THÍCH TÂM TRỌNG

THÍCH TÂM TRỌNG
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT

Thứ Năm, 30 tháng 5, 2013

GIÁ TRỊ THỰC…

GIÁ TRỊ THỰC… Diễn giả bắt đầu bài thuyết trình của mình trước 200 thính chúng bằng cách đưa tờ giấy bạc 100 Mỹ kim lên và hỏi: “Ai trong quý vị muốn tờ 100 đô la này?”. Mọi cánh tay đều đưa lên. Ông nói: “Tôi sẽ cho một trong các bạn tờ 100 đô la này, nhưng trước khi cho để tôi làm điều này đã”. Ông dùng tay vò nhàu tờ giấy bạc cầm trên tay rồi hỏi: "Ai vẫn còn muốn tờ giấy bạc 100 đô la này?". Tất cả mọi cánh tay vẫn đưa lên. “Thôi được rồi”, ông nói, “Để xem thế nào đây, nếu tôi làm điều này”. Ông thả tờ giấy bạc rơi xuống nền rồi dùng mũi giày bẩn dí lên tờ bạc. Ông nhặt lên, trông tờ bạc dơ bẩn và nhàu nát: “Sao? Còn ai muốn tờ bạc 100 đô la này nữa không?”. Những cánh tay vẫn tiếp tục đưa lên. “Các bạn thân mến! Tất cả các bạn vừa học một bài học quý giá. Không cần biết tôi đã làm gì với tờ bạc này, các bạn vẫn muốn nó bởi vì giá trị của nó đã không hề giảm đi, giá trị của nó vẫn là 100 đô la. Rất nhiều lần trong cuộc đời, chúng ta bị ngã gục, bị tơi tả, bị bôi nhọ, bị xuyên tạc, bị giẫm đạp… Ta ngỡ rằng mình là kẻ thật vô dụng, chẳng ra gì. Nhưng không cần thiết bất cứ chuyện gì đã xảy ra và sẽ xảy ra, chúng ta quyết định sẽ không bao giờ đánh mất giá trị của mình… Đừng bao giờ để những thất vọng của ngày hôm qua che mờ những giấc mơ rực sáng của ngày mai!”. GÓP NHẶT LỜI VÀNG trang nhà Phật Giáo Đại Chúng sưu tầm Con người là tên gọi đích thực của nỗi đau khổ truyền miên, bất tận trên cõi đời này. Hay nói khác hơn, con người đã mang lấy một hình tượng là đau khổ khi khởi đầu thân phận của mình. Thế thì, có ai là người đã hạnh phúc thật sự để được sống ở đời? Người khách đã tự hỏi lòng mình như thế, vào một buổi chiều cuối năm. Không gian yên tĩnh lại càng yên tĩnh hơn, vì câu hỏi này vẫn bị bỏ ngõ, vẫn không được trả lời, vẫn là niềm ray rức không nguôi bên lòng người khách. Để rồi cho đến một hôm, sau tuần trà buổi sáng trong thư phòng, người khách mới chợt nhớ lại câu chuyện Đức Phật trên một bờ sông nọ. Trong lịch sử con người, có lẽ Đức Phật là người đầu tiên đã định nghĩa lại danh từ “con người”với bao hàm ý nghĩa rất nhân bản. Trong nguyên ngữ “Buddha”, được dịch là “Người Tỉnh Thức”, Người tỉnh thức thì không còn đau khổ nữa. Cho nên, người khách từ đây hướng lòng về quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng như là một điểm khởi đầu cho cuộc hành hương đời mình vào Đức Phật, mà trên đó một ngôi Thiền thất nhỏ được dựng lên với vẻ uy nguy mà giản dị, thiêng liêng mà hữu tình, để phụng thời tượng Đức Bổn sư Thích Ca Mâu Ni, và cũng để chiêm bái tượng Đức Quán Thế Âm - vị Bồ tát có đôi mắt nhìn xuống chúng sanh đau khổ. Khi ấy chính là lúc từ trong chiều sâu vực thẳm đến cùng tận tâm hồn của người khách chầm chậm vang lên từng đợt chững âm ba dài hải triều vọng lại, vỗ về lấy cung điệu cổ xưa từ vô thuỷ. Cùng lúc đó, những tiếng sóng gào thét của khổ đau cũng bùng lên dữ dội, chập chùng không dứt trên biển tâm thức chuyển động càng bao la. Những lúc này, người khách có cảm giác thời gian như muốn ngừng lại. Nhưng rồi, mùa Đông cũng phải lụi tàn đi, để nhường cho một mùa Xuân mới khác xuất hiện trở lại trên địa cầu. Thật vậy, cũng cùng lúc ấy người khách lại một lần nữa hiểu dần ra rằng đâu là ‎ nghĩa của câu hỏi mà Bồ tát Vô Tận Ý thỉnh vấn Đức Thế Tôn về nhân duyên và danh hiệu của Bồ tát Quán Thế Âm trong phần mở đầu “Phẩm Phổ Môn – Kinh Diệu Pháp Liên Hoa”: “Nhĩ thời, Vô Tận Ý Bồ tát tức tùng toà khởi, thiên đản hữu kiên, hiệp chưởng hướng Phật, nhi tác thị ngôn: Thế Tôn! Quán Thế Âm Bồ tát dĩ hà nhân duyên danh Quán Thế Âm?”. Và đến đây cuộc hành hương vẫn cứ tiếp tục, trong khi câu hỏi trên kia mỗi lúc càng thêm xúc tích, thân tình như một công án Thiền phải cưu mang trong đời, nhất là vào những lúc như lúc thư thản này, ngồi uống ngụm trà nhìn hoa cúc vàng nở đầu năm. “Việc chùa cũng vừa xong, Về thắp hương thư phòng, Quanh đây làn khói toả, Con thỉnh Phật . . . uống Trà” HOA Hoa chính là vị Bồ tát hoá thân làm đẹp mắt mọi người, để những ai chuộng sắc trần vào Đạo. Vẻ đẹp của hoa không có vị tục tằn của xác thịt, vẻ đẹp của hoa không có mùi quyến rũ của tội lỗi, vẻ đẹp của hoa là hiện thân của vô thực, sự huyền diệu của ánh nắng kết tinh thành màu sắc. Hoa là Từ bi, một đời tặng hết dịu dàng và an ủi cho chúng sanh. Hoa là Hỷ xả, sau khi đem giọt nước mắt của chân mỹ đến để ra đi, không bận tâm đến kiếp sống vô thường. Hoa là Bồ tát dạy con “tâm vô trụ”, mỗi giây phút của cuộc đời rất quý, đừng để những giây phút ấy trôi qua trong đau khổ, trong địa ngục của giận hờn và lo toan. Mỗi giây phút này là sự bừng nở của ngàn vạn đoá hoa. Khi con bên lề đường không một người để mắt, hoặc rực rỡ trong những khu vườn cùng sự chăm sóc của con người, hay lẻ loi đơn côi nơi đồng hoang vắng, hoa vẫn bình đẳng trải rộng từ bi, không phân biệt đắng đo về lẽ thân tình của mình sẽ đến với ai và được tiếp nhận hay không! Con hãy sống trong vô trụ, trải rộng từ bi đến mọi người, không phân biệt tình cảm của người đối với con ra sao, không lượng thời gian không gian, không cần được đền đáp, không cần được hiểu và thông cảm. Hãy để đoá hoa Tâm được nở, đừng để “Ngã” của con làm khô cằn mảnh đất vốn đã được gieo giống “Phật”, vì mọi sự phân định phải trái chính là “Bản ngã”! Con có quyền tu thì kẻ khác cũng có quyền không tu, con không được tự cho rằng: mình tu nên đúng hoàn toàn. Thêm vào đó, là người tu mà không chuyển nổi tâm kẻ khác theo đường Đạo thì phải tự trách mình. Vả lại, nếu con thật sự hết lòng cầu giải thoát, hãy tự giải thoát mình khỏi cảnh khổ hiện tại, đừng quy lỗi cho kẻ khác về nỗi khổ của mình. Tu là tự giải thoát. Giải thoát là gì? Sự bình an của con trước mọi điều thuận nghịch của hoàn cảnh mà con đang sống, hay được tự giải thoát, bình an nơi sự thay đổi hoàn cảnh, phải nhìn thực tại của tâm mình mà giải quyết, hãy nhìn xuống, hãy hạ tâm mình! Hoàn toàn được mọi người khen tặng là điều không thể có, nhưng hoàn toàn bị chê bai cũng là điều không thật. Nghĩ rằng mình bị mọi người chú ý để chê bai cũng chính là “Ngã” đấy. Muốn thấy ánh sáng chân lý đưa con ra khỏi vô minh, phiền não, con phải học hạnh Từ Bi Hỷ Xả của hoa. Hoa phải là tâm con. Chư Phật trong mười phương đều nói đến giải thoát, hoá sanh nơi hoa sen trong ao báu, chẳng phải không nguyên do. Cho nên, hoa mang tướng vô thường mà sống đời vĩnh cửu của Đại Từ; giây phút đi qua trần thế, nên giọt nắng cõi trần soi vào mắt con, khai thị điều thiện mà con chưa tự chứng. Như hoa có thể tàn mà vẻ đẹp và mùi hương không biến mất khỏi tâm con, điều thiện có thể mang tướng đến và đi, mà trong tâm thức của con, con không bao giờ quên điều thiện có thật, hiện hữu rõ ràng khi con đối diện với khổ đau. ÂM NHẠC Âm nhạc là chuỗi tiếng động sắp xếp theo tâm tư của từng người, trong mỗi con người, trong mỗi chúng sanh là một nguồn nhạc ý tuông tràn, những giận hờn, những đau khổ, những niềm vui tuông ra từ đó. Cho nên, lắng nghe thế giới với tất cả những âm thanh đa dạng là một nguồn vui bất tận, vì đó là âm nhạc. Những câu chưởi rủa là nhạc của một tâm hồn dao động đến cực điểm, những bài hát là âm nhạc của thi nhân, và tất cả là bài hát bất tận của Sinh-Trụ-Hoại-Diệt, là âm thanh của sự sống, tức là hình tướng của Đạo. Tiếng chân bước trên đường vắng, tiếng là khô rơi rụng, tiếng dế kêu, tiếng đàn và cả những âm thanh mà con không nghe bằng nhĩ căn được, như tiếng mây trôi, tiếng hạt nước mưa chạm nhau trên không, tiếng thì thầm của hoa cỏ, tiếng của người xa con. . . là những âm thanh kỳ diệu của cuộc đời. Biết thưởng thức tất cả những âm thanh của cuộc sống là sống trong âm nhạc. Con có hiểu âm thanh là gì, thì mới thực sự cảm được âm nhạc của đời. Hãy nghe đi! Chỉ biết nghe những âm thanh mà con thích thì chưa thưởng thức được cái kỳ diệu của âm thanh, nếu con chỉ thích nghe những lời ngợi khen và rất ghét nghe những lời chê bai, thì nhĩ căn chỉ làm việc một nửa, đó là khuyết tật, đó chính là sự bất toàn của thân, đó chính là sinh bất túc. Tất cả mọi âm thanh đều là vui, tất cả mọi âm thanh đều là Pháp, những lời nói dữ là thử thách sự kiên định của tâm, là pháp rèn tâm, là pháp điều phục tâm xao động. Như thế, những lời nói dữ chính là giả tướng của lời Phật thuyết, chính là Pháp. Những lời nói dữ tự bản tánh nó không dữ mà con chấp rằng nó dữ, vì con còn vướng mắc vào âm thanh, nên con không nhận thấy thật tánh của ngôn ngữ. Quán sát âm thanh đơn thuần là âm thanh thì hiểu được Đạo. Mỗi âm thanh đều có độ ngân của nó, vì thế âm thanh là âm nhạc. Những lời khen tự nó không xấu, nhưng chấp vào thì nó trở thành độc dược. Khen hay chê đều không thể biến con thành kẻ khác. Hãy nghĩ những người chỉ biết chê bai người khác chính là Bồ tát hoá thân, chính nơi những vị ấy con hiểu được lời Phật dạy: Nguyện lãnh lấy cõi Phật chẳng phải ở nơi rỗng không! Khi con điềm nhiên trước những âm thanh ấy là con đã độ được tâm mình, độ được kẻ ấy, mà điều đó cũng chính là kẻ ấy đã độ con. Đôi khi, những âm thanh đi thẳng vào tim làm con khổ sở là vì con chỉ nghe một nửa, chính điều ấy mới là thân tướng xấu, mới là sự nghèo nàn. Đây là thần chú trị bệnh ấy: Hãy quán điều ấy trong tiếng trống, tiếng đàn, phổ trong một đoạn khúc, cho đến khi con trân trọng âm thanh ấy, thì đó là “thấy tự tánh ngôn ngữ là không”. HỘI HOẠ Con được mẹ hoạ tranh, quên được cái “Ta” của con thì vào được tranh mẹ hoạ. Tức tâm mẹ truyền cho. Hội hoạ là tướng của “Mỹ” (cái Đẹp), quan sát “Mỹ” như thế nào thì bức hoạ tả như thế ấy. Nếu con không quan sát “Mỹ” mà để “Mỹ” hoá hiện thành hoạ, thì con sẽ thấy tất cả vũ trụ này là hiện thân của cái đẹp toàn diện. Vì tất cả vũ trụ tuân theo quy luật hài hoà, cân đối tuyệt vời. Con biết chăng, từng hạt bụi cũng có chỗ đứng của nó, cũng có số phận, cũng có bắt đầu và chấm dứt. Nói khác đi, cũng không bắt đầu hiện diện và không có diệt vong. Thế thì con vẽ gì đây? Con vẽ các sự vật thật có hay không thật có? Nếu thật có, thời nhận định của mọi người về một vật đều giống nhau; nếu không thật có, thời lẽ ra không một ai có thể nhận biết. Vậy khi con hoạ thế giới là con hoạ tâm của con đấy! Mà tâm ấy thì huyển vô cùng. Thế thì lấy gì để nhìn thế giới? Lấy “Tánh Không” mà nhìn. Mà “Tánh Không” chẳng phải cần luyện tập mới có, đó là bản tánh của muôn vật. Một con ong không nhìn thấy cái đẹp của bướm, bướm không nhìn thấy cái đẹp của hoa như con tưởng, vì con mang nặng thành kiến của loài người, với bướm hoa chỉ là thức ăn. Và chính con, con đâu nhìn thấy cái đẹp của côn trùng, con mang ảo tưởng về thân người của mình, tận đáy lòng vẫn chưa chấp nhận sự thật là không có gì khác nhau giữa con và một con kiến, con mèo, cây cỏ; chỉ có sự khác biệt về nghiệp quả, mà nghiệp quả thì không thường hằng. Con không thích nghe tiếp, đó là “Ngã”, mà “Ngã” là bất bình đẳng. Con có cái nhìn buộc tội mọi người đó là bất bình đẳng. Con có ưa thích đó là bất bình đẳng. Thế thì, con làm sao thấy cái đẹp thật được mà hoạ. Bất bình đẳng là căn bệnh tàn phá vũ trụ. Ta thương vi sinh huỷ hoại những cơ thể lành mạnh đồng với một người nói Pháp, những vi sinh vật đó không nghiến răng gặm nhấm sức khoẻ con người, đó là những chúng sanh nghiệp căn quá nặng, hoá sanh vào loài ấy, phải sống trong môi trường ấy, hoàn toàn vô tội về nơi ở của mình, chúng không có ý chọn nơi, nếu chúng hiểu được cái khốn cùng của kiếp sống ấy, chúng sẽ tu. Và chính chư Phật cùng chư đại Bồ Tát dùng viên âm độ chúng, gọi Phật và Bồ Tát là y vương vì thế, trị lành bệnh muôn loài. Chí rận cũng thế, khi phát tâm tu, nghiệp dứt chúng không còn bị đoạ trong kiếp ấy, nên hoá sanh vào một thân tướng khác, không còn phải sống bằng máu. Điều ấy con phải hiểu, giải thích cho con rõ vì sao có người phát tâm tu thì gặp hiểm nạn. Phát tâm là một việc rất cao quý, đó là sức mạnh thu nhiếp thời gian, sức mạnh vượt qua sanh tử, thu bao nhiêu kiếp vào làm một, sức mạnh của người lội ngược dòng, sức của người chiến đấu với chính mình, sức mạnh của thiên nhiên. Đó là cái năng lực phi thường biến chúng sanh thành Phật! Cho nên, vẽ là phương pháp hữu vi. Tả, chỉ, lột được cái sự thật ấy, cái bản chất, cái hình dáng thật của mọi vật, thay vì uốn nắn thêm giả tướng theo ý mình. Con có thấy tình yêu khiến con người đẹp ra như người vẫn tả không? Đó là vì khi thương yêu nhau thật sự, con người chỉ nghĩ đến làm những việc tốt đẹp cho nhau, bỏ đi những vụn vặt. Tóm lại, đó là biến tướng của Từ-Bi-Hỷ-Xả qua cửa ngõ ái dục. Điều đó cho con thấy cái đẹp không nằm ở kích thước. Trong cách nhìn người khác, con thường chỉ nhìn bằng nhục nhãn, chỉ thấy người tiếp cận với mình với một mặt phẳng, tâm trạng của họ lúc ấy, rồi sinh buồn-vui, lo-sợ…đó là chất huyển. Hãy nghĩ, vô lượng kiếp về trước, hoặc vô lượng kiếp về sau, người kia xử trí với con ra sao trong hoàn cảnh này; Và con, vô lượng kiếp về trước hay vô lượng kiếp về sau thì con phản ứng như thế nào trước hoàn cảnh trên. Mọi vật biết hiện vô chừng, tâm chúng sanh trôi nổi theo nghiệp duyên, không thể nào quyết định thật tướng nơi cảnh ấy. Khi con nhìn một sự vật, chẳng phải chỉ là mắt con nhìn thấy, mà là Thức, là Sở tri, là Kiến đã huân tập từ hằng vô số kiếp nhìn sự vật ấy. Từ vô số kiếp đã tích tụ vô số kiến chấp, hoá nên tất cả những phân biệt đây tốt kia xấu, màu đen màu trắng, giàu nghèo, thọ yểu, khinh trọng. Bỏ tất cả những kiến chấp này đi ngược lại vô thuỷ về trước, con sẽ thấy chỉ có ánh sáng vô cùng, không ngằn mé. Con người đã bỏ chiếc bóng của mình! Thế nên, con người là nguồn ánh sáng rực rỡ mà không tự biết, đi tìm ánh sáng bên ngoài để nhìn mình, để chồng chất thêm những màn đêm làm mờ đi ánh quang minh của tự thân. Màu mà con vẫn gọi là đen chẳng phải là màu đen, đó là một tập hợp ánh sáng màu ngũ sắc, màu cầu vồng, nổi bậc riêng sắc đen trên các màu khác. Con đường mà con vẫn đi qua chẳng phải con đường, đó là chiếc cầu vồng mà con vì chấp vào thân tứ đại, chỉ thấy đó là đất đá màu đen. Và người xấu, con phải nhìn họ trong hiện kiếp, kiếp quá khứ là người bị hà hiếp và vị lai bị nghiệp quả, thì tướng xấu ở đây là đâu? Quan sát như thế mới nên vẽ, quan sát như thế mới nên quan sát. Thế nào Quán Tự Tại? Là ở nơi không hai lập cái thấy. Thế nào là không hai? Không có ta và vật, không đây và đó, không khoảng cách không chướng ngại, hoàn toàn tự do nên không gì là không biết, không gì là không thấy, không đâu là không đến được, và không biết tất cả những “không” trên, đó là “Tự tại”. Bố cục bức tranh lấy tâm điểm ở hai phần ba (2/3) hoặc một phần ba (1/3) khổ giấy hay vải. Màu sắc, chọn màu gần thiên nhiên hoặc màu mà con thấy bức thiết như một nhu cầu, đừng dùng lý luận bẻ nén sự vật, đảo lộn màu sắc, rồi theo đó mà vẽ, như thế là giả dối. Các bức hoạ Phật, Bồ Tát và Chư Thiên đừng vẽ bóng, chỉ dùng màu nước pha nhạt hoặc vẽ nét. Ánh sáng ở tự thân chiếu ra, trong cõi ánh sáng không cùng, màu sắc phản chiếu ánh sáng, ánh sáng phản chiếu ánh sáng, không thể có bóng. Hội họa là phản chiếu ánh sáng của các sự vật, con người. Hội hoạ là dùng màu sắc thuyết pháp, là đưa thế giới bên trên về gần. Con hãy dùng hội hoạ mà cúng dường Chư Phật! KHỔ ĐẾ Đau khổ không phải là điều xa lạ đối với mọi người và với riêng con. Đau khổ đã là bạn đồng hành từ lâu lắm, thế thì có gì phải ngỡ ngàng. Đau khổ đến từ người này hay người khác, từ hoàn cảnh này hay hoàn cảnh khác, điều đó có nghĩa gì đâu. Vì lẽ đơn giản là nó phải đến, nên mang hình tướng để gây hại cho sự bình tâm của con, đau khổ sẽ mang hình tướng ấy. Cho nên, đừng oán trách người làm con khổ, vì họ chỉ là công cụ của một sức mạnh ở ngoài chính họ, đó là sự đau khổ vẫn hiện hữu nơi thế gian. Đau khổ vò xé tâm cang tức một tướng của địa ngục rồi. Thế thì, đau khổ chính là địa ngục. Đã ở trong địa ngục là tận cùng, thì còn tự tử để đi đến cõi chết nào khác nữa. Vả lại, đau khổ là nghiệp đeo đẳng, há phải do người nào mang đến mà có nơi trốn tránh khỏi mắt nhìn. Chết là không chịu sự tác động của loài người và hoàn cảnh thế gian, nhưng chưa thoát khỏi nghiệp báo. Đau khổ sẽ mang hình tướng khác để theo đuổi con, và ở nơi không có thân để chịu quả báo, những cảnh khổ sẽ nhân lên hằng bao lần để tâm thức phải động và đau đớn như một đau đớn cảm được trên thân thức, là những cảnh của địa ngục. Cho nên, phải biết tự tử để thoát nỗi khổ đang gánh chịu tức sẽ dẫn đến địa ngục cõi khác mà thôi. Khi chưa là Phật, thì chưa thể nói được đã thoát khỏi địa ngục, khi chưa thể thoát khỏi địa ngục thì đừng mong không còn đau khổ. Vậy thì, đau khổ sẽ theo con cho đến ngày giải thoát. Cứ mặc nó đến, quan sát nó ở chân tướng chứ không ở giả tướng. Chân tướng của đau khổ khi đến với con là nghiệp, giả tướng là người hay hoàn cảnh chẳng thuận lòng con. Để hoá giải ác nghiệp chính là thiện nghiệp, hãy gây lấy thiện nghiệp để thoát khỏi bể khổ trần gian. Và điều thiện bậc nhất là ngay trong lúc này khi con đang khổ sở, hãy niệm Phật. Niệm Phật thì sẽ tỉnh táo để thấy được chân tướng của đau khổ, đau khổ tự đến thì tự nó sẽ đi. Không phải vì con xua đuổi mà đau khổ xa lánh con, bình tâm trước nghịch cảnh sẽ không cảm thấy đau khổ sâu xa như chính mình đang chịu khổ. Quán rằng, khổ này không cũ nhưng không mới, không tự tánh thì không tha tánh, không hoàn toàn của con. Vì nếu không có ngoại vật, tha nhân thì con không khổ, nhưng không lìa con, thì con cảm thấy nỗi khổ đau rõ ràng nơi con. Vậy, nó ở đâu? Không ở nơi con, không ở nơi người, do đó đau khổ là duyên hiệp thành theo nghiệp mà đến. Nói nghiệp tức là nói chính mình, đâu ai có thể trốn khỏi chính mình, cho nên đừng tự làm khổ mình. Nghiệp đến cứ đến, nghiệp đi cứ đi, được như thế thì đó là “Tâm không trụ”. Tâm không trụ thì an ổn, an ổn nơi oán hội, là thấy Niết Bàn tại thế. Để có đủ lực đạt đến Niết Bàn, con phải niệm trong đau khổ và quán trong cảnh nghịch. Tha lực và tự lực là sức mạnh mãnh liệt đến từ bên ngoài, phát ra từ bên trong thì hiệp nhất sẽ phá tan xích xiềng của địa ngục khổ đau. Đó chính là giải thoát. Đau khổ là nhân đưa đến giải thoát, nên đừng sợ nó, đừng ghét nó, đừng là kẻ vong ân, hãy cảm ơn đau khổ; như thế những người mang đau khổ đến cho con, chính thực là những vị Bồ Tát phát tâm hành nghịch độ, để cho con được quả thiện tròn đầy. Đó là những Bồ Tát trải thân làm cầu đường cho chúng sanh đi đến giải thoát. Và luôn nhớ, chư Bồ Tát không phải chỉ mang tướng thiện để độ sanh, hãy cầu nguyện cho các vị ấy sớm đắc quả vị Phật mới trả được ân. Phải tri ân những người mang đau khổ đến cho con, hành như thế mới là người trí huệ, hành như thế mới là con Phật. Đau khổ hay nghiệp chướng là nhân Bồ Đề, nên con không được khinh, không được hổ thẹn vì nó. Và chính vì Niết bàn có nhân ban đầu là Phiền não, nên con không được sinh tâm mong cầu tha thiết, chẳng trụ đau khổ, chẳng trụ Niết Bàn là chân thật Niết Bàn, là giải thoát. Con hãy y theo để tìm thấy hạnh phúc ngay trong đời, ngay từ giây phút này. Hạnh phúc tìm thấy nơi không có hạnh phúc, nơi không cho phép hạnh phúc tồn tại. Nơi cõi trần này là hạnh phúc vĩnh cửu, vì đã kinh qua đau khổ. Con hãy tự cứu mình! TẠI SAO TU? Tại sao phải đặt vấn đề tu khi điều đó chưa là cấp thiết đối với nhiều người? Có người vào Đạo một cách tự nhiên, dễ dàng, nhờ căn lành đã trồng từ nhiều kiếp trước; có người trong đau khổ cùng cực, chợt hiểu chỉ có tu mới thoát khổ, còn đại đa số không thấy cuộc đời đáng buồn đến độ phải bỏ nó, hay cuộc đời của mình suy đến cùng cũng chẳng có gì đáng phàn nàn, thì tu để làm gì. Thật ra, ý niệm tu làm nhiều người sợ hãi, tu là từ bỏ những gì mình đang yêu thích thì quả là khó khăn, và không hứa hẹn điều gì tươi sáng cả. Thiện ác là hai mặt của cuộc đời, nhưng thiện ác cũng là hai mặt của mỗi con người. Và không thể dễ dàng để phân định ranh giới giữa hai khuông mặt này, không thể dễ dàng quyết định trắng đen. Mỗi người sanh ra đời đều mang sẵn liều lượng thiện ác trong mình, thiện là Phật mà ác là chúng sanh. Nhưng thế nào là thiện, và vì sao gọi là ác? Bất cứ một hành động hay tư duy nào không lấy “Tôi” làm nguyên nhân và đích đến thì đó là thiện, ngược lại là ác. Nhưng nếu không có “Tôi” thì ai hiện hữu, ai làm việc thiện ấy? Đó là Phật của con hay Phật trong con. Có người sẽ gọi đó là “Thượng đế” hàm nghĩa chân lý, điều toàn thiện, nhưng Thượng đế là ban bố, dù không nhận lại nhưng vẫn mang tướng thi ân. Còn Phật thì ngay cả ý thức thi ân cũng không có, Phật chính là sự tự tại của Thiện. Như thế thì ngoài bản ngã của con ra mà con nghĩ đích thực là mình, còn có một bản ngã khác là một đời sống tự do không lìa con, nhưng không lệ thuộc, sẵn sàng hiện diện khi con không tìm cách nhấn mạnh sự có mặt của mình như một thực thể chân lý. Bản ngã ấy là chân tánh của con, chân tánh ấy là Phật tánh. Không tìm thấy bản ngã thật ấy con phải đau khổ, phải bất an, con không bao giờ bằng lòng với cái mình đang có, hay bằng lòng với thế giới quanh con. Vì không thể nào sống yên ổn hoà bình với cái ác được, dù đó là cái ác của chính mình. Tu là tự hoàn thiện mình, tu không có nghĩa là mất cả ánh nắng của cuộc đời, chôn vùi một cái gì thân thiết của con, mà con hãy sống hoàn toàn, tràn đầy như đập vỡ vỏ cứng của một quả ngon để thưởng thức. Không sợ chữ “Tu” thì con sẽ hiểu tại sao phải tu. Ai cũng có một lần cảm thấy sự bất lực vô cùng của mình khi đối diện với cuộc đời, dù là ai chăng nữa, họ có thể thành công trong những mặt nào đó, và lấy hào quang của thành công này che lấp những buồn tủi của thất bại khác, nhưng sự đền bù này cũng chính là sự xác định mặt khiếm khuyết kia. Cái nhân của đau khổ vẫn còn đó dù được che dấu dưới lớp tro than của quên lãng, hay nhung gấm của hạnh phúc hiện tiền. Người đời vẫn thường chấp nhận và bằng lòng với cái tương đối ấy, nên gút lại là hạnh phúc đối với họ giản dị quá, là cho qua đi những đau khổ và thụ hưởng những cái mà họ đang có. Đó là làm quen với ác và đi đến kết luận có thể dung hoà Thiện – ác. Vì ác là gì, nếu không là đau khổ? Nhưng còn một lối thoát, còn một con đường dẫn con đến nơi ý niệm về ác cũng không có, huống nữa là sự hình thành của tội ác. Bóng dáng đau khổ vắng bặt nơi đây, chỉ thuần một màu an lạc. Tại sao con không dấn thân vào con đường hạnh phúc chu toàn ấy! Con đường ấy là đường tu. Cho nên, tu là đến với những gì vui hơn cái mà con đang hưởng, những kỷ luật gặp trên đường tu là điều tất yếu để giải quyết chất ác, chính là sự hoại diệt của điều ác để hiển bày điều thiện. Sự hoại diệt này là nhân, là quả mà điều ác chất chứa trong nó nên phải lãnh chịu. Khi ác đã không còn thì không có sống chết, không có đau khổ, không có ranh giới, không còn phải khép mình vào căn phòng Thiện để đối kháng với ác. Thiện là con, con là thiện, thì điều gì con làm lại không là điều thiện, nơi đâu trong con lại không là không gian của thiện, thì còn phải khép mình vào một lề lối nhất định nào để hành thiện! Đó là giải thoát khỏi cái ác, khỏi đau khổ, khỏi cả ý niệm về đau khổ, khỏi cả ý niệm về sự giải thoát ấy. Đó chính là giải thoát! Vì thế, tu không phải là từ bỏ hạnh phúc cuộc đời để đến với Đạo, tu là đi từ hạnh phúc mong manh đến hạnh phúc vĩnh cửu. Tu là vẫn hít thở không khí ấy, vẫn nhìn thấy vầng Dương cũ rực nắng mỗi ban mai, vẫn bầu trời đầy sao của ngày xưa tràn lên tâm tư mỗi khi đêm đến, vẫn những người con đã gặp bao lần, vẫn hoàn cảnh mà cuộc đời đã đặt con trong đó. Nhưng con ơi! Nhận thức của con chẳng còn như xưa nữa, mặt trời thế gian chỉ là hình ảnh thô thiển của mặt trời đã sáng trong con, những người con gặp gỡ là những chiếc bóng của chính họ, mờ nhạt và yếu ớt trước cuộc đời, trước sanh tử của mình. Và cuộc đời cùng những hoàn cảnh thuận-nghịch, buồn-vui xưa, nay chẳng còn chuyên chở được tình cảm của con, con đã thoát con nhỏ bé ngày xưa. Ngày xưa? Phải. Vì những căn tánh, nhãn quan cũ sau ý thức muốn tu và sau khi con dấn bước trở nên xa xôi và lạ lẫm, cứ lùi mãi vào vô tận mang tính vô thực của một huyền thoại nhưng thiếu chất hư. Con bây giờ mới thật sự sống. Hãy san bằng chướng ngại ngăn cách con với thường hằng, hãy làm người lữ khách mà mỗi bước chân đến cõi không thời gian nở đoá sen vô ưu, hãy là con mãnh sư uy dũng giữa đám người đành chịu khuất phục trước bao nỗi khổ sầu. Tu là một quyết định sáng suốt nhất trong đời người, không chỉ là sự sáng suốt của tuổi nào, mười, hai mươi, bảy mươi, tám mươi hay hơn… mà đấy là sự sáng suốt của vô lượng tuổi, vượt ngoài giới hạn của tuổi tác, là tiếng nói của Phật trong con, vang gọi con vào cuộc đại hành hương. Hãy đi, nhớ rằng hãy làm gương thắp đuốc soi đường, mỗi nỗ lực sẽ có vạn nghìn mắt Phật thương nhìn, mỗi vấp ngã sẽ có vạn nghìn cánh tay Bồ Tát nâng lên. Con đi bằng sức mình nhưng không bao giờ lẻ loi, không bao giờ cô độc hoàn toàn. Hãy tấn tu! CÚNG DƯỜNG Cúng dường - biết bao cung kính, biết bao thương mến, biết bao nỗi niềm trong mỗi mỗi sự cúng dường. Có khi do một thôi thúc của thiện tánh, con mang lễ vật cúng dường Phật Tổ; cũng có lúc vì mong cầu một điều gì đó con cúng dường, hoặc vì thói quen, hoặc vì ai cũng làm thế, hoặc vì muốn đền đáp một cái ân mà con cúng dường Phật. Trong tất cả các tâm ấy, ý nghĩa thật sự của cúng dường nằm ở đâu? Khi Phật bảo: Hãy mang hương hoa thanh tịnh đến lễ bái cúng dường chư Phật. Thì đó là tâm con thanh tịnh hay lễ vật thanh tịnh? Nếu tâm thật tịnh thì lễ vật thật tịnh, nếu tâm không kiên nhứt thì lễ vật cũng không thể là tịnh vật. Khi Như Lai nói “cúng dường” là bảo con hãy xả, hãy quên đi những “của tôi”, “thuộc về tôi”, “cho tôi” để tự cởi dần trói buộc. Việc ôm về cho mình là “tâm thủ”, mà “thủ” là tự trói mình. Khi con nghĩ chọn những thứ thật tịnh để cúng dường là tâm con đang định mà không tự biết. Không có một niệm về “ngã”, không có tạp niệm nào ngoài sự thật của lúc này: con đang chọn hoa tươi nhất, hương thơm nhất, quả ngon nhất để dâng Phật. Con thấy hoa, thấy hương, thấy quả mà không thấy cái thấy ấy, không biết cái tâm đã khiến con hành động, đó chính là đang sống với vô biên trong khoảnh khắc. Sống với vô biên là sống với Phật, vì thế mà Như Lai mới dạy: Hãy cúng dường! Con lễ bái và cúng dường chư Phật có lợi lớn cho con. Vì sao? Vì điều đó làm tăng tưởng tín căn, đẩy lùi ngã mạn. Khi con lễ, đó là dấu hiệu của khuất phục, không phải Phật hay Bồ Tát đã khuất phục con, mà là kiêu căn, ngã mạn, kiến chấp đã bị sự khiêm cung của con khuất phục. Cho nên, cúng dường Phật chính là Đạo. Cúng dường thân mạng là bỏ tướng nhân, thọ, giả; cúng dường tài sản là diệt bỏ tâm tham. Còn cách cúng dường nào cho chư Phật quý hơn tất cả các thứ trên? Cúng dường thế nào để được giải thoát? Đó là cúng dường thức nào có thể khiến con và chúng sanh thoát khổ, thoát sanh - bệnh – lão - tử, thoát khỏi luân hồi, thức cúng dường có thể đáp đền được hồng ân của Phật, thức cúng dường cho Phật đúng sở nguyện của Ngài là mang lợi vô tận đến cho người dâng cúng, đó chính là “Pháp cúng dường”. Pháp cúng dường là tu thâm pháp, là hành Bồ Tát đạo, theo chân Phật làm lợi ích cho mọi người, trong chỗ hành không còn tâm vọng, hồi hướng tất cả công đức có được về chư Phật, đó chính là thật nghĩa của Pháp cúng dường. Dâng chư Phật không phải những hiện vật kết thành bỡi đất - nước – gió - lửa, nên có hoại diệt, nên không toàn thiện; Dâng Pháp là thứ không thể hoại diệt, trường cữu, bất biến, tồn tại mãi với thời gian, là ngọc của chúng sanh, kết tinh bỡi một cuộc đời tịnh hạnh. Khi con cúng dường chư Phật tại thế, Ngài còn không thật có thọ các vật ấy, chỉ vì thương chúng sanh mà có giả thân, nên nuôi dưỡng giả thân cũng vì lợi ích chúng sanh, huống nữa là khi đã nhập Niết bàn. Nên khi cúng dường Phật là dâng tấm lòng thành, chứ Phật đâu dụng những thức cúng dường ấy làm vật sở hữu của Phật; và có tâm nào quý hơn tâm của một người tu, tại sao không cúng dường tâm ấy cho Phật! Tâm tu là Pháp tướng. Con thấy có gì quý hơn một người có thể nói với mọi người rằng: “Thưa anh chị! Tôi đã nhận chân được đau khổ, tôi đã chiến đấu với kẻ thù trong một trận một mất - một còn, và đã thắng. Chiến thắng đau khổ nên tôi không còn sợ sệt, vững chãi bước đi trên con đường vô ngã, vĩnh viễn bỏ lại sau lưng bóng đêm của chết chóc và tái sinh. Đau khổ không còn mang hình dáng của hận thù và giận dữ từng giây bóp nghẹn trái tim tôi, điều khiển tôi như con rối trong chiến tranh của “Ngã”, mà người chịu hậu quả cuối cùng vẫn là tôi; Đau khổ không còn mang hình dáng của tài - sắc dẫn tôi vào đấu trường của tham lam và mê đắm; Đau khổ không còn mang hình dáng của “vô tư lự” để độc ác có thể len vào khống chế tôi; đau khổ đã gục ngã dưới chân tôi, không còn bị xiềng xích của hận thù trói buột, nên tôi thương cả kẻ thù tôi, không còn một xích xiềng nào của tánh chúng sanh trói buột tôi được nữa. Nên, tôi là một người tự do. Hãy nghe tôi, đau khổ sẽ không còn là hình ảnh của nước mắt, vì mặt trái của đau khổ chính là hạnh phúc. Đi xuyên qua đau khổ như đi xuyên qua một trận bão, sẽ đến được bến bình an một cách không ngờ! ”. Làm được như thế và giúp mọi người làm được như thế, kẻ ấy đã không trụ tâm vào việc đã làm mà dâng tất cả cho chư Phật, gọi là hồi hướng hay cúng dường cho Phật. Đó chính là cách cúng dường cao quý nhất, tuyệt đối, gọi là Pháp cúng dường. Con cần phải hiểu, Pháp cúng dường là lòng tri ân sâu xa, sự kính ngưỡng vô cùng đối với chư Phật, thể hiện bằng hành động dâng cả cuộc đời cho Ngài, lòng tin không chỗ trụ, nên không điều kiện, không giới hạn vào giáo pháp của Ngài, và dùng tất cả các kiếp sống hiện tại và mai sau để hành thâm giáo pháp ấy. Như thế mới là chân thật cúng dường! Phát tâm cúng dường Pháp chính là phát Bồ Đề Tâm. Phát Bồ Đề Tâm là đại nguyện không để Tam Bảo có cơ duyên hoại diệt, là tu giải thoát mà không lìa chúng sanh, là sanh tâm Phật Pháp, là con Phật. Khi con lập nguyện là đã trở thành con Phật, xem quãng đời trước kia như một chiếc áo cũ đã ném trả lại cho cuộc đời. Con nhìn lại sẽ thấy xa lạ với con của ngày trước, cái mà con vẫn tưởng là bản ngã thật của mình, chính mình đã rơi xuống, những cá tính làm nên con người con đã trở nên thừa thãi và có phần nào kệch cỡm cũng rơi xuống, để lộ một cái gì không tên, sáng chói tinh khiết vô cùng của nguyên sơ, tạm gọi “Chân Ngã”, chính là “Thánh Thai”. Nguyện lực đầy đủ thì chân ngã hiển lộ, nguyện lực chưa đầy đủ thì chân ngã chỉ lóe sáng rồi bị che lấp, tinh tấn siêng năng hành Đạo là nuôi dưỡng thánh thai. Đến ngày công hạnh đầy đủ, Pháp thân tức thánh thai xưa kia hiện đủ trong thân, thân nay trở thành hoá thân. Vì công hạnh viên mãn, quả báo viên mãn, nên báo thân là thân Phật, ba thân hiện đủ tướng là giải thoát, là quả vị Vô thượng Chánh đẳng Chánh Giác, là Phật - Thế Tôn – Thiên Nhân Sư! Cho nên, phát Bồ đề tâm là nguyện rất lớn. Nơi đâu có người phát Bồ đề tâm là nơi ấy có chấn động, Thiên Long vì chúng sanh và vì vị Phật tương lai mà ủng hộ người đó. Đừng sợ không đủ sức làm tròn lời nguyện, chỉ sợ tâm buông lung mà không quyết chí đi đến nơi. Chính khi phát nguyện là đã nói lên một thần chú bí mật, một đại thần chú có công năng dẹp trừ tất cả ma oán, chuyển bánh xe nghiệp quả trở thành bánh xe của Pháp, một vô thượng chú, biến người nói trở thành người không đối thủ. Như thế cách cúng dường cao quý nhất là Pháp cúng dường. Đã phát nguyện Pháp cúng dường thì con hãy vui mừng, an nhiên hành Đạo, chớ khởi tâm thối lui! MỪNG NGÀY PHẬT ĐẢN Hàng năm, vào tháng Tư là con lại hân hoan, náo nức chờ ngày kỷ niệm Phật giáng thế. Con mong chóng đến ngày Phật Đản để đến chùa lễ Phật, cùng gia đình tưởng niệm Thế Tôn, vị Thầy của tất cả chúng sanh biết nếm mùi Đạo pháp, vị Cha lành của chúng sanh còn lăn chìm trong sanh tử. Con phải quán về ngày Phật Đản như thế nào để hiểu về đại nhân duyên nhập thế của Đức Phật Thích Ca? Trước khi Đức Thích Ca thị hiện có giả thân Thái tử Tất Đạt Đa, chân lý vẫn có, vẫn sáng tỏ, nhưng thiếu duyên lành, nên số chúng sanh tầm Phật đạo không bao nhiêu người đến được bến Giác Ngộ. Vì thế, Như Lai tạm mượn giả thân cùng chúng sanh đồng sự để chỉ bày con đường giải thoát từ chính nơi con đang ở, đang đứng, chứ không phải một giải pháp viễn vong, một con đường bắt đầu từ nơi khác. Đó là duyên lành lớn nhất của chúng sanh, được thấy vũng bùn mình đang ở và hoa sen mà mình có thể thành, nương theo duyên lành ấy là quy y Tam Bảo. Quy y Tam Bảo là “Tâm” quy chứ không phải “Tướng”, tâm đã quy y Tam Bảo thì hành tướng quy y sẽ đến. Bằng giả danh bảo rằng: Tâm đã quy y thì không cần tướng quy y. Những kẻ ấy chấp tướng là thật có, nên chỉ thiêng hướng về tâm cũng là một tướng khác của “Ngã”; còn những người chỉ có hành tướng quy y mà tâm thì không biết Phật, con hãy khoan bàn luận Phật Pháp với họ. Con tưởng nhớ Đức Thích Ca Như Lai như tưởng nhớ một người đã mất thật là một sai lầm không sao nói hết. Thân Phật vẫn có đây, trong mỗi lời Ngài dạy, trong mỗi chiếc y mà con thấy, trong tâm của mỗi hành giả chân thành. Thân Phật không đâu khác ngoài tâm của con, tâm xa Phật thì chỉ có y là có Phật, người đắp y thì ở rất xa; tâm xa Phật thì chỉ có lời nói, chỉ có văn tự, chỉ có Phật Pháp là có Phật, còn người nói thì ở rất xa. Tâm xa Phật thì dù ở gần vẫn không thấy Phật, với những kẻ ấy Như Lai là người đã khuất, nên không còn Chánh Pháp, không có ai phân định chánh – tà, không có nhân quả báo ứng. Phật không có sanh và diệt, Phật đã thị hiện cho mắt trần nhìn thấy để chúng sanh biết rằng những chân lý mà nhục nhãn không thể thấy mới là bất diệt. Hiện tại, Thích Ca Như Lai vẫn đang thuyết pháp, sao mắt con không nhìn thấy, sao tâm con không cảm được! Cho nên, ngày Phật Đản là ngày kỷ niệm dành cho chúng sanh, chứ không phải dâng Phật. Con hãy hiểu như thế này mới là thật biết mừng ngày Phật Đản. Con mừng ngày Phật Đản là ngày Phật có trong tâm con, ngày con phát tâm theo Đức Phật vượt bể khổ trần gian, đó mới chính thật là ngày Phật Đản. Ngày Phật Đản là ngày chư Thiên, Hộ Pháp, chư Phật, Bồ Tát mười phương thế giới lớn tiếng ngợi khen sự không thể nghĩ bàn của Thích Ca Văn Phật, Ngài đã thị hiện vào đường sanh tử để độ chúng sanh thế giới Ta Bà đi đến quả vị Phật. Chư Địa thần cũng phát tâm hộ trợ cho chúng sanh nào quyết tu Phật đạo. Cho nên đó cũng là ngày trời đất giao hoà, chúng sanh chịu hoạ báo trong địa ngục cũng được hào quang thánh đức của Như Lai soi tới, nên phát tâm Bồ Đề đông không kể xiết, gọi là ngày “địa ngục khai môn” cũng vì thế. Địa ngục đã hết đối với các chúng sanh ấy. Trong bầu không khí của ngày hội đó, con hãy lập ngày hội của con, con hãy cho mình một ngày hoàn toàn là của mình, gạt bỏ tất cả quá khứ, ngày hôm qua, gạt bỏ ngày mai và những toan tính về tương lai khỏi tâm trí. Chỉ có hiện tại, chỉ có ngày hôm nay, chỉ có Như Lai và con trong suốt ngày Phật Đản, thì mới thật là nếm được Pháp vị của ngày Phật Đản. Thời gian chỉ là chướng ngại khi tâm con còn chướng ngại, tâm không chướng ngại thì quá khứ không có nghĩa đã mất, vị lai không có nghĩa chưa đến. Nên, ngày lễ kỷ niệm Đức Thích Ca hôm nay không mảy may kém hơn 2600 năm về trước về mặt thực tế, cũng như về nghĩa vui mừng. Và tương lai cũng không vì thời gian xa hơn mà Thánh lễ càng xa Đức Phật. Như Mẹ tán thán công đức vô lượng vô biên của Như Lai, từ bi vô lượng vô biên của Như Lai trong ngày Thánh đản, chư Phật mười phương cũng đồng ngợi khen như thế. Nhưng con có đón ngày ấy với tâm trạng nào thì ngày ấy vẫn là ngày vui, là ngày vĩnh viễn đã tự tách rời khỏi quá khứ, đi mãi trong thời gian, hiện hữu mãi trong thời gian. Khi con đến chùa cùng chư phật tử đảnh lễ Như Lai, thì phải thấy con đã lập Đạo tràng nơi tâm, đã thờ Phật nơi tâm, đã xây ngôi chùa bất hoại bằng Tam quy ngũ giới nơi tâm để phụng thờ Đức Phật. Và con đến chùa là để thỉnh Phật lên đài tôn nghiêm tại thế, chứ không phải là đến chùa rồi mới tìm Phật. Nếu con và tất cả phật tử đồng thỉnh Phật trụ thế, sự đồng tâm ấy làm nên một vị Phật duy nhất không có tướng phân biệt, sự đồng tâm ấy là thế giới đại đồng, là Phật tánh, và sự đồng tâm ấy chính là Phật vậy. Nam Mô Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật! Đệ tử ngày hôm nay ngồi dưới Phật đài, chiêm ngưỡng tôn dung vô tướng hiện thân. Lễ này con nguyện không trụ quá khứ, hiện tại, vị lai mừng đại nhân duyên Phật chuyển Pháp luân. Lễ này con nguyện đồng tâm với vô lượng chúng sanh trong quá khứ, hiện tại, vị lai tán thán công đức không thể nghĩ bàn của Như Lai, vì chúng con đã chuyển Pháp luân. Lễ này con nguyện không trụ quá khứ, hiện tại, vị lai báo đáp thâm ân Ngài đã chỉ cho chúng sanh con đường diệt khổ. Lễ Phật phải lễ bằng tướng và bằng tâm như thế mới thật là kính lễ. Con hãy vui mừng làm theo để trọn hưởng được khí lành ngày Phật Đản. KINH ĐIỂN Con đọc kinh điển trong tâm tướng nào, có bao giờ con tự hỏi mình như thế? Con không thể đọc kinh điển như đọc sách, thích thú với những đoạn hay, tò mò với những ý tưởng lạ, đọc như thế là tâm bất kính. Con vì thế vô tình đóng cửa chân tâm, lòng không để tác động của thần lực phát ra từ kinh điển chuyển mình, nên cũng khó có thể hiểu được nghĩa kinh. Kinh điển là sự kết tập lời nói của Đức Phật Tổ, lời nói ấy là văn sống động, giản dị, dễ hiểu, đại chúng, ở ngay trong đời sống tầm thường bình dị của mỗi ngày; chỉ bày những chân lý thật nhưng có thể nắm bắt được bằng thân, thật dưới sự có mặt vô hình đối với mức thường của gió (?). Đọc kinh là học, là nghe kinh. Khi mở quyển kinh, lòng của con cũng phải sẵn sàng đón nhận những lời lẽ ấy với tất cả sự kính tín của người muôn dặm thỉnh kinh. Hãy cẩn thận, muôn dặm đường xưa nay nằm trong tâm con đấy. Lời nói của Phật Tổ một bản ngã vô ngã chính là Pháp, đó không còn là lời nói, không còn là ngôn ngữ văn tự, đó là chân lý tuôn tràn, ẩn chứa trong ấy tất cả sức mạnh của vũ trụ, của tánh “Không”. Vì chúng sanh mà có tướng âm thanh, nên có chúng sanh mới có Pháp là thế. Muốn biết chắc rằng con hiểu đúng tinh thần quyển kinh mà con đọc, trước hết phải tận tường nhân duyên thuyết kinh ấy, sau phải nắm được mật chỉ trình bày xuyên suốt tất cả lời lẽ của kinh. Dù Phật có thuyết bao lời lẽ cũng để diễn bày mật chỉ ấy; mật chỉ ấy, mật mà không mật, thường chính là Tự của kinh. Những người nhân nghe một câu kinh mà thấy Phật tánh, chính là hành giả đã hun đúc, nghiền ngẫm vấn đề của mình từ rất lâu, tâm đã đạt chỗ “tri hành hiệp nhất”; lời nói và việc làm là một, nên chỉ cần một cái gõ mạnh trợ duyên là bừng sáng, đó là người đã sẵn chứa tạng Kinh trong tâm, người khác cũng có mà cũng không, vì chưa tự thấy biết tạng Kinh của mình. Lời nói của người có thể khiến người khác bỏ những việc khó bỏ, làm những điều khó làm, ắt hẳn không chỉ là lời nói. Giở một trang Kinh là nghe tiếng nhạc trời, đọc một dòng chữ là thấy hào quang toả sáng, đón nhận nghĩa lý như là uống giọt cam lồ, con sẽ là người sống cùng thời, được nghe chính tiếng Phật thuyết giảng. Không đọc kinh điển trong tinh thần thu thập kiến thức, thì kinh điển bao giờ cũng mang lại lợi ích nhất định cho con, vì “Kiến” đã là chướng ngại rồi. Đọc kinh trong trạng thái tinh khôi, thì tâm hồn con là tờ giấy trắng được in đậm chân lý giải thoát của chư Phật. Con hãy đọc kinh điển trong tinh thần ấy! KINH PHÁP HOA Nghe kinh Pháp Hoa và trì tụng con được an ổn thân tâm, nhưng để hiểu và hành thì con chưa đạt được điều ấy. Vần đề ở chỗ là phải tìm hiểu và quán, tu trong kinh là “Tri kiến Phật”. Tri kiến Phật đó là sự thấy biết của Phật Đà, đó là trí huệ viên mãn tột cùng. Nói tất cả mọi người, mọi vật đều có Phật tánh là nói tất cả chúng sanh đều sẽ được Tri kiến Phật, hay chúng sanh đều là Phật, điều này con thật khó mà tin được. Vì sao? Vì con chưa thấy, chưa được, chưa ngộ Phật tánh, Phật tri kiến nên không nhìn thực thể như nó vẫn thường hằng. Như khi con buồn, tìm an ủi, quân bình cả tâm hồn trong sự chiêm ngưỡng tượng Phật. Đau khổ ngập trong lòng, nên trông tượng Đức Di Lặc con không cảm được từ tâm của Ngài, vì tượng Đức Di Lặc Bồ Tát là biểu tượng của Pháp hỷ, sự an ổn vô song về mặt tâm linh, điều thật xa cách với tâm trạng hiện tại của con. Con trông tượng Phật Tổ để thấy Ngài không gần gũi trần gian, con nhìn hình tượng các vị Bồ Tát với nét thương cảm chúng sanh qua gương mặt đượm buồn và nhận rằng đích thật đây là Phật của con, con cảm thấy một mối giao cảm đặc biệt với vị ấy và mở lòng cầu nguyện. Thật ra, chư Phật vẫn đồng tâm thương xót chúng sanh, nhưng chỉ vì kiến chấp của con mà Phật hoá chẳng đồng. Ở nơi “Không” lập các Pháp là chư Phật tùy tâm địa của chúng sanh mà thuyết giảng, với người thích Giáo pháp Thanh văn, Phật vì đó nói Pháp ấy là Thanh văn; với người thích Đại thừa, Phật vì đó nói Pháp ấy là Đại thừa; nhưng đâu phải vì danh tự “Đại thừa”, “Tiểu thừa” mà các giáo pháp không phải xuất sanh từ Phật tri kiến, các Pháp sai biệt ở văn tự bản tánh vốn là sự Giác ngộ của Phật, không hề khác nhau. Vì thế, muôn Pháp đều dẫn đến Giác ngộ. Dù hàng Thanh văn không biết, không hay Phật đã gieo Phật trí nơi mình. Một người cư xử không phải với con, ức hiếp con, con thở than, buồn bã hay giận dữ. Tại sao? Tại sao con cần phải phản ứng lại sự việc trên như thế? Có phải vì trong con những ý niệm về bất công, ức hiếp vẫn còn đầy dẫy, nên con cảm thấy sự bất công, tức là chính con cũng không khác người kia. Như thế con có thực sự tốt hơn người kia, con là thiện và họ là ác không? Tuy con không hành ác nghiệp nhưng tâm không lìa ác, nên tất cả giai đoạn nhân quả của điều ác vẫn diễn biến đầy đủ trong con, đó là sự thấy biết của chúng sanh. Nếu trong cảnh “oán tắn hội” đó, đau khổ của con chuyển thành thuận cảnh, con sung sướng biết bao! Thế nghĩa là trong đau khổ có mầm hoan lạc, hạnh phúc đến sau khi vượt qua đau khổ là hạnh phúc có sự dự phần của trí huệ. Trí huệ là giai đoạn mở đầu tri kiến Phật. Trong một hoàn cảnh tuyệt vọng, con vẫn còn niềm tin vào điều vượt ngoài phạm trù của lý trí sẽ xoá tướng tuyệt vọng mà con đang nhận biết rõ ràng, niềm tin ấy khiến con niệm Phật cầu thoát khổ, cầu điều kỳ diệu, đó chính là niềm tin vào bản tánh thiện vẫn chi phối vũ trụ. Sợ hãi là tin vào sự chiến thắng của điều ác, nếu có một sự tin tưởng tương đương vào điều thiện thì sợ hãi tiêu tan. Phải chăng giây phút cầu nguyện ấy, con vượt qua tướng thời gian, nên vượt qua tướng của sanh tử, đã nói với hiểm nguy, với tứ đại, với giả duyên, với tam nghiệp rằng: “Bất chập sự cản trở của các ngươi, bất chấp sự trói buộc mà các ngươi đang giam giữ ta, ta cũng tiến lên, tiến mãi về phía trước, về cảnh giới có tri kiến tuyệt đối, sẽ giải thoát cho ta khỏi hoàn cảnh hiện tại”. Đó là vươn tới Phật, và tri kiến Phật như một phép mầu, phải đưa con vào nước “Trí” (?). Sự mầu nhiệm mà con mong cầu phải đến, vì bản thể Phật vốn không hạn lượng, không cùng tận, nên không gặp cảnh trái nghịch, luôn gặp thuận cảnh. Đề Bà Đạt Đa là Phật, vì đã chỉ cho chúng sanh thấy định lực của Phật Tổ; Đề Bà Đạt Đa là Phật, vì đã phỉ báng Phật, ghét Phật vì Phật là Phật. Hình ảnh của Phật là hình ảnh mà Ông chối bỏ, tức là ý niệm về Phật có trong Ông. Người ta không thể phản đối một hình tượng không hề hiện hữu. Nghiệp chướng, chúng sanh kiến ngăn trở Đề Bà Đạt Đa phản Phật, hoà nhập vào Phật, thấy Phật nơi mình, nhưng Phật trong Ông vẫn hiện diện. Tại sao con lại nghĩ rằng Ông ta ghét Phật, mà không biết rằng Ông chưa bao giờ không kính Phật! Ghét hay thương chỉ là hai cách tiếp nhận một tiền đề sẵn có, cách này hay cách kia là phương tiện diễn đạt, nên tướng ghét cũng như tướng thương kính mà thôi! Đề Bà Đạt Đa là Phật thị hiện làm Bồ Tát độ oán tắn. Phải biết rằng mọi sự con vẫn thường cho là thuận - nghịch từ chỗ đứng của con, đều không thật. Tâm con đem vào những phán đoán, mà tự thể các hiện tượng hay Pháp ấy không có. Ví dụ: Con vẫn cảm thấy mặt đất rất vững chắc, từ bao kiếp vẫn cho rằng vòng tay của đất đáng tin cậy vô cùng; nhưng hãy thử tưởng tượng, nếu mặt đất trở thành trong suốt, thì bầu trời mênh mông đáng sợ trên đầu lại vẫn có dưới chân, con không có nơi trú ẩn an toàn, con sẽ thấy chân lý trời trên đầu và đất dưới chân trở thành nghịch lý. Nước chảy xuôi chỉ là giả tướng, hãy tìm tướng xuôi ngược nơi tâm, và luôn nhớ không thể tin vào con để quyết định chân tướng của sự vật. Vì sao con phải lễ Phật? Vì Phật ở ngoài. Không đảnh lễ vị Phật ở trong ư? Như thế vẫn chưa thấy Phật. Đảnh lễ Phật mà không hướng vào đâu, không hướng về phía trước, không hướng về phía sau, không trên, không dưới, không phía trong, chẳng phải không phía trong, lìa tướng quỳ, tướng đứng vào nơi vô biên, đó là “Ngộ Nhập Phật Tri Kiến”. Hoa sen mọc từ bùn nhơ lại có mùi thơm ngào ngạt, đó là nhờ mọc từ bùn mà có hương, hay bản chất của sen là thơm? Từ nơi muội manh (?) lại nảy điều cao quý, chính vì tánh của bùn vốn không nhơ. Tướng bùn lầy là phương tiện cho hạt giống nẩy mầm, vì muốn chỉ tánh của bùn và sen là một, nên hoa phải chấp tướng hiện hữu. Nếu không muốn chỉ tánh ấy thì vắng bặt tướng tịnh và bất tịnh, vắng bặt nói năng, tên gọi, không có tướng thiện-ác, chúng sanh và Phật. Tánh không tên ấy khi động thì hoá ra vũ trụ, không động thì vô hình, rắn hơn sắt đá, tạm gọi là “Tánh Không”. Ngộ tánh không của vạn vật là ngộ Phật tri kiến. Không ghét người xấu, không ngại đau khổ, với sức kham nhẫn vô biên, thề tận độ chúng sanh thành Chánh giác, tất cả chúng sanh chưa thành Phật thì con nguyện chưa thành Phật. Đó là Pháp môn tự tu dẫn đến Tri kiến Phật. Có phát tâm như thế mới có thể hiểu kinh Pháp Hoa, mới thật trì kinh Pháp Hoa, đó mới chính là thật hành Diệu Pháp. HẠNH PHÚC Minh Niệm Hạnh phúc luôn có mặt Ta đã có hạnh phúc chưa hay vẫn đang đi tìm với hai bàn tay trắng? Có phải ta nghĩ hạnh phúc là một cái gì đó rất lớn lao và đang ở rất xa trong tương lai, hay có thể nằm ở cuối con đường mà ta đang từng bước đi tới. Coi chừng ta lầm rồi đấy. Hạnh phúc rất giản dị và luôn có mặt trong giây phúc hiện tại, ngay bây giờ và ở đây. Vấn đề là ta có biết nó đang có mặt như thế nào và biết cách tiếp nhận hay không thôi. Ta đã từng quan niệm hạnh phúc là gì? Có phải là được sống trong những điều kiện tiện nghi như ăn uống đầy đủ, tiêu xài thoải mái, nhà cửa khang trang, công việc thuận lợi, thương yêu chiều chuộng, con cái ngoan hiền, bạn bè thân thiện… Những tiện nghi đó đem lại cho ta một cảm giác thoải mái, dễ chịu, thích thú, sung sướng nên ta nghĩ rằng mình có hạnh phúc. Định nghĩa này hầu hết mọi người công nhận. Cái cảm giác mà ta vừa diễn đạt là hạnh phúc có tên gọi riêng là lạc thọ. Nhưng có khi ta đang sống trong những điều kiện rất thuận lợi, không có vấn đề gì phải bận lòng sầu khổ, hoặc chỉ có chút đỉnh khó khăn thôi thì lẽ ra ta phải có hạnh phúc chứ, sao vẫn than van số phận hay kêu ca cuộc đời hoài vậy? Cho nên phải có ý thức về những gì ta đang có chính là điều kiện của hạnh phúc thì ta mới có hạnh phúc được. Cũng như nhìn những đứa bé đang nô đùa rất hồn nhiên, không tiếc nuối quá khứ cũng không lo lắng chuyện tương lai, ta nghĩ chắc các em đó đang hạnh phúc lắm. Nhưng liệu các em có biết điều đó không, hay chỉ khi nào lớn lên và đánh mất cái thiên đường đó rồi các em mới nhận ra mình đã từng sống trong hạnh phúc? Ta có đang ở trong thiên đường không? Thiên đường của ta là gì? Thiên đường hạnh phúc, cái cảm giác ngọt ngào và êm dịu ấy thì ai cũng có cả. Đó là một sự thật rất rõ ràng, chỉ cần một chút ý thức là ta có thể tiếp xúc ngay. Nhớ lại những lần bị đau bao tử, không ăn uống được hay không làm việc gì được đã đành, mà cảm giác đau thắt ấy thật khó chịu. Lúc ấy ta quả quyết rằng không có cái khổ nào bằng đau bao tử. Nhưng trước đó vài giờ ta có biết mình rất hạnh phúc vì không bị chứng đau bao tử hành hạ không? Rõ ràng là không hề có, vì ta phải lo bao nhiêu chuyện to tát trên đời, hơi sức đâu mà nghĩ tới những cái cỏn con như vậy. Song chính những cái cỏn con ấy đã khiến ta phải khổ sở và gác lại bao điều to tát. Và khi trải qua từng giờ phúc trong cơn vật vã ấy ta mới nghiệm ra rằng không đau bao tử cũng là một điều kiện hạnh phúc. Hãy thử suy ngẫm về những điều kiện hạnh phúc mà ta đang có, phải chăng nhiều hơn ta tưởng tượng không? Chỉ cần liên tưởng tới hình ảnh của những em bé mồ côi, những em bé chết đói hay tật nguyền đang có mặt khắp nơi trên thế giới thì ta đã thấy mình hạnh phúc tới chừng nào rồi. Những em bé đó phải đi bằng đôi tay hay lấy thức ăn bằng đôi chân, hoặc chưa từng nhìn thấy bầu trời xanh hay tiếng chim hót, hoặc cũng chưa một lần nào được chăm sóc ân cần từ bàn tay của những người thân trong gia đình hay bạn bè. Còn ta, ta đang sở hữu quá nhiều thứ. Ta có đôi mắt sáng ngời, đôi chân vững chắc, đôi tay tháo vát, giọng nói trong trẻo, trái tim khỏe mạnh, năng lượng sống tuôn tràn, tương lai rực rỡ chào đón… Ta không bị vướng vào chứng bệnh nan y nào về thể chất, cũng không lâm vào tình trạng khủng hoảng điên cuồng vì thiên tai hay tai nạn do con người gây ra. Ta đang có cơ ngơi ổn định, công việc thuận lợi, tài năng phát triển. Ta cũng đang đầm ấm với gia đình, được người thương quan tâm chìu chuộng. Những điều đơn cử ra đây chỉ là một phần rất nhỏ so với những điều kiện hạnh phúc quá lớn mà ta đang sở hữu. Nếu không được nhắc nhở, ta cũng không ngờ mình giàu có như vậy, một gia tài hạnh phúc đã từng được ta nâng niu và cũng đã từng bị ta ném vào bóng tối lãng quên để tiếp tục đuổi theo những đối tượng hấp dẫn khác trong tương lai. Hạnh phúc bị lãng quên Có thể diễn đạt hành trình đi tìm hạnh phúc của chúng ta bằng cái trục ngang với rất nhiều điểm đến. Ta hãy chọn khởi điểm là A và điểm đến là B. B có thể là nguyện vọng lấy được chứng chỉ Master. Nhưng đến B rồi cũng thấy thường thôi, chưa phải là hạnh phúc nên ta sốt ruột muốn đến thử C, lấy được người mình thương mới thật sự là hạnh phúc. Nhưng sau đó không lâu ta bỗng phát hiện hình như còn thiếu một vài điều kiện quan trọng nữa mới nắm được hạnh phúc, phải có một đứa con xinh xắn mới gọi là mái ấm gia đình, nên ta đã hy vọng ở D. Rồi ta vẫn chưa an tâm, tiếp tục đặt ra những điều kiện hạnh phúc mà mình cần phải đạt cho bằng được như là sở hữu một căn nhà khang trang rộng lớn, một chiếc xe hơi đời mới nhất, một trương mục khá nhiều tiền, một địa vị có nhiều quyền lực mà bạn bè đều kính nể… thì mới bảo đảm cho hạnh phúc bền vững. Cứ thế ta tiếp tục lao như điên đi về E, F, G… và ở mỗi điểm ta chỉ cảm nhận được giá trị hạnh phúc rất ngắn ngủi. Chừng vài tuần hoặc vài tháng sau ta lại khát khao đến những điều kiện hạnh phúc khác. Đôi khi ta còn nghĩ biết đâu hạnh phúc thật sự chỉ nằm ở cuối trục ngang này không chừng. Ô hay! Cuối trục ngang này là cuối cuộc đời ta rồi đây. Ai dám bảo đến đoạn cuối đời ta mới có thể chạm tay tới cái giá trị thiêng liêng của hạnh phúc kia chứ. Nhưng nếu quả thật như vậy thì uổng phí cho cả kiếp người không ngừng phấn đấu và tân tụy với cuộc sống mà chỉ hưởng hạnh phúc trong khoảnh khắc ngắn ngủi thế thôi sao? Thật ra hạnh phúc đều có mặt ở A, B, C hay D, E, F cho đến X, Y, Z nữa, và giá trị hạnh phúc ở mọi nơi mọi lúc đều giống như nhau về phương diện bản chất, nghĩa là A=B=C…=Z. Nhưng làm sao ta biết được điều này khi động cơ bỏ hình bắt bóng luôn thúc đẩy ta lao tới trước như một thói quen truyền kiếp rất con người? Chính vì kẹt vào những ước mơ chưa đạt được nên ta không thể thừa hưởng những hạnh phúc lớn lao mà ta đang có. Liệu ta có chắc khi những ước mơ kia thực hiện xong là ta sẽ hoàn toàn hạnh phúc không? Ta chỉ tiên đoán thôi, vì một năm nay hay hai năm về trước chẳng phải ta cũng đã từng có những điều ước, và hầu hết những điều ước ấy đều đã thành tựu sao ta vẫn không có hạnh phúc? Thế mà ta vẫn tiếp tục ước mơ, tiếp tục hy vọng như chưa từng biết gì về hạnh phúc. Nếu ta không biết cái gì làm cho ta hạnh phúc trong hiện tại, thì làm sao ta có thể biết được cái gì làm cho ta hạnh phúc trong tương lai? Vậy ta có cần ước thêm nữa hay không hay nên quay về tiếp nhận những gì mình đang có và bằng lòng với nó, như thế may ra ta mới biết được hương vị thật sự của hạnh phúc. Khi nhận ra được giá trị hạnh phúc của mình đã sẵn có thì ta sẽ biết mình nên làm gì và không nên làm gì để hết lòng giữ gìn, không vì chút cảm xúc nhất thời đam mê mà đánh đổi giá trị hạnh phúc. Chỉ khi nào nắm được hạnh phúc thật sự trong tầm tay, ta mới có thể làm cho người khác hạnh phúc một cách chín chắn được. Hãy thử lấy ra một tờ giấy để ghi xuống những điều kiện hạnh phúc mà ta đang sở hữu. Chắn chắn một tờ giấy sẽ không đủ, vì càng nhìn lại thì ta càng phát hiện có tới trăm ngàn thứ quý giá trong ta mà từ lâu ta đã bỏ quên. Hạnh phúc có sẵn mà không cảm nhận được là một loại cảm xúc trung tính, một trạng thái bình thường hóa những phẩm chất cảm xúc khi thiếu đi sự mạnh mẽ của nhận thức. Ta thường gọi nó là xả thọ. Chính cái cảm xúc bị bão hòa ấy khiến cho ta mau nhàm chán những gì mình đang có, đánh mất niềm tin những thứ có thể mang lại hạnh phúc như nó đã từng thể hiện trong quá khứ. Ta lại tiếp tục giẫm đạp lên hạnh phúc để đi tìm hạnh phúc. Tuy bị bỏ rơi những khả năng linh động của những điều kiện hạnh phúc vẫn còn đó, chỉ cần trở về tiếp xúc và nuôi dưỡng thì nó sẽ bừng dậy và tràn lan trên tâm hồn ta. Do lãng quên mà ta đã để cho “lạc thọ” biến thành “xả thọ”, nhưng nhờ ánh sáng tỉnh thức đã khiến cho chúng phục hồi trở lại chức năng “lạc thọ” của mình. Và khi phát hiện ra những điều kiện hạnh phúc của ta thật quá nhiều và quá gần gũi, thế nào ta cũng ngỡ ngàng thốt lên: Trời ơi, tôi là kẻ hạnh phúc nhất trên đời! Nhưng trong chúng ta có mấy kẻ thốt lên được câu nói đó, hầu hết mọi người chỉ biết mình hạnh phúc sau một cơn nguy biến, một tai nạn chạm mặt với tử thần, hay một cuộc phân kỳ tưởng chừng không bao giờ gặp lại; còn không, họ vẫn miệt mài rong ruổi đi tìm hạnh phúc như chú ngựa hoang phi nước đại hướng về dãy đồi hấp dẫn xa tít tận chân trời. Để đến khi mỏi vó chùn chân, ngựa hoang đang dừng lại trên thảm cỏ xanh non và dòng suối mát trong, chợt nghe lòng dâng lên một cảm giác bình an và ấm áp quen thuộc. Ngựa hoang giật mình nhận ra hương vị của hạnh phúc chính là đây, sao mình khờ dại giẫm đạp lên nó mỗi ngày để đi tìm trong viễn cảnh? Nhưng ngựa hoang sẽ dừng bước giang hồ để chấp nhận sống sâu sắc trong hiện tại, hay sẽ ngậm ngùi tiếc nuối khi nhìn lại đoạn đường hoang phí đã qua, hoặc sẽ tiếp tục hăng hái lao tới tương lai để đi tìm hạnh phúc sau khi đã hồi phục? Ý thức được điều kiện hạnh phúc chỉ có trong giây phút hiện tại nên không còn chạy ngược chạy xuôi tìm kiếm đã là một bước đi đáng kể, nhưng giữ vững ý thức đó không để cho mãnh lực hấp dẫn phía trước lôi kéo thì không phải dễ, phải có khả năng và phương pháp nuôi dưỡng cụ thể, chứ chỉ có mỗi ý chí thôi thì không đủ. Cho nên không phải bất kỳ ai đến đoạn cuối cuộc đời cũng chưa hề biết được bộ mặt của hạnh phúc. Có thể họ đã từng sống trong hạnh phúc, nhưng không giữ nó được bao lâu. Tại vì họ bất lực trước bản năng đón nhận hạnh phúc bằng cảm xúc hời hợt của mình. Cái bản năng mau chóng bình thường hóa mọi thứ dù là những hạnh phúc lớn lao nhất, cái mà người ta vẫn thường nghi ngờ và cho rằng đó là sự trêu đùa của số phận. Hạnh phúc tương đối Khi sống trong những điều kiện thuận lợi như thưởng thức món ăn khoái khẩu trong một nhà hàng danh tiếng, mua được chiếc xe mơ ước bấy lâu, vừa ký một hợp đồng rất béo bở, du lịch đến một xứ sở cảnh đẹp như cõi thần tiên, được nghe những lời khen tặng hết lòng của người thương, chia sẻ những ước mơ thầm kín với người mình tin tưởng… thì phần lớn ai cũng có cảm giác sung sướng, dễ chịu và kết luận là mình đang có hạnh phúc. Trong khi những người sống trong hoàn cảnh rất khó khăn như phải làm việc quần quật để lấy tiền nuôi con ăn học, hay dầm mình trong mưa bão để kịp thời cứu hộ người thân đang mắc kẹt trong tai nạn, hay chịu những đòn tra tấn để giữ bí mật quân sự và tinh thần bất khuất của dân tộc… Tuy không có được những cảm giác sung sướng, dễ chịu trên bề mặt cảm xúc, nhưng tận sâu kín trong tâm hồn vẫn có sự hài lòng, thỏa mãn vì đã thực hiện được ước mơ, nguyện vọng hay lý tưởng của mình. Trong trường hợp này, ý chí và tình thương đã làm nên hạnh phúc. Như vậy có hai loại hạnh phúc, một loại hạnh phúc vì được thỏa mãn cảm xúc và một loại hạnh phúc vì được thỏa mãn ý chí. Loại hạnh phúc thứ nhất thiên về sự hưởng thụ bằng các giác quan, mặc dù phải thông qua sự chọn lựa yêu thích của ý thức. Loại hạnh phúc thứ hai không cần thông qua sự hưởng thụ, thậm chí chấp nhận luôn những cảm xúc xấu, chỉ cần thực hiện được nguyện vọng sâu sắc của mình. Nếu nhìn kỹ ta sẽ thấy hạnh phúc thứ hai là loại hạnh phúc lớn hơn và bền vững hơn. Những người trải nghiệm trong cuộc đời thường giảm bớt hoặc lẩn tránh những loại hạnh phúc được xây dựng trên cảm xúc vì bản chất của nó tan biến rất nhanh và để lại hậu quả là sự xuống cấp thân tâm và cả sự nghiện ngập. Họ chấp nhận một đời sống tri túc, ít hưởng thụ, nhưng ngược lại tâm hồn lúc nào cũng thanh thản và bình an. Tại vì họ đã ý thức được rằng cái lạc phải luôn gắn liền với cái an, an lạc mới là thứ hạnh phúc lâu bền. Tiền bạc, quyền lực, danh dự, sắc dục… cũng chỉ đem lại một cảm xúc thỏa mãn, nhưng để có được một cảm xúc thỏa mãn ta phải nếm trải qua rất nhiều cảm xúc xấu như hồi hộp, lo lắng, sợ hãi, bực tức, hờn ghen hay phải kích động và tập dợt cho những hạt giống xấu trong tâm hồn như gian dối, nghi ngờ, cố chấp, lợi dụng, thù hận. Rốt cuộc để mưu cầu hạnh phúc thì ta lại gieo rắc cho chính mình những mầm mống khổ đau. Khi ta có đủ bản lĩnh vượt qua bản năng hưởng thụ rất con người của mình thì ta sẽ tìm thấy thứ hạnh phúc được nuôi dưỡng bằng ý chí và tình thương đó mới thật sự là hạnh phúc cao đẹp và xứng đáng để ta bỏ công sức đi tìm. Một tách trà nóng, một bữa cơm đơn sơ, một rừng thu lá vàng, một chiếc thuyền nhẹ trôi… sẽ là thiên đường cho những khách phong trần muốn tìm lại chính mình sau những ngày tháng sống trong phiêu lãng. Hạnh phúc chân thật Ta như đứa trẻ được sinh ra trong gia đình tỷ phú mà lại lang thang vất vưởng đi tìm một tương lai. Một đứa trẻ bỏ nhà đi hoang theo tiếng gọi cháy bỏng của con tim thì không dễ gì chịu quay về khi chưa thấy được sự phũ phàng sau những khát khao cuồng dại. Trong một may mắn tình cờ được một người tốt bụng chỉ điểm và nâng đỡ, đứa trẻ giác ngộ và chấp nhận quay về để chính thức tiếp nhận gia tài mà bấy lâu không hề nhớ tới. Còn hạnh phúc nào hơn khi một kẻ khốn cùng bỗng dưng được sở hữu một gia tài đồ sộc của một tỷ phú. Nhưng nỗi mừng này sẽ tồn tại bao lâu khi những thói hư tật xấu mà đứa bé đã tích lũy trong những lần đánh mất bản thân để mưu cầu hạnh phúc cứ không ngừng lên tiếng, những hạt giống đi hoang năm xưa vẫn luôn thúc giục bên lòng. Làm một chuyến đi hoang nữa thì khiếp lắm vì ta đã quá thấm thía sự bạc bẽo của tình đời, phía sau những hào quang hạnh phúc mong manh kia luôn giăng đầy những cạm bẫy. Vậy ta nên lờ đi những phiền não đang chế ngự trong lòng để cố hết sức tiếp xúc với những điều kiện hạnh phúc tương đối mà mình đang có, hay phải cố gắng giải phóng triệt để những năng lượng độc hại ấy thì ta mới thật sự là kẻ có hạnh phúc chân thật? Tách trà thơm, bữa cơm ngon, hơi thở dịu êm, bước chân thong thả, nụ cười tươi mát…đều là những giá trị của hạnh phúc. Nhưng khi những hạt giống xấu trong chiều sâu tâm hồn như sân hận, thèm khát, hận thù, tuyệt vọng… biến thành những nguồn năng lượng hắc ám cả thâm thắc thì ta đâu còn khả năng để tiếp xúc với những giá trị mầu nhiệm của hạnh phúc trong hiện tại được nữa. Cái khổ đau bây giờ đã lấn át cái hạnh phúc. Cũng may là tâm thức của ta có khả năng tiếp nhận và biểu hiện nguồn năng lượng nào mạnh nhất, nghĩa là nếu ta dồn hết sức để phát huy những năng lượng tích cực có tính chất nuôi dưỡng giá trị hạnh phúc thì nó sẽ lấn áp trở lại những phiền não khổ đau. Cũng giống truyền hình có nhiều kênh, nếu chương trình của kênh này có nhiều bạo động nặng nề thì ta có thể mở sang kênh khác thoải mái và nhẹ nhàng hơn. Điều này ta cũng đã từng áp dụng. Mỗi khi bị căng thẳng hay có nỗi buồn xâm chiếm thì ta lập tức tìm nguồn vui khác để thay thế như gọi điện thoại, lên internet, nghe nhạc, đi shopping hay tìm đến những cuộc vui. Những cách đó cũng đem lại kết quả nhanh chóng, nhưng khi cuộc vui tan biến thì khổ đau lại tiếp tục trỗi dậy như cũ. Người hiểu biết hơn thì không tìm những điều kiện bên ngoài, họ dùng ngay những chất liệu nơi chính bản thân để chế phục phiền não. Phương pháp mà những nhà luyện tâm thường dùng đó là theo dõi hơi thở. Chỉ cần đem hết tâm ý chuyên chú vào hơi thở và quan sát phẩm chất của chúng khoảng chừng năm mười phút là phiền não tan biến ngay. Thật ra phiền não không bao giờ biến mất, nó chỉ có thể chuyển từ dạng năng lượng như một cơn giận trở về dạng hạt giống như hạt giống giận. Phương pháp nương tựa hơi thở tuy rất hữu hiệu để giúp ta trở về an trú trong giây phúc hiện tại và lấy lại sự tỉnh táo sáng suốt, nhưng đó cũng chỉ là giải pháp tạm thời. Rất tiếc, ta không phải là cái truyền hình có thể giữ mãi một kênh nào theo ý mình muốn. Dù cách gì đi nữa, nếu ta cứ tránh né phiền não hoài thì muôn đời ta sẽ không bao giờ hiểu biết về chính mình cả. Chỉ khi nào ta hiểu được những gốc rễ, ngõ ngách và năng lực tàn phá của phiền não, hiểu được sự vận hành và mối liên kết sâu xa của phiền não với bản ngã rất kiểu cách và luôn che đậy trong chính ta, thì ta mới tìm ra được cách thoát khỏi sự thao túc và hành hạ nó. Bởi hạnh phúc chân thật không bao giờ bị điều kiện hóa, nó không cần kèm theo điều kiện phải được thỏa mãn cảm xúc hay ý chí thì nó mới biểu hiện. Nó là trạng thái vượt ra khỏi sự giam hãm tù đày của những phiền não sâu kín trong tâm hồn, và cả sự vay mượn hạnh phúc tạm thời từ những thứ khác. Nó là một nguồn ánh sáng tinh anh kỳ diệu xưa nay vẫn tồn tại trong trái tim thuần khiết của mỗi con người. Đặc tính của nó là tự do, an ổn, bình đẳng và đầy tình thương. Lẽ dĩ nhiên tùy vào nhu yết và trình độ của mỗi người mà hạnh phúc sẽ có nhiều cung bậc khác nhau. Dù vậy, ta cũng đừng quên rằng càng bớt đi những điều kiện bên ngoài thì hạnh phúc trong ta sẽ càng lớn. Nghĩa là hoàn cảnh như ý không phải là thứ hạnh phúc mà ta đang đi tìm, mà chính nó là kẻ dung dưỡng cho sự yếu đuối và hèn nhát của con người, không dám tự khơi dậy hạnh phúc chân thật từ nơi chính mình. Ta phải cho phép mình đối đầu với hoàn cảnh khổ đau, đối đầu với những khó khăn trở ngại lớn nhất trong tâm hồn, vì chỉ có như thế ta mới tìm được toàn bộ con người chân thật của mình mà bấy lâu nay bản ngã yếu hèn đã cố tình che đậy bằng những hạnh phúc mong manh giả tạm. Hạnh phúc có từ nơi ấy là hạnh phúc của kẻ giàu sang bậc nhất trên đời, không có bất cứ trở lực nào có thể phá nổi! Này kẻ giàu bậc nhất Đừng chịu kiếp van nài Hãy quay về tiếp nhận Bảo vật trong tầm tay. HẠNH PHÚC LÀ GÌ ? khuyết danh Hạnh phúc phải chăng là những nụ cười, niềm vui không tắt? Hạnh phúc có phải là một sự đánh đổi hay nằm trong tay một ai đó mà mỗi phán quyết là định nghiệp của đời con? Hạnh phúc thật ra là gì? Con một lần nhìn lại đời mình, tự hỏi mình có hay không hạnh phúc? Và để nước mắt rơi thương mình bất hạnh. Và để nói rằng hạnh phúc thật mong manh. Phải chăng con đã tìm thấy hạnh phúc, bằng xương thịt hoá thân là những người con thương yêu, mà nay thay đổi khiến con không còn nhận ra bóng hình của hạnh phúc? Nếu đó là hạnh phúc đích thực, thì dù mang tướng nào bản chất vẫn không hề thay đổi. Có nghĩa là vĩnh viễn mang lại niềm vui trọn vẹn cho con. Nếu hạnh phúc ấy, còn có thể không là hạnh phúc, người hay cảnh hạnh phúc ấy chưa thuộc về con, thì chưa là chân hạnh phúc. Nói cách khác, hạnh phúc đến từ bên ngoài, dù thọ lượng bao nhiêu cũng có ngày không còn tướng đến. Vì có đến tất có đi, có tướng là có hoại. Hạnh phúc nào từ chính mình phát ra nuôi dưỡng mình, làm ánh sáng cho mình, hoàn toàn thuộc về mình, không có ngày bị một hoàn cảnh nào một con người nào mang đi, là hạnh phúc vĩnh viễn vượt thời gian. Vậy thì, hạnh phúc có phải là sự ích kỷ, thương yêu chính cái tôi của con? Không đâu con, chính sự chia hai này, Tôi và ý thức về tôi, làm mất đi hạnh phúc. Tôi, Ngã của con được chia hai, mang hai bộ mặt và bộ mặt này được che dấu hay không đem đến sự thoả mãn cho bộ mặt kia, thay thế cho Hạnh phúc đến từ người khác. Nhưng đâu chỉ là dối gạt chồng lên dối gạt, tự tâm mình chứng kiến từng giờ sự vô vị của thứ hạnh phúc bình an giả tạm này. Hạnh phúc là một trạng thái, cho nên không thể chỉ dùng lý trí mà đến được trong hạnh phúc. Một trạng thái thì tùy duyên mà có sắc thái. Nếu hạnh phúc không là Tôi chia chẽ, không là người hay hoàn cảnh nào thì Hạnh phúc ở đâu? Trước hết, tạm tìm xem trạng thái hạnh phúc có thể mang tướng biểu lộ nào. Ðó là trạng thái vui vẻ, tràn đầy và không bao giờ mất hay gián đoạn. Như vậy, hạnh phúc phải mang một tướng tuyệt đối nào đó rồi. Và chính vì lý trí không là hiện thân của hạnh phúc, nên trạng thái biết mình hạnh phúc trong hạnh phúc là tỉnh thức trong hạnh phúc. Hay Tỉnh thức (của Chân Hạnh phúc). Sự tỉnh thức trong một niềm vui bất tận hay an lạc, không hề bị bất cứ điều gì chi phối, niềm vui hoàn toàn thuộc về mình, dù chính con không hề có ý thức sở hữu chính là thấy pháp thân của mỗi người và sống trong hạnh phúc, chính là sống với pháp thân mình. Sống với pháp thân là sống với Phật tánh. Bất cứ một người nào còn đau khổ, đều muốn đến với hạnh phúc, dù mình họ chưa rõ chân dung, muốn hạnh phúc là muốn đến với pháp thân của mình và trong vô tận thời gian, có tướng đi tất có tướng đến, mỗi người sẽ đến với Phật tánh của mình. Sau bao nhiêu cuộc bôn ba giữa những đỉnh non hay vực thẳm của tâm mình, con hãy tìm bóng mát bình yên của hạnh phúc chân như là Pháp thân bất diệt, bằng con đường bao hành giả đã đi qua, sau khi đã trên khổ đau và hạnh phúc như con bây giờ. Hãy đi đến đích. Hạnh phúc bất tận (hiện hữu từ kiếp sống chết này sang kiếp sống chết khác), phải chăng là pháp thân Như Lai bất diệt đó ư? Vậy thì Phật quốc chẳng ở đâu xa, con đã đến với cả một thế giới hạnh phúc, bình yên. Làm sao để sống được với Pháp thân? Thường hạ tâm mình, thường kính trọng người. Hành trì một thời gian con sẽ ly dần tánh chúng sanh, là nguyên nhân của mọi đau khổ. Khi ấy, ánh sáng của pháp thân sẽ từng bước theo nhịp tâm mà soi đường hạnh phúc. Con sẽ là nguồn sáng chan hoà cùng muôn ánh sáng của hằng hà sa số Phật tâm mang chân hạnh phúc lan tỏa từ tâm mình xoa dịu bao nỗi đau trần thế. Con hãy tin và tìm hạnh phúc bằng mọi nỗ lực của con! Học Im Lặng & lời bình của Tung Sơn Đệ tử phái Thiên Thai thường học thiền định. Khi phái này chưa du nhập vào Nhật bản, có bốn người đệ tử giao hẹn nhau không nói một lời nào trong bảy ngày. Ngày đầu bốn người đều im lặng. Họ chú tâm thiền định. Nhưng khi trời tối và những ngọn đèn dầu mờ dần, một người đệ tử không thể giữ im lặng được nữa, bảo người giúp việc: "Hãy sửa đèn đuốc lại đi!". Người đệ tử thứ nhì ngạc nhiên khi nghe người đệ tử thứ nhất nói, anh ta bèn nhắc bạn: "Chúng ta đã giao hẹn nhau không nói câu nào kia mà". Người đệ tử thứ ba nói: "Cả hai anh đều ngu xuẩn. Tại sao các anh lại nói chuyện?". Người đệ tử thứ tư kết luận: "Tôi là người duy nhất không hề nói chuyện". Trích từ quyển "101 Truyện Thiền" (Zen Flesh, Zen Bones; trang 92) Lời bàn của Tung Sơn Câu chuyện thiền trên đây khiến Tung Sơn nghĩ đến nhà xí thư viện Sorbonne. Nguyên là trên tường nhà xí thư viện này lúc nào cũng đầy những câu văn, những hình ảnh trình bày những suy tư, những cảm tưởng thuộc tình tự, chính trị, triết học... và tình dục dĩ nhiên! Có lẽ vì nhà xí là một khung cảnh thích hợp cho sự suy tư chăng? Rất có thể vì ở đó người ta được dịp cô đơn để gặp gỡ chính mình, đối thoại với chính mình một cách rất ư là thành thực mà không sợ cái nhìn soi mói của người khác. Những tư tưởng nhà xí cao siêu đó, dĩ nhiên, như tất cả mọi tư tưởng cao siêu khác, không làm vừa lòng tất cả mọi người, nhất là đối với những người cho rằng tư tưởng là cái chi thanh cao vượt khỏi không gian và thời gian, nhất là khi đó lại là không gian và thời gian nhà xí, vốn chật chội, hẹp hòi và có hương "nồng" và không "thanh thanh" như một nhà thơ đã tả. Sự phẫn nộ rất chân chính nói trên được phát biểu bằng nhiều cách khác nhau. Khi thì đứng đắn, nghiêm trang: "N'écrivez pas sur les murs"(1) (dĩ nhiên chính câu này được viết trên tường). Khi thì bao hàm một phán đoán đạo đức, khá tục tằn: "C'est con d'écrire de telles conneries sur les murs" (2) (dĩ nhiên câu này cũng được viết trên tường)... Nếu đọc qua những tư tưởng viết trên tường, người ta phải công nhận rằng những nhận định trên đây là đúng. Nhưng chúng bao hàm một mâu thuẫn lô gích trầm trọng: viết trên tường để phản đối sự kiện viết trên tường có nghĩa là tự mình phản đối mình, cũng mâu thuẫn như người dân đảo Crète khi anh ta tuyên bố rằng mọi người dân đảo Crète đều nói láo! Câu chuyện thiền trên đây cũng có một giá trị tương tự câu chuyện nhà xí mà Tung Sơn vừa kể. Thật vậy, các người đệ tử thứ hai, thứ ba, thứ tư, bằng những lời phản đối khác nhau, đều làm một việc in hệt như người đệ tử thứ nhất: phá vỡ sự im lặng mà đáng ra, theo lời giao hẹn, họ phải giữ. Câu chuyện này, về một phương diện khác, đã diễn tả khá rõ lý thuyết nhân duyên sinh của nhà Phật: câu nói của người thứ nhất đã gây ra những phản ứng của ba người bạn. Và trùng trùng duyên khởi! Ba người bạn khi phản ứng tưởng là mình đã làm một chuyện tốt ngờ đâu cũng chỉ gây thêm ồn ào, và không đủ khả năng thiết lập lại sự im lặng muốn có. Câu mắng của người đệ tử thứ ba, sự tự hào ngu xuẩn của người đệ tử thứ tư không khỏi làm người thức giả bực cười. Câu chuyện còn đặt ra một vấn đề khó giải quyết: trước câu nói của người đệ tử thứ nhất, ba người đệ tử kia phải làm gì để phản đối hoặc để làm cho người này thấy được giá trị của họ (đã im lặng)? Họ có thể hành động nhiều cách khác nhau ngoài lời nói. Hoặc trang nhã: bấm lưng người bạn làm dấu nhắc anh ta phải im lặng. Hoặc bạo động hơn: đá đít cảnh cáo anh ta đã phá vỡ im lặng (nhưng dĩ nhiên đừng hét!)... Hoặc...hoặc... Nhưng thật ra mọi biện pháp nói trên đều vô ích khi người ta đặt câu hỏi: im lặng để làm gì? Câu trả lời đã rành rành: im lặng để tĩnh tâm thiền định. Ôi, tâm đã không tĩnh, đã còn bị ngoại vật chi phối, đã còn muốn mắng nhiếc người khác, đã còn muốn khoe khoang thì im lặng để làm gì? Ôi! Nếu cái áo không làm nổi thầy tu, thì sự im lặng cũng không làm nổi một vị thiền sư. Và dĩ nhiên lời nói...!

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét