THÍCH TÂM TRỌNG
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT
Thứ Sáu, 31 tháng 5, 2013
Giải pháp của Đức Phật trước nguy cơ xung đột &chiến tranh.
Giải pháp của Đức Phật trước nguy cơ xung đột &chiến tranh.
Xung đột và chiến tranh luôn hiện hữu trong lịch sử tồn sinh của nhân loại, và gần như nó không hề giảm thiểu nếu không muốn nói là ngày càng tăng thêm trong bối cảnh thế giới hiện nay. Chắc chắn một điều là nước nào có đầy đủ sức mạnh, toàn diện về các phương diện vật chất và tinh thần thì sẽ vững vàng, an ổn hơn trong các đối trọng giữa tương quan khu vực và toàn cầu.
Trường Bộ kinh (Kinh Ðại Bát Niết Bàn) có ghi lại chuyện Đức Phật ở tại Ràjagaha, nước Magadha, bấy giờ vua Ajàtasattu thống trị một quốc gia hùng mạnh, có ý định thôn tính nước lân bang Vajjì, liền sai đại thần Vassakara đến thỉnh ý Thế Tôn.
Vua Ajàtasattu nói với đại thần Vassakara như sau: "Này Bà la môn, hãy đi đến Thế Tôn, và nhân danh ta, cúi đầu đảnh lễ chân Ngài: "Bạch Thế Tôn, Ajàtasattu Vedehiputta, vua nước Magadha cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn, vấn an Ngài có thiểu bệnh, thiểu não, khinh an, lạc trú". Và khanh hãy bạch tiếp: "Bạch Thế Tôn, Ajàtasattu Vedehiputta, vua nước Magadha muốn chinh phục dân Vajjì, vua tự nói: Ta quyết chinh phạt dân Vajjì này dầu chúng có uy quyền, có hùng mạnh, ta quyết làm cỏ dân Vajjì, ta sẽ tiêu diệt dân Vajjì, ta sẽ làm cho dân Vajjì bị hoại vong". Thế Tôn trả lời khanh thế nào, hãy ghi nhớ kỹ và nói lại ta biết. Các bậc Thế Tôn không bao giờ nói lời hư vọng”.
Tất nhiên vua Ajàtasattu đã họp hành, bàn bạc kỹ lưỡng với hội đồng an ninh quốc gia Magadha nhưng ông vẫn muốn thỉnh ý Đức Phật. Có lẽ Ajàtasattu đang cân nhắc về việc khởi động một cuộc chiến tranh, dù dưới bất cứ lý do nào thì thương vong, chết chóc hàng triệu sanh mạng sẽ xảy ra và chưa hẳn cuộc chinh phạt sẽ thành công, hoặc nếu thành công chăng nữa cũng không lấy gì đảm bảo rằng sẽ mang lại quốc thái dân an. Vì thế, thỉnh ý bậc minh triết toàn thiện toàn tri hiện đang ngự trong quốc gia của mình, theo ông là cần thiết.
Trước vấn đề tuyệt mật và cực kỳ hệ trọng của quốc gia Magadha, nghe đại thần Vassakara thưa xong, Thế Tôn không biểu lộ ý kiến gì với sứ thần nhà vua mà chỉ nói với Tôn giả Ananda:
"Này Ananda, ngươi có nghe dân Vajjì thường hay tụ họp và tụ họp đông đảo với nhau không?
Bạch Thế Tôn, con có nghe.
Này Ananda, khi nào dân Vajjì thường hay tụ họp và tụ họp đông đảo với nhau, thời này Ananda, dân Vajjì sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm. Này Ananda, ngươi có nghe dân Vajjì tụ họp trong niệm đoàn kết, giải tán trong niệm đoàn kết, và làm việc trong niệm đoàn kết không?
Bạch Thế Tôn, con có nghe.
Này Ananda, khi nào nghe dân Vajjì tụ họp trong niệm đoàn kết, giải tán trong niệm đoàn kết, và làm việc trong niệm đoàn kết, này Ananda, dân Vajjì sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm. Này Ananda, ngươi có nghe dân Vajjì không ban hành những luật lệ không được ban hành, không hủy bỏ những luật lệ đã được ban hành, sống đúng với truyền thống của dân Vajjì như đã ban hành thời xưa không?
Bạch Thế Tôn, con có nghe.
Này Ananda, khi nào dân Vajjì, không ban hành những luật lệ không được ban hành, không hủy bỏ những luật lệ đã được ban hành, sống đúng với truyền thống của dân Vajjì như đã ban hành thuở xưa thời, này Ananda, dân Vajjì sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm. Này Ananda, ngươi có nghe dân Vajjì tôn sùng, kính trọng, đảnh lễ, cúng dường các bậc trưởng lão Vajjì và nghe theo lời dạy của những vị này không?
Bạch Thế Tôn, con có nghe.
Này Ananda, khi nào dân Vajjì tôn sùng, kính trọng, đảnh lễ, cúng dường các bậc trưởng lão Vajjì và nghe theo lời dạy của những vị này, thời dân Vajjì sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm. Này Ananda, ngươi có nghe dân Vajjì không có bắt cóc và cưỡng ép những phụ nữ và thiếu nữ Vajjì phải sống với mình không?
Bạch Thế Tôn, con có nghe.
Này Ananda, khi nào dân Vajjì không có bắt cóc và cưỡng ép những phụ nữ và thiếu nữ Vajjì phải sống với mình thời, này Ananda, dân Vajjì sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm. Này Ananda, ngươi có nghe dân Vajjì tôn sùng, kính trọng, đảnh lễ, cúng dường các tự miếu của Vajjì ở tỉnh thành và ngoài tỉnh thành, không bỏ phế các cúng lễ đã cúng từ trước, đã làm từ trước đúng với quy pháp không?
Bạch Thế Tôn, con có nghe.
Này Ananda, khi nào dân Vajjì tôn sùng, kính trọng, đảnh lễ, cúng dường các tự miếu của Vajjì ở tỉnh thành và ngoài tỉnh thành, không bỏ phế các cúng lễ đã cúng từ trước, đã làm từ trước đúng với quy pháp, thời này Ananda, dân Vajjì sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm. Này Ananda, ngươi có nghe dân Vajjì bảo hộ, che chở, ủng hộ đúng pháp các vị A la hán ở tại Vajjì khiến các vị A la hán chưa đến sẽ đến trong xứ, và những vị A la hán đã đến được sống an lạc không?
Bạch Thế Tôn, con có nghe.
Này Ananda, khi nào dân Vajjì bảo hộ, che chở, ủng hộ đúng pháp các vị A la hán ở tại Vajjì khiến các vị A la hán chưa đến sẽ đến trong xứ, và những vị A la hán đã đến được sống an lạc, thời này Ananda, dân Vajjì sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm”.
Dù không hề đả động gì đến lời thỉnh cầu của đại thần nước Magadha, nhưng qua cuộc hội thoại của Thế Tôn với Tôn giả Ananda, đại thần Vassakara đã nhận thức được rằng: “Tôn giả Gotama, nếu dân Vajjì chỉ hội đủ một pháp bất thối này, thời dân Vajjì nhất định được cường thịnh, không bị suy giảm, huống nữa là đủ cả bảy pháp bất thối. Tôn giả Gotama, Ajàtasattu Vedehiputta, vua nước Magadha không thể đánh bại dân Vajjì ở chiến trận”.
Tiễn khách, Thế Tôn chỉ ân cần khuyên đại thần Vassakara: "Người hãy làm những gì người nghĩ là hợp thời”.
Rõ ràng, Thế Tôn muốn nhắn gởi đến quốc vương Magadha một cách gián tiếp rằng không nên tiến hành cuộc chiến với dân Vajjì vì chắc chắn sẽ thất bại. Vajjì tuy không phải là một cường quốc nhưng họ đã làm được tất cả những gì cần thiết để giữ vững bờ cõi, dù nằm cạnh một láng giềng hiếu chiến, đầy tham vọng bành trướng.
Như vậy, “Cái đáng sợ không phải là thế giặc mạnh, chỉ sợ lòng dân không theo mà thôi”. Muốn dân theo thì phải an dân (Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân - Nguyễn Trãi). Dân có an thì nước mới thái bình, thịnh trị, ngoại bang không dám lăm le xâm lược và nếu cứ hung hăng bành trướng thì chắc chắn “Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời” (Lý Thường Kiệt). Thế Tôn từ xưa đã khẳng định điều này, chứng minh rõ ràng qua “bảy pháp bất thối” mà dân Vajjì đã thực thi để tự cường, giữ yên bờ cõi bằng nội lực quốc gia. Đó là sức mạnh được tạo ra từ sự đoàn kết, hòa hợp, dân chủ, công bằng và văn minh đích thực chứ không phải chỉ hô hào, khẩu hiệu.
Trang sử Việt hào hùng với lịch sử chiến thắng ngoại xâm, từ xưa đến nay từng đánh bại những đế quốc hùng mạnh nhất thế giới đều nhờ sự đoàn kết toàn dân. Hơn 2.000 năm đồng hành cùng dân tộc, “Trang sử Phật/Đồng thời là trang sử Việt” (Hồ Dzếnh) nên “bảy pháp bất thối” của dân Vajjì là giải pháp cần yếu, góp phần quan trọng trong việc xây dựng nội lực dân tộc, giữ vững biên cương Tổ quốc.
Người mang hạnh phúc đến cho nhân loại
11/05/2009 15:05 (GMT+7)
Kích cỡ chữ:
Một thời, Thế Tôn trú tại Sàvatthi, dạy các Tỷ kheo: Có một người, này các Tỷ kheo, khi xuất hiện ở đời, sự xuất hiện đưa lại bất hạnh cho đa số, bất lạc cho đa số, bất lợi cho đa số, đưa đến bất hạnh, đau khổ cho chư Thiên và loài Người. Một người ấy là ai?
Người có tà kiến, người có điên đảo kiến. Người ấy làm cho đông người xa lìa diệu pháp, an trú phi pháp. Chính một người này, này các Tỷ kheo, khi xuất hiện ở đời, sự xuất hiện đưa lại bất hạnh cho đa số, bất lạc cho đa số, bất lợi cho đa số, đưa đến bất hạnh, đau khổ cho chư Thiên và loài Người.
Có một người, này các Tỷ kheo, khi xuất hiện ở đời, sự xuất hiện đưa đến hạnh phúc cho đa số, an lạc cho đa số, lợi ích cho đa số, đưa đến hạnh phúc, an lạc cho chư Thiên và loài Người. Một người ấy là ai? Người có chánh kiến, người không có điên đảo kiến. Người ấy làm cho đông người xa lìa phi pháp, an trú diệu pháp. Chính một người này, này các Tỷ kheo, khi xuất hiện ở đời, sự xuất hiện đưa đến hạnh phúc cho đa số, an lạc cho đa số, lợi ích cho đa số, đưa đến hạnh phúc, an lạc cho chư Thiên và loài Người. (ĐTKVN, Tăng Chi Bô I, chương 1, phẩm Makkhali, phần Một pháp, VNCPHVN ấn hành, 1996, tr.71)
LỜI BÀN:
Chánh kiến là sự thấy biết đúng đắn, nhận thức chính xác về nhân quả thiện ác, như thật tri về tính chất duyên sinh của hiện tượng giới và đặc biệt là liễu tri về Tứ diệu đế. Nhận thức đúng ắt hẳn sẽ hành động đúng và mang đến hạnh phúc, lợi ích, an vui cho bản thân cùng xã hội.
Lịch sử nhân loại đã cho thấy một cá nhân và cả xã hội sở dĩ rơi vào bất hạnh khổ đau, xét cho cùng đều do nhận thức chủ quan sai lầm hay bị chi phối hoặc tin theo những tà thuyết. Từ các cuộc chiến tranh thế giới, nạn diệt chủng, khủng bố, xung đột sắc tộc cho đến những loại hình tội phạm, các tệ nạn xã hội… đều có căn nguyên từ nhận thức sai lạc của một người hay một cộng đồng. Hiện trạng bất an của thế giới trên mọi phương diện ngày càng gia tăng hiện nay khiến chúng ta suy ngẫm nhiều hơn về giải pháp hòa bình, hòa hợp bằng cách phát huy tuệ giác - chánh kiến theo quan điểm của Thế Tôn.
Quan kiến phải được mở rộng ra đến tột cùng, vượt thoát cái tôi vị kỷ, thấy được tính cách bất nhị cùng với sự tương tác liên quan vô cùng tận, dung nhiếp được các phạm trù đối đãi mới là giải pháp thiết thực và bền vững cho các vấn nạn của nhân loại hiện nay.
Thế Tôn ra đời, thành tựu tuệ giác dưới cội Bồ đề, tuyên bố đầu tiên và xuyên suốt trong phương châm hành động của Ngài là tinh thần trung đạo, là tuệ giác, chánh kiến. Bởi người nào, cộng đồng nào có chánh kiến, tôn vinh trí tuệ thì người ấy và cộng đồng ấy có hạnh phúc, an lạc dài lâu.
Tán thán
29/04/2009 07:01 (GMT+7)
Kích cỡ chữ:
Một thời, Thế Tôn trú ở Kosambi, dạy các Tỷ kheo: Thành tựu với bốn pháp, này các Tỷ kheo, như vậy tương xứng bị rơi vào địa ngục. Thế nào là bốn?
Không suy tư, không thẩm sát, tán thán người không xứng đáng được tán thán. Không suy tư, không thẩm sát, không tán thán người xứng đáng được tán thán. Không suy tư, không thẩm sát, tự cảm thấy tin tưởng đối với những chỗ không đáng tin tưởng. Không suy tư, không thẩm sát, tự cảm thấy không tin tưởng đối với những chỗ đáng tin tưởng.
Thành tựu với bốn pháp này, này các Tỷ kheo, như vậy tương xứng bị rơi vào địa ngục.
Thành tựu với bốn pháp, này các Tỷ kheo, như vậy tương xứng được sanh lên cõi trời.
Có suy tư, có thẩm sát, không tán thán người không xứng đáng được tán thán. Có suy tư, có thẩm sát, tán thán người xứng đáng được tán thán. Có suy tư, có thẩm sát, tự cảm thấy không tin tưởng đối với những chỗ không xứng đáng được tin tưởng. Có suy tư, có thẩm sát, tự cảm thấy tin tưởng đối với những chỗ đáng tin tưởng.
Thành tựu với bốn pháp này, này các Tỷ kheo, như vậy tương xứng được sanh lên cõi trời.
(ĐTKVN, Tăng Chi Bộ I, chương 4, phẩm Không có rung động, phần Tán thán, NCPHVN ấn hành, 1996, tr.714)
LỜI BÀN:
Tán thán, tôn vinh, ca ngợi là liệu pháp cần yếu để động viên và khuyến khích mọi người nỗ lực hơn nữa trong công việc hiện tại. Tuy nhiên, sự cổ vũ nhiệt thành ấy phải dựa trên nền tảng tuệ giác như ngợi khen điều thiện, xưng tán chính nghĩa, tôn vinh cái đẹp… thì mới đem lại lợi ích thiết thực cho mình và người, trong hiện tại và ở tương lai.
Người đời thường tiết kiệm sự ca ngợi bởi chúng ta ít khi đánh giá cao sự cố gắng và thành công của người khác. Đôi khi có lời xưng tán nhưng chỉ với tâm dua nịnh, nhằm lợi mình. Thành ra, cuộc đời đầy dẫy tiếng tung hứng, khen chê nhưng tìm ra lời thành thật để an trú, nuôi dưỡng và thăng hoa đời sống không phải là chuyện dễ.
Song hành với ca ngợi là sự tin tưởng, thường chúng ta thán phục ai thì có xu hướng tin và hành động theo người ấy. Sự tin tưởng có liên hệ mật thiết đến đời sống của mỗi cá nhân và xã hội nên chúng ta phải thận trọng phát huy tuệ giác để soi sáng cho niềm tin của chính mình. Sự tin hiểu và dấn thân hành động đúng đắn mới đem lại lợi ích thiết thực.
Cuộc sống luôn cần sự ca ngợi và tin tưởng bởi đó là những chất liệu làm thăng hoa cá nhân và cộng đồng. Cho nên, mỗi người con Phật phải vận dụng trí tuệ để ca ngợi và tin tưởng đúng người, đúng việc, đúng nơi và đúng lúc.
Không thể nghĩ bàn
23/11/2008 15:56 (GMT+7)
Kích cỡ chữ:
Một thời Thế Tôn trú ở Kosambi, gọi các Tỷ kheo: Có bốn điều này không thể nghĩ đến được, này các Tỷ kheo, nếu nghĩ đến, thời người suy nghĩ có thể đi đến cuồng loạn và thống khổ. Thế nào là bốn?
Phật giới của các Đức Phật, này các Tỷ kheo, không thể nghĩ đến được, nếu nghĩ đến, thời người suy nghĩ có thể đi đến cuồng loạn và thống khổ.
Thiền giới của người ngồi thiền, này các Tỷ kheo, không thể nghĩ được, nếu nghĩ đến, thời người suy nghĩ có thể đi đến cuồng loạn và thống khổ.
Quả dị thục của nghiệp, này các Tỷ kheo, không thể nghĩ đến được, nếu nghĩ đến, thời người suy nghĩ có thể đi đến cuồng loạn và thống khổ.
Tâm tư thế giới, này các Tỷ kheo, không thể nghĩ đến được, nếu nghĩ đến thời người suy nghĩ có thể đi đến cuồng loạn và thống khổ.
Có bốn điều này không thể nghĩ đến được, này các Tỷ kheo, nếu nghĩ đến, thời người suy nghĩ có thể đi đến cuồng loạn và thống khổ.
(ĐTKVN, Tăng Chi Bộ I, chương IV, phẩm Không hý luận, phần Không thể nghĩ đến được, VNCPHVN ấn hành 1996, tr 706).
LỜI BÀN:
Con người dùng những giác quan và vô số công cụ hỗ trợ khác để nhận thức, khám phá thế giới khách quan cũng như ngay chính thân tâm của mình. Dù nhân loại ngày nay đã hiểu biết tường tận rất nhiều lãnh vực nhưng không phải họ biết tất cả. Còn vô số công trình nghiên cứu đang bỏ ngỏ, hy vọng sẽ hoàn tất trong tương lai. Quan trọng hơn, có bốn điều mà một người bình thường (với nghiệp lực của loài người) vĩnh viễn không bao giờ nhận thức được.
Trước hết là cảnh giới của chư Phật. Cảnh giới chân như thực tướng của chư Phật vượt ra ngoài tâm thức ngã chấp hữu hạn của phàm phu nên mọi cố gắng của chúng ta để nhận thức về chân như đều không thể. Như một người ngồi trong cái thùng rồi tìm cách nhấc cái thùng lên, vĩnh viễn không thể được.
Cảnh giới thiền định của các thiền giả cũng không thể nghĩ đến được. Từ Sơ thiền cho đến Tứ thiền hoặc cao hơn nữa là cảnh giới của Sắc giới và Vô sắc giới hoàn toàn khác biệt với tâm thức của con người (Dục giới) nên chúng ta không thể nhận thức được. Đó là chưa kể đến việc thiền giả an trụ tâm nơi vô trụ, vô tâm thì không chỉ con người mà ngay cả chư Thiên cũng không thể biết được.
Kế đến là quả nghiệp dị thục của chúng sanh, tức quá trình từ nghiệp nhân đến nghiệp quả với tác động và chi phối bởi vô vàn các mối tương hệ “trùng trùng duyên khởi”. Nhân-duyên-quả là một chu trình rất phức tạp và không đơn thuần là nhân nào thì quả nấy. Do vậy, quả nghiệp dị thục là điều mà phàm phu không thể biết và nghĩ đến được.
Sau hết là những suy nghĩ về thế giới. Thế giới hữu biên hay vô biên, hữu hạn hay vô hạn, tồn tại hay không tồn tại v.v… đều là những vấn đề khi được hỏi Thế Tôn đều im lặng, không trả lời. Đơn giản là Ngài không muốn cho người hỏi "có thể đi đến cuồng loạn và thống khổ” trước những vấn đề không thể.
Chỉ khi nào tâm đạt đến thanh tịnh hoàn toàn, thành tựu tuệ giác vô ngã thì thực tướng các pháp tự hiển bày.
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét