THÍCH TÂM TRỌNG

THÍCH TÂM TRỌNG
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT

Thứ Bảy, 15 tháng 12, 2012

Pháp Tu Trường Thọ của Phật Vô Lượng Thọ

Pháp Tu Trường Thọ của Phật Vô Lượng Thọ Vào lúc kết thúc pháp tu p’howa, Phật A Di Đà tan thành ánh sáng và hòa tan vào chúng ta. Ngay tức khắc, chúng ta hóa thân thành Phật Vô Lượng Thọ – vị Phật của trường thọ, tức phương diện báo thân của Phật A Di Đà – vị mang sắc đỏ và sở hữu những đức tướng lớn và nhỏ của một vị giác ngộ. Trang phục bằng lụa của ngài và các ngọc châu trên đó thì tương tự như của Đức Quan Aâm. Ngài ngồi kiết già trên một hoa sen, đĩa mặt trời và đĩa mặt trăng. Hai tay ngài đặt trong vị trí quân bình thiền định, và ngài giữ một bình trường thọ chứa đầy dược chất trường sinh. Trong tim ngài là một hộp gồm một đĩa mặt trăng nằm trên một đĩa mặt trời, chính giữa đó là mẫu tự Hri màu đỏ. Các mẫu tự màu đỏ của bài chú Phật Vô Lượng Thọ được sắp xếp theo hướng ngược chiều kim đồng hồ trên đường viền đĩa mặt trời, hướng ra ngoài, khoảng cách đều nhau. Khi chúng ta tụng câu chú, năm ánh sáng chiếu rực cả mười hướng, bao trùm hết các cõi tịnh độ của các vị phật và bồ tát, mang phẩm vật cúng dường tới chư vị. Rồi ánh sáng trở về thành ân sủng của chư vị và lại ngấm vào chúng ta như Phật Vô Lượng Thọ. Rồi, theo thứ tự: Ánh sáng trắng chiếu rực và dâng phẩm vật cúng dường tới cõi tịnh độ của Phật Đại Nhật (Vairochana), người tượng trưng cho thân giác ngộ. Tất cả ân sủng của thân kim cang, hình tướng không tách rời khỏi tánh không, và trong sự nhận biết về không gian căn bản của các hiện tượng (pháp giới, Skt. dharmadhatu) sinh khởi từ đức phật và được tan biến vào người chúng ta, làm trong sạch tâm tham chấp trong tấm thân bình thường của chúng ta, làm cho chúng ta chứng ngộ về tánh không. Ánh sáng đỏ chiếu rực và dâng phẩm vật cúng dường tới cõi tịnh độ của Phật A Di Đà, vị biểu tượng cho lời nói giác ngộ. Tất cả ân sủng của lời nói kim cang, âm thanh không tách rời khỏi tánh không, và của sự nhận biết phân biệt xuất sinh từ đức phật và được tan biến vào chúng ta, làm trong sạch sự nhận biết bình thường, làm vững mạnh nội nhiệt của chúng ta. Ánh sáng xanh da trời chiếu rực và dâng phẩm vật cúng dường tới cõi tịnh độ của Phật Bất Động (còn gọi là A Súc Phật, Akshobhya), vị biểu tượng cho tâm giác ngộ. Tất cả ân sủng của tâm kim cương và của sự nhận biết như gương soi xuất sinh từ đức phật và được tan biến vào chúng ta, làm trong sạch ý thức của chúng ta, làm vững mạnh máu, huyết dịch và các chất nước trong cơ thể chúng ta. Ánh sáng vàng chiếu rực và dân phẩm vật cúng dường tới cõi tịnh độ của Phật Bảo Sinh (Ratnasambhava), vị biểu tượng cho các phẩm chất giác ngộ. Tất cả ân sủng của các phẩm chất kim cang và của sự nhận biết về bình đặng xuất sinh từ đức phật và được tan biến vào chúng ta, làm trong sạch cảm xúc, làm vững mạng da, xương và các cơ phận của chúng ta. Ánh sáng xanh lá cây chiếu rực và dâng phẩm vật cúng dường tới cõi tịnh độ của Phật Bất Không Thành Tựu (Amoghasiddhi), vị biểu tượng cho các hoạt động giác ngộ. Tất cả ân sủng của các hoạt động kim cang (hòa bình, tăng trưởng, lôi cuốn, và giận dữ) và của sự nhận biết hoàn toàn thành tựu xuất sinh từ đức phật và được tan biến vào chúng ta, làm trong sạch các xung lực của chúng ta, làm vững mạnh các năng lượng sinh động của chúng ta. Các ánh sáng câu chú chiếu sáng về trước lần nữa, tràn ngập khắp vũ trụ, gom hết bản tính của các vật bên ngoài, rồi các bản tính này trở lại tan biến vào chúng ta và làm vững mạnh các phần tử trong thân chúng ta. Aùnh sáng vàng hợp với các chất quý giá của mặt đất – vàng, châu báu, chất khoáng – và gom các bản tính này để tan biến vào và làm tươi mới lại làn da, xương và các cơ phận của chúng ta. Aùnh sáng xanh hợp vào với các đại dương, thác nước và sông hồ, với các chất lỏng thanh tịnh của cây cối, gom các bản tính lại để làm tươi mới lại máu, huyết tương và các chất lỏng trong người chúng ta. Aùnh sáng đỏ hợp với các núi lửa và dòng chảy nham thạch nóng, với vô lượng mặt trời, và gom hơi ấm lại để làm tươi mới nội nhiệt trong thân chúng ta. Aùnh sáng xanh lá cây hợp với và gom lại bản tính của không khí, của các luồng gió vũ trụ, để làm vững mạnh năng lực trong người chúng ta. Ánh sáng trắng khởi lên từ chính tánh không của chúng ta đáp ứng với không gian căn bản của tất cả các hiện tượng và làm tăng trưởng sự chứng ngộ tánh không. Để hoàn tất pháp tu trường thọ của Phật Vô Lượng Thọ, chúng ta cho tan biến đi các hình ảnh quán tưởng, và rồi an nghỉ trong sự nhận biết bất nhị tự nhiên. Rồi chúng ta tụng đọc bài kinh nguyện tái sinh vào Cõi Cực Lạc cũng như các bài kinh hồi hướng. Mặc dù pháp môn trường thọ của Phật Vô Lượng Thọ được dùng như một phần của nghi quỹ p’howa, học nhân cũng có thể thực hiện nó độc lập, mở đầu bằng các bài kệ tam quy y và phát bồ đề tâm, kết thúc với các bài kinh nguyện và hồi hướng. Học nhân khởi lên sự quán tưởng bằng cách tụng đọc, “Con trở thành Phật Vô Lượng Thọ, phát ra ánh sáng và gom hết các bản tính của đời sống, rồi tất cả lại tan biến vào trong con,” rồi tụng đọc thần chú. Sự nhấn mạnh trong pháp p’howa chuyển sang pháp tu trường thọ của Phật Vô Lượng Thọ sau khi chúng ta đã đạt được các dấu hiệu tốt của sự chuyển di [thần thức]. Chúng ta nên thực tập nó bất cứ khi nào cơ thể chúng ta yếu đi, hay là mất quân bình, hay là khi sinh lực của chúng ta đã suy mòn. Chúng ta cũng có thể thực tập nhu thế như một phương tiện chữa bệnh cho người khác bằng cách quán tưởng rằng ân sủng và các bản tính căn bản tan biến vào trong người họ. Pháp tu dựa vào ý hướng từ bi này cũng làm thanh tịnh người tu và làm sinh khởi vô lượng công đức, cả hai điều này là nguyên nhân của sức khỏe tốt trong tương lai.
Pháp Yếu Tu Tập - Tọa Thiền Chỉ Quán Nguyên-Do Pháp Chỉ-Quán Trí-Khải Đại-sư có người anh tên Trần-Châm làm Tham-tướng trong quân đội. Trần-Châm được 40 tuổi, một hôm đi đường gặp vị tiên Trương-Quả-Lão. Lão thấy tướng ông liền kêu lại bảo: "Ta xem tướng ông dương thọ đã hết, chỉ trong một tháng thì chết". Trần-Châm nghe qua kinh hãi, đến hỏi kế với Đại-sư, Đại-sư bảo: "Anh nghe theo tôi dạy tu-trì, chắc chắn sẽ qua khỏi". Trần-Châm hứa vâng theo. Ngài bèn thuật pháp Tiểu-Chỉ-Quán đơn-giản yếu-lược nầy, bảo dụng công tu tập. Trần-Châm y theo phương pháp tha thiết tu trì. Hơn một năm, Châm gặp lại Trương-Quả-Lão. Lão thấy kinh ngạc, hỏi: "Ông không chết, có phải tại uống thuốc trường sanh chăng?" Châm đáp: "Không phải. Do em tôi là Trí-Khải dạy tôi tu tập Chỉ-Quán tọa-thiền nên được như vầy". Lão khen: "Phật-pháp không thể nghĩ bàn, hay phản tử hoàn sanh, thật là hi-hữu !". Mấy năm sau, Trần-Châm mộng thấy đến Thiên-Cung. Trong ấy có đề: "Nhà của Trần-Châm, 15 năm sau sẽ sanh lên đây". Đúng 15 năm sau, Trần-Châm từ biệt quyến thuộc, ngồi kiết-già yên-ổn mà tịch. Đây là nguyên do Trí-Khải Đại-Sư thuật lại bộ Chỉ-Quán nầy.
PHÁP-TẠNG Bấm vào biểu tượng Play để nghe Muốn biết đức Phật A-Di-Đà, trước hết ta hãy hiểu qua cách tu thành đạo của Ngài. I. Trong sự tích có nói : Thuở xưa có vua Vô-Tránh-Niệm, cai-trị một nước lớn, quan đại-thần của vua tên là Bảo-Hải. Con quan Bảo-Hải là Bảo-Tạng, đi tu thành Phật hiệu là Bảo-Tạng Như-Lai, vua Vô-Tránh-Niệm cúng dường đức Phật Bảo-Tạng và chư Tỳ-Kheo Khất-Sĩ, trọn ba tháng mùa mưa. Sau đó quan đại-thần Bảo-Hải tâu với vua, xin đừng cầu phước báu nhơn thiên hữu-lậu, vì phước có hưởng là sẽ có hết, chi bằng hồi hướng phước duyên ấy, để sau nầy thành Phật tế-độ chúng-sanh. Vua bèn nhận lời, liền đến đảnh lễ Phật, cầu xin Phật chỉ dạy cho biết, thế giới nào trang-nghiêm hơn hết? Phật khi ấy mới phóng hào-quang soi khắp võ-trụ chung quanh, để cho vua được nhìn thấy rõ thế-giới An-Lạc ở tại phương Tây, của đức Phật Độ Nhứt Thiết Thế-Gian Khổ-Não, là yên vui trong sạch hơn hết. Nên vua Vô-Tránh-Niệm bèn quỳ xuống đảnh lễ đức Phật phương Tây, và cầuxin với Phật Bảo-Tạng, nguyện hồi-hướng phước cúng-dường nầy, để đặng sanh về cõi Tịnh- độ tu cho thành Phật, để tế-độ chúng-sanh sau nầy. Liền đó đức Phật Bảo-Tạng và đức Phật Độ Nhứt Thiết Thế-Gian-Khổ-não, thọ-ký cho vua quả Phật về sau. Triết-lý của sự tích nầy, là để chỉ rõ tiền thân của Phật A-Di-Đà, lúc đầu tiên mới phát tâm cầu đạo, là từ một người ác, trở nên thiện nhơn, và thành ra một người cư-sĩ quy-y Tam-Bảo. Lý và sự nầy, là để chỉ ra tất cả, chớ không phải một người; vì sự có ra là do lý, bởi có lý mới có sự! Vậy thì ông vua Vô-Tránh-Niệm đây tức là tâm niệm không tranh! Tâm là vua, là chủ-tể các pháp. Vô tránh là không tranh hơn thua với ai, thường giữ sự bình-đẳng nhu-hòa, niệm là niệm tưởng ghi nhớ tâm chơn yên lặng, nhu-hòa bình-đẳng. Vua Vô-Tránh-Niệm tức là tâm niệm không tranh của một nhà từ thiện đối với sự tranh là ác, nên gọi là từ ác đến thiện! Cai trị một nước lớn, nghĩa là cai-quản chủ-tể của xác thân tứ-đại, sanh tử lớn lao, trong ấy chứa đầy các pháp là quan dân trăm họ, quan đại thần Bảo-Hải là trí thông-minh quý báu sáng hay, rộng lớn như biển giả không bờ. Trí Bảo-Hải có ra là do tâm niệm không tranh, của vua Vô-Tránh-Niệm trong sạch. Con Bảo-Hải là Bảo-Tạng, Bảo-Tạng là Pháp-bảo tam-tạng quý báu, tam tạng là kinh, luật, luận ba phần của Pháp-bảo. Pháp-bảo tam tạng có ra, là do sự sưu tầm quán-xét của chánh trí, trí thiện quý báu, rộng lớn thông-minh. Bảo-Tạng đi tu thành Phật gọi Bảo-Tạng Như-Lai, nghĩa là Pháp-bảo tam tạng, là pháp xuất-gia giải-thoát tấn-hóa, tấn hành đi đến chánh-giác chơn-như trở lại đặng. Cũng gọi là Như-lai Bảo-Tạng, Bảo-Tạng sanh Như-Lai. Nghỉa là tam-tạng Pháp-bảo để đến chơn-như, chơn-như sanh ra tam tạng Pháp-bảo là Pháp-tạng. Vua Vô-Tránh-Niệm cúng duờng đức Phật Bảo-Tạng Như-Lai, là nhà từ thiện đem hết lòng cung kỉnh Pháp-bảo tam-tạng, đem tất cả trí-hóa thông-minh, từ thiện, của-cải của tâm, mà phụng trì điểm tô pháp chánh. Cúng dường ba tháng mùa mưa cho Phật với chư Tăng. Cúng dường ba tháng mùa mưa là do là lo sóc phụng trì tam thừa, ba thặng Pháp-bảo giác-ngộ cho, trong khi nhập-định tham-thiền, (giáo-lý chơn-như, và Khất-sĩ tức là Phật-bảo và Tăng-bảo). Cũng nhờ giác-ngộ chơn-như và Khất-sĩ, cố gắng un-đúc trau-giồi, nên trí thông-minh Bảo-Hải không còn cho vua tâm niệm không tranh, tham đắm vọng tưởng mong cầu phước báu hữu-lậu nhơn thiên phàm tục. Chánh trí chỉ cho tâm niệm đến với Bảo-Tạng chơn-như, để đặng về sau đắc thành chánh-giác là Phật : ấy là quang đại-thần Bảo-Hải khuyên vua hãy dứt bỏ lòng phàm. Vua cầu Phật chỉ cho biết cảnh-giới trang-nghiêm, là tâm niệm thành kính chơn-như Pháp-bảo, để tầm sát sự thanh-tịnh. Do đó mà hào-quang của đức Bảo-Tạng phóng ra khắp võ-trụ, để cho vua thấy rõ thế-giới An- Lạc của đức Phật độ nhứt thiết thế gian tại phương Tây. Hào-quang là pháp-lý quý báu của chơn-như, chỉ rõ ra rằng: cả võ-trụ là vô-minh phiền-não ô-trược, để cho tâm niệm xét thấy nhận ra, trong đời chỉ có xác thân giải-thoát xuất-gia Khất-sĩ, là thế-giới an-lạc yên vui, của sự giác-ngộ, độ diệt tất cả các pháp thế-gian không còn khổ não, ấy là phương hướng trở đầu về Tây, của trí tắt nghỉ, mặt trời lặn, chết bỏ cảnh đời, sanh trong nhà đạo, bên này phiền-não, đến chánh-giác an-lạc bên kia, tức là Niết-Bàn dứt luân-hồi sanh-tử khổ, là trong sạch tốt đẹp hơn hết, cõi lòng hết tham vọng. Vua Vô-Tránh-Niệm quỳ lạy đức Phật phương Tây và đức Bảo-Tạng, mà hồi-hướng phước duyên để cầu vãng-sanh Tịnh-độ, nghĩa là tâm niệm sau khi hiểu thấy tỉnh gặp, bèn nhứt tâm quyết định về theo Pháp-bảo tam tạng, và diệt trừ tất cả phiền não của thế-gian, mà hồi-hướng sự tu học công đức ấy để trau tâm, đặng sau nầy đến liền được giai-thoát Khất-sĩ thanh-tịnh lục-độ; sống yên vui trong giới-luật thiền-định, để tu hành cho mau đắc quả, tiếp dẫn chúng-sanh về sau. Nhờ thật tâm quyết định như thế, nên Pháp-bảo tam tạng hiện đến lần lần và diệt khổ thế-gian, càng ngày càng thấy đựơc kết quả hiệu nghiệm, chắc chắn là chẳng bao lâu, tâm sẽ đặng chơn-như toàn-giác. Như thế tức là hai vị Phật thọ-ký cho đó. Người thiện nhơn tâm niệm không tranh, đến với Pháp-bảo, và diệt trừ khổ não, để trở nên cư-sĩ trí-thức giác-ngộ đầu tiên tập lần Khất-sĩ là phải y như vậy. Vua Vô-Tránh-Niệm đó tức là tiền thân của Phật A-Di-Đà, bình-đẳng tánh, Vô-lượng cam-lộ, hay là sự mới phát tâm tu tìm đạo, của người thiện nhơn tâm niệm không tranh. Vì có tâm niệm không tranh, mới sanh ra bình-đẳng tánh. Bình-đẳng tánh là Phật A-Di-Đà, hay giác-ngộ Vô-lượng cam-lộ là Pháp-Tạng vô-lượng không lượng, tế-độ chúng-sanh như mưa rưới mát-mẻ ngọt-ngào không dứt. II/ Sự tích thứ hai về tiền thân của đức Phật A-Di-Đà là : Bấy giờ ở một lớn kia, có một vị vua tên là Pháp-Tạng. Vua bèn xuất-gia Khất-sĩ giải-thoát, gọi là Pháp-Tạng Tỳ-kheo, theo làm đệ-tử của đức Phật Thế-tự-Tại-Vương Như-Lai. Một lúc nọ Pháp-Tạng Tỳ-keo, quỳ xuống trước mặt thầy mà phát 48 lời đại nguyện, đề lập thànhcõi thế-giới Cực-Lạc, đặng diệt-độ tất cả sự khổ-não, cho kẻ nào có duyên với Ngài. Ngài nguyện sau mỗi câu rằng : nếu không được y như vậy, thì tôi quyết không thành Phật. Sau khi phát nguyện xong, tức thì có mưa hoa tuôn rưới, trên hư-không có tiến nói vang dội rằng : Chắc sẽ thành Phật đặng. Về sự tích thứ hai nầy, chơn-lý chỉ thật rằng : trước hết từ người ác đến thiện và trở nên cư-sĩ, là do tâm niệm không tranh, tức như vua Vô-Tránh-Niệm. Tâm ấy lần lần đựơc tự-chủ, thông suốt tam tạng Pháp bảo, nên mới chịu giải-thoát Khất-sĩ xuất-gia theo y chơn-lý, gọi là Pháp-Tạng Tỳ-kheo. Đệ-tử của Thế-Tự-Tại-Vương Như-Lai, nghĩa là tôn thờ chơn-lý giải-thoát làm thầy, đội lên đầu ghi nhớ, lấy có cho mình mỗi lúc, làm viên ngọc báu. Cả thảy các chư Phật nào, thành Phật cũng đều y như thế, có đội ngọc đỏ trên đầu là báu ma-ni giải-thoát. Vì có giải-thoát thì ra vào trong trần-thế mới đặng tự-tại thung dung, tâm chơn làm vua chủ, đến trở lại chơn-như là Phật. Cho nên cũng gọi rằng : pháp Thế-Tự-Tại-Vương Như-Lai là thầy của tất cả chư Phật, hay cũng là thầy của tất cả các Pháp bảo-tạng. Vì bởi các pháp có ra là do giải-thoát chơn-như, và giải-thoát chơn-như sanh ra các pháp. Thuở ấy Pháp-tạng Tỳ-kheo quỳ xuống trước mặt thầy, phát ra 48 lời nguyện để lập thành thế-giới Cực-Lạc, độ diệt tất cả sự khổ-não của những kẻ có duyên với Ngài. Nghĩa là đến đây vị Tỳ-kheo ấy tu hành đã đắc pháp, thâm nhập với pháp, thấy pháp là mình, chớ không thấy mình nữa, nên mới xưng danh là Pháp-Tạng Khất-sĩ, hay cũng gọi là Tam-Tạng Pháp-sư Bồ-Tát; Pháp-sư Bồ-Tát tức là tam-tạng. Vì tam-tạng là kinh, luật và luận, là phép nuôi là chúng-sanh và vạn–vật, để cho biến thành chư Phật, thế nên tam-tạng là từ-bi trí-huệ, hạnh-nguyện to lớn với tất cả chúng-sanh và thế-giới. Cả thảy đều ở trong Pháp-bảo tạo thành, một khi Pháp-Tạng đã tôn sùng bái phục sự giải-thoát giác-chơn, ấy là Pháp-Tạng đảnh lễ thầy, quy-y thờ kính giáo-lý Thế-Tự Tại- Vương Như-Lai, tức là Pháp-bảo tam-tạng ấy đã quay-về một mục-đích giải-thoát cả thảy, và kể từ đó, nó sẽ ham chứa biết bao nhiêu bổn nguyện, để tạo thành thế-giới giải-thoát khổ, cho cả chúng-sanh, bằng kinh luật luận của nó, trên con đường đi của nó, thế là pháp giải-thoát có đến 48 đại nguyện, cứu khổ giải-thoát cho chúng-sanh. Từ pháp ác đến pháp thiện, đến pháp cư-sĩ tại gia và trở nên pháp Khất-sĩ xuất-gia giải-thoát, mỗi lúc pháp đều có ba tạng, hôm nay ba tạng pháp ấy đã tôn thờ mục-đích giải-thoát làm thầy, như vậy là từ đó về sau kinh luật luận của nó, sẽ đều có một mùi giải-thoát cả! Nó sẽ tạo nên người giải-thoát, chỗ giải-thoát, giáo lý sự dùng đều là pháp giải-thoát vậy. Khiến nên tâm địa của ai đã đến thân nhập Pháp-tạng giải-thoát, là chỉ còn Pháp-tạng giải-thoát Khất-sĩ, chớ không còn biết mình, và kẻ ấy sẽ trở nên Bồ-Tát Pháp-sư, tam-tạng, gồm chứa đủ cả 48 đại nguyện của Pháp-Tạng, mà thật hành kết quả, ắt sẽ thành Phật, vốn không sai chạy. Vậy thì sự thành Phật là do nơi pháp nguyện, nguyện của pháp giải-thoát xuất-gia Khất-sĩ, ai hành đúng thì chắc sẽ thành Phật. Phật là giác chơn, chơn-như là do trí-huệ, chanh-giác là do Pháp-Tạng đại nguyện; pháp nguyện là từ-bi, tinh-tấn, giải-thoát, thiền-định, trí-huệ, thì chơn-như ắt sẽ tự nhiên xuất-hiện từ lần mà đắc đạo đặng. Pháp nguyện mà thật hành đúng là sẽ thành đạo, đắc quả, giữa ta người, với cõi đời, mới là được Thế Tôn Phật; còn hành chẳng đúng, chưa làm Bồ-Tát, thì đâu phải là Như-Lai; thế nên đối với pháp nguyện, không đặng nên, thì có đâu thành Phật. Vả chăng pháp là độ kẻ hữu duyên, chớ vô duyên thì khó độ, cũng như thầy giáo lớp nhứt, thì chủ có học trò lớp nhì bước lên đến gặp, mới gọi là bậc hữu duyên, chớ bậc hạ căn kém trí thấp xa, thì đâu có bước chơn vào ở được, nên mới gọi là pháp nguyện chỉ độ cho kẻ nào có duyên với Pháp. Sự thật đúng y như thế, nguyện lực của pháp linh diệu vô cùng! Cũng như trong xứ luật-pháp là có đủ sự trang-nghiêm tốt đẹp, bảy giới thất tụ Tỳ-kheo 243 điều, là bảy lớp báu lan-can Pháp-bảo! Bảy hàng cây báu là bảy pháp diệt-tránh quý báu lắm! Bảy hàng cây báu là bảy chánh-giác bồ-đề cao thượng! Tứ y-pháp là mặt đất lưu-ly, pha-lê, vàng bạc! Đạo tràng như ao ước mát, các thứ trí-huệ như bông hoa, bảy bậc nói pháp như chim kêu. Tưởng ăn có ăn, là Khất-sĩ, ở trong giới-luật giải-thoát, ngày ăn một ngọ chạy quen bụng, tới buổi trưa mỗi ngày mới nhớ ra, là đi khất-thực sẽ có liền, hoặc như có người đem đến cúng dâng, cùng sự rước thỉnh đi trai ngọ. Tưởng mặc có mặc, là mỗi năm đổi một bộ y, giáo-pháp Khất-sĩ mặc một bộ tam y, đúng năm nhớ ra, là vừa cũ rách, đến ngày đổi lại. Chỗ ở thì đến đâu cũng có sẵn sự sắp đặt, bịnh hoạn thì tâm chẳng bận lo, vì đạo Khất-sĩ giải-thoát, ở trong đời là quý báu lắm, không hay từng gặp có nên ai cũng tôn trọng cả. Trong tâm hồn bực như nóng dơ, thì có người giảng dạy, là xối nước tắm cho mát sạch. Muốn nứơc đến đâu thì nước dâng đến đó, cũng như muốn học pháp đến bực nào, thì cũng có sẵn người chỉ dạy dâng cho. Tưởng chi có nấy, là tưởng pháp có pháp đủ đầy. Bồ-Tát là bạn-lữ, là khi xuất-gia rồi, thì tất cả là bình-đẳng Khất-sĩ như nhau, chớ không còn phân biệt, còn tiếng Thinh-Văn là đang nghe pháp, Bồ-Tát là đi dạy đạo, sau trước như anh e, danh-từ nơi mỗi sự việc tuy khác nhau, chớ chơn-lý giải-thoát Pháp-bảo là có một v.v… Trong cõi pháp nguyện thật là bình-đẳng ôn-hòa, tốt-đẹp trang-nghiêm, trong sạch, không sao tả xiết đặng. Vậy nên khi nào ai đã đắc Pháp-tạng và thấy rõ ra đại nguyện của nó rồi, thì tự kẻ ấy vui mừng, chắc mình thành Phật đặng, do sự thật hành đúng của mình, là sẽ như có tiếng nói ra rằng : chắc mình thành Phật, tự mình cũng thấy trì mình nói ra như thế, và ai ai những kẻ bậc bề trên, thấy xem xét biến đặng, cũng đều khen tặng như vậy cả. Cõi đời đối với người ấy, sẽ tươi đẹp như rưới mưa hoa, ai ai những bậc cao trên thấy xem đều khen ngợi, như phún mưa hoa, và chính trí ta cũng sẽ khen ngợi tán-thán chào mừng cho mình nữa. Cho đến hàng phụ-nữ xuất-gia vào trong cõi luật-pháp ấy rồi, thì cũng torng sạch như người nam tử, được vậy là do nhờ giới-luật. Cõi ấy bất thối là kẻ đủ trí mới xuất-gia nhập-đạo, khi giác-ngộc đạo báu rồi, thì đâu còn trở lại. Người nào nghe pháp giác-ngộ, hằng niệm tưởng đến năm mười tiếng pháp, kẻ ấy sau nầy cũng sẽ được giải-thoát lần lần, diệt trừ nghiệp tội, xuất-gia đặng, ấy là nhờ niệm pháp, mà pháp rước độ. Trong cõi ấy, cái chi cũng toàn là Pháp-bảo cả, ấy là cõi của tinh-thần thanh-tịnh. Như thế thì đại nguyện là của Pháp-tạng, ai đắc pháp-tạng, quên mình, là sẽ như đại nguyện ấy của mình. Ấy tức là 48 nguyện của pháp, là độ rước tất cả chúng-sanh, là lập thành Cực-Lạc thế-giới, là dạy nuôi những kẻ trước sau có duyên với pháp. Ơ trong giáo-lý ấy xác thân tuy có bỏ, chớ tâm hồn vĩnh-viễn sống thêm hoài, mãi mãi không đầy chật, không tiêu hoại. Ai ai cũng là có đựơc pháp-tạng đại nguyện ấy cả. Ai ai cũng sẽ là Phật, là vua pháp, Pháp-vương, Pháp-tạng-vương như A-Di-Đà-Phật. M à muốn đắc như Phật A-Di-Đà là phải trước đến với sự tích triết-lý của pháp thứ hai nầy, nghĩa là phải từ cư-sĩ đến Khất-sĩ đã. Vì đến Khất-sĩ giải-thoát, thì mới gặp 48 đại nguyện, và từ đó hành đúng theo là mới sẽ thành Phật tạo nên thế-giới Cực-Lạc giữa trong cõi đời cực khổ vậy. III/ Lại như vầy nữa, mà người tu Tịnh-độ cần nên phải biết hiểu thêm, về sự thành đạo của đức Phật A-Di-Đà. Trong sự tích có ghi rằng : Một kiếp chót của Ngài tên hiệu là Amita, Tàu dịch là A-Di-Đà, nghĩa là vô-lượng cam-lộ. Ngài là một vị Tỳ-keo Khất-sĩ, ở chung một Giáo-hội, cầm đầu Giáo-hội ấy, có một vị trưởng-lão, là một vị Phật quá-khứ tái sanh trở lại. Một hôm vị Trưởng-lão đến chỗ tháp thờ Phật, mà lấy cái chén bịt vàng, liệng xuống gạch cho nát bể, bấy giờ ông kêu hội lại tất cả như Ty-keo, mà hỏi rằng : ai làm rớt bể cái chén tốt quý nầy ? Cả thảy chư Tăng đều nói là không biết đến! Trong số đó chỉ có A-Di-Đà thì lặng thinh không trả lời, vì ông nghĩ rằng : cái chén bể, lẽ tá6 nhiên là có người đụng chạm, nhưng cả thảy chư tăng đều nói không biết đến, thì hỏi vậy chứ ai vào đây, không lẽ là vị sư Trưởng-lão, mà nếu không ai chịu nhận, thì ra vụ nầy còn hạch hỏi lôi thôi, trong đạo ắt bị mang tiếng xấu xa chê ngạo; ta hãy nên tính cho êm xong, ta hãy lặng thinh để lãnh tội cho vị sư nào vô ý đó, cho vị ấy an lòng, bớt lo sợ và đặng vững yên tu học. Thế là Ngài lặng thinh suy nghĩ, khi ấy Trưởng-lão mới nói lớn lên rằng : A-Di-Đà, ngươi lặng thinh tức là ngươi phạm tội ấy đó. Vậy muốn cho hết tội, ngươi phải chịu phạt công-quả mười năm, mỗi buổi sáng vào rừng lượm củi, chiều tối phải nấu nước thắp đèn cho Giáo-hội . Phải làm công-quả, hạ mình thấp thỏi hơn hết. Khi đó A-Di-Đà ưng lòng vui chịu, thật hành công-quả cho đến đủ mười năm như vậy, mà trong tâm rất vui, không than phiền chi cả. Tỏ ra rằng : tâm tánh đức-hạnh đủ đầy tròn-trịa tốt đẹp. Vị trưởng-lão thấy vậy rất vui mừng. Một buổi sáng kia, Ngài bèn hoá hiện ra một cái thây ma chết của người thế-gian, nằm tại chỗ tháp thờ Phật, thúi hôi dơ dáy, lại có ruồi lằn bu đậu, vòi tửa nhúc-nhoi ghê tởm. Vị trưởng-lão liền bảo tăng chúng đem đi chôn cất quét rửa giùm, làm cho ai nấy thảy dang ra xa, lảng tránh đi nơi khác, mà nói rằng : Chúng tôi là bậc trong sạch, không làm được việc ấy, hãy để cho A-Di-Đà về tới làm cho. Bữa ấy đã mãn công-quả mười năm rồi, nhưng A-Di-Đà cũng hãy còn đi gánh củi làm việc như thường. Khi về gần tời Giáo-hội, có chư sư chạy kiếm đón đường, cho hay tự sự, mà mượn A-Di-Đà hãy lãnh lo giùm! A-Di-Đà bèn ưng chịu. Vừa về tới cửa, bỏ bó củi xuống, liền xách cuốc nơi tay, đi lại vác xác chết nọ đem chôn. Vị trưởng-lão bảo rằng : ngươi hãy độ cơm đi, rồi sẽ chôn cũng không muộn. A-Di-Đà bạch rằng : bạch Đại-Đức, hãy cho tôi chôn rồi cho sớm, để lâu dơ thúi chỗ tháp Phật không nên. Tôi nhịn ăn một bữa cũng xong được, vì như vậy là trong tâm yên-ổn trong sạch. A-Di-Đà lại gần xác chết thì không thấy mùi hôi thúi nữa, khi vác lên vai không mấy gì nặng, đi được giữa đường thì như nhẹ bổng, không còn có chi hết. Bây giờ Ngài giựt mình ngó lại, thấy xác thân ấy đã hoá ra một tòa sen vàng, rực-rỡ ánh sáng, sực nức mùi thơm, bay bổng lên không-trung và lần lần hạ đáp xuống ngay trước mặt. Chư Thiên Bồ-Tát đều rải hoa chào mừng, khen ngơi tán-thán, và thỉnh Ngài lên ngự toà sen vàng, đặng bay về Cực-Lạc. Lúc đó, A-Di-Đà sửng sốt, chẳng biết rõ thật giả ra sao nên lo sợ ngần-ngại không dám bước ngồi. Chư Thiên, Bồ-tát thúc giục mãi, làm cho A-Di-Đà bối-rối, mà suy nghĩ rằng : ta vốn người trong sạch, dầu ma quỷ có gạt nhằm cũng chẳng sợ chi, vậy ta cũng nên thử xem thiệt giả ra sao cho biết. Ngài bèn bước lên toà sen an toạ, tức thì hào-quang trong mình phóng chiếu sáng ra, thân thể sắc hiện vàng ròng, áo Phật oai-nghiêm tề-chỉnh, tinh-thần an-trụ tươi sáng như nhiên, các phép thần-thông hiện đủ, trí-huệ toàn giác trọn đầy. Ngài chứng quả Như-Lai thành Phật. Sau đó Ngài hay trở về giáo-hội, để tạ ơn Trưởng-lão, và cùng Trưởng-lão hoá hiện toà sen, đưa bay về hướng Tây thế-giới Cực-Lạc. Thế là từ đó về sau, Tăng chúng cùng kẻ thế-gian, ai ai cũng vái nguyện rằng : Nam mô A-Di-Đà-Phật, Nam-mô tiếp dẫn đạo sư A-Di-Đà Phật. Nghĩa là kính lạy vô-lượng cam-lộ Phật, kính lạy tiếp dẫn đạo sư vô-lượng cam-lộ Phật. Đó là cách tu thành đạo của Phật A-Di-Đà. Vậy sự nầy, triết-lý giải ngay ra rằng : sự tu thành đạo đắc quả của một người, bắt đầu từ tâm niệm không tranh, trở nên cư-sĩ, là nhờ sùng-bái Pháp-bảo tam tạng nên về sau được xuất-gia khất-sĩ, đắc pháp tạng đại nguyện, thành Bồ-Tát pháp sư và nơi đây vị Bồ-Tát Pháp-sư ấy, lại có tên gọi là A-Di-Đà vô-lượng cam-lộ ! Nghĩa là không lường Pháp bảo là cam-lộ! Vô-lượng cam-lộ là bậc toàn-giác viên-minh, Pháp-vương vô ngại, Như-Lai Phật, thầy của các bậc Pháp-sư Bồ-Tát, pháp lý nầy để chỉ rõ rằng : Khi Ngài gần thành Phật, Ngài đã lập nên những giáo-hội Tăng-già quốc-độ Phật rồi, nhưng mà lúc nào Ngài cũng vẫn khiêm nhượng, tôn thờ chư Phật quá-khứ làm bậc bề trên trưởng-lão, Ngài gọi là đạo của chư Phật, chớ chẵng phải của Ngài, Ngài chỉ là một phần tử giúp công thôi. Ngài chỉ biết phận sự của Ngài là lo tu, tu cho mình, tu cho tất cả. Ngài xem ai nấy cũng như bạn-lữ, và Ngài còn hạ mình thấp hơn tăng-lữ, đệ tử của Ngài nữa . Ngài không cho ai gọi Ngài là thầy, Ngài cũng không nhận ai là học trò, Ngài thật-hành đúng phép bình đẳng không tranh, y theo chơn-lý võ-trụ. Cái bát vàng bể, là bát chánh-đạo, quý báu như vàng của chư Phật quá-khứ, sự để lại đạo, tức là chén báu; gặp hồi mạt pháp, đạo bát-chánh chia rẽ tông-giáo như bể nát tan, đạo ấy coi ra cũng do chư Phật, mà bể nát cũng do chư Phật; đạo bát-chánh thành, là thời kỳ chánh-pháp, pháp Khất-sĩ Tăng-già; đạo bát-chánh hoại là thời kỳ mạt pháp, tông-giáo bát-chánh cư-sĩ tại gia ; hai giáo –pháp ấy tương-đối cùng nhau, tuỳ theo căn cơ trình-độ của chúng-sanh mỗi lúc , thảy đều do nơi chư Phật giáo-hoá tạo ra cả. Đó tức là vị Trưởng-lão đập bỏ chén đó, thế mà tăng sư không ai nhận tội, nghĩa là đến lúc đạo Phật chia rẽ, giáo-pháp suy đồi, căn-cơ chúng-sanh siển bạc, thế mà tăng chúng toàn là bậc Thinh-Văn, Duyên-Giác, không có ai là đại Bồ-Tát pháp-sư , đứng ra nhận chịu là tội của mình, cho rằng : tại mình phước-đức thiếu kém, vì mình ít tu, tạo gây nhiều nghiệp tội để đời, tích trữ sự tai hại cho chúng-sanh thấp kém, nên đạo pháp mới ra nông-nỗi như vậy. Bởi thế cho nên đại Bồ-Tát A-Di-Đà, thấy không có ai đứng ra lãnh lấy nghiệp tội của chúng-sanh, Ngài cho là người ta chê cười xấu hổ, Ngài mới hết lòng bảo lãnh trách-nhậm; thế là Ngài phải chịu mười năm công quả, tức là Ngài trau giồi thêm mười phép thập độ; thập-độ đây là : bố-thí, nhẫn-nhục, tinh-tấn, trì-giới, thiền-định, trí-huệ, từ vô-lượng, bi vô-lượng, hỷ vô-lượng và xả vô-lượng. Mỗi ngày đều lượm củi gánh về buổi sáng, chiều lại nấu nước, tức là mỗi niệm của trí-huệ, tỏ sáng ra là giáo-hóa tế-độ chúng-sanh, như lượm củi khô, người trí gánh vác nhiệm-vụ hoằng pháp cư-gia, để đặng thâu Tăng; chiều lại khi nghỉ ngơi, thiền-định, là lo tu hành sôi kinh nấu sử luyện rèn thêm và làm gương cho trong Tăng-chúng, như vậy tức là Ngài có đến hai bổn phận, vừa giác-ngộ cư-gia gom thâu nhập đạo, và lại dạy cho hàng Khất-sĩ Tăng-già nêu gương đèn huệ nữa, để cho được tròn xong thập độ, thì trí-huệ toàn giác chơn-như sẽ thành-tựu viên-mãn, mới là thành Phật. Chính trong lúc Ngài sắp thành Phật, là Ngài thấy ra đạo pháp cao quí đáng tôn thờ của Phật, như là bửu tháp nằm trơ đứng lặng, như thây chết trong giữa cõi đời, không còn ai kính trọng. Chúng-sanh trong đời là sống bằng xác thân vật-chất; như một cái thây chết đã trơ, tham sân-si tam độc thúi vòi tuôn ra dơ dáy, họ chết mất tinh-thần, không còn tâm hồn đạo-lý chi cả, thế mà họ lại nằm nơi tháp Phật, dựa bên đạo Phật, ôm theo cốt Phật, làm bẩn nhơ cho đạo Phật, hôi thúi cho Tăng-già. Ay là giáo-pháp của chư Phật đến lúc biến ra như vậy; thế mà trong Tăng chúng ai cũng cứ mảng gọi là lo tu, tự độ, bảo thủ lý thuyết, sở kiến của mình, sợ-sệt kẻ vật-chất như thây ma, gớm ghê ác gian như vòi thúi, mà đành để vậy chịu, chẳng biết làm sao? Khi ấy chỉ bậc đại Bồ-Tát vô lượng cam-lộ, mới không đành để vậy, Ngài trau tâm công-quả vừa xong, giác chơn đã tròn đủ, thế mà Ngài không cần màng sự an hưởng Niết-Bàn giữa sự tròn sáng như buổi cơm trưa ấy. Ngài lật đật vội gánh vác sự độ đời thêm nữa. Ngài xách cuốc trí-huệ, để đi đào xới cõi trần, đặng chôn sâu lấp bỏ vật-chất ác tham, trên bước đường dài giáo-hóa, Ngài gánh vác nghiệp-tội, chúng-sanh, càng lúc càng thấy giảm bớt nặng nề, Ngài lướt xông vào cõi đời, càng cho là sự vui hay, mà không màng chê dơ thúi. Mặc dầu Ngài chưa đến chỗ chôn thây, cũng như chưa độ dứt hết nghiệp tội chúng-sanh, nhưng sự tế-độ lâu ngày đã quen, nên Ngài xem ra như không còn có chi nặng nhọc nữa cả; mà đó là sự vui vẻ nhẹ-nhàng, những chúng-sanh của Ngài tế-độ, họ sẽ là tòa sen vàng của Ngài, họ tôn Ngài là ngôi giáo chủ ngồi trên họ. Họ là tòa sen vàng vì bởi họ đã mặc được áo của pháp giải-thoát quí báu như vàng và họ hết lòng chung hiệp thờ Ngài; họ tôn tặng Ngài là giáo-chủ của họ. Bấy giờ các bậc trí-thức danh nhơn cư-sĩ chư Thiên và các bậc pháp sư khất-sĩ Bồ-Tát khác ai ai cũng thảy phún mưa hoa chào mừng tán-dương ca-tụng khen-ngợi, mà gọi Ngài là xứng đáng bậc thầy hết thảy, thế là gánh nặng vác thây của Ngài, đến nửa đường, chưa được đến nơi trọn vẹn, mà tâm trí đã tròn thành, đạo quả đã xuất hiện, Ngài đã thật giải-thoát, không còn chi rộn nhọc như là bổn nguyện đã rồi xong, như sự quên hết mọi việc, sau buổi cơm no, sau cơn làm mệt là ngủ quên, thế là tâm Ngài đã giác chơn đại định, đã an-trụ không còn xao-xuyến, Ngài yên nghỉ trong sự lặng thinh, trên sự tôn thờ tất cả. Và cũng là chừng đó, trí-huệ, thần-thông mới thật gọi đầy đủ, danh sáng chói khắp thế gian, là hào-quang; thân Ngài người ta quí trọng như vàng. Trước kia Ngài mãi khổ nhọc thấp-thỏi xấu-xí lo tu, làm con trò tất cả, ngày nay vì mối đạo to, phận sự bắt buộc, Ngài phải giữ tư cách đạo hạnh của bậc thầy, để làm gương cho kẻ khác, chớ chư đệ-tử không ai để cho Ngài hạ mình thấp xuống nữa. Chừng ấy người ta mới thấy rõ tướng tốt cách đẹp của ông thầy, do nơi các công đức tu hành học đạo của ông từ lâu tạo thành. Tức là oai-nghi hạnh-kiểm của một ông thầy trang-nghiêm đúng-đắn, do sự không tự cao chấp ngã vậy. Và cũng kể từ đó là Ngài đã hiệp chung với chư Phật quá-khứ trưởng-lão, nền đạo giải-thoát tòa sen của các Ngài, như đã đưa các Ngài lên đến địa-vị nghỉ yên như của bên kia thế-giới Cực-Lạc, là sự giải-thoát hoàn-toàn, an-lạc hoàn-toàn, bằng tâm thanh-tịnh. Các Ngài không còn phải lam-lũ bẩn dơ theo việc thế trần, như bên nầy nữa… Các Ngài đã như đốc học, giáo tổ, các Ngài chỉ chứng-minh và dạy đạo chút ít cho Bồ-Tát Tăng sư bậc thầy, chớ không còn lo cho cư-gia thế-sự. Vì dưới các Ngài, là đã có biết bao nhiêu người tiếp thay, nối chí theo như nguyện hạnh của các Ngài (đối với tất cả chúng-sanh là lẽ chung, việc chung). Nên các Ngài vẫn yên nghỉ, chơn tâm không còn vọng động. Đức A-Di-Đà Vô-lượng cam-lộ, là một vị Phật, sau các chư Phật quá-khứ, sau khi Ngài đã được đất Tây-phương Cực-lạc của chơn-tâm rồi, thì những kẻ trước kia đồng tu với Ngài, ở chung Giáo-hội, tôn thờ chư Phật xưa, từ đó họ mới chịu tôn thờ trở lại Ngài, và tất cả người trong thế-gian sau nầy, ai ai cũng muốn được như Vô-lượng cam-lộ A-Di-Đà, về y theo như đức A-Di-Đà Vô-lượng cam-lộ. Và bởi họ sợ tâm mình biếng-nhác dễ-duôi xao-lãng nên ai nấy thường nhắc nhở, cho tâm mình, và mọi người rằng : Nam-mô A-Di-Đà Phật, Nam-mô tiếp dẫn đạo sư A-Di-Đà Phật, nghĩa là kính lạy Vô-lượng cam-lộ Phật, kính lạy tiếp dẫn đạo sư Vô-lượng cam-lộ Phật. Như thế nghĩa là đức Phật ấy, nhờ vô-lượng cam-lộ mà được thành Phật, đắc giáo-chủ Tây-phương Cực-lạc tinh thần tịnh-độ hiện tại. Vậy thì chúng ta, ai ai tất cả, niệm đến tên Ngài, thì phải vô-lượng cam-lộ y như Ngài mới sẽ chắc là thành Phật cõi Phương-Tây, của tâm, tại đây đặng. Vô-lượng cam-lộ, nghĩa là Pháp-bảo vô-lượng tiếp dẫn chúng-sanh. Ai ai cũng thật hành theo được, và cũng đắc được Pháp bảo ấy hết! Có hành đạo Bồ-Tát mới đắc quả Như-Lai vậy. Pháp bảo có ra là do chư Phật quá-khứ. Pháp-bảo là thầy của chư Phật hiện-tại và vị-lai, thay thế cho chư Phật quá-khứ. Vậy thì, nhứt là trong những thời kỳ xa Phật, chúng ta phải nên thờ Pháp-tạng hơn là thờ cốt tượng Phật, vì cốt tượng Phật không có dạy dỗ quý báu bằng Pháp-tạng. Vả lại, chư Phật xưa kia, được thành Phật là bởi cả thảy đều do nơi Pháp-tạng. Thế nên gọi Phật A-Di-Đà là có trước Phật Thích-Ca. Chính như đức Thích-Ca Mưu-Ni ấy mới phải gọi đúng danh là Vô-lượng Cam-Lộ Vương Như-Lai, A-Di-Đà Phật. Cả thảy chư Phật nào cũng là A-Di-Đà cả. Đúng theo chơn-lý, A-Di-Đà Phật, là đức Thích-Ca, là một người chớ không phải hai vị. Phật A-Di-Đà cũng tức là chơn tâm bình-đẳng của mỗi người. Từ xưa Vô-Tránh Niệm, đến Pháp-Tạng Tỳ-kheo, đến Vô-Lượng Cam-Lộ là ba nấc thang đi đến đắc thành chánh-đẳng chánh-giác Phật. Vậy thì ai ai cũng có chơn tâm Phật A-Di-Đà, và thân Khất-sĩ là Cực-Lạc Tây-phương ấy hết.
PHÁP-YẾU-TU-HÀNH Yếu điểm của đường tu Gồm hai phần Sự, Lý Lý tu là sửa tâm Cho hợp với chân lý Sự tu chỉnh ba nghiệp Giúp chứng cảnh chân như Sửa tâm là dứt trừ Nghiệp tham, ái, nóng, giận Si mê cùng tật đố Ngã mạn với kiêu căng Chớ chạy theo hình thức Say đắm nẻo lợi danh Chuộng địa vị, quyền hành Khoe thông minh, tài giỏi Phải sanh lòng giác ngộ Niệm thanh tịnh từ bi Dõng tiến mà kiên trì Sáng suốt mà khiêm hạ Tự nghĩ mình xưa nay Ðã tạo nhiều tội chướng Chịu nhẫn nhục, sám hối Biết an phận, tùy duyên Duyên tốt chẳng kiêu khoe Duyên xấu không thối não Bình tỉnh mãi tiến tu Như bơi thuyền ngược nước Về biển Tát Bà Nhã Ðến Bảo Sở an vui Ðó là phần tu tâm Hợp với lý giải thoát Sự tu là thân nghiệp Lễ kính Phật sám hối Khẩu nghiệp trì chú kinh Hoặc niệm Phật khen ngợi Ý nghiệp giữ thanh tịnh Mật tu môn Lục Niệm Nguyện đền đáp bốn ân Nguyện mình cùng chúng sanh Sanh cõi vui thành Phật Pháp Yếu Tu Hành 2 Ðời đời gặp chánh Pháp Tu sáu độ muôn hạnh Tâm Bồ Ðề độ sanh Trần kiếp không thối chuyển Tu Sự mà bỏ Lý Làm sao mở chân tâm? Tu Lý mà phế Sự Cũng không thể thành Phật ! Tu Sự chẳng chấp TƯỚNG Thì tức SẮC là KHÔNG Tu Lý không bỏ Sự Ðó tức KHÔNG là SẮC Lý chính thật Chân-Không Sự là phần Diệu-Hữu Chân-Không tức Diệu-Hữu Diệu-Hữu tức Chân-Không Nếu chưa đạt lẽ nầy Thà tu hành chấp CÓ Ðừng cầu cao bác tướng Mà lạc vào Ngoan-Không Ðây chính hầm khổ đọa Kẻ thông minh đời nay Ða số mắc lỗi nầy Xưa có sư Tông-Thắng Tài huệ biện cao siêu Vì ỷ giỏi kiêu căng Nên bị nhục chiết phục Hỗ thẹn muốn tự tận Thọ thần hiện thân khuyên “ Sư nay đã trăm tuổi Tám mươi năm lầm lạc May nhờ gặp Thánh nhân Huân tu mà học đạo Tuy có chút công đức Mà lòng hay bỉ ngã Ỷ thông minh biện bác Lấn người không khiêm hạ Lời cao hạnh chưa cao Nên phải bị quả báo Từ đây nên tự kiểm Ít lâu thành trí lạ Các THÁNH đều tồn tâm NHƯ LAI cũng như vậy ” Pháp Yếu Tu Hành 3 Lại có kẻ đua tướng Tranh Thượng Tọa ,Ni Sư Mượn thuyết pháp, tụng kinh Ðể mưu cầu lợi dưỡng Dành đệ tử, chùa chiền Lập bè đảng, quyến thuộc Thấy có ai hơn mình Liền thị phi tật đố Hại Thầy Bạn, phản Ðạo Lừa dối hàng tín tâm Lời nói thật rất cao Việc làm thật rất thấp Lý Sự đều sai trái Hạng ấy hiện rất nhiều Tạo biển khổ thêm sâu Khiến đau lòng tri-thức Lý, Sự đại lược thế Công đức làm sao được? Phật là ÐẠI-Y-VƯƠNG Pháp là DIỆU-TIÊN-DƯỢC Là phương-thuật rất mầu Là như-ý bảo châu Hay trừ nạn nghèo khổ Khiến cho được giàu vui Hay trừ tất cả bệnh Khiến mau được bình phục Hay trừ nạn yểu số Khiến thọ-mạng dài lâu Hay khỏi các tai ách Như bão lụt, binh lửa Giặc cướp cùng tà ngoại Ác thú với độc xà Các yêu ma , quỷ mị Nạn động đất, xe, thuyền Những phù-chú ếm-đối Ðều phá tiêu tan hết Cho đến trừ tội chướng Sanh trưởng phước huệ to Cứu chúng đọa Tam Ðồ Siêu lên bờ giải thoát Chuyên tụng một phẩm Kinh Một Chân-Ngôn, hiệu Phật Thì thành tựu các nguyện Thỏa mãn các mong cầu Pháp Yếu Tu Hành 4 Chỉ sợ người không tin Hoặc tin mà không sâu Lại ngại không thực hành Hoặc hành không bền lâu Hoặc tuy hành bền lâu Không chí tâm khẩn cầu Chí tâm là không vọng Trì niệm quên thân tâm Lặng lẽ dứt phân biệt Không trong, ngoài, người, cảnh Khi đi, đứng, thức, ngủ Chẳng bỏ câu trì niệm Lúc hưỡn, gấp, an, nguy Cũng vững vàng trì niệm Cho đến khi sắp chết Vẫn như thế trì niệm Ðắc, thất đều do đây Cần chi hỏi tri thức Không hành như trên đây Phật cũng khó cứu vớt Huống nữa là phàm Tăng Giúp ích được gì đâu Nhớ lời Cổ Ðức dạy: “Ta có một bí quyết Khẩn thiết khuyên bảo nhau Là hết lòng thành kính Nhiệm mầu cực nhiệm mầu ” Hãy ghi nhớ lời nầy Lắng lòng suy gẫm sâu Trời xanh tươi biếc một mầu Ánh trăng vẫn sáng một mầu xưa nay Mà sao đời đạo đổi thay Cỏ hoa đượm nét u-hoài thờ-ơ “Thuyết pháp bất đậu cơ Chúng sanh một khổ hải ” Ðời mạt suy thế đạo lại thêm thương Sóng dồn bọt biển tà dương Con thuyền cứu độ khuất đường vân yên Bụi hồng tung gió đảo điên Vô tình mai nở diệu hiền cành xuân. Nam-mô Thánh Trí Hải Biến Chiếu Trang Nghiêm Vương Như-Lai.
PHÁT BỒ ĐỀ TÂM KINH LUẬN (Quyển thượng) PHẨM THỨ NHẤT: KHUYẾN PHÁT Kính lễ vô biên tế Đẳng không bất động trí Khứ lai hiện tại Phật Cứu thế Đại bi tôn Có diệu pháp đại phương đẳng tối thượng thuộc tạng Ma Đắc Lặc Ca, được chư Bồ Tát Ma Ha Tát tu hành. Chính là (1) khuyến khích ưa thích tu tập Bồ Đề vô thượng, (2) để có thể làm cho chúng sinh phát tâm sâu rộng, (3) kiến lập thệ nguyện dứt khoát trang nghiêm, (4) xả bỏ thân mạng tài sản để nhiếp phục tham tiếc, (5) tu năm tụ giới để giáo hóa dẫn dắt các người phạm giới, (6) phát tinh tiến dũng mãnh để an chỉ chúng sinh, (7) tập các thiền định để biết rõ các tâm, (8) tu hành trí huệ diệt trừ vô minh, (9) nhập môn như thật lìa các chấp trước, (10) tuyên bày đức hạnh KHÔNG vô tướng thậm thâm, (11) ca ngợi công đức khiến cho Phật chủng không đoạn. Có vô lượng môn phương tiện thanh tịnh như thế để trợ giúp cho Bồ Đề pháp. Nay tôi sẽ vì các hàng thượng thượng thiện mà phân biệt hiển bày, để khiến cho rốt cuộc được A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề. Chư Phật tử, nếu như người Phật tử thọ trì những gì Phật nói, rồi có thể diễn giảng thuyết pháp cho chúng sinh, thì trước hết phải ca ngợi công đức của Phật. Chúng sinh nghe thế rồi mới có thể phát tâm cầu trí huệ của Phật. Do phát tâm như thế nên Phật chủng không đoạn mất. Nếu Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni, Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di, niệm Phật, niệm pháp, lại niệm Như Lai khi hành Bồ Tát đạo, do vì cầu pháp nên trong a tăng kỳ kiếp chịu bao cần khổ. Do niệm như thế, (nếu có ai) nói pháp cho Bồ Tát, dù chỉ là một bài kệ, Bồ Tát nghe được pháp ấy vui mừng được lợi ích của giáo pháp, nên mới trồng thiện căn tu tập Phật pháp, đắc A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề. Do vì để đoạn các khổ não của những chúng sinh, từ vô thỉ sinh tử, Bồ Tát Ma Ha Tát muốn thành tựu vô lượng thân tâm, cần tu tinh tiến, sâu phát đại nguyện, rồi thật hành đại phương tiện tâm, cầu đại trí huệ vô kiến đỉnh tướng. Cầu các pháp lớn như thế của chư Phật. Phải biết rằng các pháp ấy vô lượng vô biên, do pháp vô lượng nên quả báo phúc đức cũng vô lượng. Như Lai nói rằng, nếu các Bồ Tát tối sơ một niệm phát tâm hạ liệt thôi, thời quả báo phúc đức trong trăm ngàn vạn kiếp có nói cũng không cùng tận, huống gì là trong một ngày, một tháng, một năm, cho đến trăm năm tu tập các tâm ấy, quả báo phúc đức lẽ nào có thể nói tận. Tại sao vậy? Bởi sự thật hành của Bồ Tát không cùng tận, vì Bồ Tát muốn khiến cho tất cả chúng sinh đều trụ vào vô sinh pháp nhẫn, đều đắc A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề. Các Phật tử, Bồ Tát ban sơ phát Bồ Đề tâm, ví như biển lớn lúc ban đầu từ từ sinh khởi, phải hiểu đó là chỗ chứa cho các châu báu như ý giá trị từ hạ trung thượng cho đến vô giá, bởi các báu này đều từ biển lớn mà sinh. Bồ Tát (sơ) phát tâm cũng y như vậy, lúc ban đầu (từ từ) sinh khởi (tâm), phải hiểu (tâm ấy) liền là chỗ sinh khởi tất cả thiện pháp thiền định, trí huệ của người trời, thanh văn, duyên giác, chư Phật Bồ Tát. Lại nữa, cũng như tam thiên đại thiên thế giới, lúc mới bắt đầu sinh (từ từ) khởi, phải hiểu là liền thành ngay chỗ y chỉ nâng đỡ trọn cả 25 cõi hữu trong ấy gồm hết cả chúng sinh. Bồ Tát phát Bồ Đề tâm cũng y như vậy, lúc mới bắt đầu phát khởi đã thành là chỗ y chỉ nâng đỡ cho hết tất cả vô lượng chúng sinh, nào là gồm hết sáu nẻo bốn sinh, chính kiến tà kiến, tu thiện tập ác, hộ trì tịnh giới, phạm bốn trọng cấm, tôn phụng tam bảo, hủy báng chính pháp, chư ma ngoại đạo, sa môn phạm chí, Sát Lợi, Bà La Môn, Tỳ Xá, Thủ Đà. Lại nữa, Bồ Tát phát tâm lấy từ bi làm đầu. (Tâm) từ của Bồ Tát vô lượng vô biên, cho nên (khi Bồ Tát) phát tâm không có giới hạn (mà) bằng với chúng sinh giới. Ví như hư không, không có gì mà hư không không che trùm. Bồ Tát phát tâm cũng y như vậy, tất cả mọi chúng sinh không có chúng sinh nào mà Bồ Tát không che trùm. Nếu như chúng sinh giới vô lượng vô biên không sao cùng tận, Bồ Tát phát tâm cũng y như vậy, vô lượng vô biên không có cùng tận. Hư không vô tận nên chúng sinh cũng vô tận, chúng sinh vô tận nên Bồ Tát phát tâm bằng với chúng sinh giới. Mà chúng sinh giới lại không có giới hạn. Nay tôi sẽ thừa Thánh chỉ mà nói lên ít phần về chúng sinh giới. Lấy hết phương đông ngàn ức hằng hà sa a tăng kỳ thế giới của chư Phật. Phương nam, tây, bắc, bốn phương phụ, phương trên và dưới, mỗi phương cũng lấy ngàn ức hằng hà sa a tăng kỳ thế giới của chư Phật. (Rồi) nghiền nát ra thành vi trần. Số vi trần này không trở ngại gì hết đối với mắt. (Sau đó) có bao chúng sinh trong trăm vạn ức hằng hà sa a tăng kỳ tam thiên đại thiên thế giới cùng nhau giữ lấy một vi trần. (Rồi) có bao nhiêu chúng sinh trong hai trăm vạn ức hằng hà sa a tăng kỳ tam thiên đại thiên thế giới cùng nhau giữ lấy hai vi trần. Cứ thế lần lượt lấy hết trọn số vi trần thuộc địa chủng có trong mười phương, mỗi phương gồm ngàn ức hằng hà sa a tăng kỳ thế giới của chư Phật. (Dù vậy) chúng sinh giới này vẫn không hề cùng tận. Ví như có người chẻ một sợi lông ra làm trăm phần, rồi lấy một phần lông ấy chấm vào đại hải. Giờ đây cái ít phần mà tôi nói về chúng sinh cũng giống như (nước chấm nơi đầy một phần trăm sợi lông) vậy. Phần (chúng sinh) còn lại chưa được nói đến giống như nước của cả đại hải. Giả như chư Phật có trải qua vô lượng vô biên a tăng kỳ kiếp dùng đủ thí dụ diễn nói rộng rãi cũng không nói cùng được. Bồ Tát phát tâm có thể che trùm trọn chúng sinh như vậy. Tại sao? Các Phật tử, tâm Bồ Đề này có lý do nào lại cùng tận được sao? Nếu có Bồ Tát nào nghe nói thế mà không kinh không sợ không thối không bỏ, phải biết người ấy chắc chắn có thể phát tâm Bồ Đề. Cho dù có vô lượng tất cả chư Phật trong vô lượng a tăng kỳ kiếp ca ngợi công đức của người ấy cũng không sao cùng được. Tại sao vậy? Bởi Bồ Đề Tâm này không có giới hạn, không hề cùng tận. (Bồ Đề tâm) có vô lượng lợi ích như thế, cho nên (tôi mới) tuyên thuyết để khiến cho chúng sinh đều được nhận lấy thực hành, mà phát Bồ Đề tâm vậy. PHẨM THỨ HAI PHÁT TÂM Bồ tát phát Bồ Đề tâm ra sao? Tu tập Bồ Đề bằng những nhân duyên gì? Nếu Bồ Tát (1) gần gũi thiện tri thức, (2) cúng dường chư Phật, (3) tu tập thiện căn, (4) chí cầu thắng pháp, (5) tâm thường nhu hòa, (6) gặp khổ nhẫn nại được, (7) từ bi thuần hậu, (8) thâm tâm bình đẳng, (9) tin ưa Đại Thừa, (10) cầu trí huệ Phật. Nếu người nào có đủ mười pháp như thế, thì mới có thể phát tâm A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề. Lại có bốn duyên phát tâm tu tập Bồ Đề. Thế nào là bốn? 1. Một là tư duy chư Phật mà phát Bồ Đề tâm. 2. Hai là quán thân tai hại sai lầm mà phát Bồ Đề tâm. 3. Ba là từ mẫn chúng sinh mà phát Bồ Đề tâm. 4. Bốn là cầu quả tối thắng mà phát Bồ Đề tâm. Tư duy (về) chư Phật mà phát Bồ Đề tâm lại gồm có năm việc. - Một là tư duy chư Phật khắp mười phương quá khứ, vị lai, hiện tại, khi mới ban đầu phát tâm cũng đầy phiền não tính, y như mình hiện giờ. Rốt cuộc các Ngài đã thành chính giác, làm bậc vô thượng tôn. Do bởi duyên ấy nên (ta phải) phát Bồ Đề tâm. - Hai là tư duy tất cả ba đời chư Phật phát đại dũng mãnh, Ngài nào cũng đắc được vô thượng Bồ Đề. Nếu Bồ Đề này là pháp có thể đắc được, thì ta cũng phải đắc được. Do duyên cớ ấy nên phát Bồ Đề tâm. - Ba là tư duy tất cả ba đời chư Phật phát đại minh huệ, ở trong mạng (lưới) vô minh kiến lập thắng tâm, tích tập khổ hành, mà đều có thể tự kéo mình ra vươn lên khỏi ba cõi. Ta cũng như thế, sẽ tự kéo mình thoát khỏi (ba cõi). Do duyên cớ ấy nên phát Bồ Đề tâm. - Bốn là tư duy tất cả ba đời chư Phật là bậc (tráng lực) trong loài người, các Ngài đều vượt khỏi biển lớn phiền não sinh tử. Ta cũng là trượng phu, cũng sẽ vượt khỏi được. Do duyên cớ ấy nên phát Bồ Đề tâm. - Năm là tư duy tất cả ba đời chư Phật phát đại tinh tiến, xả thân mạng tài sản để cầu nhất thiết trí. Giờ ta cũng sẽ học theo chư Phật. Do duyên cớ ấy nên phát Bồ Đề tâm. Quán thân tai hại sai lầm mà phát Bồ Đề tâm cũng gồm năm duyên sự: - Một là tự quán thân mình (gồm) năm ấm bốn đại, đều có thể khởi tạo vô lượng ác nghiệp. Do muốn lìa bỏ (thân này nên phát Bồ Đề tâm). - Hai là tự quán thân mình (gồm) chín lỗ thường chảy ra (các thứ) hôi bẩn không sạch. Do muốn lìa bỏ (thân này nên phát Bồ Đề tâm). - Ba là tự quán do bởi thân mình có tham sân si, vô lượng phiền não đốt cháy thiện tâm. Do muốn lìa bỏ (thân này nên phát Bồ Đề tâm). - Bốn là tự quán do bởi thân mình như bong bóng, như bọt nước sinh diệt trong từng niệm một, là cái pháp có thể xả được. Do muốn vất bỏ (thân này nên phát Bồ Đề tâm). - Năm là tự quán do bởi thân mình vô minh che đậy, thường tạo ác nghiệp, luân hồi sáu nẻo. Do không lợi ích gì hết (nên phát Bồ Đề tâm). Cầu quả tối thắng mà phát Bồ Đề tâm cũng gồm có năm duyên sự: - Một là thấy chư Như Lai tướng tốt trang nghiêm, quang minh trong suốt, ai thấy được thời trừ hết phiền não. Do vì tư tập (tướng tốt này nên phát Bồ Đề tâm). - Hai là thấy chư Như Lai pháp thân thường trụ, thanh tịnh không ô nhiễm. Do vì tu tập (pháp thân này mà phát Bồ Đề tâm). - Ba là thấy chư Như Lai (có) các pháp tụ thanh tịnh là giới, định, huệ, giải thoát và giải thoát tri kiến. Do vì tu tập (các pháp tụ này mà phát Bồ Đề tâm). - Bốn là thấy chư Như Lai có mười lực, bốn vô sở úy, đại bi, ba niệm xứ. Do vì tu tập (các pháp này mà phát Bồ Đề tâm). - Năm là thấy chư Như Lai có nhất thiết trí, thương xót chúng sinh, từ bi che khắp, có thể làm chính đạo cho tất cả các kẻ ngu mê. Do vì tu tập (nhất thiết trí này mà phát Bồ Đề tâm). Từ mẫn chúng sinh mà phát Bồ Đề tâm cũng gồm năm duyên sự: - Một là thấy các chúng sinh bị phiền não trói buộc. - Hai là thấy các chúng sinh bị đủ loại khổ cuốn vây. - Ba là thấy các chúng sinh tích tập các nghiệp bất thiện. - Bốn là thấy các chúng sinh tạo các ác cực nặng. - Năm là thấy các chúng sinh không tu chính pháp. a) Vô minh trói buộc lại gồm có bốn loại: - Một là thấy các chúng sinh bị si ái mê hoặc mà chịu khổ hết sức mãnh liệt. - Hai là thấy các chúng sinh không tin nhân quả mà tạo tác ác nghiệp. - Ba là thấy các chúng sinh lìa bỏ chính pháp, tin (theo) tà đạo. - Bốn là thấy các chúng sinh chìm trong sông phiền não bị bốn dòng xô giạt. b) Các loại khổ cuốn vây lại có bốn loại: - Một là thấy các chúng sinh sợ sinh lão bệnh tử (song) không chịu cầu giải thoát, mà còn tạo nghiệp. - Hai là thấy các chúng sinh ưu sầu khổ não mà cứ thường tạo tác không chịu ngưng nghỉ. - Ba là thấy các chúng sinh ái biệt ly khổ mà không giác ngộ (mà cứ theo đó làm) phương tiện nhiễm trước. - Bốn là thấy các chúng sinh oán tắng hội khổ thường ganh hiềm, rồi lại tạo oán. c) Tích tập các nghiệp bất thiện lại có bốn loại: - Một là thấy các chúng sinh vì ái dục mà tạo tác các việc ác. - Hai là thấy các chúng sinh biết dục sinh khổ mà không chịu bỏ dục. - Ba là thấy các chúng sinh tuy muốn có được sung sướng mà lại không có đủ giới. - Bốn là thấy các chúng sinh tuy không thích khổ mà lại tạo khổ không ngừng. d) Tạo các ác cực nặng lại có bốn loại: - Một là thấy các chúng sinh hủy phạm trọng giới, tuy có lo âu mà vẫn phóng dật. - Hai là thấy các chúng sinh khởi tạo cực ác (như) năm nghiệp vô gián, (mà vẫn) ngoan cố che đậy không biết hổ thẹn. - Ba là thấy các chúng sinh huỷ báng Đại Thừa phương đẳng chính pháp, cứ tự ngu chấp mới khởi kiêu mạn. - Bốn là thấy các chúng sinh tuy có thông triết, song toàn đoạn thiện căn. (Đã thế) lại trở ngược cống cao, vĩnh viễn không chịu hối cải. e) Không tu chính pháp lại có bốn loại: - Một là thấy các chúng sinh ở trong tám nạn không nghe (được) chính pháp, không biết tu thiện. - Hai là thấy các chúng sinh gặp (được) Phật xuất hiện nơi đời (được) nghe chính pháp mà không thọ trì nổi. - Ba là thấy các chúng sinh nhiễm thói quen ngoại đạo, khổ thân tu nghiệp, vĩnh viễn lìa ngoài xuất yếu. - Bốn là thấy các chúng sinh tu đắc phi tưởng phi phi tưởng xứ định, cho đó là Niết Bàn. Dè đâu thiện báo (một khi) dứt hết vẫn đọa vào ba đường (dữ). Bồ tát thấy chúng sinh do vô minh mà tạo nghiệp nên (như) ở mãi trong đêm dài chịu khồ, lìa bỏ chính pháp, không còn biết đâu là nẻo ra. Vì các chúng sinh ấy nên phát đại từ bi, chí cầu A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề, như cứu lửa cháy trên đầu. (Với tâm niệm rằng) tất cả chúng sinh mà có khổ não, ta sẽ cứu vớt khiến không còn sót chút nào. Các Phật tử, hiện tôi đã nói qua các duyên sự phát tâm của bậc Bồ Tát sơ hành. Nếu mà nói rộng ắt là vô lượng vô biên. PHẨM THỨ BA: NGUYỆN THỆ Bồ Tát làm thế nào để phát được xu hướng về Bồ Đề? Do hạnh nghiệp nào mà thành tựu được Bồ Đề? Bồ tát phát tâm trụ nơi càn huệ địa, trước hết phải kiên cố mà phát chính nguyện, nhiếp thọ (thâu nhận lấy) hết tất cả vô lượng chúng sinh. “Ta cầu vô thượng Bồ Đề để cứu hộ và độ thoát cho họ không còn sót chút nào, và đều cho họ được cứu cánh vô dư Niết Bàn”. Cho nên khởi thủy phát tâm thời đại bi làm đầu. Do nhờ bi tâm nên có thể phát chuyển mười đại chính nguyện thù thắng. Sao nói là mười? - Nguyện đời trước của ta và thân hiện tại có bao nhiêu thiện căn trồng được, (xin) đem các thiện căn này thí cho tất cả vô biên chúng sinh, rồi trọn cùng họ hồi hướng về vô thượng Bồ Đề. Khiến sao cho nguyện này của ta mỗi niệm mỗi tăng trưởng. Đời đời sinh ra, (nguyện ấy) thường cột nơi tâm không hề quên mất, được Đà La Ni gìn giữ bảo vệ. - Nguyện sau khi ta hồi hướng vô thượng Bồ Đề rồi, do thiện căn này mà tất cả nơi nào (ta) sinh ra, thường được cúng dường tất cả chư Phật, vĩnh viễn chắc chắn không sinh vào các quốc độ không có Phật. - Nguyện sau khi ta được sinh về nước của chư Phật rồi, thì thường được gần gũi theo hầu phải trái như bóng với hình, không một khoảnh khắc sát na nào xa lìa chư Phật. - Nguyện sau khi ta được gần gũi Phật rồi, thì tuỳ ta cần thiết (chư Phật) thuyết pháp cho ta (và ta) sẽ thành tựu được năm thông của Bồ Tát. - Nguyện sau khi ta thành tựu năm thông của Bồ Tát rồi, (ta) sẽ có thể thông hiểu thế đế giả danh lưu bố, sẽ thấu tỏ như chân thật tính thuộc đệ nhất nghĩa đế, và đắc được chính pháp trí. - Nguyện sau khi ta đắc được chính pháp trí rồi, (ta) sẽ dúng tâm không biết chán để thuyết (pháp) cho chúng sinh, chỉ giáo làm họ lợi ích hoan hỉ, và đều làm cho họ được thông hiểu. - Nguyện sau khi ta đã có thể làm cho chúng sinh thông hiểu rồi, (ta) sẽ dùng Phật thần lực đến khắp không sót một thế giới nào trong mười phương để cúng dường chư Phật, nghe nhận chính pháp, nhiếp rộng các chúng sinh. - Nguyện sau khi ta đón nhận chính pháp từ nơi chư Phật rồi, (ta) có thể chuyển ngay được pháp luân thanh tịnh. Tất cả chúng sinh trong mười phương thế giới ai nghe được pháp ta, nghe được danh ta, sẽ lìa bỏ ngay tất cả phiền não và phát tâm Bồ Đề. - Nguyện sau khi ta có thể làm cho tất cả chúng sinh phát Bồ Đề tâm rồi, (ta) thường theo bảo vệ cho họ, trừ (cho họ) những gì không lợi ích, ban (cho họ) vô lượng an lạc, (ta sẽ) xả bỏ thân mạng tài sản để nhiếp thọ chúng sinh và gánh vác chính pháp. - Nguyện sau khi ta đã có thể gánh vác chính pháp rồi, tuy ta thực hành chính pháp song tâm không hề có hành. Cũng như chư Bồ Tát khi thực hành chính pháp, song không hề thực hành gì hết mà cũng không phải không hành. Vì để hoá độ chúng sinh mà không bỏ chính nguyện, như thế gọi là mười đại nguyện của phát tâm Bồ Tát. Mười đại nguyện này trùm hết chúng sinh giới, tóm thâu (nhiếp thọ) tất cả hằng sa các nguyện. “Nếu chúng sinh tận, thì nguyện của ta mới tận. Song chúng sinh thật không thể cùng tận, nên đại nguyện này của ta cũng không có cùng tận”. Lại nữa, Bố Thí là nhân của Bồ Đề, do vì (bố thí) giữ lấy tất cả các chúng sinh. Trì giới là nhân của Bồ Đề, bởi (trì giới) gồm đủ các thiện thành mãn bổn nguyện. Nhẫn nhục là nhân của Bồ Đề, bởi (nhẫn nhục) thành tựu 32 tướng 80 tuỳ hình đẹp. Tinh tiến là nhân của Bồ Đề, vì (tinh tiến) tăng trưởng thiện hành, đối với các chúng sinh chăm chỉ giáo hoá. Thiền định là nhân của bồ đề, vì (do thiền định), Bồ Tát khéo tự điều phục, có thể rõ biết tâm hành của chúng sinh. Trí huệ là nhân của bồ đề, vì (do trí huệ) có đủ, có thể biết được tính và tướng của các pháp. Tóm yếu mà nói, sáu Ba La Mật là chính nhân Bồ Đề. (Lại gồm thêm) bốn vô lượng tâm, 37 phẩm và các vạn thiện hành cùng tương trợ mà thành. Nếu Bồ Tát tu tập sáu Ba La Mật thì tuỳ theo sự thật hành của các ngài, (các ngài) sẽ từ từ được gần với A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề. Các Phật Tử, người cầu Bồ Đề phải không phóng dật. Hành vi phóng dật có thể làm hoại thiện căn. Nếu Bồ Tát chế phục sáu căn được mà không phóng dật, thì người ấy có thể tu được sáu Ba La Mật. Bồ Tát phát tâm trước tiên phải hết sức chí thành lập thệ quyết định. Người lập thệ rồi ra sẽ không phóng dật, giãi đãi, trì hoãn. Tại sao vậy? Do vì lập thệ quyết định nên có năm duyên trì giữ (lấy mình không cho phóng dật). 1. Một là có thể làm cho tâm mình kiên cố. 2. Hai là có thể chế phục được phiền não. 3. Ba là có thể chặn đứng được phóng dật. 4. Bốn là có thể phá được năm cái che đậy (ngũ cái). 5. Năm là có thể siêng năng tu hành sáu Ba La Mật. Như Phật ca ngợi: Như Lai Đại Trí Tôn Nói về công đức chứng, Lực nhẫn, huệ, phúc nghiệp, Lực thệ nguyện tối thắng. Lập thệ ra làm sao? Nếu có người lại cầu xin đủ thứ, lúc ấy ta sẽ tuỳ có (bao nhiêu mà) thí cho, dến mức không sinh một niệm tiếc rẻ trong tâm. Nếu lại sinh tâm ác (dù) chỉ trong khoảng khẩy ngón tay (như) dùng nhân duyên bố thí để được phúc báo thanh tịnh, tức là ta đã khi dối vô lượng vô biên a tăng kỳ hiện tại chư Phật trong mười phương thế giới. Đến đời vị lai (ta) cũng sẽ chắc chắn không thành được A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề. Nếu ta trì giới (cho dù) đến mức mất mạng, (vẫn) xây dựng chắc tâm (giữ giới) thanh tịnh, thề không hề hối tiếc. Nếu ta tu nhẫn, bị kẻ khác xâm hại đến mức cắt chém, (ta vẫn) thường sinh từ ái, thề không có oán giận ngăn ngại. Nếu ta tu tinh tiến, (cho dù) gặp phải lạnh nóng, vua giặc, nước lửa, sư tử cọp sói, chốn không nước gạo, thời phải giữ tâm kiên cường thề không thối chuyển. Nếu ta tu thiền, bị các chuyện bên ngoài quấy nhiễu không cho nhiếp tâm, thì cần phải trói niệm vào cảnh, thề không tạm khởi phi pháp loạn tưởng. Nếu ta tu tập trí huệ, quán như thật tính của tất cả các pháp, tuỳ thuận (theo pháp mà) thọ trì. Đối với các pháp thiện, bất thiện, hữu vi, vô vi, sinh tử, Niết Bàn, không khởi lên cái thấy làm hai. Nếu tâm ta hối oán ngăn ngại thoát thất loạn tưởng, mà khởi lên thầy làm hai, (dù chỉ) như trong khoảng khảy móng tay mà dùng giới, nhẫn, tinh tiến, thiền, trí để cầu (phúc) báo thanh tịnh, tức ta đã khi dối vô lượng vô biên a tăng kỳ hiện tại chư Phật trong mười phương thế giới. Đến đời vị lai (ta) cũng sẽ chắc chắn sẽ không thành được A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề. Bồ tát mười đại nguyện trì giữ việc thật hành chính pháp, dùng sáu đại thệ để chế ngự tâm phóng dật, thì sẽ có thể tinh cần tu tập sáu Ba La Mật, thành được A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề. PHẦN THỨ TƯ: ĐÀN BA LA MẬT Bồ Tát tu hành bố thí như thế nào? Bố thí nếu là vì để tự lợi tự tha, cả hai cùng lợi. Bố thí như thế sẽ có thể trang nghiêm được đạo Bồ Đề. Bồ Tát vì muốn điều phục chúng sinh, làm cho họ lìa được khổ não, cho nên mới thật hành thí. Tu hành thí là luôn sinh tâm xả bỏ đối với tài vật của chính mình, luôn sinh tâm tôn trọng đối với người đến cầu xin, coi họ như cha, mẹ, sư trưởng hay thiện tri thức. Đối với kẻ bần cùng hạ tiện khởi tâm thương mến, coi họ như con một (của mình), tuỳ họ cần gì cho nấy với tâm vui mừng cung kính. Như thế gọi là bố thí tu sơ thí tâm. Do tu bố thí nên tiếng đồn khắp. Sinh đến chỗ nào cũng của báu đầy ắp, như thế gọi là tự lợi. Có thể làm cho tâm chúng sinh được thoả mãn, (rồi) khuyên dạy điều phục, làm cho họ không còn keo kiết, như thế gọi là lợi tha. Dùng cái đại thí vô tướng do chính mình tu được, dạy các chúng sinh làm cho họ được lợi giống như chính mình, như thế gọi là cùng lợi. Do tu bố thí mà thành được địa vị chuyển luân vương, (nên có thể) thâu nhiếp tất cả vô lượng chúng sinh, đến mức đắc được pháp tạng vô tận của đức Phật, như thế gọi là trang nghiêm đạo Bồ Đề. Thí có ba loại: một là dùng pháp để thí, hai là thí vô uý, ba là thí tài vật. Dùng pháp để thí là khuyên người ta thọ giới, tu tập tâm xuất gia. Để phá tà kiến nên nói lên các lỗi lầm tai hại của các ác pháp bốn đảo, đoạn, thường, và phân biệt khai mở ý nghĩa của chân đế. Ca ngợi công đức tinh tiến, nói lên tai hại của phóng dật. Như thế gọi là pháp thí. Nếu có chúng sinh sợ hãi vua chúa, sư tử, cọp sói, lửa nước, giặc cướp, Bồ Tát thấy thế, rồi có thể cứu hộ họ được, gọi là vô uý thí. Đem tài vật của chính mình ra thí không hề tiếc rẻ, trên cho đến trân bảo, voi ngựa, xe cộ, lụa bông, lúa mạch, quần áo, uống ăn, dưới cho đến miếng bánh, sợi chỉ. Hoặc ít hoặc nhiều đúng với ý của người xin, tuỳ họ cần gì cho nấy, như thế gọi là tài thí. Tài thí có năm loại: 1. một là chí tâm thí 2. hai là tín tâm thí 3. ba là tuỳ thời thí 4. bốn là tự tại thí 5. năm là như pháp thí. Những gì không được thí cũng có năm điều: 1. tài sản có được một cách phi lý, không được đem thí cho người, bởi đó là các vật không trong sạch. 2. Rượu và độc dược không được đem thí cho người, vì các thứ ấy làm (não) loạn chúng sinh. 3. Bẫy lưới, máp rập, võng, không được đem thí cho người, vì các thứ ấy (não) hại chúng sinh. 4. Dao gậy cung tên không được đem thí cho người, vì các thứ ấy làm hại chúng sinh. 5. Âm nhạc, nữ sắc không được đem thí cho người, vì các thứ ấy phá hoại tịnh tâm. Tóm yếu mà nói, các vật không đúng như pháp làm não loạn chúng sinh, thì không được đem thí cho người. Ngoài ra, tất cả những gì có thể khiến cho chúng sinh được an lạc, thì gọi là như pháp thíNgười ưa thích thí, thời sẽ có được năm thứ danh văn lợi dưỡng: 1. Một là thường được gần gũi tất cả các bậc hiền thánh. 2. Hai là tất cả chúng sinh đều thích gặp gỡ. 3. Ba là khi đi vào giữa đại chúng, được mọi người tôn kính. 4. Bốn là danh tốt tiếng lành đồn khắp mười phương. 5. Năm là có thể làm nhân thượng diệu cho Bồ Đề. Bậc Bồ Tát gọi là thí tất cả. Thí tất cả không phải có nghĩa là nhiều tài sản, mà có nghĩa là tâm thí vậy. 1. Cầu được tài sản đúng như pháp đem ra bố thí, gọi là thí tất cả. 2. Dùng tâm thanh tinh không chút quanh co mà thí, gọi là thí tất cả. 3. Thấy kẻ bần cùng, tâm sinh thương xót mà thí, gọi là thí tất cả. 4. Thấy người khổ nạn, tâm sinh từ bi mà thí, gọi là thí tất cả. 5. Tuy nghèo ít tài mà có thể đem ra thí, gọi là thí tất cả. 6. Quý thích bảo vật mà vẫn mở tâm ra thí được, gọi là thí tất cả. 7. Chẳng kể trì giới huỷ giới, (phúc) điền hay phi (phúc) điền đều thí hết, gọi là thí tất cả. 8. Chí cầu vô thượng đại Bồ Đề mà thí, gọi là thí tất cả. 9. Muốn thí, khi thí, thí rồi không hối, gọi là thí tất cả. 10. Nếu dùng hoa mà thí, là vì để được đủ bảy hoa giác Đà La Ni. 11. Nếu dùng hương mà thí, là vì để được đủ giới định huệ ướp thoa vào thân. 12. Nếu dùng quả mà thí, là vì để được thành tưụ quả vô lậu. 13. Nếu dùng đồ ăn mà thí, là vì để được đầy đủ mạng khoẻ sắc lực vui tươi. 14. Dùng quần áo mà thí, là vì để được đầy đủ sắc thanh tịnh trừ (tâm) không hổ thẹn. 15. Dùng voi ngựa xe cộ mà thí, là vì để được vô thượng thừa gồm đủ thần thông. 16. Dùng đèn sáng mà thí, là vì để đầy đủ mắt Phật chiếu rõ (thật) tính cuả tất cả các pháp. 17. Dùng anh lạc mà thí, là vì gồm đủ 80 tuỳ hình hảo. 18. Dùng gân sức hầu sứ mà thí, là vì để gồm đủ mười lực và bốn vô uý cuả Phật. Tóm yếu mà nói, cho đến quốc thành, vợ con, đầu mắt tay chân, toàn thân thí cho, tâm không tiếc rẻ, là vì để đắc vô thượng Bồ Đề mà độ chúng sinh. Bồ Tát Ma Ha Tát tu hành bố thí, không thấy có tài vật (để thí), người thí, người nhận. Bởi (cả ba thứ ấy) đêù không có tướng. Như thế sẽ đầy đủ hết Ba La Mật. PHẨM THỨ NĂM: THI BA LA MẬT Bồ Tát tu hành trì giới như thế nào? Trì giới nếu là để tự lợi, tự tha, cả hai cùng lợi, trì giới như thế sẽ có thể trang nghiêm được đạo Bồ Đề. Bồ Tát vì muốn điều phục chúng sinh, khiến cho họ lìa được khổ não, cho nên mới trì giới. Tu trì giới là trọn phải thanh tịnh tất cả các nghiệp thuộc thân, khẩu, ý. Đối với các tâm bất thiện hành đều có thể lìa bỏ tránh xa. Khéo có thể trách mắng các ác hạnh, các (việc) huỷ (hoại) giới cấm. Đối với tội nhỏ tâm thường lo sợ, như thế gọi là sơ tâm trì giới của Bồ Tát. Do tu trì giới nên (Bồ Tát) lìa xa tất cả các ác pháp lỗi lầm tai hại, thường được sinh vào chỗ thiện, như thế gọi là tự lợi. (Bồ Tát lại) giáo hoá cho chúng sinh, khiến họ không phạm ác, như thế gọi là lợi tha. Dùng cái giới hướng về Bồ Đề do chính mình tu, để giáo hoá cho các chúng sinh khiến họ được lợi ích như chính mình, như thế gọi là cùng lợi. Nhân tu trì giới (Bồ Tát) đạt được lìa dục cho đến lậu tận thành tối chính giác, như thế gọi là trang nghiêm đạo Bồ Đề. Giới có ba loại: một là thân, hai là khẩu và ba là tâm. Trì thân giới là vĩnh viễn lìa tất cả các hành vi giết, cướp, dâm ( sát, đạo, dâm); không đoạt mạng của sinh vật, không xâm phạm tài sản của người khác, không vi phạm vào ngoại sắc, lại cũng không tạo các nhân duyên để giết này nọ, cũng như các phương tiện để giết. Không dùng gậy, cây, ngói, đá đả thương chúng sinh. Nếu vật của người khác, thuộc quyền sử dụng của người khác, (dù chỉ) một cọng cỏ, một chiếc lá, nếu không cho là không lấy. Lại cũng không từng ngó, liếc sắc đẹp. (Luôn) ngay ngắn cẩn trọng đường hoàng trong bốn oai nghi, như thế gọi là thân giới. Trì khẩu giới là đoạn trừ tất cả vọng ngữ, hai lưỡi, ác khẩu, ỷ ngữ, thường không lừa dối, ly gián sự hoà hợp, huỷ báng, mắng nhiếc, chải chuốc ngôn từ, hay tạo phương tiện làm khổ đến người. Lời nói thời chí thành, mềm mại, trung tính. Nói ra thường thêm lợi ích, khuyến khích tu thiện. Như thế gọi là khẩu giới. Trì tâm giới là diệt trừ tham dục, sân khuể, tà kiến. Thường tu tâm mềm mại, không tạo tội lỗi, tin rằng tội nghiệp này sẽ bị quả báo ác. Do lực tư duy nên không tạo các ác. Đối với tội nhỏ, cũng khổi tưởng là (tội) rất nặng. Cho dù có ngộ tác, cũng vẫn lo âu hối hận. Đối với chúng sinh không hề khởi sân não. Thấy chúng sinh rồi thời sinh tâm thương tưởng, tâm biết ân không chút keo kiết. Thích làm việc phúc đức, thường lấy đó để giáo hoá người ta. Thường tu tâm từ, thương yêu tất cả (chúng sinh). Như thế gọi là tâm giới. Mười giới thiện nghiệp này, có năm sự lợi ích: 1. Một là có thể chế ngự được các ác hạnh. 2. Hai là có thể phát thiện tâm. 3. Ba là có thể ngăn chặn phiền não. 4. Bốn là thành tựu tịnh tâm. 5. Năm là có thể tăng trưởng giới. Nếu người nào khéo tu hạnh không phóng dật, đầy đủ chính niệm phân biệt được thiện ác, phải hiểu người ấy chắc chắn có thể tu được mười giới thiện nghiệp, tám vạn bốn ngàn vô lượng giới phẩm trọn đều thâu tóm trong mười thiện giới. Mười thiện giới này có thề là căn bổn của tất cả thiện giới. Đoạn các ác pháp thuộc thân khẩu ý, thời có thể chế ngự tất cả các pháp bất thiện, nên mới gọi là giới. Giới có năm loại: 1. Một là Ba La Đề Mộc Xoa giới. 2. Hai là định cộng giới. 3. Ba là vô lậu giới. 4. Bốn là nhiếp căn giới. 5. Năm là vô tác giới. Bạch bốn lần yết ma, theo thầy mà thọ (giới), gọi là Ba La Đề Mộc Xoa giới. Bốn căn bản thiền và bốn vị đáo thiền, như thế gọi là định cộng giới. Bốn thiền căn bản, sơ thiền và vị đáo, gọi là vô lậu giới. Thu nhiếp các căn, tu chính niệm tâm, đối với kiến, văn, giác, tri, sắc, thanh, hương, vị, xúc, không sinh phóng dật gọi là nhiếp căn giới. Đời sau (trở đi có) xả thân cũng không làm ác nữa, gọi là vô tác giới. Bồ Tát tu giới không giống với Thanh Văn và Bích Chi Phật. do bởi không giống như thế nên gọi là khéo trì giới. Do khéo trì giới nên sẽ có thể lợi ích tất cả chúng sinh. Do bởi (Bồ Tát): 1/ Trì từ tâm giới, cứu hộ chúng sinh khiến họ được an lạc, 2/ Trì bi tâm giới, nhẫn chịu các khổ để cứu ách nạn, 3/ Trì hỉ tâm giới, ưa thích tu thiện không hề giải đãi, 4/ Trì xả tâm giới, (đối với người) oán (kẻ) thân đều bình đẳng, lìa xa yêu ghét. 5/ Trì huệ thí giới, giáo hoá điều phục các chúng sinh, 6/ Trì nhẫn nhục giới, tâm thường mềm mại không oán giận ngăn ngại, 7/ Trì tinh tiến giới, nghiệp thiện ngày càng tăng không thối lùi, 8/ Trì thiền định giới, lìa các pháp bất thiện thuộc dục (giới) nuôi lớn thiền chi, 9/ Trì trí huệ giới, thiện căn nghe nhiều không biết chán đủ, 10/ Trì thân cận thiện tri thức giới, trợ thành đạo Bồ Đề vô thượng, 11/ Trì lìa xa ác tri thức giới, lìa bỏ các chỗ ba ác tám nạn. Bậc Bồ Tát trì tịnh giới: - không y theo dục giới, không gần với sắc giới, không trụ vào vô sắc giới, như thế là thanh tịnh giới; - xả lìa dục trần, trừ ngại sân hận, diệt chướng vô minh, đó là thanh tịnh giới, lìa hai bên đoạn thường, không đi ngược lại với nhân duyên, là thanh tịnh giới; - không đeo bám vào các tướng giả danh sắc, thọ, tưởng, hành, thức, là thanh tịnh giới; - không trói cột vào nhân, không khởi các kiến (chấp), không trụ nơi nghi hối, là thanh tịnh giới; - không trụ nơi ba căn bất thiện tham, sân, si, là thanh tịnh giới; - không trụ vào ngã mạn, kiêu mạn, tăng thượng mạn, mạn mạn, đại mạn, nhu hòa khéo tuỳ thuận, là thanh tịnh giới; - lợi, suy, nhục, vinh, khen, chê, khổ, sướng, không vì thế mà khuynh động là thanh tịnh giới; - không nhiễm giả danh hư vọng thuộc Thế Đế, thuận theo Chân Đế là thanh tịnh giới; - không não không nhiệt, tịch diệt lìa tướng, là thanh tịnh giới. Tóm yếu mà nói, cho đến không tiếc thân mạng, quán tưởng (đó là) vô thường mà sinh (tâm) chán lìa, khuyến (chúng sinh) hành thiện căn dũng mãnh tinh tiến, là thanh tịnh giới. Bồ Tát Ma Ha Tát tu hành trì không thấy có tịnh tâm, bởi đã lìa tưởng. Như thế sẽ gồm đủ hết Thi Ba La Mật. PHẨM THỨ SÁU: SẰN ĐỀ BA LA MẬT Bồ Tát tu hành nhẫn nhục như thế nào? Nhẫn nhục nếu là vì để tự lợi, lợi tha, cả hai cùng lợi, nhẫn nhục như thế thì sẽ có thể trang nghiêm được đạo Bồ Đề. Bồ Tát vì muốn điều phục chúng sinh khiến họ lìa xa khổ não nên mới tu nhẫn nhục. Tu nhẫn nhục là tâm thường khiêm hạ đối với tất cả chúng sinh. Cương cường, kiêu mạn, xả hết không hành. Thấy kẻ thô ác thì khởi tâm thương tưởng. Lời lẽ thường mềm mại, khuyến hoá (chúng sinh) tu thiện. Có thể phân biệt nói rõ về sự sai khác giữa quả báo của hoà nhẫn và sân hận. Như thế gọi là sơ tâm nhẫn nhục của Bồ Tát. Do tu nhẫn nhục nên lìa xa các ác pháp, thân tâm được an lạc, như thế gọi là tự lợi. Dẫn dắt giáo hoá chúng sinh đều khiến cho họ được hoà thuận, như thế gọi là lợi tha. Đem đại nhẫn vô thượng do chính mình tu ra giáo hoá các chúng sinh khiến họ có được lợi ích giống như chính mình, như thế gọi là cùng lợi. Nhân tu nhẫn nhục mà đạt được đoan chính, được người tôn trọng, cho đến được các tướng đẹp thượng diệu của Phật, như thế gọi là trang nghiêm đạo Bồ Đề. Nhẫn nhục có ba, chính là thân, khẩu, ý. Thế nào là thân nhẫn ? nếu người khác phát ác xâm phạm đánh đập mình đến mức gây thương hại, trọn đều có thể nhẫn chịu. Thế nào là khẩu nhẫn? Nếu gặp ai mắng chửi mình, im lặng chịu không mắng trả lại. Nếu gặp kẻ đến trách mắng một cách phi lý thì phải nhỏ nhẹ chiều theo. Nếu có kẻ nào lại còn vu cáo ngang ngạnh phỉ báng, thời đều phải nhẫn thọ, như thế gọi là khẩu nhẫn. Thế nào là ý nhẫn ? Gặp kẻ tức giận mình, tâm không mang hận, nếu có ai đụng chạm làm phiền, tâm mình không loạn. Nếu có ai chỉ trích, tâm cũng không oán, như thế gọi là ý nhẫn. Những kẻ ra tay đánh (người) trong thế gian này có hai loại, một là (đúng) thật, hai là ngang (tàng). Nếu (mình) có tội lỗi, và nếu người ta hiềm nghi, (rồi) bị người ấy đánh, thì tự mình phải nhẫn chịu như uống cam lồ. Đối với người ấy phải sinh lòng cung kính, tại sao như thế? Bởi (người ấy) khéo có thể răn dạy điều phục được ta, khiến ta lìa xa được các tội lỗi. Nếu (kẻ nào) ngang ngạnh còn thêm ác tâm gây đả thương ta, thời phải tự tư duy: “Ta nay không có tội, như thế phải là túc nghiệp quá khứ đưa lại”. Như thế cũng nên phải nhẫn. Lại phải suy nghĩ : “Bốn đại giả hợp, năm chúng duyên hội, ai là người bị đánh đây?”. Lại quán người trước mặt (đang đánh mình) như si như cuồng, ta nên thương họ. Tại sao lại không nhẫn? Lại mắng chửi cũng có hai loại: một là (đúng) thật, hai là hư (dối). Nếu lời (mắng) nói đúng thật thì ta phải sinh hổ thẹn. Nếu lời (mắng) nói hư dối thì đâu can dự gì đến chuyện của ta, nó y như âm vang hay như gió thoảng qua không tổn hại gì đến ta hết, cho nên nên nhẫn. Lại kẻ sân cũng thế. Họ đến sân hận với ta, ta phải nhẫn chịu. Nếu ta sân (lại) với họ, thì đời vị lai sẽ đọa ác đạo chịu khổ não hơn. Do nhân duyên này, thân ta nếu bị chém cắt đứt lìa cũng không được nổi sân, mà cần phải quán sâu về nhân duyên nghiệp quá khứ, và hãy tu từ bi thương tưởng tất cả (chúng sinh). Cái khổ nhỏ như thế mà còn không thể nhẫn được, thì ta sẽ không thể tự điều phục được tâm, rồi làm sao lại có thể điều phục được chúng sinh, khiến họ giải thoát được tất cả các ác pháp, thành quả vô thượng? Nếu người có trí thích tu nhẫn nhục, người này thường có được diện mạo đoan chính, có nhiều tài bảo, ai thấy cũng hoan hỉ, ngưỡng kính, phục tùng. Lại phải quán sát: Nếu có người nào thân hình tàn tật, nhan sắc xấu xa, các căn không đủ, thiếu thốn tài vật, phải biết đó đều là do nhân duyên sân mà nên. Do nhân duyên ấy, người trí phải nên tu sâu nhẫn nhục. Có mười nhân duyên làm phát sinh nhẫn: 1. một là không quán tướng ngã và ngã sở, 2. hai là không nhớ đến (niệm) dòng tộc, 3. ba là phá trừ kiêu mạn, 4. bốn là ác đến không báo trả, 5. năm là quán tưởng vô thường, 6. sáu là tu từ bi, 7. bảy là tâm không phóng dật, 8. tám là xả bỏ các việc đói khát, khổ sướng v.v… 9. chín là đoạn trừ sân hận, 10. mười là tu tập trí huệ. Nếu ai thành được mười sự thể ấy, phải biết người ấy có thể tu nhẫn nhục được. Bồ Tát Ma Ha Tát khi tu thanh tịnh tất cánh nhẫn, nếu nhập vào KHÔNG, vô tướng, vô nguyện, vô tát, sẽ không hoà hợp cùng với kiến, giác, nguyện, tác (cũng) không cậy bám vào, vô KHÔNG tướng, vô nguyện, vô tác. Các kiến, giác, nguyện, tác này đều là KHÔNG. Nhẫn KHÔNG như thế là không có hai tướng, được gọi là thanh tịnh tất cánh nhẫn vậy. Nếu nhập vào tận kết, hoặc nhập tịch diệt, không hoà hợp với kết và sinh tử, cũng không cậy vào tận kết và tịch diệt. Các kết và sinh tử đều là KHÔNG. Nhẫn như thế là không có hai tướng, được gọi là thanh tịnh tất cánh nhẫn vậy. Nếu tính không tự sinh, không do tha sinh, không phải hoà hợp sinh, cũng không có xuất (hiện ra), không thể phá hoại. Cái không thể hoại thời không thể tận. Nhẫn như thế là không có hai tướng, thời gọi là thanh tịnh tất cánh nhẫn vậy. Không có tác (hay) phi tác, không có gì để cậy bám, không phân biệt, không trang nghiêm, không tu trị, không phát triển. Rốt cuộc không tạo sinh. nhẫn như thế là vô sinh nhẫn. Bồ Tát tu hành nhẫn này như thế, sẽ được thọ ký (về) nhẫn. Bồ Tát Ma Ha Tát tu hành nhẫn nhục tính, tướng đều KHÔNG, bởi không có chúng sinh vậy. Như thế sẽ đầy đủ hết Sằn Đề Ba La Mật.
Phật Đản bất diệt Phật Đản thiêng liêng ý nhiệm mầu Muôn ngàn ức kiếp dễ hay đâu Như Lai khai thị nhập tri kiến Nhất nhất chúng sanh xin cúi đầu Phật Đản thiêng liêng ý diệu huyền Chúng sanh trầm khổ lụy vô biên Đến nay nghe thấy xin trì tụng Nguyện một lòng đi vô hậu tiền Phật Đản thiêng liêng khắp nẻo đường Đạo Vàng gieo rắc vạn tình thương Kệ kinh chuông mõ thềm tôn giáo Ngát tỏa hương lành Đấng Pháp Vương Phật Đản thiêng liêng khắp mọi người Nụ hoa hàm tiếu nở xinh tươi Thiện ngôn, ái ngữ, tâm thanh tịnh Vào chốn khổ đau gắn nụ cười Phật Đản ngày vui khắp cửa thiền Nhịp cầu thánh thiện kết nhân duyên Tiến tu đạo nghiệp hoa đơm trái Nương Bóng Phật đài sống vĩnh miên Phật Đản ngày vui khắp mọi nhà Con chung tất cả một Người Cha Người Cha bốn loại trong ba cõi Từ Phụ thâm ân Đức Phật Đà Phật Đản thiêng liêng vô hậu tiền Cứu người khó độ mới nhân duyên Còn người dễ độ cần chi cứu Chỉ nói một câu nhận biết liền Màu cờ Phật Giáo đã tung bay Muôn hướng ngàn phương thỏa nguyện này Vạn hạnh leo đồi trao thế kỷ Từ Mùa Phật Đản của năm nay Phật Đản thiêng liêng là thế ấy Người trong nhân thế biết hay chưa Phổ độ quần sanh trong muôn cõi Vận xoay chánh pháp chuyển Ba Thừa.
Phật Đản muôn năm Kính mừng ngày Phật Đản Sanh Mười phương thế giới chúng sinh đều nhờ Thoát ra bến mộng sông mơ Quay đầu biển khổ là bờ Lạc Bang Hòa reo vui sống đạo vàng Dấn thân tế độ trên đàng thi ân Đẹp trong như thể trăng rằm Thanh cao như thể từ tâm vô nghì Kính mừng ngày Phật Đản Sanh Vô Ưu thọ hạ, trong lành ban mai Ca Tỳ La Vệ hoa cài Thần dân quốc thích đem ngai rước về Phạn Vương toại nguyện ước thề Ma Gia mẫu hậu đợi chờ đã lâu Nhạc trời trổi khúc đưa chầu Thiên nhơn hớn hở cùng châu ta bà Nay mừng Thái tử Đạt Đa Mai sau thành đạo Thích Già Mâu Ni Hoằng khai giáo pháp từ bi Ngàn phương muôn hướng đều vì độ sanh Kính mừng ngày Phật Đản Sanh Cùng nhau thiết lễ chân thành thiết tha Bất luận nam nữ trẻ già Giàu nghèo không kể gần xa không màng Bất luận thành thị thôn trang Cũng đều mở hội Đàn Tràng trang nghiêm Gióng chuông pháp cổ vang rền Mười phương ba cõi hoan nghênh cúng dường Kính mừng ngày Phật Đản Sanh Đất kia cũng thấm trời xanh cũng nhuần Đưa tay vận chuyển pháp luân Vô thỉ độ tận vô chung độ cùng Ngu si tật đố lao lung Tiểu nhân cũng hướng anh hùng cũng quy Tiểu nghi cho đến đại nghi Từ nay đã biết đường đi lối về Dòng sông ôm ấp con đê Đầu nguồn cuối ngọn đề huề nước reo Kính mừng ngày Phật Đản Sanh Muôn phương ngàn hướng chúng sinh đều nhờ Thanh gươm trí tuệ đưa vèo Bặt đường sinh tử đẳng đeo luân hồi Giong thuyền Bát nhã ra khơi Cứu người lặn hụp vớt người trầm kha Ai còn đắm đuối la đà Lên xe ba cỗ về nhà Như Lai Ai còn bớt một thêm hai Kìa trông trước ngõ hoa mai trỗ rồi Ai còn lóng ngóng đứng ngồi Ba rừng giáo lý núi đồi mở toang Khắc in dấu ấn triện son Kính mừng Phật Đản hằng còn muôn năm.
Phật Đản nhiệm mầu Hai mươi lăm thế kỷ còn quá ngắn Hoa Vô Ưu thơm ngát tỏa mười phương Lâm Tỳ Ni trong vắt đón ánh dương Bảy đóa sen nâng bước chân Đức Phật Tay chỉ lên trời, tay chỉ xuống đất : « Thiên thượng thiên hạ, duy ngã độc tôn » Lay chuyển ngân hà, rúng động càn khôn Chân diệu hữu băng ngang dòng sinh diệt Khắp Thiên Nhơn lòng vui mừng khôn xiết Đã đợi chờ vô lượng kiếp trôi qua Đến hôm nay mới diện kiến Phật Đà Soi đuốc tuệ phá tan màn tăm tối Vườn Lâm Tỳ Ni nhạc trời mở hội Nước Ca Tỳ La hoa kết nhà nhà Hân hoan mừng Đức Phật tổ Thích Ca Kể từ đó cõi Ta Bà hết khổ Hai mươi lăm thế kỷ : phong đầu gió Vân đầu mây còn ngậm tuyết đầu sương Đạo giải thoát là đạo lý chơn thường Có nghĩa gì bóng thời gian giả định Trùm pháp giới, đâu không là Phật Tánh Phủ sắc không, đâu chẳng phải Pháp Thân Bởi vô minh nên khổ hải trầm luân Đáo bỉ ngạn phiêu du thuyền bát nhã Hoa Vô Ưu nở một lần là thế Nở một lần miên viễn đến thiên thu Ngược vô thỉ vẫn không có chỗ dư Tận vô chung vẫn không còn chỗ thiếu Ngày Khánh Đản muôn đời siêu tuyệt diệu Bởi Phật tâm Phật tánh siêu tuyệt vời Vượt thời gian, cũng không đầy không vơi Xuyên không gian, cũng không tăng không giảm Người con Phật, không những chỉ vui mừng Khánh Đản Mà bước đi trên lục độ vạn hạnh phổ châu sa Khắp Tam Đồ đều thấm nhuận Phật Đà Khắp Bát Nạn đều nhờ ơn tế độ Đến khi nào chúng sanh không còn khổ Đến khi nào chúng sanh không còn đau Ngày Phật Đản vẫn rạng rỡ nhiệm mầu Dòng sinh diệt nhập lưu Ngàn Hoa Tạng.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét