THÍCH TÂM TRỌNG
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT
Thứ Năm, 13 tháng 12, 2012
Thực tập chánh niệm để hiểu & thương
Thực tập chánh niệm để hiểu & thương
Giác Ngộ - Chánh niệm có thể chuyển hóa tất cả các mối quan hệ cá nhân. Khi né tránh sự đau khổ, có nghĩa là chúng ta ruồng bỏ những người thân cũng như chính chúng ta. Nhưng khi nhìn vào bất cứ những điều gì nảy sinh bên trong chúng ta một cách chánh niệm và từ ái là chúng ta có thể hiện diện một cách đích thực và sống động với chính mình và với người khác.
Trải nghiệm nhiều năm, tôi đã đi đến kết luận rằng: Con người, về cơ bản, là xung khắc với nhau. Chúng ta là những cá nhân khác biệt, có thời thơ ấu khác nhau, và ở bất kỳ mọi thời điểm nhất định, tư tưởng và cảm xúc của chúng ta chắc chắn không giống với tư tưởng và cảm xúc của bất cứ người nào khác, thậm chí ngay cả những người gần gũi nhất và thân thiết nhất. Chúng ta được tạo ra bởi những khác biệt về cấu trúc gien, điều kiện và hoàn cảnh của cuộc sống, đấy là một sự nhiệm mầu mà chúng ta có được.
Tuy nhiên, chúng ta mong muốn được kết nối với người khác. Ở mức độ sâu sắc thì được kết nối là bản chất của chúng ta - điều mà HT.Thích Nhất Hạnh gọi là tồn tại trong nhau (interbeing). Chúng ta được liên kết một cách chặt chẽ với nhau. Tuy nhiên, sự trải nghiệm trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta, ở một góc độ nào đó, nó nói với ta điều ngược lại. Chúng ta đau khổ vì những mối bất hòa, những sự va chạm trong các mối quan hệ xã hội. Điều này đặt ra một vấn đề nan giải của cuộc sống: "Làm sao tôi có thể có được tiếng nói chân thực mà vẫn cảm thấy thân thiết với bạn bè và những người thân yêu của tôi? Làm sao tôi có thể thỏa mãn những nhu cầu cá nhân trong sự gò ép của gia đình và nền văn hóa trong xã hội?".
Theo kinh nghiệm của tôi, trong vai trò một nhà trị liệu, tôi nhận thấy rằng điều đau khổ nhất trong các mối quan hệ xuất phát từ việc không có được những sự kết nối với nhau. Không kết nối với nhau là một sự đổ vỡ trong cảm giác về sự phụ thuộc lẫn nhau, như nhà tâm lý học Janet Surrey đã diễn tả về điều này: "Chúng ta" trở thành "tôi" và "bạn". Một vài sự không kết nối thể hiện quá rõ ràng, chẳng hạn như cảm giác của sự phản bội mà chúng ta cảm nhận khi khám phá ra người bạn đời của mình không chung thủy. Những thứ khác có thể khó nhận dạng hơn. Sự không kết nối tinh tế có thể xảy ra, chẳng hạn như nếu một cuộc đàm luận bị cắt ngang bởi có một người đang trả lời điện thoại di động, hoặc là một đầu tóc mới mà không được ai chú ý đến, hoặc là khi một người vợ/chồng ngủ trước, để lại người kia cô đơn trong bóng đêm. Hầu như chắc chắn rằng, sự không kết nối với nhau xuất hiện khi mà hai người tự nhận thấy rằng họ đang nói mãi hoài về mối quan hệ giữa họ và về việc nó đang diễn ra như thế nào.
Đức Phật đã dạy thực tập ‘tâm xả’ khi đối diện với khổ đau. Trong các mối quan hệ, xả có nghĩa là chấp nhận nguy cơ khó tránh khỏi những sự chia lìa khổ đau và sử dụng chúng như là một cơ hội để tìm cách vượt qua những cảm xúc khó chịu. Chúng ta có bản năng tránh những điều không dễ chịu, và điều này thường diễn ra một cách vô thức, chúng ta không ý thức rõ về nó. Khi nhận thấy những điều không dễ thương ở trong tâm - lo sợ, tức giận, ghen ghét, xấu hổ, căm phẫn - chúng ta có xu hướng né tránh chúng và hướng sự chú ý của mình đến những nơi khác. Những sự phủ nhận về điều chúng ta cảm nhận, hoặc là phóng chiếu những nỗi lo sợ, lỗi lầm của mình lên những người khác, chỉ tạo nên một vết rạn nứt giữa chúng ta với những người mà chúng ta muốn được gần gũi mà thôi.
Thực tập chánh niệm, một phương pháp sâu sắc để tiếp xúc với những thời điểm không dễ chịu trong cuộc sống, là một công cụ mạnh mẽ để loại bỏ các chướng ngại và tái lập niềm hạnh phúc trong các mối quan hệ. Chánh niệm bao gồm cả sự tỉnh thức và sự chấp nhận những cảm xúc trong hiện tại. Một số nhà tâm lý học, trong số đó có Tara Brach và Marsha Linehan, đã nói về sự ‘chấp nhận căn nguyên’ để nhấn mạnh khả năng bẩm sinh của chúng ta đối với việc ôm lấy cả những xúc cảm tích cực lẫn tiêu cực. Sự chấp nhận trong trường hợp này không có nghĩa là sự khoan dung, tha thứ cho hành vi lạm dụng. Đúng hơn, sự chấp nhận ở đây có nghĩa là thừa nhận một cách đầy đủ rằng chúng ta đang cảm nhận sự đau đớn nhiều như thế nào tại một thời điểm nhất định, điều này chắc hẳn sẽ dẫn đến sự tăng cường sức mạnh và những thay đổi có tính sáng tạo.
Một trong những thách thức lớn nhất đối với một nhà tâm lý học, mà cụ thể là một nhà trị liệu bằng liệu pháp hướng đến sự chánh niệm, là việc nhấn mạnh để cho các thân chủ thấy được sự cần thiết phải hướng vào những cảm xúc khó chịu của họ và chú tâm vào chúng một cách trực tiếp thay vì tìm cách né tránh. Nếu chúng ta nhìn vào nỗi đau một cách chánh niệm và từ ái, nỗi đau ấy sẽ thay đổi một cách tự nhiên. Hãy xem điều gì đã xảy ra đối với một đôi vợ chồng mà tôi đã làm việc với họ trong liệu pháp cặp đôi.
Suzane và Micheal đã sống trong "địa ngục lạnh". Những đôi vợ chồng sống trong địa ngục lạnh là những đôi vợ chồng bất mãn và luôn nghi ngờ về nhau, tiếp xúc với nhau một cách lạnh lùng, điều chỉnh ngữ điệu của họ một cách thận trọng. Một số đôi vợ chồng có thể duy trì tình trạng này trong vài năm, bị đóng băng trên bờ mé của sự ly hôn.
Sau 5 tháng trị liệu không thành công, gặp nhau hai tuần một lần, Suzane quyết định là đã đến lúc để viết đơn ly hôn. Suzane dường như thấy rõ là Micheal sẽ không bao giờ thay đổi - rằng anh ta không thể nào làm việc ít hơn 65 giờ mỗi tuần và chăm sóc bản thân (anh ấy mập hơn mức bình thường 50 pound và nghiện hút thuốc). Và điều đáng buồn hơn cho Suzane là Micheal thật sự không hề cố gắng để vun đắp cho cuộc hôn nhân của họ. Họ hiếm khi đi chơi và đã không có một kỳ nghỉ nào với nhau trong hai năm rưỡi. Suzane cảm thấy cô đơn và bị chối bỏ. Micheal thì cảm thấy mình không được vợ đánh giá cao về việc anh ta phải làm việc rất chăm chỉ để lo cho gia đình.
Việc Suzane nhắm đến sự ly hôn là một bước ngoặt - nó đã đem đến cho họ "món quà của sự chia rẽ". Ở lần đầu tiên, Micheal dường như sẵn lòng khám phá chỉ duy nhất một điều là cuộc sống của anh ta đã trở nên đau khổ như thế nào. Trong suốt phần một của chương trình trị liệu, khi họ đang thảo luận về một trận bão tuyết lớn ở khu vực Denver, Micheal đã nhắc đến chuyện người bố 64 tuổi của mình đã bỏ lỡ ngày làm việc đầu tiên của ông ở tuổi 20. Tôi đã hỏi Micheal rằng:
- Điều đó có ý nghĩa gì với anh?
Đôi mắt của anh ta ướt đẫm nước mắt. Micheal đã nói là anh ta muốn cha anh ấy có thể vui hưởng cuộc sống nhiều hơn nữa. Tôi hỏi rằng:
- Micheal, anh đã có bao giờ mong muốn điều tương tự cho chính mình?
- Tôi sợ, tôi sợ những điều đó sẽ xảy ra nếu tôi không làm việc nữa. Thậm chí tôi sợ cả việc ngừng lo lắng về công việc của mình, sợ rằng tôi có thể bỏ qua những điều quan trọng mà chúng có thể khiến cho toàn bộ sự kinh doanh của tôi sụp đổ ngay trước mắt - anh đáp lại.
Với điều này, một tia sáng đã lóe lên cho Suzane, nên cô ta hỏi:
- Có phải điều đó đã khiến cho anh bỏ lơ em, bỏ lơ các con và thậm chí là không quan tâm đến bản thân?
Micheal chỉ gật đầu, bấy giờ nước mắt của anh tuôn trào.
- Ôi, Trời ơi! Suzane thốt lên, em đã nghĩ là mọi vấn đề đều do em mà ra - rằng em không tốt cho lắm, rằng em đã đem đến cho anh nhiều phiền toái. Cả hai chúng ta đều lo âu, chỉ có điều là theo những hướng khác nhau. Anh lo sợ về công việc của anh, em lo sợ về hôn nhân của chúng ta.
Cảm giác đau khổ về sự không kết nối giữa Micheal và Suzane trong nhiều năm đã bắt đầu tan biến đi.
Ngay lúc khởi đầu trong những phần trị liệu của chúng tôi, Micheal đã ý thức rõ về việc quá chú trọng vào công việc của anh. Thậm chí anh nhận ra rằng anh đã bỏ lơ gia đình như thể chính anh đã bị cha mình bỏ lơ. Nhưng Micheal đã cảm thấy bất lực trong việc đảo ngược lại sự dịch chuyển nỗi đau khổ giữa hai thế hệ này. Điều đó đã bắt đầu thay đổi khi anh cảm nhận sự đau khổ của vụ ly hôn sắp xảy ra. Micheal thừa nhận là cuộc sống của anh đã trở nên rất bất hạnh, và cảm thấy thương cho cha mình rồi sau đó là thương cho bản thân.
Suzane thường than phiền là Micheal đã không quan tâm đúng mức đến hai đứa con của họ. Nhưng đằng sau những lời than phiền của cô là một sự mong ước - không giống với niềm mong ước của người mẹ đối với những đứa con của mình - rằng Micheal quan tâm đến cô trước nhất khi anh đi làm về, và sau đó vui đùa với các con. Suzane cảm thấy xấu hổ bởi niềm khát vọng này. Cô nghĩ rằng điều đó là ích kỷ và cô là một người mẹ tồi. Nhưng khi cô có thể thấy nó như là biểu lộ bình thường của sự mong muốn được thân thiết với chồng, cô đã có thể nói lên lời yêu cầu của mình một cách cởi mở và tự tin. Micheal đã sẵn sàng để đáp lại yêu cầu đó.
Với một ít tự chấp nhận và thương chính mình đã cho phép cả Suzane và Micheal chuyển hóa những tình cảm tiêu cực của họ. Trong các mối quan hệ, đằng sau những cảm xúc mạnh mẽ như sự xấu hổ, tức giận thường là tâm trạng "em/anh nhớ anh/em vô cùng". Người ta dễ cảm thấy khó chịu và đau khổ khi không thể chia sẻ những điều thông thường nhất của sự tồn tại của mình với những người thân yêu.
Tất cả chúng ta đều có những sự nhạy cảm riêng - "những nút nóng" - và chúng được kích hoạt trong các mối quan hệ thân thiết. Thực tập chánh niệm giúp cho chúng ta nhận diện chúng và tách chúng ra khỏi những phản ứng theo thói quen của mình, nhờ vậy mà có thể tái lập sự kết nối với người bạn đời. Chúng ta có thể quán sát một cách chánh niệm vào những rắc rối tái diễn với thủ thuật qua bốn bước đơn giản như sau: (1) cảm nhận sự đau khổ do không nối kết, (2) chấp nhận rằng sự đau khổ ấy là tự nhiên và là dấu hiệu rõ ràng của sự không nối kết, cần thiết phải thay đổi, (3) quan sát những vấn đề cá nhân hoặc những niềm tin khởi lên bên trong chúng ta một cách từ ái, (4) tin tưởng rằng một sự phản ứng khéo léo sẽ phát sinh đúng lúc.
Chánh niệm có thể chuyển hóa tất cả các mối quan hệ cá nhân. Khi né tránh sự đau khổ, có nghĩa là chúng ta ruồng bỏ những người thân cũng như chính chúng ta. Nhưng khi nhìn vào bất cứ những điều gì nảy sinh bên trong chúng ta một cách chánh niệm và từ ái là chúng ta có thể hiện diện một cách đích thực và sống động với chính mình và với người khác
Thức Xoa Ma Na Ni Giới
Mục Lục
I. Lời Nói Đầu
II. Tựa
III. Giới Bản Thức Xoa Ma Na Ni Giới
A. Một, Học Căn Bản
B. Hai, Học Sáu Pháp
C. Ba, Học 292 Hành Pháp
D. Cách Sám Hối 292 Hành Pháp
Ghi Sau Khi Duyệt Thức Xoa Ma Na Ni Giới
Xin ghi rõ ở đây về chính văn mà tôi căn cứ để dịch Thức xoa ma na ni giới. Chính văn ấy có tên là Thức xoa ma na ni giới bản, nằm trong Tục tạng kinh bản chữ Vạn, tập 64, các trang 97 - 104. Trong lời nói đầu tôi đã quên ghi như vậy.
Kế đến, chính ở Thức xoa ma na ni giới này mà những lời nguyên chú của tác giả đem lại cho ta một số hiểu biết hơn về Tỷ kheo giới, nhất là Tỷ kheo ni giới.
Mười hai tháng 5, 2537 (1993).
Trí Quang
Lời Nói Đầu
Phật không tự động chế ra giới điều. Mỗi giới điều là do một trường hợp. Trường hợp nhiều khi khác nhau mà giới điều không khác. Nên thật ra giới điều có thể qui nạp lại được. Tức như cái số 292 của Thức xoa giới có thể qui nạp còn quá nửa mà thôi.
Thế nhưng giới điều nhiều đến mấy đi nữa, chỉ cần thiểu dục tri túc đi đôi với tàm quí là giữ được trọn vẹn.
Nếu gặp nghịch cảnh, to lớn cũng như vụn vặt, thì nên niệm Phật. Nên đi như Phật đi, đứng như Phật đứng, nhìn như Phật nhìn, nói như Phật nói (Đại ái đạo, chính 24/951).
Thức xoa cũng được Phật gọi là người con gái của dòng họ Thích. Thức xoa hãy làm cho tiếng gọi ấy linh thiêng suốt đời mình, đừng bao giờ để tiếng gọi ấy biến thành mỉa mai.
Mồng 7 tháng 6, 2535 (1991)
Trí Quang
Tựa
Giáo dục thế gian thì lễ nghi đi trước, qui tắc xuất thế thì giới luật đứng đầu. Phi lễ nghi thì không có gì để trở thành hiền trí, có giới luật thì mới có thể đi mau đến bồ đề. Thế nên đại kinh đã dạy giới là thang là thuyền của hết thảy đạo quả, cũng là rễ là gốc của tất cả thiện báo. Nếu không giữ giới luật thì làm sao sẽ thấy Phật tánh. Chúng sinh tuy có Phật tánh, nhưng phải giữ giới thì sau đó mới thấy. Thấy Phật tánh mới thành vô thượng bồ đề.
Vì lý do ấy mà đại thừa tiểu thừa cùng thọ giới pháp, 5 chúng xuất gia cùng tuân giới luật. Nhưng thời này là mạt pháp, người ta đa số ưa lãnh thọ mà bỏ chấp trì, bước lên phẩm bậc của giới pháp mà rồi biến phẩm bậc ấy thành ra cái phao rách nát trong biển khổ. Cũng có kẻ đem cái tuệ cuồng si mà nói lếu láo về bát nhã, khinh chê tỳ ni, làm cho những kẻ ngu ngơ bắt chước, những người đi sau mất cả cửa ngõ.
Như lai hóa đạo cho mọi căn cơ, giáo pháp thì thiết 3 thừa, giới pháp thì lập 5 chúng. Riêng nữ giới căn tánh hơi chậm, phiền não lại dày, nên đức Như lai chế định 6 pháp, dạy họ phải 2 năm học trước mọi giới pháp và oai nghi của đại ni; khi giới thể tuần tự thành tựu mới cho phép lãnh thọ cụ túc giới. Tuy chế định như vậy, nhưng chỗ dựa của họ phải lấy bậc đại ni rành luật mà làm thầy. Có điều bậc đại ni ấy lại không được phép nói cho cái tên của 5 thiên 7 tụ, chỉ được phép nói cho các giới pháp và oai nghi về bất dâm, bất đạo, và những giới điều đồng đẳng.
Điều đáng than là mạt pháp ít gặp đại ni, biết luật càng ít. Như vậy họ đã không được trực tiếp giáo thọ, lại không được đọc đến giới văn, không còn do đâu để biết thế nào là giữ giới, thế nào là phạm giới; giả sử có cái chí hướng thượng cũng không có cái chỗ để đặt chân.
Do vậy, tôi kê cứu các luật bản, biên tập giới pháp mà họ phải học. Để những kẻ có tàm quí, muốn học giới, có thể học mà tập theo thì gian.
Niên hiệu Thuận trị, năm canh dần, tháng đầu mùa hạ, sa môn đại bồ đề tâm Hoằng tán ghi.
Thức Xoa Ma Na Ni Giới
Hòa thượng Thích Trí Quang dịch giải
--- o0o ---
Giới Bản Thức Xoa Ma Na ni
51.- Không được ngủ một nhà với người nam.
52.- Không được cùng với người nữ chưa thọ đại giới ngủ chung một nhà mà quá 3 đêm. (Tăng kỳ luật nói đại ni được ngủ với thức xoa ma na 3 đêm, thức xoa ma na được ngủ với sa di ni 3 đêm).
53.- Không được cùng với người chưa thọ đại giới đọc tụng kinh pháp. (Tứ phần luật không cho cùng người chưa thọ đại giới đọc tụng kinh pháp, các luật khác không cho đối diện với người chưa thọ đại giới mà nói về đại giới ấy. Ở đây thức xoa ma na không được nói với sa di ni và người tại gia).
54.- Nếu biết người khác có tội lỗi nặng thì không được nói với người chưa thọ đại giới. (Nếu chư tăng kiết ma sai nói thì không phạm).
55.- Không được nói những pháp hơn người với người chưa thọ đại giới. (Là thật tự chứng được thiền định, giải thoát, tam muội, sơ quả cho đến tứ quả, cũng không được nói với người chưa thọ đại giới).
56.- Không được nói pháp cho người nam quá năm sáu lời. (Năm là 5 ấm, sáu là 6 căn hay trần, hoặc còn có những lời tương ứng với năm sáu pháp khác. Nếu bên cạnh có người nữ trí thức thì nói quá hơn cũng không phạm).
57.- Không được tự tay đào đất hay bảo người đào.
58.- Không được hủy hoại thôn xóm của quỉ thần. (Hết thảy cỏ cây đều là chỗ quỉ thần nương ở, như là thôn xóm của người vậy, nên không được thương tổn, hủy hoại. Cho đến tất cả cây sống đều không được thương tổn, hủy hoại).
59.- Không được bày đặt nói quanh để làm người khác bực mình. (Là khi người đúng phép hỏi mình, mình không thích, nên đem sự việc khác mà trả lời, làm cho họ phát bực).
60.- Không được ghét mắng người khác. (Là mắng trước mặt hay mắng sau lưng).
61.- Nếu đem đồ của chư tăng như giường giây, giường cây, đồ nằm, nệm ngồi, tự mình sắp ra trên mặt đất trống hay bảo người sắp ra, thì khi đi phải tự xếp cất hay bảo người xếp cất.
62.- Nếu sắp đồ nằm của chư tăng ra trong tăng phòng, tự mình sắp ra hay bảo người sắp ra, thì khi đi phải tự xếp cất hay bảo người xếp cất.
63.- Nếu biết chỗ của người ở trước, mình đến sau, thì không được trải đồ nằm ra ở giữa mà ngủ nghỉ, ý muốn họ hiềm chật quá mà tự tránh đi.
64.- Không được tức giận không vui với người khác, nên trong phòng của chư tăng mà tự lôi họ ra hay bảo người lôi ra.
65.- Không được ở trên gác mà nằm ngồi trên giường giây giường cây sút chân. (Sút chân là chân ghép, chân lỏng; gác không chắc chắn thì rơi xuống làm người bị thương).
66.- Nếu biết nước có trùng thì không được tự dùng dội trên đất trên cỏ, hay bảo người dội. (Các việc rửa, giặt, v/v, cũng gọi là dùng).
67.- Nếu làm phòng lớn, có cửa cánh, cửa sổ, và những đồ trang trí khác, thì nên chỉ bảo lợp tranh chừng hai ba bậc, không được quá. (Hai ba bậc là hai ba lớp).
68.- Nếu thí chủ cúng một bữa ăn thì, không bịnh, nên ăn 1 bữa, không được quá. (Thí chủ vì cầu phước nên dựng nhà, cúng thức ăn, nhưng không thể cúng nhiều, nên chỉ cúng một bữa, mời một đêm).
69.- Không được ăn riêng tăng chúng. (Nếu khi bịnh, khi may y gấp, khi có người dâng y, khi đi đường, khi đi thuyền, khi đại hội, khi sa môn ngoại đạo mời ăn, đều không phạm).
70.- Nếu không bịnh, đến nhà thí chủ, họ xin cúng thức ăn, thì không được nhận quá vài ba bát, và về chùa không được không chia cho các vị khác cùng ăn.
71.- Không được ăn đồ cách đêm. (Là ngày nay nhận, cất đến ngày mai ăn).
72.- Không được thức ăn hay thuốc mình không nhận lời mời mà đã bỏ vào miệng. (Trừ nước và tăm, không nhận lời mời cũng không phạm. Chiếu theo Tứ phần luật thì cho thức xoa ma na tự tay lấy thức ăn và trao thức ăn cho ni. Tăng kỳ luật cũng cho cùng đại ni trao thức ăn. Trừ hỏa tịnh, sinh chủng, lấy vàng bạc tiền, còn thức xoa ma na nhận thức ăn từ nơi sa di ni).
73.- Nếu trước đã nhận lời mời rồi, thì không được đến giờ bữa ăn trước và bữa ăn sau đi đến nhà khác mà không dặn ni khác. (Trừ lúc bịnh, lúc may y, lúc cho y, không dặn cũng không phạm. Bữa ăn trước là từ lúc trời sáng cho đến giờ ngọ, bữa ăn sau là giờ ngọ).
74.- Nếu trong nhà ăn có vật báu thì không được miễn cưỡng ngồi dai. (Nhà ăn là nhà mà chồng vợ có dục ý, muốn làm sự bất tịnh, thì mình không được miễn cưỡng ngồi dai, trở ngại cho họ).
75.- Nếu trong nhà ăn có vật báu thì không được ngồi chỗ khuất.
76.- Không được một mình cùng với người nam ngồi chung một chỗ ở đất trống.
77.- Nếu hứa trước với người khác cùng đến xóm làng thì kiếm thức ăn cho, nhưng rồi không khuyên cúng thức ăn, lại bảo: tôi với chị ngồi hay nói với nhau một chỗ thì tôi không ưa; tìm cách xua đuổi người ta như vậy thì phạm tội.
78.- Nếu thí chủ xin cho thuốc 4 tháng, thì không bịnh cũng nên nhận, nhưng không được nhận quá thì hạn ấy. (Trừ ra họ xin cho luôn, xin cho thêm, xin chia mà cho, xin cho suốt đời, thì không phạm. Nếu 1 tháng, 2 tháng, 3 tháng, tùy người ta xin cho bao lâu mà nhận, không được hết thì hạn lại đến lấy nữa).
79.- Không được đi coi quân trận. (Trừ lý do có mời gọi thì không phạm).
80.- Nếu có lý do thì được đến trong quân đội tá túc 2 đêm 3 đêm mà không được quá hơn. (Dẫu vì duyên sự Tam bảo cần đến tá túc trong quân đội, thì 1 đêm rồi việc là về; nhiều lắm là 3 đêm, không được quá hơn).
81.- Khi tá túc trong quân đội 2 đêm 3 đêm thì không được coi quân đội dàn trận, không được coi lực lượng tượng binh k?inh diễn tập.
82.- Không được giỡn dưới nước.
83.- Không được lấy ngón tay thọc léc người khác. (Là lấy ngón tay gải hay ngoáy vào da thịt chỗ mẫn cảm, làm cho người khó nhịn mà phát cười).
84.- Không được không chấp nhận mọi sự khuyên can.
85.- Không được dọa cho người ta sợ.
86.- Nếu nửa tháng tắm rửa, không bịnh thì nên nhận như vậy, không được quá hơn. (Trừ khi nóng, khi bịnh, khi làm việc, khi gió lớn, khi mưa, khi đến từ đường xa).
87.- Nếu không bịnh thì không được đốt lửa giữa đất trống hay bảo người đốt. (Trừ vì người bịnh mà nấu ăn, hun bát, nhuộm y, thắp đèn, đốt hương, v/v, thì không phạm).
88.- Không được tự mình hay bảo người cất giấu vật dụng của người khác như y, bát, đồ ngồi, ống kim, dầu chỉ để giỡn chơi. (Ngoài mấy vật trên, mọi vật khác nữa cũng không được cất giấu, trừ ra sợ mất sợ hỏng nên tạm cất giúp, và đưa lại ngay).
89.- Nếu tịnh thí y cho người khác rồi, sau đó không hỏi người chủ của y ấy thì không được lấy mặc. (Tịnh thí ở đây là tịnh thí thật sự cho người khác. Nếu tịnh thí triển chuyển, thì, theo phép, có thể mặc tùy ý, không cần hỏi người chủ).
90.- Nếu được y mới thì phải nhuộm bằng 3 thứ làm hỏng nguyên màu đi, đó là màu xanh, màu đen, màu nấu vỏ cây mộc lan. Không làm như vậy thì không được dùng. (Trong 3 màu, tùy ý dùng 1 màu. Nếu được cái y mới có màu sắc đúng phép rồi thì cũng nên điểm tịnh mà dùng. Cho đến đãy, giây lưng, mão, tất, khăn, v/v, đều phải điểm tịnh cả).
91.- Nếu biết nước có trùng thì không được uống. (Phải lọc kyլ nhìn kyլ không trùng mới dùng).
92.- Không được cố quấy rối người khác, dầu chỉ làm cho họ chốc lát không vui.
93.- Nếu biết người có lỗi thì không được che giấu giúp. (Giới thứ 2 ở trước là che giấu tội nặng, giới này che giấu tội nhẹ).
94.- Nếu biết sự việc tranh cãi đã sám hối đúng phép rồi, thì sau đó không được khơi dậy trở lại.
95.- Nếu biết là giặc thì không được cùng đi một đường, dầu chỉ bằng đến thôn xóm.
96.- Nếu phát sinh kiến thức ác hại, nói rằng theo tôi biết giáo pháp Phật nói thì hành dâm không phải là sự chướng đạo; nói như vậy mà được can gián thì phải xả bỏ tức khắc.
97.- Nếu biết đó là người không chịu xả bỏ kiến thức ác hại và sai lầm, chư tăng chưa tác pháp kiết ma giải tội cho, thì mình không được chứa chấp, ngủ chung.
98.- Nếu biết đó là sa di ni có kiến thức ác hại, bị chư tăng trục xuất, thì mình không được chứa chấp, ngủ chung.
99.- Nếu khi được can gián đúng phép thì không được nói rằng tôi nay không học giới này, tôi sẽ gạn hỏi vị trì luật nào có trí tuệ.
100.- Khi nghe thuyết giới thì không được khinh chê giới pháp, nói rằng thuyết những giới điều vụn vặt ấy làm gì, chỉ làm cho người bực dọc, xấu hổ, thắc mắc mà thôi.
101.- Khi nghe thuyết giới thì phải chuyên nhất tâm trí, thâu nhiếp thính giác mà nghe cho kỷ
102.- Nếu cùng tăng chúng cho người ta đồ vật rồi, sau đó không được nói rằng vị đó theo bạn thân nên lấy vật của chư tăng mà cho họ.
103.- Nếu chư tăng xử việc chưa xong thì khi đó mình không được không dữ dục mà đứng dậy đi ra.
104.- Nếu dữ dục rồi sau đó không được hối tiếc.
105.- Không được lén nghe tranh cãi rồi sau đó đem lời ấy nói với người khác.
106.- Không được tức giận không vui mà đánh người khác.
107.- Không được tức giận không vui mà lấy tay tát người khác. (Tát là trương bàn tay ra mà đánh người).
108.- Không được tức giận không vui, đem sự vô căn cứ mà phỉ báng người khác. (Giới thứ 5 ở trước là phỉ báng tội nặng, giới này phỉ báng tội nhẹ).
109.- Nếu vua chưa ra khách, chưa cất bảo vật, thì không được vào quá ngưỡng cửa của cung vua.
110.- Nếu là vàng ngọc hay đồ trang sức bằng vàng ngọc thì không được cầm giữ hay bảo người cầm giữ. (Trừ trong chùa và chỗ ngủ nhờ, sợ mất đi nên lấy cất, nhưng phải biết và nhớ mà trả cho người chủ).
111.- Không được đi vào làng xóm không phải lúc mà không dặn lại ai cả. (Nên dặn đại ni, không có đại ni thì dặn người phạn hạnh đồng hàng, cho đến dặn sa di ni).
112.- Nếu làm giường giây giường cây thì chân chỉ cao bằng 8 ngón tay của Phật, không được quá hơn. (Một ngón tay của Phật dài bằng 2 tấc) (7) .
113.- Không được lấy bông đâu la độn nệm lót giường giây giường cây, hay độn ngọa cụ tọa cụ. (Bông đâu la là tên chung của hoa bạch dương, hoa dương liễu, hoa bồ đài).
114.- Không được ăn hành tỏi.
115.- Không được cạo lông 3 chỗ. (Là chỗ đại tiểu tiện, và dưới nách).
116.- Nếu dùng nước tác tịnh thì nên giới hạn 2 ngón tay, mỗi ngón 1 đốt, không được quá. (Nếu ở trong có trùng có rác phải kéo ra thì không phạm).
117.- Không được dùng những vật như hồ giao v/v mà làm nam căn.
118.- Không được cùng vỗ nhau (Dùng tay hay chân, hay nữ căn vỗ nhau, đều phạm tội).
119.- Nếu khi tỷ kheo không bịnh thì mình không được bưng nước, đứng trước mặt lấy quạt mà quạt.
120.- Không được xin lúa hay lúa mạch sống. (Cho đến đậu lớn, đậu nhỏ, và mè, đều không được phép xin. Trừ ra xin bà con quen biết hay người xuất gia, thì mình xin cho người, người xin cho mình, không xin mà được, đều không phạm).
121.- Không được đại tiểu tiện hay hỷ nhổ trên cỏ tươi. (Nếu có bịnh thì không phạm).
122.- Nếu sáng sớm, không ngó ngoài tường thì không được đổ bỏ đại tiện tiểu tiện. (Phải ngó ngoài tường không người mới đổ. Đổ những vật khác thì trước hết cũng phải dặng hắng, vỗ tay).
123.- Không được đi xem nghe kyՍ nhạc.
124.- Không được đi vào làng xóm mà cùng với người nam đứng và nói chuyện ở chỗ khuất. (Giới thứ 1 là cùng với người nam có ý dâm dục mà ở chỗ khuất đứng và nói chuyện. Giới này, và 2 giới tiếp theo, là cùng đứng và nói với người nam không có ý dâm dục).
125.- Không được cùng với người nam đi vào chỗ khuất và có vật ngăn che.
126.- Không được vào trong làng trong hẻm, bảo bạn đi xa đi, rồi cùng người nam ở chỗ khuất đứng chung và kề tai mà nói.
127.- Nếu vào ngồi trong nhà cư sĩ thì không được không nói với chủ nhân mà bỏ đi.
128.- Nếu vào trong nhà cư sĩ thì không được không nói với chủ nhân mà ngồi liền trên giường. (Trừ ra có chỗ thường ngồi, hoặc nhà thân thiết, hoặc trên đá, trên gỗ, trên đất cứng, trên thảm cỏ, hoặc bịnh, thì không phạm).
129.- Nếu vào nhà người, không nói với chủ nhân thì không được tự sắp liền chỗ mà ngồi, ngủ, nghỉ.
130.- Không được cùng người nam vào trong nhà tối.
131.- Không được không thẩm định lời nói mình tiếp nhận mà đã nói ngay với người khác.
132.- Nếu có lý do hay sự việc nhỏ nhặt thì không được thề liền rằng đọa ác đạo, không sinh trong Phật pháp. (Ấy là không nên thề thốt. Nếu có việc khó chịu đến với mình, nên nói nếu tôi có việc như vậy thì, "lạy Phật", nếu cô có việc như vậy thì, "lạy Phật").
133.- Không được tranh cãi với người khác vì không khéo nhớ sự việc tranh cãi, rồi đấm ngực khóc la.
134.- Nếu không bịnh thì không được 2 người nằm chung 1 giường.
135.- Không được nằm chung 1 nệm, cùng 1 chăn. (Nếu mỗi người sắp? riêng nhau, nếu trời lạnh mà chỉ có 1 chăn, thì được phép người nào cũng mặc áo lót mà nằm).
136.- Không được vì quấy rối mà tụng kinh, hỏi nghĩa và chỉ dạy trước mặt người ta.
137.- Nếu người sống chung bị bịnh thì không được không trông nom. (Sống chung ở đây là chung cùng lợi dưỡng).
138.- Nếu đầu an cư cho người ta đặt giường trong phòng mình, thì sau đó không được tức giận mà đuổi người ta ra. (Trừ người ta phạm giới, hoặc đáng trục xuất, thì không phạm).
139.- Không được mùa xuân, mùa hạ, mùa đông, tất cả các mùa đều du hành dân gian. (Trừ ra vì việc của Tam bảo và vì săn sóc bịnh nhân, thì được phép xuất giới 7 ngày mà đi, 7 ngày đủ rồi phải về ngay).
140.- Nếu kiết hạ an cư rồi không được không đi. (Vì thí chủ xin cúng dường an cư chỉ giới hạn đến hết an cư, nên phải ra đi, không được ở lại dầu chỉ 1 đêm. Nếu bị cản trở vì lý do bất khả kháng, nếu bịnh, nếu thí chủ xin cúng dường không giới hạn, nếu an cư ở chỗ không phải nhận lời mời, thì không đi cũng không phạm).
141.- Không được ngoài khu vức có chỗ nghi là đáng sợ mà vẫn đi vào dân gian. (Ngoài khu vức là chỗ xa thành ấp. Nếu bị mời gọi, nếu đến trước rồi mới nghi có sự đáng sợ xảy ra, thì không phạm).
142.- Không được trong khu vức có chỗ nghi là đáng sợ mà vẫn đi vào dân gian. (Trong khu vức là 4 mặt quanh thành).
143.- Không được thân thiết với cư sĩ và con cư sĩ, sống chung, rồi làm hạnh bất tùy thuận, can cũng không bỏ. (Thân thiết là luôn luôn nói cười với nhau, bỡn cợt với nhau).
144.- Không được đi coi hoàng cung với điện đường sơn vẽ, vườn rừng hồ tắm.
145.- Không được khỏa thân tắm trong nước sông, nước suối, nước hồ.
146.- Nếu làm khăn tắm thì phải dài bằng 6 gang tay của Phật, rộng bằng 2 gang rưỡi, không được quá hơn. (Khăn tắm là cái khăn che mình mà tắm rửa. Một gang của Phật tương đương 3 gang của người thường, và theo thước nhà Chu thì có 1 thước 8 tấc).
147.- Không được may y quá 5 ngày. (Nếu không có kéo, kim, chỉ, hay vải không đủ, cho đến có việc tai nạn, thì không phạm).
148.- Không được quá 5 ngày không coi sóc y. (Những vật cần dùng khác cũng phải 5 ngày coi sóc 1 lần, đừng để mất, sâu ăn, màu hỏng. Nếu chỗ cất chắc chắn, nếu người được gửi coi giúp, thì không phạm).
149.- Không được ngăn cản cúng y cho chư tăng. (Là thí chủ muốn cúng y cho chư tăng mà mình khuyên cúng thức ăn, đừng cúng y. Cũng không được cản trở những người khác cúng những vật khác).
150.- Nếu không hỏi người chủ thì không được tự tiện mang y của họ. (Trừ người thân thiết).
151.- Không được cầm y sa môn mà cho ngoại đạo hay cư sĩ. (Cư sĩ là người tại gia. Trừ ra cho cha mẹ, cho để người ta trả nợ. Nếu ai đến xin 1 miếng ca sa để trừ khử tai nạn, thì nên bảo tịnh nhân đưa cho).
152.- Nếu chư tăng chia y đúng phép, thì không được ngăn cản vì sợ đệ tử không được phần. (Thức xoa ma na không có phép nuôi đệ tử, nhưng cũng không được vì bạn thân mà ngăn cản).
153.- Không được có ý thức muốn hưởng lâu 5 sự nên làm cho chư tăng hiện không xả y công đức, để sau sẽ xả. (Tăng ni 2 chúng an cư xong rồi, ngày 16/7 cùng lãnh thọ y công đức. Lãnh thọ y này rồi, trong 5 tháng được hưởng 5 sự lợi ích: một là được cất giữ trường y, hai là được ngủ rời y, ba là được ăn riêng chúng, bốn là được ăn triển chuyển, năm là được ăn bữa ăn trước và bữa ăn sau, và đi vào làng xóm mà không cần dặn ai. Thức xoa ma na tuy không có y công đức, nhưng vì an cư theo đại ni, nên cũng nên có 5 sự lợi ích. Y công đức lãnh thọ từ ngày 16/7, đến ngày 15/12 chư tăng kiết ma mà xả).
154.- Không được có ý thức muốn hưởng lâu 5 sự nên ngăn cản tỷ kheo ni tăng xả y công đức.
155.- Nếu có ni khác nói với, rằng xin diệt trừ sự tranh cãi ấy cho tôi, thì thực thi phương tiện liền mà diệt trừ. (Nếu bịnh, nếu nói họ không nghe, nếu họ phá giới, v/v, thì không phạm).
156.- Không được tự tay đưa thức ăn cho cư sĩ và ngoại đạo ăn. (Nên nhờ người đưa mà cho, hoặc để trên chỗ để nào đó mà cho).
157.- Không được làm người sai sử cho cư sĩ. (Là lo liệu việc nhà của cư sĩ, hoặc xay giã, nấu ăn, sắp chỗ ngồi, lấy nước, quét đất, v/v. Nếu làm cho cha mẹ, cho nữ tín đồ tín tâm chân thành mà bị bịnh, cho người bị trói giam, thì không phạm).
158.- Không được tự tay xe chỉ đánh sợi. (Nếu tự tháo rã chỉ sợi, nối tiếp chỉ sợi, thì không phạm).
159.- Nếu vào nhà cư sĩ thì không được ngồi hay nằm trên giường lớn giường nhỏ của họ.
160.- Nếu đến nhà cư sĩ ngủ lại thì sáng ngày phải cáo từ chủ nhân mới đi. (Hoặc dặn cho người quen thân biết, hoặc có giặc, có rắn độc, có thú dữ, thì ra đi không phạm).
161.- Không được tụng tập chú thuật của thế tục, hoặc chỉ dạy cho người tụng tập.
162.- Nếu biết là người như vậy như vậy thì không được độ cho xuất gia. (Người như vậy như vậy là dâm nữ. Nếu người ấy có tín tâm lớn lao, chán bỏ nghề ác, thì nên đem đến chỗ cách năm sáu do tuần, giấu kyՠcho họ, phó thác cho đại ni giáo thọ. Thức xoa ma na tuy không có cái phép nuôi đệ tử, nhưng phải học trước việc này).
163.- Không được không có 2 năm theo hòa thượng ni. (Lãnh thọ đại giới rồi cũng cần phải có 2 năm theo thầy. Nếu thầy phá giới thì bỏ đi, không phạm).
164.- Nếu tỷ kheo ni tăng kiết hạ an cư rồi, không được không đến giữa tỷ kheo tăng, nói 3 sự thấy, nghe, nghi, để cầu tự tứ. (Phải học trước giới này. Tứ phần luật nói thức xoa ma na cũng theo ni chúng đến chỗ đại tăng mà xin tự tứ).
165.- Không được ở chỗ không có tỷ kheo mà kiết hạ an cư. (Vì sẽ không có giáo thọ, và nếu có gì hoài nghi thì không thể hỏi ai
Tiếp độ người chết
Có 3 giai đoạn : gần chết, lúc chết và sau khi chết.
I/ Gần chết :
Khi thấy người thân sắp chết, do bịnh hoặc già hoặc tai nạn v..v...Người nhà cần phải ở gần bên an ủi 4 điều chính giúp cho họ :
1/ Ðừng sợ chết: vì làm người ai cũng phải chết, và chết không phải là hết, đó chỉ là lìa bỏ cái thân mục nát này mà thôi.
2/ Sanh tâm lìa bỏ, nhàm chán thân tứ đại (đất, nước, gió, lửa), và xem nó như cái áo cũ rách.
3/ Sanh tâm lìa bỏ không quyến luyến gia đình quyến thuộc.
4/ Phát tâm nương cầu nơi Đức Phật A Di Ðà và cảnh Cực Lạc.
Lúc này trong gia đình nên giữ thanh tịnh, không nên ồn ào náo nhiệt hay cãi vã tranh chấp để cho tâm hồn người hấp hối được yên tâm ra đi.
II/ Trong lúc chết :
Khi người bệnh bắt đầu mê man bất tỉnh, chân tay lạnh dần, đó chính là dấu hiệu của sự chết. Lúc này bà con quyến thuộc không nên khóc than hay gào thét, làm như vậy chỉ bận tâm người chết, không được ích lợi gì mà có thể làm hại là đàng khác. Cách tốt hơn hết là bắt đầu tụng một thời Kinh Tịnh Ðộ hoặc Cầu Siêu. Ðến chỗ niệm danh hiệu Phật A Di Ðà thì niệm nhiều và lâu cho đến khi người bệnh hoàn toàn tắt thở thì tụng nốt phần cuối của Kinh.
Trong lúc tụng Kinh, tất cả người nhà phải thành tâm cầu nguyện đức Phật A Di Ðà đến tiếp dẫn người chết được vãng sanh Cực Lạc.
Sau thời Kinh chính, người nhà hãy luân phiên niệm Phật thêm khoảng 8 tiếng đồng hồ nữa. Trong thời gian này không nên đụng đậy hay xê dịch thân thể như dọn dẹp mền nệm, chùi rửa thay đổi áo quần (bởi vì thần thức người chết chưa ra khỏi thân). Sau khoảng 8 tiếng hãy tắm rửa thân thể (không bắt buộc), thay đổi áo quần và nhập liệm. Nếu muốn thay đổi quần áo mà thân thể người chết co quắp hoặc cứng đơ thì ta có thể xoa và chà alcool hay dầu nóng vào các khớp xương thì nó sẽ mềm ra.
Nếu xúc chạm thân thể quá sớm khi thần thức người chết chưa hoàn toàn rời khỏi thân, họ có thể bị xúc động và cảm thọ sự đau đớn, nhân đó mà sinh ra sân hận có thể đọa vào 3 đường ác (địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh).
III/ Sau khi chết :
Sau khi thân thể đã hoàn toàn cứng lạnh, thần thức coi như đã rời khỏi thân xác, giai đoạn này gọi là sau khi chết. Người chết nếu chưa được giải thoát thì phần nhiều phải trải qua một trạng thái tối tăm mờ mịt trong một thời gian khoảng 3 đến 4 ngày, rồi sau đó mới có cảm giác minh mẫn trở lại, khi đó họ bắt đầu bước vào cảnh giới Trung ấm (là giai đoạn giữa sự chết và đầu thai) và mang một cái thân gọi là thân Trung ấm. Thời gian sống của Trung ấm thân có thể kéo dài nhiều nhất là 49 ngày kể từ khi mới chết.
Thông thường người chết, khi thần thức đã rời khỏi thân, thường hay mê muội nên cứ đắn đo tự hỏi :"Ta đã chết hay chưa chết ?". Ở trong trạng thái mơ mơ màng màng này họ thấy được người thân và gia đình quyến thuộc, mỗi mỗi đều hiện ra trước mắt, nhưng mờ ảo giống như cảnh trong mộng. Trong cảnh giới Trung ấm, cứ sau mỗi 7 ngày là Thân Trung Ấm lại chết đi, sống lại, mê rồi lại tỉnh, tỉnh rồi lại mê. Bị gió nghiệp thổi đi đây đó một cách bất định. Trước mắt thường hiện ra những cảnh thiện, ác, sung sướng hay rùng rợn tùy theo nghiệp đã tạo trong lúc còn sống.
Ðặc biệt là bất cứ đang ở đâu, hễ nghe gọi đến tên mình là Thân Trung ấm (thần thức) liền trở về nhanh như chớp mắt. Do đó người nhà, trong vòng 3 ngày đầu (khi thi hài còn để ở nhà) nên luân phiên nhau mỗi ngày tụng một thời Kinh (Tịnh Ðộ hoặc Cầu Siêu), và thường xuyên niệm Phật ở gần người chết. Lại nữa, lâu lâu ngồi gần bên gọi tên người chết khuyên nhủ, nhắc nhở họ 4 điều :
1/ Lìa bỏ, nhàm chán thân tứ đại : Tên ... nghe đây, đừng luyến tiếc cái thân này nữa, vì thân này là nguồn gốc của mọi sự đau khổ, có thân nên có già, bệnh, chết. Vì thân này mà lúc sống đã làm nhiều điều ác. Do đó không nên luyến tiếc thân này nữa. Dù có luyến tiếc cũng không được, vì bây giờ nó đang hư thối mục nát, không thể dùng được.
2/ Lìa bỏ gia đình thân thuộc :
Tên (ông, bà, cha, mẹ....) nghe đây, không nên luyến ái, thương tiếc bà con bạn bè. Vì dù có muốn trở lại được sắc thân Tứ đại, thì đó chẳng qua trở lại chịu khổ sanh tử, luân hồi. Dù có trở lại đi nữa cũng không thể gặp lại bà con quyến thuộc, vì sẽ phải mang một xác thân khác. Vậy phải nên dẹp bỏ ý muốn được sống trở lại. Hãy nên yên lòng niệm Phật Di Ðà cầu Ngài cứu độ cho.
3/ Tất cả cảnh giới đang thấy đều là giả :
(Tên) nghe đây, tất cả cảnh giới đang nhìn thấy, dù sung sướng hay ghê rợn đều là giả, là ảo ảnh, đừng sanh tâm vui mừng chạy theo, cũng đừng sợ hãi bỏ chạy. Vì nó không thể làm hại được (Tên) đâu. Chỉ nên nhất tâm niệm Phật cầu Ngài đến cứu.
4/ Nương cầu nơi Phật A Di Ðà :
(Tên) nghe đây, tất cả cảnh giới đều là giả dối đau khổ, dính mắc. Chỉ có cảnh Cực Lạc của Phật A Di Ðà là hoàn toàn sung sướng không bao giờ chết. Vì vậy hãy chí tâm niệm Phật và nhớ tưởng đến Ngài, cầu Ngài đến tiếp dẫn về Cực Lạc. Nam Mô A Di Ðà Phật.
IV/ Cúng thất
Trong giai đoạn Trung ấm, cứ sau mỗi 7 ngày thì thần thức lại chết đi sống lại. Nếu có ai cúng cho ăn thì được hưởng (bầy đồ ăn mà không gọi tên thì thần thức không được hưởng), vì thế họ còn được gọi là hương linh (linh hồn sống bằng mùi hương). Do đó cứ sau mỗi 7 ngày thì người nhà tụng Kinh triệu thỉnh hương linh về (nếu chưa đi thọ thai) để vừa ăn vừa được nghe Kinh. Ðồ cúng cần phải thanh tịnh, tuyệt đối không nên giết heo, bò, gà, vịt, để cúng, nếu làm thế thì người chết phải bị tội thêm. Nên làm đồ chay thanh tịnh, 3 món là đủ không cần nhiều.
Thích
TIỂU THỪA VÀ ĐẠI THỪA
Tiết mục:
I. Ý nghĩa Tiểu-thừa, Đại-thừa
II. Khởi nguyên phân biệt giữa hai phái
III. Những điểm sai biệt của hai phái
IV. Dung hội các thừa
Kinh sách tham khảo: Kinh Diệu-Pháp-Liên-Hoa, Kinh Văn-Thù-Bát-Nhã, Kinh Tạp-A-Hàm, Trí-Độ-Luận, Nhập-Đại-Thừa-Luận, Ấn-Độ-Phật-Giáo-Sử Lược, Phật-Giáo-Khái-Luận.
Đề yếu: Ý nghĩa Đại, Tiểu-thừa và sự sai biệt giữa đôi bên, đã thường gây nhiều thắc mắc cho người sơ cơ học Phật. Để giải thích phần nào mối hoài nghi ấy, trong tiết thứ nhất thuộc bản chương đưa ra ba sự kiện: pháp môn, tế độ, quả vị để lược bàn về quan điểm hơn kém của song phương. Hai tiết kế, tiếp tục nói qua nguyên nhân phân biệt và sự sai khác giữa Tiểu-thừa, Đại-thừa, mà yếu tố chính không ngoài cảnh duyên và sự nhận thức của cá tính. Tiết sau cùng, trích dẫn kinh Tạp-A-Hàm và đại ý phẩm Phương-Tiện trong kinh Pháp-Hoa, chỉ rõ các thừa đều là những nấc thang phương tiện để đi đến Phật-thừa, trong một đời thuyết giáo, Ðức Thế-Tôn duy nói Nhất-thừa-pháp mà thôi.
Thể nhận nghĩa nầy, người học Phật sẽ tự giải thích được tâm niệm phân vân, chia rẽ.
Tiết I: Ý Nghĩa Tiểu Thừa, Đại Thừa
Khi đức Phật còn ở đời, vì tùy trình độ của mọi người, mà Ngài thuyết pháp có cạn sâu, cao thấp. Lại đôi khi, thính chúng tuy cùng nghe một giáo lý, nhưng sự lĩnh hội của mỗi người có thấp cao, rộng hẹp không đồng. Nhân đó, về sau mới nảy sanh ra sự phân biệt giữa Đại-thừa (Mahàyàna) và Tiểu-thừa (Hìnayàna).
Đại-thừa là gì? Một lời tổng quát, đó là “giáo pháp dạy tất cả hữu-tình thành Phật”. Đứng về phương diện phân tích, chữ “Thừa” là vận tải, vận độ, nghĩa là chuyên chở. Giáo lý của Phật dạy có đủ công năng, phương pháp, dắt đường chỉ lối, chuyên chở chúng-sanh từ cõi trần lao phiền não đến cảnh thanh tịnh an vui, từ biển sống chết luân-hồi đến bến Niết-bàn giải thoát, nên gọi là “Thừa”.
Trong danh từ Tiểu-thừa, chữ “Tiểu” có những nghĩa: hẹp, nhỏ, thấp. Nghĩa “hẹp” của Tiểu-thừa, là chỉ cho quan niệm của người tu duy lo tự độ, tự đưa mình đến chỗ giải thoát, không đoái hoài đến bao nhiêu chúng-sanh khác đang ở trong biển trầm luân. Có điều nên phân biệt, nếu người nào có hoài bão lòng tha thiết độ sanh, tuy dùng pháp Tiểu-thừa để giáo hóa, song thật ra lại thuộc về tâm niệm Đại-thừa. Và những kẻ tuy ở nơi non cao rừng thẳm, không tiếp xúc với đời, nhưng có bi nguyện tự độ để độ tha, cũng thuộc về tâm niệm Đại-thừa. Nghĩa “nhỏ” của Tiểu-thừa, là chỉ cho giáo pháp cạn cợt, chỉ thích hợp, hóa độ được một hạng người, không thích hợp hóa độ được mọi tầng lớp chúng-sanh. Điểm cạn cợt nầy là sự chấp nhận trong phạm vi giáo pháp Tứ-đế, Thập-nhị-nhân-duyên. Một điều nên nhận định, tiểu pháp không thể bao hàm đại pháp, nhưng trái lại đại pháp bao hàm tiểu pháp; vì thế Tứ-đế, Thập-nhị-nhân-duyên cũng là một phương tiện trong sự độ sanh của Đại-thừa. Nghĩa “thấp” của Tiểu-thừa là chỉ cho giáo pháp đưa người đến quả vị thấp của Thanh-Văn, Duyên-Giác, không đưa đến quả vị cao siêu cứu cánh của Phật-Ðà. Giáo pháp nầy cũng chính là Tứ-đế, Thập-nhị-nhân-duyên. Tóm lại “Tiểu-thừa” có ba ý nghĩa: “sự vận tải hẹp, nhỏ, thấp”, như trên.
Phản ảnh lại, danh từ Đại-thừa cũng có ba nghĩa: rộng, lớn và cao. “Rộng” là độ mình và tất cả chúng-sanh; “lớn” là đủ các pháp môn thích hợp với mọi căn cơ; “cao” là đưa loài hữu-tình đến quả vị Vô-thượng-chánh-giác. Cả hai danh từ Tiểu-thừa, Đại-thừa, nếu mỗi bên thiếu một trong ba ý nghĩa trên, thì không thể thành lập.
Đại-thừa, tiếng Phạm gọi là Ma-Ha-Diễn-Na (Mahàyàna). Đầu tiên, danh từ nầy không có tính cách để đối chọi với Tiểu-thừa, đại ý của nó là chỉ cho những giáo lý cao thâm, những pháp môn rộng lớn có công năng độ khắp chúng-sanh mà thôi. Vì thế, trong kinh Đại-thừa vẫn có những danh từ thuộc Tiểu-thừa, và trong kinh Tiểu-thừa ta cũng thường thấy những danh từ thuộc Đại-thừa. Khi Ðức Thế-Tôn còn ở đời, giáo pháp của Ngài tuy hàm ẩn cả Đại, Tiểu-thừa, nhưng trong giáo đoàn vẫn hòa hợp tu hành, không có sự phân biệt lớn nhỏ, cao thấp. Khoảng thời gian 600 năm sau Phật diệt độ, tuy chư Tăng chia thành nhiều bộ phái, song cũng không có sự đối lập giữa Đại, Tiểu-thừa. Trong các chi phái thuộc ba hệ thống Hữu-bộ, Đại-chúng và Độc-Tử, có nhiều vị nghiên cứu Kinh-luận Đại-thừa. Như ngài Chân-Đế nói: “Giáo đồ của Đại-Chúng-bộ ở thành Vương-Xá cũng học hỏi truyền bá những Kinh-điển Đại-thừa như Hoa-Nghiêm, Niết-Bàn, Thắng-Man, Duy-Ma, Kim-Quang-Minh, Bát-Nhã...”
Nhưng từ 600 năm sau Phật diệt độ trở đi, do tư tưởng tiến triển của quần chúng, do hoàn cảnh, nhân duyên, sự phân biệt và đối lập giữa hai tập đoàn lớn trong Phật-giáo lâm vào tình trạng không thể tránh khỏi.
Tiết II: Khởi Nguyên Phân Biệt Giữa Hai Phái
Nhân duyên phân biệt giữa Tiểu-thừa và Đại-thừa, đại ước có ba điểm:
1. Do hoàn cảnh: Đại-thừa Phật-giáo bộc hưng, một phần do ảnh hưởng của hoàn cảnh bên ngoài. Xét theo lịch sử, từ đời A-Dục-Vương về sau, quần chúng miền Bắc-Ấn thường giao thiệp với dân tộc hai xứ Hy-Lạp, Ba-Tư. Những nhà học Phật ở Bắc-Ấn lúc ấy càng ngày càng đông. Do sự tiếp xúc với ngoại nhân, họ lần lần chịu ảnh hưởng tư tưởng tôn-giáo của hai xứ đó, nên có nhiều nhà học Phật chủ trương sùng bái cầu nguyện. Bởi nguyên nhân nầy, thuyết tha-lực vãng sanh đã sẵn có trong Kinh-điển Phật-giáo được đề khởi lên. Thời bấy giờ, phong trào cầu vãng sanh về cõi Đâu-Suất của Di-Lặc Bồ-Tát, cõi Cực-Lạc của Phật A-Di-Đà, cõi Lưu-Ly của Phật Dược-Sư, cõi Diệu-Hỷ của Phật A-Súc-Bệ rất thịnh hành. Trong đây chỉ có thuyết vãng sanh Cực-Lạc là được lưu thông hơn cả. Người ta gọi phong trào nầy là Chủ-tình-đại-thừa-giáo.
Mặt khác, sau Phật diệt độ 500 năm, các phái ngoại-đạo lần lần phục hưng, lý thuyết của họ càng ngày càng được cải cách thêm đến mức siêu việt. Song song với phong trào đó, kho tàng Phật-giáo cũng phải được khai thác triệt để, mới có thể đối phó với ngoại-đạo và giải quyết đầy đủ mối nghi ngờ của học giả. Vì thế, Đại-thừa Phật-giáo phải ra đời để thích ứng với thời đại.
2. Do trào lưu tư tưởng: Khởi nguyên tư tưởng Đại-thừa Phật-giáo lẽ dĩ nhiên đã có từ khi Ðức Như-Lai còn tại thế. Sau khi Ðức Thế-Tôn diệt độ 100 năm, giáo đoàn đạo Phật chia thành Thượng-Tọa-bộ và Đại-Chúng-bộ, rồi lần lần phát sanh ra các chi phái. Giáo nghĩa của các bộ phái đó phần nhiều bao hàm cả đạo lý Đại-thừa. Tư tưởng của học giả cũng biến thiên theo trào lưu, từ đời A-Dục đến đời Ca-Nị-Sắc-Ca, quan niệm Đại-thừa-giáo càng ngày càng phát hiện thêm rõ rệt.
Trên phương diện địa lý, tư tưởng nầy bắt nguồn từ xứ An-Đạt-La thuộc Nam-Ấn-Độ. Giáo nghĩa nẩy nở đầu tiên là Ma-Ha-Bát-Nhã, phát xuất từ Đại-Chúng-bộ. Trong kinh Bát-Nhã có đoạn Phật dự ký: “Sau khi Như-Lai niết-bàn, kinh nầy được truyền về phương nam, rồi từ đó lưu chuyển đến phương tây và lên phương bắc”. Lời dự ký nầy đã chứng minh cho Đại-thừa Bát-Nhã xuất phát từ phương nam. Đại-thừa Phật-giáo ở Bắc-Ấn-Độ phát nguyên từ địa phương nào, sự kê khảo chưa được chính xác. Nhưng theo ngài Huyền-Trang thì tại xứ Câu-Tát-La (Kosala), Kinh-điển Đại-thừa rất nhiều, Phật-pháp ở đây cực thịnh và được truyền bá đi các nơi khác. Hoặc giả địa phương nầy là chỗ phát nguyện của Đại-thừa Phật-giáo miền Bắc-Ấn chăng?
3. Do các học giả phát khởi: Sau khi Phật diệt độ, một mặt do trào lưu tư tưởng lần lần biến thiên, nên sự đòi hỏi thích ứng với quan niệm quần chúng càng ngày càng thêm cần thiết. Mặt khác, giáo nghĩa của ngoại-đạo cũng lần lần được cải tiến, họ biết rút lấy cái hay của các phái khác trong ấy có cả đạo Phật, để bổ khuyết thêm cho học thuyết của mình. Vì thế, lập luận của họ càng ngày thêm vững vàng, trong đó các phái Thắng-luận, Số-luận, Phệ-Ðàn-Đà luôn luôn bài xích Phật-giáo. Giữa lúc ấy, phần đông chư Tăng lại thiên về khuynh hướng giải thoát, bảo thủ lấy truyền thống xưa, nên thanh thế Phật-giáo lần lần thấy sút kém trước ảnh hưởng của ngoại-đạo. Để cứu vãn tình thế và thích ứng thời cơ, sau Phật diệt độ 700 năm, hai ngài Mã-Minh, Long-Thọ nối nhau xuất hiện, trứ tác các bộ như: Đại-Thừa-Khởi-Tín-Luận, Đại-Trang-Nghiêm-Luận-Kinh, Trí-Độ-Luận, Thập-Trụ-Tỳ-Bà-Sa-Luận, Trung-Quán-Luận để phát huy ý nghĩa Đại-thừa Phật-giáo. Kế tiếp sau hai ngài, có các vị như Đề-Bà, La-Hầu-La, Bạt-Đà-La, Vô-Trước, Thế-Thân cũng cực lực đề xướng đạo lý nầy.
Xét ra, đứng về mặt bao quát, Đại-thừa kiêm cả Tiểu-thừa. Nhưng Đại-thừa giáo sở sĩ được biệt lập là để đối kháng với quan niệm bảo thủ và xu hướng tự giải thoát của phần đông chư Tăng thời bấy giờ. Nhưng hoàn cảnh hoặc trào lưu tư tưởng chỉ là nhân duyên phát khởi, mà thành quả lại do sự xướng lập của chư đại-đức Mã-Minh, Long-Thọ, Vô-Trước, Thế-Thân. Cho nên người sau thường gọi các ngài là những nhà cách mạng Phật-giáo.
Vậy, khởi nguyên của Đại-thừa Phật-giáo là bởi ba lý do trên. Quan niệm phân biệt, khen chê giữa Đại-thừa và Tiểu-thừa sau nầy, thật ra cũng có. Nhưng sự đối lập giữa hai tập đoàn lớn trong Phật-giáo là một lẽ tất nhiên của thời đại, mà dù muốn dù không, người ta vẫn không thể tránh.
Tiết III: Những Điểm Sai Biệt Của Hai Phái
Đứng về phương diện lịch sử mà nói, sự đối lập giữa Tiểu-thừa và Đại-thừa có ba nguyên nhân như trên. Nhưng về phương diện lập thuyết, thì hai phái hoàn toàn khác nhau từ chỗ phát tâm đến giáo, lý, hạnh, quả. Trong Trí-Độ-Luận, ngài Long-Thọ nói: “Phật-pháp đồng một vị, đó là vị giải thoát. Trong vị giải thoát nầy có hai thứ: một là chỉ vì mình, hai là vì tất cả chúng-sanh. Cho nên, tuy đồng cầu giải thoát, mà có sự lợi mình và mình người đều lợi khác nhau. Vì thế, mới có sự sai biệt giữa Tiểu-thừa, Đại-thừa”. Xem đây thì biết, sự khu phân của hai phái không phải chỉ thuộc trên nguyên nhân, mà còn trên phương diện chủ thuyết. Căn cứ theo Nhập-Đại-Thừa-Luận của ngài Kiên-Ý và xét qua chủ trương lập thuyết đôi bên, ta có thể chia sự sai biệt giữa Tiểu-thừa và Đại-thừa thành tám điểm như sau:
1. Tâm-lượng: Hàng Tiểu-thừa tâm lượng hẹp hòi, gấp cầu giải thoát mọi sự khổ não trong đường sanh-tử. Họ chỉ biết độ cho mình hơn là độ cho kẻ khác. Hàng Đại-thừa tâm lượng rộng rãi, quyết đạt đến lý tưởng tự lợi lợi tha. Hơn nữa, họ còn lấy việc lợi tha làm chủ đích.
2. Căn-cơ: Tiểu-thừa là hàng căn tánh tối chậm, chỉ tin hiểu những tiểu pháp như Tứ-đế, Thập-nhị-nhân-duyên. Đại-thừa là hạng có thắng giải đại tánh, không thích tiểu pháp mà ưa thọ trì những đại pháp như: Ngã-pháp-câu-không, Duyên-khởi-như-huyễn.
3. Nhân-sanh-quan: Tiểu-thừa khuynh hướng về Nhân-sanh-quan vô thường, nhiều khổ não. Vì vậy, họ chủ trương phá tan Tiểu Ngã, mong sớm chứng vào thể tánh vắng lặng, và lấy đó làm chỗ giải thoát an vui. Đại-thừa cũng bắt đầu từ quan niệm ấy, nhưng lại hiểu rằng các pháp như huyễn, chúng-sanh chính là tự tánh của mình. Cho nên lập thuyết của họ là phá chấp trên Ngã, Pháp, để khuếch trương Ðại-ngã, không cần phải lìa đời xa lánh chúng-sanh, mà vẫn được giải thoát tự tại.
4. Vũ-trụ-quan: Tiểu-thừa đối với vạn hữu thì cuộc hạn trong phạm vi hiện tượng luận sanh diệt, yếu tố để giải thích của họ duy có 75 pháp. Sự chứng biết của Tiểu-thừa cũng chỉ trong vòng Tam-thiên-đại-thiên-thế-giới, cho nên họ không tin có Tha-phương Tịnh-độ. Đại-thừa thì ngoài hiện tượng sai biệt, còn thuyết minh chân-như bình đẳng không sanh diệt để đạt đến bản thể luận. Yếu tố để giải thoát vạn hữu của họ gồm có 100 pháp. Họ tin nhận rằng, ngoài thế-giới nầy còn có vô số Uế-độ và Tịnh-độ như vi-trần. Tất cả đều là thể Như-huyễn-tự-tánh thanh-tịnh-tánh.
5. Quan niệm Tam-bảo: Về Phật-bảo, hàng Tiểu-thừa chỉ chấp nhận Ðức Thích-Ca-Mâu-Ni và chư Phật của cõi Ta-Bà, không tin có các đấng Như-Lai ở tha phương thế-giới. Về Pháp-bảo, họ chỉ tín thuận những kinh Tiểu-thừa như A-Hàm, Pháp-Cú... không tin nhận những kinh Đại-thừa như Hoa-Nghiêm, Pháp-Hoa. Về Tăng-bảo, họ chỉ hiểu biết các bậc A-la-hán như Xá-Lợi-Phất, Mục-Kiền-Liên.... không chấp nhận các bậc Bồ-Tát tha phương như: Phổ-Hiền, Dược-Vương, Nguyệt-Quang, Thế-Chí. Trái lại, Đại-thừa tin nhận cả tiểu pháp lẫn đại pháp và ngôi Tam-bảo ở cõi nầy cùng mười phương.
6. Tư-lương-tánh: Trên phương diện tu hành, hàng Tiểu-thừa thiên về Huệ, y theo Tứ-đế, Thập-nhị-nhân-duyên, Tam-thập-thất-đạo-phẩm, mục đích để phá trừ ngã chấp, chứng quả nhân không. Còn hàng Đại-thừa thì y theo Lục-độ-vạn-hạnh gồm tu phước huệ, phá cả Ngã-chấp lẫn Pháp-chấp, chứng quả nhị-không.
7. Thời-gian-tánh: Về Tiểu-thừa, hàng Thanh-Văn phải tu từ ba đời đến 60 kiếp mới chứng quả A-la-hán; còn hàng Duyên-Giác phải tu từ bốn đời đến 100 kiếp mới chứng quả Bích-Chi-Phật. Còn bên Đại-thừa phải dùng ba A-tăng-kỳ-kiếp để tu sáu độ và 100 kiếp để tu nhân tướng tốt, mới chứng quả Phật.
8. Quả-chứng: Giải thoát của Tiểu-thừa là tiêu cực. Họ muốn lánh khỏi mọi sự khổ não ở hiện tại mà thể nhập vào cảnh không tịch. Cho nên mục đích chung cuộc của họ là cầu lấy quả A-la-hán hoặc Bích-Chi-Phật. Giải thoát của Đại-thừa là tích cực. Họ hiểu rằng phiền não vốn không và trong chúng ta có đủ đức tướng, trí huệ của Như-Lai cùng vô lượng công đức. Vì thế họ lấy địa vị Phật-Ðà làm lý tưởng chung cuộc. Về chúng-sanh, Đại-thừa quyết độ tất cả đều thành Phật. Về thế-giới, họ quyết biến cõi uế ác thành cảnh thiện mỹ, trang nghiêm. Cho nên mục đích của Đại-thừa gồm trong câu: “Trang nghiêm Phật-độ, thành tựu chúng-sanh”.
Tiết IV: Dung Hội Các Thừa
Theo Nguyên-thủy Phật-giáo, quả Niết-bàn giải thoát của hàng Thanh-Văn đồng với Phật, nhưng bậc Thanh-Văn phước trí chưa được đầy đủ bằng Ðức Thế-Tôn. Theo Đại-thừa Phật-giáo, quả Vô-thượng-bồ-đề của Như-Lai duy những vị tu theo Bồ-Tát-thừa mới chứng được. Đứng về mặt khách quan để khảo cứu Kinh-điển của hai phái, ta có thể chia lối thuyết pháp của Phật ra ba thời kỳ:
Thời kỳ thứ nhất, Ðức Thế-Tôn vì muốn cho hàng đệ-tử lìa khỏi nỗi khổ thân tâm hiện tại, hưởng sự an vui tịch tịnh, nên Ngài chỉ ngay những phương tiện giải thoát. Như Đức Phật dạy: “Thế nầy là Khổ, thế nầy là Tập, thế nầy là Diệt, thế nầy là Đạo. Như-Lai đã tu tập theo đường lối ấy, các ông nên thực hành theo. Như-Lai đã đắc quả giải thoát theo đường lối ấy, các ông nên cố gắng để chứng nhập... Hiện nay sự sống chết của ta đã dứt, phạm hạnh đã thành lập, việc làm cũng đã xong, không còn thọ thân đời sau nữa...” Xuyên qua mấy lời nầy, đạt đáo điểm của Phật cùng với hàng đệ-tử trong buổi đầu tiên dường như không khác nhau, có thể biểu dương bằng câu: “Hành đồng đạo, đắc đồng quả”.
Qua thời kỳ thứ hai, Ðức Thế-Tôn lần lần nói những đạo pháp cao rộng hơn. Như trong đoạn ngài Văn-Thù trình bày kiến giải với Phật: “Bạch Ðức Thế-Tôn! Tu Bát-Nhã-Ba-La-Mật là không rời bỏ pháp phàm-phu, không cầu lấy pháp hiền-thánh. Tại sao thế? Vì người thực hành môn nầy, không thấy có pháp để lấy hoặc bỏ, cũng không thấy có Niết-bàn đáng ưa, sanh-tử đáng chán. Bởi Niết-bàn cùng sanh-tử, hành giả còn không thấy có, huống nữa là sự ưa chán ư?” Đức Phật bảo: “Đúng như thế! Nầy Văn-Thù! Đó là sở hành của các bậc Bồ-Tát-Ma-Ha-Tát. Cho đến hàng Thanh-Văn, Duyên-Giác, nói chung là bậc hữu học, vô học, đều không nên rời pháp ấn nầy mà tu đạo quả”. Đoạn kinh văn trên đây, chứng minh Ðức Thế-Tôn khuyến dụ hàng Thanh-Văn đi vào thâm pháp. Ngài còn bảo chính mình đã trải qua vô lượng kiếp, tu những nhân hạnh tự lợi lợi tha rộng lớn, mới thành tựu ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp, mười lực, bốn vô úy, mười tám pháp bất cộng của quả Vô-thượng-bồ-đề.
Đến thời kỳ thứ ba, Ðức Thế-Tôn dung hòa ba thừa. Đại ý Ngài nói: “Những vị nghe tu theo pháp Tứ-đế, chứng được đạo quả, gọi là Thanh-Văn thừa. Hạng căn cơ lanh lợi hơn, tự phát minh hoặc do ngôn giáo của Như-Lai mà tỏ ngộ Thập-nhị-nhân-duyên, gọi là Ðộc-Giác, hoặc Duyên-Giác thừa. Bậc thật hành Lục-độ, cầu quả Vô-thượng, gọi là Bồ-Tát thừa. Nhưng hàng Thanh-Văn, Duyên-Giác có thể hướng thượng và thành Phật; hai thừa nầy chỉ là những nấc thang để bước lên Bồ-Tát thừa mà thôi”. Tóm lại, ba thừa chỉ là một, Ðức Như-Lai ra đời không ngoài mục đích đưa chúng-sanh đến quả Phật, và Ngài cũng chỉ dạy có đạo pháp Nhất-thừa. Danh từ Nhất-thừa, trong Kinh-điển của hai phái, Đức Phật cũng thường nhắc nhở đến. Như kinh Tạp-A-Hàm nói: “Có Nhất-thừa-đạo hay khiến cho chúng-sanh được thanh tịnh, đưa họ vượt qua sự thương lo buồn khổ, vào pháp chân-như. Đó là Tứ-niệm-xứ...” Và đoạn:
Ta có pháp Nhất-thừa
Vì chúng-sanh các cõi
Diễn nói chánh-pháp âm
An ủi chúng-sanh khổ
Chư Phật đời quá khứ
Dùng pháp nầy độ sanh
Chư Phật đời vị lai
Cũng diễn Nhất-thừa-pháp
Chư Phật đời hiện tại
Nương đây độ dòng mê
Đưa khỏi bờ sanh tử...
Kinh Pháp-Hoa cũng nói:
Vì thế, Xá-Lợi-Phất
Ta mới lập phương tiện
Nói các pháp diệt khổ
Chỉ bày nẻo Niết-bàn
Nhưng cảnh Niết-bàn nầy
Chưa phải chân diệt độ
Các pháp từ xưa nay
Tự hướng hằng vắng lặng
Phật-tử đã hành đạo
Về sau sẽ thành Phật
Ta dùng sức phương tiện
Mở bày pháp Tam-thừa
Tất cả chư Thế-Tôn
Đều nói Nhất-thừa-đạo
Nay trong đại chúng đây
Phải nên trừ nghi hoặc
Lời chư Phật không khác
Chỉ một, không hai thừa...
Pháp tối diệu bậc nhất
Vì các loại chúng-sanh
Phân biệt nói ba thừa
Kẻ thấp ưa pháp nhỏ
Không tin mình thành Phật
Nên ta dùng phương tiện
Chia ra các đạo quả
Tuy là nói ba thừa
Kỳ thật dạy Bồ-Tát...
Căn cứ mấy đoạn kinh trên, thì từ trước đến sau, Đức Phật chỉ dạy có Nhất-thừa-pháp, chẳng qua vì tùy trình độ chúng-sanh mà phương tiện dẫn dụ thế thôi.
Tóm lại, trong một đời giáo hóa, nói rộng ra, tuy Ðức Thế-Tôn dạy bảo Nhân-thừa, Thiên-thừa, Thanh-Văn-thừa, Duyên-Giác-thừa, Bồ-Tát-thừa, song không ngoài mục đích để thành tựu Phật-thừa, tức là Nhất-thừa-đạo. Đối với hạng chưa thể tu theo đường giải thoát, Ngài khuyên dạy pháp Ngũ-giới, Thập-thiện, để cho họ trồng căn lành, khỏi sa vào ác đạo, gây nhân duyên đắc độ về sau. Với hạng có thể bước lên nẻo Niết-bàn, Ngài khai thị pháp Tứ-đế, Thập-nhị-nhân-duyên, để họ thoát nỗi khổ luân-hồi, hưởng sự vui tịch tịnh, rồi lần lượt dẫn dụ vào đại pháp. Với hạng đại căn cơ, Ngài chỉ ngay Bồ-Tát-đạo, khiến cho họ mau thành tựu quả Phật. Đức từ bi, bình đẳng, trí huệ, phương tiện của Phật quả thật không lường! Thế thì dù Tiểu-thừa hay Đại-thừa, đều cùng là con của Phật, cùng sẽ về một tiêu điểm, người Phật-tử chỉ nên tự xét và tự hướng lối đi của mình đúng như lời dạy của Ðức Thế-Tôn, chớ không nên cố tâm chia rẽ.
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)





Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét