THÍCH TÂM TRỌNG

THÍCH TÂM TRỌNG
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT

Thứ Ba, 4 tháng 12, 2012

TƯƠNG LAI THỐNG NHẤT NGHI LỄ PHẬT GIÁO VIỆT NAM:

TƯƠNG LAI THỐNG NHẤT NGHI LỄ PHẬT GIÁO VIỆT NAM: Với bản sắc văn hóa dân tộc, với khả năng dung nhiếp Nho, Lão học, trong dòng tư tưởng Phật học của mình ngầm chảy nuôi dưỡng đời sống tâm hồn của người dân nước Việt, nổi bậc nhất là vào thời đại Lý Trần, Nghi lễ Phật giáo Việt Nam với truyền thống lâu dài đó, trải qua bao hàng bao thế kỷ, nay đến lúc chúng ta luôn phải đối mặt trước thời đại mới, một thời đại mà thế giới bao la trùng trùng điệp điệp trước kia đang thu nhỏ dần lại, bởi nền văn minh hiện đại thông tin toàn cầu. Nơi đó, không có phép con người dừng lại cục bộ, thích phân biệt. Vậy, con đường trước mặt của tương lai Nghi lễ Phật giáo Việt Nam là gì ? Đây là một chọn lựa lịch sử để nghỉ và định hướng về tương lai thống nhất Nghi lễ Phật giáo Việt Nam và quyết định, vấn đề thống nhất Nghi lễ chúng ta bắt đầu từ tám điểm chính thời Thỉ Tổ : Vâng, khi chúng ta nói đến Nghi lễ nền âm nhạc của Phật giáo Việt Nam ngày xưa đã đạt đến một trình độ thánh thiện, điều đó chúng ta có thể tìm thấy qua những tư liệu của các vị Tổ sư để lại. Thế nhưng Lễ nhạc của Phật giáo Việt Nam ngày nay về hình thức lẫn nội dung quả thật đã thua kém các bậc tiền nhân rất xa thăm thẳm. Nó không còn bộc lộ được nét sống tâm linh siêu việt (Không hồn) như lễ nhạc cổ điển ngày xưa. Hơn thế nữa Hán văn không còn được mấy ai chú trọng. Nên mỗi khi đọc thì lại có đọc mà thông hiểu thì chẳng mấy ai ... ! được bao nhiêu. Ôi ... ! Như vậy, thì làm sao có thể thâm nhập rừng Thiền chân lý ngay khi chúng ta xưng dương tán tụng. Chính vì thế mà vai trò của những người làm công tác Nghi lễ ngày nay cần phải chú tâm biết chuyển hóa như thế nào để vừa có thể duy trì truyền thống cao đẹp của các bậc Thầy Tổ ngày xưa, vừa mang tính chất khế lý và khế cơ của quần chúng ngày nay. Chúng tôi thiết nghĩ muốn thực hiện được ước vọng hoài bão bấy lâu nay. Tôi cho rằng ngay lúc này hơn hết, thời đến duyên đủ Giáo hội cần phải quan tâm nhiều hơn thế nữa kết tập những người có kiến thức uyên thâm về bộ môn lễ nhạc Nghi lễ Phật giáo ở cả ba miền Nam - Trung - Bắc và luôn tạo mọi điều kiện thuận lợi để sưu tầm, ta luôn khai thác không ngừng và phát huy hiệu quả cho bộ môn nhạc lễ Phật giáo Việt Nam ngày nay trở lại đúng vị trí của nó đã từng có vị trí chủ đạo trong thời quá khứ. Nói đến Nghi lễ thì không ai mà không trực nhận được, đó là một hình thái nét văn hóa phi vật thể, luôn bao giờ cũng tạo nên nét đẹp đạo đức cho gia đình và xã hội, chứ không đơn thuần chỉ là những Nghi lễ cúng bái tại các Già Lam Phật Tự. Từ khi Đức Thế Tôn thành đạo dưới cội Bồ Đề, Ngài đã trải qua 49 năm trên khắp vạn nẻo đường hoằng dương tế độ, đức Phật đã từng dùng vô số phương tiện giáo hóa độ sanh. Ngài không bị ràng buộc bởi bất cứ một khuôn khổ hay giáo điều nào. Trái lại, Ngài vận dụng giáo lý “Tùy duyên bất biến”. Thấm nhuần tinh thần ấy mà Chư Tổ cũng đã tùy dòng lưu chuyển “Đạo mạch trường lưu” không ngừng của tín ngưỡng tâm linh của quần chúng nhơn gian mà các Ngài đã ứng dụng tùy duyên giáo hóa. Để tiếp nối truyền thống “Tương tục truyền thừa” phương tiện tùy duyên, đòi hỏi người hành giả thực hành Nghi lễ phải quán triệt sâu sắc giáo lý Phật Đà, triệt để không phô trương hình thức bên ngoài không đúng Chánh Pháp, không đúng hình thức bản sắc dân tộc miền, không khéo người đời cho đó là mấy ông sư cải lương. Từ đó làm cho Nghi lễ Phật giáo trở thành mê tín dị đoan, ảnh hưởng đến nét trong sáng của Nghi lễ Phật giáo Việt Nam. Ta cũng nên đấu tranh loại trừ những hành vi tiêu cực lạm dụng lễ nghi hình tướng quá độ. Vậy, ngay lúc này hơn hết chúng ta cần phát triển nội tâm là điều quan trọng tối ưu, hầu để góp phần xây dựng bảo trì và luôn chỉnh trang nền Nghi lễ Phật giáo đậm đà bản sắc văn hóa Phật giáo Việt Nam và văn hóa dân tộc. Nghi lễ Phật giáo A. BỐI CẢNH VÀ SỰ HÀNH LỄ Trong bối cảnh hiện nay, theo chúng tôi nghĩ là soạn một nghi thức chung cho tất cả các hệ phái là điều không thể thực hiện được trong vòng vài ba chục năm tới, vì có những kinh quan trọng của hệ phái này, nhưng ngược lại của hệ phái khác cũng như không thể tìm được sự nhất trí trong cách đặt trọng tâm vào kinh tạng Nam tông hay kinh tạng Bắc tông. Vì vậy, trước mắt trong khả năng có thể thực hiện được, chúng ta nên soạn một nghi thức Lễ Phật đản chung cho các hệ phái. Dù Bắc tông, Nam tông hay Khất sĩ chúng ta đều là Phật tử Việt Nam, tại sao chúng ta lại không thể tụng chung một bài kinh bằng tiếng mẹ đẻ của mình? Bước tiếp theo phải tạo điều kiện cho tất cả những quyển nghi thức đã và đang được soạn ra cùng đi về một hướng, từng bước tiến tới, trong tương lai chỉ còn vài ba quyển nghi thức cho những hệ phái lớn. Trong việc biên soạn này không gì hơn là hệ thống hóa lại các quyển nghi thức đã có sẵn từ trước bằng tiếng Việt, nếu cần có thể bổ sung thêm cho mỗi nghi thức một số bài kinh trong kinh tạng mà Đức Phật đã giảng dạy. Bài pháp nào Đức Phật dạy phù hợp với mỗi nhu cầu thì trích lời kinh đó đưa vào, chỉ cần sắp xếp lại cho phù hợp câu văn, chớ không nên lấy văn ý của mình mà đưa vào nghi lễ đọc tụng rồi gọi đó là kinh Phật. C. KẾT LUẬN Trong đạo Phật bao giờ sự và lý cũng phải viên dung. Về sự thì như trên chúng tôi đã trình bày. Chúng ta lạy Tam Bảo với tất cả thân tâm thành kính nhớ ơn, thành kính nhớ ơn Phật, thành kính nhớ ơn Pháp, và thành kính nhớ ơn Tăng. Thế còn cái tâm của chúng ta trong khi lạy phải như thế nào? Nghĩ ngợi gì? Tưởng nhớ đến ai, đến cảnh gì, vật gì? Hay là để tâm không nghĩ ngợi, không cầu mong điều gì? Để trả lời câu hỏi này, thiết tưởng chúng ta hãy nhớ lại bài kệ "Quán Tưởng" mà chúng ta thường tụng trước khi đảnh lễ: Như thế thì bản chất Phật và chúng sinh vốn là "không tịch" lặng lẽ, tạm gọi là chân tâm. Chỉ từ khi bắt đầu khởi niệm, là bắt đầu bị cuốn vào dòng vô minh, rồi thức mới hoạt động, mới suy nghĩ, mới phân biệt ra cái "ta" (năng) và cái "không phải ta" (sở), mới nảy sinh ra tình cảm yêu ghét, tạo nghiệp, trả quả, xoay chuyển trong vòng sinh tử không thấy đường ra. Nghi Lễ Có Phải Là Tín Ngưỡng Không? Một số lớn hình thức nghi lễ, cúng tế được thiết trí, bày biện trong chùa và ngay cả tư gia Phật tử vào dịp rằm tháng Bảy. Vì lý do ấy mà có nhiều người cho rằng rằm tháng Bảy âm lịch như ngày biểu thị hình thức thuần tín ngưỡng trong Phật Lễ nghi trong Phật giáo là bày tỏ lòng thành kính đối với các đấng thành kính. Họ là thầy tổ, là ông bà, cha mẹ và tất cả những người thân, kẻ sơ đã qua đời. Hiến dâng lễ vật không cốt để cho người chết được hưởng mà chỉ để bày tỏ lòng kính mến, để nhớ ơn và để phát nguyện làm những điều tốt lành mà những người đi trước đã làm. Ðiều này chỉ là những biểu hiện tùy theo truyền thống và văn hóa của mỗi dân tộc có ảnh hưởng tư tưởng hiếu niệm trong Phật Giáo. Như thế hình thức này đã có, nhưng có rất giản dị trong Phật Giáo Nguyên Thủy. Cầu nguyện theo quan niệm Phật giáo là không phải van xin thần thánh hay bất cứ một lực lượng quyền năng nào. Cầu nguyện là tập trung dòng tư tưởng trở về một mối duy nhất; dồn điện lực của tinh thần, chuyển đổi quan niệm mê lầm, xấu ác trở nên trong sáng và lương thiện. Cầu nguyện vì thế chính là phương pháp nhìn lại con người thật của mình, quan sát tâm tình và khử trừ mọi khát vọng phàm tình, ích kỷ, ỷ lại, yếu đuối. Cầu nguyện là một cách định tâm, định ý để chuyển hóa lòng mình, lòng người. Như vậy, lễ nghi là lòng khiêm hạ, là bày tỏ sự kính thành. Cầu nguyện là cách thức đãi lọc tâm tánh, là ban ân, là phát khởi những dòng tâm niệm trong sáng, hữu ích, nung nấu ý chí, trau dồi đạo hạnh cho mình và hướng dẫn kẻ khác. Thật ra, không chỉ các bạn Tây phương mà ngay cả những người Ðông phương, cho đến một số các Phật tử chính thống cũng quan niệm một cách lệch lạc về ý nghĩa lễ nghi và sự cầu nguyện trong Phật giáo. Trường hợp hiểu lầm đức Phật quở phạt, cầu Phật, lạy Phật, cúng Phật để được Ngài ban bố tài lợi là một chuyện rất thường xảy ra trong giới Phật tử chỉ biết Phật mà không có cơ hội học hỏi Phật pháp, không hiểu rõ nghĩa lý sâu xa của những biểu tượng lễ nghi và cầu nguyện trong Phật giáo. Ðây là nguyên nhân để cho một số người đứng ngoài Phật giáo vội kết luận rằng, hình thức lễ nghi và cầu nguyện trong Phật giáo là một hình thức lỗi thời, lạc hậu, bày tỏ lòng yếu đuối, vọng cầu, thiếu tinh thần tự lực và tự giác ngộ. Nếu hiểu chính xác ý nghĩa cầu nguyện thì cầu nguyện là một phương pháp tu tập, có giá trị tương đương với phương pháp thiền định, quán chiếu tự tâm Âm nhạc trong nghi lễ Phật Giáo Việt Nam “Âm nhạc truyền thống Phật giáo Việt Nam là một kho tàng vô cùng phong phú, đa dạng và có giá trị nhân văn sâu sắc”, đó là khẳng định của Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Thuyết Phong - Danh nhân di sản quốc gia Hoa Kỳ, Danh nhân âm nhạc Anh, trong buổi thuyết trình “Âm nhạc truyền thống Phật giáo Việt Nam” nhân Hội thảo – Bồi dưỡng kiến thức và hoạt động văn hoá Phật giáo toàn quốc 2010. vừa qua tại Nha Trang. 1.- Đi tìm giá trị âm nhạc trong nghi lễ Phật giáo: Theo Từ điển Hán Việt của Đào Duy Anh và của Thiều Chửu: * Nghi là dáng vẻ bên ngoài như oai nghi. * Lễ là khuôn mẫu, phép tắc, cung cách như lễ bái Trong Sa Di Luật Nghi Yếu lược tăng chú quyển hạ: “Oai nghi giả, vị hữu oai khả úy, hữu nghi khả kính”, bởi lẽ: Có oai khá sợ, có nghi khá kính và “Nghi tại tướng, Lễ tại tâm”. Người xưa cũng đã nói: ”Dân sở do sinh, lễ vi đại”. Những điều cần cho dân yên mà sống LỄ là hơn hết. Vì thế cũng có câu: “Hiếu, Để, Trung, Tín nhân cho bổn. Lễ, Nghĩa, Liêm, Sĩ nhân chi căn”. Cho nên Kinh Lễ là một trong Ngũ kinh của Nho giáo. Trong sách Luận Ngũ Khổng Tử đã nói: "Không học Kinh Lễ thì không biết cách đi đứng ở đời". Nghi lễ như vậy có ý nghĩa rất rộng, bao trùm hành vi, thái độ, tín ngưỡng, văn hoá, ngôn ngữ, phong cách của con người và xã hội. Trong nghĩa hẹp thì nghi lễ là nghi thức hành lễ tụng niệm mang tính tín ngưỡng thờ phụng của một tôn giáo. Nghi lễ thường đi đôi với nhạc, lễ và nhạc là triết lý chủ yếu của nho giáo có tác dụng chuyển hoá con người và xã hội. Đức Khổng Tử coi lễ rất quan trọng để kiểm soát hành vi, ước muốn bất thiện của con người , còn nhạc để điều hoà cảm hoá lòng người. Nhạc và Lễ của Nho giáo đã ăn sâu vào đường lối cai trị của quốc gia và quan niệm sống của xã hội thời xưa. Nó ảnh hưởng nhất định vào nếp sống của con người và xã hội Á Đông ngày nay. Nghi lễ Phật giáo cũng có hai phần lễ và nhạc, tuỳ theo truyền thống văn hoá nghệ thuật của mỗi miền, mỗi vùng mà phần lễ nhạc Phật giáo sẽ ảnh hưởng và biểu hiện theo truyền thống của vùng, miền ấy. Nghi lễ Phật giáo mang màu sắc lễ nhạc cổ truyền của dân tộc, là một mảng của nền văn hoá truyền thống cần phải tôn trọng, phát huy và bảo tồn. Trong phạm vi đề tài xin được trao đổi “Âm nhạc trong nghi lễ truyền thống Phật giáo Việt Nam”: Theo định nghĩa truyền thống về âm nhạc: “Âm nhạc là một thực thể được nhìn từ nhiều góc độ khác nhau, hiểu khác nhau”. Đạo Phật đến với Việt Nam rất sớm, từ thời Hùng Vương khoảng từ thế kỷ thứ I, thứ II. Đạo Phật đi đến đâu như nước thấm vào đất, hoà vào dân tộc Việt như máu và thịt, như tim với óc của một cơ thể con người. Vai trò của Tăng, Ni đối với đạo Phật rất quan trọng. Tăng đoàn chính là những nghệ sĩ âm nhạc truyền thống Phật giáo, là nghệ sĩ sáng tác đồng thời cũng là nghệ sĩ biểu diễn. Thanh nhạc và khí nhạc của âm nhạc Phật giáo Việt Nam có nhiều loại khác nhau, nào chuông, mõ, khánh, linh, trống, ốc, tang, bản mộc, thủ xích, đại hồng chung…mỗi loại đều tạo một âm thanh trầm hùng thoát tục… Âm nhạc trong nghi lễ Phật giáo Việt Nam có thể chia làm mười thể loại đó là: Tụng, trì, niệm, tán, sám pháp, bạch, thỉnh, xướng, kệ, đọc. Tụng kinh Di Đà khác với trì chú Đại bi, niệm Phật “Nam mô A Di Đà Phật” cũng khác với kệ chuông: “Nguyện thử chung thinh siêu pháp giới…”. Tán lại hoàn toàn khác với xướng. Đọc sớ cũng khác với thỉnh, tác bạch khác với tuyên pháp ngữ v.v…mỗi thể loại đều có cách thể hiện khác nhau, không thể loại nào giống thể loại nào. Âm nhạc nghi lễ truyền thống Phật giáo Việt Nam có yếu tố truyền thừa, sáng tác mà đặc biệt là yếu tố truyền khẩu vô cùng quý giá. Từ các vị Bổn sư, Chủ sám, Gia trì, Chánh chúng, Duy na truyền tụng và lần lược các lớp hậu bối làm theo, dường như những tác phẩm của âm nhạc nghi lễ truyền thống Phật giáo Việt Nam không có tên tác giả mà là những tác giả dân gian. Âm nhạc nghi lễ Phật giáo Việt Nam lại có nhiều nốt, nhiều âm đậm đà bản sắc dân tộc và rất đa dạng, rất phong phú mang yếu tố địa phương. Tán của mièn Bắc khác với tán của miền Trung và tán miền Nam. Tán tang năm, lại khác với tán tang sáu, và cũng khác phạm lễ, tán tẩu… "Hãy nhìn lại một buổi lễ Đăng đàn Chẩn tế bạc độ âm linh của chư Tôn Đức miền Bắc hoàn toàn khác với miền Trung và miền Nam và ngược lại, mặc dầu Trung Pha Du Già là một.", 2.- Mang nặng một tấm lòng: Âm nhạc trong nghi lễ của Đao Phật Việt Nam có ai biết không? Vị trí của âm nhạc nghi lễ truyền thống Phật giáo Việt Nam trên thế giới? Trong buổi thuyết trình của Giáo sư Nguyễn Thuyết Phong tại Tuần Văn hóa Phật giáo toàn quốc 2010, tại Nha Trang-Khánh Hòa, Giáo sư kể mẫu chuyện đầy niềm tự hào về các nhà sư Việt Nam đã nhiều lần sang Nhật truyền dạy âm nhạc nghi lễ Phật giáo Việt Nam cho chư Tăng Phật giáo Nhật Bản vào những thế kỷ trước và khẳng định vị trí của âm nhạc nghi lễ Phật giáo Việt Nam rất được thế giới. trân kính. Vậy làm thế nào để Âm nhạc nghi lễ Phật giáo Việt Nam được bảo tồn, phát triển và phát huy giá trị của âm nhạc nghi lễ Phật giáo: 1.- Tại các trường Sơ cấp, Trung cấp, Cao Đẳng Phật học, Học Viện cần có chương trình giảng dạy, đề tài nghiên cứu cho tăng ni sinh về Âm nhạc nghi lễ truyền thống Phật giáo Việt Nam. Bởi vì người xưa đã khẳng định “Tiên học lễ hậu học văn”, Học lễ trước rồi sau đó mới học kiến thức văn hóa. Bởi vì Lễ sẽ hoàn thiện con người, thành người có tâm, có đức, để “Thiệu long thánh chủng, chấn nhiếp ma quân. Thượng báo tứ ân, bạc tế tam hữu” Muốn vậy cần tổ chức bộ phận nghiên cứu, biên soạn giáo trình có hệ thống làm tài liệu cho giáo thọ, giảng viên giảng dạy. 2.- Âm nhạc nghi lễ Phật giáo rất cần thiết trong đời sống cộng đồng xã hội đã trở thành một bộ phận văn hóa truyền thống của dân tộc như nước với sửa như tim với óc, do đó Phật giáo cần sưu tầm, ký âm, tích lủy, phổ biến để không những Chư Tôn đức Tăng Ni trong nước được biết âm nhạc nghi lễ Phật giáo từng miền, từng vùng, mà còn có phương pháp bảo tồn, duy trì và phát triển có hiệu quả… 3.- .Trong một thời gian không xa, nếu được, mong rằng Giáo hội lập hồ sơ trình với Hội đồng di sản quốc gia đề nghị thế giới công nhận, âm nhạc nghi lễ truyền thống Phật giáo Việt Nam là di sản văn hóa phi vật thể. 3.- Lời kết: Âm nhạc nghi lễ truyền thống Phật giáo Việt Nam vô cùng đa dạng và phong phú bởi đời sống của con người Việt Nam, ngôn ngữ Việt Nam phong phú rất giàu và rất đẹp. Âm nhạc nghi lễ Phật giáo Việt Nam giàu bởi đời sống của người Việt Nam muôn màu, muôn vẻ, đời sống tư tưởng tình cảm dồi dào, phong phú. Âm nhạc nghi lễ Phật giáo Việt Nam đẹp bởi tiếng ta đep đầy màu sắc, âm thanh và nhạc họa. Mỗi người con Phật từ diễn đàn Hội thảo Nghi lễ Phật giáo toàn quốc lần thứ II-2010 hãy là một viên gạch để xây dựng ngôi nhà Nghi lễ Phật giáo Việt Nam đậm đà bản sắc Phật giáo dân tộc. * Vậy những điệu tán trong nghi lễ bắt nguồn từ đâu? - Từ chư Thiên! Sách chép rằng ở Trung Quốc vào đời Tam quốc có ông Tào Thực (con của Tào Tháo) vì chán nản thời cuộc, ông đi vào núi tu tiên... Giây phút sắp đạt đạo, ông nghe có chư Thiên đến, trỗi lên khúc nhạc trời, ca ngợi đạo hạnh của ông. Sau khi xuất đạo, ông chợt nhận ra rằng đạo Phật rất cao siêu đem chép lại tất cả các điệu nhạc ấy mà truyền tụng trong Phật giáo. Những điệu ấy gọi là các điệu "tán". Trải qua các đời, các điệu tán ấy hòa nhập vào mỗi quốc gia và tùy theo tính đặc thù của Phật giáo Đại thừa tại mỗi quốc gia ấy mà các điệu "tán" có những nét đặc trưng khác nhau. * Có quan niệm Phật giáo xuất hiện cùng với nghi lễ. Điều này đúng hay sai? - Không hoàn toàn đúng. Đối với Phật giáo, nghi lễ chỉ xuất hiện từ khi đức Phật nhập diệt. Khi đức Phật nhập diệt, các đệ tử đã thể hiện lòng kính trọng đối với Đạo Sư của mình bằng những cung cách khác nhau. Dần dà những cung cách ấy được gắn vào những tư tưởng triết lý của Phật và phổ vào những điệu nhạc trở thành nghi lễ. * Các loại nghi lễ được dùng hiện nay có hình thức ra sao? - Hiện nay, không chỉ riêng gì miền Nam mà cả miền Bắc và miền Trung đều dùng các nghi lễ có nguồn gốc do Tổ sư để lại. Các loại nghi lễ hiện được dùng theo hai khoa chính, đó là Thiền môn chánh độ và Tâm nam thiện bản. Thiền môn chánh độ gồm có hai phần chính, đó là độ các sư tăng viên tịch và độ các người tại gia khi qua đời. Còn Tâm nam thiện bản thì có tính chất như một công văn, đó là những văn sớ. Còn về hình thức thì tùy theo nội dung mà có những cách thể hiện khác nhau. Như ở chùa thì lúc nào cũng có nghi lễ. Sáng thì có hành tri (giờ công phu). Có những bài kinh, tán tụng đều dùng đến nghi lễ, nhưng các sư đọc theo giọng lạc (thiền). Còn buổi chiều thì có khóa Tịnh độ (công phu chiều), đọc hồi hướng theo giọng ai. Nghi lễ Phật giáo khởi nguyên từ Ấn Độ, nơi có quan niệm rằng âm nhạc là phương tiện ngôn ngữ khả dĩ duy nhất để diễn bày sự sâu thẳm của chân lý. Do vậy, nghi lễ Phật giáo đã có một bề dày lịch sử từ hàng ngàn năm nay, truyền từ đời này qua đời khác, từ quốc gia này đến quốc gia khác... Việt Nam là một trong những quốc gia mà nghi lễ Phật giáo đã có mặt từ rất sớm và đã "biến hóa" thành những nét đặc thù riêng và nếu nhìn từ góc độ văn hóa thì nghi lễ chính là một trong những thành tố cơ bản cấu tạo nên nét đặc sắc của Phật giáo Việt Nam. Tìm hiểu nguồn gốc của âm nhạc cũng như nghi lễ Phật giáo, chúng ta có thể nhận ra ý nghĩa sâu sắc của nghi lễ Phật giáo - phát nguyên từ nhạc lễ Phật giáo biểu hiện qua 3 nội dung: 1. Âm nhạc là hiện thân của suối nguồn tâm linh. 2. Âm nhạc là phương tiện để khơi mạch nguồn tâm linh. 3. Âm nhạc là ngôn ngữ linh thiêng của tế tự. Trong Phật giáo, ý nghĩa lễ nhạc được miêu tả rất nhiều trong kinh điển của Phật giáo (Phật giáo Nguyên thủy cũng như Phật giáo Đại thừa) dưới hình thái như chư thiên rải hoa trổi nhạc cúng dường Đức Phật, ngâm tán, ngợi ca chân lý nhiệm mầu, ngợi ca công đức Tam bảo... đây là một thứ âm nhạc cổ đại trong văn hóa Ấn Độ. Kinh chép: Đức Thế Tôn cũng thường dùng Dà đà (Kệ tụng) để làm phương tiện hoằng dương Chánh pháp. Đồng thời, Ngài cũng cho các Tỳ kheo chuyên chú vào việc đọc kinh (Thanh bái)... Luật Thập tụng thì chép: Thế Tôn khen ngợi Tỳ kheo Bạt Đề rằng: "Cho phép ông được trì tụng kinh văn theo cách Dà đà"... Lễ nhạc trong những trường hợp này được gọi là Pháp lễ hay Pháp nhạc. Vào thời Đức Phật, ở đất nước Ấn Độ sự hiến tế sinh vật rất thịnh hành, những công việc tế lễ Thượng đế, Thần linh là rất phổ biến và là đặc quyền của giai cấp tu sĩ Bà La Môn. Đức Phật đã cực lực phản đối những việc hiến tế như thế và Ngài đã chủ xướng học thuyết duyên sinh vô ngã, bác bỏ niềm tin vào Thượng đế, và quyền năng tối thượng của Thượng đế. Với lý do rất minh triết và khoa học đó, nên trong thời Đức Phật còn tại thế, lễ nhạc Phật giáo chỉ dùng trong phạm vi Pháp lễ hay Pháp nhạc mà thôi. Phật giáo sau khi được truyền bá rộng rãi đến nhiều vùng miền, quốc gia và vùng lãnh thổ khác nhau đồng thời gặp thời giới Tăng sĩ đã chuyển khuynh hướng từ đời sống tu viện sang đời sống xã hội và sự chuyển đổi này đã vượt xa hơn khi Phật giáo đã vượt ra khỏi biên giới Ấn Độ để truyền vào các nước dọc theo Con đường Tơ lụa thuộc Trung Á, Trung Hoa và châu Á - Thái Bình Dương. Và để nhằm thích ứng với văn hóa phong tục tập quán bản địa theo đúng tinh thần "khế thời, khế lý, khế cơ", Pháp lễ hay Pháp nhạc đã được chư Tổ nâng lên thành một "Pháp môn" với những quy chuẩn, nguyên lý và triết lý hóa cao cả về mặt nội dung ngôn từ lẫn nghệ thuật mà ngày nay chúng ta thường được biết là "Pháp Môn Nghi Lễ Thiền Gia". Khi đã trở thành "Pháp môn", lẽ tất nhiên nghi lễ lúc bấy giờ không còn là một phương tiện để chuyển tải tâm linh, đưa người vào đạo nữa mà đã trở thành là một Pháp môn tu học để đạt ngộ chân như Phật pháp bằng sự rung cảm tâm linh. Bởi định tính của nghi lễ luôn luôn là sự rung cảm nên nghi lễ là một trong hai con đường (tư duy đốn ngộ và rung cảm tâm linh) để đưa hành giả đạt đến giải thoát giác ngộ nhanh và êm đềm nhất. Xét về triết lý sâu xa của nghi lễ thì cái "cốt" của lễ là "nghiêm", và cái "lõi" của lễ là hòa. Muốn được "nghiêm" thì lễ tất nhiên phải có "nghi" và để nhạc được "hòa" thì nhạc tất nhiên phải có "điệu". Đó là hai yếu tính cơ bản định danh nên "Pháp Môn Nghi Lễ Thiền Gia". Do đó, để thực hành nghi lễ có nghiêm có hòa (có cái tinh túy cốt lõi của nghi lễ) đòi hỏi người thực hành nghi lễ, đối tượng nghi lễ và nội dung nghi lễ phải có những phẩm chất đạo đức, năng lực tu hành nhất định. Người hành nghi lễ: là người trực tiếp thực hiện nghi lễ hoặc là người trực tiếp truyền bá nghi lễ phải hội đủ ba phẩm chất đạo đức, đạo lực: 1. Có Thanh văn tướng trang nghiêm. 2. Có chiều sâu về quá trình tu tập tâm linh. 3. Có thẩm quyền về chuyên môn nghi lễ. Đối tượng của nghi lễ: chính là đối tượng mà nghi lễ hướng đến phục vụ hay nói khác đi là những giới, người có nhu cầu về nghi lễ. Đối tượng nghi lễ do vậy hàm một diện rộng trong xã hội, bao gồm cả giới xuất gia, tại gia; Phật tử hoặc không phải Phật tử. Tuy nhiên, điều quan trọng là đối tượng nghi lễ nhất thiết phải có "thành ý" có "tín tâm" và có "lễ nghi". Đây là trách nhiệm và vai trò của người thực hành nghi lễ và người truyền bá nghi lễ, phải tạo dựng cho được ba yếu tố trên nơi đối tượng nghi lễ thì khi đó giá trị sâu sắc của nghi lễ mới thực sự có hiệu quả tác dụng. Nội dung nghi lễ: gồm có nghi thức và nhạc lễ, nghi thức tức là loại hình nghi lễ tụng tán, ca ngâm... còn gọi là văn chương về lễ nghi, hay còn được gọi là "lễ văn" được biên soạn kỹ lưỡng, bài bản và khoa học. Nhạc lễ tức là âm nhạc biệt dụng cho lễ tế hay còn gọi là "lễ nhạc" cũng được tinh chọn sao cho hài hòa với từng loại nghi lễ thích hợp, thiền vị sâu lắng. Do vậy nghi thức thì phải nghiêm chỉnh, lễ văn phải hoàn bị và lễ nhạc phải hài hòa thiền vị... Trên đây là ba yếu tố cốt lõi của nghi lễ Phật giáo, quyết định đến sự tồn vong của nghi lễ Phật giáo. Lạm dụng một trong ba yếu tố trên thì thật là uổng công chư Tổ đã dung hóa và phát triển thành nét đặc thù của âm nhạc, nghi lễ Phật giáo... Cùng với bước hoằng dương Phật pháp của chư Tổ, nhiều "Pháp môn" đã được chư Tổ linh hoạt sáng lập nên để phương tiện đưa người đến với đạo; lập tông, lập môn là để hướng dẫn người tu hành bỏ tà quy chánh, giác ngộ giải thoát. Để tìm hiểu "Pháp Môn Nghi Lễ Thiền Gia" phải luôn tìm hiểu kỹ lưỡng 3 yếu tố: Người hành nghi lễ; đối tượng nghi lễ và nội dung nghi lễ. Và phải xác định mỗi thành phần có những phẩm chất riêng biệt nhưng luôn đặt nó trong một mối quan hệ mật thiết, hữu cơ giữa các yếu tố cấu thành này trong mối liên hệ vô cùng chặt chẽ, vì đây là một "Pháp môn" phải có quy củ, quy tắc cụ thể của một "Pháp môn". Cho nên khi một trong 3 thành tố bị khiếm khuyết là y hệt như buổi lễ sẽ "loạn". Hoặc khi người thực hành nghi lễ, người truyền bá nghi lễ có tâm lợi dụng, tâm địa bất chính là y hệt như "thợ tụng". Hoặc khi đối tượng nghi lễ (tín chủ) không có thành ý, tín tâm là buổi lễ như một tuồng hát bội, bùa chú, mê tín dị đoan... Ở Việt Nam ngày nay, cái cốt lõi của nghi lễ Phật giáo truyền thống giữa các vùng miền đã bắt đầu có dấu hiệu bị thất truyền và bị biến dạng, không những không được bảo tồn, gìn giữ mà còn bị lợi dụng để gieo mê tín dị đoan cho quần chúng Phật tử. Đã đến lúc những người thực hành nghi lễ và truyền bá nghi lễ phải ngồi lại, bàn cách gìn giữ và bảo tồn cái cốt lõi của nghi lễ, cái tinh túy của nghi lễ. Có như thế mới không uổng công chư Tổ đã sáng lập nên "Pháp môn Nghi lễ Thiền gia". DẪN NHẬP Trải qua bao thăm trầm của lịch sử Việt Nam thì đạo Phật đã đồng hành với dân tộc xuyên suốt một thời gian khá dài. Hình ảnh của đạo Phật in sâu vào lòng dân tộc qua mái chùa làng cong cong, rêu phong cổ kính trong những thôn xóm nhưng nghi lễ Phật giáo có vị trí không nhỏ trong quá trình hình thành nền văn hoá của dân tộc. Có thể nói, nghi lễ Phật giáo là một trong những nhân tố tạo thành tính đặc trưng của văn hóa Phật giáo Việt Nam nói riêng và văn hóa dân tộc nói chung. Một vai trò hết sức trọng yếu khác của nghi lễ Phật giáo đó là chức năng hoằng pháp, xương minh Phật pháp, phổ cập giáo lý Phật giáo trong cộng đồng dân tộc Việt Nam thông qua nội dung và hình thức của nghi lễ. Nhìn lại lịch sử lâu dài hiện diện và phát triển trên quê hương đất nước Việt Nam. Nếu nhìn từ góc độ văn hóa, thì mỗi nghi thức lớn nhỏ là một trong những tố phẩm văn chương cơ bản tạo nên nét đặc trưng nền văn hóa nghi lễ Phật giáo Việt Nam. Trong thời đại ngày nay, cùng với sự hội nhập và tiếp biến văn hóa toàn cầu, nghi lễ Phật giáo đã có những sự thay đổi nhưng nó có cần thiết trong công việc hoằng pháp ngày nay của đọa Phật không, chính vì vậy mà người viết đã chọn đề tài “Sự cần thiết của nghi lễ Phật giáo Việt Nam nói riêng và nghi lễ Phật giáo Việt Nam nói chung trong tiến trình truyền bá, giao lưu và tiếp biến”. Với những gì trình bày trong bài viết được tích lũy từ những bài giảng của giáo thọ sư trên lớp, cộng với sự tham khảo tài liệu kinh – luật – luận và các bài viết của chư tôn đức, bằng những kiến thức ít ỏi của mình người viết sẽ đưa ra những nhận định một cách khách quan cũng như chủ quan để hiện thực hóa đề tài một cách chân thật nhất. NỘI DUNG 2. 3. Sự cần thiết của nghi lễ Phật giáo Việt Nam nói riêng và nghi lễ Phật giáo nói chung trong tiến trình truyền bá giao lưu và tiếp biến 3.1. Nghi lễ tạo nên hình thức đa dạng, độc đáo của Phật giáo Hiện nay, khi trình độ công nghệ khoa học phát triển vượt bậc đã mở ra những cơ hội và thách thức mới cho thế giới thì đạo Phật cũng phải phát huy toàn lực khả năng của mình trên tất cả mọi lĩnh vực mà nghi lễ Phật giáo đóng vai trò rất quan trọng không thể thiếu được trong sự tồn tại và phát triển của Phật giáo. Nghi lễ thể hiện hình thức của Phật giáo thông qua sự tổ chức, các lễ hội, các pháp hội, đạo tràng… mỗi khi cuộc lễ hay buổi lễ nào trong ngôi nhà Phật giáo nhất là những khi cung nghinh tượng Phật, Xá lợi Phật, thuyết pháp, cung nghinh chư tôn Giáo phẩm ... Chúng ta nhận thấy cũng như cảm nhận ngay trong ấy khá phần trang nghiêm và long trọng. Cho nên trong Phật giáo mỗi khi buổi lễ cung nghinh thường sử dụng lọng tràng, bê tích, nhạc lễ, hương án… Sự sắp xếp trang trí cho đúng lễ nghi trong từng pháp hội là khác nhau về hình thức. Ví dụ như tổ chức buổi lễ vía Bồ tát Quan Thế Âm thì phải tôn trí tôn tượng Bồ tát Quan Thế Âm chứ không thể tôn trí tượng Bồ tát Phổ Hiền được. Cách sắp xếp nhân lực cho đúng với đạo tràng cũng khác nhau, như đại giới đàn thì hòa thượng đàn đầu phải là người có giới đức trang nghiêm, có công phu tu tập, có uy tín đối với giáo hội và được giới tử cũng như quần chúng tin cậy, được giáo hội giao phó cho trọng trách lớn ấy. Đối với một pháp hội cầu siêu cho những chiến sĩ cũng được tổ chức đúng với không gian tâm linh. Không gian tâm linh ở đây được nói đến là có thể tổ chức ở chùa, tu viện, thiền viện hoặc nghĩa trang liệt sĩ nhưng dù ở đâu cũng phải đúng với nghi lễ của Phật giáo. Trong pháp hội đó phải mang tính tâm linh cao. Sự chuẩn bị từ khâu trần thiết, trang trí không gian, cách thức tổ chức, những pháp khí cần thiết, cung an chức sự cho từng người tham gia, hình thức phục sức của từng người cũng như nghi lễ của pháp hội đó là hình thức của pháp hội nhưng nó chính là hình thức đa dạng độc đáo của Phật giáo. Hình thức được thể hiện qua sự hoành tráng của việc tổ chức, cách thức bố trí vật dụng cho lễ hội một cách hợp lý, chương trình làm việc logic, thành phần tham dự của chư tôn giáo phẩm cùng chính quyền địa phương và đặc biệt là số lượng người tham dự trong một pháp hội. Các yếu tố tạo nên hình thức rất đa dạng nhưng quy cho cùng là phương tiện để tạo nên một pháp hội của Phật giáo và hình thức đó đánh giá tầm quan trong của pháp hội đó như thế nào. Nói chung thông qua hình thức mà quần chúng tiếp cận với đạo Phật một cách nhanh chóng hơn. Tất cả mọi sự vật hiện tượng đều có hai mặt là nội dung và hình thức, trong đó hình thức và nội dung có sự tương quan mật thiết với nhau. Nếu chỉ xem trọng nội dung mà bỏ qua hình thức thì cũng không hoàn mỹ được. Đạo Phật không chỉ có nội dung mà hình thức cũng được chú trọng, với sự phát triển của xã hội thì hình thức của đạo Phật cũng thay đổi để thích ứng theo từng hoàn cảnh ngõ“hầu góp phần trong sự cấu thành muôn vàn nét đẹp hài hòa cho Phật giáo Việt Nam ngày càng sáng ngời rực rỡ hơn”.[5] 3.2. Nghi lễ thể hiện nội dung giáo lý, triết học của Phật giáo Đối với hình thức về nghi lễ Phật giáo có thể thay đổi qua tiến trình giao lưu và tiếp biến thì nội dung triết học hay giáo lý của Phật giáo cũng được thể hiện qua nội dung nghi lễ cũng theo thay đổi theo thời gian. Tất cả giáo lý của nhà Phật được gói gọn trong tam tạng kinh điển là kinh, luật và luận. Trong đó kinh được chia ra mười hai phần giáo: “Trường hàn, trùng tụng tinh cô khởi Thí dụ, nhân duyên dữ tự thuyết Bổn sanh, bổn sự vị tằng hữu Phương quảng, luận nghị cập ký biệt.” Mười hai phần giáo này chứa đựng tất cả Giáo lý hành quả để Tăng Ni ứng dụng trong sự hành trì tu tập. Bên cạnh đó những thiền môn quy cũ trong chốn tòng lâm cũng như sự hành nghi trong sinh hoạt hằng ngày đã tạo nên nội dung của triết lý Phật giáo. Triết lý của Đạo Phật không chỉ là tam tạng kinh điển của Phật giáo mà còn thể hiển trong đời sống thông qua những hành động thiết thực như việc hành trì giới luật, sự tu tập thiền định, sự tuân thủ thanh quy chốn thiền môn, cũng như thời khóa tụng niệm, lễ Phật, sám hối... Tất cả những sự hành trì của Tăng Ni có kết quả hay không thể hiện ở phong cách, đạo đức và lối sống của họ để minh chứng cho triết lý của Phật giáo. Thực tế chúng ta thấy và nhận định rằng : “Nghi lễ rất bao la”, nó luôn bao gồm nhiều lãnh vực nhưng triết học Phật giáo chứa đựng nhiều nhất vẫn là giáo lý của nhà Phật. Giáo lý đó được chư tăng gìn giữ đọc tụng hành trì theo thời gian, giáo lý ấy đã được âm nhạc hóa trở thành lễ nhạc của Phật giáo. Nền lễ nhạc của nghi lễ Phật giáo ngày xưa đã phát triển đến một trình độ khá cao, điều này ta có thể bắt gặp trong các tài liệu xưa của chư tổ để lại. Thế nhưng, ngày nay lễ nhạc đã bị thay đổi và mai một đến mức trầm trọng, nói cụ thể hơn là không theo kịp với trình độ phát triển của thời đại. Ví dụ như ngày xưa nước ta dùng chữ Hán thì khi tán tụng lên có người sẽ hiểu nhưng ngày nay tán tụng tiếng Hán lên chẳng ai hiểu gì vì trình độ Hán văn của người Việt bây giờ đa phần là không biết. Vì vậy sao ta không dịch ra chữ quốc ngữ để tán tụng khi hành lễ. Nói đi cũng phải nói lại, chữ quốc ngữ đôi khi cũng không diễn đạt hết những gì của chữ Hán, cho nên rất hạn chế đối với người tụng lẫn người nghe. Dù tán tụng có hay đi nữa nhưng người nghe không hiểu gì thì hiệu quả của một buổi pháp hội đã giảm đi rất nhiều. Như thế thì làm sao có thể thâm nhập được chân lý vi diệu mà chư Phật và chư tổ đã để lại. Vì vậy mà vai trò của người làm công tác nghi lễ ngày nay là rất quan trọng, làm thế nào để người nghe có thể hiểu được giáo lý của Phật đà bên cạnh đó vẫn giữ gìn được truyền thống cao đẹp của chư tổ ngày xưa. Đối với nghi lễ Phật giáo hình thức rất cần thiết nhưng nội dung là quan trọng vì nó thể hiện cái hồn của Phật giáo. 3.3. Nghi lễ thể hiện tính văn hóa của Phật giáo và dân tộc Việt Nam Nói đến nghi lễ là nói đến một hình thái văn hóa, nét văn hóa đó thể hiển trong nếp sống từ gia đình cho đến xã hội, chứ không chỉ đơn thuần là nghi lễ cúng bái trong các tự viện. Khi Phật còn tại thế, ngài đã khéo léo dùng vô số phương tiện để hóa độ chúng sanh trên tinh thần “tùy duyên bất biến”. Chư tổ đã tiếp nối không ngừng tùy thuận với tín ngưỡng tâm linh của quần chúng nhân gian để ứng dụng vào việc tùy duyên giáo hóa. Nghi lễ thể hiện tính văn hóa của Phật giáo và dân tộc là sự giao lưu của hai nền văn hóa Phật giáo và văn hóa dân tộc Việt Nam với nhau. Thông qua giao lưu đã xảy ra sự tiếp biến của hai nền văn hóa, Phật giáo tùy thuận với tín ngưỡng dân gian Việt Nam nhưng bên cạnh đó văn hóa dân tộc Việt Nam đã tác động ngược lại với văn hóa Phật giáo. Sự tiếp biến ở đây thể hiện ở kiến trúc chùa chiền, điêu khắc tranh tượng, lối sống đạo đức, nghi thức cúng bái… nhưng phải nói rằng nét nhạc cổ điển truyền thống đã đi vào nghi lễ của Phật giáo một cách rõ rệt nhất được gọi là nghi lễ truyền thống. Nét nhạc cổ điển của Phật giáo Việt Nam tùy theo từng vùng miền, từng dân tộc mà thích ứng với vùng miền dân tộc ấy tạo nên nét văn hóa Phật giáo hòa quyện vào văn hóa dân tộc. Các nghi lễ miền Bắc dính dáng đến văn hóa Trung Hoa rất nhiều, bên cạnh đó giọng tụng niệm của miền Bắc lại mang phong cách của ca trù, hát chèo, chầu văn, quan họ. Khi Phật pháp được lưu truyền đến Huế thì Phật pháp ở cố đô Thăng Long đã thịnh hành một thời gian khá dài rồi. Miền Trung thì thời tiết khắc nghiệt, con người phải có năng lực phi thường, chịu khó học hành, có sự thích nghi theo hoàn cảnh thì mới sinh tồn được. Khi Phật giáo đến Huế thì hội nhập cùng văn hóa cung đình và văn hóa Chăm Pa nên nghi lễ Phật giáo mang nét uyển chuyễn của dòng sông Hương hiền hòa thơ mộng. Đi vào miền Nam qua đèo Hải Vân – Đà Nẵng thì ảnh hưởng văn hóa Chăm Pa nên lễ nhạc Phật giáo có nét đượm buồn. Đến Bình Định – Phú Yên lễ nhạc mang tính thê lương vì cuộc sống khắc khổ. Miền Nam là vùng đất mới có âm hưởng mới mẻ đặc biệt là dân ca cải lương in đậm vào nghi lễ cúng bái của người dân cũng như nghi lễ của Phật giáo. Nếu văn hóa cồng chiên của Tây Nguyên được xem là di sản văn hóa phi vật thể của thế giới thì văn hóa Phật giáo cũng có văn hóa riêng. Trong một pháp hội của Phật giáo ta thấy có không gian văn hóa đó chính là dưới mái chùa, hình thức và nội dung của nghi lễ Phật giáo bao gồm văn hóa vật thể và phi vật thể. Văn hóa vật thể ở đây là các pháp khí như: tượng, chuông, trống, mõ, tang đẩu, linh, khánh, pháp phục… văn hóa phi vật thể như: triết lý của Phật giáo thể hiện trong nội dung tụng niệm, giọng điệu tụng niệm, cách thức hành lễ…những điều đó không những là văn hóa của Phật giáo mà còn là văn hóa của dân tộc Việt Nam nữa. Chính vì vậy mà nét văn hóa Phật giáo và nét văn hóa dân hóa hòa quyện vào nhau đến nỗi bây giờ nếu ai đó muốn đi tìm lại nét văn hóa dân tộc cứ đi vào những nơi chùa chiền nơi đó sẽ còn lưu giữ văn hóa một thời của cha ông. Giữ gìn bản sắc văn hóa Phật giáo Việt Nam cũng chính là bảo vệ giữ gìn nét văn hóa dân tộc Việt. Vì thế mà Phật giáo và dân tộc luôn luôn đồng hành qua bao thăng trầm của lịch sử, sự hòa quyện đó tạo nên nét độc đáo của đạo Phật ở Việt Nam được gọi là Phật giáo Việt Nam. 3.4. Nghi lễ Phật giáo là một phương tiện hữu hiệu nhất trong hoằng pháp KẾT LUẬN Đạo Phật không phải là một tôn giáo chỉ chú trọng về phương diện nghi lễ, đó là phương tiện hoằng pháp hữu hiệu để đưa người vào đạo Phật một cách dễ dàng. Nghi lễ còn là sự biểu hiện của nét văn hóa Phật giáo cùng với nền văn hóa của Việt Nam tạo nên bản sắc văn hóa Phật giáo Việt Nam. Nghi lễ Phật giáo là một pháp môn tu tập cũng có tác dụng chuyển hóa khổ đau. Vì thế, Nghi lễ cũng là vấn đề quan trọng và có nhiều lợi lạc trong đạo Phật. Vậy kẻ hành giả cần phải học tập và hiểu rõ ý nghĩa những vấn đề thuộc về nghi lễ trước khi hành lễ. Cần tránh những tiêu cực, rườm rà trong sự tổ chức, cho đến hình thức cũng như nội dung để phù hợp với thời đại nhưng không đánh mất bản sắc văn hóa Phật giáo Việt Nam. Trong tiến trình truyền bá, giao lưu và phát triển của đạo phật thì nghi lễ Phật giáo Việt Nam nói riêng và nghi lễ Phật giáo nói chung là vô cùng cần thiết.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét