THÍCH TÂM TRỌNG

THÍCH TÂM TRỌNG
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT

Thứ Bảy, 1 tháng 6, 2013

CÂU ĐỐI THIỀN MÔN

CÂU ĐỐI THIỀN MÔN (phần 2) Bên hồ dựng chùa thiền, diễn dạy chơn thừa, một tánh viên minh về gốc cội; Đầu núi khai hội pháp, nghe truyền chánh pháp, toàn tâm hỷ tín ngộ căn xưa. Mở rộng cửa phương tiện, khéo xiển tần già dựng xây pháp tràng khắp chốn; Huân ướp đức trang nghiêm, bồi đắp đạo cả, tỏ gốc đức hạnh ở nơi nơi. Người nương pháp, pháp nương người, động tĩnh tùy duyên tiêu nghiệp cũ; Phật tức tâm, tâm tức Phât, xưa nay chẳng khác hợp chơn tông. Sau biển rộng, trước sông xanh, trăng nước chập chờn cơn sóng vỗ; Sáng kinh vàng, chiều kệ ngọc, trống chuông vang vọng tiếng xa gần. Thả bè báu, dong thuyền từ, vớt khách lợi danh trên biển ái; Diễn kinh vàng, tuyên kệ diệu, gọi người mơ mộng giữa sông mê. Chùa Phật trang nghiêm, ảnh nhật linh linh như cảnh sắc; Đài sen vắng lặng, vần mây hiển hiện tường quang. Trăm ngàn ức kim thân, Chánh pháp tuyên dương, nhiếp hóa chúng sanh về nẻo giác; Ba mươi hai bảo tướng, ánh từ chiếu khắp, dìu dắt muôn loài thoát đường mê. Gặp cảnh thâm u cỏ nội hoa đồng quên năm tháng; Ở non khoán hoạt, chuông chiều mõ sớm rõ sắc không. Bỏ hết Tham , Sân, Si, chính tại đây là Tịnh độ; Tu tròn Giới, Định, Tuệ, ngay phàm tâm là thánh tâm. Gặp cảnh u thâm, mõ sớm chuông chiều tiêu lũy kiếp; Ở nơi khoáng đạt, hoa đồng cỏ nội ngộ ba sinh. Phật chẳng lìa tâm, động tĩnh tùy duyên tiêu nghiệp cũ; Chí nơi đạo cả, đến đi vô ngại ngộ cơ thiền. Tâm trí tuệ mở bày, vạn kiếp hôn mê liền dứt sạch; Niệm từ bi dấy khởi, nhiều đời nghiệp chướng tự tiêu vong Đất báu trang nghiêm, sắc hương không khác; Cửa Phật quảng đại, ra vào tùy duyên. Tham thiền phải lọt qua cửa Tổ, văn tự đâu cần, khi niêm hoa mĩm miệng; Ngộ đạo cần dứt tuyệt đường tâm, ngữ ngôn nào kể, lúc tay khẩy ba lần. Rộng thi nguyện lớn, chất ngọc giáng cung vua, chín rồng phun nước tắm; Nhằm độ quần sanh, thân vàng tu núi tuyết, trăm chim ngậm hoa chầu. Muôn pháp nhất như, là tục là chân, qui đường giác; Đức tròn pháp giới, bàn không bàn có chuyển tâm mê. CÂU ĐỐI THIỀN MÔN ( phần 1) 01. *Sắc tướng vốn không, nương cảnh huyễn độ người mê muội; *Tử sanh nào có, mượn thuyên từ với kẻ trầm luân. 02. *Một chút giận, hai chút tham, lận đận cả đời ri cũng khổ; *Trăm điều lành, ngàn điều nhịn, thong dong tấc dạ rứa mà vui. 03. *Tánh lặng đất trời chung một cõi; *Tâm không trăng gió trải muôn phương. 04. *Biển ái lấp bằng, Tịnh độ đi về đâu mấy chốc; *Sông mê tát cạn, Niết bàn an trú vốn không xa. 05. *Ngộ thấu nguồn chơn, tâm danh lợi trôi theo dòng nước; *Rõ cùng lý đạo, niệm thị phi bay lẫn chòm mây. 06. *Cảnh Phật trang nghiêm, mõ sớm gõ tan hồn mộng ảo; *Cửa thiền thanh tịnh, chuông chùa ngân vọng tiếng từ bi. 07. *Lặng nhìn trăng sáng nước trong, đèn Bát nhã chiếu tan niềm tục; *Lắng nghe kinh vàng kệ ngọc, tiếng Từ bi gõ thức tình thương. 08. *Rũ sạch lòng trần, giọt nước cam lồ, rưới khắp phiền não chín cõi; *Mở tròn tuệ giác, soi đèn Bát nhã, hiển bày tướng hảo ba thân. 09. *Cá biết về nguồn thăm nghĩa cội; *Chim dù xa tổ nhớ ơn cây. 10. *Tấc cỏ ngâm ngùi, hương khói tỏ lòng con cháu thảo; *Ba xuân thương nhớ, lớn khôn nhờ đức tổ tông hiền. 11. *Mắt trí rạng ngời, đèn vô tận chiếu tan niềm tục; *Tay từ tế độ, nước dương chi gội sạch lòng trần. 12. *Cỏi Ta bà mê muội trầm luân, trống chuyển âm vang lời giác ngộ; *Cửa Tam quan tình thương rộng mở, chuông khua đồng vọng tiếng từ bi. 13. *Hiu hiu gió thổi đầu cành, không thấy,thấy không tùy mắt ngắm; *Vằng vặc trăng soi đáy nước, thật hư hư thật hỏi lòng xem. 14. *Tiếng chuông Linh mụ vọng về đâu, sáu nẻo luân hồi chúng sanh mong tế độ; *Cội cả tòng lâm đà ngã xuống, hai hàng mê ngộ đệ tử xót bơ vơ. 15. *Sạch phiền não, hết tham sân, cửa Phật đây rồi thôi tìm kiếm; *Phá si mê, trừ nghiệp chướng, đường trần đó mặc hết ruỗi rong. 16. *Cửa Không trống dậy mấy hồi, đọc kinh chú xua tan mộng ảo; *Cỏi Phật chuông đưa vài chập, niệm nam mô xóa sạch não phiền. 17. *Lặng nhìn mây trắng núi xanh, hương giải thoát xông lừng cây cỏ; *Vẳng tiếng thông reo chim hót, gió từ bi thổi mát đất trời. 18. *Mây núi chập chùng, trăng Bát nhã lồng soi vũ trụ; *Cỏ hoa tươi tốt, gió Từ bi thổi mát sinh linh. 19. *Đây chùa đây Phật, đây mõ sớm chuông chiều, nhắn nhủ khách trần về nẻo giác; *Này trăng này gió, này kinh vàng kệ ngọc, khuyên răn người tục bỏ đường mê. 20. *Phật đạo chẳng nghĩ bàn, thả chiếc thuyền Từ chờ kẻ giác; *Pháp môn không kể xiết, khêu đèn Bát nhã đón người mê. 21. *Vô minh tham ái buộc ràng, đối cảnh sinh tình thêm lụy tục; *Bát nhã từ bi giải thoát, xem kinh mở trí rạng lòng chơn. 22. *Đạo tổ sáng hoài cây cỏ đượm nhuần mưa pháp; *Chùa xưa mới mãi cháu con tiếp nối đèn thiền. 23. *Dứt sạch mê tình, nhắm thẳng một đường lên bờ giác, *Trừ không nghiệp chướng, giương cao đèn tuệ vượt sông mê. 25. *Không là sắc, sắc là không, chổi buộc lông rùa quét sạch ba ngàn thế giới; *Phật tức tâm, tâm tức Phật, mõ khua sừng thỏ tỉnh hồn ức triệu sinh linh. 26. *Cỏi Ta bà mê muội trầm luân; trống chuyển âm vang lời Giác ngộ; *Cửa Tam bảo đạo tình mở rộng, chuông khua đồng vọng tiếng Từ bi. 27. *Mười hiệu Phật, vài câu kinh, đánh thức ngàn năm mê muội; *Một hồi chuông mấy nhịp mõ, gõ tan bao kiếp trầm luân. 28. *Người nương pháp, pháp nương người, động tịnh theo duyên tiêu nghiệp cũ; *Phật tức tâm, tâm tức Phật, xưa nay chẳng khác rõ lời chơn. 入 門 宜 捨 融 常 性 到 寺 應 生 歡 喜 心 Nhập môn nghi xả dung thường tánh Đáo tự ưng sanh hoan hỷ tâm 金 地 松 林 孤 月 光 函 空 即 色 山 頭 寶 剎 群 鸞 翠 鎖 古 由 今 Kim địa tùng lâm cô nguyệt quang hàm không tức sắc Sơn đầu bảo sát quần loan thuý toả cổ do kim 湖 伴 起 禪 光 教 典 真 承 一 性 圓 明 還 本 細 山 頭 開 勝 會 聽 來 說 法 深 心 信 樂 悟 禪 根 Hồ bạn khởi thiền quang, giáo điển chân thừa, nhất tánh viên minh hoàn bản tế Sơn đầu khai thắng hội, thính lai thuyết pháp, thâm tâm tín nhạo ngộ thiền căn 人 依 法 法 依 人 動 靜 隨 緣 消 舊 業 佛 即 心 心 即 佛 古 今 不 二 合 真 宗 Nhân y pháp pháp y nhân, động tĩnh tuỳ duyên tiêu cựu nghiệp Phật tức tâm tâm tức Phật, cổ kim bất nhị hợp chân tông 後 滄 海 前 璧 江 水 月 波 光 相 映 月 朝 金 經 暮 玉 偈 鼓 鐘 聲 饗 共 遙 香 Hậu thương hải, tiền bích giang, thuỷ nguyệt ba quang tương ánh nguyệt Triêu kim kinh, mộ ngọc kệ, cổ chung thanh hưởng cộng diêu hương 下 寶 筏 泛 慈 航 拔 濟 愛 河 生 利 益 演 金 經 宣 玉 偈 換 回 苦 海 夢 迷 人 Hạ bảo phiệt, phiếm từ hàng, bạt tế ái hà sanh lợi ích Diễn kim kinh, tuyên diệu kệ, hoán hồi khổ hải mộng mê nhân 梵 武 遍 莊 嚴 日 放 重 新 景 色 蓮 臺 常 燦 爛 雲 開 顯 現 祥 光 Phạm vũ biến trang nghiêm nhật phóng trùng tân cảnh sắc Liên đài thường xán lạn vân khai hiển hiện trường quang 矯 壽 楞 空 鐵 寶 莊 嚴 光 寶 剎 叢 林 縱 秀 四 山 鸞 壁 映 禪 光 Kiểu thọ lăng không thiết bảo trang nghiêm quang bảo sát Tòng lâm túng tú tứ sơn loan bích ánh thiền quang 千 百 億 金 身 教 法 宣 揚 攝 眾 生 于 覺 地 三 十 二 寶 相 慈 光 遍 照 救 萬 纇 出 迷 途 Thiên bách ức kim thân, giáo pháp tuyên dương, nhiếp chúng sanh vu giác địa Tam thập nhị bảo tướng, từ quang biến chiếu, cứu vạn loại xuất mê đồ 景 置 幽 深 夜 草 閒 花 忘 歲 月 山 居 曠 活 晨 鐘 暮 鼓 了 色 空 Cảnh trí u thâm dạ thảo nhàn hoa vong tuế nguyệt Sơn cư khoáng hoạt thần chung mộ cổ liễu sắc không 慧 日 高 玄 廣 攝 眾 生 于 覺 地 慈 風 普 照 齊 資 萬 纇 出 迷 津 Tuệ nhật cao huyền, quảng nhiếp chúng sanh vu giác đạo Từ phong phổ chiếu, tề tư vạn loại xuất mê tân 離 四 句 絕 百 非 自 此 忘 言 真 了 道 纏 六 根 淨 三 業 只 於 息 念 說 無 生 Ly tứ cú, tuyệt bách phi, tự thử vong ngôn chân liễu đạo Triền lục căn, tịnh tam nghiệp, chỉ ư tức niệm thuyết vô sinh. Những câu đối trong cửa thiền (1) Câu đối sử dụng trong chốn chùa chiền quả thật là rất phong phú. Những ngôi chùa, hay bảo tháp nào cũng vậy, câu đối đóng góp một phần không nhỏ trong hệ thống kiến trúc chung. Câu đối vừa thể hiện phong thái của thiền môn, vừa hàm chứa triết lý sâu xa của đạo Phật. Dưới đây là tuyển tập các câu đối thường sử dụng trong cửa thiền. Vì số lượng rất nhiều nên chúng tôi xin phép bạn đọc được chia thành nhiều phần, để tránh tình trạng "dẫu hay cũng nhàm". Chân thành cảm ơn độc giả! 海到无边天是岸 山登绝顶雪为峰 Hải đáo vô biên thiên thị ngạn Sơn đăng tuyệt đỉnh tuyết vi phong (Biển đến không bờ trời thành bến Núi lên tận đỉnh tuyết thành nóc) 龙藏钵虎参禅野性都从空里化 鹿含花猿献果天机总向偈中生 Long tàng bát hổ tham thiền dã tính đô tòng không lý hoá Lộc hàm hoa viên hiến quả thiên ky tổng hướng kệ trung sinh (Rồng ẩn bát, hổ tham thiền, dã tính đều từ không mà hoá Nai ngậm hoa, vượn dâng quả, thiên cơ sinh tự kệ nhà thiền) 白水秋风此是峨眉胜景 弥勒楼阁俨如兜率道场 Bạch thuỷ thu phong thử thị nga my thắng cảnh Di lặc lâu các nghiễm như đâu suất đạo trường (Nước trắng, gió thu đây là Nga My thắng cảnh Lầu gác Di Lặc, nghiễm nhiên chẳng khác Đâu Suất ) 真知出实践 妙理贵躬行 Chân tri xuất thực tiễn Diệu lý quý cung hành (Hiểu biết chân thật từ thực tế Lẽ nhiệm mầu quý tại thực hành) 天空朱霞云中白鹤 山间明月江上清风 Thiên không châu hà vân trung bạch hạc Sơn gian minh nguyệt giang thượng thanh phong (Trời rộng ráng hồng trong mây hạc trắng Núi sâu trăng sáng, gió mát sông trong) 山现莲花峰自然自在 云藏舍利塔如见如来 Sơn hiện liên hoa phong tự nhiên tự tại Vân tàng xá lợi tháp như kiến như lai Núi hiện đỉnh hoa sen tự nhiên tự tại Mây che tháp Xá Lợi như thấy Như Lai 灵山我数阿罗汉 佛海人参大肚僧 Linh sơn ngã sổ A la hán Phật hải nhân tham Đại đỗ tăng Linh sơn ta đếm A la hán Biển Phật người thành đại đỗ tăng 弥勒真弥勒分身千百亿 时时示时人时人自不识 Di lặc chân di lặc phân thân thiên bách ức Thời thời thị thời nhân thời nhân tự bất thức Di Lặc thật Di Lặc phân thân thành ức vạn Thường thường tỏ người thường, người thường chẳng hay 乾坤容我静 名利任人忙 Càn khôn dung ngã tĩnh Danh lợi nhậm nhân mang Đất trời cho ta lặng Danh lợi mặc người say 无住荫慈云葱岭祇竹明法果 真常扬慧日鹫峰鹿苑在当前 Vô trú âm từ vân thông lĩnh kì trúc minh pháp quả Chân thường dương tuệ nhật thứu phong lộc uyển tại đương tiền Vô trụ bủa mây từ, núi xanh trúc lạ rõ thêm pháp quả Chân thường nêu trời tuệ, đỉnh Thứu, vườn Nai tại nhãn tiền 潮汐撼危崖澎渤涛声即是观音示现 海天开净土庄严世界居然正法如来 Triều tịch hám nguy nhai bành bột đào thanh tức thị quan âm thị hiện Hải thiên khai tịnh thổ trang nghiêm thế giới cư nhiên chính pháp như lai Thuỷ triều lay vách đá, tiếng sóng dạt dào tức là quan âm thị hiện Biển trời thành tịnh độ, trang nghiêm thế giới khác nào chính pháp như lai 西方贝叶演真经总不出戒定慧三条法律 南海莲华生妙相也自消闻思修一味圆通 Tây phương bối diệp diễn chân kinh tổng bất xuất giới định tuệ tam điều pháp luật Namhải liên hoa sinh diệu tươngdã tự tiêu văn tư tu nhất vị viên thông Diễn giải chân kinh lá bối tây phương luôn chẳng vượt ngoài giới đinh tuệ tam vô lậu học Tướng tốt từ hoa sen nam hải nẩy thành cũng tự tiêu văn tư tu một mạch viên thông 一日两度潮可听其自来自去 千山万重石莫笑他无觉无知 Nhất nhật lưỡng độ triều khả thính kỳ tự lai tự khứ Thiên sơn vạn trùng thạch mạc tiếu tha vô giác vô tri Một ngày hai lần thuỷ triều lên xuống, nghe được nó tự đến tự đi Nghìn núi muôn trùng đá, chớ cười nó vô giác vô tri 三业相应往生有份 六根都摄见佛无难 Tam nghiệp tương ưng vãng sinh hữu phần Lục căn đô nhiếp kiến Phật vô nan Ba nghiệp tương ưng vãng sinh có phận Sáu căn đều giữ, thấy Phật khó đâu 鱼鼓响时打点钵孟问天谁识饭是米做 象龙集处咀嚼菜根有味方知舌在口中 Ngư cổ hưởng thời đả điểm bát mạnh vấn thiên thuỳ thức phạn thị mễ tố Tượng long tập xứ thư tước thái căn hữu vị phương tri thiệt tại khẩu trung Chuông mõ khua lên gõ bát hỏi trời cao, ai hay cơm từ gạo chín Nơi rồng voi hội tụ, nghiền ngẫm cọng rau có vị mới hay lưỡi ở trong mồm 此处既非名山毕竟什么世界 其中如无活佛何用这样庄严 Thử xứ ký phi danh sơn tất cánh thập ma thế giới Kỳ trung như vô hoạt Phật hà dụng giá dạng trang nghiêm Chốn này vốn chẳng phải danh sơn, rốt cục là thế giới nào vậy Trong kia nếu không có Phật sống, việc gì phải trang trọng thế kia 过此门不许你七颠八倒 到这里哪管他五眼六通 Quá thử môn bất hứa nhĩ thất điên bát đảo Đáo giá lý ná quản tha ngũ nhãn lục thông Qua cửa này đây, anh chẳng thể thất điên bát đảo Đến trong chốn đó, chẳng sợ nó có ngũ nhãn lục thông 大叩大鸣小叩小鸣普觉梦中之梦 一声一佛千声千佛遥闻天外之天 Đại khấu đại minh tiểu khấu tiểu minh phổ giác mộng trung chi mộng Nhất thanh nhất Phật thiên thanh thiên Phật diêu văn thiên ngoại chi thiên Đánh lớn kêu vang, đánh khẽ không rền thức tỉnh khắp người mộng trong mộng Một lời một phật, nghìn lời nghìn Phật nghe thông trời ở ngoài trời 手上只一金元你也求他也求未知给谁是好 心中无半点事朝来拜夕来拜究竟为何理由 Thủ thượng chỉ nhất kim nguyên nhĩ dã cầu tha dã cầu vị tri cấp thuỳ thị hảo Tâm trung vô bán điểm sự triêu lai bái tịch lai bái cứu cánh vi hà lý do Trên tay chỉ một mẫu vàng, nó cũng cầu, anh cũng câu, chẳng hay cho ai mới phải Trong lòng chẳng bận chút phiền, sớm đến lạy chiều đến lạy, đâu biết rốt cục vì lí do gì 鹫岭拈来有何消息露在一枝引得破颜迦叶笑 鸡山胜处岂非形势埒于三尺要将唤醒世人迷 Thứu lĩnh niêm lai hữu hà tiêu tức lộ tại nhất chi dẫn đắc phá nhan Ca Diệp tiếu Kê sơn thắng xứ khởi phi hình thế liệt vu tam xích yếu tương hoán tỉnh thế nhân mê Có tin gì từ đỉnh núi Thứu, sương điểm trên cành cũng khiến ca diếp mỉm cười Thắng cảnh Kê sơn há không hình thế, cao ngang ba thước, rồi đây gọi tỉnh thế gian mê 存心能正大光明即不来许个愿磕个头这神自然保护 做事如奸滑阴险也还想消些灾降些福恐尔亦太糊涂 Tồn tâm năng chính đại quang minh tức bất lai hứa cá nguyện hạp /khái /khải cá đầu giá thần tự nhiên bảo hộ Tố sự như gian hoạt âm hiểm dã hoàn tưởng tiêu ta tai giáng /hàng ta phúc khủng nhĩ diệc thái hồ /hỗ đồ Biết giữ lòng chính đại quang minh dù không đến phát nguyện cúi đầu nhưng thần kia tự nhiên che chở Làm việc cứ gian manh âm hiểm lại muốn tiêu tai giáng phúc e rằng làm thế quá hồ đồ 要虚体面费尽心机何如此地清闲看滚滚潮流把古今来治乱兴亡都付与大江东去 登最上头放开眼界且向苍天呼吁问泱泱祖国积千百载庄严灿烂岂竟随皎日西沉 Yếu hư thể diện phí tận tâm cơ hà như thử địa thanh nhàn khan cổn cổn triều lưu bả cổ kim lai trị loạn hưng vong đô phó dữ đại giang đông khứ Đăng tối thượng đầu phóng khai nhãn giới thả hướng thương thiên hô hu vấn ương ương tổ quốc tích thiên bách tải trang nghiêm xán lạn khởi cánh tuỳ hạo nhật tây trầm Cần thể diện hảo huyền mà uổng phí tâm cơ sao bằng chốn đó thanh nhàn xem cuồn cuộn trào lưu, lấy cổ kim trị loạn hưng vong phó mặc cho đại giang xuôi bể Lên đỉnh tối thượng mở rộng tầm mắt, hướng tới trời xanh mà thở, hỏi mênh mông tổ quốc, chứa nghìn vạn năm trang nghiêm xán lạn há cùng trăng bạc lặng về tây 哼一声诸鬼卒心惊胆战难躲天王宝殿 哈两下众神仙笑逐颜开环瞻佛祖金容 Hanh nhất thanh chư quỷ tốt tâm kinh đảm chiến nan đoá thiên vương bảo điện Cáp lưỡng hạ chúng thần tiên tiếu trục nhan khai hoàn chiêm Phật tổ kim dung Ho một tiếng lính quỷ hồn xiêu phách tán, khó tránh thiên vương bảo điện Ngáp hai hơi chúng thần tiền hớn hở vui cười, ngắm quanh Phật tổ kim dung 莫看我庙破神悲不烧香试试 休仗你官大势强作恶事瞧瞧 Mạc khan ngã miếu phá thần bi bất thiêu hương thí thí Hưu trượng nhĩ quan đại thế cường tác ác sự tiêu Chớ xem miếu ta đổ nát thần sầu cứ không đốt hương xem thử Đừng cậy quan to thế lớn, thử làm chuyện ác mà coi 亘古迄今谁打破名缰利锁 修行念佛终能脱俗子凡夫 Cắng cổ ngật kim thuỳ đả phá danh cương lợi toả Tu hành niệm Phật chung năng thoát tục tử phàm phu Tối cổ đến nay mấy ai phá được dây cương bằng danh khoá cùm bằng lợi Tu hành niệm Phật cuối cùng sẽ thoát được tục tử phàm phu 极乐世界眼前就是须大家领会 菩萨道场心里本有要自己圆通 Cực lạc thế giới nhãn tiền tựu thị tu đại gia lĩnh hội Bồ tát đạo trường tâm lý bản hữu yếu tự kỷ viên thông Thế giới cực lạc ngay trước mắt mong mọi người lĩnh hội Tâm đạo tràng bồ tát vốn sẵn nên hãy tự viên thông 深妙圆融笑纳天下事 慈悲大度乐助世间人 Thâm diệu viên dung tiếu nạp thiên hạ sự Từ bi đại độ lạc trợ thế gian nhân Sâu thẳm nhiệm mầu cười dung chuyện thiên hạ Từ bi độ lượng vui giúp người thế gian 人类本一群骷髅只缘骷髅玩骷髅玩出君臣父子典章文物 世界乃众生色相太息色相吃色相吃成征诛杀伐因果轮回 Nhân loại bản nhất quần khô lâu chỉ duyên khô lâu ngoạn khô lâu ngoạn xuất quân thần phụ tửđiển chương văn vật Thế giới nãi chúng sinh sắc tươngthái tức sắc tương ngật sắc tương ngật thành chinh tru sát phạt nhân quả luân hồi Nhân loại vốn là bãi xương khô, chỉ vì xương khô chơi với xương khô làm nên phụ tử quân thần nhạc khúc điển chương văn vật Thế gian chính là chúng sinh sắc tướng, chính vì sắc tướng ăn sắc tướng làm nên giết chóc chinh phạt nhân quả luân hồi 惟大英雄能觉悟 为诸菩萨振纲常 Duy đại anh hùng năng giác ngộ Vi chư bồ tát chấn cương thường Bậc đại anh hùng mới giác ngộ Vì các bồ tát lập cương thường. Những câu đối trong cửa thiền (2) Phần câu đối thiền môn tiếp theo xin giới thiệu với bạn đọc. Dịch đối là một việc làm tương đối khó khăn, vì thế nếu có phần nào các bạn chưa hiểu rõ thì hãy liên hệ riêng vơi chúng tôi. Cảm ơn! 岂有此理说也不信 真正绝妙到者方知 Khởi hữu thử lý thuyết dã bất tín Chân chính tuyệt diệu đáo giả phương tri (Há có lẽ này nói không tín Chân chính tuyệt diệu đến mới hay) 一堂佛相闷的闷笑的笑观众生苦多乐少 万岁君王忧民忧乐民乐愿四海雨顺风调 Nhất đường Phật tương muộn đích muộn tiếu đích tiếu quan chúng sinh khổ đa lạc thiểu Vạn tuế quân vương ưu dân ưu lạc dân lạc nguyện tứ hải vũ thuận phong điều (Một nhà mặt Phật có vị buồn có vị vui, thấy chúng sinh vui đâu bằng khổ Muôn tuế quân vương buồn cái buồn của dân, vui niềm vui của dân, cầu bốn biển gió thuận mưa hoà) 僧是空道是空芸圃三界更是空是空尚迷空世上无非空色相 穷亦活富亦活花甲百歲终亦活亦活怕不活人间哪有活神仙 Tăng thị không đạo thị không vân phố tam giới canh thị không thị không thượng mê không thế thượng vô phi không sắc tương Cùng diệc hoạt phú diệc hoạt hoa giáp bách tuế chung diệc hoạt diệc hoạt phạ bất hoạt nhân gian ná hữu hoạt thần tiên Tăng là không, đạo là không bủa vây tam giới cũng là không, là mê cái không trong thế giới không, thế gian không gì là không sắc tướng Nghèo cũng sống, giàu cũng sống, tuổi đến một trăm cũng phải sống, không có nhân gian sống sao có thần tiên sống 是僧皆佛印 无客不东坡 Thị tăng giai Phật ấn Vô khách bất đông pha Tăng kia đều là Phật Ấn Khách nọ há không phải Đông Pha 无半点良心何须拜佛 有一丝善意也可来朝 Vô bán điểm lương tâm hà tu bái Phật Hữu nhất ty thiện ý dã khả lai triêu Không nửa chút lương tâm cần gì bái phật Có một chút thiện ý cũng được đến chầu 心即佛佛即心须要认清脚跟 色是空空是色莫教妄起念头 Tâm tức Phật Phật tức tâm tu yếu nhận thanh cước cân Sắc thị không không thị sắc mạc giáo vọng khởi niệm đầu Tâm là Phật Phật là tâm cần phải nhận rõ chân gót Sắc là không không là sắc chớ cho vọng niệm khởi đầu 终日解其颐笑世事纷纭曾无了局 经年袒乃腹看胸怀洒落却是上乘 Chung nhật giải kỳ di tiếu thế sự phân vân tằng vô liễu cục Kinh niên đản nãi phúc khan hung hoài sái lạc khước thị thượng thừa Ngày ngày má núng nụ cười, cười thế sự rối ren chưa từng kết thúc Năm năm bụng hở to phềnh, từng câu chữ thế lại thượng thừa 布袋全空容甚物 跏趺半坐笑何人 Bố đại toàn không dung thậm vật Già phu bán toạ tiếu hà nhân Túi vải trống không chứa gì vậy Vắt chân chữ ngũ cười những ai 我何为托号丰干本愿普度众生指引迷途莫上名场夸得意 汝尚可及时忏悔从此皈依三宝波罗般若岂犹苦海叹无边 Ngã hà vi thác hiệu phong can bản nguyện phổ độ chúng sinh chỉ dẫn mê đồ mạc thượng danh trường khoa đắc ý Nhữ thượng khả cập thời sám /thiên hối tòng thử quy y tam bảo ba la ban nhược khởi do khổ hải thán vô biên 问菩萨缘何倒坐 笑世人不肯回头 Vấn bồ tát duyên hà đảo toạ Tiếu thế nhân bất khẳng hồi đầu Hỏi bồ tát cớ gì ngồi ngược Cười thế nhân chẳng chịu hồi đầu CÂU ĐỐI THIỀN MÔN (phần 3) 1. * An tâm tự tại, vui niềm đạo * Đối cảnh tùy duyên, thỏa ý thiền. 2. * Xả bỏ phàm tình, quy nẻo giác * Tu theo thánh giáo, chuyển tâm mê. 3. * Vạn pháp vốn không, bởi do duyên mà có * Chơn tâm hằng hữu, đâu vì học mới nên. 4.*Xả tục, xả chơn, tùy duyên dị ngộ *Trước danh ,trước tướng, vọng chấp nan thông. Dịch nghĩa: *Bỏ tục, bỏ chơn, tùy duyên dễ ngộ *Vướng danh, vướng tướng, vọng chấp khó thông. 5.*Học đạo tiến tu, ngày ngày vơi đi niềm tục *Rèn tâm nuôi đức, kiếp kiếp thoát khỏi bến mê. 6.*Ơn cha sâu nặng, dẫu muôn kiếp báo đền, không trả hết * Nghiã mẹ cao dày, dù nghìn đời cung phụng, chẳng đáp xong. 7.*Lửa tam giới thường bốc cháy, khiến chúng sanh khổ não đêm ngày *Nước tịnh bình mãi rưới mát, để muôn loài an lạc tháng năm. 8.*Cửa Phật rộng mở, đưa chúng sanh đi vào nẻo thiện *Pháp môn phương tiện, dắt hữu tình ra khỏi đường mê. 9.*Chuông an lạc, ngày đêm ngân vọng, mong hàm linh thoát ly cảnh khổ *Mõ công phu, sớm tối nhịp đều, muôn vạn vật vơi bớt niềm đau. 10.*Quan Âm từ bi, luôn cứu giúp chúng sanh, lúc hoạn nạn phát sinh *Di Lặc hỷ xả, hằng trợ duyên hữu tình, khi phiền não dấy khởi. 11. *Vạn pháp duyên sanh, có không đều là huyển *Nhất tâm vô tướng, động tịnh thảy đều chơn. 12.*A-Nan nghe nhiều nhớ lâu, nên chi kinh tạng Phật thuyết, Ngài trùng tuyên không hề sai sót *Ca -Diếp khổ hạnh đầu đà, bởi thế chánh pháp Phật trao, Ngài lãnh đạo luôn đi đúng đường. 13.* Chúng sanh đau khổ trầm luân, bởi do ba nghiệp không thanh tịnh * Bồ tát an lành tự tại, chính vì bốn đức được viên dung. 14.*Chư Phật trong ba đời, do vì thương xót chúng sanh mà luôn thị hiện *Chúng sanh nơi sáu nẻo, chính nhờ nương theo thánh giáo nên bớt trầm luân. 15.*Sáng ra hãy nhớ tụng chú Lăng Nghiêm, để răn mình đừng sa vào biển khổ * Chiều về đừng quên trì kinh Di Đà, nhằm nhắc người nên cầu tiến vãng sanh . 16.* Sông mê,cuốn trôi chúng sanh trong ba cõi * Biển ái, nhấn chìm vạn loại khắp mười phương. 17.* Tát cạn sông mê, dắt chúng sanh đi vào tịnh độ *Lấp bằng biển ái, dẫn bốn loài ra khỏi trầm luân. 18.* Đất khách sớm hôm, lòng dạ dặt dìu hoài vọng, nhớ đến quê cha *Quê người đêm ngày, tâm trí ngậm ngùi ngóng trông, thương về đất tổ.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét