THÍCH TÂM TRỌNG

THÍCH TÂM TRỌNG
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT

Thứ Năm, 13 tháng 12, 2012

Pháp môn thích hợp

Pháp môn thích hợp HỎI: Chúng tôi rất muốn tu tập để chuyển hóa nghiệp khổ của mình nhưng hoàn cảnh gia đình không mấy thuận lợi, chật chội, ồn ào và có vợ con. Hiện chúng tôi chưa đủ điều kiện để thực hành ăn chay, vậy trì chú Chuẩn Đề có được không? Tôi nghe nói trì chú Chuẩn Đề hay bị khảo, tính tình nóng nảy có đúng không? Có pháp môn nào thích hợp hơn trì chú không, bởi hiện tại chúng tôi cũng lớn tuổi và sức khỏe không được tốt? Mong quý Báo giới thiệu một pháp môn tu tập thích hợp và cho chúng tôi những lời khuyên. ĐÁP: Tu tập để chuyển hóa là một nhu cầu quan trọng trong đời sống con người. Một người với đời sống gia đình bình ổn cũng cần tu tập để tăng trưởng phước báo, phát triển đạo đức, thăng hoa tinh thần. Với những người có hoàn cảnh riêng như bệnh khổ chẳng hạn, thì nhu cầu tu học lại càng cấp thiết hơn. Phát khởi được tín tâm, mong muốn tu tập, thực hành lời Phật dạy để chuyển hóa khổ đau của các bạn là những nỗ lực đáng trân trọng. Thường thì khi mới phát tâm tu tập, ai cũng ái ngại về hoàn cảnh gia đình; chật chội, ồn ào, nói chung là không thanh tịnh. Tất nhiên, so với những gia đình có phòng thờ để lễ bái và tịnh niệm riêng thì đây là một bất lợi. Tuy vậy, yếu tố quyết định trong tu tập là chánh niệm ngay nơi tự tâm, hoàn cảnh bên ngoài chỉ trợ duyên thêm mà thôi. Quan trọng hơn, tu tập là giữ tâm chánh niệm với pháp môn mọi lúc mọi nơi trong đời sống hàng ngày, không phải đợi đến lúc ngồi trước bàn thờ trang nghiêm thanh tịnh mới tu. Vì thế, nếu cố gắng và thành tâm thì bạn có thể tu niệm được dù hoàn cảnh và điều kiện sống khá vất vả, chật chội và ồn ào. Một người sống với gia đình, vợ chồng, con cái và chưa đủ duyên để thực hành ăn chay vẫn tu tập tốt và không có gì chướng ngại. Ăn chay nhằm nuôi dưỡng lòng từ, góp phần hạn chế sát sanh và phòng ngừa bệnh tật. Cố nhiên, ăn chay được sẽ tốt hơn vì ăn chay giúp cho thân tâm nhẹ nhàng, thanh thoát, có tác dụng trợ duyên cho tu tập thiền định hữu hiệu hơn. Những sinh hoạt thế thường trong đời sống gia đình như tình cảm vợ chồng và những việc khác v.v… nếu áp dụng đúng với năm tiêu chuẩn, nguyên tắc đạo đức của người cư sĩ (năm giới) thì không ảnh hưởng gì đến việc tu tập của hàng cư sĩ tại gia cả. Riêng vấn đề tu tập trì chú Chuẩn Đê, về cơ bản đó là một pháp trong vô lượng pháp môn tu, trong hoàn cảnh thực tế của các bạn như đã trình bày vẫn thực hành và trì niệm được. Tuy nhiên, để trì niệm thần chú Chuẩn Đề có kết quả cao cần phải tuân thủ theo nghi quỹ, pháp thức và ấn quyết từ một vị thầy có kinh nghiệm về Mật tông. Hiện có khá nhiều người vẫn tin rằng tu tập (trì chú Chuẩn Đề, tụng kinh Kim Cang, Pháp Hoa…) sau một thời gian thì tính tình nóng nảy, bị khảo đảo v.v… Những quan niệm như trên hoàn toàn không phù hợp với Chánh kiến, cần phải dẹp trừ. Bởi Chánh pháp là cam lộ (ngon ngọt và mát mẻ), thực hành Chánh pháp tất nhiên sẽ an lạc và thanh lương, chuyển họa thành phúc, chuyển mê khai ngộ. Cần chú ý rằng, những diễn biến không như ý xảy ra sau một thời gian tu tập chỉ đơn thuần là sự trùng hợp ngẫu nhiên của tiến trình nhân quả bình thường của tự thân. Đúng ra, vào thời điểm nhân quả chín muồi ấy, chuyện xấu xảy ra sẽ dữ dội hơn nhưng nhờ trước đó có tu tập, những việc xấu ấy cũng xảy ra nhưng nhẹ bớt và người tu đón nhận nó vững vàng hơn, chứ không phải vì tu tập nên nó mới “đổ nghiệp”. Theo thiển ý của chúng tôi, trong hoàn cảnh hiện tại của các bạn, tu tập pháp môn Niệm Phật, niệm hồng danh Đức Phật A Di Đà (Nam mô A Di Đà Phật) là thích hợp nhất. Bởi pháp tu này đơn giản, dễ thực hành, phù hợp với mọi lứa tuổi, mọi hoàn cảnh, có thể niệm danh hiệu Phật mọi lúc mọi nơi. Chỉ cần xây dựng niềm tin (Tín) vào cảnh giới Cực lạc, sự tiếp độ của Phật A Di Đà và niệm Phật sẽ vãng sanh. Tiếp đến phát nguyện khẩn thiết, mong mỏi được sanh về Cực Lạc (Nguyện), những công đức lành tạo ra trong đời này đều hồi hướng trang nghiêm Cực Lạc. Sau cùng là thực hành niệm Phật (Hạnh); chỉ cần nhớ nghĩ, tâm niệm thường xuyên sáu chữ Nam mô A Di Đà Phật . Nếu tín nguyện hạnh đầy đủ thì chắc chắc trong hiện tại và tương lai bạn sẽ được sự tiếp độ của Phật A Di Đà và Thánh chúng mà vãng sanh về Cực Lạc. Hiện nay, pháp môn này khá thịnh hành và phổ biến khắp đất nước, chỉ cần các bạn dành chút thời gian tham dự một khóa tu niệm Phật, chúng tôi tin rằng bạn sẽ tự trang bị cho mình khá đủ hành trang để bước vào pháp môn Niệm Phật này, một pháp môn tu thường được chư Tổ ca ngợi là “dễ tu và dễ chứng nhất trong thời mạt pháp”. (Theo Chuyển Pháp Luân)
Pháp môn Tịnh độ trong kinh điển Pàli Người Phật tử Việt Nam xưa nay thường biết đến khái niệm Tịnh độ qua các kinh nói về Phật Di Đà (Amitàbhasutra và Sukhavativyùhasutra) từ Hán tạng, vốn được phiên dịch từ kinh điển Sanskrit. Người Phật tử Việt Nam xưa nay thường biết đến khái niệm Tịnh độ qua các kinh nói về Phật Di Đà (Amitàbhasutra và Sukhavativyùhasutra) từ Hán tạng, vốn được phiên dịch từ kinh điển Sanskrit. Ở đó, cõi Tịnh độ hay Cực lạc (Phạn ngữ Sukhavatì) được mô tả là cảnh giới tuyệt vời với tất cả những sự thù thắng, trang nghiêm. Con đường dẫn đến cõi này có thể chỉ gói gọn trong công phu trì niệm hồng danh Phật Di Đà. Ngoài sự thanh tịnh có được từ việc nhất tâm niệm Phật Di Đà, oai lực của Ngài cũng thừa sức tiếp dẫn vong linh người niệm Phật vãng sinh về thế giới Tịnh độ để họ tiếp tục tu hành trong điều kiện thuận lợi hơn xưa gấp triệu lần. Cõi ấy giữa người với người không hề biết tương tranh, thù hận vì ở đó không có chuyện chiếm hữu lợi danh như ở cõi Ta bà nhiều kiếp nạn này. Nhưng đó là theo kinh điển Hán tạng, nguồn giáo lý chủ đạo của Phật giáo Bắc truyền. Trong bài viết này ta thử tìm hiểu vấn đề qua kinh điển Pàli, nguồn giáo lý căn bản của Phật giáo Nam truyền. Dĩ nhiên, trong Tam tạng Pàli cũng có khái niệm Tịnh độ (nếu ta muốn gọi thế) với những trình bày thật rõ ràng về cảnh giới này, những cư dân ở đó và con đường dẫn đến cảnh giới Tịnh độ, tức phép cầu vãng sinh theo kinh điển Nam truyền. CÕI TỊNH ĐỘ THEO KINH ĐIỂN PÀLI Trước hết, cõi Tịnh độ được biết đến trong kinh điển Pàli qua danh từ Suddhàvàsa, còn được dịch là Tịnh cư, theo lối chiết tự Suddha (thanh tịnh) và Àvàsa (chỗ ở). Vậy Suddhàvàsa cũng có thể được dịch là Tịnh độ, Tịnh thổ. Thậm chí chữ Pàli này còn gần gũi với chữ Tịnh độ, Tịnh thổ hơn là Sukhavati (chốn An lạc), một chữ chỉ có thể xem là tương đương với từ Sugati (Lạc cảnh, Thiện thú) trong kinh điển Pàli, chỉ chung cho các cõi nhân thiên. Theo các chú sớ A Tỳ Đàm, có tất cả 5 cõi Tịnh độ, nằm trong 16 cõi Phạm thiên Hữu sắc, và là chỗ tái sinh của các bậc Thinh văn Bất lai hay còn gọi là A na hàm (Anàgàmi người không còn trở lại các cõi dục giới). Tuy cảnh giới này chỉ gồm toàn các vị Bất lai và La hán (chứng A la hán sau khi sanh về đây), nhưng trên căn bản vì vẫn là cõi Hữu sắc nên ở 5 cõi Tịnh độ này vẫn có những lâu đài, hoa viên rất trang nghiêm, dĩ nhiên không phải là nơi chốn hưởng thụ, mà đó chỉ là những dấu vết tối thiểu của một cõi Ngũ uẩn (1). Về tuổi thọ, chư Thánh Bất lai ở cõi thấp nhất trong 5 cõi Tịnh độ là cõi Vô phiền (Avihà) có thọ mạng 1.000 đại kiếp, kế đến là cõi Vô nhiệt (Àtappà) có thọ mạng 2.000 đại kiếp, cõi thứ ba là Thiện hiện (Sudassà) có thọ mạng 4.000 đại kiếp, cõi thứ tư là Thiện kiến (Sudassì) có thọ mạng 8.000 đại kiếp và cõi Sắc cứu cánh (Akanittha) có thọ mạng 16.000 đại kiếp. Do có những lúc trải qua một thời gian dài không có chư Phật ra đời độ sinh nên dân số trên 5 cõi Tịnh độ chỉ có giảm mà không được bổ sung, do vậy cũng có những thời điểm 5 cõi này không tiếp tục tồn tại. CƯ DÂN TỊNH ĐỘ THEO KINH ĐIỂN PÀLI Trước tiên là trình bày đại lược về 4 tầng Thánh trí làm nên 4 bậc Thánh nhân và chính Đức Phật cũng được kể vào đó. Sơ quả hay Tu đà hoàn (Sotàpatti, Dự lưu), còn được gọi là Thất lai, người không thể tái sinh quá 7 lần, là vị đã chấm dứt hoàn toàn 3 thứ phiền não thân kiến ( nôm na là chấp kiến trong 5 uẩn), hoài nghi (nghi ngờ về Phật pháp nói chung) và giới cấm thủ (chấp trước các tín điều mù quáng). Ở một số vị, thánh trí Sơ quả chỉ là một giai đoạn thoáng qua trước khi hoàn tất các tầng thánh trí cao hơn. Như trường hợp Đức Phật hoặc các vị Thanh văn tốc chứng. Nhưng cũng có lúc giai đoạn này kéo dài trong nhiều giờ, nhiều ngày, nhiều năm hoặc vài kiếp sống (dĩ nhiên không quá 7 kiếp). Sớ giải Trường Bộ ghi rằng Thiên vương Đế Thích hiện nay là một vị Thánh Sơ quả. Khi hết tuổi thọ, ngài sẽ sinh xuống nhân gian làm Chuyển luân vương và chứng đắc Nhị quả Tư đà hàm. Sau đó sinh lên Đao Lợi thiên chứng Tam quả A na hàm và lần lượt tái sinh ở đủ 5 cõi Tịnh độ, bắt đầu là cõi Vô phiền, cuối cùng ngài sẽ chứng quả La hán và nhập diệt ở cõi Sắc cứu cánh. Tầng Thánh trí thứ hai là Nhị quả Tư đà hàm. Ngoài 3 phiền não đã chấm dứt ở tầng thánh trước, quả vị này còn làm giảm nhẹ dục ái và sân hận. Do chỉ còn có thể tái sinh cõi Dục giới một lần nữa thôi, nên quả vị này còn được gọi là Nhất lai (Sakadàgàmì). Tầng Thánh thứ ba là Tam quả A na hàm (Anàgàmi), nghĩa là bậc Bất lai, người không còn trở lui các cõi dục giới nữa (có tất cả 11 cõi Dục giới). Theo A Tỳ Đàm tạng Pàli thì do đã chấm dứt dục ái (niềm tham luyến trong ngũ trần) và sân hận nên vị Thánh Tam quả trong trường hợp không thể chứng La hán rồi nhập diệt ngay đời này thì có hai con đường để đi: - Nếu đã chứng đắc Ngũ thiền thì sẽ tùy theo khả năng mạnh yếu của Tín, Tấn, Niệm, Định, Tuệ mà sinh về một trong năm cõi Tịnh độ. Tín nổi trội thì sinh về cõi Vô phiền, Tấn hùng hậu thì về cõi Vô nhiệt, Niệm hùng hậu về cõi Thiện hiện, Định hùng hậu thì về cõi Thiện kiến, Tuệ thâm hậu thì sinh về cõi Sắc cứu cánh (Pàli gọi là Akanittha, Không thứ gì yếu kém). Ở cõi Tịnh độ thứ năm này toàn bộ Tín, Tấn, Niệm, Định, Tuệ đều được sung mãn; vì đây là nơi chốn sau cùng để một vị Bất lai chứng quả La hán và nhập diệt. - Trong trường hợp vị Thánh Bất lai chưa chứng qua một tầng thiền định nào, tức chỉ có trí tuệ Thiền quán (Vipassanà) mà không từng tu tập Thiền chỉ (Samatha) thì lúc mạng chung, vị này do khả năng ly dục vô sân tuyệt đối nên tối thiểu cũng thành tựu Sơ thiền trước khi mạng chung ở cõi Dục giới và như vậy cũng đủ để sinh về cõi Phạm thiên thấp nhất là Phạm thiên Sơ thiền. Do túc duyên và trình độ tu chứng có khác nhau nên giữa các bậc Thánh Tam quả cũng có vài sai biệt. Theo Manorathapurani, Chú sớ Tăng Chi Bộ (phần Tika): - Antaràparinibbàyì (Tiền bán Niết bàn): Vị Bất lai chứng La hán khi chưa sống hết phân nửa thọ mạng ở cõi Tịnh độ nào đó trong 5 cõi. - Upahaccaparinibbàyì (Hậu bán Niết bàn): Chứng La hán sau khi sống hơn nửa thọ mạng ở cõi Tịnh độ nào đó. - Uddhamsoto Akanitthagàmì (Luân lưu Niết bàn): Do căn tánh không xuất sắc, có vị Bất lai phải lần lượt sinh đủ 5 cõi Tịnh độ mới chứng quả La hán rồi nhập diệt ở cõi Tịnh độ cao nhất. - Asankhàraparinibbàyì (Bất lao Niết bàn): Vị Bất lai có thể chứng La hán mà không cần nhiều cố gắng. - Sasankhàraparinibbàyì (Cần lao Niết bàn): Vị Bất lai phải nhiều nỗ lực mới có thể chứng La hán. Tầng Thánh trí thứ tư chính là quả vị La hán, người chấm dứt toàn bộ phiền não. Theo A Tỳ Đàm Pàli thì có 3 quả vị La hán: Chư Phật Chánh Đẳng Giác (Sammàsambuddha hay Sabbannubuddha- Toàn Giác) cũng là những vị La hán nhưng do tự mình chứng đắc và là đạo sư hướng dẫn cho những người hữu duyên chứng đắc La hán. Những vị La hán đệ tử này được gọi là Thanh văn giác (Sàvakabuddha). Quả vị La hán thứ ba là Độc Giác Phật (Paccekabuddha), những vị tự mình chứng ngộ La hán nhưng không thể hướng dẫn người khác chứng ngộ La hán. Kinh điển Hán tạng còn gọi Độc Giác Phật là Duyên Giác Phật vì cho rằng các Ngài nhờ liễu ngộ nguyên lý Duyên khởi mà giác ngộ (cách nghĩ này bắt nguồn từ những giai thoại về chư Phật Độc Giác trong Chú sớ Tiểu Bộ Kinh, một trong những bộ phận kinh điển làm nền tảng cho nhiều kinh luận hậu tác, đọc kỹ các bộ A Hàm sẽ thấy rõ điều này). Kỳ thực, nếu đọc kinh Đại Duyên trong Trường Bộ kinh, ta sẽ thấy lý Duyên khởi và lý Tứ đế (vẫn bị hiểu lầm là dành riêng cho Thanh văn) vốn dĩ chỉ là một. Trong Trung Bộ kinh, Đức Phật đã xác định ai thấy lý Duyên khởi chính là thấy Pháp và ngược lại. Đồng thời, không hề có chuyện một người giác ngộ lý Tứ đế mà lại mơ hồ về lý Duyên khởi hay ngược lại. Tất cả quả vị La hán vừa nêu trên đây luôn giống nhau về khía cạnh giác ngộ các pháp cần yếu (như Tứ đế, Duyên khởi...), chỉ khác ở hai điểm chính: Tự mình hiểu ra hay phải nhờ thầy hướng dẫn và điểm thứ hai là ngoài trí tuệ giác ngộ còn có khả năng hiểu biết sâu rộng những gì nằm ngoài lý tưởng giác ngộ hay không. Xét về khía cạnh này, chỉ có chư Phật Chính Đẳng Giác là viên mãn. Tuy nhiên, trong bài viết này, chúng ta chỉ đặc biệt nhấn mạnh quả vị Bất lai, vì đề tài ở đây là các cõi Tịnh độ. PHÉP VÃNG SINH TỊNH ĐỘ THEO KINH ĐIỂN PÀLI Vãng sinh vẫn được dùng song song với chữ siêu sinh, nhưng theo tinh thần A Tỳ Đàm Pàli thì siêu sinh còn có thể được hiểu là vượt thoát tái sinh, một điều chỉ thực hiện được bởi một vị La hán. Như vậy trong trường hợp vị Bất lai sinh về các cõi Tịnh độ chỉ có thể gọi là vãng sinh. Và nếu phải trả lời câu hỏi về con đường vãng sinh Tịnh độ, thì như tất cả những gì vừa nêu trên, ta hoàn toàn có thể nói rằng vãng sinh Tịnh độ chỉ là một phần đường trên hành trình giải thoát của một vị Thanh văn, và như thế pháp môn Tịnh độ hay con đường vãng sinh trong trường hợp này cũng đồng nghĩa với hành trình Tam học, Tứ niệm xứ, Bát chính đạo, nói chung là hành trình 37 Bồ đề phần. Các pháp trong 37 Bồ đề phần đối với nhau chỉ là mối quan hệ tương tức; cái này chính là cái kia, trong cái kia có cái này. Như vậy, lời đáp cho câu hỏi về con đường vãng sinh là toàn bộ những gì mà ta vẫn gọi là Phật pháp và theo cách hiểu này, pháp môn Tịnh độ cần thiết cho tất cả mọi người. Đồng thời, chiếu theo tinh thần căn bản của Phật giáo mà nói thì khi nhắc đến pháp môn Tịnh độ, cầu vãng sinh không hề có nghĩa là chờ đợi sự tiếp dẫn của bất cứ ai, mà phải là sự lên đường bằng chính đôi chân của mình. TÀI LIỆU THAM KHẢO (1) Theo A Tỳ Đàm Pàli, trong cái gọi là thế giới này gồm có 31 cõi với 11 cõi Dục giới (có đủ 5 uẩn), 16 cõi Sắc giới (trong đó có cõi Vô tưởng, chỉ có Sắc uẩn mà thôi), và 4 cõi Vô Sắc ( chỉ có 4 uẩn Thọ, Tưởng, Hành, Thức). (2) XIN XEM THÊM TRONG CÁC SÁCH ABHIDHAMMATTHASANGAHA (thắng PHÁP tập yếu luận, bản dịch của NGÀI MINH CHÂU), THE ESSENCE OF BUDDHA ABHIDHAMMA của GIÁO SƯ MEHM TI MON, CHÚNG SANH VÀ SINH THÚ của NGÀAI JOTIKÀCARIYA (bản tiếng việt của toại KHANH)...
Pháp môn Tịnh độ Tịnh Độ là một trong mười tông phái của Phật giáo Trung Hoa. Đây là tông phái siêu việt, với nhiều đặc thù thuộc Đại thừa viên đốn. Gọi Đại thừa bởi tông này lấy tâm Bồ đề làm nhân, lấy quả vị cứu cánh Phật làm quả. Viên, bởi tông này lý sự vẹn toàn, tóm thâu cả Tiểu thừa giáo, Đại thừa thỉ giáo, Đại thừa chung giáo và Đại thừa đốn giáo. Đốn, vì tông này không luận bàn về pháp tướng mà chỉ chuyên về chân tánh, không cần trải qua nhiều thứ lớp, tu tập trong một đời có thể chứng lên quả vị Bất thối chuyển. Đây chính là những điểm siêu xuất, đặc thù của tông Tịnh Độ. Giáo nghĩa Tịnh Độ được y cứ trên ba bộ kinh và một bộ luận làm cơ sở nòng cốt để phát huy gồm: Phật Thuyết A Di Đà kinh, Vô Lượng Thọ kinh, Quán Vô Lượng Thọ kinh (còn gọi Thập Lục Quán kinh) và một bộ luận là Tịnh độ vãng sanh luận của Bồ tát Thế thân. Kinh A Di Đà được đức Thế Tôn tuyên thuyết tại tinh xá Kỳ Viên thuộc nước Xá Vệ, nội dung giới thiệu vị giáo chủ và y báo trang nghiêm ở cõi Cực Lạc, khuyên chúng sanh phát nguyện sanh về thế giới ấy bằng phương pháp chuyên trì danh hiệu Phật A Di Đà, đồng thời dẫn lời tán dương và ấn chứng của mười phương chư Phật để làm tăng tiến niềm tin cho người niệm Phật. Ở núi Kỳ Xà Quật, thuộc thành Vương Xá, Ngài tuyên thuyết kinh Vô Lượng Thọ, diễn tả quá trình hành Bồ tát đạo của Tỳ kheo Pháp Tạng (tiền thân Phật A Di Đà), trong khi tu nhân đã đối trước Đức Thế Tự Tại Vương Như Lai phát bốn mươi tám đại nguyện thù thắng cao cả để trang nghiêm Phật độ, nhiếp hóa quần sanh. Kế đó nói về công đức tu hành, trí tuệ thần biến của Thánh chúng cõi ấy, khiến chúng sanh sanh tâm khát ngưỡng phát nguyện quay về. Tại vương cung Tần Bà Sa La thuộc thành Vương Xá, do sự thỉnh cầu của hoàng hậu Vi Đề Hy, Ngài tuyên thuyết kinh Quán Vô Lượng Thọ, chỉ bày mười sáu pháp quán làm cơ sở vãng sanh Tịnh độ. Sau này Bồ tát Thế Thân nương vào kinh Vô Lượng Thọ tạo bộ Tịnh độ vãng sanh luận, tán dương cảnh giới trang nghiêm thù thắng của Cực Lạc và xiển dương pháp tu Ngũ niệm môn (lễ bái, tán thán, phát nguyện, quán tưởng và hồi hướng) làm nhân tố cầu vãng sanh. Ngoài ba kinh và một luận trên, còn có rất nhiều kinh luận Đại thừa khác như Hoa Nghiêm, Pháp Hoa, Bảo Tích… Đại trí độ, Đại Tỳ bà sa… cũng đều tán thán và đề cao tư tưởng cầu sanh Tịnh độ của Phật A Di Đà. Pháp môn Tịnh độ còn gọi là pháp môn Niệm Phật. Ý nghĩa niệm Phật là đem tâm thanh tịnh mà tưởng nhớ đến danh hiệu, công đức mầu nhiệm và thân tướng trang nghiêm của chư Phật. Niệm là nhớ nghĩ, buộc tâm vào một đối tượng Chánh pháp, không rong ruổi theo niệm trần, thường tỉnh thường giác hiện rõ trước mặt. Niệm Phật là quán tưởng thân tướng hay niệm danh hiệu Phật, danh này bao trùm các công đức, trí tuệ, từ bi… của các Đức Phật. Lấy danh hiệu làm đối tượng niệm, tâm thanh tịnh làm chủ thể niệm, thường trụ vào bản tánh bất sanh bất diệt ấy tất sẽ đạt đến cảnh giới an vui chân thật. Hành giả an trụ vào câu Phật hiệu hay quán tưởng thân tướng trang nghiêm của Phật với tâm thanh tịnh sẽ tạo thành một năng lực mầu nhiệm, quét sạch mọi vọng tưởng điên đảo, khơi dậy tự tánh Di Đà bên trong mỗi chúng sanh. Từ đây vọng tưởng quyết dứt trừ, cảnh giới an vui thanh tịnh nhiệm mầu sẽ hiển lộ. Kinh Quán Vô Lượng Thọ dạy: “Chư Phật Như Lai là thân pháp giới vào trong tâm tưởng chúng sanh, cho nên tâm các người nhớ nghĩ Phật thì tâm ấy là ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp, tâm ấy là Phật. Biển chánh biến tri của Phật từ nơi tâm tưởng mà sanh, vì thế các ông phải nhớ nghĩ và quán tưởng sâu sắc thân của Đức Phật kia”. Lập trường căn bản của tông Tịnh Độ được kiến lập trên nền tảng nhân quả, tức có tạo nhân mới mong hưởng quả. Điều này xác quyết, nếu muốn về sau làm Thánh chúng nơi cảnh giới Cực Lạc thì ngày hôm nay hành giả phải có tư cách của bậc Thánh. Vì vậy, trong cuộc sống hiện tại, cần phải thường xuyên chuyển hóa ba nghiệp thân khẩu ý hướng đến thanh tịnh. Ví như học trò đi học phải có sự tiến bộ theo thứ lớp, có như vậy mới mong có ngày thành tài đỗ đạt. Người niệm Phật cũng thế, nếu hôm nay cứ sống trong sự buông thả, không chịu nỗ lực tinh tấn tu hành, mà cứ van xin và tin rằng ngày mai Phật sẽ cứu độ; nếu tin như thế thì thật trái với lý nhân quả, chẳng khác nào luận thuyết của ngoại đạo và hoàn toàn không phù hợp với giáo lý nhà Phật. Như vậy, người niệm Phật muốn vãng sanh Tịnh độ, ngoài năng lực hộ trì và tiếp dẫn của Phật, cần phải tự lực tu tập tức phải có chánh nhân Tịnh độ. Theo kinh Quán Vô Lượng Thọ, hành giả muốn được vãng sanh Tịnh độ phải hội đủ ba điều kiện: “Một là hiếu dưỡng cha mẹ, phụng thờ sư trưởng, giữ lòng từ không sát hại, tu tập mười nghiệp lành. Hai là thọ trì ba pháp quy y, đầy đủ các giới không phạm oai nghi. Ba là phát Bồ đề tâm, tin sâu lý nhân quả, đọc tụng kinh điển Đại thừa, khuyên người khác cùng tu”. Ba điều trên đây gọi là chánh nhân Tịnh độ, có thể tóm thâu vào hai vấn đề chính là phát Bồ đề tâm và nghiêm trì tịnh giới. Việc đầu tiên của người niệm Phật là phát Bồ đề tâm. Thế nào là phát Bồ đề tâm? Tức phát tâm trên mong cầu quả vị Phật, dưới nguyện hóa độ các loài chúng sanh. Người tu Phật nếu không phát Bồ đề tâm dẫu có tinh tấn tu trì thực hành các hạnh lành cũng chỉ là nhọc công vô ích. Điều này trong kinh Hoa Nghiêm có dạy: “Quên mất tâm Bồ đề, dẫu tu các hạnh lành, cũng đều là nghiệp ma”. Vì vậy hành giả muốn được vãng sanh thì phải phát tâm Bồ đề, đây là điểm quan trọng không thể thiếu đối với người tu Phật nói chung và Tịnh độ nói riêng. Thứ hai là nghiêm trì tịnh giới, tức mỗi người tu tùy theo giới luật bản thân đã thọ mà hành trì. Bất kỳ tông phái nào trong đạo Phật cũng không thể ly khai giới luật vì giới là nền tảng nhập đạo, là thọ mạng của Phật pháp. Nếu không có giới thì định tuệ cũng không thể phát sanh. Giới định tuệ đã không phát sanh thì Pháp thân huệ mạng biết nương vào đâu để thành tựu? Có thể nói Luật tông và Tịnh Độ tông là hai tông phái hỗ tương và bao trùm và không thể tách rời nhau. Hai tông này tóm thâu toàn bộ tám tông khác của Đại thừa, như Đại sư Thái Hư nói: “Luật là nền tảng của tam thừa, Tịnh Độ là mái che chung tam thừa”. Hành giả nghiêm trì giới luật, từ đó câu niệm Phật mới hiển lộ hết công năng mầu nhiệm, như trong kinh Quán Vô Lượng Thọ có dạy: “Một câu niệm Phật có thể tiêu trừ tám mươi vạn ức kiếp sanh tử trọng tội”. Trên nền tảng của việc phát Bồ đề tâm và nghiêm trì tịnh giới, hành giả phát tâm khát ngưỡng cầu sanh Tịnh độ. Tâm cầu sanh Tịnh độ này phải hội đủ ba đức tính quyết định là tín thâm, nguyện thiết và hạnh chuyên. Tín là đức tin, là cánh cửa quan trọng để vào đạo, là cội nguồn của mọi công đức. Người tu Phật thiếu đức tin sẽ không thoát ly sanh tử, đạt kết quả an vui giải thoát. Bởi tất cả công đức vô lậu đều nương nơi tín mà lập và do tín mà thành. Hành giả niệm Phật ngoài đức tin trong sạch tuyệt đối với Tam bảo, với sự tìm hiểu bằng kiến chiếu của trí tuệ Bát nhã sáng suốt kiên định không ngờ vực, gia thêm lòng tin kiên cố vào pháp môn niệm Phật. Đức tin này được dựng lập trên ba điểm. Thứ nhất hành giả tin tưởng Đức Phật Thích Ca là bậc đã thân chứng cảnh giới Tịnh độ, những lời dạy của Ngài về cảnh giới Cực Lạc và khuyên chúng sanh phát nguyện cầu sanh Tây phương là có thật. Hai là tin Đức Phật A Di Đà với bốn mươi tám đại nguyện tiếp độ chúng sanh, nếu ai có tâm mong về thế giới của Ngài thì người ấy sẽ được Phật tiếp độ. Ba là tin vào tự tánh thanh tịnh, vào khả năng giác ngộ sẵn có của mình, nếu hiện đời phát tâm niệm Phật thì mai hậu quyết định sẽ được vãng sanh Tịnh độ. Trên cơ sở của tín, hành giả cầu sanh Tịnh độ cần phải có đủ yếu tố thứ hai là khẩn thiết phát nguyện. Trong Phát Bồ đề tâm văn của Đại sư Tĩnh Am có dạy: “Cửa chính yếu vào đạo là lấy sự phát tâm làm trước, việc cấp thiết tu hành lấy sự lập nguyện làm đầu, nguyện có lập thì chúng sanh mới độ, tâm có phát thì Phật đạo mới thành”, lời dạy ấy của Tổ sư đã cho chúng ta thấy được tầm quan trọng của sự phát nguyện đối với việc tu hành. Tâm nguyện cầu sanh Tây phương theo Thiên Thai Trí Giả đại sư gồm hai điều là yểm ly và hân nguyện. Tâm yểm ly là tâm chán lìa. Hành giả phải luôn quán niệm sắc thân này vốn là hư vọng, chỉ là tổ hợp của năm uẩn chứa đựng khổ đau và bất tịnh. Phiền não cuộc đời luôn cấu xé tâm can, như những mũi tên độc đâm vào da thịt. Nhờ thường xuyên quán sát như thế, hành giả sẽ sanh tâm nhàm chán, đối với thân xác và mọi thú vui dục lạc ở đời sẽ không sanh tâm đắm nhiễm. Tâm chán bỏ thế giới Ta Bà càng lớn thì chí nguyện cầu sanh càng mạnh. Người niệm Phật trước sau chỉ có một ước nguyện duy nhất là mong cầu sớm thoát khỏi lao tù Ta Bà hiện tại, nguyện thác sanh về Cực Lạc ngày mai chính là hân nguyện. Tâm tha thiết cầu sanh đó chẳng khác nào như kẻ tha phương trông ngóng cố hương, người xa cha mẹ mong ngày đoàn tụ, như trong Di Đà sớ sao có dạy: “Trông về Cực lạc như nhớ cố hương, ngưỡng mến Đức Từ Tôn như cha mẹ”. Tín nguyện đã đầy đủ nhưng thiếu phần hạnh, người tu Tịnh độ cũng khó thành tựu, vì vậy cần phải chú trọng vấn đề hành trì. Đại sư Ngẫu Ích từng dạy: “Được vãng sanh đều do ở tín và nguyện; phẩm vị cao hay thấp là bởi ở chỗ hành trì có cạn hoặc sâu”. Ngoài việc tu tạo phước đức, trí tuệ và giữ gìn giới luật làm trợ hạnh vãng sanh, hành giả phải thực hành chánh hạnh. Chánh hạnh ở đây là phát tâm thanh tịnh thường trì Thánh hiệu Phật. Theo pháp môn Tịnh độ thì việc niệm Phật bao gồm bốn môn then chốt là Thật tướng niệm Phật, Quán tưởng niệm Phật, Quán tượng niệm Phật và Trì danh niệm Phật. Thật tướng niệm Phật là thể nhập vào Đệ nhất nghĩa đế, niệm tánh Phật bản lai của mình. Bản thể xưa nay vốn thanh tịnh vắng lặng, không bị phiền não cấu nhiễm. Hành giả trụ tâm vào tánh Phật bản lai đó, khiến tâm không vọng động, không chạy theo niệm trần, tâm lần hồi trong sáng thể nhập vào cảnh giới nhất tâm. Quán tưởng niệm Phật là hành giả quán tưởng chánh báo và y báo trang nghiêm của Đức Phật A Di Đà và thế giới Cực Lạc, cho đến khi mở mắt hay nhắm mắt cũng đều thấy cảnh giới Cực Lạc rõ ràng. Quán tượng niệm Phật là người tu luôn nhiếp tâm vào hình tượng của Phật A Di Đà, cho đến khi có đối trước hay không đối trước tôn tượng Ngài, hình tướng oai nghiêm của Phật A Di Đà vẫn hiện ra trước mắt. Sau cùng là Trì danh niệm Phật, đó là niệm thầm hay niệm ra tiếng bốn chữ A Di Đà Phật hay sáu chữ Nam mô A Di Đà Phật. Hành giả niệm Phật với tâm tha thiết chí thành không xen lẫn tạp niệm, chỉ chú tâm vào danh hiệu Phật, lần hồi sẽ đi vào cảnh giới nhất tâm. So với ba môn trước thì pháp Trì danh niệm Phật có phần giản dị dễ tu và dễ thành tựu. Đây quả thật là phương tiện thù thắng trong các phương tiện, là đường tắt tu hành trong mọi đường tắt. Vấn đề quan trọng của pháp niệm Phật là trong khi niệm phải giữ tâm thanh tịnh, bởi tâm thanh tịnh là nhân tố quyết định cho việc thành tựu cảnh giới nhất tâm. Muốn đạt được điều này, theo Tổ sư Ấn Quang: “Khi hành giả đề khởi câu Phật hiệu, tai phải nghe rõ ràng từng chữ, tâm phải trụ vào câu Phật hiệu, không chạy theo vọng trần và nhiếp tâm liên tục, hành giả sẽ tiến sâu vào cảnh giới chánh định”. Chánh định hay nhất tâm sẽ làm cơ sở cho tuệ giác bùng phát, theo Đại sư Liễu Nhất: “Khi tâm chuyên chú vào câu Phật hiệu, quên cả thân tâm ngoại cảnh, tuyệt cả không gian thời gian, đến lúc vọng hoặc tiêu tan, tâm thể bừng sáng, hành giả có thể chứng được niệm Phật tam muội”. Qua những điểm khái quát về ba yếu tố tín, nguyện, hạnh của pháp môn niệm Phật, chúng ta thấy pháp môn này có phần đơn giản, dễ thực hành mà kết quả lại cao tuyệt. Pháp môn này là thuyền từ ra khỏi Ta bà, là cửa mầu để vào Phật đạo (Xuất Ta bà chi bảo phiệt, thành Phật đạo chi huyền môn). Sự dễ tu dễ chứng so với các pháp môn khác được các bậc cổ đức đánh giá: “Tu các pháp môn khác, như con kiến bò dọc theo ống tre, hành trì môn Tịnh độ như con kiến đục thủng ống tre ra ngoài”. Vì tính cách khế lý khế cơ ấy mà từ trước đến nay không biết bao nhiêu người niệm Phật được kết quả vãng sanh. Sự mầu nhiệm đó trong Tịnh độ thánh hiền lục đã ghi lại rõ ràng. Pháp môn này lại bao quát trên từ các bậc Đẳng giác Bồ tát, các bậc đại đức cao tăng, dưới cho đến những kẻ cùng hung cực ác, thậm chí đến những loài súc sanh cũng nhờ trì niệm danh hiệu Phật A Di Đà mà được thoát ly thân cầm thú, sanh về cảnh giới Tịnh độ. Tại Việt Nam, pháp môn Tịnh độ đã sớm truyền vào và phát triển mạnh mẽ. Từ thế kỷ XI, Thiền sư Tĩnh Lực (thuộc thiền phái Vô Ngôn Thông) đã chứng niệm Phật tam muội. Cũng trong thế kỷ này, một vị tướng của Lý Thánh Tông đã dựng tượng Phật A Di Đà tại núi Lan Kha, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh. Thiền sư Không Lộ (mất năm 1141) đã từng dựng tượng Phật A Di Đà ở chùa Quỳnh Lâm. Thảo Đường quốc sư, vị khai tổ dòng thiền Thảo Đường của Phật giáo Việt Nam (vào thế kỷ XIII) đã khuyên đồ chúng nên tu Tịnh độ với bài “Pháp ngữ thị chúng” tuyệt vời. Huyền Quang tam tổ thiền phái Trúc Lâm cũng đã lập tháp Cửu phẩm liên đài tại chùa Bút Tháp để khích lệ tứ chúng cầu nguyện vãng sanh. Thời cận đại có các bậc cao tăng như Hòa thượng Tâm Tịnh, Hòa thượng Khánh Anh, Hòa thượng Hải Tràng, Hòa thượng Trí Thủ, Hòa thượng Thiền Tâm… đã tu tập và truyền bá pháp môn Tịnh độ, làm cho Phật pháp được hưng thạnh và lan truyền cho đến ngày hôm nay. Thiết nghĩ, chúng sanh trong bối cảnh phước mỏng nghiệp dày, muốn đạt đến sự giải thoát cần nương vào pháp môn niệm Phật. Điều này trong kinh Đại Tập Nguyệt Tạng, Đức Phật có dạy: “Thời mạt pháp ức ức kẻ tu hành song ít có người đắc đạo, chỉ nương vào pháp môn Niệm Phật mới mong thoát khỏi luân hồi”. Phải chăng, pháp môn này là mật ý vi diệu, là sự thể hiện tình thương bao la của Đức Phật đối với tất cả chúng sanh trong thời mạt pháp, như trong kinh Vô Lượng Thọ, Phật dạy: “Trong đời tương lai khi kinh đạo diệt hết, Ta dùng sức từ bi thương xót, riêng lưu trụ kinh này một trăm năm. Chúng sanh nào gặp được kinh này, tùy theo sở nguyện đều có thể đắc độ”. Tình thương vô bờ bến của Phật đã như thế, phận làm đệ tử chúng ta nếu không lo phát tâm niệm Phật cầu sanh Tây phương, tức đã cam tâm phụ ân tình của Ngài.
Pháp Môn Tu Tắt Kiếp con người sống gởi thác về. Ai cũng vậy. Gọi là "sinh ký tử quy", Sống gởi thác về. Đời người là như vậy. Tất cả mọi người đều như vậy. Đức Phật cũng vậy, phải đọa cái xác thân tứ đại giả hợp này. "Cuộc đời có hợp không tan. Thì đâu có sự bẽ bàng thế ni! Cuộc đời có hợp không ly, Thì đâu có nỗi sầu bi đoạn-trường!" Thật như vậy! Tất cả mọi loài mọi vật đều phải thay đổi theo thời-gian, biến dịch của vô-thường, là thành trụ hoại không, hay là sinh, trụ, dị, diệt. Còn thây con người của chúng ta đây là sanh, lão, bệnh, tử. Tử chưa phải là hết, mà chỉ thay đổi kiếp sống của con người thôi. Rồi sanh trở lại, tử nữa. Tử rồi sanh nữa. Sanh tử trong bánh xe tam đồ, lục đạo, kiếp này đời nọ, mãi mãi hoài hoài. Sự sanh tử nào có chi đâu khác lạ, cũng như người tài-xế mà lái chiếc xe, chiếc xe tung hư, mục nát bỏ đi, nhưng người tài-xế vẫn còn. Cũng như chiếc xe thầy, thầy lái đó, bữa nay là nó hư rồi, có thể đem bỏ nó thành sắt vụn, nấu thành nước, đổ lại chiếc khác. Nhưng mà thầy tài-xế vẫn còn. Qua đây thầy lái được tám chiếc xe hơi rồi, ở tại Mỹ. Từ ngày qua Mỹ đến nay thầy lái được tám chiếc, tám lần thay đổi xe hơi, nhưng ông Giác-nhiên vẫn còn sống nhăn; mà có thể thầy còn lái nhiều chiếc nữa! Đó là nói ít đó, chớ có người, quý Phật-tử biết, qua đây một ngày họ lái hai, ba chiếc xe hơi, thay đổi như vậy! Chiếc xe là vật vô-tri vô-giác; sắc thể con người của mình tứ đại giả-hợp, vô-thường, cấu tạo rồi tan rã; mà cần cái tâm linh của mình, cho nên tu là như vậy. Người đời không biết, nghĩ tưởng rằng: "Dại gì tu, khổ quá; tu chi cho cực vậy! Nhứt là qua cái xứ văn-minh vật-chất này, đầy dẫy tự-hưởng, sung sướng vô cùng, là thần tiên tại thế, tu gì nữa! Tu là tại Việt-nam khổ sở, chiến-tranh giặc-giã, vái trời lạy Phật, cầu khẩn thánh-thần, ráng lo tu! Chớ còn qua bên đây sướng quá, còn lo tu gì nữa!" Nhưng thưa quý vị, không có sướng! Thiệt, cũng có người thụ hưởng là sướng vậy! Nhưng mà có sướng với xác thân vật-chất tạm-bợ, nó đâu có vĩnh-viễn? Và cái sướng đó, chỉ là an ủi trong một chốc lát rồi thôi, mà sự đau khổ nhiều hơn. Bởi vì, cõi Ta-bà mà, dầu xứ nào, quốc-gia nào, đất nước nào, dân-tộc nào may mắn, một xứ nào đầy đủ vật chất, đời sống tiện-nghi, cũng như các xứ văn-minh Á, Âu-châu hay là Mỹ-châu đây chẳng hạn. May mắn là được nhiều cái vật chất, cơ-giới văn-minh, khoa-học kỹ-nghệ phát-triển mạnh, giúp đỡ cho con người thụ-hưởng vật-chất một phần nào thôi. Nhưng vẫn là khổ đau chớ, là vì cõi Ta-bà mà! Nên có câu nói rằng: "Ta-bà khổ, Ta-bà khổ! Tịnh độ vui, Tịnh độ nhàn vui! Sống trong trần tục lấp vùi Một cười mười khóc, mà vui nỗi gì!" Tuy nói vui, nhưng sự thiệt có một phần cười, mười phần khóc. Quý vị không biết có chứng-kiến được trường-hợp đó không? Chớ thầy có đi cầu-siêu nhiều đám và thầy có chứng-kiến được nhiều trường-hợp như vậy. Qua bên đây người ta cũng khổ lắm nghen, tự vận chết cũng nhiều lắm đó! Quý vị biết có nhiều gia đình ở Việt-nam đầm ấm hạnh-phúc hết sức mà qua bên đây tan nát đổ vỡ; như hôm thầy đi thuyết-pháp ở tiểu-bang ... ông đó ổng giàu lắm, cơ-sở ổng có thể giàu cả triệu bạc lận, mà ổng buồn ổng khóc, ổng than với người bạn; bởi vì người bạn gia đình đầm ấm hạnh-phúc quá, con cái dạy dỗ nên thân nên phận, học hành nên danh thành phận; còn ông ta có năm đứa con, ổng giàu có cửa tiệm, hai ba cái, nhà, sự nghiệp ổng trên cả triệu đô-la, nhưng ổng than, ổng nói rằng con ổng chết hết rồi (thiệt ra còn sống nhăn, không có chết, nhưng mà chết rồi, là vì bây giờ con ổng tan nát hết), nó theo bụi đời, hư hỏng hết, không học hành nên danh phận gì hết, và không còn ở với ổng, nó đi lang thang khắp nơi. Ồng giàu như vậy, có tiền như vậy để làm gì? Nếu ổng biết vậy, thì hồi đó ổng đâu có đi làm chi tạo ra cơ nghiệp, tiền bạc thì có, cơ-sở thì có, tiệm tùng thì có, nhưng bây giờ con ổng chết hết rồi (chưa có chết, còn sống, nhưng bây giờ nó hư hỏng hết rồi). Cuộc đời nó tan nát, nó ghiền xì-ke ma túy, nó theo bụi đời, nó đi ăn cướp ăn trộm; đứa thì tù tội, đứa thì trốn chui trốn nhũi. Nghĩ vậy, dầu có tiền của nhiều như vậy, có gì hạnh-phúc đâu! Đó là lấy một thí dụ trong muôn ngàn triệu tỷ tỷ cái sự đau khổ của nhân-loại trên mặt đất này. Vì vậy nên cõi thế-gian này được gọi là cõi Ta-bà, là bể khổ. Chớ đừng tưởng rằng giàu có vật chất mà không khổ. Giàu có thì khổ theo giàu có; nghèo hèn, tù-tội thì khổ theo nghèo tội, đê hèn; hạng bậc nào cũng khổ! Đừng nói chi, mình mang thân tứ đại này là khổ rồi! Sanh, già, đau, bệnh, chết đủ thứ. Mấy cậu, mấy cô còn trẻ tuổi từ mười tám, hai mươi, ba mươi tuổi trở lại, nghe thấy mạnh khỏe như voi, ăn uống ngon, làm cái gì cũng thấy sung sướng, thụ-hưởng, thấy mình sống vậy là ngon lành há! Nhưng mà thêm ít tuổi nữa đi, rồi thân hình tiều tụy, da nhăn, mặt nám, chân mỏi, gối dùn, bệnh hoạn ốm đau. Nội hàm răng của mình, mà có người bị hàm răng hành đau mà khổ, nghĩa là ăn uống không được, nhức cái răng chớ đừng nói gì! Nội cái răng mình mà nó thay hai lần; là quý vị thấy nó khổ bực nào không? Thầy đây nè, cái răng cấm của thầy, hồi đó giờ răng thầy cứng lắm, răng thầy mà dây điện, thầy làm biếng lấy dao, thầy cắn nó đứt, nghiến nó đứt, mạnh lắm; nhưng hồi quãng bốn chục tuổi, thầy mới thay răng, mà gọi là mọc răng cấm - răng khôn đó - mà nó dại chớ không à! Nó hành mình đau muốn chết mà khôn gì! Nó hành thầy đau đến nỗi thầy đi mổ nó ra, mổ nó đi cho rồi! Nó không mọc lên lẹ; nó nhú lên chút xíu vầy, nhích một chút; lâu lâu nóng trong người, nhích một chút, nó đau, nó sưng lên; nó hành mình đau quá, thôi nhổ quăng quách đi cho rồi, để chi nó hành cho khổ! Ta gọi là răng khôn đó, mà thầy đặt nó là răng dại, nó khôn thì nó đừng có đau nhức người ta mới để nó yên thân chớ, đàng này nó đau nhức hoài; nhổ nó quăng, còn gì nói là khôn! Thành ra khi nào quý bà con mọc răng dại là khổ lắm, nó hành mình đau lắm. Rồi phải có một cái răng đó thôi sao! Cả hàm răng băm hai cái, quý Phật-tử biết mỗi một cái nó đau nhức nó hành mình đủ thứ; rồi hỏi ông vua ổng có khỏi nhức răng không? Mặc dù giàu sang phú quý, ông thủ-tướng, ông bộ trưởng, thí dụ ổng có tiền bạc, vật chất đầy đủ, nhà lầu, xe hơi, vợ đẹp, con khôn, rồi đó, nhưng mà hàm răng ổng đau, có thể vợ con, tiền bạc thế chịu được không? Thành ra đừng nói chi, hạng bậc nào hễ mang xác thân rồi thì phải khổ. Bởi thế cho nên đức Lão-tử, ngài có nói rằng: "Ngô hữu đại hoạn vi ngô hữu thân Nhược ngô vô thân hà hữu vi hoạn" Nghĩa là "ta mắc cái hoạn lớn trên cõi đời này là vì có cái thân này, nếu con người không có cái thân này, không có cái nạn khổ chi". Cho nên thân này là một cái nạn khổ, nhưng mà chẳng những khổ cái thân sống hành hạ đau rồi thôi, còn chết nữa là "tử biệt sanh ly" thật đúng như vậy. "Phụ mẫu ân thâm chung hữu biệt Phu thê nghĩa trọng giả phân ly Nhơn tình tựa thể đồng lâm túc Đại hạn lai thời đáo tự phi" Nghĩa là: "Hỡi ơi, cha mẹ ơn sâu rồi cũng có ngày cách biệt. Vợ chồng tuy nghĩa nặng rồi cũng có lúc chia lìa. Nhơn tình tựa thể chim đang ngủ. Mạnh sáng con nào nấy bay đi." Đời là thế! Thế-gian là thế, chỉ có thế thôi! Chúng ta vì chưa ý thức giác ngộ, sự vô-thường của cuộc đời tạm bợ giả tạm này, chúng ta nghĩ rằng sống là phải thụ-hưởng, sống để lo tiền bạc vật chất, sống để lo tạo cơ sở, sự-nghiệp cho con, cho cháu, cho chắt chít mình; nhưng chúng ta quên rằng kiếp sống con người chỉ một hơi thở thật dài; ngắn ngủi lắm, nhanh chóng lắm, và mau lẹ lắm! Trong kinh Tứ thập nhị chương, có một đoạn Đức Phật hỏi các chú đồ đệ của Ngài: "Đời người sống bao lâu, các con có biết không?" Có một vị tỳ-kheo bạch rằng: "Bạch Đức Thế-tôn, đời người sống sáu mươi tuổi". Thường thường nói sáu mươi tuổi, nói vậy chớ một trăm, người ta nói đời người trăm tuổi, kêu là: "nhơn sanh bách tuế duy kỳ" tức là người ta sống trăm tuổi là cùng! Nói một trăm, chớ thầy thấy có người thiệt sống một trăm hai mươi tuổi; mà sống chi khổ quá, lẫn lộn, nhà có nắng rọi vô, tối ngày xách rổ lượm hột vịt, lượm hột vịt bỏ vô rổ. Con cháu cho ăn cơm rồi trở lại hỏi: "Ông ăn cơm chưa?" Nói: "Thôi, nó không cho tao ăn, nó bỏ đói tao cả ngày vậy đó". Con cháu đã cho ăn, nhưng đã lẫn mà! Thành ra nói với bà con, sống nhiều tuổi vậy có thích không? Cho nên, thường thường Tết, bà con về Thăm, nói: "Chúc cho Hòa-thượng sống trăm tuổi, hai trăm tuổi!" Thầy nghe nói, thầy giận lắm nghe! Muốn cho thầy khổ hả? Muốn cho thầy khổ cả trăm năm hả? Sống chi sống nhiều khổ phải không? "Đa thọ đa nhục" mà! Nghĩa là tuổi càng sống nhiều chừng nào, càng nhục nhã chừng ấy. Quý Phật-tử nói thì nghe nó kỳ, mà nói thì bằng sự thật, thầy thì nói thẳng, nói thiệt cho nghe chớ, nói toạt móng heo, chớ dấu diếm vòng vo chi nữa! Già rồi, lẫn lộn. Ăn uống lều khều, dính tùm lum. Con cháu nhiều khi nó lấy đồ nó che ở đi nữa, rồi ỉa trây, đái dầm. Ăn dơ ăn dáy. Thử hỏi sống làm chi, nói tầm bậy tầm bạ, con cháu nó buồn nó giận. Thành ra cho nên nói thiệt mà nghe, thầy thường nói từ sáu chục tuổi trở lên mà chết thì phải rồi, được rồi. Thầy có biết rồi, nó nhức mỏi, nó ê ẩm, nó uể oải, nó bần thần, nó dã dượi, không có sướng gì hết trơn trọi! Đó là nói thiệt tình, vì vậy cho nên, thấy cái chết mình đừng có buồn. Cha mẹ già tuổi chết rồi, có người bảy, tám chục tuổi chết còn tiếc. Tiếc làm chi? Chiếc xe cũ rích nó hành hạ ông tài xế thấu trời. Thầy đây, có lần nó bỏ ở ngoài Highway, quý Phật-tử có biết không, mình thì khổ sở đủ thứ, máy móc không rành, đi đứng không biết làm sao, bỏ ở ngoài Highway ở ngoải, nó hư nó "pan" đó thành ra khổ! Chiếc xe mà cũ rích thì nó hành hạ ông tài xế; thân mình mà lớn rồi nó hành hạ tâm-hồn lắm. Cho nên già thì phải chết. "Sinh ký tử qui" sống gởi thác về mà! Vì vậy cho nên già lớn tuổi thì chết, là bỏ cái xác thân không có gì đáng tiếc. Nhưng có điều, sống đời biết tu hành hay không, biết đạo đức hay không, biết tạo phúc đức hay không; vì con người ai cũng chết, nhưng chết đem theo được có hai điều: tội và phước. Mà hễ tội thì đọa, phước thì được siêu, gọi là: Thanh thăng trược giáng. Cũng như quý vị thấy đốt trên bàn Phật những nén hương, khói nhẹ bay lên tro tàn rớt xuống. Con người mình sống đời hung ác, ngang tàng, bất hiếu, bất nghĩa, bất lương, vô đạo, vong ân chết rồi bị đọa xuống. Còn sống đời ăn hiền, ở lành, tu nhơn, tích đức, hiếu thảo, hiền từ, ân nghĩa thì chết rồi, nhưng mà tâm hồn vẫn được siêu thoát. Thể xác vùi sâu ba tất đất Thanh danh lừng lẫy bốn phương trời Mặc dầu, tuy thân chết là thay đổi, không có gì đáng tiếc hết, nhưng có tiếc chăng là có biết tu hành hay không? Có biết đạo đức hay không? Con người sống có ích lợi gì cho ai không? Mình có biết đền ơn cha mẹ sinh thành dưỡng dục chín tháng cưu-mang, ba năm bồng ẵm, bú sữa sú cơm, công lao cực khổ hay không? Hay sanh ra những đứa con ngỗ-nghịch, bất hiếu, làm cha mẹ phải khổ đau, thì mình chỉ tiếc những đứa con không biết bổn phận, không làm tròn nhiệm vụ! Sanh ra làm con người cũng vậy, đâu phải mình chỉ thọ ơn cha mẹ không, mà còn ơn vua chúa, của quốc vương thủy-thổ, ơn của tín chủ, bá-tánh, cư-gia, ơn thầy, nghĩa bạn, nói chung là chúng-sanh, ơn đó vô cùng tận; và cái ơn ít có khi nghĩ tưởng - cái ơn lớn hơn ơn của cha mẹ - là cái ơn của các loài thú vật đã hy-sinh thân mạng để nuôi mình. Mình mà to tát thế này, ăn bao nhiêu chục tấn sinh-mạng, súc vật chết biết bao nhiêu muôn ngàn triệu sinh-mạng mà nuôi mình. Nó đã hy sinh thân mạng nó nuôi mình, mình nghĩ đến cái ơn đó lớn lắm, chớ không phải nhỏ đâu, mặc dù mình biết hay không, chứ nó vẫn là cái ơn lớn, mà không phải một kiếp một đời. Mình có đây là mình đã trải qua nhiều kiếp đời lắm lắm. Cho nên mình thọ ơn chúng-sinh từ vô-thủy đến nay không thể nói cho cùng tận được. Mình hôm nay mà biết khôn, biết đạo đức, biết thương người mến vật, biết hiếu thảo đạo nghĩa, không phải là mới tiến-hóa một kiếp đâu, mà mình tiến-hóa, đã trải qua nhiều kiếp đời lắm rồi. Hôm nay mình được thế này là mình thọ ơn chúng-sinh quá sức nhiều; cho nên mình phải nghĩ rằng, tất cả chúng-sinh là cha mẹ của mình. Nếu nghĩ như vậy, bao giờ mình lại làm đau khổ chúng-sinh? Mình làm phiền lụy đến một chúng-sinh nào, mình làm khổ nhọc một chúng-sinh nào đó tức là mình làm khổ nhọc ông bà cha mẹ cửu-huyền thất-tổ của mình. Thì bây giờ, mình phải tìm phương hóa độ, Nhưng mình không đủ tài năng đức độ, không đủ cơ duyên, phương-tiện, bất cứ vị nào có đủ phương-tiện cơ duyên hóa độ mình trợ duyên giúp sức, dầu ai độ được chúng-sinh nào mà giác ngộ là quý vị nhổ được cái gai trong cõi đời. Cứu một linh-căn khỏi trầm kha đắm đọa, vớt được một người là chính cửu-huyền thất-tổ, ông bà cha mẹ của mình khỏi trầm trong biển sanh tử luân-hồi. Như vậy thì bổn-phận con người phải hiếu thảo, mà muốn đạt hiếu thảo đó, thì bây giờ phải làm thế nào? Làm thế nào để đền ơn sanh thành dưỡng dục của ông bà cha mẹ cửu-huyền thất-tổ của mình, thì trong kinh Phật dạy rằng: "Hiếu hạnh vi Phật hạnh", cái hạnh hiếu thảo là cái hạnh của người con Phật, mà chính Đức Phật trọn đời của Ngài cũng là bậc chí hiếu mà. Nên có bài thơ nói ràng: Phật xưa hiếu thảo kể Hằng-sa Đến kiếp hiện nay cũng đậm đà Đao-lợi vương cung về viếng mẹ Ca-tỳ-la-vệ đến tìm cha Khom lưng đảnh lễ đồi sương trắng Đưa mặt cho hôn một mẫu già Đến chết chim hoang còn bật mắt Soi cùng hiếu tử mấy người qua! Thật ra trọn đời Đức Phật là bậc chí hiếu. Thế thường người ta nghĩ rằng, con đi tu bỏ cha mẹ là bất hiếu. Rồi có người lại nói rằng: "Thứ nhất là tu tại gia, thứ nhì tu chợ, thứ ba tu chùa". Vậy là phải ở với cha mẹ. Nếu người nào bỏ cha mẹ đi tu là bất hiếu. Rồi họ lại nói câu là: "Bất hiếu hữu tam vô hậu vi đại." Là phải sanh con cháu nối dõi tông đường, nối dòng, nối dõi mới là có hiếu, chớ còn không sinh con, mấy ông thầy tu, mấy bà ni cô trường chay, cắt ái ly gia, có con có vợ gì mà báo hiếu! Cho nên họ giảng giài, họ nói là bất hiếu. Thành ra người ta giải tầm bậy tầm bạ, người ta không biết cái đạo, và không thấu được cái chân-lý. Mấy câu đó người ta đặt ra, người ta nói vậy chớ mình phải hiểu cái lý của nó, nói vậy cũng trúng nữa nhưng mà trúng trong trường-hợp nào? Họ giảng sai; họ nói cách này, họ giảng cách khác thành ra trật. Bây giờ, thầy nói sơ cho quý bà con nghe - có nhiều người biết chớ không phải là không - nhưng khi nào quý bà con nghe người ta nói, mình nói lại cho người ta biết, chớ nhiều khi người ta hiểu lầm. Nếu nói bỏ cha mẹ đi tu là bất-hiếu thì Sĩ-đạt-ta làm sao thành đạt, thành Phật, thành Phật tổ, thành Phật Như-lai? Rồi nói Phật đã sanh được La-hầu-la rồi Phật mới đi tu, thì cũng có La-hầu-la nối dòng; cho nên Phật đi tu bởi vậy không bất-hiếu, chớ ổng còn trẻ đi tu là ổng bất-hiếu, thì sanh La-hầu-la mới chín tuổi, Phật cũng đưa đi tu, cũng thành tổ nữa! Như vậy thì không phải rồi! Như vậy, đi tu là bậc đại-hiếu, là bậc toàn-hiếu, chứ không phải đại-hiếu nữa. Bây giờ, Thầy phân-tích ra để quý bà con nghe này: Cái hiếu nó có nhiều bậc, cũng như học nó có nhiều lớp, từ tiểu-học, trung-học, đại-học, cao học, toàn học. Cái hiếu nó cũng vậy, tiểu-học là sơ sơ, cũng như bây giờ người ta lo cho gia đình vậy, lo cho cha mẹ anh em phụng dưỡng thế nào đó suốt cả cuộc đời của mình, dù là lóc thịt mà nuôi cha mẹ. thí dụ ở đó suốt đời mà nuôi cha mẹ thì đó cũng là tiểu-hiếu mà thôi. Cái hiếu nhỏ, hiếu của gia đình bé tí tẻo teo, cỏn con, chật hẹp. Hiếu đó không gọi là hiếu lớn được. Người nào mà lo cho xã-hội, lo cho việc xây dựng một đất nước được thịnh-vượng, phú cường, một dân-tộc được giàu mạnh, cả mọi người được thụ-hưởng an lành, trong đó có gia đình của mình; đó là bậc trung-hiếụ Tại sao vậy? Người ta thường gọi là trung quân ái quốc, hiếu thảo cha mẹ mình là lo cho việc đất nước, quốc gia xã hội mình, mà cả gia đình mình cũng thụ-hưởng an lành, hạnh phúc an vui, đó là bậc trung-hiếu. Hiếu lớn hơn nữa là lo cho loài người, như các tổ chức Liên-hiệp-quốc chẳng hạn, chẳng những lo cho một đất nước quốc gia của mình, mà làm sao đem lại sự công bằng, sự hạnh-phúc yên vui cho tất cả toàn dân trên thế giới, mọi người trên trái đất này. Những người nào mà lo cho cả loài người được rộng rãi như các bậc Bồ-tát vậy, các bậc đó được gọi là Bồ-tát đó, là lợi tha, không những riêng cho dân-tộc của mình, không bênh vực cho một dân-tộc của mình, không xây dựng đào tạo an vui cho chỉ một đất nước mình, mà lo cả cho nhân-loại, cả loài người, lo chung cho tất cả mọi người trên thế-gian này, bậc đó gọi là bậc đại-hiếu. Cũng như Mục-kiền-liên hồi xưa gọi là đại-hiếu Mục-kiền-liên. Nhưng mà Phật, Bồ-tát là lo hơn nữa, không những lo cho loài người quý vị thấy; như cường-quốc, các đất nước mạnh giàu mặc dù họ lo cho đầu này, đầu nọ, đầu kia, chứ thật ra là họ phải nghĩ đến quyền-lợi đất nước, dân-tộc họ; họ tốt nhưng mà họ cũng có cái lợi, chứ không phải là hy-sinh trọn vẹn, như là Phật hay là Bồ-tát, mà còn lo cho cả chúng-sanh (chúng-sanh là gồm cả bốn loại: noãn-sinh, thấp-sanh, hóa-sinh, và thai-sinh). Noãn-sinh là loài đẻ trứng, thấp-sinh là loài ẩm ướt, hóa-sinh là loài tiến-hóa, thai-sinh là loài sinh con, do bào-thai rồi sinh ra con. Cho nên Phật là toàn-hiếu, cao hơn đại-hiếu, gồm chung tất cả. Vì mình lo cho loài người, đã đành cũng tốt vậy, nhưng mà biết đâu ông bà cha mẹ mình vì thương con, thương cháu, lắm khi làm điều tội ác, ăn cướp, ăn trộm, gian tham, đĩ điếm, trà đàng, tửu điếm v.v... rồi bị oan nghiệt chết đi, tụt xuống làm thú vật không chừng nữa, bây giờ mình thương loài người, mình giúp đỡ loài người, nhưng các loài súc vật kia, nhiều khi làm chúng-sinh trong cõi ta-bà, sanh đi lộn lại nhiều kiếp đời mà nhiều khi bị đoạ xuống làm thú vật nữa. Các loài thú vật tiến lên làm loài người cũng có, mà loài người ác quá, tội lỗi quá, đọa xuống cũng có, bởi vì theo sự tiến-hóa, chúng-sanh nhân-loại trong hoàn-vũ gồm mười ba đẳng cấp, thấp nhất là địa-ngục, ngạ-quỷ, súc-sinh, a-tu-la, tiến lên nhơn, trên người còn nữa là bậc Thiên, thực ra trên là thiện dưới là ác, có nghĩa là trời là bậc Thiện lành. Người giữ có năm giới, không sát sanh, trộn cướp, tàđâm, rược chè, nói dối, nhưng bậc trời phải giữ mười điều lành, đó là: không khoe khoang, đâm thọc, rủa chửi, không tham lam, sân giận, si mê, không trộm cướp tà dâm, không sát sanh, không nói dối. Thân không sát sinh trộm cắp tà dâm Miệng không nói dối, đâm thọc, khoe khoang, chửi rủa không tham lam, sân-giận, si mê Bậc trời phải giữ mười điều, gọi là thập-thiện. Vì vậy cho nên bậc trời là: Tu đà hườn, Tu đà hàm, A-na-hàm, A-la-hán, Bích-chi-Phật, Bồ-tát, quả diệt Như-lai tức là Phật-tổ. Loài người ở hạng thứ năm. Thứ năm mình còn tụt xuống, tụt lên, vì vậy Thầy có viết bài thơ năm 1960, nhân lễ Phật đản như thế này: "Ơn Phật lớn lao chẳng nghĩ lường Cũng vì bác ái với tình thương Xả thân tuổi trẻ tầm chân-lý Cầu đạo chẳng màng bậc đế-vương Vợ đẹp con yêu đành gác lại Cha già mẹ yếu đoạn tình thương Nguyện tu đắc quả tròn ngôi vị Cứu độ quần sanh khỏi lạc đường" "Cứu độ quần sanh khỏi lạc đường" là gì? Là bởi vì sáu đường lục đạo là: địa-ngục đạo, ngạ-quỷ đạo, súc-sanh đạo, a-tu-la đạo, nhơnđạo, thiênđạọ Sáu đường này cứ luân chuyển hoài. Kiếp con người sanh ra rồi lớn, rồi già. Rồi đau rồi chết lìa qua một đời. Rồi theo nghiệp luân hồi trở lại. Cũng sanh lên cũng mãi tấn tuồng Bánh xe cứ mãi quay cuồng Sanh già bệnh chết theo nguồn chuyển xoay Sanh lên chết xuống, kiếp này đời nọ, khi làm ông làm cha, làm chồng, làm con, làm cháu, làm vua, làm quan giàu sanh phú quý, nghèo hèn, tù tội ăn mày... Cứ luân chuyển làm sao cho hết tùy cái nghiệp, kiếp này làm phước, đời sau hưởng phước, kiếp này làm tội đời sau phải đọa xuống nữa. Thành ra cứ quanh quẩn trong sáu đường này, mà thoát ra không được, gọi là lục đạo. Mà lục đạo ảnh hưởng của tam đồ. Tam đồ là: Đao đồ, thủy đồ, hỏa đồ. Đao đồ là chết vì gươm dao, đao búa, thịt này đụng vô là chết. Thủy đồ là chết vì nước ngập lụt, trôi, chìm nổi, mình ngó vậy mà đem nhận nước chết queo. Hỏa đồ là lửa đốt, chiên, kho, xào, nấu, luộc, mình mà đút vô lủa cũng cháy tiêu nữa. Thành ra trong lục đạo phải chịu ảnh hưởng của tam đồ, nó có sự liên-quan như vậy. Chúng-sinh ở trong lục đạo tam đồ khổ hoài. Đức Phật, Ngài chỉ con đường siêu-thoát hơn là Phật đạo, nghĩa là ra khỏi lục đạo, cho nên: Cứu độ quần sanh khỏi lạc đường. Ngài hy sinh cuộc đời của Ngài. Ngài tu thành đạo đắc quả rồi, Ngài đem ánh sáng từ bi rọi khắp chúng sanh, nhân loại để cứu vãn chúng sanh thức tỉnh thoát khỏi vòng lục đạo tam dồ này, cho nên ơn Phật rất là lớn lao vô cùng vô tận. Bây giờ chúng ta muốn thoát khỏi lục đạo, tam đồ thì phải làm sao tu lên thiên đạo. Cho nên là người, chưa đủ đâu. mà nhiều khi chúng ta là người mà chưa đúng là người nữa. Đâu phải sanh ra con người là người rồi! Quý vị có thấy lắm kẻ mang thân con người mà lòng lang dạ thú, hung dữ, ngang tàng như beo như cọp, chửi cha mắng mẹ, giết chóc người này, người nọ, người kia, làm những điều tàn nhẫn, ác độc, tôi nói xin lỗi chớ mang thân con người chớ làm đâu phải là người; chứ xác thân nào cũng "đất nước lửa gió" cấu tạo thôi. Dầu thân con người chứ thân con vật, sự thật mà con người khòm xuống mà bò bốn chân, đừng có ăn mặc, còn thua con thú nữa, Con thú còn có lông lá che đậy kín đáo, chứ con người tồi tệ hơn nữa. Nhưng con người khác hơn con thú là đầu trên chân dưới, chứ không phải bò như thú vật đi ngang hàng với nhau, Vì vậy cho nên người là nhơn. "Tả phúc vi chơn, hữu vệ vi chánh, thường hành chánh chơn; cốt viết vi nhơn"; người là toàn chơn với thánh với thiện, với mỹ mới gọi là người. Chứ không phải mang thân con người, xác thân loài người, là người đâu; mà người là phải thiện lành, phải giữ lòng nhơn đức, nhân ái nhân từ, nhân đạo, nhân nghĩa. Chữ "nhân" là vậy đó mà. Cõi thiên là thiện lành. Cao hơn người, phải giữ thập thiện lận, lo điều lành, người giữ mới có năm giới là lòng nhân không sát sanh thôi. Vì vậy cho nên trên nhân là phải thiên. Bây giờ chúng ta phải giữ điều lành thêm nữa. Không phải mình thương cha thương mẹ, thương anh, thương em, là đủ đâu. Đã đành, người biết thương cha mẹ anh em vợ con là tốt lắm. Có nhiều người, cha mẹ mà không thương, chính có nhiều bà bị con đuổi đến chùa khóc đây nè. Con lãnh qua, bây giờ nó không thèm nuôi, nó đuổi! Quý vị nghĩ coi - mặc dù nói nó đụng chạm nặng nề thiệt - nhưng nó còn thua loài súc vật vậy! Nhiều con thú, mà quý vị biết không, nó có hiếu lắm đó, chẳng hạn như con quạ, quý vị thấy không con quạ con tại sao nó gắp mồi nuôi con quạ lớn; nuôi quạ nhỏ thôi chớ sao con nuôi quạ lớn, kỳ vậy? Mặc dù tuy con quạ nó đen thui đen thủi, mà nó còn có hiếu, khi con quạ đẻ ra nuôi lớn, gắp mồi nuôi quạ con lớn rồi, chừng đó quạ con kiếm mồi nuôi quạ mẹ, đền ơn lại sáu tháng. Từ đó mạnh con nào kiếm tìm ăn sống. Tại sao loài người chúng ta không thương mến mẹ; người ta muốn cầu có cha mẹ hết sức mà cầu không ra, bây giờ cha mẹ còn sống lại hất hủi, đuổi xô? Còn có người cha mẹ muốn tu cũng không cho, đi chùa còn cản đản nữa. Rồi có người được thầy nói pháp, bả nghe, bả nói: "Trời ơi, thầy nói vậy chết con rồi! Từ khi má con qua đây mấy tháng đỡ hết sức, thầy ơi, con mướn hai ba người cũng không bằng nữa! Ở giữ con, nấu cơm, giặt đồ, lau nhà, lo đủ thứ hết!" Thành ra bả mừng quá bả nói "thiệt mướn hai, ba người không bằng nữa!" Nghe thiệt tội nghiệp! Tưởng đâu rước mẹ qua đây để nuôi nấng, đền ơn, báo hiếu nghĩa sinh thành; ngờ đâu rước mẹ qua đây để giữ nhà, chăm sóc mấy đứa nhỏ, để khỏi mướn người trông trẻ. Vậy hỏi bà ấy mừng là mừng làm sao? Thầy mới nói với bà ấy như vầy: "Bổn phận cha mẹ sinh con ra là phải nuôi, bởi vì mình tạo ra, mình không nuôi là mình có tội với nó; ai biểu mình tạo ra nó làm chi? Tạo ra là phải nuôi, phải dạy dỗ cho nên người, làm sao nó được ích nước lợi dân, làm sao cho con người của nó được lợi cho xã-hội, có lợi cho nhân loài, dầu không lợi cho ai thì nó đừng làm hại cho ai!" Không lợi cho ai cũng được, nhưng đừng làm hại cho ai cũng tốt; chứ để nó làm hại cho ai thì cha mẹ cũng đắc tội, là bởi vì: "Giáo bất nghiêm sư chi đọa. Tử bất giáo phụ chi hóa". Con không dạy, lỗi tại cha mẹ. Trò không dạy là lỗi tại ông thầy. Bổn-phận thầy là phải dạy trò. Bổn-phận cha mẹ phải dạy con cháụ Nhưng mà dạy nó không nghe, chừng đó mới là bổn-phận nó, gọi là: "Giáo bất thính tội ư nhơn". Dạy không nghe đó là mình hết bổn phận rồi; chớ mình sanh ra là phải dạy nó, chớ không phải sanh ra là nuôi nó mà thôị Nhưng mà bây giờ sanh ra nuôi nó, bây giờ phải nuôi con nó nữa. Phải là một chuyện đáng tội không? Cho nên thầy nói ra thì nó đụng chạm, phiền hà người ta thật. Thầy khuyên tất cả quý bà con có gặp ai như vậy nói dùm thầy, một mình thầy nói không ra đặng mênh mông bao la đâu. "Đừng bao giờ bắt cha mẹ nuôi con mình, đừng bao giờ làm những chuyện đó!" Cha mẹ nuôi mình ơn như trời như biển mà mình không nuôi lại được, bây giờ lại bắt nuôi con mình nữa, bậy quá chừng quá đổi rồi! Thầy nói, quý bà con nghĩ thầy nói có đúng không? Mình chưa mang cái thai nghén, mang chín tháng đi ột ệt muốn chết vậy đó. Thầy hôm trước cổ thầy nó đau, có ông bác sĩ đưa thầy cái niệt mang về chút xíu vậy thôi, cái băng thôi mà thầy còn thấy khó chịu vô cùng vô tận, mà quý vị Phật-tử mang thai như vầy chín tháng đi ột ệt, đi không dám đi, chạy không dám chạy nữa, nhảy không dám nhảy, leo trèo không dám leo trèo, hỏi như vậy có là khổ hay không? Tới chừng sanh ra nó nghen, thấy đau đớn lắm, không thể tưởng tượng. Sanh ra đó người ta nói "bấm cây cột mềm như chuối!" Cột mềm sao được mà mềm? Nhưng vì đau quá, đau không thể tưởng tượng, cho nên lúc đó bấm cây cột người ta có cảm tưởng mềm như cây chuối! Nhưng mà nó đau quá sức đau. Lúc mà sanh tưởng như rồi sao? Có nhiều khi đứa con ngỗ nghịch không chịu chun ra, còn nằm ngang, nằm dọc phải mổ bụng nữa chớ; quý bà con thấy có nguy hiểm không? Rồi bây giờ mình lớn tuổi, sanh con ra nuôi lớn lên, có nhiều đứa bệnh hoạn hoài, nó lớn đến đâu tiền tới đó, rồi đêm đến nó đau phải vác trên vai ù ơ ú ợ... đi cả đêm, khổ vậy! Nhiều khi nó sổ mũi, hỉ không được, có người kê cái miệng nút cái chụt phun ra ngoàị Bây giờ mình lớn rồi, có ai dám nút mũi của ba má mình không? Ớn quá há! Ớn quá số kể! Nói thiệt cho nghe chớ thầy cũng chưa làm được nữa! Thầy biết nói nhưng sự thực thầy làm chưa được. Bà cụ, thân mẫu thầy đó, mặc áo vàng chắp tay đứng đó, bà ăn chay bà tu, cho nên thầy có phước nhờ bả tu cho nên thầy mới tu; con nhờ đức cha mẹ. Nhưng mà sự thật thầy nghĩ ràng bả còn sống thực sự mà bả nghẹt mũi thầy cũng cam chịu, nhờ tín đồ kêu bác sĩ, chớ thầy không dám nút mũi nữa. Thầy nói chính thầy hiếu dữ lắm nghe, mà thầy thấy thầy làm chắc cũng chưa được. Quý bà con chắc cũng chưa ai làm được việc đó. Nhưng mà cha mẹ, bất cứ cha mẹ nào, cũng làm điều đó được hết! Thí dụ thầy không tu, thầy ở ngoài đời, thầy có vợ con, chác con thầy thầy cũng làm được nữa, thầy mút ra cũng được nữa, không gớm; tại sao kỳ vậy, không biết nữa! Cho nên người ta nói "nước chảy xuôi" là vậy đó, nó không chảy ngược. Con mình làm sao mình thương quá, ai cũng vậy, quý vị thấy không? Đến đổi hồi xưa ông Húc Trang Quân lúc ổng còn làm thừa tướng, một hôm ổng đi săn, ổng cầm cây tên bắn mục đích bắn con khỉ mẹ chết để bắt khỉ con, khi ổng giương tên bắn con khỉ mẹ, bị tên độc, khỉ mẹ hét lên rồi, thì con khỉ đực là cha nó chạy lại, nó rứt con nó, nó giao cho chồng nó, rồi nó giẫy xuống chết. Quý vị có thấy không, con thú mà nó thương con nó như vậy, nó có lòng thương con nó như vậy, thì tại sao con người lại bỏ con giữa chợ, hay là hành hạ con, giết chóc con. Nói xin lỗi, thua con khỉ rồi! Rồi con khỉ con nó cũng đáp lại tình mẹ nó cũng xứng đáng, khi đó ông Quân mới muốn bắt khỉ con, ổng làm sao? Ồng lấy cây roi. Con khỉ đực tha con nó một đổi xa, nó ngó chừng coi vợ nó làm sao - con thú mà nó khôn vậy - thì khi nó nhìn thấy vợ nó ngã xuống chết rồi, ông Quân bèn cầm cây roi đánh vô khỉ mẹ thật đau, trót trót vậy. Con khỉ đực thấy thương quá, bồng con chạy lại gần coi, con khỉ con thấy mẹ bị đánh như vậy, nó tội nghiệp, nó thương mẹ quá đi, nó buông cha nó ra nó nhào lại ôm xác mẹ nó; ông chụp vô kịp thì nó giẫy nó chết. Ông thấy chuyện quái lạ vậy, sẵn gươm cầm tay, ông bèn mổ bụng khỉ con coi thế nào và tại sao nó chết như vậy, thì than ôi ruột con khỉ con đứt ra từng đoạn mà chết. Thương mẹ mà đứt ruột như vậy, thật là đáng một đứa con hiếu thảo! Con khỉ mẹ thương con, rứt con ra giao cho chồng rồi giẫy chết, thật là bà mẹ đáng là mẹ hiền! Con khỉ con ôm mẹ đứt ruột mà chết, thật là đáng một đứa con hiếu thảo! Tuy nó là khỉ nhưng nó đáng cho mình kính trọng nó, noi gương nó; hình tướng nó là khỉ, tâm-hồn nó rất cao-thượng, là tâm-hồn người hiếu thảo, chớ không phải tầm thường. Con quạ đen thui, thú vật, mà sao thương cha mẹ, hiếu thảo vô cùng! Con khỉ là thú vật mà tại sao thương mẹ, thương con như vậy? Loài người chúng ta lại thua nó ư? Loài người chúng ta là thông minh, là sáng suốt, là trời Phật. Trời Phật có khác gì chúng ta đâu? Chúng ta còn là phàm nhân tục tử, là chúng-sanh, nhưng khi chúng ta lìa xa cái phàm nhân tục tử, giác-ngộ là Phật chứ gì? Bởi vì Phật với ma, với chúng-sinh có khác gì, chỉ là chỗ mê giác thôi. Cho nên có thơ như thế này: "Ma ma, Phật Phật chính do ta Ma Phật khác nhau chỗ chánh tà Giác Phật, mê là ma đó vậy Chân như là Phật, vọng là ma!" Vậy, Phật ma là do chính mình chứ có ai đâu? Mình cũng Phật, mình cũng là ma. Hễ: "Tâm thanh tịnh đó là tâm Phật, Tâm buông lung vọng niệm là ma! Chơn tâm là Phật đó mà, Vọng tâm là quỷ hiện ra tại lòng!" Thì bây giờ mình giữ tâm mình trong sạch, thanh-tịnh là Phật, tiên, thánh, hiền chớ gì đâụ Còn tâm mình đảo điên phiền não, tội lỗi thì ma chứ gì đâu! Vậy thì ma quỷ, Phật, tiên, thánh hiền cũng chính mình chớ có ai đâu. Hổng phải thành Phật là có ai ra giúp hoặc gì nữa đâụ Ông Phật, mình thấy tướng mạo quang-minh hiền từ đạo đức ôn hòa nhã nhặn, bác ái từ bi, thương người mến vật, cho nên từ cái tâm tốt nó hiện ra tướng tốt. Gọi là: Hữu ư tâm xuất trình đối diện Hữu tâm vô tướng, tướng tự tâm sanh Hữu tướng vô tâm tướng tùng tâm diệt Bởi vì tâm Phật tốt cho nên tướng hiện ra lúc nào cũng tốt. Còn ma, mình nghe nói ma là mình đã sợ rồi là bởi vì tâm xấu cho nên hiện ra tướng xấu. Quý bà con lâu nay nói đẹp như tiên không? Người nào tướng tốt lịch sự quá, nói là "Trời ơi, bà đẹp như là tiên hà! Cô đẹp như tiên, chú đẹp như tiên hà!" Tại sao lại tiên đẹp? Có ai nói xấu như tiên không? Tiên đâu có xấu được, mà sao tiên đẹp? Tu thành tiên cũng khó lắm nghen. Cũng giữ giới đức đạo hạnh nhiều. Hồi trước thầy cũng có tu tiên, thầy có luyện giữ lắm mà ở trên núi, thầy luyện nhiều, và tu tiên cũng khó lắm. Tu tiên phải: Thất bá nhật thất linh cơ. Rồi phải đi bá nhật, thất nhật. Rồi đi tam nương. Đi cửu niên vĩnh đức, khổ lắm, tu tiên khó lắm. Thầy có viết bài thơ hồi thầy tu trên núi: "Sự thế mặc người, ta cứ tu Lục căn đóng lại bản êm ru ¬ thầm tịnh tọa công phu mãi Lủi thủi trong am tựa ở tù!" Lúc đó tịnh thất như ở tù vậy, nhưng mà khác nhau: "Tù thế, tù tu cũng gọi tù Tù tu tu tịnh mãi công phu Tù vô tư lự nên thường trú Tù chẳng tham cầu: đấng trượng phu!" Tù đó là tù thiệt, tự mình nhốt mình. Cũng như ở tù chớ gì. Nhưng tù đó nó thong dong lắm. "Phu chồng, phụ vợ mối oan khiên Tù ở thế-gian tội nhãn-tiền Tù nghiệp dấy ra, ta khó gỡ Tù này muôn thuở chẳng ngồi yên!" Đó là vợ chồng keo kết nhau như là ở tù vậy! "Yên tâm, tịnh thánh bởi tu thiền Tam bửu điều hòa giữa hạo nhiên Khí phách thần hồn dồn một mối Trọn ngày chí tối giữ căn nguyên Nguyên lai bổn thể tại có thiền Tam bửu điền hòa hoán nghiệp duyên Bất chấp bất tri vô lý sự Phi lai phi cứu chưởng thành tiên Tiên Phật giai do tự tánh mình Thánh phàm danh vọng bởi tham sinh Tâm ma dạ dạ ma ma thịnh Tâm Phật như như huệ huệ minh Minh quang lại tốn vĩnh trường tồn Khai chiếu kê hoàn cửa đại môn Thong thả ra vào nào có huệ Về chầu thượng giái, bái thiên tôn Tôn Phật thánh tiên đến trọn lành Đạo vàng khai hóa độ nhơn sanh Thoát vòng lục đạo, tam đồ khổ Chưởng phước tăng duyên đạo chóng thành Thành pháp tác tiên bởi chỗ tu Muốn tu ra khỏi thế-gian tù Cần nên đóng cửa trong ngoài kín Sự thế mặc người ta cứ tu!" Thầy đã viết chín bài "cửu liên hoàn" như trên đó. Thầy nói để Phật-tử nghe, bây giờ nói xin lỗi, người ta nói tu là xuất hồn này hồn nọ, cái đó thầy biết rành lắm. thầy hồi đó thầy có quyền xuất sư mà. Thầy dạy một lần tu ba mươi mấy bốn chục vị nhập thất lận mà. Nhưng mà tu chừng nào tu phải luyện có tấm thai, thiệt khó chớ không phải không, rồi công phu trời ơi mà xuất hồn ta đó năm mười năm, hai ba chục năm chớ không phải tu năm, ba ngày, năm, mười ngày mà "xuất" đâu. Cái đó là ước vọng của người tu, chớ "xuất" gì nổi! Bây giờ vô tu năm ba tháng chỉ cách xuất hồn thì coi chừng ma nhập vô đó. Đi đó là đạo chết, nguy hiểm vô cùng. Muốn tu Phật cũng tốt vậy. Tu Phật gọi là "giới, định, huệ". Tu tiên là làm sao giữ gìn tam-bảo "tinh, khí, thần", đúng theo tiên là tiên, đúng theo Phật là Phật. Mà tiên Phật nói vậy, tuy hai phương pháp nhưng nó giống tợ như nhau. Về cái chỗ tu rốt ráo nó cũng giống nhau, chớ không có gì khác. Nhưng mà tiên thì theo Lảo-tử, Phật thì theo Đức Thích-ca. Rồi Nho thì theo Khổng-tử. Cho nên người ta thường nói rằng lấy ba điểm "Tam giáo đồng qui, ngũ chi hiệp nhất". Đạo tam kỳ phổ độ người ta nói vậy đó. nhưng muốn tu tiên thì cực lắm, công phu khổ lắm, gian lao lắm, ngồi suốt đêm, chớ không phải tu tiên thành tiên là dễ đâu, mà thành tiên là tâm tốt rồi đó, tâm toàn chơn, toàn thiện rồi đó, thì hiện ra hình tướng tốt. Bây giờ, con người mặc dù tuy tốt bên ngoài, lòe loẹt hình thức nhưng con người trong tâm hung ác, ngang tàng, táo bạo, gian giảo, xảo trá, lường gạt đủ thứ gian manh, quý vị thấy có tốt được không? Cho nên "hữu tâm vô tướng" thì "tướng tự tâm sanh", còn "hữu tướng vô tâm", có tướng tốt thiệt mà tâm xấu là "tướng tùng tâm diệt", tùy theo đó mà trở thành xấu. Vậy thì, tóm lại chúng ta ở trên cõi đời này, ai cũng có cha có mẹ, có thân bằng quyến thuộc, bổn phận người con lúc nào cũng nghĩ tưởng công ơn cha mẹ mà báo hiếu, đáp nghĩa đền bồi. Cha mẹ còn sống phải phụng sự cha mẹ hết lòng, cha mẹ muốn tu hiền, muốn làm gì đó, đã nuôi mình lớn rồi thì mình phải trả quyền tự do cho cha mẹ, đừng bắt cha mẹ nuôi con, nuôi cháu, nuôi chắt, nuôi chít mình nữa. Có bà tám mươi mấy tuổi, thầy khuyên bả nên đến chùa về chùa tu đi, bả nói là "con còn bị thầy ơi, con còn mắc thầy ơi, con còn phải thầy ơi... Tại, bị, còn cháu chắt của con con phải giữ!" Thầy nói: "Còn mớ cháu chắt à, vậy bà còn cái cháu nữa!" "Cháu gì ?" Thầy nói: "Cháu vên-vên!" Ở Việt-nam, mình chết thường đóng cái hòm bằng vên-vên đó; cây vên-vên đóng hòm để nước lâu mục đó mà, là "cháu vên-vên" đó, chớ cháu gì! Đã lo tới cháu ngoại, cháu nội là quá sức rồi còn gì, còn phải lo tới cháu chắt nữa! Quý bà con thử nghĩ coi, họ lợi dụng tới mức tối đa đó! Cho nên nói thiệt nghe, ai mà có con cháu ráng mà giữ đi, không thì mướn người ta giữ, đừng có bắt cha mẹ giữ, tội lắm nghe! Mình chưa đền ơn cha mẹ, lại bắt cha mẹ mình nuôi con mình, đó là bậy vô cùng! Rồi bây giờ, cha mẹ còn sống mình phải nuôi cha mẹ, giúp đỡ cha mẹ, đền ơn, báo hiếu, đáp nghĩa cha mẹ sinh thành, nhưng cha mẹ đã trở nên người thiên-cổ rồi thì làm sao? Mình phải ráng làm sao để đền ơn cha mẹ, báo hiếu, thì bây giờ mình phải ăn chay niệm Phật, giữ giới tu hiền, in kinh ấn tống, làm các phước duyên, kết bòn công đức, để mình hồi hướng cầu cho cha mẹ mình siêu thoát, bởi vì trong kinh có nói rằng: "Nhứt nhơn hành đạo, thiên nhơn lợi, Độc mộc hoa khai vạn thọ hương". Nghĩa là một người tu-hành, muôn người đều được lợi; đám rừng mênh mông, một cây trổ hoa thơm thì đám rừng đều ảnh hưởng. Hay là: " Nhứt nhơn hành đạo cửu huyền thăng" thì bây giờ mình biết tu hành thành đạo thì ông bà cửu huyền thất tổ được ảnh hưởng. Bây giờ cha mẹ đã chết rồi, bổn phận làm con phải ráng tu nhơn tích đức, ăn hiền ở lành, làm phước làm gia hồi hướng phước báu mà cầu cho ông bà cha mẹ mình. Nhưng điều quan trọng là mình phải tu, và dạy con cháu mình tu, là ông bà mình siêu thoát. Tại sao vậy? Bởi vì cha mẹ ông bà chết luân-hồi thành con cháu; chắc chắn là ông nội ông ngoại bà cố chết rồi chun vô bụng nàng dâu, cháu dâu chớ không đâu hết trơn hết trọi! Bởi vì sao? Là bởi vì nguyên do thương con, mến cháu, tiếc của, tham tài, chết đâu có đi xa! Bởi thế cho nên có câu rằng: "Tình thương luyến ái là sợi dây oan trái buộc ràng, muôn ngàn đời kiếp chẳng tháo gỡ ra. Khi làm cha, lúc làm cháu, hết làm bà, trở lại làm con," Cho nên nhiều khi có những người con cháu cứng đầu cứng cổ... "Thôi, mẹ ơi, con lạy mẹ! Mày là mẹ tao! Mày là bà nội tao, bà cố nội tao! Mày là cha tao đó, mày là ông nội tao đó nghe!" Mà thiệt, ổng bả trở lại đó! Bây giờ quý bà con thử nghĩ, có nhiều người khuyên đi lại thọ bát quan trai có một ngày một đêm mà đi không được, bỏ nhà đi hai, ba ngày không được, hỏi chết đi đâu? Về Niết-bàn Tây-phương à? Nói xin lỗi, chưa chắc mấy ông thầy đã đi về Tây-phương được! Mấy ổng mấy bả tu trối chết không biết có về được không; nói chi mới tụng một, hai thời kinh đòi về! Vì vậy cho nên bây giờ muốn cho ông bà cha mẹ mình được siêu thoát, thì mình cần phải dạy dỗ con cháu mình tốt, và chính mình phải tu, bởi vì mình tu thì mình mới độ người ta tu được, chứ "chân mình đã lấm mê mê, lại cầm bó đuốc mà rê chân người", thì rê làm sao đây? Mình phải tu rồi mới độ người. Cho nên Đạo Phật nói đâu đó đúng đắn, tự độ rồi mới độ tha, chớ không phải tha độ mới độ tha! Tự-giác rồi mới giác tha. Tự lợi rồi mới lợi tha. Thì giác hạnh mới viên mãn. Chớ bây giờ mình không tự lợi, tự độ, tự-giác, thì mình muốn giác người ta là giác làm sao? Như vác củi vô rừng chạy rồi bỏ vô lò đốt hay làm sao? Thành ra mình phải tu rồi mới khuyên người được. Cũng như nói xin lỗi, có nhiều ông nói hay hơn thầy nữa, người ta học kinh thánh hiền còn thông suốt lắm, nhưng mà tại sao khuyên nói người ta không nghe? Còn thầy có duyên, thầy nói người ta nghe, là bởi vì người ta thấy ổng tu, ổng hy-sinh cuộc đời từ nhỏ tới lớn, không vợ, không con, không tiền, không bạc, không danh, không lợi, không cá-nhân ổng, dù có chăng là có phương-tiện giúp ích cho đời chớ không cá-nhân riêng. Thành ra có người chưa ăn chay ngày nào, lại gặp thầy, thầy nói chuyện một hồi rồi mến thương, cảm tình thầy, rồi khuyên ăn chay, cái ăn chay trường! Nhiều người cứng đầu, cứng cổ quá, nhiều khi chồng hay vợ của họ, hay con cái họ nói "Chắc ông Giác-nhiên có bùa ngải làm sao, ổng nói người ta nghe!" Bùa ngải làm cái gì? Tà sư ngoại đạo, tôi tuyệt đối không có dùng cái đó, nếu tu mà dùng bùa ngải, thư, tôm, trù ếm, xăm, quẻ, tướng số, bói khoa, đó là không phải chánh-pháp rồi. Nhưng mà nếu người ta nghe là tại cái duyên. Thầy chưa có dịp gặp, nhưng mà sư cô nói mà người ta nghe người ta ăn chay thì cổ cũng có phước lắm. Có đức mới nói người ta nghe đó. Quý vị biết là hồi trước đại đức Narada qua bên Việt-nam, ổng cũng có duyên đó! Nhiều ông thượng-tọa, đại đức ở Việt-nam có giới-hạnh cao mà nhiều người không chịu quy-y. Rồi ổng tu theo bên Nam-tông, nhưng mà ổng ăn chay, rồi lại là nhiều người quy-y ổng, cũng ăn chay nữa, cũng giữ giới. Thành ra nói tóm lại, những vị khuyên lơn người ta tu đó, mà dìu dắt hướng dẫn người ta được, hay là đừng nói chi các chúng tăng, tôn túc nhiều người Phật-tử, nhưng mà quý vị biết có nhiều người nói người ta nghe, nhiều người nói mà người ta không nghe, mà người nói người ta nghe người đó phải có ít nhất giới đức, đạo hạnh, đàng hoàng, ăn nói đứng đắn thì nói người ta mới nghe, người ta mới nể tình, chứ người đó như người khác thì nói ai nghe? Tóm lại, làm người sống trên mặt đất này, mỗi người ai cũng có bổn-phận và trách nhiệm; trách nhiệm của mình, bổn-phận của mình, mình làm tròn, đó là người hiếu thảo, đó xứngđáng là một người công dân của đất nước. Bổn-phận là con đối với cha mẹ mình, còn sinh tiền mình phải nuôi nấng giúp đở, nếu chết đi, mình phải nhớ lời cha mẹ dạy bảo khuyên lơn, những gì để thực hành để khỏi phụ lòng cha mẹ, nhứt là dạy dỗ con cháu mình nên danh nên phận thì được danh thơm tiếng tốt giòng họ tổ tiên. Chớ nếu con cháu mình hoang đàng làm điều bất phải, thì cũng mang tiếng là con của mình, cháu của mình, vì vậy mình phải ráng dạy khuyên con cháu mình nên người. Đó là tinh thần xây dựng mà cũng là thực tế cầu siêu cho ông bà cha mẹ mình nữa, chớ tụng kinh nói là để cầu siêu; siêu là gì? Siêu là vượt qua! Không phải chết rồi mới siêu, mà lúc sống cũng phải cầu siêu nữa. Con mình nó cờ bạc hút xách, trụy lạc, phong-lưu, trà đàng tửu điếm; phải lạy nó! Nói vậy là quá nặng hả? Nhưng không lạy nó thì năn nỉ nó, không năn nỉ nó thì khuyên lơn nó, để nó đừng tật xấu thói hư, đó là cầu siêu cho nó phải không? Còn cha mẹ mình còn sanh tiền cũng vậy, cha mẹ già rồi mà không biết tu hiền, có nhiều bà già lại chùa tụng kinh niệm Phật không chịu, ngồi đánh bài cụp xương sống thì lại chịu, thí dụ vậy, thì mình phải lạy mẹ đừng có đánh bài nữa, ba mình uống rượu say sưa hoài, mình lạy ba để ba đừng uống rượu nữa. Con cũng cầu siêu cho cha mẹ nữa chớ không phải không, cầu siêu nếp sống hiện tại đương thời, chớ sống mà hung hăng như cọp như beo, chết cầu siêu, cầu siêu sao nổi! Làm sao siêu nổi chớ? Bởi thế cho nên có câu rằng: "Sanh tiền bất tri thiên đường lộ Tử hậu nan ly địa ngục môn" Sống mà không biết tu hành đạo đức, thì chết rồi cửa địa-ngục khó xa lìa. Cho nên chết mà cầu siêu là để cho an lòng mình, mà sự thật là độ người sống đó! Cũng như hồi đó ở Việt-Nam, nói thiệt quý vị nghe, thầy nhiều khi đi cầu siêu cho cha mẹ mấy ông tướng, trung-tướng, thiếu-tướng chẳng hạn, mấy ông tỉnh trưởng, bộ-trưởng chẳng hạn; mấy ông đó nói thiệt lo làm ăn, chạy theo việc làm, đâu có ăn chay gì, đâu có quy y, đâu có giữ giới nên đâu có ăn chay gì, nhưng khi thầy đến tụng cho một hồi kinh rồi, cầu siêu cho cha mẹ mấy ổng, hay nội ngoại gì đó, xong rồi, thầy mới nói chuyện cho nghe một hồi, thầy khuyên: "Bây giờ muốn cho ông bà cha mẹ được siêu, quý vị nên phát tâm ráng quy-y, xin pháp danh đi, niệm Phật đi, bố thí làm phước đi!" Tất nhiên lúc đó nói mấy ổng nghe liền hà, là bởi vì cái chữ Hiếu mà; thì không biết cha mẹ có siêu hay không, nhưng mà thực tế những người sống hiện tại giác-ngộ, thức-tỉnh, biết ăn chay, niệm Phật, quy-y tu-hành, làm lành, làm phước này, quý vị có thấy không? Không phải tụng kinh không mà được siêu độ, mà cần phải thuyết pháp, giảng đạo, để người sống hiện tại ý-thức giác-ngộ, mà nương về đạo đức tu hành. Đó chính là tứ sự lý tánh. Tứ sự vô vi, lý tánh đồng đẳng Thì giờ ít ỏi, thầy chỉ tóm tắt đôi lời, thầy cũng thành tâm cầu nguyện cho mười phương chư Phật và đại Bồ-tát chứng minh tấm lòng hiếu-kính của tòan thể chư vị hôm nay thiết lễ kỳ siêu cho cửu-huyền thất tổ ông bà cha mẹ của mình, cầu nguyện hồi hướng phước báo này, ngưỡng mong tam-bảo ban phước lành cho tất cả chư hương-linh ấy được chân minh chánh pháp, siêu thoát nhẹ nhàng vãng-sinh tịnhđộ, thân bằng quyến thuộc quý vị, người sống hiện tại đương đời tăng long phước thọ, vạn sự an khang phúc lạc đủ đầy, sở cầu như nguyện. Ngưỡng mong ơn trên Tam-bảo chứng minh thầy cũng tất cả quý vị để hồi hướng phước báo cầu chung: Nguyện đem công đức nầy Hồi hướng khắp tất cả Đệ-tử và chúng sanh đều trọn thành Phật quả Nam mô A-di-đà-Phật! Nam mô Bổn-sư Thích-ca-mâu-ni Phật!

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét