THÍCH TÂM TRỌNG

THÍCH TÂM TRỌNG
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT

Thứ Tư, 15 tháng 5, 2013

NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN

NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA PHẬT GIÁO VIỆT NAM THỜI TRẦN Dưới thời Lý, ở nước ta Phật giáo đã phát triển mạnh và trở thành quốc giáo, khắp nơi trong nước, chùa chiền lớn nhỏ mọc lên, dân chúng quá nửa làm sư. Các vị vua rất mực mộ đạo, các nhà sư có vai trò quan trọng trong triều. Các dòng Thiền lớn như Tỳ Ny Đa Lưu Chi, Vô Ngôn Thông, Thảo Đường... đã có ảnh hưởng sâu rộng trong đời sống xã hội. Sang thời Trần, ở thế kỷ XIII và đầu thế kỷ XIV, Phật giáo tiếp tục phát triển và đạt đến mức cường thịnh. Tư tưởng Phật giáo mà đặc biệt là tư tưởng Thiền đã chi phối mạnh mẽ đến đời sống văn hóa, tinh thần của dân tộc ta. Nhìn khái quát, Phật giáo thời Trần nổi lên một số đặc điểm cơ bản sau đây:• Phật giáo thời Trần là “Phật giáo nhất tông” (hay tư tưởng thống nhất của Phật giáo Việt Nam):Để phát triển đất nước và chống giặc ngoại xâm, nhà Trần không chỉ cố kết lòng dân, phát huy sức mạnh của toàn dân tộc như các triều đại phong kiến trước đó đã làm, mà còn thống nhất các tông phái Phật giáo đương thời nhằm tăng cường sức mạnh đoàn kết dân tộc. Đây là nét độc đáo, đóng góp to lớn của nhà Trần đối với lịch sử dân tộc nói chung, đối với Phật giáo Việt Nam nói riêng. Thời Lý, ba Thiền phái: Tỳ Ni Đa Lưu Chi, Vô Ngôn Thông và Thảo Đường đã phát triển mạnh nhưng ngày càng có ảnh hưởng hỗ tương và có xu hướng hòa trộn lẫn nhau, dẫn đến một số sự kiện đặc biệt, hiếm có trong lịch sử Phật giáo: Chùa Lục Tổ là một tổ đình rất xưa thuộc phái Tỳ Na Đa Lưu Chi đã mời Thiền sư Thường Chiếu thuộc phái Thiền Vô Ngôn Thông về làm trụ trì. Đây là cơ hội thuận lợi cho sự thống nhất giữa hai Thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi và Vô Ngôn Thông. Dần dần, qua Thường Chiếu và ảnh hưởng của Trần Thái Tông, Tuệ Trung Thượng Sĩ, cả ba dòng Thiền trên đã sát nhập làm một. Đến thời Trần Nhân Tông, Phật giáo Việt Nam đã trở thành nhất tông, đó là Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử. Có thể xem Thiền sư Thường Chiếu là gạch nối giữa Phật giáo thời Lý và Phật giáo thời Trần, người đặt nền móng cho sự thống nhất Phật giáo Việt Nam; chính vua Trần Thái Tông đã dùng từ Nhất Tông để tôn xưng Quốc sư Trúc Lâm. Thiền sư Hiện Quang (vị khai sơn phái Yên Tử), Quốc sư Đạo Viên (Viên Chứng – còn gọi là Quốc sư Trúc Lâm), Đại Đăng Quốc sư, Thiền sư Tiêu Dao (Phúc Đường), Tuệ Trung Thượng Sĩ và vua Trần Nhân Tông là những người đóng góp tích cực để Phật giáo Việt Nam trở thành thống nhất. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử, Phật giáo Việt Nam thống nhất từ trung ương đến địa phương. Tăng chúng trong cả nước đều được cấp tăng tịch. Pháp Loa (Nhị Tổ Trúc Lâm Yên Tử) là người được vua Trần Anh Tông cấp tăng tịch đầu tiên, ông đứng ra tổ chức Giáo hội và thiết lập sổ bộ tăng - ni cả nước. Theo sử cũ, sổ tăng - ni có tên trong sổ bộ chính thức đã lên tới 15.000 người. Nhị Tổ đã làm cho Trúc Lâm Yên Tử trở thành trung tâm Phật giáo Việt Nam, một nơi lý tưởng, thu hút đông đảo tăng - ni trong cả nước về đây tu học và tìm đường giải thoát, vì vậy nhân gian đã truyền tụng câu ca : “Dù ai quyết chí tu hành, Có về Yên Tử mới đành lòng tu". • Phật giáo là nền tảng của đạo đứcxã hội: Tuy đến nay vẫn chưa tìm thấy một tài liệu nào ghi rõ sự thừa nhận Phật giáo ở thời Trần là quốc giáo. Song, qua việc phân tích hai bài văn bia của Lê Quát ở chùa Thiên Phúc và của Trương Hán Siêu ở chùa Khai Nguyên; nghiên cứu tư tưởng của các ông vua đầu triều Trần, cũng như việc tìm hiểu vai trò, tác dụng của Phật giáo trong đời sống xã hội, ta thấy rõ Phật giáo thời này đã thực sự là nền tảng của đạo đức xã hội. Lê Quát và Trương Hán Siêu là hai nhà nho, có tư tưởng bài Phật, hai ông thường chỉ trích Phật giáo, nhưng khách quan các ông phải thừa nhận: “Cái thuyết hoạ phúc của nhà Phật sao mà cảm động lòng người sâu sắc đến thế? Trên từ vương công, dưới đến thứ dân, hễ nói đến việc bố thí cúng dường Phật sự thì dù hết của, hết tiền cũng không tiếc. Ngày hôm nay được cúng dường vào việc xây chùa, dựng tháp thì lấy làm hân hoan như là ngày hôm mai sẽ được báo ứng tốt đẹp. Thế nhưng từ trong kinh thành đến ngoài châu phổ, khắp nơi thôn cùng ngõ hẻm, không cần ra lệnh mà cũng tuân theo, không bắt phải thề mà vẫn giữ đúng. Hễ chỗ nào có nhà thì ở đó có chùa Phật. Chùa hư nát thì sửa lại, lâu đài chuông trống chiếm đến phần nửa cư dân. Sự hưng thịnh của đạo Phật quá dễ dàng mà sự tôn sùng thì rất mực” (Lê Quát, văn bia chùa Thiên Phúc). “Tượng giáo đặt ra là để đức Phật dùng làm phương tiện tế độ chúng sinh, khiến cho người ngu không biết, người mê không ngộ nương vào đó mà trở về con đường thiện... Vì thế những nơi u nhã thanh kỳ trong nước, chùa chiền đã chiếm một nửa” (Trương Hán Siêu, văn bia chùa Khai Nguyên).Có thể nói, hai ông đã chứng minh một cách sinh động rằng Phật giáo lúc bấy giờ rất hưng thịnh và thâm nhập trong mọi tầng lớp nhân dân. Giáo lý từ bi cứu khổ, nhân quả, thiện ác đã thấm nhuần sâu sắc đến mỗi người trong xã hội. Chúng ta còn được biết Phật giáo phát triển mạnh mẽ và phát huy tốt mọi khía cạnh tích cực, tiến bộ trong đời sống và để đáp ứng những nhu cầu của thời đại qua các tác phẩm như Khóa hư lục, Thượng Sĩ Ngữ lục, Tam Tổ hành trạng,...Một xã hội mà ông vua vừa là một vị nguyên thủ quốc gia vừa là một nhà lãnh đạo tinh thần; vừa là những nhà chính trị xuất chúng, vừa là những nhà đạo đức gương mẫu, những ông vua nhưng lại là những nhà hiền triết, như Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông,... Họ là những con người vừa có kiến thức thế học vững chắc, vừa có trình độ Phật học uyên thâm, dùng đạo Phật phục vụ cho mục đích chính trị và vì sự giải thoát của con người. Sự dung hợp giữa nền chính trị quốc gia với tinh thần Phật giáo đã tạo ra một sự tương tác chi phối lẫn nhau và thúc đẩy nhau phát triển; điều đó đã chứng tỏ Phật giáo lúc bấy giờ đóng vai trò như một lực lượng lãnh đạo toàn dân về mặt tinh thần.Mặc dù không tuyên bố rằng Phật giáo là quốc giáo, song các ông vua đầu Trần vẫn mong muốn mỗi người dân là một Phật tử, sống và tu tập theo giáo lý của nhà Phật. Không một chủ trương, chính sách cụ thể để Phật giáo trở thành quốc giáo, song ngay từ Trần Thái Tông đã lấy câu nói của Quốc sư Trúc Lâm làm triết lý chính trị, một triết lý trị nước an dân (triết lý vô ngã áp dụng vào lĩnh vực chính trị); viết sách Khóa hư lục, khắc in và ban hành rộng rãi trong cả nước để khuyến cáo mọi người, không kể tăng hay tục hãy cùng nhau biện tâm, kiến tánh để thành Phật. Trần Thánh Tông cúng dường trai Tăng ngay ở trong cung và mời nhiều bậc tôn túc trưởng lão đến dự. Trần Nhân Tông, ông vua xuất gia, ngoài việc thành lập Thiền phái Trúc Lâm, thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất trong cả nước, ông còn ”Tự mình sống đạo đức, lại hô hào tuyên truyền dân chúng khắp nơi sống theo nếp sống “Thập thiện” của Phật giáo. Trần Nhân Tông thật sự muốn xây dựng một xã hội Việt Nam lấy đạo đức Phật giáo làm nền tảng”(1). Trần Anh Tông thụ Bồ tát giới, các vương tôn và các quan trong triều cũng theo gương vua phát nguyện thụ Tam quy, Ngũ giới. Trần Minh Tông ban chiếu thỉnh sư Pháp Loa soạn Tham Thiền chỉ yếu đồng thời ngự bút đặc phong Sư hiệu Trịnh Trí Tôn Giả,… Cả triều đình theo đạo Phật và trở thành chỗ dựa vững chắc cho Giáo hội Trúc Lâm nói riêng, cho Phật giáo nói chung có điều kiện để phát triển. Phật giáo trong cung đình, Phật giáo trong Tăng đoàn, Phật giáo trong đại chúng, tất cả đã tạo nên một phong trào tu tập sôi nổi trong cả nước. Công việc dựng chùa, đúc tượng, xây dựng Phật đường, lập trường Phật học diễn ra rầm rộ. Theo Nguyễn Lang thì cả nước thời này có 15 chùa lớn gọi là Quốc tự do chính quyền ủng hộ xây cất, 300 ngôi chùa do Vương hầu, quan lại dựng nên và 3.000 ngôi chùa do quần chúng bỏ tiền xây cất. Nhà chùa bao chiếm một diện tích ruộng đất rất lớn, có chùa có đến 1000 mẫu ruộng, điều này không những không làm cho nhà nước cảm thấy băn khoăn lo lắng mà trái lại, nhà nước còn chỉ định hơn 1000 nông dân đến lĩnh canh cho chùa…Tất cả những điều trên đây cho thấy, Phật giáo thời Trần, nhất là buổi đầu Trần đã phát triển rất mạnh, thậm chí “trong lịch sử Phật giáo Việt Nam thì sự phát triển của Phật giáo đời Trần được coi là đỉnh cao của sự phát triển” như giáo sư Ngô Văn Lệ đánh giá(2), trong sự phát triển đó, công lao to lớn thuộc về các vua Trần. Và như vậy, các vua đầu Trần mặc dù chủ trương Tam giáo đồng nguyên, nhưng ngay trong tư tưởng cũng như qua hành trạng cho thấy các vị vẫn xem Phật giáo như là quốc giáo của nước ta ở thời kỳ này.• Tinh thần phóng khoáng, tự do và viên dung nhất quán của Phật giáo thời Trần:Phật giáo đầu Trần như trên đã nói, có địa vị quốc giáo và các vua Trần là các đệ tử thuần thành. Tuy nhiên, họ không muốn biến đạo Phật thành tôn giáo độc tôn và chèn ép, bài xích các tôn giáo khác. Ngược lại, đạo Phật thời này, trong khi phát triển mạnh mẽ đã tỏ ra rất thân thiện, cởi mở và bao dung đối với các giáo khác như Nho giáo và Lão giáo. Nhà Trần đã một mặt thúc đẩy sự phát triển Phật giáo, mặt khác khuyến khích tạo điều kiện cho Nho giáo và Lão giáo phát triển trong tinh thần dung hợp Tam giáo đồng nguyên. Điều này xuất phát từ nhu cầu khách quan của sự phát triển xã hội phong kiến đương thời lấy Nho giáo làm nền tảng tư tưởng trị nước, đồng thời thể hiện tinh thần đại đồng, bao dung tam giáo của Phật giáo đương thời mà đặc biệt là tinh thần vô chấp của Thiền tông - cốt lõi của đạo Phật thời Trần. Việc nhà Trần cho xây dựng Văn miếu để thờ Khổng Tử và 72 vị Tiền hiền, mở các kỳ thi Tam giáo, việc các nhà sư có trình độ Nho học uyên thâm,... đã nói lên điều đó. Về mặt tư tưởng, tinh thần Tam giáo đồng nguyên, được Trần Thái Tông nêu lên một cách cụ thể. Trong bài Phổ khuyến phát bồ đề tâm, Trần Thái Tông viết: Vị minh nhân vọng phân Tam giáo, liễu đắc để đồng ngộ nhất tâm. -------------------- (1)(2). Ban Phật giáo Việt Nam – Ban Phật học chuyên môn (1995), Thiền học đời Trần, Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam, tr. 109, 284. Nghĩa là khi chưa tỏ ngộ, người ta thường nhầm lẫn phân biệt tam giáo, nhưng chừng đã đạt được chỗ gốc cội rồi thì cùng ngộ một tâm. Hoặc trong bài Giới sát sinh văn nhà vua nêu lên sự tương đồng của tam giáo về mặt hành thiện: “Nho điển thi nhân bố đức, Đạo kinh ái vật hiếu sinh, Phật duy giới sát thị trì”(1). Còn Trúc Lâm Sơ Tổ Điều Ngự Giác Hoàng, trong Cư trần lạc đạo phú có đoạn viết: “... Lò hoán cốt, ước phi thăng, đan thần mới phục; Nhắm trường sinh, về thượng giới thuốc thỏ còn đam, Sách dịch xem chơi, yêu tánh sáng yêu hơn châu báu, Kinh nhàn đọc dấu, trọng lòng rồi trọng nữa hoàng kim”(2).Đã thấy cả Lão, Khổng, Phật đều xếp chung một mức quý trọng... Tất cả chúng sinh đều có Phật tính, Đức Phật đã từng tuyên bố như vậy. Phật giáo không chỉ xem mọi người đều có Phật tính mà ngay cả những cành cây, ngọn cỏ,... cũng đều có tính Phật. Cái nhìn viên dung, phóng khoáng đó của Phật giáo đã xóa đi sự ngăn cách giữa con người với tự nhiên, với thế giới ngoại tại. Từ quan niệm vượt lên sự phân biệt giữa thiện ác, tốt xấu đó của Phật giáo, mà Thái Tông có cái nhìn rất thoáng: Trong hang quỷ vẫn là lâu đài Di Lặc; dưới hắc sơn chẳng khác cảnh giới Phổ Hiền. Còn Tuệ Trung Thượng Sĩ thì với triết lý sắc không và mê ngộ một cách viên dung: Khi mê thấy không, sắc; lúc ngộ hết sắc, không. Sắc, không và mê, ngộ xưa nay một lẽ đồng. Cũng như Thiền sư Huyền Quang nêu lên mối quan hệ mật thiết giữa thiên nhiên và con người:“Người ở trên lầu, hoa dưới sân, Vô ưu ngồi ngắm khói trầm xông, Hồn nhiên người với hoa vô biệt, Một đóa hoa vàng chợt nở tung” Phật giáo thời Trần với cái nhìn viên dung, phóng khoáng như trên đã tạo nên sự hòa đồng giữa những con người trong xã hội, một yếu tố hết sức quan trọng để tạo nên sự đoàn kết dân tộc. • Thiền - Giáo đồng hành: Theo tinh thần truyền thống thì Thiền chủ trương: Giáo ngoại biệt truyền, bất lập văn tự. Do đó, nhiều Thiền phái chỉ đặc biệt chú trọng đến việc tọa Thiền và tham cứu thoại đầu, rất ít quan tâm đến việc học hỏi kinh điển vì cho rằng như thế sẽ làm tăng kiến giải, trở ngại sự ngộ đạo. Khác hẳn với truyền thống đó, Thiền phái Trúc Lâm - Thiền phái duy nhất của Việt Nam ở thời Trần, chủ trương vừa tu Thiền vừa giảng học kinh điển. Ngay từ Trần Thái Tông, trong Khoá hư lục đã từng bàn đến phương pháp tham Thiền và luận về pháp môn Tịnh độ, vừa đặt ra những khóa lễ sám hối để hành trì trong mỗi ngày. Theo Thái Tông thì Thiền và Tịnh không tách rời nhau. Tuệ Trung Thượng Sĩ, một Thiền sư đắc đạo cũng đã đề cập đến Tịnh độ, trong Thượng Sĩ Ngữ lục ông viết:“ Đức Phật Di Đà ẩn đáy lòng Pháp thân châu biến khắp Tây Đông” (1). ------------------ (1). Sách Nho dạy thi nhân bố đức, kinh Lão dạy yêu mọi vật quý sự sống, Phật chủ trương hãy giữ gìn giới cấm sát sinh. Lê Anh Dũng (1994), Con đường tam giáo Việt Nam, Nxb Tp. Hồ Chí Minh, tr. 90-91. (2) Đặng Hồng Nam (1996), Tuyển thơ các vua Trần, Hội Văn học nghệ thuật Nam Ha, tr. 140.(3). Ban Phật giáo Việt Nam – Ban Phật học chuyên môn (1995), Thiền học đời Trần, Sđd, tr. 278-279 Điều Ngự thường giảng Truyền Đăng Lục và viết trong Cư trần lạc đạo rằng Tịnh độ là lòng trong sạch, chớ còn ngờ hỏi đến Tây phương, Di Đà tính sáng soi, mựa phải tìm về cực lạc; Pháp Loa từng giảng kinh Pháp Hoa, kinh Niết Bàn, kinh Lăng Già, kinh Lăng Nghiêm. Năm 1311, phụng chiếu nhà vua, Pháp Loa khắc bản Đại Tạng kinh, và đến năm 1319, cho in một Đại Tạng kinh trên 5000 quyển để an trí tại chùa Quỳnh Lâm. Huyền Quang thường xuyên mở các lớp giảng dạy kinh điển cho tăng, ni tại chùa Vân Yên trên núi Yên Tử, cả hàng nghìn người theo học. Có thể nói, Thiền học thời Trần đã đặt nền tảng trên kinh điển, Thiền và Giáo không hề tách rời nhau, tu học luôn luôn đồng hành. Đây là một đặc điểm cơ bản của Phật giáo thời Trần, nó tạo nên sự dung hợp, nhất quán, không xảy ra tình trạng cực đoan, cố chấp, mâu thuẫn giữa Giáo và Thiền; nhờ vậy mà phát huy tốt vai trò tập kợp sức mạnh đoàn kết dân tộc. • Xu thế hướng nội và tinh thần nhập thế tích cực: Câu nói của Quốc sư Trúc Lâm khuyên Trần Thái Tông khi nhà vua có ý định xuất gia cầu Phật: Trong núi vốn không có Phật, Phật chỉ ở trong tâm đã mở ra xu thế hướng nội của Phật giáo thời Trần. Tư tưởng đó đã được Trần Nhân Tông tiếp nối và phát triển, thể hiện trong Cư trần lạc đạo: “Bụt ở cong nhà; (trong nhà) Chẳng phải tìm xa. Nhân khuây bản nên ta tìm bụt; (quên mất gốc) Đến cốc hay chỉn bụt là ta”. (mới hay chính) (2). Đó là Phật giáo hướng nội, lấy Tâm làm tiêu đích cho sự giải thoát. Tinh thần đó được các lớp người lãnh đạo đất nước như Thái Tông, Thánh Tông, Nhân Tông, và các quan tướng nhà Trần quán triệt sâu sắc và vận dụng thàng công trong quá trình trị nước, mà cụ thể là đã tạo được sự hòa mục trăm nhà, toàn dân đoàn kết. Phật giáo hướng nội biện tâm là Phật giáo mang tính chất bình đẳng không phân biệt là tăng hay tục, là xuất gia hay tại gia, như Trần Thái Tông đã viết: Không phân biệt là sống giữa đời hay sống ẩn dật trong rừng, không phân biệt là tại gia hay xuất gia, tăng hay tục, chỉ cốt biện tâm, và trong Khoá hư lục Trần Thái Tông thường nhắc nhở Hãy quay đầu lại, nhìn vào bên trong nội tâm, nếu có thể quay ánh sáng phản chiếu lại (nội tâm) mình, thì sẽ thấy được tánh mà thành Phật tức kiến tính thành Phật. Đây là Phật giáo của mọi người và mọi người có thể hành trì được ở bất kỳ nơi đâu, lúc nào. Đó chính là cơ sở tạo nên sức mạnh của Phật giáo – Thiền thời Trần. Đặc điểm to lớn nhất của Phật giáo thời Trần là đi đôi với hướng nội, Phật giáo thời này mang tinh thần nhập thế sâu sắc. Nghe lời Quốc sư, Thái Tông vừa lo việc triều chính vừa học đạo, hành Thiền. Ong hiểu rõ rằng Đạo bất viễn nhân, nên đạo phải được thể nghiệm ngay trong lòng cuộc đời, lấy chúng sinh làm đối tượng để phụng sự, và đời sống môi trường thiết yếu cho sự hành Thiền. Bởi vậy mà các vua đầu Trần, đã lấy ý muốn của nhân dân làm ý muốn của mình. Đất nước cần, có thể lên ngựa cầm quân xông pha trận mạc, để cứu an cho dân, cho nước. --------------------(1). Ban Phật giáo Việt Nam – Ban Phật học chuyên môn (1995), Thiền học đời Trần, Sđd, tr. 239.(2). Nguyễn Duy Hinh (1999), Tư tưởng Phật giáo Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, tr. 617. Các ông vua – Thiền sư cũng như các vị Thiền sư khác, đặc biệt như Tuệ Trung Thượng Sĩ ,... đã nhập thế một cách tích cực và các vị đã “xuất thế” ngay giữa cuộc đời. Thánh Tông dự yến vừa bàn đạo Thiền, Tuệ Trung Thượng Sĩ thì chủ trương hòa quang đồng trần tức hòa ánh sáng của mình trong bụi bặm, còn Trần Nhân Tông thì lạc đạo một cách ung dung. Đối với Thiền sư thời Trần, sống không chỉ là phương tiện mà còn là cứu cánh, cái đầu tiên cũng là cái cuối cùng, cái sơ phát tâm vừa là thành tựu của một người tu đạo Phật, do đó, cần gì phải xa lánh cuộc đời vào nơi hang lạnh mới mong giải thoát. Các Thiền sư thời Trần đã làm được như vậy và họ đã đắc thành chánh quả một cách có ý nghĩa, tạo ra sức mạnh của Thiền, tức là sức mạnh của đời Trần. • Tinh thần độc lập, tự tín tự cường và tinh thần thâu hóa sáng tạo: Những thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống ngoại xâm đã làm cho nền độc lập dân tộc càng thêm vững chắc. Cùng với nền chính trị độc lập là sự độc lập về văn hóa của thời kỳ này, đặc biệt là sự phát triển mạnh mẽ của văn học chữ Nôm, một phương tiện mà các nhà sư đều sử dụng để sáng tác. Về mặt tôn giáo, tuy có tiếp thu ảnh hưởng của Phật giáo Ấn Độ và Trung Hoa, nhưng các Thiền sư Việt Nam, qua thời gian đã khéo léo vận dụng, dung hợp những ảnh hưởng đó với truyền thống dân tộc để tạo nên một nền Phật giáo Việt Nam thống nhất và mang tính chất độc lập tự chủ. Tư tưởng biện tâm của Phật giáo Việt Nam đã khiến cho các tín đồ có lòng tự tín mãnh liệt vào khả năng đắc chứng của bản thân mình, đó là một chân lý. Lời dạy của Viên Chứng Quốc sư: Phật ở trong tâm ta đã thấm sâu vào các đệ tử, giúp họ sớm giác ngộ. Trần Nhân Tông thường phát biểu: Buông lửa giác ngộ đốt hoại thảy rừng tà ngày trước, cần kiếm trí tuệ quét cho không tánh thức thưở nay. Điều đó có thể hiểu rằng chinh phục được tha nhân đã là mạnh - một sức mạnh hơn người, nhưng cái quan trọng hơn là tự chinh phục mình. Bên cạnh những cuộc đấu tranh giữ nước mang đậm màu sắc dân tộc và tính nhân dân, nền văn hóa thời kỳ này cũng phát triển với những nét độc đáo thể hiện bản sắc dân tộc sâu sắc. Các Thiền sư Việt Nam đã rút tỉa từ Phật giáo Ấn Độ và Trung Quốc những tinh hoa để kết tinh thành nền Phật giáo với những nét rất riêng. Các pháp môn tu Thiền, Tịnh độ, v.v... mang những sắc thái riêng biệt; Thái Tông soạn nghi thức sám hối lục thời, khác xa với các cách thức sám hối có trước đó; Tịnh Độ cũng được trình bày mới mẻ và thực tiễn hơn. Theo Nhân Tông, Tịnh độ là lòng trong sạch, đâu còn ngờ hỏi đến Tây phương; Di Đà là tính sáng soi, mựa phải nhọc tìm về Cực lạc. Quá trình thâu thái tinh hoa của những người đi trước để sắp xếp, trình bày lại cho mạch lạc, dễ hiểu và hợp với thực tiễn Việt Nam hơn, bắt đầu từ ý tưởng độc đáo của Trần Thái Tông: Vắt đất cục thành vàng ròng cho quốc gia; khuấy sông dài thành sữa ngọt đãi Trời, Người, và đã trở thành một trong những đặc trưng nổi bật của Phật giáo thời Trần.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét