THÍCH TÂM TRỌNG

THÍCH TÂM TRỌNG
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT

Thứ Tư, 15 tháng 5, 2013

Phật giáo thời Trần- Linh thiêng Yên Tử

Phật giáo thời Trần- Linh thiêng Yên Tử Vào thời Lý, đầu thời Trần, vị vua đầu tiên mở nghiệp cho nhà Trần là Trần Cảnh, chán cảnh suy vi của nhà Lý cuối triều, bị ông chú một cường triều ép làm những điều thường luân, bại lý nên bỏ triều đình lên Yên Tử - non thiêng tìm phật. Thấy vua từ bỏ sự nghiệp lên núi, Thiền sư Phù Vân (Quốc sư Viên Chứng) thưa với Trần Cảnh: “Lão tăng đã lánh chốn bụi trần, không màng đến chức Quốc sư mà triều đình nhà Lý ban cho, nay lão đã quen với cảnh thân khô, tâm lạnh, xương rắn, mặt gầy, quen uống nước suối, chơi cảnh rừng, lòng nhẹ như đám mây nổi. Phần lão tăng đã đi một nhẽ, còn nhà vua sao tự nhiên bỏ cái thế nhân chủ, tìm đến sự quê hèn của rừng núi? Chẳng hay nhà vua muốn cầu tìm điều chi cao quý hơn cả ngôi vua”? Nghe vậy Trần Cảnh đáp: “Quyền bính mà làm chi? Ngôi báu mà làm chi? Rốt cuộc cũng chỉ là “vạn pháp, quy không”. Nay trẫm vào núi này chỉ cầu phật, chứ không cầu vinh hiển hay một điều gì khác” (Đại việt sử ký toàn thư – NXB KHXH – 1970, quyển V). Quốc sư đáp: “Trong núi vốn không có phật. Phật ở ngay trong tâm ta. Nay nhà vua ở ngôi cao mà thuần mưu việc thiện, để cứu vớt muôn dân. Lại giữ cho tâm, thân lúc nào cũng hồn nhiên vô trước, con người luôn luôn nhập với vạn vật mà không đắm chìm trong cảnh vật, tức là giữ cho cái tâm được trong lặng. Giác ngộ được cái tâm ấy, tức thị nhà vua đã liễu ngộ rồi, hà cớ gì phải đi tìm phật ở đâu cho phí sức”. (Đại việt sử ký toàn thư - NXB KHXH, 1970, quyển V). Vì nước không thể không có vua, thái sư Trần Thủ Độ lên Yên Tử mời vua về kinh. Trước khi chia tay Quốc sư Viên Chứng khuyên rằng: “Phàm làm đấng nhân quân, phải lấy ý muốn của thiên hạ làm ý muốn của mình và lấy tâm của thiên hạ làm tâm của mình. Nếu bệ hạ thực lòng hiếu phật thì không gì bằng lo cho hạnh phúc của bách tính, giảm nhẹ hình án, chăm lo công đức cho mọi nhà mãi mãi sum suê. Và nữa, sự tìm hiểu nội điện, xin bệ hạ chớ nguôi quên…” (Đại việt sử ký toàn thư - NXB KHXH, 1970, quyển V). Từ đó, ngoài chăm lo chính sự, Trần Cảnh không những ra sức tìm hiểu giáo lý phật mà còn thực sự giác ngộ đạo thiền nên khi viết sách “Khóa hư lục”, trong bài thơ “Phả khuyến phát bồ đề tâm”, nhà vua đã nhắc lại “Phật ở ngay trong lòng ta” tức “Phật tại tâm”. “Đừng hỏi là đại ẩn hay tiểu ẩn, chớ phân biệt tại gia hay xuất gia. Cùng chẳng kể tăng hay tục, cốt yếu là biện tâm vốn đã không phân biệt trai gái, sao còn chấp tướng”. Sau này trong các tước tác của Tuệ Trung thượng sỹ Trần Tung hoặc trước tác của Trần Thánh Tông cũng phát triển trên cơ sở nhập thế của Trần Thái Tông. Tư tưởng của nhà vua đã hòa với tư tưởng của ông nội mình và phát triển lên. Trong cư trần lạc đạo tư tưởng tu hành được thể hiện: Ở đời vui đạo hãy tùy duyên. Đói cứ ăn no, mệt ngủ liền. Trong nhà sẵn ngọc thôi tìm kiếm Lặng lòng đối cảnh hỏi chi thiền Điều Ngự Giác Hoàng thành tâm chỉ bảo mọi người, hãy trong lặng soi tìm vào chính mình, lôi cho bằng được ông phật ở trong tâm mình ra, chớ có vọng động mà cầu tìm tha lực. Đó chính là giáo lý hướng nội khiến mọi người tự cường, dân tộc tự cường. Tư tưởng Việt phật của dòng Thiền Trúc Lâm đó chính là tư tưởng của các thiền sư, các ông vua phật nhà Trần đối với dân tộc, đối với non song đất nước. Hưng Đạo Vương - Một ông vua - Một vị tướng cầm quân luôn lấy cái thiện tâm của mình đối đãi với gia tướng, gia thần và gia nô. Trước lúc lâm chung, Trần Anh Tông có hỏi cha về kế sách giữ nước, Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn đáp: “Khoan thứ sức dân để làm kế sâu gốc bền rễ, đó là thượng sách để giữ nước” (Đại việt sử ký toàn thư, Bản ký - Quyển VI, trang 89). Nhưng đối với thiền học, Trần Nhân Tông kế tiếp cha và ông nội duy trì cái cốt là nhập thế, là khai phong, là vị tha. Nhưng Trần Nhân Tông xét thấy cái hồn còn có sự ảnh hưởng của hai dòng thiền Ti - ni - đa - lưu - chi và vô ngôn thông từ Trung Hoa tràn vào. Vì thế, nhà vua xác định cần xác lập một nền phật giáo thuần việt - một nền Việt đạo với tư tưởng triết học Việt phải trở thành một học thuyết. Học thuyết ấy, về mặt quân sự Trần Hưng Đạo đã hoàn thiện bởi 2 trước tác: “Binh thư yếu lược” và “Vạn kiếp tông bí truyền thư”. Về mặt tư tưởng - văn hóa nhà vua khai mở thiền phái Trúc lâm. Học thuyết Việt Phật - đối với xã hội lúc này phật là đạo của trí tuệ. Nhà vua cho rằng, đối với đạo phật điều hèn kém nhất là vô minh. Để phá tan sự vô minh đó thì chỉ có sức mạnh của trí tuệ. Trí tuệ cộng với niềm tin tôn giáo sẽ đem lại cho cả dân tộc một cường lực siêu thần nhập hóa. Vì thế, Giác Hoàng Điều Ngự Trân Nhân Tông nhường ngôi cho con để chuyên tâm cho việc tu hành. Ngài xác lập rõ tư tưởng Việt phật - lo cho việc truyền giảng phật pháp, giáo hóa đạo đức trong toàn dân. Lo việc kế tổ truyền đăng… Trúc Lâm Yên Tử ra đời, chính là Trần Nhân Tông đã dựng lên một cửa trùng đại về tư tưởng triết học của Đại Việt và chính ngài cùng các bậc tiền bối là những vị vua đức độ, văn minh, vừa là chính trị gia, vừa là triết gia lỗi lạc. Thiền phái Trúc Lâm vì thế đã dựa hẳn vào dân để phát triển nền đạo và dân tộc lấy sức mạnh trí tuệ của thiền phái làm điểm tựa để đưa Đại Việt phát triển. Tư tưởng xuyên suốt của thiền phái được thể hiện rõ trên các mặt. Tất cả mọi người từ vua, quan đến dân thường ai cũng có thể tự thiền, không phân biệt tại gia hay xuất gia, không phân biệt nam - nữ. Mọi người cứ sống bình thân giữa đời thường mà vui với đạo; tu thiền là để mọi người tự giải thoát khỏi mê lầm. Muốn giải thoát khỏi mê lầm, tức giải thoát khỏi vô minh để bước qua các chướng ngại tham, sân, si thì phải khỏi cho bằng được cái tâm trong lặng, tâm vô nhiễm trong chính mình. Tu thiền là hướng con người vào các điều thiện và xa lánh những điều ác, điều sai như ngũ giới, ngũ uẩn, mê tín, dị đoan… tu thiền là “Cư trần lạc đạo thả tùy duyên” cứ thiện tâm và thiện duyên là tu được. Bước vào thế kỷ XXI với cái tâm trong sáng, cùng khối trí thức khổng lồ và giá trị nhân văn của dòng thiền Trúc Lâm vẫn luôn tỏa sáng. Tiếc thay dãy Yên tử linh thiêng, các di tích lich sử đang là các phế tích, hàng trăm ngôi tháp lớn nhỏ, những ngôi chùa mà các bậc thiền sư dày công tạo dựng đang chìm trong hư vô. Chúng ta phải làm gì? Làm như thế nào? Để những di sản đó, những tư tưởng triết học đó được phát huy trong cuộc sống hôm nay. Thiết nghĩ: Việc tu bổ, tôn tạo và có thể xây dựng lại những di tích tiêu biểu và thật trọng điểm để Yên Tử giữ được và tiếp nối sự linh thiêng vốn có của thiền phái Trúc Lâm do nhà Trần tạo dựng từ thế kỷ XIII - Đó là mục đích giáo dục truyền thống lòng tự hào dân tộc thiết thực và ý nghĩa nhất. Hạnh phúc nhất, tự hào nhất - chúng ta còn có cái để vinh danh, để tự hào nên càng sớm triển khai các đề án, các dự án bảo tồn, tôn tạo di tích cả tây và đông Yên Tử, để Yên Tử luôn là danh sơn - linh thiêng - hùng vĩ, nơi lưu giữ hào khí nghìn năm của cha ông ta để lại. Nhằm phục vụ cho cuộc sống hôm nay./.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét