên những tiếng thở dài: Đời quả là bể khổ!
Có lẽ vì sự thật đó quá rõ ràng và đáng sợ nên người đời đã tìm cách quên đi, thậm chí không dám nhắc tới như một điều cấm kỵ, hoặc cố gắng tìm kiếm những niềm vui thú để lấp vào. Nhưng rồi sự thật cũng vẫn là sự thật, không thể nào che đậy mãi được. Một khi niềm đau nỗi khổ trào lên tới đỉnh điểm, nó sẽ cuốn phăng tất cả những lớp vui thú mong manh tạm bợ để nắm trọn quyền thống trị.
Như một sự an bài của tạo hóa, khổ đau từ bao đời nay đã trở thành bản án vô hình mà bất kỳ ai đi ngang qua cõi đời này cũng không tài nào thoát khỏi.
Khổ đau hay bất như ý?
Có người rất thích ngắm tuyết rơi, họ có thể đi hằng giờ dưới tuyết để lấy cảm hứng cho những ý thơ thầm kín, hay để tâm hồn lắng đọng cho những suy nghiệm về bí ẩn của cuộc đời. Trong khi tuyết lại là mối khổ tâm của rất nhiều người nơi bản xứ, vì nó gây trở ngại không ít cho những người làm nông trại hay trong việc giao thông.
Người làm doanh nghiệp lớn thường tất bật suốt ngày với công việc, nên lúc nào họ cũng ước ao có được những ngày nghỉ ngơi trọn vẹn, không phải trả lời điện thoại, không phải đối đầu với khách hàng. Đối với họ được ngủ một giấc yên lành hay ngồi thật lâu để thưởng thức chén trà thơm với những người bạn đã là một thiên đường rồi. Trong khi những người trẻ mới ra trường lại mong muốn kiếm được thật nhiều việc, làm càng nhiều càng tốt, với họ ở không là một sự nhàm chán và vô nghĩa.
Những kẻ đã nắm được nghĩa đẹp của tình yêu, không để tình yêu giới hạn lại trong sự ưa thích mới lạ ở hình thức và trong sự hưởng thụ đổi chác, biết cách xây dựng và bảo vệ cho nhau nên nhìn đâu cũng thấy đáng yêu và tràn đầy sức sống. Trong khi lắm kẻ bước vào địa đàng tình ái bằng đôi chân lóng ngóng, ngập tràn những khát khao nông nổi nên chẳng bao lâu họ đã gục ngã rồi trở nên oán hận tình yêu, và kết luận yêu là khổ.
Đúng thực yêu là khổ, nhưng phần lớn những cái khổ kia đều do chính ta tạo ra chứ chúng không phải là cái khổ bắt buộc phải có trong bất cứ tình yêu nào. Mọi thứ khác trong cuộc sống cũng vậy, nhìn trong chiều sâu của bản chất ta sẽ thấy chúng không hề được ghi chép sẵn tính chất khổ đau, mà hầu hết nguyên do của mọi khổ đau chỉ tại vì chúng không làm thỏa đáng hay trái nghịch với những mong đợi của ta mà thôi.
Ta ít khi nhìn vào những gì mình đang có như những điều kiện hạnh phúc mà rất nhiều người mơ tưởng, vì khao khát được hoàn hảo nên ta tự đặt cho mình những cái muốn rất kỳ lạ mà chính ta biết rõ là không thể nào thực hiện được như: Ước gì ta cao 1 mét 7 thay vì chỉ có 1 mét 6. Ước gì giọng nói của ta được thanh thoát và truyền cảm. Ước gì ta có trí não tốt để học đâu là nhớ đó. Ước gì gia đình ta thuộc tầng lớp trí thức hay quý tộc. Ước gì ta được sinh ra ở một thành phố xinh đẹp hay một đất nước văn minh giàu có.
Ta luôn cho đó là những nguyện vọng rất chính đáng vì người khác có được mà tại sao ta lại không. Ta cứ so sánh, cứ đòi hỏi mình phải có đầy đủ những điều kiện tối ưu của kẻ khác. Càng kẹt vào những ước muốn thì ta càng đánh mất những giá trị cao đẹp khác của chính mình rồi dần dần rơi vào mặc cảm, tuyệt vọng và bế tắc. Chung quanh ta có rất đông người như vậy, họ không thể hạnh phúc chỉ vì họ đang có một vài điều bất như ý.
Buồn cười hơn là ta thường có những phản ứng khó chịu hoặc bức xúc vì những điều hết sức phi lý như: Tại sao trời lại mưa vào ngày mình đi picnic vậy? Tại sao đường phố cứ kẹt xe vào những lúc mình gấp gáp như thế này? Tại sao bây giờ cái gì cũng tăng giá hết thì làm sao mà sống? Tại sao mình phấn đấu không ngừng mà vẫn không giàu như người ta? Tại sao số mình không được may mắn như hắn? Tại sao người ấy không chịu làm theo ý mình? Tại sao mình nói dối chỉ có đôi lần mà người ấy lại không tin mình?
Những cái muốn hay không muốn của ta xuất phát từ ý niệm thích hay không thích. Bởi trong ta có sẵn những tập tin do di truyền hay học hỏi từ môi trường về những điều kiện đảm bảo an toàn và lợi ích cho bản ngã. Cho nên tùy vào nhận thức nông cạn hay sâu sắc của mỗi cá thể mà bản năng sinh tồn sẽ khác nhau và mức độ khổ đau cũng khác nhau.
Tại vì những cái thích sẽ thúc đẩy ta cố gắng tìm cầu rồi bám víu, những cái ta không thích sẽ thúc đẩy ta cố gắng tránh né rồi đuổi xua. Trong khi đời sống của bất cứ cá thể nào cũng phải chịu tác động qua lại bởi một hay nhiều cá thể khác và cả sự vận hành của vũ trụ bao la kỳ bí này nữa, thì làm sao ta có thể muốn mọi thứ theo ý của mình kia chứ?
Ngay chính tâm thức của ta, cái nhận xét, cái quyết định và cái ước muốn của ta cũng có lúc vầy lúc khác. Có những cái ta đã từng ước muốn sở hữu cho bằng được nhưng bây giờ ta lại mong cho nó biến đi càng sớm càng tốt. Có những cái ngày xưa ta ghét cay ghét đắng nhưng bây giờ ta lại yêu thích. Có những điều ta chưa từng nghĩ ra nhưng bây giờ mới ý thức được. Giả sử tất cả những ước muốn của ta từ thái quá, phi lý đến bất thường đều thành tựu hết thì ta sẽ thành ra cái gì và xã hội này sẽ ra sao?
Cho dù những ước muốn được gọi là xứng đáng nhất, căn bản nhất để tạo nên một đời sống hạnh phúc bình thường cũng đã là sai rồi, nói chi đến những ước muốn chỉ để phục vụ cho lòng tham của mình. Vậy nên chỉ có những điều bất như ý (discontent) của con người đã tạo ra những ngang trái cho con người, chứ không hề có cái số phận hay định mệnh khổ đau, vì khổ đau không phải là một sự thật tuyệt đối trên cõi đời này.
Gốc rễ của khổ đau
Thử lấy một ví dụ về hoàn cảnh bất như ý như bệnh tật mà phần lớn ai cũng công nhận là khổ, để ta xét nghiệm xem thật ra trong đó có chứa đựng những nguyên nhân sâu xa nào.
Bệnh tật là điều không ai muốn vì nó luôn đem tới sự đau nhức, khó chịu. Nhưng với một người có thái độ hợp tác với cơn bệnh, chấp nhận nó là hệ quả tất yếu từ lối sống thiếu quan tâm hay thiếu phòng hộ sức khỏe đúng mức, hoặc chấp nhận nó là sự thật hiển nhiên của quá trình lão hóa cơ thể, thì ta sẽ không còn thái độ kháng cự nữa.
Nhưng bản năng của ta thường hay chống đối lại điều gì mình không ưa thích. Ta không chấp nhận mình phải bệnh vì có bệnh là xấu, là yếu đuối, là phải sống chung với những cảm giác khó chịu, là phải phiền người chăm sóc, là phải nằm bệnh viện, là phải mất cảm hứng làm việc, là phải đình trệ nhiều dự án, là phải tốn kém nhiều tiền bạc…
Như vậy nguyên nhân đầu tiên là do ý niệm sai lầm rằng mình sẽ không bao giờ có bệnh hay chưa tới lúc phải bệnh, nên khi nó xuất hiện đột ngột đã làm cho ta giật mình hoảng hốt. Trong đó có thái độ lo sợ vì không biết chứng bệnh này có nguy hiểm không? Có phải là ung thư không? Có phải do truyền nhiễm từ những người sống chung không? Có ảnh hưởng gì tới trí nhớ hay khả năng sáng tạo nếu phải phẫu thuật không?
Cũng như có một kẻ xấu nào đó bắn vào ta một mũi tên thì ta đau nhức lắm, liền ngay sau đó lại có một mũi tên khác bay tới và cắm vào đúng vị trí của mũi tên thứ nhất thì cái đau nhức kia không phải tăng lên gấp đôi, mà là gấp nhiều lần. Mũi tên thứ hai mới đem tới khổ lụy thật sự. Mũi tên thứ hai chính là trí tưởng tượng phong phú của ta. Do nội lực yếu kém nên ta thường dựng lên trong tâm tưởng những hình ảnh rất sai lệch với sự thật như để phòng thủ an toàn. Thực tế cho thấy người ta không dễ chết vì hoàn cảnh mà lại chết vì vọng tưởng của chính mình. Đó là một loại tâm bệnh khá nặng.
Nguyên nhân thứ hai là thái độ phản ứng của ta. Ta không chấp nhận mình phải mắc chứng bệnh quái quỷ đó và không chấp nhận sự hành hạ của nó khiến ta mất hết năng lực để sinh hoạt như một người bình thường. Cho nên ta tất tả tìm mọi cách để loại trừ nó càng sớm càng tốt. Nếu gặp phải những chứng bệnh nặng hay loại mãn tính thì ta càng khó chấp nhận và thái độ kháng cự sẽ càng quyết liệt hơn. Chính thái độ của ta đã làm phát sinh ra tâm bệnh, mà tâm có liên quan mật thiết với thân, nên bệnh tình của ta càng trở nên trầm trọng.
Thực ra bệnh chỉ là một cảm giác đau đớn, khó chịu (unpleasant) chứ chưa hẳn là một cái khổ (suffering), vì không phải ai mắc bệnh cũng khổ. Ta thường hay lầm lẫn giữa cái cực, cái đau với cái khổ. Dĩ nhiên sự xáo trộn trong cơ thể hay của hoàn cảnh dễ tạo nên áp lực và làm cho ta đau nhức, nhưng nếu ta là một con người có luyện tập, am hiểu và điều phục được cảm xúc của mình thì ta sẽ mau chóng bớt khổ, hoặc ít khổ, hoặc có thể đạt tới mức không thấy khổ nữa mà chỉ thấy đơn thuần là một hoàn cảnh bất như ý thôi.
Nghĩa là tùy vào nhận thức của mỗi người mà cái khổ ấy có thể nhỏ hay lớn, và tùy vào khả năng hứng chịu của mỗi người mà cái khổ ấy trở nên nhẹ hay nặng. Cái khổ của người này không nhất thiết giống hệt với cái khổ của người kia. Cho nên hoàn cảnh bất như ý chưa hẳn là nguyên nhân gây ra khổ đau, mà chính cách nhìn nhận và khả năng tiếp nhận hoàn cảnh mới quyết định cho khổ đau có mặt hay có mặt ở cung bậc nào.
Ta thường hay hỏi tại sao mình phải hứng chịu quá nhiều khó khăn, nhưng mỗi khi đón nhận những điều kiện thuận lợi thì lại sung sướng mỉm cười mà không hề truy cứu nguyên nhân từ đâu. Con người là vậy, chỉ biết đòi hỏi sự hưởng thụ chứ không thấy được nguyên tắc sâu xa tạo nên sự cân đối trong vũ trụ này là: có thăng phải có trầm, có được phải có mất, có thành phải có bại, có hợp phải có tan. Vậy muốn thăng, muốn được, muốn hợp hay muốn thành lâu hơn thì ta phải học tập cách chuyển hóa mặt trái của nó và học tập kỹ năng giữ gìn nó. Hơn nữa, ta là tác nhân chính gây ra mọi nghiệp lực của mình thông qua tư duy, lời nói và hành động từ trong quá khứ. Đó là quy luật nhân quả rất công bằng, có làm có chịu, mà ta không thể nào cầu nguyện hay ước muốn được.
Vậy nên thay vì ta tìm cách thay đổi hoàn cảnh hay mong cầu một hoàn cảnh như ý thì ta hãy quay về điều chỉnh lại nhận thức của mình về chính bản thân mình và về cuộc sống, cũng như nuôi dưỡng lại khả năng chấp nhận những nghịch cảnh. Bởi nhìn cho thấu đáo ta sẽ thấy thái độ yêu thích có gốc rễ từ tâm tham, và thái độ không thích có gốc rễ từ tâm sân. Tâm tham và tâm sân có gốc rễ từ tâm si mê, tâm chỉ muốn được thỏa mãn cảm xúc bản ngã, mà không biết làm sao để tạo nên một đời sống bình an và hạnh phúc chân thật.
Lẽ dĩ nhiên là con người thì ai mà không có tâm tham và tâm sân, nghĩa là vẫn phải gửi tâm mong cầu đến những gì mình thích và khước từ những gì mình không thích. Tuy nhiên, nếu ta bớt đi những danh mục thích hay không thích mà mình đã từng lưu trữ, nghĩa là ta tập chấp nhận và tùy thuận vào cuộc sống nhiều hơn thì chắc chắn ta sẽ nhẹ nhàng lướt tới phía trước như con thuyền vừa trút xuống những kiện hàng to tát. Con người càng bớt đi những đòi hỏi từ bên ngoài là con người có sức mạnh bên trong. Cuộc đời vẫn luôn mở rộng lối đi cho những ai biết lùi lại một bước để nhường cho kẻ khác.
Như hạt bụi để khuyết nơi này thì nó sẽ làm thừa chỗ khác, và rồi một cách tự nhiên hạt bụi khác sẽ đến lấp đầy chỗ này và chỗ thừa kia sẽ tìm cách đẩy hạt khác đi. Vũ trụ tuy không ngừng biến dịch, nhưng mãi mãi vẫn giữ thế quân bình trong bản thể. Chỉ khi nào ta thấy mình cũng là hạt bụi nhưng cũng là một bãi cát, hạt bụi nào cũng là ta và không hạt bụi nào mà không phải là ta cả; thấy được dòng sinh mệnh bất tuyệt của mình luôn gắn liền với mọi đối tượng, thì ta mới có thể rong chơi tự tại giữa cõi đời này theo tinh thần nhân quả và nguyên tắc duyên sinh mà không còn vướng kẹt bãi cát đầy hay bãi cát lở.
Đối tác của hạnh phúc
Khi dầm mình giữa giá rét trời đông, ta luôn mong ước sớm được về với căn nhà ấm áp, nhưng vừa ngồi xuống bên lò sưởi chưa được bao lâu thì ta bỗng quên mất giây phút mầu nhiệm ấy, cứ loay hoay tìm việc để làm, hoặc tranh thủ nghĩ tới những dự án.
Con người là vậy, rất mau chóng bình thường hóa mọi thứ. Lúc chưa có thì khao khát, khi có rồi lại khinh lờn và muốn đi tìm những thứ khác. Sau những lần "chuộng mới nới cũ", tâm hồn luôn rơi vào trạng thái trống rỗng thì ta mới biết mình đã dùng cảm xúc hời hợt để đón nhận và giữ gìn hạnh phúc. Cho nên để giúp ta có ý thức và trân quý sâu sắc những gì mình đang có thì chỉ còn cách đẩy ta ra ngoài giá rét một lần nữa cho đủ thấm.
Cũng như đã từng bị đói mới biết quý cái ăn ngon, đã từng sống qua mùa tuyết lạnh mới quý chuộng ngày nắng ấm, đã từng bị bỏ rơi mới quý trọng những ân tình nho nhỏ, đã từng bị chia lìa mới yêu quý những giây phút đoàn viên, đã từng trải qua những mất mát tang thương mới thấy sự sống mà mình đang có thật vô cùng quý giá.
Thế nên những điều kiện thuận lợi thường chỉ làm lớn mạnh thêm bản năng hưởng thụ, còn những hoàn cảnh khắc nghiệt mới giúp con người phát tiết hết tinh anh, bởi khả năng con người vốn rất vĩ đại, có thể bước qua bất cứ hoàn cảnh trái ngang nào và có thể đạt tới tự do tuyệt đối. Cũng như hoa mai và hoa đào phải trải qua một trận mùa đông giá rét thì mới có thể tung cánh và tỏa hương thơm ngát trong những ngày nắng ấm đầu xuân.
Vì vậy ta đừng oán trách hay chống đối hoàn cảnh vô thường, bởi nó sẽ vừa giúp ta luôn cảnh giác để đừng sống trong lãng quên, vừa giúp ta không kẹt vào tham đắm mà mất nhiều năng lượng sống, và cũng vừa giúp ta rèn luyện tính chịu đựng để ứng phó mọi hoàn cảnh. Huống chi vô thường đâu chỉ làm cho được rồi mất, thành rồi bại, hợp rồi tan; mà chính nó đã giúp cho mất rồi được, bại rồi thành và tan rồi hợp.
Hạnh phúc thiết lập trên những cái được, cái thành, cái hợp thì chỉ có tính tạm thời, nghĩa là nó vẫn còn nằm trong mối đe dọa của lưỡi gươm vô thường. Trải nghiệm từ cuộc sống ta sẽ tìm thấy được thứ hạnh phúc khác vượt ra khỏi sự khống chế đó. Nó vẫn chấp nhận thăng trầm biến đổi theo lẽ tự nhiên nhưng lại rất tự tại mà không hề thấy mất mát khổ đau. Nó chỉ đơn giản được xây dựng bằng chất liệu của một nhận thức đúng đắn: không mong cầu, không chống đối và một trái tim đủ lớn mạnh để chứa đựng.
Vì vậy cầu nguyện cho mình luôn được may mắn không phải là một thái độ khôn ngoan, nên ta hãy cố gắng tập nở nụ cười thật tỉnh táo để đón nhận bất kỳ nghịch cảnh nào đi tới. Sự thật ta cũng không thể nào đủ sức để thay đổi mọi hoàn cảnh. Tốt nhất hãy cho phép khổ đau bước vào cuộc đời ta một cách tự nhiên, nếu đến trong khi ta còn rất trẻ thì càng tốt, vì chính khổ đau sẽ trao cho ta một khả năng sống và chỉ cho ta bí mật của cuộc sống.
Vậy nên khổ đau là cần thiết, không có khổ đau thì con người sẽ khó nhận biết cái gì là hạnh phúc. Nói một cách sâu sắc là nếu không có khổ đau thì sẽ không có hạnh phúc, hay khổ đau chính là mặt khác của hạnh phúc, hay khổ đau cũng chính là hạnh phúc.
Nói thì nói cho tận cùng như thế, chứ nhìn vào thực tế bản thân thì ta phải đi từ nấc thang ban đầu, phải tập quan sát, thấu hiểu và chấp nhận những phản ứng khó chịu hay khổ đau nhỏ bé nhất. Bởi lâu lâu ta vẫn vùng vẫy, vẫn than trời trách đất, vẫn muốn buông xuôi tất cả và xách gói ra đi để tìm một miền đất hứa, vì trái tim ta đã không thể ôm nổi những nghịch cảnh quá lớn.
Dù vẫn còn lận đận trên con đường hạnh phúc, nhưng ít ra ta đã tìm cho mình một hướng đi đúng đắn. Con đường ta đang đi là con đường trở về chính trái tim ta để tìm hiểu, khám phá và chinh phục. Vì chính nơi trái tim ta có đầy đủ phẩm chất để tạo nên một đời sống hạnh phúc, và cũng nơi ấy cũng luôn chứa đựng bóng dáng âm u của những phiền não. Biết cách xua tan những đám mây u ám thì vầng trăng sáng trong sẽ hiện ra toàn vẹn, bởi dù năm tháng có trôi mau nhưng vầng trăng xưa ấy vẫn chưa bao giờ lặn khuất.
Khổ đi em vạn lần
Mới thấy đời đáng sống
Như đóa hoa chân thường
Nở ngay giờ tuyệt vọng.
Khổ đau & hạnh phúc (phần 1)
Đời đâu phải hoàn toàn khổ mà còn có vui. Giàu có, sung sướng, ăn ngon, mặc đẹp, nhà cao cửa rộng, được thỏa mãn mọi nhu cầu... sao bảo là khổ? Đứa bé ra đời ai cũng mừng sao bảo sinh là khổ? Bệnh thì khổ thật nhưng lão, tử đâu phải ai cũng khổ cả đâu! Có người có tuổi già rất đẹp, có cái chết thật bình yên sao bảo khổ? Đem giáo lý học thuộc trong sách Phật học, tôi trả lời anh: Đời là khổ, sinh lão bệnh tử khổ; thương yêu mà không được gần gũi phải chia lìa là khổ; cầu mong, ước muốn không được là khổ; không hợp, không vừa ý, ghét nhau mà phải chạm mặt hàng ngày hay chung sống là khổ; có thân năm ấm thì khổ. Rồi dẫn ba loại khổ: nào khổ khổ, hoại khổ và hành khổ! Tôi cố ra sức biện bạch, chứng minh tất cả những thứ trên đều vô thường, có đó không đó, để đi đến kết luận đời là khổ, nhìn đâu cũng thấy khổ!
Và một chị bạn quay quắt trước hoàn cảnh bế tắc của mình, tôi khuyên chị đi chùa. Chị đã cật vấn: Đến chùa liệu có giải quyết được mọi chuyện? Hoàn cảnh tôi bế tắc thế này làm sao có thể… Nhiều người có bao giờ đặt chân đến chùa mà cứ sướng phây phây, mấy người nghèo khổ, khó khăn, bệnh tật đến chùa có thay đổi được gì, hay khổ lại hoàn khổ? Tôi trả lời chị: Đời là khổ, có ai thoát khỏi khổ! Đạo Phật là đạo diệt khổ nên đi chùa, tìm đến với đạo Phật là giải pháp đúng đắn. Khổ đau, bệnh tật, nghèo túng... tất cả đều do nghiệp. Vậy chỉ có cách đến chùa tu tập, dần dần chuyển nghiệp… mới từ từ hết khổ.
Mặc dù cố ra sức phân tích, giải thích này nọ tôi vẫn không thuyết phục được họ. Trái lại, vô tình tôi đã trùm lên đạo Phật một bức màn ảm đạm, có thể đã khiến cả hai người ngần ngại đến với đạo Phật! Thật ra điều hai người bạn kia đặt ra làm tôi không khỏi băn khoăn, trăn trở: Đạo Phật khẳng định đời là khổ phải chăng là tiêu cực? Có điều chắc chắn, một thực tế không ai chối cãi là đời người ai cũng khổ, từ một vị tổng thống quyền uy đến kẻ bần cùng đều khổ cả, đó là một sự thật! Nào ai thoát khỏi khổ lụy phiền não lo âu? Cái thảm cảnh bi đát nằm ngay trước mắt bên tai, ngay trong mỗi người; những sự thật có thể thấy nghe chứ không ở đâu xa. Đứa bé ra đời, từ khi thụ thai nằm trong bụng mẹ cho đến khi sinh ra mẹ con đều đau đớn: khổ; sinh đẻ biết bao hiểm nguy: khổ; sinh ra thân thể không bình thường, khiếm khuyết: khổ; vào đời gặp cảnh nghèo túng: khổ; thi cử không đậu: khổ; công danh sự nghiệp lận đận: khổ; quan hệ với người xung quanh không suôn sẻ: khổ; tình yêu trắc trở: khổ; đau ốm bệnh tật: khổ; bị giựt hụi lâm nợ: khổ; con cái hư hỏng: khổ; người thân qua đời: khổ; bị người nói nặng nói nhẹ cũng khổ… Đủ trăm, ngàn lý do khổ. Người nghèo khổ đã đành mà người giàu có, chức trọng quyền cao cũng khổ! Khổ đè nặng lên thân phận con người. Cuộc sống càng văn minh, nhu cầu tiêu dùng, hưởng thụ vật chất ngày càng đạt đến đỉnh cao thì nỗi khổ càng nhiều; mối quan hệ càng rộng thì nỗi khổ đau càng lớn do vướng mắc và hệ lụy càng nhiều thêm. Nỗi khổ cuộc đời xưa nay không bút mực thế gian nào kể xiết. Có thể nói bao nhiêu áng văn thơ bất hủ Đông Tây kim cổ là bấy nhiêu thiên tình sử bi hận, cũng chỉ nhằm diễn tả nỗi khổ bi lụy của con người. Thoạt sinh ra thì đà khóc óe. Trần có vui sao chẳng cười khì (Chữ Nhàn-Nguyễn Công Trứ). Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều, Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu…, Roméo & Juliette của William Shakespeare, Truyện Kiều của Nguyễn Du… là những tác phẩm tiêu biểu nói về nỗi thống khổ muôn đời của con người:
Trải qua một cuộc bể dâu.
Những điểu trông thấy mà
đau đớn lòng!
Ảnh minh họa
Trong Cung oán ngâm khúc, thay mặt một cung nữ, Ôn Như Hầu đã thốt lên tiếng kêu than não ruột! Cũng chính là nỗi khổ đau vạn thuở của con người:
Gót danh lợi bùn pha sắc xám
Mặt phong trần nắng rám mùi dâu
Nghĩ thân phù thế mà đau
Bọt trong bể khổ bèo ngoài bến mê!
Hay:
Lò cừ nung nấu sự đời,
Bức tranh vân cẩu vẽ người
tang thương!
Có lẽ chính vì thế, bài học đầu tiên sau khi chứng ngộ chân lý tối thượng dưới cội bồ đề, Đức Phật đã giảng dạy cho chúng sinh - chuyển Pháp luân - mà trực tiếp cho năm vị đạo sĩ đồng tu trước đây, anh em Kiều Trần Như là Tứ diệu đế hay Tứ Thánh đế tức Bốn chân lý tối thượng: Khổ đế, Tập đế, Diệt đế và Đạo đế. Phật dạy đây là khổ: Khổ đế; đây là nguyên nhân dẫn đến khổ: Tập đế; đây là trạng thái chấm dứt khổ tức an lạc: Diệt đế; và đây con đường đưa đến vắng mặt khổ đau tức an vui hạnh phúc: Đạo đế. Bốn đế đều có tương quan tương tức với nhau. Gọi là chân lý mầu nhiệm vì Tứ diệu đế bao trùm mọi tương quan duyên khởi, chi phối hết thảy hiện tượng sự vật; trong đó một đế dung chứa và thâu nhiếp ba đế còn lại. Nói đến khổ tức phải có nguyên nhân dẫn đến khổ, chứ không do ai tạo ra kể cả các đấng thần linh, trời hay thượng đế. Và hễ có khổ tức có lạc và ngược lại. Khổ và lạc là hai mặt của cùng một thực tại như trong ngoài, đúng sai, phải trái… Không có bên trái thì biết đâu là bên phải, không đúng làm sao có sai. Mà có nguyên nhân tạo ra khổ thì có phương cách, con đường diệt khổ. Đó là đạo, con đường diệt khổ. Khổ là một trong ba pháp ấn để nhận diện đạo Phật: vô thường, khổ, vô ngã.
Ảnh minh họa
Phật dạy đời là khổ nhằm xác định một lẽ thật. Nhưng ngay đó Phật cũng dạy đời có an lạc, hạnh phúc (nếu không Phật chỉ dạy tu hành để làm gì!) và người tu Phật phải tìm giải thoát, giác ngộ ngay nơi cuộc đời khổ đau và Niết bàn không đâu khác ngoài cõi Ta bà. Rõ ràng, đây là một khẳng định mang tính tích cực! Cứu khổ chúng sanh là lý do sự hiện diện của mười phương chư Phật và cũng chính là đại nguyện của chư Bồ tát. Thế gian này không khổ đau chắc chắn Phật không thị hiện. Khổ đau là điều có thật, nhưng vắng mặt khổ đau tức an lạc hạnh phúc cũng có liền ngay sau đó, nếu biết nhận diện và thấu triệt nó. Trước khổ đau, luận điệu thông thường của nhiều người là tìm cách chối bỏ, tránh né bằng cách đọc báo, xem sách, coi phim hay tìm đến rượu, ma túy hoặc ái dục... Thời đại ngày nay phim ảnh đủ loại, trò chơi điện tử có khả năng ru ngủ, đưa con người vào thế giới ảo, làm quên đi tất cả! Nhưng đó chỉ là giả, là ảo nên làm sao có tác dụng đem lại bình an đích thực, chấm dứt cơn say (say rượu, ma túy hay say mộng cũng thế). Khi trở về với thân phận thực tại, những nỗi khổ đau kia đã không giảm còn tăng lên gấp bội! Khi không thể chạy trốn được nữa, người ta kêu trời van đất, đổ cho số phận.
Khổ đau & hạnh phúc (phần 2)
Ví như nhà ở thành phố bị dột có thể là một kinh nghiệm hay: ba bên bốn bề tường thành bao bọc, mái lại bị trần che kín, thấy nước giọt đó mà chẳng biết dột ở đâu. Thật là bực bội và khổ sở vô cùng! Cho đến khi phát hiện được lỗ hổng ở góc mái, mặc dù chưa khắc phục được nước dột nhưng chỉ cần biết chỗ dột (nguyên nhân) là đã thở phào nhẹ nhõm, nỗi khổ đã vơi bớt. Chỉ cần trám đúng chỗ thủng là xong. Một ví dụ khác, cơ thể có triệu chứng bần thần, uể oải, tức ngực - không biết bệnh gì đây. Có người đã hoảng lên, mất ăn bỏ ngủ, ai bày gì làm nấy, bệnh đã không giảm lại tăng thêm. Người khác, ngược lại tỉnh rụi cứ làm việc, ăn chơi, uống rượu, hút thuốc. Cả hai thái độ thái quá, quá lo lắng hay bất cập xem thường đều không phù hợp. Đức Phật dạy ta phải mạnh dạn nhận ra mình đang có bệnh và bình tĩnh tìm nguyên nhân để có giải pháp trị liệu thích hợp. Thật vậy, chỉ cần được một bác sĩ phát hiện đúng tình trạng là không phải ung thư hoặc ung thư nhưng mới giai đoạn đầu còn chữa được. Chỉ cần biết thế, tuy bệnh chưa lành nhưng đã thấy nhẹ ra, không còn phải lo lắng khổ sở. Trong kinh Tập Sanh, Phật dạy: "Cái gì đã xảy ra cho ta, nếu quán chiếu sâu sắc vào tự thân nó là ta đã bắt đầu đi trên đường giải thoát".
Biết quán chiếu sâu sắc, Đức Phật dạy ta thấy ngay trong khổ đau đã sẵn có mầm mống, có bóng dáng của an vui hạnh phúc. Chưa bị lạnh làm sao biết sự thú vị khi được trùm trong chăn ấm. Không bị cái đói hành hạ làm sao biết hạnh phúc khi được ăn no. Không khổ đau làm sao biết thảnh thơi an lạc. Khổ đau được tạo nên từ những cái không phải khổ đau. Cũng thế, hạnh phúc được tạo nên bằng những cái không phải hạnh phúc. Như thế, phải chăng khổ đau và hạnh phúc tương quan duyên sinh! Ta khổ sở vì cơn đau răng hay đau đầu hành hạ nhưng lạ thay khi cơn đau qua đi, ta vội quên ngay không biết đến cảm giác an lạc khi không bị đau răng hay đau đầu. Như thế thực sự có đau răng, đau đầu thì ta phải biết có nỗi sung sướng khi không đau răng, đau đầu. Đó chẳng phải hạnh phúc? Không mấy ai ý thức niềm hạnh phúc khi có đôi mắt sáng, nhìn thấy được mọi vật, thấy người quen kẻ lạ, thấy người thân yêu, thấy trời xanh mây trắng… mà lại cho là điều bình thường rồi truy tìm hạnh phúc một nơi khác, chưa có hoặc không bao giờ có! Cho đến khi mắt bị hỏng không còn trông thấy, mới hiểu ra là có một cặp mắt bình thường quả là mầu nhiệm. Bao người vô tình bỏ lỡ không biết sống với mầu nhiệm của cuộc sống trong giây phút hiện tại mà cứ rong ruổi theo quá khứ hay mơ ước tương lai, đâm ra lo lắng, ưu tư khổ sở! Cũng như để ban tặng cho con người những hạt ngọc trai long lanh và quý giá, con trai biển đã trải qua những cơn đau vật vã tột cùng (do thiên nhiên hoặc con người tạo ra). Để sống còn, nó đã phải tiết ra một chất tạm gọi ‘chất men’ bao bọc hạt cát. Tất nhiên, có con không đủ bản lĩnh đã phải chết! Con người có thể học bài học từ loài trai chế tác hạnh phúc từ khổ đau…
Theo giáo lý đạo Phật, con người là một giả hợp gồm năm uẩn: sắc, thọ, tưởng, hành và thức. Sắc tức là thân và tâm gồm thọ, tưởng, hành, thức. Cơ thể gặp trục trặc sinh bệnh tật hoặc tuổi già, thân thể lão hóa đau nhức… là khổ về thân. Khi lo lắng, giận dữ, buồn phiền… là khổ về tâm. Thân và tâm có mối quan hệ chặt chẽ: Thân bị bệnh thì tâm khổ đã đành nhưng tâm bất an, lo lắng sẽ ảnh hưởng đến thân… ăn mất ngon, ngủ không yên thì cũng khổ. Nhưng khổ không phải do năm uẩn hay năm uẩn vô thường… mà khổ chủ yếu do khát ái năm uẩn thành ra thủ chấp, vướng mắc tạo ra khổ "như cái vòng luẩn quẩn". Và gốc rễ của mọi khổ đau đều do vô minh tức thái độ lầm lẫn, bám víu vào "cái ta" (chấp ngã) và cái "của ta" (chấp pháp). Nói cách khác, nguyên nhân chủ yếu của mọi nỗi khổ xuất phát từ "tưởng", tức vọng tưởng hay tri giác sai lầm phát xuất từ vô minh! Tưởng lầm sợi dây là con rắn đâm sợ hãi, thân này giả hợp mà cho là thật đâm ra vướng mắc! Tưởng của cải vật chất là thật, là vĩnh cửu muốn sở hữu mãi mãi nên chấp giữ… Lịch sử tồn tại của nhân loại từ ngàn xưa cho đến tận ngày nay với những cuộc chiến tranh tàn khốc đều có nguyên nhân từ các xung đột tôn giáo, ý thức hệ… nguồn gốc đều bắt đầu từ vọng tưởng tức tri giác sai lầm. Đức Phật dạy phải nhận diện nó chính là vô minh tức thiếu trí tuệ dẫn đến tham sân si, cội nguồn của mọi khổ đau. Do đó, Phật dạy phải "viễn ly điên đảo mộng tưởng" mới đạt "cứu cánh Niết bàn".
Trong cuộc sống, người nào gặp khổ đau, bất trắc... khi cùng đường, bế tắc họ mới tìm đến chùa chỉ khấn vái, cầu xin; hay khi cơ thể đau ốm, bệnh tật mà vẫn ăn nhậu, hút thuốc, bài bạc, rượu chè trác táng phung phí sức khỏe; hoặc gặp cảnh túng thiếu, nợ nần không biết dè sẻn, cứ tiêu xài phung phí… lại đến chùa cầu xin Phật, Bồ tát cứu khổ cứu nạn; Phật, Bồ tát dù có lòng đại từ đại bi cũng chỉ cho ta con đường, chứ không ai có thể làm thay cho ai, vì nghiệp nhân ai gây nấy chịu! Mọi sự vật lớn nhỏ sinh ra đều có nhân duyên tạo nên và hoàn cảnh khổ đau hay hạnh phúc của mỗi người đều do chính mỗi người tạo nên. Do đó, người có bệnh muốn lành bệnh, trước hết phải biết mình có bệnh ra sức tìm thầy tìm thuốc, đến bệnh viện truy cho ra nguyên nhân, sau đó tiến hành chữa trị… Cũng thế, muốn thoát khổ đau, trước tiên là phải nhận ra nỗi khổ đau, tìm ra nguyên nhân thì mới có giải pháp phù hợp để trị liệu nhằm chấm dứt khổ đau!
"Khổ đau và hạnh phúc vốn không hai, là hai mặt của cùng một thực tại. Hạnh phúc không thể tìm đâu khác ngoài khổ đau!". Lời dạy minh triết của Đức Phật đã đem lại niềm tin nơi khả năng đoạn trừ khổ đau và đạt an vui hạnh phúc của con người. Đức Phật dạy: "Chỉ nhận diện khổ đau, mỉm cười với nó, ngay đó ta có an vui hạnh phúc!". Khác với các tôn giáo hữu thần đặt cược đời người vào quyền năng tối thượng của một đấng thần linh (Trời hay Thượng đế) có quyền ban ân, giáng họa hay đặt niềm tin vào sự an bài của số mệnh. Họ luôn thụ động chờ đợi sự cứu rỗi hay may mắn tình cờ… nên bế tắc đau khổ vẫn cứ mãi khổ đau! Đạo Phật trái lại, lời Phật dạy trước tiên là một phương cách thực tập thực tiễn và hữu hiệu nhằm trị liệu khổ đau, chế tác an lạc để từ đó có an vui hạnh phúc! Lời Phật dạy đã mở hướng cho tôi, cho bạn và biết bao nhiêu người, mặc dầu hoàn cảnh có thể vẫn vậy, chưa thay đổi nhiều nhưng thái độ đã khác. Như thế là đã có được an vui!
THÍCH TÂM TRỌNG
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT
Thứ Hai, 10 tháng 6, 2013
Kho báu của trí tuệ
Kho báu của trí tuệ
Có một kẻ trộm tối đến chui vào một ngôi chùa, muốn ăn cắp đồ đạc, nhưng lục rương cho đến tủ đều không tìm ra món gì đáng giá để trộm, bất đắc dĩ nên định bỏ đi.
Lúc này Thiền sư đang ngủ trên giường mở miệng nói: “Ê, người bạn kia, đã muốn đi thì luôn tiện đóng cửa dùm tôi!”
Kẻ trộm giật mình, liền nói: “Ông vốn lười biếng như thế sao, ngay đóng cửa cũng nhờ người khác đóng, thảo nào trong chùa ngươi chẳng có gì đáng giá”.
Thiền sư Vô Tướng nói: “Người bạn này quá đáng quá rồi, lẽ nào bắt kẻ già nua này mỗi ngày cực khổ kiếm tiền mua đồ đạc cho ngươi ăn trộm sao?”
Tên trộm cảm thấy gặp phải Hoà thượng này thật là hết cách rồi.
Thực tế,Thiền sư không phải không có thứ gì. Đồ vật mà Thiền sư có là kho báu vô tận, kẻ khác không thể trộm đem đi được. Người trong đời chỉ biết sưu cao thuế nặng, người chết vì của, tâm bị của cải trói buộc. Bạn có tiền rồi, thì ngay kẻ cắp cũng không bỏ qua cho bạn, chẳng bằng có kho báu trí năng vô hạn trong bản tánh của mình, đây mới là của cải mà bất cứ kẻ nào cũng không thể ăn cắp đi được.
Khổ đau
Không cần một nền triết học cao siêu hay trí tuệ của một tôn giáo uy tín, ai cũng có thể tự cảm nhận về khổ đau như một sự thật luôn hiện hữu trong thế gian này. Đến nỗi người ta còn thốt lên rằng đời người có khác gì một bản trường ca thống khổ đầy nước mắt.
Nhớ những lần nằm liệt trên giường bệnh, ăn uống hay ngủ nghỉ đều khó khăn, cộng với sự đau nhức ở bộ phận nào đó trên cơ thể làm ta rã rời và vô cùng mệt mỏi. Với những chứng bệnh không quá nặng và có cách điều trị tốt thì cơ hội bình phục sẽ xảy ra nhanh, trong khi những kẻ xấu số phải đón nhận chứng bệnh nan y nguy kịch, hay những người già phải sống chung với những căn bệnh dai dẳng đến cuối đời thì mới thật chua xót.
Ngay cái già nua cũng đã đem tới nhiều khổ lụy. Mỗi ngày nhìn thấy tuổi thanh xuân của mình phóng đi vội vã, nhường chỗ cho những gì thuộc về úa tàn, lụn bại, ai mà chẳng nao lòng luyến tiếc. Càng cố gắng làm thêm nhiều việc để người trẻ đừng coi thường thì ta càng bộc lộ sự xuống cấp của mình. Tuổi già rất dễ quên trước quên sau, có khi muốn gọi ngay tên một người để chứng tỏ mình vẫn chưa quên người ấy, nhưng lục lọi cả giờ trong ký ức mà ta chẳng tài nào nhớ nỗi. Những lúc ấy thật đáng giận.
Và rồi sự thật là ai cũng phải già, ai cũng phải bệnh và ai cũng phải chết. Có thể nói tử biệt là nỗi đau thống thiết nhất của nhân sinh. Cái khổ phải độc hành với con đường mịt mờ phía trước cũng chưa bằng cái khổ phải bỏ lại những người thương yêu. Có nhiều cuộc phân kỳ không dự báo trước do biến cố bất ngờ xảy ra, khiến không ai kịp nhìn thấy mặt nhau để nói lời từ biệt mới thật sự là đoạn trường thương đau.
Đoạn trường có nghĩa là đứt ruột. Cái đau của sự chia lìa giữa hai con người thương yêu nhau có khác gì cái đau của khúc ruột bị cắt đứt làm đôi. Có lẽ vì thế mà người ta sắp sau nỗi khổ tử biệt chính là niềm sầu sinh ly. Thương nhau mà không được sống bên nhau, kẻ chân trời người góc bể, cũng là một khối sầu quá lớn.
Người ta đã viết không biết bao nhiêu bài thơ hay những bản tình ca đẫm lệ để ta thán cho cái niềm đau này. Thậm chí có người chỉ cần được sống bên người mình thương thêm một lần, một ngày hay vài phút giây ngắn ngủi để rồi xa nhau mãi mãi thì cũng mãn nguyện, vì với họ sự sống biệt ly đã là một sự chết rồi.
Nếu biệt ly đem tới cái đau day dứt cho những người thương yêu nhau thì hội ngộ chung thuyền sẽ là nỗi khổ triền miên cho những tâm hồn lạc lõng không hòa chung nhịp. Mỗi ngày phải đối diện, phải tiếp xúc với người mà mình có biết bao điều ngăn cách và chán ghét thì có khác gì sống trong hỏa ngục. Đôi khi vì lý do gì đó mà ta phải phục tùng mệnh lệnh, phải im lặng lắng nghe những lời quở trách vô cớ, hoặc phải có trách nhiệm chăm sóc hay yêu thương những kẻ ấy thì còn kinh khủng hơn cả sự đọa đày.
Chưa nói tới những biến động lớn lao về đời sống vật chất như sự suy sụp đột ngột của kinh tế thị trường, sự lừa đảo trong hợp tác làm ăn, hoặc bị chèn ép hoặc tước đoạt quyền lực, hoặc những tổn thất về danh dự như sự xúc phạm, hủy nhục hay phản bội cũng có thể tạo nên những cân não nặng nề. Ta đã từng chứng kiến không ít kẻ kẹt vào danh lợi và ái tình mà đã trở thành nạn nhân của những chứng bệnh tâm thần hay trầm cảm, thậm chí họ chọn luôn giải pháp kết liễu cuộc đời mình để mong chấm dứt cơn khổ não.
Xem ra không có cái khổ nào nhỏ hơn cái khổ nào, vì cái khổ nào cũng làm cho ta nhọc nhằn và cạn kiệt năng lượng. Và cũng không cần chứng minh gì thêm nữa, tự thân ai cũng công nhận khổ đau là một sự thật luôn hiện hữu và đeo bám thân phận mỗi con người. Dù cố gắng không nhìn bằng con mắt bi quan thì ta cũng không thể nào phủ nhận, bởi không ít lần trong thinh vắng ta đã kêu lên những tiếng thở dài: Đời quả là bể khổ!
Có lẽ vì sự thật đó quá rõ ràng và đáng sợ nên người đời đã tìm cách quên đi, thậm chí không dám nhắc tới như một điều cấm kỵ, hoặc cố gắng tìm kiếm những niềm vui thú để lấp vào. Nhưng rồi sự thật cũng vẫn là sự thật, không thể nào che đậy mãi được. Một khi niềm đau nỗi khổ trào lên tới đỉnh điểm, nó sẽ cuốn phăng tất cả những lớp vui thú mong manh tạm bợ để nắm trọn quyền thống trị.
Như một sự an bài của tạo hóa, khổ đau từ bao đời nay đã trở thành bản án vô hình mà bất kỳ ai đi ngang qua cõi đời này cũng không tài nào thoát khỏi.
Khổ đau hay bất như ý?
Có người rất thích ngắm tuyết rơi, họ có thể đi hằng giờ dưới tuyết để lấy cảm hứng cho những ý thơ thầm kín, hay để tâm hồn lắng đọng cho những suy nghiệm về bí ẩn của cuộc đời. Trong khi tuyết lại là mối khổ tâm của rất nhiều người nơi bản xứ, vì nó gây trở ngại không ít cho những người làm nông trại hay trong việc giao thông.
Người làm doanh nghiệp lớn thường tất bật suốt ngày với công việc, nên lúc nào họ cũng ước ao có được những ngày nghỉ ngơi trọn vẹn, không phải trả lời điện thoại, không phải đối đầu với khách hàng. Đối với họ được ngủ một giấc yên lành hay ngồi thật lâu để thưởng thức chén trà thơm với những người bạn đã là một thiên đường rồi. Trong khi những người trẻ mới ra trường lại mong muốn kiếm được thật nhiều việc, làm càng nhiều càng tốt, với họ ở không là một sự nhàm chán và vô nghĩa.
Những kẻ đã nắm được nghĩa đẹp của tình yêu, không để tình yêu giới hạn lại trong sự ưa thích mới lạ ở hình thức và trong sự hưởng thụ đổi chác, biết cách xây dựng và bảo vệ cho nhau nên nhìn đâu cũng thấy đáng yêu và tràn đầy sức sống. Trong khi lắm kẻ bước vào địa đàng tình ái bằng đôi chân lóng ngóng, ngập tràn những khát khao nông nổi nên chẳng bao lâu họ đã gục ngã rồi trở nên oán hận tình yêu, và kết luận yêu là khổ.
Đúng thực yêu là khổ, nhưng phần lớn những cái khổ kia đều do chính ta tạo ra chứ chúng không phải là cái khổ bắt buộc phải có trong bất cứ tình yêu nào. Mọi thứ khác trong cuộc sống cũng vậy, nhìn trong chiều sâu của bản chất ta sẽ thấy chúng không hề được ghi chép sẵn tính chất khổ đau, mà hầu hết nguyên do của mọi khổ đau chỉ tại vì chúng không làm thỏa đáng hay trái nghịch với những mong đợi của ta mà thôi.
Ta ít khi nhìn vào những gì mình đang có như những điều kiện hạnh phúc mà rất nhiều người mơ tưởng, vì khao khát được hoàn hảo nên ta tự đặt cho mình những cái muốn rất kỳ lạ mà chính ta biết rõ là không thể nào thực hiện được như: Ước gì ta cao 1 mét 7 thay vì chỉ có 1 mét 6. Ước gì giọng nói của ta được thanh thoát và truyền cảm. Ước gì ta có trí não tốt để học đâu là nhớ đó. Ước gì gia đình ta thuộc tầng lớp trí thức hay quý tộc. Ước gì ta được sinh ra ở một thành phố xinh đẹp hay một đất nước văn minh giàu có.
Ta luôn cho đó là những nguyện vọng rất chính đáng vì người khác có được mà tại sao ta lại không. Ta cứ so sánh, cứ đòi hỏi mình phải có đầy đủ những điều kiện tối ưu của kẻ khác. Càng kẹt vào những ước muốn thì ta càng đánh mất những giá trị cao đẹp khác của chính mình rồi dần dần rơi vào mặc cảm, tuyệt vọng và bế tắc. Chung quanh ta có rất đông người như vậy, họ không thể hạnh phúc chỉ vì họ đang có một vài điều bất như ý.
Buồn cười hơn là ta thường có những phản ứng khó chịu hoặc bức xúc vì những điều hết sức phi lý như: Tại sao trời lại mưa vào ngày mình đi picnic vậy? Tại sao đường phố cứ kẹt xe vào những lúc mình gấp gáp như thế này? Tại sao bây giờ cái gì cũng tăng giá hết thì làm sao mà sống? Tại sao mình phấn đấu không ngừng mà vẫn không giàu như người ta? Tại sao số mình không được may mắn như hắn? Tại sao người ấy không chịu làm theo ý mình? Tại sao mình nói dối chỉ có đôi lần mà người ấy lại không tin mình?
Những cái muốn hay không muốn của ta xuất phát từ ý niệm thích hay không thích. Bởi trong ta có sẵn những tập tin do di truyền hay học hỏi từ môi trường về những điều kiện đảm bảo an toàn và lợi ích cho bản ngã. Cho nên tùy vào nhận thức nông cạn hay sâu sắc của mỗi cá thể mà bản năng sinh tồn sẽ khác nhau và mức độ khổ đau cũng khác nhau.
Tại vì những cái thích sẽ thúc đẩy ta cố gắng tìm cầu rồi bám víu, những cái ta không thích sẽ thúc đẩy ta cố gắng tránh né rồi đuổi xua. Trong khi đời sống của bất cứ cá thể nào cũng phải chịu tác động qua lại bởi một hay nhiều cá thể khác và cả sự vận hành của vũ trụ bao la kỳ bí này nữa, thì làm sao ta có thể muốn mọi thứ theo ý của mình kia chứ?
Ngay chính tâm thức của ta, cái nhận xét, cái quyết định và cái ước muốn của ta cũng có lúc vầy lúc khác. Có những cái ta đã từng ước muốn sở hữu cho bằng được nhưng bây giờ ta lại mong cho nó biến đi càng sớm càng tốt. Có những cái ngày xưa ta ghét cay ghét đắng nhưng bây giờ ta lại yêu thích. Có những điều ta chưa từng nghĩ ra nhưng bây giờ mới ý thức được. Giả sử tất cả những ước muốn của ta từ thái quá, phi lý đến bất thường đều thành tựu hết thì ta sẽ thành ra cái gì và xã hội này sẽ ra sao?
Cho dù những ước muốn được gọi là xứng đáng nhất, căn bản nhất để tạo nên một đời sống hạnh phúc bình thường cũng đã là sai rồi, nói chi đến những ước muốn chỉ để phục vụ cho lòng tham của mình. Vậy nên chỉ có những điều bất như ý (discontent) của con người đã tạo ra những ngang trái cho con người, chứ không hề có cái số phận hay định mệnh khổ đau, vì khổ đau không phải là một sự thật tuyệt đối trên cõi đời này.
Gốc rễ của khổ đau
Thử lấy một ví dụ về hoàn cảnh bất như ý như bệnh tật mà phần lớn ai cũng công nhận là khổ, để ta xét nghiệm xem thật ra trong đó có chứa đựng những nguyên nhân sâu xa nào.
Bệnh tật là điều không ai muốn vì nó luôn đem tới sự đau nhức, khó chịu. Nhưng với một người có thái độ hợp tác với cơn bệnh, chấp nhận nó là hệ quả tất yếu từ lối sống thiếu quan tâm hay thiếu phòng hộ sức khỏe đúng mức, hoặc chấp nhận nó là sự thật hiển nhiên của quá trình lão hóa cơ thể, thì ta sẽ không còn thái độ kháng cự nữa.
Nhưng bản năng của ta thường hay chống đối lại điều gì mình không ưa thích. Ta không chấp nhận mình phải bệnh vì có bệnh là xấu, là yếu đuối, là phải sống chung với những cảm giác khó chịu, là phải phiền người chăm sóc, là phải nằm bệnh viện, là phải mất cảm hứng làm việc, là phải đình trệ nhiều dự án, là phải tốn kém nhiều tiền bạc…
Như vậy nguyên nhân đầu tiên là do ý niệm sai lầm rằng mình sẽ không bao giờ có bệnh hay chưa tới lúc phải bệnh, nên khi nó xuất hiện đột ngột đã làm cho ta giật mình hoảng hốt. Trong đó có thái độ lo sợ vì không biết chứng bệnh này có nguy hiểm không? Có phải là ung thư không? Có phải do truyền nhiễm từ những người sống chung không? Có ảnh hưởng gì tới trí nhớ hay khả năng sáng tạo nếu phải phẫu thuật không?
Cũng như có một kẻ xấu nào đó bắn vào ta một mũi tên thì ta đau nhức lắm, liền ngay sau đó lại có một mũi tên khác bay tới và cắm vào đúng vị trí của mũi tên thứ nhất thì cái đau nhức kia không phải tăng lên gấp đôi, mà là gấp nhiều lần. Mũi tên thứ hai mới đem tới khổ lụy thật sự. Mũi tên thứ hai chính là trí tưởng tượng phong phú của ta. Do nội lực yếu kém nên ta thường dựng lên trong tâm tưởng những hình ảnh rất sai lệch với sự thật như để phòng thủ an toàn. Thực tế cho thấy người ta không dễ chết vì hoàn cảnh mà lại chết vì vọng tưởng của chính mình. Đó là một loại tâm bệnh khá nặng.
Nguyên nhân thứ hai là thái độ phản ứng của ta. Ta không chấp nhận mình phải mắc chứng bệnh quái quỷ đó và không chấp nhận sự hành hạ của nó khiến ta mất hết năng lực để sinh hoạt như một người bình thường. Cho nên ta tất tả tìm mọi cách để loại trừ nó càng sớm càng tốt. Nếu gặp phải những chứng bệnh nặng hay loại mãn tính thì ta càng khó chấp nhận và thái độ kháng cự sẽ càng quyết liệt hơn. Chính thái độ của ta đã làm phát sinh ra tâm bệnh, mà tâm có liên quan mật thiết với thân, nên bệnh tình của ta càng trở nên trầm trọng.
Thực ra bệnh chỉ là một cảm giác đau đớn, khó chịu (unpleasant) chứ chưa hẳn là một cái khổ (suffering), vì không phải ai mắc bệnh cũng khổ. Ta thường hay lầm lẫn giữa cái cực, cái đau với cái khổ. Dĩ nhiên sự xáo trộn trong cơ thể hay của hoàn cảnh dễ tạo nên áp lực và làm cho ta đau nhức, nhưng nếu ta là một con người có luyện tập, am hiểu và điều phục được cảm xúc của mình thì ta sẽ mau chóng bớt khổ, hoặc ít khổ, hoặc có thể đạt tới mức không thấy khổ nữa mà chỉ thấy đơn thuần là một hoàn cảnh bất như ý thôi.
Nghĩa là tùy vào nhận thức của mỗi người mà cái khổ ấy có thể nhỏ hay lớn, và tùy vào khả năng hứng chịu của mỗi người mà cái khổ ấy trở nên nhẹ hay nặng. Cái khổ của người này không nhất thiết giống hệt với cái khổ của người kia. Cho nên hoàn cảnh bất như ý chưa hẳn là nguyên nhân gây ra khổ đau, mà chính cách nhìn nhận và khả năng tiếp nhận hoàn cảnh mới quyết định cho khổ đau có mặt hay có mặt ở cung bậc nào.
Ta thường hay hỏi tại sao mình phải hứng chịu quá nhiều khó khăn, nhưng mỗi khi đón nhận những điều kiện thuận lợi thì lại sung sướng mỉm cười mà không hề truy cứu nguyên nhân từ đâu. Con người là vậy, chỉ biết đòi hỏi sự hưởng thụ chứ không thấy được nguyên tắc sâu xa tạo nên sự cân đối trong vũ trụ này là: có thăng phải có trầm, có được phải có mất, có thành phải có bại, có hợp phải có tan. Vậy muốn thăng, muốn được, muốn hợp hay muốn thành lâu hơn thì ta phải học tập cách chuyển hóa mặt trái của nó và học tập kỹ năng giữ gìn nó. Hơn nữa, ta là tác nhân chính gây ra mọi nghiệp lực của mình thông qua tư duy, lời nói và hành động từ trong quá khứ. Đó là quy luật nhân quả rất công bằng, có làm có chịu, mà ta không thể nào cầu nguyện hay ước muốn được.
Vậy nên thay vì ta tìm cách thay đổi hoàn cảnh hay mong cầu một hoàn cảnh như ý thì ta hãy quay về điều chỉnh lại nhận thức của mình về chính bản thân mình và về cuộc sống, cũng như nuôi dưỡng lại khả năng chấp nhận những nghịch cảnh. Bởi nhìn cho thấu đáo ta sẽ thấy thái độ yêu thích có gốc rễ từ tâm tham, và thái độ không thích có gốc rễ từ tâm sân. Tâm tham và tâm sân có gốc rễ từ tâm si mê, tâm chỉ muốn được thỏa mãn cảm xúc bản ngã, mà không biết làm sao để tạo nên một đời sống bình an và hạnh phúc chân thật.
Lẽ dĩ nhiên là con người thì ai mà không có tâm tham và tâm sân, nghĩa là vẫn phải gửi tâm mong cầu đến những gì mình thích và khước từ những gì mình không thích. Tuy nhiên, nếu ta bớt đi những danh mục thích hay không thích mà mình đã từng lưu trữ, nghĩa là ta tập chấp nhận và tùy thuận vào cuộc sống nhiều hơn thì chắc chắn ta sẽ nhẹ nhàng lướt tới phía trước như con thuyền vừa trút xuống những kiện hàng to tát. Con người càng bớt đi những đòi hỏi từ bên ngoài là con người có sức mạnh bên trong. Cuộc đời vẫn luôn mở rộng lối đi cho những ai biết lùi lại một bước để nhường cho kẻ khác.
Như hạt bụi để khuyết nơi này thì nó sẽ làm thừa chỗ khác, và rồi một cách tự nhiên hạt bụi khác sẽ đến lấp đầy chỗ này và chỗ thừa kia sẽ tìm cách đẩy hạt khác đi. Vũ trụ tuy không ngừng biến dịch, nhưng mãi mãi vẫn giữ thế quân bình trong bản thể. Chỉ khi nào ta thấy mình cũng là hạt bụi nhưng cũng là một bãi cát, hạt bụi nào cũng là ta và không hạt bụi nào mà không phải là ta cả; thấy được dòng sinh mệnh bất tuyệt của mình luôn gắn liền với mọi đối tượng, thì ta mới có thể rong chơi tự tại giữa cõi đời này theo tinh thần nhân quả và nguyên tắc duyên sinh mà không còn vướng kẹt bãi cát đầy hay bãi cát lở.
Đối tác của hạnh phúc
Khi dầm mình giữa giá rét trời đông, ta luôn mong ước sớm được về với căn nhà ấm áp, nhưng vừa ngồi xuống bên lò sưởi chưa được bao lâu thì ta bỗng quên mất giây phút mầu nhiệm ấy, cứ loay hoay tìm việc để làm, hoặc tranh thủ nghĩ tới những dự án.
Con người là vậy, rất mau chóng bình thường hóa mọi thứ. Lúc chưa có thì khao khát, khi có rồi lại khinh lờn và muốn đi tìm những thứ khác. Sau những lần "chuộng mới nới cũ", tâm hồn luôn rơi vào trạng thái trống rỗng thì ta mới biết mình đã dùng cảm xúc hời hợt để đón nhận và giữ gìn hạnh phúc. Cho nên để giúp ta có ý thức và trân quý sâu sắc những gì mình đang có thì chỉ còn cách đẩy ta ra ngoài giá rét một lần nữa cho đủ thấm.
Cũng như đã từng bị đói mới biết quý cái ăn ngon, đã từng sống qua mùa tuyết lạnh mới quý chuộng ngày nắng ấm, đã từng bị bỏ rơi mới quý trọng những ân tình nho nhỏ, đã từng bị chia lìa mới yêu quý những giây phút đoàn viên, đã từng trải qua những mất mát tang thương mới thấy sự sống mà mình đang có thật vô cùng quý giá.
Thế nên những điều kiện thuận lợi thường chỉ làm lớn mạnh thêm bản năng hưởng thụ, còn những hoàn cảnh khắc nghiệt mới giúp con người phát tiết hết tinh anh, bởi khả năng con người vốn rất vĩ đại, có thể bước qua bất cứ hoàn cảnh trái ngang nào và có thể đạt tới tự do tuyệt đối. Cũng như hoa mai và hoa đào phải trải qua một trận mùa đông giá rét thì mới có thể tung cánh và tỏa hương thơm ngát trong những ngày nắng ấm đầu xuân.
Vì vậy ta đừng oán trách hay chống đối hoàn cảnh vô thường, bởi nó sẽ vừa giúp ta luôn cảnh giác để đừng sống trong lãng quên, vừa giúp ta không kẹt vào tham đắm mà mất nhiều năng lượng sống, và cũng vừa giúp ta rèn luyện tính chịu đựng để ứng phó mọi hoàn cảnh. Huống chi vô thường đâu chỉ làm cho được rồi mất, thành rồi bại, hợp rồi tan; mà chính nó đã giúp cho mất rồi được, bại rồi thành và tan rồi hợp.
Hạnh phúc thiết lập trên những cái được, cái thành, cái hợp thì chỉ có tính tạm thời, nghĩa là nó vẫn còn nằm trong mối đe dọa của lưỡi gươm vô thường. Trải nghiệm từ cuộc sống ta sẽ tìm thấy được thứ hạnh phúc khác vượt ra khỏi sự khống chế đó. Nó vẫn chấp nhận thăng trầm biến đổi theo lẽ tự nhiên nhưng lại rất tự tại mà không hề thấy mất mát khổ đau. Nó chỉ đơn giản được xây dựng bằng chất liệu của một nhận thức đúng đắn: không mong cầu, không chống đối và một trái tim đủ lớn mạnh để chứa đựng.
Vì vậy cầu nguyện cho mình luôn được may mắn không phải là một thái độ khôn ngoan, nên ta hãy cố gắng tập nở nụ cười thật tỉnh táo để đón nhận bất kỳ nghịch cảnh nào đi tới. Sự thật ta cũng không thể nào đủ sức để thay đổi mọi hoàn cảnh. Tốt nhất hãy cho phép khổ đau bước vào cuộc đời ta một cách tự nhiên, nếu đến trong khi ta còn rất trẻ thì càng tốt, vì chính khổ đau sẽ trao cho ta một khả năng sống và chỉ cho ta bí mật của cuộc sống.
Vậy nên khổ đau là cần thiết, không có khổ đau thì con người sẽ khó nhận biết cái gì là hạnh phúc. Nói một cách sâu sắc là nếu không có khổ đau thì sẽ không có hạnh phúc, hay khổ đau chính là mặt khác của hạnh phúc, hay khổ đau cũng chính là hạnh phúc.
Nói thì nói cho tận cùng như thế, chứ nhìn vào thực tế bản thân thì ta phải đi từ nấc thang ban đầu, phải tập quan sát, thấu hiểu và chấp nhận những phản ứng khó chịu hay khổ đau nhỏ bé nhất. Bởi lâu lâu ta vẫn vùng vẫy, vẫn than trời trách đất, vẫn muốn buông xuôi tất cả và xách gói ra đi để tìm một miền đất hứa, vì trái tim ta đã không thể ôm nổi những nghịch cảnh quá lớn.
Dù vẫn còn lận đận trên con đường hạnh phúc, nhưng ít ra ta đã tìm cho mình một hướng đi đúng đắn. Con đường ta đang đi là con đường trở về chính trái tim ta để tìm hiểu, khám phá và chinh phục. Vì chính nơi trái tim ta có đầy đủ phẩm chất để tạo nên một đời sống hạnh phúc, và cũng nơi ấy cũng luôn chứa đựng bóng dáng âm u của những phiền não. Biết cách xua tan những đám mây u ám thì vầng trăng sáng trong sẽ hiện ra toàn vẹn, bởi dù năm tháng có trôi mau nhưng vầng trăng xưa ấy vẫn chưa bao giờ lặn khuất.
Khổ đi em vạn lần
Mới thấy đời đáng sống
Như đóa hoa chân thường
Nở ngay giờ tuyệt vọng.
Khổ đau & hạnh phúc (phần 1)
Đời đâu phải hoàn toàn khổ mà còn có vui. Giàu có, sung sướng, ăn ngon, mặc đẹp, nhà cao cửa rộng, được thỏa mãn mọi nhu cầu... sao bảo là khổ? Đứa bé ra đời ai cũng mừng sao bảo sinh là khổ? Bệnh thì khổ thật nhưng lão, tử đâu phải ai cũng khổ cả đâu! Có người có tuổi già rất đẹp, có cái chết thật bình yên sao bảo khổ? Đem giáo lý học thuộc trong sách Phật học, tôi trả lời anh: Đời là khổ, sinh lão bệnh tử khổ; thương yêu mà không được gần gũi phải chia lìa là khổ; cầu mong, ước muốn không được là khổ; không hợp, không vừa ý, ghét nhau mà phải chạm mặt hàng ngày hay chung sống là khổ; có thân năm ấm thì khổ. Rồi dẫn ba loại khổ: nào khổ khổ, hoại khổ và hành khổ! Tôi cố ra sức biện bạch, chứng minh tất cả những thứ trên đều vô thường, có đó không đó, để đi đến kết luận đời là khổ, nhìn đâu cũng thấy khổ!
Và một chị bạn quay quắt trước hoàn cảnh bế tắc của mình, tôi khuyên chị đi chùa. Chị đã cật vấn: Đến chùa liệu có giải quyết được mọi chuyện? Hoàn cảnh tôi bế tắc thế này làm sao có thể… Nhiều người có bao giờ đặt chân đến chùa mà cứ sướng phây phây, mấy người nghèo khổ, khó khăn, bệnh tật đến chùa có thay đổi được gì, hay khổ lại hoàn khổ? Tôi trả lời chị: Đời là khổ, có ai thoát khỏi khổ! Đạo Phật là đạo diệt khổ nên đi chùa, tìm đến với đạo Phật là giải pháp đúng đắn. Khổ đau, bệnh tật, nghèo túng... tất cả đều do nghiệp. Vậy chỉ có cách đến chùa tu tập, dần dần chuyển nghiệp… mới từ từ hết khổ.
Mặc dù cố ra sức phân tích, giải thích này nọ tôi vẫn không thuyết phục được họ. Trái lại, vô tình tôi đã trùm lên đạo Phật một bức màn ảm đạm, có thể đã khiến cả hai người ngần ngại đến với đạo Phật! Thật ra điều hai người bạn kia đặt ra làm tôi không khỏi băn khoăn, trăn trở: Đạo Phật khẳng định đời là khổ phải chăng là tiêu cực? Có điều chắc chắn, một thực tế không ai chối cãi là đời người ai cũng khổ, từ một vị tổng thống quyền uy đến kẻ bần cùng đều khổ cả, đó là một sự thật! Nào ai thoát khỏi khổ lụy phiền não lo âu? Cái thảm cảnh bi đát nằm ngay trước mắt bên tai, ngay trong mỗi người; những sự thật có thể thấy nghe chứ không ở đâu xa. Đứa bé ra đời, từ khi thụ thai nằm trong bụng mẹ cho đến khi sinh ra mẹ con đều đau đớn: khổ; sinh đẻ biết bao hiểm nguy: khổ; sinh ra thân thể không bình thường, khiếm khuyết: khổ; vào đời gặp cảnh nghèo túng: khổ; thi cử không đậu: khổ; công danh sự nghiệp lận đận: khổ; quan hệ với người xung quanh không suôn sẻ: khổ; tình yêu trắc trở: khổ; đau ốm bệnh tật: khổ; bị giựt hụi lâm nợ: khổ; con cái hư hỏng: khổ; người thân qua đời: khổ; bị người nói nặng nói nhẹ cũng khổ… Đủ trăm, ngàn lý do khổ. Người nghèo khổ đã đành mà người giàu có, chức trọng quyền cao cũng khổ! Khổ đè nặng lên thân phận con người. Cuộc sống càng văn minh, nhu cầu tiêu dùng, hưởng thụ vật chất ngày càng đạt đến đỉnh cao thì nỗi khổ càng nhiều; mối quan hệ càng rộng thì nỗi khổ đau càng lớn do vướng mắc và hệ lụy càng nhiều thêm. Nỗi khổ cuộc đời xưa nay không bút mực thế gian nào kể xiết. Có thể nói bao nhiêu áng văn thơ bất hủ Đông Tây kim cổ là bấy nhiêu thiên tình sử bi hận, cũng chỉ nhằm diễn tả nỗi khổ bi lụy của con người. Thoạt sinh ra thì đà khóc óe. Trần có vui sao chẳng cười khì (Chữ Nhàn-Nguyễn Công Trứ). Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều, Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu…, Roméo & Juliette của William Shakespeare, Truyện Kiều của Nguyễn Du… là những tác phẩm tiêu biểu nói về nỗi thống khổ muôn đời của con người:
Trải qua một cuộc bể dâu.
Những điểu trông thấy mà
đau đớn lòng!
Ảnh minh họa
Trong Cung oán ngâm khúc, thay mặt một cung nữ, Ôn Như Hầu đã thốt lên tiếng kêu than não ruột! Cũng chính là nỗi khổ đau vạn thuở của con người:
Gót danh lợi bùn pha sắc xám
Mặt phong trần nắng rám mùi dâu
Nghĩ thân phù thế mà đau
Bọt trong bể khổ bèo ngoài bến mê!
Hay:
Lò cừ nung nấu sự đời,
Bức tranh vân cẩu vẽ người
tang thương!
Có lẽ chính vì thế, bài học đầu tiên sau khi chứng ngộ chân lý tối thượng dưới cội bồ đề, Đức Phật đã giảng dạy cho chúng sinh - chuyển Pháp luân - mà trực tiếp cho năm vị đạo sĩ đồng tu trước đây, anh em Kiều Trần Như là Tứ diệu đế hay Tứ Thánh đế tức Bốn chân lý tối thượng: Khổ đế, Tập đế, Diệt đế và Đạo đế. Phật dạy đây là khổ: Khổ đế; đây là nguyên nhân dẫn đến khổ: Tập đế; đây là trạng thái chấm dứt khổ tức an lạc: Diệt đế; và đây con đường đưa đến vắng mặt khổ đau tức an vui hạnh phúc: Đạo đế. Bốn đế đều có tương quan tương tức với nhau. Gọi là chân lý mầu nhiệm vì Tứ diệu đế bao trùm mọi tương quan duyên khởi, chi phối hết thảy hiện tượng sự vật; trong đó một đế dung chứa và thâu nhiếp ba đế còn lại. Nói đến khổ tức phải có nguyên nhân dẫn đến khổ, chứ không do ai tạo ra kể cả các đấng thần linh, trời hay thượng đế. Và hễ có khổ tức có lạc và ngược lại. Khổ và lạc là hai mặt của cùng một thực tại như trong ngoài, đúng sai, phải trái… Không có bên trái thì biết đâu là bên phải, không đúng làm sao có sai. Mà có nguyên nhân tạo ra khổ thì có phương cách, con đường diệt khổ. Đó là đạo, con đường diệt khổ. Khổ là một trong ba pháp ấn để nhận diện đạo Phật: vô thường, khổ, vô ngã.
Ảnh minh họa
Phật dạy đời là khổ nhằm xác định một lẽ thật. Nhưng ngay đó Phật cũng dạy đời có an lạc, hạnh phúc (nếu không Phật chỉ dạy tu hành để làm gì!) và người tu Phật phải tìm giải thoát, giác ngộ ngay nơi cuộc đời khổ đau và Niết bàn không đâu khác ngoài cõi Ta bà. Rõ ràng, đây là một khẳng định mang tính tích cực! Cứu khổ chúng sanh là lý do sự hiện diện của mười phương chư Phật và cũng chính là đại nguyện của chư Bồ tát. Thế gian này không khổ đau chắc chắn Phật không thị hiện. Khổ đau là điều có thật, nhưng vắng mặt khổ đau tức an lạc hạnh phúc cũng có liền ngay sau đó, nếu biết nhận diện và thấu triệt nó. Trước khổ đau, luận điệu thông thường của nhiều người là tìm cách chối bỏ, tránh né bằng cách đọc báo, xem sách, coi phim hay tìm đến rượu, ma túy hoặc ái dục... Thời đại ngày nay phim ảnh đủ loại, trò chơi điện tử có khả năng ru ngủ, đưa con người vào thế giới ảo, làm quên đi tất cả! Nhưng đó chỉ là giả, là ảo nên làm sao có tác dụng đem lại bình an đích thực, chấm dứt cơn say (say rượu, ma túy hay say mộng cũng thế). Khi trở về với thân phận thực tại, những nỗi khổ đau kia đã không giảm còn tăng lên gấp bội! Khi không thể chạy trốn được nữa, người ta kêu trời van đất, đổ cho số phận.
Khổ đau & hạnh phúc (phần 2)
Ví như nhà ở thành phố bị dột có thể là một kinh nghiệm hay: ba bên bốn bề tường thành bao bọc, mái lại bị trần che kín, thấy nước giọt đó mà chẳng biết dột ở đâu. Thật là bực bội và khổ sở vô cùng! Cho đến khi phát hiện được lỗ hổng ở góc mái, mặc dù chưa khắc phục được nước dột nhưng chỉ cần biết chỗ dột (nguyên nhân) là đã thở phào nhẹ nhõm, nỗi khổ đã vơi bớt. Chỉ cần trám đúng chỗ thủng là xong. Một ví dụ khác, cơ thể có triệu chứng bần thần, uể oải, tức ngực - không biết bệnh gì đây. Có người đã hoảng lên, mất ăn bỏ ngủ, ai bày gì làm nấy, bệnh đã không giảm lại tăng thêm. Người khác, ngược lại tỉnh rụi cứ làm việc, ăn chơi, uống rượu, hút thuốc. Cả hai thái độ thái quá, quá lo lắng hay bất cập xem thường đều không phù hợp. Đức Phật dạy ta phải mạnh dạn nhận ra mình đang có bệnh và bình tĩnh tìm nguyên nhân để có giải pháp trị liệu thích hợp. Thật vậy, chỉ cần được một bác sĩ phát hiện đúng tình trạng là không phải ung thư hoặc ung thư nhưng mới giai đoạn đầu còn chữa được. Chỉ cần biết thế, tuy bệnh chưa lành nhưng đã thấy nhẹ ra, không còn phải lo lắng khổ sở. Trong kinh Tập Sanh, Phật dạy: "Cái gì đã xảy ra cho ta, nếu quán chiếu sâu sắc vào tự thân nó là ta đã bắt đầu đi trên đường giải thoát".
Biết quán chiếu sâu sắc, Đức Phật dạy ta thấy ngay trong khổ đau đã sẵn có mầm mống, có bóng dáng của an vui hạnh phúc. Chưa bị lạnh làm sao biết sự thú vị khi được trùm trong chăn ấm. Không bị cái đói hành hạ làm sao biết hạnh phúc khi được ăn no. Không khổ đau làm sao biết thảnh thơi an lạc. Khổ đau được tạo nên từ những cái không phải khổ đau. Cũng thế, hạnh phúc được tạo nên bằng những cái không phải hạnh phúc. Như thế, phải chăng khổ đau và hạnh phúc tương quan duyên sinh! Ta khổ sở vì cơn đau răng hay đau đầu hành hạ nhưng lạ thay khi cơn đau qua đi, ta vội quên ngay không biết đến cảm giác an lạc khi không bị đau răng hay đau đầu. Như thế thực sự có đau răng, đau đầu thì ta phải biết có nỗi sung sướng khi không đau răng, đau đầu. Đó chẳng phải hạnh phúc? Không mấy ai ý thức niềm hạnh phúc khi có đôi mắt sáng, nhìn thấy được mọi vật, thấy người quen kẻ lạ, thấy người thân yêu, thấy trời xanh mây trắng… mà lại cho là điều bình thường rồi truy tìm hạnh phúc một nơi khác, chưa có hoặc không bao giờ có! Cho đến khi mắt bị hỏng không còn trông thấy, mới hiểu ra là có một cặp mắt bình thường quả là mầu nhiệm. Bao người vô tình bỏ lỡ không biết sống với mầu nhiệm của cuộc sống trong giây phút hiện tại mà cứ rong ruổi theo quá khứ hay mơ ước tương lai, đâm ra lo lắng, ưu tư khổ sở! Cũng như để ban tặng cho con người những hạt ngọc trai long lanh và quý giá, con trai biển đã trải qua những cơn đau vật vã tột cùng (do thiên nhiên hoặc con người tạo ra). Để sống còn, nó đã phải tiết ra một chất tạm gọi ‘chất men’ bao bọc hạt cát. Tất nhiên, có con không đủ bản lĩnh đã phải chết! Con người có thể học bài học từ loài trai chế tác hạnh phúc từ khổ đau…
Theo giáo lý đạo Phật, con người là một giả hợp gồm năm uẩn: sắc, thọ, tưởng, hành và thức. Sắc tức là thân và tâm gồm thọ, tưởng, hành, thức. Cơ thể gặp trục trặc sinh bệnh tật hoặc tuổi già, thân thể lão hóa đau nhức… là khổ về thân. Khi lo lắng, giận dữ, buồn phiền… là khổ về tâm. Thân và tâm có mối quan hệ chặt chẽ: Thân bị bệnh thì tâm khổ đã đành nhưng tâm bất an, lo lắng sẽ ảnh hưởng đến thân… ăn mất ngon, ngủ không yên thì cũng khổ. Nhưng khổ không phải do năm uẩn hay năm uẩn vô thường… mà khổ chủ yếu do khát ái năm uẩn thành ra thủ chấp, vướng mắc tạo ra khổ "như cái vòng luẩn quẩn". Và gốc rễ của mọi khổ đau đều do vô minh tức thái độ lầm lẫn, bám víu vào "cái ta" (chấp ngã) và cái "của ta" (chấp pháp). Nói cách khác, nguyên nhân chủ yếu của mọi nỗi khổ xuất phát từ "tưởng", tức vọng tưởng hay tri giác sai lầm phát xuất từ vô minh! Tưởng lầm sợi dây là con rắn đâm sợ hãi, thân này giả hợp mà cho là thật đâm ra vướng mắc! Tưởng của cải vật chất là thật, là vĩnh cửu muốn sở hữu mãi mãi nên chấp giữ… Lịch sử tồn tại của nhân loại từ ngàn xưa cho đến tận ngày nay với những cuộc chiến tranh tàn khốc đều có nguyên nhân từ các xung đột tôn giáo, ý thức hệ… nguồn gốc đều bắt đầu từ vọng tưởng tức tri giác sai lầm. Đức Phật dạy phải nhận diện nó chính là vô minh tức thiếu trí tuệ dẫn đến tham sân si, cội nguồn của mọi khổ đau. Do đó, Phật dạy phải "viễn ly điên đảo mộng tưởng" mới đạt "cứu cánh Niết bàn".
Trong cuộc sống, người nào gặp khổ đau, bất trắc... khi cùng đường, bế tắc họ mới tìm đến chùa chỉ khấn vái, cầu xin; hay khi cơ thể đau ốm, bệnh tật mà vẫn ăn nhậu, hút thuốc, bài bạc, rượu chè trác táng phung phí sức khỏe; hoặc gặp cảnh túng thiếu, nợ nần không biết dè sẻn, cứ tiêu xài phung phí… lại đến chùa cầu xin Phật, Bồ tát cứu khổ cứu nạn; Phật, Bồ tát dù có lòng đại từ đại bi cũng chỉ cho ta con đường, chứ không ai có thể làm thay cho ai, vì nghiệp nhân ai gây nấy chịu! Mọi sự vật lớn nhỏ sinh ra đều có nhân duyên tạo nên và hoàn cảnh khổ đau hay hạnh phúc của mỗi người đều do chính mỗi người tạo nên. Do đó, người có bệnh muốn lành bệnh, trước hết phải biết mình có bệnh ra sức tìm thầy tìm thuốc, đến bệnh viện truy cho ra nguyên nhân, sau đó tiến hành chữa trị… Cũng thế, muốn thoát khổ đau, trước tiên là phải nhận ra nỗi khổ đau, tìm ra nguyên nhân thì mới có giải pháp phù hợp để trị liệu nhằm chấm dứt khổ đau!
"Khổ đau và hạnh phúc vốn không hai, là hai mặt của cùng một thực tại. Hạnh phúc không thể tìm đâu khác ngoài khổ đau!". Lời dạy minh triết của Đức Phật đã đem lại niềm tin nơi khả năng đoạn trừ khổ đau và đạt an vui hạnh phúc của con người. Đức Phật dạy: "Chỉ nhận diện khổ đau, mỉm cười với nó, ngay đó ta có an vui hạnh phúc!". Khác với các tôn giáo hữu thần đặt cược đời người vào quyền năng tối thượng của một đấng thần linh (Trời hay Thượng đế) có quyền ban ân, giáng họa hay đặt niềm tin vào sự an bài của số mệnh. Họ luôn thụ động chờ đợi sự cứu rỗi hay may mắn tình cờ… nên bế tắc đau khổ vẫn cứ mãi khổ đau! Đạo Phật trái lại, lời Phật dạy trước tiên là một phương cách thực tập thực tiễn và hữu hiệu nhằm trị liệu khổ đau, chế tác an lạc để từ đó có an vui hạnh phúc! Lời Phật dạy đã mở hướng cho tôi, cho bạn và biết bao nhiêu người, mặc dầu hoàn cảnh có thể vẫn vậy, chưa thay đổi nhiều nhưng thái độ đã khác. Như thế là đã có được an vui!
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét