THÍCH TÂM TRỌNG
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT
Thứ Ba, 4 tháng 12, 2012
Phẩm Nhơn Duyên thứ nhất
Phẩm Nhơn Duyên thứ nhất
Kính lễ Đức Thế Tôn
Ứng Cúng Chánh Biến Tri
Giới Định Trí Tuệ
Vô thượng giải thoát
Tùy rõ pháp nầy
Nên gọi Cù Đàm
Có người nào thoát khỏi những sự khổ rồi, được lìa các dính mắc, thành tựu tâm tối thắng; sợ sanh, già, bệnh. Vui việc lành,vui giải thoát, làm cho đến được vui Niết Bàn. Nếu chưa đến được nơi kia, lại làm cho được tròn đủ. Rộng hỏi kinh, luật, luận. Con đường giải thoát nầy nay ta sẽ nói; hãy lắng nghe:
Hỏi rằng: Giới có nghĩa là gì?
Đáp rằng: Giới nghĩa là oai nghi; định nghĩa là chẳng loạn; huệ nghĩa là trí giác; giải thoát nghĩa là lìa các sự trói buộc; vô thượng nghĩa là vô lậu; tùy giác nghĩa là được trí. Pháp nầy nghĩa là 4 Thánh Pháp; Cù Đàm nghĩa là tánh; gọi nghĩa là Thế Tôn; lấy giới, định, huệ, giải thoát thù thắng làm công đức, hay đến được chỗ tối thắng; nên gọi là vô lượng.
Giải Thoát Đạo nghĩa là gì?
Giải Thoát ở đây có 5 nghĩa giải thoát. Đó là Phục giải thoát, Bỉ phần giải thoát, Đoạn giải thoát, Y giải thoát và Ly giải thoát.
Thế nào gọi là Phục Giải Thoát? Nghĩa là những người đang tu thiền, hàng phục các việc che đậy. Đây có nghĩa là Phục giải thoát.
Bỉ phần giải thoát nghĩa là hiện tu đạt đến phần định, các kiến giải thoát. Đây có nghĩa là Bỉ phần giải thoát.
Đoạn phần giải thoát là kẻ tu xuất thế gian đạo và hay diệt trừ những sự ràng buộc. Đây gọi là Đoạn giải thoát.
Y giải thoát nghĩa là như lúc đắc quả, tâm thường an vui. Đây gọi là Y giải thoát.
Ly giải thoát nghĩa là Vô Dư Y Niết Bàn. Đây gọi là Ly giải thoát. Con đường giải thoát nầy là làm cho được giải thoát. Ở đây là con đường đầy đủ, lấy giới, định, huệ làm con đường giải thoát. Con đường giải thoát ấy ta nay sẽ nói.
Hỏi rằng: Phải nói như thế nào về con đường giải thoát đó?
Đáp rằng: Có người vui được giải thoát mà chẳng nghe nói giải thoát vậy; lại chẳng phục giải thoát vậy; lại chẳng chánh phục giải thoát vậy. Như người mù chẳng thấy đường mà đi chơi trong vườn của một nước. Tuy anh ta khổ, chẳng được giải thoát, muốn được giải thoát mà không có chỗ nương vào, Vì sao vậy? Như Phật đã nói. Nếu có chúng sanh, trần lao vi tế, chẳng nghe được pháp, rồi cuối cùng lại thoái chuyển. Lại như Phật cũng đã nói. Nầy các Tỳ Kheo! Có 2 nhơn và 2 duyên có thể sanh chánh kiến. Thế nào là hai? Một là nghe từ kẻ kia; hai là tự mình chánh niệm; cho nên nói là giải thoát.
Bất phục giải thoát là làm cho chúng sanh xa lìa nên nói là giải thoát. Bất chánh phục giải thoát là trừ đi con đường không chân chánh sẽ được thiền giải thoát đạo; nên nói là giải thoát. Như người đi xa có người tốt chỉ đường. Đó là con đường phục giải thoát. Ba ấm đầy đủ. Thế nào là ba? Đó là giới ấm, định ấm và huệ ấm.
Thế nào gọi là giới ấm?
Chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mệnh và các loại được nhiếp; hoặc giới ấm là các loại công đức của giới hợp lại.
Thế nào gọi là định ấm?
Chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định và những loại định ấm được nhiếp. Hoặc nhiều loại định công đức hợp lại.
Thế nào gọi là huệ ấm?
Chánh kiến, chánh tư duy và các loại được nhiếp. Hoặc nhiều loại huệ công đức hợp lại. Đây gọi là ba ấm đầy đủ. Là Phục giải thoát đạo nên học ba học. Nghĩa là: Tăng thượng giới học; tăng thượng tâm học; tăng thượng huệ học. Hữu giới hữu tăng thượng giới học; hữu định hữu tăng thượng định học; hữu huệ hữu tăng thượng huệ học. Lại còn hữu giới giới học; hữu giới tăng thượng giới học; hữu định tâm học; hữu định tăng thượng tâm học; hữu huệ huệ học; hữu huệ tăng thượng huệ học.
Hỏi rằng: Vì sao gọi là giới học?
Đáp rằng: Nghĩa là có giới tướng; gọi tên là giới học. Nghĩa là đến phần giới là tăng thượng giới học. Lại nữa phàm phu giới; gọi là giới học. Thánh giới gọi là tăng thượng giới học.
Hỏi rằng: Vì sao gọi là tâm học?
Đáp rằng: Đó là dục định.
Hỏi rằng: Vì sao gọi là tăng thượng tâm học?
Đáp rằng: Sắc định và vô sắc định. Đây nghĩa là tăng thượng tâm học. Lại nữa có tướng định tâm học, đạt phần định và đạo định; ở đây gọi là tăng thượng tâm học.
Thế nào gọi là huệ học?
Nghĩa là thế gian trí, gọi tên là huệ học. Trí tương tợ tứ đế và trí đạo; đây gọi là tăng thượng huệ học. Như Đức Thế Tôn vì những người căn tánh thuần thục gọi là tăng thượng giới học. Vì kẻ trung căn, nói là tăng thượng tâm học. Vì người lợi căn; nói là tăng thượng huệ học.
Hỏi rằng: Học có nghĩa là gì?
Đáp rằng: Học là có thể học về học tăng thượng học; học vô học, gọi là học. Như vậy học ở đây có ba. Nghĩa là phục giải thoát đạo lấy 3 loại học thành tựu thanh tịnh. Cho nên giới thanh tịnh, tâm thanh tịnh, thấy thanh tịnh. Đối với giới nầy là giới thanh tịnh. Định đây là tâm thanh tịnh; huệ đây là sự thấy thanh tịnh. Giới nghĩa là tẩy dơ việc phạm giới. Định là tẩy đi sự cột chặt dơ dáy. Đây có nghĩa là tâm thanh tịnh. Huệ nghĩa là trừ đi cái dơ vô trí. Đây gọi là sự thấy thanh tịnh. Lại nữa giới trừ ác nghiệp cấu; định trừ triền cấu; huệ trừ sử cấu. Như thế lấy 3 sự thanh tịnh làm phục giải thoát đạo. Lại lấy 3 loại thiện phục đạo. Nghĩa là đầu, giữa, sau. Lành lấy giới làm đầu; lấy định làm giữa và lấy huệ làm sau.
Thế nào gọi giới là sơ thiện?
Có kẻ tinh tấn thành tựu chẳng thoái; lấy sự chẳng thoái làm ý, lấy hỉ làm dũng dược; lấy dũng dược làm cho thân đẹp; lấy sự vui nên tâm định. Đây gọi là sơ thiện.
Định làm trung thiện nghĩa là lấy định như thật tri kiến. Đây nghĩa là lành giữa.
Huệ làm hậu thiện là như thật tri kiến yểm xung rồi, lấy yểm xung cho nên ly dục. Vì ly dục cho nên giải thoát. Vì giải thoát nên thành tự tri. Như thế thành tựu 3 con đường lành. Phục giải thoát đạo lại được 3 niềm vui. Nghĩa là vô quá lạc, tịnh diệt lạc và chánh giác lạc. Kia lấy giới được vô quá lạc; lấy định được tịnh diệt lạc và lấy huệ được chánh giác lạc. Như thế thành tựu được ba loại lạc. Đây là phục giải thoát đạo, xa rời hai bên, được trung đạo đầy đủ. Lấy giới nầy hay trừ các dục trước. Đối với vô quá lạc tình, sanh hân lạc; lấy định trừ thân trói buộc, đối với tịnh diệt lạc làm tăng thượng lạc. Lấy huệ phân biệt tứ đế trung đạo đầy đủ. Đối với chánh giác lạc, sâu mong ái lạc; như thế xa lìa hai bên được trung đạo đầy đủ. Đây là phục giải thoát đạo. Lấy giới trừ ác thú; lấy định trừ dục giới; lấy huệ trừ tất cả hữu. Đối với giới tu nhiều; đối với định huệ tu ít, thành Tu Đà Hoàn, Tư Đà Hàm. Đối với giới Định tu nhiều; đối với huệ tu ít, thành A Na Hàm. Tu 3 loại đầy đủ thành A La Hán vô thượng giải thoát.
Phẩm Phân Biệt Giới
Thứ Hai
Hỏi rằng: Thế nào là giới? Tướng gì? Vị gì? Khởi lên như thế nào? Ở chỗ nào? Công đức ra sao? Giới gì gọi là giới hạnh? Khác nhau cái gì? Có bao nhiêu giới? Chỗ sanh khởi ra sao? Giới nào là đầu, giữa và cuối? Có bao nhiêu pháp chướng ngại giới đạo? Có bao nhiêu nguyên nhân của giới? Có bao nhiêu loại giới? Làm thế nào để cho giới được thanh tịnh? Có bao nhiêu nguyên nhân để làm giới trụ?
Đáp rằng: Về giới là thế nào? - Nghĩa là suy nghĩ về giáo, uy nghi giới, không qua khỏi giới.
Thế nào gọi là suy nghĩ về giới?
Ta chẳng làm ác, kẻ làm tự thọ.
Thế nào là uy nghi giới?
Lìa nơi phạm xứ.
Thế nào là không qua khỏi giới?
Nếu có giới không qua khỏi thân miệng của người. Lại nữa có nghĩa là đoạn lìa oai nghi, tất cả pháp lành là giới. Như A Tỳ Đàm nói: Lấy pháp xuất ly mà đoạn nơi ham muốn. Đây là giới hay lìa việc ác. Tư giới, hộ giới, uy nghi giới, lấy chẳng sân hận đoạn diệt sân hận; lấy tướng quang minh đoạn nơi ngủ nghỉ. Lấy bất tán loạn đoạn nơi trác hí; lấy kiến pháp khởi đoạn nơi nghi hối; lấy trí đoạn vô minh; lấy hỉ đoạn vô khả lạc; lấy sơ thiền đoạn ngũ cái: lấy nhị thiền đoạn giác quán; lấy tam thiền đoạn hỷ; lấy tứ thiền đoạn lạc; lấy không nhập định đoạn nơi sắc tưởng cho đến sân khuể và các loại tưởng; lấy thức nhập định đoạn hư không; lấy vô sở hữu định đoạn thức nhập tưởng; lấy phi tưởng phi phi tưởng định đoạn sở hữu; lấy vô thường kiến, đoạn nơi thường kiến; lấy khổ kiến, đoạn lạc tưởng; lấy vô ngã kiến, đoạn ngã tưởng; lấy bất tịnh kiến, đoạn tịnh tưởng; lấy quá xung kiến, đoạn nơi thọ tưởng; lấy vô nhiễm kiến, đoạn nơi dục tướng; lấy diệt kiến, đoạn tập; lấy tiên kiến, đoạn hậu; lấy phần kiến, đoạn tụ; lấy sanh diệt kiến, đoạn thường; lấy vô tướng kiến, đoạn tướng; lấy vô tác kiến, đoạn tác; lấy không kiến, đoạn nhập; lấy tăng thượng huệ kiến, đoạn chấp trước; lấy như thật tri kiến, đoạn vô minh chấp; lấy quá xung kiến nhi, đoạn cư chấp; lấy bỉ quán kiến, đoạn bất bỉ quán; lấy chuyển tán kiến, đoạn hòa hợp chấp; lấy Tu Đà Hàm đạo đoạn kiến nhứt xứ phiền não; lấy Tư Đà Hàm đạo, đoạn thô phiền não; lấy A Na Hàm đạo, đoạn tế phiền não; lấy A La Hán đạo, đoạn nhứt thiết phiền não. Đây gọi là bất việt giới, tư giới, hộ giới, uy nghi giới. Đây có nghĩa là giới
Thế nào là giới tướng?
Là uy nghi, trừ phi uy nghi.
Hỏi rằng: Cái gì gọi là phi uy nghi?
Đáp rằng: Nghĩa là phá pháp. Phá pháp có 3 loại. Một là phá pháp Ba La Đề Mộc Xoa; hai là phá pháp duyên và ba là phá pháp căn.
Thế nào gọi là phá pháp Ba La Đề Mộc Xoa?
Nghĩa là vô tàm (không xấu), vô quý (không hổ). Ở nơi Như Lai lìa lòng tin.
Thế nào gọi là phá pháp duyên?
Đáp rằng: Thân mệnh và hình thức tương ưng lìa khỏi tri túc.
Thế nào gọi là phá pháp căn?
Là chẳng đóng cửa 6 căn, lìa nơi niệm huệ, lấy 3 điều che đậy chẳng uy nghi nầy gọi tên là giới tướng.
Thế nào là vị? Là khởi? Là túc xứ?
Vô quá lạc tức là vị. Vô ưu tức là khởi. Ba thiện hạnh là túc xứ. Lại nữa duyệt thắng là vị; bất hối là khởi; che các căn gọi là túc xứ.
Thế nào gọi là giới công đức?
Bất hối là giới công đức, như ĐứcThế Tôn dạy A Nan rằng: Chẳng hối giới lành; nghĩa là công đức. Lại nữa tên giới là vô quá lạc, là chúng sanh thượng, là tài vi phú quý, là xứ vi Phật địa, là tắm không nước, là mùi hương xông thơm, là ảnh theo hình, là tàn che có thể che, là thánh chủng, là học vô thượng, là con đường lành. Nếu người có giới, lấy có giới vậy, thành tựu vô úy, vinh hiển thân hữu, chỗ Thánh lân mẫn. Đây là nương vào bạn bè, là lành trang nghiêm, là lãnh vực các hạnh, là nơi công đức, là chỗ cúng dường, là khả quý đồng học xứ. Đối với các pháp lành chẳng sợ, chẳng thoái, thành tất cả ý nguyện thanh tịnh. Tuy chết chẳng quên, thành phục giải thoát lạc phương tiện. Như thế vô biên giới công đức.
Giới là nghĩa gì?
Đáp rằng: Nghĩa là lạnh, nghĩa tăng thượng, nghĩa hành, nghĩa tự tánh, nghĩa là khổ lạc tánh tương ưng. Lại cũng có nghĩa là đầu, nghĩa là lạnh, nghĩa là an.
Thế nào lại lấy cái đầu làm nghĩa của giới?
Đáp rằng: Như người không có đầu thì tất cả các căn chẳng có thể giữ lại; lúc ấy gọi là chết. Như thế các Tỳ Kheo lấy giới làm đầu. Nếu đầu cắt rồi thì mất tất cả các pháp lành. Đối với điều nầy Phật pháp gọi là chết. Nên giới có nghĩa là đầu.
Thế nào nghĩa của giới là lạnh?
Như Ma Thắng làm lạnh Chiên Đàn; tức trừ thân nóng, thành tựu hoan hỷ. Như thế, giới làm lạnh hơn Chiên Đàn, hay làm diệt phạm giới, tâm sợ hãi nóng nảy, thành tựu hoan hỷ. Đây nghĩa là giới làm cho lạnh
Thế nào nghĩa giới là an?
Đáp rằng: Nếu người có giới thì phong nghi chỉnh tề, chẳng sanh sợ hãi. Đây nghĩa là giới làm cho an ổn.
Hạnh nào sai biệt vậy?
Tu hành tinh tấn, thọ trì đầu đà. Đây là hạnh phi giới; giới lại có tên là hạnh; giới gọi là uy nghi thọ, lại có tên là hạnh.
Có bao nhiêu giới?
Nghĩa là có 3 loại giới. Đó là thiện giới, bất thiện giới và vô ký giới.
Thế nào gọi là thiện giới?
Nghĩa là thiện thân khẩu nghiệp và chánh mệnh. Vô quá hoạn; nên quả báo dễ thương.
Thế nào gọi là bất thiện giới?
Nghĩa là ác thân khẩu nghiệp và tà mệnh. Có quá hoạn; nên quả báo chẳng dễ thương.
Thế nào là vô ký giới?
Vô lậu thân khẩu nghiệp và đời sống thanh tịnh. Chẳng có vô hoạn lại chẳng có quả báo.
Thế nào gọi là khởi giới?
Thiện tâm sở khởi thiện giới. Bất thiện tâm sở, khởi bất thiện giới. Vô ký tâm sở, khởi vô ký giới.
Thế nào là giới đầu, giữa và sau?
Thọ giới là đầu tiên; chẳng vượt qua gọi là giữa; hoan hỷ là hậu giới.
Có bao nhiêu pháp chướng ngại? Và bao nhiêu nhơn của giới?
Đáp rằng có 34 pháp gọi là con đường chướng ngại và 34 pháp, đó là nhơn của giới.
Đó là phẫn, não, phú, nhiệt, khan, tật, huyễn, siểm, hận, cạnh, mạn, tăng thượng mạn, kiêu mạn, phóng dật, lại nọa, tham dục, bất tri túc, bất tòng tri, bất chánh niệm, ác khẩu, ác hữu, ác trí, ác kiến, bất nhẫn, bất tín, vô tàm, vô quý, doanh thân, khẩu vị, hiệp tục, thân cận nữ nhơn, bất kỉnh sư, học bất nhiếp chư căn ư thực, bất tiết sơ dạ hậu dạ, nọa bất thiền tụng. Đây là 34 pháp làm chướng ngại. Nếu 11 giới chướng ngại chẳng đầy đủ. Nếu chẳng đầy đủ, tất trở lại thối thất. Nếu ngược lại 34 pháp nầy tức có tên là nguyên nhân của giới.
Giới có bao nhiêu loại?
Nghĩa là có 2 loại, 3 loại, 4 loại.
Thế nào là 2 loại?
Đó là tánh giới và chế giới. Lấy thân khẩu là chỗ làm Phật, đoạn trừ việc chẳng làm. Đây có tên là tánh giới. Thân khẩu có thể làm Phật, đoạn trừ việc chẳng làm, đây có tên là chế giới. Tánh giới lấy tín, tinh tấn có thể làm cho đầy đủ. Chế giới lấy tín niệm trì có thể làm cho đầy đủ. Lại nữa giới có 2 loại. Đó là thoái giới và đắc giới.
Thế nào gọi là thoái?
Là có thể mất, không phải giới.
Thế nào gọi là được?
Được các pháp thiện. Trừ các phi giới như đoạn trừ quang ảnh (ánh sáng nơi hình); lấy đoạn phi giới, lìa nơi ác thú; lấy đắc chánh giới có thể vui nơi đường lành; lấy đoạn phi giới, thành tựu trụ phần. Lại nữa giới có 2 loại. Đó là thế giới và xuất thế giới.
Thế nào là xuất thế giới?
Như giới có được nơi quả Thánh. Đây gọi là xuất thế giới. Ngoài ra thế giới là lấy thế giới thành tựu; nên có đầy đủ; lấy xuất thế giới thành tựu, cho nên có giải thoát. Lại nữa có hai loại hữu lượng và vô lượng. Bất cụ túc giới gọi là hữu lượng. Nếu cụ túc giới lấy Phật làm chỗ đoạn. Đây có tên là vô lượng. Lại nữa giới có hai loại. Đó là hữu biên và vô biên-
Thế nào là hữu biên?
Nếu người lấy thế lợi làm thắng; lấy thân hữu làm thân, làm mệnh, làm chỗ qua khỏi, chỗ nương tựa mà làm việc thọ giới. Giới kia vì lợi dưỡng nên gọi là biên. Gọi dự (khen) là biên; thân có là biên, mệnh có là biên.
Thế nào gọi là vô biên?
Tỳ Kheo nầy! Vi xuất lợi, vi thắng, vi thân, vi mệnh. Như pháp thọ giới, chẳng khởi tâm phạm. Hà huống là cố phạm. Đây gọi là vô biên giới. Lại nữa giới có 2 loại. Có y và vô y.
Thế nào là có y (chỗ nương vào).
Có tương ưng giới thích nương vào. Giới trộm cắp tương ưng với giới nương vào chỗ thấy. Tự khen mình chê người tương ưng với giới kiêu mạng. Đây là việc y cứ nương vào giới. Nếu dùng để thành tựu giải thoát thì không cần nương vào giới. Nếu nương vào giới, người chẳng trí huệ làm chỗ vui. Nếu không nương vào giới, người trí huệ làm chỗ vui. Lại nữa giới có 2 loại, mà người phạm hạnh sơ học, gồm những giới nhỏ.
Thế nào gọi là điểm đầu của Phạm hạnh?
Dùng chánh nghiệp, chánh ngữ, chánh mệnh để nhiếp lấy giới. Đây nghĩa là việc đầu tiên của Phạm hạnh. Đối với hữu dư học giới, đây có nghĩa là giới nhẹ. Lại nữa giới cũng có 2 loại. Gồm hữu tâm tương ưng và vô tâm tương ưng.
Cái gì là hữu tâm?
Nghĩa là sơ học phạm hạnh
Thế nào là vô tâm?
Nghĩa là ngoài những giới nhẹ. Thinh Văn ở nơi giới đầu cứng rắn của Phạm hạnh và giới trên. Đối với giới nhẹ nầy được phạm, được khởi. Vì sao vậy? Vì Phật nói rằng điều nầy không bị chướng ngại đối với việc giải thoát. Lại cũng có 2 loại giới. Nghĩa là vô phạm giới và thanh tịnh giới.
Thế nào là vô phạm?
Nghĩa là giới Thanh Văn.
Thế nào gọi là thanh tịnh giới?
Đó là Phật và Duyên Giác giới.
Lại nữa giới cũng có 2 loại. Nghĩa là thời phần giới và tận hình giới. Thọ từ lúc nhỏ và tuổi chưa đủ lớn. Nghĩa là thời phần giới là đầu tiên từ Thầy thệ nguyện cho đến khi xả thọ. Nghĩa là tận hình giới. Thời phần giới là quả báo có lúc; tận hình giới là quả báo chẳng có lúc.
Làm sao lại chia ba?
Đó là dừng ác không phạm, thọ chẳng phạm và đoạn chẳng phạm
Thế nào là dừng ác không phạm?
Tuy chưa thọ mà thọ đến; chẳng phải chỗ làm; tâm chẳng sanh phạm. Đây gọi là dừng ác chẳng phạm.
Thế nào là thọ chẳng phạm?
Từ thọ, thọ rồi, kết cuộc chẳng phạm lại. Đây gọi là thọ chẳng phạm.
Thế nào là đoạn chẳng phạm?
Thánh nhơn lấy thánh đạo đoạn các nguyên nhơn của việc ác. Đây gọi là đoạn chẳng phạm. Lại nữa giới có 3 loại. Nghĩa là xúc giới, bất xúc giới và phạm giới.
Thế nào gọi là xúc?
Đầu tiên thấy tướng hữu vi liền thích nên chạm đến. Đây là phàm phu thiện giới. Dùng nơi đây để nhập đạo nghĩa là vô xúc giới.
Thế nào gọi là phạm giới?
Nghĩa là giới A La Hán. Lại nữa có 3 loại. Nghĩa là y thế giới, y thân giới và y pháp giới.
Y thế giới là gì?
Nếu có người lo sợ, muốn cần ý thế gian trừ các pháp ác. Đây gọi tên là y thế.
Y Thân giới là thế nào?
Nếu có người lo ngại, muốn gìn giữ thân mệnh nầy để trừ các pháp ác. Đây có tên là y thân.
Y Pháp giới là thế nào?
Nếu có người sợ hãi, muốn giữ chánh pháp để trừ các việc chẳng lành thì đây gọi là y giới. Lại nữa giới có 3 loại. Đó là sở nguyện bất đẳng; sở nguyện đẳng, vô sở nguyện.
Thế nào là sở nguyện bất đẳng?
Làm não người khác thọ giới. Đây có nghĩa là sở nguyện bất đẳng.
Thế nào là sở nguyện đẳng?
Việc thọ giới là hiện tại có niềm vui và vị lai vui giải thoát. Đây có nghĩa là sở nguyện đẳng.
Thế nào gọi là vô sở nguyện?
Giới thọ giới chẳng hối và làm nhiêu ích kẻ kia. Đây gọi là vô sở nguyện. Lại nữa giới cũng có 3 loại. Đó là thanh tịnh giới, bất thanh tịnh giới và hữu nghi giới.
Thế nào gọi là thanh tịnh giới?
Lấy hai nhơn duyên giới, thành thanh tịnh. Một là chẳng phạm và hai là phạm rồi sau đó hối quá. Đây gọi là giới thanh tịnh.
Lấy 2 nhơn duyên thành bất tịnh giới. Một là tự cố phạm; hai là phạm mà chẳng hối quá. Đây gọi là bất tịnh giới.
Thế nào gọi là hữu nghi giới?
Lấy ba nhơn mà thành tựu hữu nghi. Một là lấy bất phân biệt xứ; hai là bất phân biệt phạm và ba là bất phân biệt bất chánh hạnh. Đây gọi là hữu nghi giới. Nếu có kẻ tọa thiền mà giới không thanh tịnh rồi sau đó xấu hổ thành niềm vui thanh tịnh. Lại có giới nghi, làm cho hiện tại biết tội, được thành an lạc. Lại nữa giới có 3 loại. Nghĩa là học, vô học, phi học phi vô học.
Thế nào gọi là học?
Người học 7 loại giới.
Thế nào là vô học?
Tức là giới A La Hán.
Thế nào là phi học phi vô học?
Đó là giới của người phàm phu.
Giới có 3 loại. Đó là úy giới, ưu giới và tật giới.
Thế nào là úy?
Có người sợ tội chẳng dám làm ác. Đây nghĩa là úy giới.
Thế nào gọi là ưu?
Nếu có người tính lìa bà con, dần sanh sầu khổ; lấy sự sầu khổ mà khởi lên các việc ác. Điều nầy gọi là ưu giới.
Thế nào gọi là tật giới?
Có người thọ giới bò, giới chó. Đây gọi là tật giới. Tật giới nếu thành, tức làm bò làm chó. Nếu chẳng thành tức đọa địa ngục. Lại nữa giới có 3 loại. Nghĩa là thượng, trung, hạ.
Thế nào là hạ?
Nghĩa là quá phiền não, quá quá phiền não, đại phiền não sở thuộc. Nhẫn vào chỗ bất tri túc. Đây gọi là hạ giới.
Thế nào là trung?
Phiền não vừa va chạm, tri túc chỗ nhiễm. Đây gọi là trung giới.
Thế nào là thượng?
Chẳng xúc chạm, biết đủ chỗ nhiễm. Đây gọi là thượng giới.
Hạ giới thành tựu làm cho con người đầy đủ. Trung giới thành tựu làm cho trời đầy đủ. Thượng giới thành tựu làm cho được giải thoát.
Lại nữa giới có 4 loại. Đó là thoái phần, trụ phần, thắng phần và đạt phần.
Thế nào gọi là thoái phần?
Chẳng trừ con đường chướng ngại, xa rời người siêng năng. Biết mà cố phạm; phạm rồi che giấu. Đây gọi là thoái phần.
Thế nào gọi là trụ phần?
Đối với giới thành tựu chẳng khởi phóng dật, chẳng sanh tịch kiến, thành tựu trụ phần. Đối với giới định thành tựu đầy đủ, chẳng khởi phóng dật, chẳng sanh thục kiến, thành tựu thắng phần. Đối với giới định, thành tựu đầy đủ chẳng khởi phóng dật, lấy sanh tịch kiến, thành tựu đạt phần. Lại nữa giới có 4 loại. Đó là Tỳ Kheo giới, Tỳ Kheo Ni giới, Bất Cụ Túc giới, Bạch Y giới.
Thế nào là giới Tỳ Kheo?
Đó là uy nghi của Ba La Đề Mộc Xoa. Đây gọi là Tỳ Kheo giới.
Tỳ Kheo Ni giới, Ba La Đề Mộc Xoa oai nghi. Đây là Tỳ Kheo Ni giới.
Sa Di, Sa Di Ni 10 giới; Thức Xoa Ma Ni giới. Đây gọi là Bất Cụ Túc giới.
Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di ngũ giới và bát giới. Đây là Bạch Y giới.
Lại nữa giới có 4 loại. Đó là tánh giới, hạnh giới, pháp chí giới và sơ nhơn giới.
Thế nào gọi là tánh giới?
Uất Đan Việt giới. Đây là tánh giới.
Thế nào là hạnh giới?
Như tánh tộc của vua và quốc thổ ngoại đạo cùng các pháp, đầy đủ gọi là hạnh giới.
Thế nào là pháp chí giới?
Bồ Tát nhập thai giới. Đây gọi là pháp chí giới.
Thế nào gọi là sơ nhơn giới?
Bồ Tát và Ma Ha Ca Diếp giới. Đây gọi là sơ nhơn giới.
Giới lại có 4 loại. Đó là giới, giới tập, giới diệt và giới diệt đạo cụ túc.
Thế nào gọi là giới?
Giới có 2 loại. Đó là thiện giới và bất thiện giới. Đây có nghĩa là giới.
Thế nào gọi là giới tập?
Đó là thiện tâm tập thiện giới và bất thiện tâm tập bất thiện giới.
Thế nào gọi là diệt giới?
Được thiện giới, diệt bất thiện giới. Được A La Hán, diệt thiện giới.
Thế nào gọi là diệt đạo cụ túc giới?
Nghĩa là Tứ Chánh Cần. Đây gọi là diệt đạo cụ túc giới. Như thế phân biệt rõ 4 pháp. Đây là tinh tấn phi chơn trì giới. Đây gọi là Chánh Cần. Lại nữa giới có 4 loại. Đó là Ba La Đề Mộc Xoa uy nghi giới, mệnh thanh tịnh giới, căn uy nghi giới, duyên tu giới.
Thế nào gọi là Ba La Đề Mộc Xoa uy nghi giới?
Đối với Tỳ Kheo Ba La Đề Mộc Xoa uy nghi, ở chỗ che giấu, chỗ ấy đầy đủ, sợ nơi các tội nhỏ, chánh thọ học khả học giới. Đây là đối với vị Sư nầy là pháp Tỳ Kheo. Có phàm phu thiện. Lại nữa có học, vô học; bất động pháp Ba La Đề Mộc Xoa. Giới nầy là khởi. Việc đầu tiên là hành việc giữ gìn nầy là uy nghi. Sự thoát ra khỏi nầy là không bị trói buộc. Đây là các pháp bề mặt, làm chánh thọ thiện pháp. Gọi nghĩa là Ba La Đề Mộc Xoa; chẳng vượt khỏi thân, khẩu, nghiệp. Oai nghi nầy bị che giấu, lấy oai nghi Ba La Đề Mộc Xoa nầy thành tựu ở lại. Giữ gìn 4 oai nghi. Tất cả các hạnh đều đầy đủ. Lại có hạnh và phi hạnh.
Thế nào gọi là phi hạnh?
Nếu có Tỳ Kheo đối với một người khác hoặc cho cây gậy tre; hoặc cho hoa lá quả; hoặc cho que tăm, nước rửa mặt; hoặc bán đồ tốt xấu; hoặc làm trò cười; hoặc gièm pha để tiến thân; hoặc tự giong ruổi đi xa rồi mới gặp. Như đây là các hạnh mà Phật đã chế. Nghĩa là tà mệnh tự hoạt; đây là phi hạnh. Lại nữa có 2 loại phi hạnh; thân khẩu phi hạnh.
Thế nào là thân phi hạnh?
Nếu có Tỳ Kheo lấy tâm khinh mạng để đến trong Tăng bài xích Đại Đức, tham lam trước mặt. Hoặc tự tiện, hoặc lấy chỗ ngồi ở trên lớn hơn, xuống phía dưới thấp. Hoặc ngồi rồi tự nói về mình và bài bác kẻ khác. Hoặc bá vai cười nói; chạy đến trước chỗ ngồi; tự mang giày dép, bước đi trên đường, rồi đi lớn tiếng, làm nhơn duyên động chúng với tướng khinh não ấy. Hoặc lấy hơn cho thua, so yếu cùng mạnh. Hoặc ở nơi nhà tắm thiêu đốt gỗ củi. Đóng mở cửa ngõ đều chẳng hỏi han; hoặc lấy nước rồi tự mình vào trước lo cho thân, hiện ra tướng xấu. Nếu vào phòng khác, thao túng trước sau, đi đứng chẳng để ý; hoặc tại chỗ khuất cười giỡn với người nữ và các gái trẻ, rờ mó ở đầu. Đây là tất cả những điều sai trái gọi là thân phi hạnh.
Thế nào gọi là khẩu phi hạnh?
Nếu có Tỳ Kheo tâm không cung kính, chẳng biết đủ mà vọng cầu và tự thuyết pháp; hoặc thuyết về Ba La Đề Mộc Xoa; hoặc bá vai mà nói; hoặc vào nhà kia cố vấn cho người nữ, hỏi tên họ gì, có gì để ăn không? Có ai đang cùng ta muốn ăn uống không? Như thế những lời nói ấy là khẩu phi hạnh. Tất cả sự phạm giới ấy đây gọi là phi hạnh.
Thế nào là hạnh?
Nghĩa là ngược lại với phi hạnh.
Lại nữa Tỳ Kheo, có cung kính tàm quý, thành tựu uy nghi chẳng có chỗ khiếm khuyết, nhiếp hộ các căn hay tiết chế sự ăn uống. Đầu đêm cuối đêm không hề ngủ nghỉ, thành tựu trí huệ, thiểu dục tri túc. Chẳng nhờn việc đời, khởi tâm dõng mãnh. Đối với kẻ đồng học chỗ sâu xa, sinh ra kính trọng. Đây gọi là hạnh.
Hành xứ có nghĩa là có hành xứ và có phi hành xứ.
Thế nào là phi hành xứ?
Nếu có Tỳ Kheo vào nơi phòng dâm, nhà phụ nữ ở, không có đàn ông ở; nơi ở của Tỳ Kheo Ni và các nơi bán rượu; gần gũi quốc vương, đại thần, ngoại đạo, Sa môn chẳng phải là bạn lữ. Như thế những nơi không có lòng tin để làm cho tâm vui. Thường ở nơi tứ chúng chẳng sanh lợi lạc. Thật hay muốn lo. Đây có nghĩa là phi hành xứ. Như Phật đã dạy: Các Tỳ Kheo nầy làm việc phi phạm hạnh.
Thế nào là làm việc phi phạm hạnh?
Nghĩa là buôn bán nữ sắc, do chỗ ấy biết.
Lại nữa có 3 loại hành xứ. Đó là y hành xứ; thủ hộ hành xứ và trói buộc hành xứ.
Thế nào gọi là y hành xứ?
Nghĩa là 10 xứ công đức, thành tựu thiện hữu. Nương vào công đức nầy chưa nghe được nghe. Nếu đã nghe rồi thì việc nghe nầy làm cho tăng trưởng rộng lớn thêm ra. Dứt hết nghi hối, chánh kiến thanh bạch. Hay theo pháp học, sâu tin dũng mãnh. Lấy giới nghe được thí huệ và niệm niệm tăng trưởng. Đây gọi là y hành xứ.
Thế nào gọi là thủ hộ hành xứ?
Nếu có Tỳ Kheo muốn vào nhà kia nơi thôn ấp phải xem nơi ấy trước chẳng có nạn dữ, uy dung chỉnh đốn để người cung kính, chẳng xem xe, voi, ngựa hoặc nam nữ tụ họp. Chẳng xem nhà cửa phố xá hoặc trông ngóng 4 phía. Đây gọi là thủ hộ hành xứ.
Thế nào gọi là hành xứ trói buộc?
Như Phật đã dạy: Nếu có Tỳ Kheo xem xét gia cảnh người nầy. Đây gọi là trói buộc hành xứ. Đây có tên là hành. Lấy hành xứ nầy để thành tựu nên cũng còn nói là cụ túc hành xứ. Sợ nơi tội nhỏ mà ta đối với chỗ học thông rồi, dám tạo, nghĩa là sợ tội nhẹ. Lại nữa có nói. Nếu khởi tâm chẳng lành thì đây gọi là sai nhỏ. Đối với điều sai nhỏ nầy tâm sanh xa rời. Thấy sự sai trái đó sợ mà xa rời. Đây nghĩa là đối với sự sai nhỏ thấy sợ. Chánh thọ học, có thể học.
Khả học là thế nào?
Nghĩa là 7 tụ uy nghi chánh thọ tất cả tùy toái. Đây nghĩa là chánh thọ học khả học. Đây gọi là Ba La Đề Mộc Xoa uy nghi giới.
Hỏi rằng: Thế nào là giới thanh tịnh?
Đáp rằng: Nghĩa là chẳng phạm tà mạng
Thế nào là tà mạng?
Giải đãi, xiểm khúc biểu thị nơi tướng. Lấy sân si biểu thị nơi tướng; lấy thí vọng thí.
Thế nào là giải đãi?
Giải đãi có 3 nơi. Tính kế muốn được, mong kia 4 việc, giả dạng uy nghi tự nói tốt về mình. Nếu có Tỳ Kheo tâm mong muốn ác, tham vui tài lợi, hay thích ăn mặc, vui cầu tiền bạc. Như muốn chẳng được. Nếu có thì yêu kẻ kia. Như vậy là 4 việc. Đây gọi là duyên kế giải đãi. Nếu có Tỳ Kheo, muốn ác tham lợi, bày biện oai nghi như ta vào thiền định, chỉ muốn cúng thí mà đọc tụng kinh điển. Đây gọi là uy nghi giải đãi. Nếu có Tỳ Kheo, tham dục xiểm cuồng hướng người mà nói: Ta được Thánh pháp, dừng chỗ tịch tịnh. Có thiền tập, chỗ nói sâu xa, biểu thị sai trái, tướng tham lợi, hướng về mình và tự tuyên dương. Đây nghĩa là giải đãi, siểm khúc (lời nói dối trá). Như tâm niệm nầy chỉ bày cái tướng không thực và lấy lời lành để xưng tụng, khoa trương tốt xấu chỉ vì muốn lợi. Bài bác nói ngoa để lợi về mình. Đây gọi là siểm khúc.
Thế nào gọi là thị tướng?
Là kẻ nương nơi có lợi mà thuyết pháp. Điều lợi chính yếu cho mình và chẳng cho ai. Đây gọi là thị tướng.
Sân mạ thị tướng nghĩa là hoặc mạ lỵ kẻ kia, làm cho sợ hãi; hoặc tướng trống rỗng mà hủy báng; hoặc thêm vào đánh chạm khiến người sợ và chủ yếu là việc lợi. Đây gọi là sân mạ thị tướng.
Vì sao mà lấy thí vọng thí?
Thích cho ít mà muốn đền đáp nhiều. Đây gọi là lấy thí vọng thí, mà những điều ác nầy nghĩa là thuộc về tà mệnh. Lại có tà mạng hoặc cho gậy trúc hoặc cho hoa lá quả; hoặc cho cành tăm, nước tắm; hoặc bói tướng đoán mộng, xem xét sao trời, hay giải thích về tiếng gáy của loài cầm thú về các nghiệp, đoán biết tốt xấu, lời ác ly tán, lấy lửa đốt hoa, buôn bán kiếm lời, lãnh đạo quân binh, cầm súng gậy đao. Như thế những loại nầy thuộc về tà mệnh. Nếu người không phạm thì gọi là thanh tịnh giới.
Hỏi rằng: Thế nào là giới giữ gìn các căn uy nghi?
Đáp rằng: Đối với việc thấy nghe đều rõ biết sắc thanh hương vị xúc pháp, là do đắm trước tướng phiền não và lãnh giữ chẳng phạm. Đây gọi là giới giữ gìn các căn uy. Đây là thủ hộ căn giới lấy 9 việc làm được thành tựu đầy đủ. Lấy ác làm tướng, đoạn các căn vậy. Đối trị kia không tác ý nên như cứu đầu cháy, chung cuộc chẳng dần xả bỏ. Như thấy Nan Đà, lấy uy nghi mà phục tâm ác vậy. Đối với tâm tưởng định, được tự tại chăng?
Người giữ gìn các căn thì xa lìa vậy. Đối với người giữ gìn các căn hòa hợp vậy.
Hỏi rằng: Tu hành bốn giới là gì?
Đáp rằng: Lấy 8 việc làm nầy để quán và tu hạnh khất thực. Một là chẳng làm việc hung hiểm, chẳng làm việc tự cao. Hai là chẳng làm bộ dạng, chẳng làm trang nghiêm. Ba là làm cho thân nầy trụ lại vì tự điều hộ. Bốn là vì trừ đói khát. Năm là vì giữ gìn phạm hạnh. Sáu là thường hay suy nghĩ về việc ăn uống là để trừ bịnh trước tiên, chứ không khởi sanh tật mới. Bảy là sẽ lấy ít làm đủ. Tám là không quá tham ở.
Hỏi rằng: Chẳng làm việc hung hiểm và chẳng làm việc tự cao là thế nào?
Đáp rằng ta lấy sự tham ăn để được mạnh khỏe, hung hiểm vui bạo cạnh tranh lui tới. Đây là việc làm hung hiểm, cao mạng tự xưng chẳng biết xa lìa. Như kẻ sân đánh lộn, chẳng có oai nghi, làm cho thân thể, diện mạo khó coi, làm cho người vui theo tình đời không biết xa lìa. Đây là người ham muốn vì thân nầy gìn giữ mà tự điều hộ như thế. Than thân ở yên như gạo trong lu. Để trừ đói khát, thường nên ăn ít, như thế kẻ tu hành giống như dùng thuốc chữa bịnh, là kẻ nhiếp thọ phạm hạnh vậy. Nhưng vào chỗ ăn ít và vui được nơi Thánh quả. Như thế kẻ tu hành dụ việc ăn uống nầy là vì trước tiên để trừ bịnh, chứ chẳng khởi lên tật mới. Chẳng ít chẳng nhiều, như thế tu tập, như uống thang thuốc bổ. Lấy ít mà an vậy. Lấy ít công đức tự an thân nầy, thường hay tập làm, như người trông bịnh chẳng sai quấy, lấy ít để an. Như thế tu hành chẳng làm cho thần không ích lợi. Đây là chỗ khó về trí tuệ. Cho nên chẳng quá ở yên. Nếu có ăn cũng chỉ để giữ gìn, không hề giải đãi. Đầu đêm cuối đêm chẳng hề ngủ nghỉ, thành tựu an ổn. Như thế lấy 8 việc làm nầy quán sát tu hành, xin ăn và tu hành như thế.
Lại nữa 8 việc làm nầy lược nói làm 4 quán. Đó là khả đoạn quán, sự quán, lấy ít quán tự an, lấy ít quán công đức.
Hỏi rằng: Sao gọi là khả đoạn quán?
Đáp rằng: Chẳng làm việc hung hiểm, chẳng tự cao, chẳng vì thân mình trước, chẳng làm việc nghiêm thủ. Đây nghĩa là khả đoạn quán. Vì thân nầy trụ, vì chánh điều hộ, vì trừ đói khát, vì nhiếp thọ phạm hạnh.
Sự quán nghĩa là ta sẽ trừ bịnh là điều đầu tiên mà chẳng khởi lên tật mới.
Đây gọi là lấy ít quán tự an, nghĩa là ta lấy ít tự an, chẳng quá, thành ở chỗ an lạc.
Đây là lấy ít quán công đức.
Sau khi quán 4 quán nầy rồi sẽ lược bớt còn 3. Nghĩa là đoạn nhị biên được trung cụ túc. Lấy đoạn quán, đoạn dục lạc trước. Nghĩa là trừ đói khát, đoạn nơi bổn tật, không khởi lên tật mới. Lại lấy quán nầy đoạn trừ thân bệnh. Ngoài ra cụ túc quán như thế mà tu hành. Lại quán về y phục, vì trừ gió lạnh, nóng, gặp trùng, kiến, muỗi mà sanh xấu hổ dùng để che, khỏi rách rưới. Lấy quán cụ túc mà tu hành như thế. Lại quán thuốc men cho đến tật bịnh. Nếu như thuyết nầy thì sẽ quán lúc nào?
Đối với khất thực phục dược, quán một miếng ăn. Đối với y phục ngọa cụ và quán lúc mới được. Lại đối với ngày ngày giờ giờ thì quán rằng mệnh ta là do kia nên quán. Như thế tất cả đều thành quán hạnh.
Như trước đã nói về 4 loại thọ dụng. Đó là đạo thọ dụng (thọ dụng sự ăn cắp), phụ trách thọ dụng, gia tài thọ dụng và chủ thọ dụng.
Thế nào là đạo thọ dụng?
Nghĩa là người không xấu không hổ, tà mạng thọ dụng.
Thế nào là gia tài thọ dụng?
Nghĩa là người siêng năng thọ dụng.
Thế nào là chủ thọ dụng?
Nghĩa là Thánh nhơn thọ dụng.
Lại có 2 loại thọ dụng. Nghĩa là uế ố thọ dụng và thanh bạch thọ dụng.
Thế nào là ô uế?
Người có tàm quý mà chẳng nên quán. Đây có tên là ô uế.
Thế nào là thanh bạch?
Người có tàm quý, quán biết tự điều tiết, có ý muốn xa lìa việc ác. Đây gọi là thanh bạch. Lấy sự trong sạch thường hay tụ tập 4 việc có thể biết. Đây gọi là giới tu hành 4 việc. Đối với đây là luật nghi giới, lấy chỗ tin sâu, nên làm cho đầy đủ. Mệnh thanh tịnh giới là lấy chỗ siêng năng sâu để làm cho đầy đủ. Căn uy nghi giới là lấy chỗ tin sâu nên làm cho đầy đủ để tu hành 4 việc; lấy huệ sâu nên làm cho đầy đủ. Đối với mệnh nầy giới thanh tịnh. Điều này đều theo luật nghi. Vì sao vậy? Chẳng vì thọ mạng mà đoạn đi những việc an ổn, mà làm cho được uy nghi nơi thân khẩu nghiệp. Đây là 2 loại giới, là theo căn uy nghi. Vì sao vậy? Nghĩa là đối với việc thiện, lấy tâm thủ hộ, lành giữ gìn thân khẩu nghiệp, tu hành 4 việc, là căn uy nghi. Vì sao vậy? Đã biết tập tướng y xứ, sai quấy chánh niệm, chánh định như thế. Đức Thế Tôn cũng nói: Nếu có Tỳ Kheo hay biết nhịn ăn và biết ngũ dục, biết đủ nơi luật nghi nầy và mạng thanh tịnh thì giới nầy che chở và nhiếp lấy. Căn luật nghi giới là định che chở để nhiếp. Tu hành 4 giới nầy là chỗ che chở huệ nhiếp.
Làm thế nào để việc thọ giới thanh tịnh?
Nếu có Tỳ Kheo mới thọ pháp thiền, ở nơi 7 tụ trung quán đối với tự thân, nếu đều phạm Ba La Di, mất hết phép Tỳ Kheo, chẳng ở trong giới Cụ Túc. Nếu ở trong giới Cụ Túc phải được pháp lành và đến trước Thầy để thưa. Nếu thấy phạm Tăng Già Bà Thi Sa, lấy những việc ấy ra sám hối. Nếu thấy phạm tội hữu dư thì đối trước một người để sám hối chỗ phạm. Nếu thấy phạm tà mạng thì đối với chỗ phạm nầy làm việc sám hối với nhau. Như thế hối rồi, ta không được làm lại.
Thấy việc thọ trì như thế, phạm căn uy nghi, lại tu hành 4 việc, ta lại chẳng phạm. Nếu kẻ thọ trì sẽ được vị lai oai nghi tốt đẹp. Người kia như thế từ giới thanh tịnh. Cho nên thân khẩu nghiệp có thể tác hiện tác. Hãy quán về kia là kia đang làm thiện trừ ác. Sẽ quán sáng tối ở nơi giới thanh tịnh. Nếu như kẻ nầy làm cho giới thanh tịnh.
Tướng giới thanh tịnh như thế nào?
Thành tương ưng và các phiền não chẳng khởi thoái hối, được định đầy đủ. Nghĩa là tướng giới thanh tịnh.
Có bao nhiêu hành trụ?
Lấy 2 giới trụ. Một là xưng lượng phạm giới quá xung và 2 là xưng lượng giới công đức.
Những gì là xưng lượng quá xung?
Nếu người phạm giới thành chẳng công đức, thành các ác xứ, sợ nơi 4 chúng; nghi nan người biết, có giới bỏ chạy. Chẳng thể dạy thiền, trời người chê trách, người người khinh ghét, do chỗ phạm giới. Thấy người tán thán trì giới công đức, tâm hối chẳng tin, đối với trong 4 chúng, mỗi mỗi sanh phẫn hận tranh tụng. Đối với người thân, đa phần khởi lên ghét bỏ. Đối với kẻ giữ giới thành người bạn ác; chẳng thể nào được phép định thù thắng. Tuy giả nghiêm sức chỉ để dối lừa, giống như phẩn tiểu của người là chỗ hôi thối, như kẻ mô phạm có chỗ kham chịu. Như chỗ bùn lầy đối với hiện tại vị lai chẳng được lợi lạc. Thường sanh lo rầu. Nếu đã tạo tội rồi, lại sanh tâm xấu hổ hối hận, chẳng an ổn. Như tâm ở địa ngục chẳng vui việc Thánh. Như Chiên Đà La không ham ngôi vua. Người nầy có nghe huệ lạc và nói công đức, người chẳng quý kính. Giống như lửa phân, sanh chẳng như xứ; lúc chết quên mất, thần thức đi vào đường ác. Như những việc nầy quá lắm gọi đây là khả xưng lượng. Nếu biến hóa điều ác nầy thành giới công đức, lại gọi là khả xưng lượng. Như thế xưng lượng, người phạm giới nầy tâm ý che khuất, tình chí thoái tán. Kẻ có giới nầy tin sâu siêng năng, sanh tin kính gấp đôi, thành người siêng năng, thành người tin kính, một lòng hộ giới như kiến giữ trứng, như trâu yêu đuôi, như giữ một con, như gìn một mắt, như người đồng cốt giữ thân, như người nghèo giữ của quý, như người cầm lái giữ thuyền. Ở trong những sự giữ gìn nầy ta sẽ tu giới, tối ưng kính hộ. Như thế tâm thọ trì được bảo vệ, an trụ nơi thiền định và giới được bảo hộ.
Phẩm Đầu Đà
Thứ Ba
Hỏi rằng: Lúc bấy giờ người tọa thiền giữ giới thanh tịnh, tâm muốn thành tựu công đức tối thắng, lại muốn vì được công đức đầu đà, sẽ được thành tựu chăng? Và vì sao mà được hạnh đầu đà công đức nầy?
Đáp rằng: Vì lẽ người tọa thiền tánh không chỉ một loại. Vì muốn thiểu dục, vì ở nơi tri túc, vì đối với vô nghi, vì đối với sự diệt ái, vì muốn tăng trưởng dõng mãnh tinh tấn, vì muốn tự sống ít ỏi, không cầu nhận của bố thí bên ngoài, vì ở nơi an trụ, vì đoạn trừ chỗ dính mắc và giữ gìn thiện giới. Đây là đầy đủ chỗ định; đây là sơ thánh chủng; đây là thắng công đức quán.
Người nào là người đầu đà? Người có 13 pháp và tương ưng với 2 pháp về áo quần. Nghĩa là áo phấn tảo và 3 y cùng tương ưng với 5 pháp khất thực. Nghĩa là gồm có: Khất thực, thứ đệ khất thực, ngồi một chỗ để ăn, ăn có chừng mực và sau giờ ngọ không ăn. Năm pháp tương ưng với việc ngồi nằm. Một là ngồi nơi không có chuyện gì; hai là ngồi dưới gốc cây; ba là ngồi nơi đất trống; bốn là ngồi nơi nghĩa địa và năm là ngồi chỗ thích hợp. Ngồi phải tương ưng với một cách ngay thẳng, nghĩa là thường ngồi mà chẳng nằm.
Thế nào gọi là phấn tảo y?
Đáp rằng: Tánh hay thọ trì, đây nghĩa là tánh. Ngoài ra lại cũng như thế nầy. Vì sao thọ y phấn tảo? Vì dứt tuyệt y cúng thí của Cư sĩ.
Vì sao thọ 3 ba?
Nghĩa là từ bỏ việc dư thừa.
Vì sao khất thực?
Nghĩa là dứt đi sự mời thỉnh của người khác.
Vì sao lại thứ đệ khất thực?
Nghĩa là dứt đi việc đi xin riêng lẻ.
Vì sao ngồi ăn một chỗ?
Nghĩa là chẳng ngồi lại lần thứ hai.
Thế nào gọi là tiết lượng thực?
Nghĩa là dứt trừ ý tham lam.
Vì sao sau giờ ngọ không ăn?
Nghĩa là dứt trừ nơi ước vọng về chiều.
Thế nào gọi là ngồi chỗ không có gì?
Nghĩa là đoạn trừ chỗ làng xóm.
Thế nào gọi là ngồi dưới gốc cây?
Nghĩa là đoạn trừ chỗ ở nơi phòng ốc.
Thế nào là ngồi chỗ trống?
Nghĩa là dứt trừ chỗ che khuất.
Thế nào là ngồi trên gò mả cao?
Nghĩa là đoạn trừ chỗ tốt đẹp.
Thế nào là ngồi chỗ thích hợp?
Nghĩa là đoạn trừ chỗ ham vui.
Thế nào là thường hay ngồi mà chẳng nằm?
Nghĩa là lìa giường chiếu.
Vì sao thọ y phấn tảo?
Bởi vì thấy y nơi Cư sĩ, mong cầu chuyện ăn uống sai trái, lại thấy thọ trì và nhận y công đức. Ta thấy như thế nên dứt trừ việc thí y của Cư sĩ; nên thọ nạp y.
Thế nào là thọ nạp y công đức? Bởi giống như y của Cư sĩ thọ trì; nhưng không quan hệ; được chẳng phải do nơi kia mà không được cũng chẳng buồn. Tâm chẳng tham nhiễm, đồ ăn cắp chẳng nhận. Thường hay dùng đủ, chẳng để bán buôn. Chỗ huân tập của người lành, đây là hành vô xứ. Sự tốt đẹp đó tương ưng với hiện pháp lạc trú, làm cho người hâm mộ, liền được sự thọ nhận chân chánh. Đây nghĩa là nạp y công đức, mà Phật thường hay xưng tán.
Hỏi rằng: Nạp y có bao nhiêu thứ? Người nào thọ trì? Nguyên nhân nào mất đi?
Đáp rằng: Nạp y có 2 loại; một là giữ gìn vật không có chủ và hai là người đời mang cho. Hoặc ở nơi gò mả cao; hoặc ở nơi phấn tảo; hoặc ở nơi thị tứ; hoặc ở nơi đường sá, nhặt được rồi góp lại nhuộm đi rồi chắp vá thành hình mới thọ nhận. Đây nghĩa là vô chủ. Phẩn nhạt như phân bò; hoặc chỗ hỏa thiêu; hoặc người bỏ đi, cho y che nhà và áo ngoại đạo. Đây gọi là đồ bỏ của người đời.
Thế nào gọi là việc thọ nhận phấn tảo y?
Nghĩa là vị Tỳ Kheo muốn dứt trừ sự thọ nhận của Cư sĩ. Đây nghĩa là thọ phấn tảo y.
Thế nào gọi là không được?
Nếu Tỳ Kheo thọ nhận của Cư sĩ. Đây gọi là thất nạp y.
Thế nào gọi là tam y?
Vì có y lớn muốn cúng cho người khác giữ dùm để khỏi bị dính mắc, biết đây là việc sai. Thấy 3 y công đức; ta từ bây giờ thí xả y lớn; nên thọ 3 y.
Vì sao thọ 3 y công đức?
Người lành hay lìa việc tích chứa y lớn và biết rằng thân mình cần đủ, như chim bay vào hư không, không ngoái đầu lại. Người lành huân tập pháp nầy chẳng có nghi ngờ.
Hỏi rằng: Tại sao gọi là 3 y? Vì sao nhận y? Vì sao mất y?
Đáp rằng: Đó là Tăng Già Lê, Uất Đa La Tăng và An Đà Hội. Đây có nghĩa là 3 y.
Thế nào gọi là 3 y?
Nếu Tỳ Kheo chẳng tích chứa y lớn thì được thọ 3 y. Nếu thọ 4 y, đây gọi là mất tư cách nhận y.
Thế nào là thọ khất thực?
Nếu thọ nhận nơi người kia thỉnh, tức tự làm hại bởi chính mình. Chẳng phải là người hiểu biết; chẳng cùng với phi pháp Tỳ Kheo cùng chỗ ngồi nằm. Biết điều nầy không đúng. Lại thấy khất thực công đức nên ta từ nay dứt khỏi sự mời thỉnh của người kia, thọ pháp khất thực.
Thế nào gọi là khất thực công đức?
Nghĩa là nuơng vào tâm sở nguyện, đến dừng tự do, chẳng mong muốn của cúng, tiêu trừ giải đãi, đoạn diệt kiêu mạn, chẳng tham mùi vị ngon, làm lợi lạc chúng sanh, thường ở nơi 4 phương, tâm chẳng ngăn ngại. Người lành chỗ làm, là nghiệp chẳng nghi.
Hỏi rằng: Thỉnh có bao nhiêu loại? Thế nào gọi là nhận? Thế nào gọi là không được?
Đáp rằng: Thỉnh có 3 loại. Một là giống như mời ăn; hai là cùng mời ăn và ba là gặp mời ăn. Trừ 3 loại thỉnh nầy, gọi là khất thực. Nếu thọ nhận 3 loại thỉnh nầy gọi là mất tư cách khất thực.
Thế nào gọi là thọ thứ đệ khất thực?
Nếu ở nơi trước sau được nhiều đồ ngon, liền chẳng trở lại. Nếu trở lại tức là thường thọ thực. Nếu nơi nghi ngờ phải hay xa rời, biết điều nầy không đúng. Lại thấy công đức trước sau, ta từ bây giờ, bỏ chẳng theo thứ lớp mà xin, thọ thứ đệ khất thực.
Thế nào gọi là công đức của thứ đệ khất thực?
Lấy tâm bình đẳng làm lợi lạc cho tất cả, trừ tăng tật ác, dứt trừ sự đùa giỡn, chẳng vui qua lại, chẳng vui nhiều lời, xa nhà cửa người, lìa nơi bịnh tật. Như trăng ít hiện, làm chỗ chiêm ngưỡng cho người. Người lành chỗ làm, là nghiệp chẳng nghi.
Hỏi rằng: Thế nào gọi tên là thứ đệ khất thực? Thế nào gọi là thọ? Thế nào gọi là mất?
Đáp rằng: Nếu có Tỳ Kheo đầu tiên đi khất thực vào nơi làng xóm, từ nhà đầu đến nhà cuối, lấy đó làm thứ đệ. Đây gọi là thứ đệ mà đi.
Thế nào gọi là mất?
Nghĩa là đi băng qua bên nầy; nên đây gọi là mất.
Thế nào gọi là thọ một chỗ ăn?
Nghĩa là đối với 2 chỗ ngồi rồi ngồi nhiều lần và thọ thực nhiều lần và rửa bát nhiều lần. Cùng với việc sai khác nầy, gọi là thọ nhận một chỗ ăn. Người lành chỗ làm, là nghiệp chẳng nghi, biết điều ấy sai, thấy một chỗ ngồi ăn là công đức; cho nên đáng thọ. Ta từ ngày nầy bỏ thọ 2 chỗ ăn mà chỉ thọ một chỗ ăn.
Thế nào gọi là một chỗ ăn công đức?
Chẳng nhiều chẳng ít, chẳng tham của thí chẳng thanh tịnh. Chẳng có bịnh não, chỗ ở chẳng hại, tự sự an lạc. Người lành chỗ làm, là nghiệp chẳng nghi.
Hỏi rằng: Thế nào là thọ một chỗ ăn? Thế nào là một bên? Thế nào là mất?
Đáp rằng: Một bên có 3 loại. Nghĩa là tọa biên, thủy biên và thực biên.
Thế nào gọi là tọa biên?
Ăn rồi lại ngồi, thọ nước rửa bát, lại chẳng ăn nữa. Đây gọi là thủy biên.
Thế nào gọi là thực biên?
Nếu ở nơi đoàn thực, sinh tối hậu tưởng; hoặc nuốt chẳng ăn lại. Đây gọi là thực biên. Nếu trải qua 2 chỗ ngồi, liền mất một lần ăn, trừ ra nước thuốc. Chư Phật than rằng: Đây là thực biên.
Thế nào gọi là thọ tiết lượng thực?
Nếu ăn uống vô độ, làm cho thân thể lừ đừ, thường hay ưa vui, làm cho bụng chẳng đủ; biết việc nầy rồi, liền thấy ra và tiết chế liều lượng công đức. Ta từ hôm nay dứt lìa chẳng có ý tham và thọ nhận sự điều tiết.
Thế nào gọi là tiết thực công đức?
Nghĩa là lượng đồ ăn chẳng theo ý nơi bụng, ăn nhiều nặng bụng, biết thế chẳng vui, trừ tham diệt bịnh, đoạn lìa sự giải đãi. Người lành chỗ làm, là nghiệp vô nghi.
Hỏi rằng: Thế nào là thọ tiết lượng thực? Thế nào gọi là mất?
Đáp rằng: Nếu thọ việc uống ăn nên tự suy nghĩ, chỗ tu ít nhiều, lấy làm thường chuẩn; chẳng nhận ăn lâu, kẻ trí thọ thực theo lượng, đoạn trừ việc chẳng điều độ. Đây gọi là tiết lượng thực. Nếu chẳng như thế, đây gọi là mất.
Sao gọi là ăn rồi không được ăn nữa?
Đoạn nơi vọng tưởng, lìa việc ăn nhiều, biết điều nầy sai trái và thấy công đức của việc chẳng ăn thêm nên ta từ ngày hôm nay dứt trừ việc ăn thêm. Sau khi ăn rồi, không ăn thêm lần nữa.
Thế nào gọi là công đức của việc chẳng ăn thêm?
Đoạn trừ chỗ tham vui, tiết chế giữ gìn thân nầy, lìa nơi để dành, chẳng phải chỗ mưu cầu; chẳng bảo người kia, chẳng tùy theo tâm muốn. Người lành chỗ làm, là nghiệp vô nghi.
Hỏi rằng: Ăn thêm lần nữa có bao nhiêu loại? Thế nào gọi là thọ? Thế nào gọi là mất?
Đáp rằng: Ăn thêm lần nữa có 2 loại. Đó là chẳng tiết biên và thọ trì biên.
Thế nào gọi là chẳng điều tiết số lần?
Nếu thọ việc ăn lâu, tội được thỉnh riêng, chẳng được ăn lại.
Thế nào gọi là thọ trì số lần?
Ăn rồi cho đến 21 lần khác, chẳng sẽ thọ lại, sau đó chẳng ăn, tức đoạn trừ việc ăn lâu. Nếu thọ việc ăn lâu thì mất tư cách là chẳng ăn thêm một lần nữa sau đó.
Thế nào gọi là thọ vô sự xứ?
Ở trong nước, tâm thức thường hay tiếp xúc với ngũ trần sanh nhiễm ưa vui. Nếu ở chỗ ồn ào, tới lui phân tâm; biết điều nầy sai trái, lại thấy vô sự xứ công đức; nên ta từ hôm nay dứt trừ việc ở trong nước thọ vô sự xứ.
Thế nào gọi là vô sự xứ công đức?
Nghĩa là lìa nơi quốc gia, chỗ hay tiếp xúc với ngũ trần, tâm sanh nhiễm vui. Nếu ở nơi ồn ào, tới lui chẳng yên. Thấy 10 loại lời nói, công đức tối thắng dễ mến, người trời hoan hỷ, chẳng vui quen nhờn với niềm vui thế tục và được tịch tịnh. Tịnh lạc ít có tiếng động và từ tâm nầy thiền tọa; người lành chỗ làm, là nghiệp chẳng nghi.
Hỏi rằng: Vì sao gọi là tối hậu vô sự xứ? Vì sao gọi là thọ? Vì sao gọi là mất?
Đáp rằng: Lìa nơi quốc thành, dừng nơi làng mạc, ghé nơi xe vắng,trong vòng 500 cung và giữa 4 khuỷu tay của con người. Đây gọi là tối hậu vô sự xứ. Trừ ở giữa nước; đây gọi là vô sự xứ. Nếu ở giữa nước liền mất vô sự xứ.
Vì sao lại ngồi dưới gốc cây?
Xả bỏ nơi che khuất, chẳng tích chứa của cải, tu giữ sự tham lam, yêu mến mong muốn đầy đủ. Biết được điều nầy là sai, thấy dưới gốc cây có công đức, ta từ ngày hôm nay, đoạn trừ chỗ ở tốt, ngồi và sống dưới gốc cây.
Thế nào là ở dưới gốc cây có công đức?
Nương vào chỗ vui mà thọ, chẳng giao du với thế tục, vui lìa công việc và dừng lại mọi việc, dứt trừ chỗ ở ganh tị, và lìa ái trước; người lành chỗ làm, là nghiệp chẳng nghi.
Hỏi rằng: Cây nào có thể ở? Cây nào phải xa? Thọ như thế nào? Thế nào gọi là mất?
Đáp rằng: Đối với giữa ngày, cây có tàng che và chẳng có gió, khiến lá không rụng. Đây là nơi có thể ở được. Trừ cây độc, cây khô, cây không tàng che, cây có quỷ thần. Lìa những nơi như vậy, đây gọi là thọ nhận gốc cây. Nếu lui tới chỗ che khuất ấy, tức mất ý nghĩa ở dưới gốc cây.
Vì sao gọi là thọ lộ địa trụ?
Chẳng vui nơi che khuất và ở dưới gốc cây có chứa các súc vật. Biết điều ấy sai, thấy được công đức ở chỗ trống, ta từ hôm nay dứt khỏi niềm vui và thọ chỗ đất trống.
Thế nào gọi là lộ trụ công đức?
Chưa đến chỗ vui, đoạn trừ giải đãi ngủ nghỉ, giống như hươu rừng, tùy ý mà đi, không chỗ truy tìm. Người tốt chỗ làm, là nghiệp chẳng nghi.
Thế nào gọi là thọ? Thế nào gọi là mất?
Dứt trừ chỗ che khuất và dưới gốc cây, đây là thọ nhận việc ở chỗ trống. Nếu ở chỗ che khuất và ở dưới gốc cây, tức mất ý nghĩa ở chỗ trống.
Thế nào gọi là ở trên gò mả cao?
Đối với nơi ấy chẳng làm chuyện buông lung,chẳng khởi lên việc ác. Biết điều ấy là sai trái, thấy chỗ gò mả kia là công đức; nên ta từ ngày hôm nay, đoạn trừ những chỗ khác, ở nơi gò mả cao.
Thế nào gọi là thọ nơi gò mả cao công đức?
Khi chết thì nghĩ, được tướng bất tịnh, được phi nhơn kính trọng, chẳng khởi phóng dật, hàng phục những dục nhiễm, nhiều chỗ chán ngấy, chẳng chỗ đáng sợ, quán thân không tịnh, đoạn lìa chỗ tính toán, người lành chỗ làm, là nghiệp không nghi.
Hỏi rằng: Thọ công đức ở gò mả cao như thế nào? Đối với nơi nào có thể ở? Đối với nơi nào có thể đi? Thế nào là thọ? Thế nào là mất?
Đáp rằng: Nếu thường hay có người khóc than, hay có lửa cháy, đầu tiên muốn vào ở chỗ ấy, đây là nơi gò mả, hay sanh quan sát, như chỗ yên tịnh, liền có thể lui tới để ở. Nếu có Tỳ Kheo dừng nơi gò mả, chẳng tạo nhà ở và ngồi trên giường nằm; chẳng theo gió mà ngồi; chẳng nghịch gió mà ngồi. Nằm thời chẳng nóng, chẳng ăn mùi cá, chẳng uống sữa tươi, chẳng ăn bột gạo, chẳng chạm thịt thà, chẳng ở trong phòng, chẳng an ổn nơi bình bát. Nếu có người đến mang theo tọa cụ và đồ mặc, lui tới chỗ gò mả, đến nơi chốn nầy như quăng đồ đi, khi trời sáng liền lấy y áo rồi trở về Tăng Già Lam, ngoài trụ xứ ấy ra, đây nghĩa là gò mả. Nếu lui tới chỗ khác tức mất tên nầy.
Thế nào gọi là thọ ngộ đắc xứ trụ?
Chẳng vui nơi người tham, chẳng buồn giận người khác làm cho xa lìa. Biết được điều sai trái nầy, thấy chỗ thích hợp có công đức, nên ta từ ngày hôm nay, đoạn lìa chỗ tham ở, thọ chỗ thích hợp.
Thế nào gọi là ngộ đắc xứ công đức?
Tâm biết chỗ đủ, tham nơi vắng lặng, đoạn diệt nhiều ái lạc, ở người kính trọng, ở nơi từ bi, một lòng hướng đến sự nhiếp hóa, người lành chỗ làm, là nghiệp chẳng nghi.
Vì sao gọi là thọ? Vì sao gọi là mất?
Đoạn tham khổ dừng, gọi đây là nương gặp. Nếu đến chỗ vui vẻ tức mất đi tên nầy.
Thế nào gọi là thọ việc thường ngồi chẳng nằm?
Đối với chỗ trụ xứ, ngủ nghỉ giải đãi, biết điều ấy sai, thấy công đức thường ngồi, nên ta từ ngày hôm nay đoạn trừ việc hôn trầm nằm nghỉ, thọ thường ngồi chẳng nằm.
Thế nào là công đức thường ngồi?
Là chỗ đoạn trừ chỗ giải đãi. Trừ chỗ ganh ghét của thân, lìa chỗ nhiểm xúc làm vui, ít bị trói buộc chỗ nghỉ, thường nhiều vắng lặng, chỉ thích tu thiền, người lành chỗ làm, là nghiệp không nghi.
Sao gọi là thọ? Sao gọi là mất?
Nghĩa là đoạn trừ sự nằm ngủ. Nếu nằm tức mất đi tên nầy.
Thế nào gọi là lìa phấn tảo y?
Đối với y của Cư sĩ cúng bằng vải, hoặc bằng lông thú mà Phật đã cho phương tiện thọ thì chẳng mất về việc lãnh y.
Thế nào gọi là ba y?
Nếu chứa y lớn quá 10 ngày, có nguyệt vọng y, có công đức y lại có y lớn vì giữ làm đồ nằm hoặc y che người, hoặc y tắm mưa mà chẳng thọ trì của thí bất tịnh. Nếu vì phương tiện thì chẳng mất 3 y.
Thế nào gọi là phương tiện khất thực?
Nếu tăng thứ thực, hoặc thường trụ thực, hành trù thực vào ngày 15, Bố Tát thực, chúng thực và các loại thực khác v.v... lấy phương tiện để thọ thì chẳng mất việc khất thực. Nếu thấy điều nầy sai, thường hay xa lìa.
Thế nào gọi là thứ đệ khất thực phương tiện?
Nếu thấy voi ngựa và ở trước cửa mà có chỗ tranh chấp đồ ăn ngon với chỗ khác, những loại như thế nếu thấy nghi thì nên tránh. Lại thấy Chiên Đà La che bình bát, học gia theo Hòa Thượng A Xà Lê khách làm Tỳ Kheo. Những loại như thế phương tiện mà vượt qua, chẳng mất đi thứ đệ.
Thế nào gọi là nhất tọa thực phương tiện?
Nếu lúc đang ăn mà thấy voi, ngựa, bò, rắn, Hòa Thượng A Xà Lê khách Tỳ Kheo đến, phương tiện mà qua khỏi, qua khỏi rồi mới ăn, chẳng mất một chỗ ngồi. Nếu biết lương thực và thời hậu thực không phải là phương tiện.
Thế nào gọi là vô sự xứ phương tiện?
Hoặc là thọ giới sám tội, vấn pháp, Bố Tát, tự tứ, trị bịnh, khán bịnh.
Hỏi rằng: Qua chỗ nghi là thế nào?
Như thế các duyên, phương tiện ở trong làng xóm chẳng mất vô sự xứ.
Thế nào gọi là dưới gốc cây phương tiện?
Nếu gặp lúc mưa, liền vào núp bóng, khi dứt mưa liền trở lại như cũ mà chẳng mất. Dưới gốc cây, ở chỗ trống trải nơi gò mả, gặp chỗ thích nghi v.v... là phương tiện. Lại cũng như thế. Ngoài trụ xứ có thể ở, thường ngồi chẳng nằm là chẳng phải phương tiện. Lại có một thuyết, nếu quán nơi lỗ mũi, được dùng phương tiện, chẳng mất thường ngồi, mà đây là 13 hạnh đầu đà, liền thành 8 pháp. Như trong Tỳ Đàm nói là 8 loại Đầu Đà. Lúc ấy sau đó chẳng nhiếp về việc ăn, tiết lượng một chỗ ngồi. Việc nầy thọ trì thành một thể loại. Đây gọi là vô sự xứ nhiếp, nơi dưới gốc cây, chỗ ngồi trống và gò mả.
Vì sao gọi là nơi vô sự?
Nếu xây dựng phòng ốc vui với công vụ, nhiều chỗ tích chứa ham thích chỗ ở, tâm chẳng vui đúng, liền nghĩ thế nầy ở dưới gốc cây, ở nơi gò mả, ở nơi đất trống là chỗ ở yên tịnh. Cho nên thành 8. Đối với 8 việc đầu đà nầy lại thành 3 pháp. Một là vô trụ xứ, hai là phấn tảo y, ba là đi khất thực. Nếu 3 pháp thanh tịnh đầu đà đầy đủ, như Phật đã vì Nan Đà mà nói: Lúc nào ta thấy ngươi thành vô sự xứ, thọ y phấn tảo và không đúng thời không ăn, để dưỡng thân thân mệnh, không thấy chỗ ham muốn.
Hỏi rằng: Ai là Đầu Đà phần? Đầu Đà có bao nhiêu pháp? Vì sao gọi là 3 hành nhơn tu hạnh đầu đà? Có bao nhiêu Đầu Đà có thời tiết và có Đầu Đà nói Đầu Đà?
Đáp rằng: Có 13 loại đầu đà do Phật đã nói. Phật đã chế giới. Đây gọi là đầu đà phần. Đây chẳng nên nói là thiện, bất thiện hay vô lý. Vì sao vậy? Vì cùng với người bất thiện và ác dục vậy. Chẳng trừ ác dục, cùng khởi phi pháp, tham vui lợi dưỡng, cho nên chẳng phải là đầu đà lành.
Có bao nhiêu pháp?
Đây có 2 pháp đầu đà. Bất tham và bất si. Như Phật đã nói: Nếu Tỳ Kheo mặc y phấn tảo nương vào thiểu dục tri túc, vui chỗ an tịnh không nghi, nương vào nơi giải thoát. Đây gọi là thọ phấn tảo y. Ngoài ra các hạnh đầu đà khác cũng lại như thế. Chẳng tham, chẳng si, mà đây là chẳng tham nơi 13 xứ hay trừ tham dục. Lấy việc chẳng si nầy đối với 13 nơi hay trừ vô minh. Lại nữa lấy điều chẳng tham dục nầy mà Phật đã hứa để hay sanh chỗ xa rời, giống như vô si, trừ dục nhiễm vui riêng, mà đây là chẳng si. Giống như việc trừ ra việc dối lừa nơi thân. Đây là 2 pháp đầu đà. Đây là chẳng tham chẳng si.
Thế nào là 3 hành nhơn tu hạnh đầu đà?
Nghĩa là tham si hành nhơn tu hạnh đầu đà; sân nhuế hành nhơn chẳng hay tu hành.
Vì sao tham si hành nhơn mà có thể tu hành đầu đà?
Như người tham cho đến ái, thành những phóng dật. Nếu chẳng phóng dật tức có thể lại tham. Như si chẳng nghi, nương vào đầu đà thọ, thành bất phóng dật. Nếu bất phóng dật, tức có thể lại si.
Vì sao mà người tham si tu hạnh đầu đà?
Người sân thọ khổ, liền thành kẻ ác; như kẻ bị bịnh đờm; nếu không cho uống thuốc nóng, lại chuyển tăng thêm bệnh. Cho nên người sân chẳng nên tu hành. Lại nói người sân nên ở nơi vô sự và ở tại gốc cây.
Vì sao ở nơi vô sự?
Vì nơi ấy không có khổ của thế gian vậy.
Có bao nhiêu đầu đà có thời tiết?
Có 3 đầu đà có 8 tháng. Nghĩa là ở dưới gốc cây, nơi đất trống và ở nơi gò mả. Lúc an cư thì Phật dạy ở chỗ có che phủ bên trên.
Hỏi rằng: Sao gọi là đầu đà thuyết đầu đà?
Đáp rằng: Lại có đầu đà thuyết đầu đà, có đầu đà chẳng nói đầu đà. Có chẳng phải đầu đà nói đầu đà. Có chẳng phải đầu đà chẳng nói đầu đà.
Vì sao gọi là có đầu đà nói đầu đà?
Nghĩa là A La Hán thành tựu việc thọ pháp đầu đà.
Vì sao nói có đầu đà chẳng nói đầu đà?
Nghĩa là A La Hán chẳng thành tựu việc thọ đầu đà.
Vì sao có phi đầu đà nói đầu đà?
Nghĩa là học nhơn và phàm phu thành tựu việc thọ đầu đà.
Vì sao phi đầu đà chẳng nói đầu đà?
Nghĩa là học nhơn, phàm phu chẳng thành tựu việc thọ đầu đà.
Hỏi rằng: Tướng của đầu đà như thế nào? Vị như thế nào và khởi ra sao?
Đáp rằng: Lấy thiểu dục làm tướng. Tri túc làm vị và vô nghi làm khởi. Lại nữa lấy vô sở trước làm tướng, lấy vô quá làm vị, lấy chẳng thoái làm khởi.
Thế nào gọi là sơ, trung, hậu?
Nghĩa là thọ lấy làm đầu; tu hành làm giữa và hoan hỷ làm phần sau cùng.-
Phẩm Phân Biệt Định
Thứ Tư
Hỏi rằng: Lúc ấy người ngồi thiền tịnh giới rồi hành đầu đà, thọ thành tựu chỗ thắng thiện thì phải làm như thế nào?
Đáp rằng: Làm cho định khởi lên.
Hỏi rằng: Định gì? Tướng gì? Vị gì? Khởi gì? Xứ gì? Người nào thọ thiền giải thoát định? Dừng thọ sai biệt thế nào? Có bao nhiêu định là nhơn có thể thấy? Lấy đó mà khởi định? Chứng định có bao nhiêu pháp? Định có bao nhiêu công đức? Định có bao nhiêu chúng cụ? Vì sao khởi định?
Đáp rằng: Định là có tên thanh tịnh. Một lòng hướng đến sự tinh tấn và công đức tịch tĩnh, chánh nhơn trụ, chẳng loạn. Đây có nghĩa là định. Lại nữa gió phiền não mạnh cũng không làm cho đảo tâm yên lặng được, như ánh sáng đèn nơi điện đường chẳng lay động. Như A Tỳ Đàm nói: Nếu tâm ở yên, chẳng có phan duyên, lại chẳng động loạn, yên lặng chẳng đắm, chánh định, định căn, định lực. Đây có nghĩa là định.
Tướng gì? Vị gì? Khởi gì? Xứ gì?
Tâm trụ tức là tướng, phục oán là vị, tịch tĩnh là khởi, ở nơi ô nhiễm mà tâm chẳng đắm trước được giải thoát, đây tên là xứ.
Người nào thọ định?
Nghĩa là thọ tâm số và phương tiện định v.v... Như thủ chấp xưng, làm cho tâm, tâm số v.v... Như trong bát có dầu. Niệm và tinh tấn và hành vi định; giống như xe tứ mã dùng lực để kéo xe. Tư duy lấy làm định. Như bị bắn tên, người ấy chú tâm điều phục, để trừ oán vậy. Như thuốc tiêu độc. Như Tỳ Đàm nói: Kiểm nhiếp là nghĩa định. Từ đây nghĩa định đầy đủ là nghĩa định. Thiền có 4 loại thiền. Đó là sơ thiền và giải thoát. Nghĩa là 8 giải thoát. Bên trong tưởng về sắc, bên ngoài quán về sắc. Định lại có 3 định nghĩa là hữu giác hữu quán, chánh thọ. Nghĩa là có 9 loại lần lượt chánh thọ.
Thế nào là thiền?
Là tư duy vậy. Tư duy về việc oán thì tâm thường hỷ lạc, lìa các chướng ngại để được giải thoát vậy, làm cho bình đẳng. Phương tiện phát sanh định, được tự tại. Chẳng lấy 2 nghĩa ở nơi chánh thọ vậy. Lạc khởi định, giải thoát chánh thọ. Có bao nhiêu công đức làm cho định được? Khởi thấy 4 công đức làm định được khởi lên.
Thế nào gọi là bốn?
Hiện thấy pháp lạc, vui ở; lấy việc quán về niềm vui, thần thông hiện chứng có đầy đủ.
Làm sao mà hiện thấy pháp lạc, vui ở?
Nghĩa là người được định, hay sanh vô lậu. Tâm khởi vị ưa thích, thọ xuất thế lạc, thành hiện thấy pháp lạc, vui ở. Cho nên Đức Thế Tôn dạy rằng: Kẻ kia với thân nầy từ chỗ thanh tịnh sanh vui, liền được thanh lương. Làm cho từ từ viên mãn đầy đủ, thành tựu vậy. Như Phật dạy các Tỳ Kheo rằng: Ta trước đây làm Ni Kiền, bảy ngày bảy đêm thân chẳng giao động; miệng chẳng mở để nói lời nào, mặc nhiên ngồi như thế; một lòng thọ lạc. Đây đối với Thánh pháp nghĩa là hiện thấy pháp lạc, vui ở vậy. Lấy việc quán về niềm vui; nghĩa là người ngồi thiền được tâm định, chẳng còn bị che khuất trói buộc, điều nhu và hay thọ trì. Quán thấy về ấm, nhập, giới v.v... Tự tánh an lạc cho nên Đức Thế Tôn đã dạy các Tỳ Kheo rằng nên phải tu hành, như thế tất cả lấy tâm nương vào như thật trí, biện chứng thần thông. Người đã được định rồi, nương chứng ngũ thông. Nghĩa là được như ý về thiên nhĩ, tha tâm, túc mệnh, thiên nhãn. Cho nên Thế Tôn nói rằng: Tâm được định rồi, tùy nghi chuyển biến. Như thế tất cả làm cho được như ý. Có đầy đủ rồi, người đã được định chưa đến được chỗ vô học. Nhưng cuối cùng làm cho chẳng thối. Do định được báo, được sắc, vô sắc đầy đủ, như Phật đã dạy: Ít tu sơ thiền thì được làm quyến thuộc của Phạm Thiên. Như thế tất cả chủng loại đều sanh kia. Như thế tất cả đây là 4 công đức, hay sanh định kia. Mỗi mỗi sẽ khởi.
Chứng định có bao nhiêu loại?
Nghĩa là có 8 pháp. Dục, dục sân nhuế, giải đãi, thùy miên; điều hí, nghi hoặc; vô minh, vô hỉ lạc. Tất cả các pháp ác là chướng pháp.
Nguyên nhơn của định có bao nhiêu loại?
Nghĩa là có 8 pháp. Đây là cái nhơn xuất ly chẳng sân; tướng sáng chẳng loạn. Tất cả thiện pháp làm cho tâm hoan hỷ, hay sanh pháp trí. Đây là những nhơn của định.
Định tư có bao nhiêu loại?
Nghĩa là có 7 loại giới, đầy đủ tri túc; che lấp cửa ngõ, giảm chế ăn uống. Đầu đêm, giữa đêm, cuối đêm lại chẳng ngủ nghỉ, thường niệm đến trí tuệ. Trụ xứ tịch tĩnh.
Định có bao nhiêu loại?
Định có 2 loại. Một là thế gian định; hai là xuất thế gian định, được đắc Thánh quả. Nghĩa là xuất thế định. Còn tên thế định là định của thế gian; đây có lậu, có kết và có trói buộc. Đây còn trôi nổi, còn bị che đậy, còn giới trộm cắp, thấy trộm cắp. Đây còn chấp giữ phiền não. Đây nghĩa là thế gian định. Cùng khác với điều nầy gọi là xuất thế gian định. Lại nữa định có 2 loại. Đó là tà định và chánh định.
Thế nào là tà định?
Chẳng lành nhứt tâm. Đây nghĩa là tà định. Nếu lành một tâm. Đây nghĩa là chánh định, tà định dứt mất, chánh định nên tu. Lại nữa Định có 2 loại. Đó là ngoại định và an định. Định kia ở phần đầu gọi là ngoại định. Tánh trừ vô gián; đây có nghĩa là an định.
Lại nữa Định có 3 loại. Đó là có giác hữu quán định, vô giác hữu quán định và vô giác vô quán định.
Thế nào gọi là hữu giác hữu quán?
Nghĩa là sơ thiền có giác có quán; nhị thiền vô giác ít quán; dư thiền vô giác vô quán.
Lại nữa Định có 3 loại. Đó là cộng hỷ sanh định, cộng lạc sanh định và cộng xả sanh định. Sơ thiền nhị thiền nghĩa là cộng hỷ sanh. Tam thiền nghĩa là cộng lạc sanh. Tứ thiền nghĩa là cộng xả sanh.
Lại nữa Định có 3 loại. Đó là thiện định, báo định và sự định.
Thế nào gọi là thiện định?
Đó là người học con đường thánh và phàm phu. Tu sắc vô sắc định. Đây nghĩa là thiện định. Thánh quả là nơi học nhơn phàm phu sanh, sắc vô sắc giới. Đây gọi là báo định. Vô học nhơn thọ sắc vô sắc định. Đây gọi là sự định.
Lại nữa Định có 4 loại. Đó là dục định, sắc định, vô sắc định và vô sở thọ định. Nghĩa là nơi ấy gồm bỉ hành và chánh thọ hành. Đây thuộc về dục định. Tứ thiền thuộc về sắc định. Tứ vô sắc định và thiện nghiệp báo. Đây là vô sắc định. Bốn đạo quả nghĩa là vô sở thọ định.
Lại nữa Định cũng có 4 loại tu hành. Nghĩa là khổ tu hành thuần trí. Khổ tu hành lợi trí. Lạc tu hành thuần trí và Lạc tu hành lợi trí. Đây là 4 loại: Một là mật phiền não; hai là sớ phiền não; ba là lợi căn và bốn là thuần căn.
Đối với người mật phiền não, thuần căn não tu hành, thuần trí được định. Mật phiền não lợi căn khổ tu hành, lợi trí được định. Người sớ phiền não thuần căn lạc tu hành, thuần trí được định. Sớ phiền não lợi căn lạc tu hành, lợi trí được định. Đối với đây là người mật phiền não; mật phiền não rồi bẻ gãy cái khổ lại phiền não. Cho nên khổ tu hành thuần căn nhơn, mà thuần căn vậy. Thiền hành tích chứa dài lâu, giác thuần trí. Cho nên gọi tên là thuần trí. Lấy đây làm phương tiện. Tất cả nên phân biệt.
Lại nữa Định có 4 loại. Đó là Tiểu Định Tiểu Sự; Tiểu Định vô lượng sự; Vô lượng định tiểu sự và Vô lượng định vô lượng sự.
Thế nào gọi là Tiểu Định Tiểu Sự?
Định ấy chẳng tùy theo tâm sở mà được. Định tiểu tinh tấn. Đây gọi là Tiểu Định Tiểu Sự.
Thế nào gọi là Tiểu Định vô lượng sự?
Định ấy chẳng tùy theo tâm mà được. Việc kia siêng năng lớn. Đây gọi là Tiểu Định vô lượng sự
Thế nào gọi là Vô lượng định Tiểu Sự?
Định ấy tùy theo tâm sở mà được. Sự kia tinh tấn ít. Đây có nghĩa là Vô lượng định tiểu sự.
Thế nào gọi là Vô lượng định vô lượng sự?
Định rồi tùy theo tâm sở mà được. Định kia là đại tinh tấn. Đây gọi là Vô lượng định vô lượng sự.
Lại nữa Định có 4 loại. Đó là dục định, tinh tấn định, tâm định và huệ định.
Dục định là nương vào dục tu hành. Đây là dục định. Nương vào tinh tấn để được, gọi là tinh tấn định. Nương vào tâm mà được; nên gọi là tâm định. Nương vào huệ mà được; nên được gọi là huệ định.
Lại nữa Định lại có 4 loại. Có định là chỗ Phật chứng đắc, chẳng phải chỗ Thanh Văn được. Có định Thanh Văn chứng đắc, chẳng phải Phật chứng đắc. Có định là chỗ Phật chứng đắc và Thanh Văn chứng đắc. Có định chẳng phải chỗ Phật chứng đắc và chẳng phải chỗ Thanh Văn chứng đắc. Đại bi định song biến định là chỗ Phật chứng đắc, chẳng phải Thanh Văn chứng đắc. Học quả định là chỗ Thanh Văn chứng được mà chẳng phải Phật chứng được. Cửu thứ đệ định vô học quả định là chỗ Phật và Thanh Văn chứng đắc. Vô tưởng định là chẳng phải chỗ đắc của Phật và cũng chẳng phải chỗ đắc của Thanh Văn.
Lại nữa Định là có 4 loại. Đó là có định hay khởi chẳng hay diệt. Có định hay diệt chẳng hay khởi. Có định hay khởi hay diệt. Có định chẳng khởi lại chẳng diệt.
Hỏi rằng: Sao gọi là có khởi mà chẳng diệt?
Đáp rằng: Dục giới thiện bất thiện định. Đây có nghĩa là khởi mà chẳng khởi. Học và phàm phu, sắc vô sắc thiện định; đây là khởi mà chẳng diệt. Tất cả quả định và sự định, chẳng phải khởi mà chẳng phải diệt.
Lại nữa Định có 4 loại. Đó là sơ thiền, nhị thiền, tam thiền và tứ thiền. Lìa nơi ngũ cái, thành tựu giác quán. Hỷ lạc nhứt tâm. Đây là sơ thiền. Lìa nơi giác quán thành tựu 3 chi, lìa hỷ thành tựu 2 chi. Lìa lạc xả nhứt tâm thành tựu đệ tứ thiền.
Lại nữa Định có 5 loại. Đó là sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền và ngũ thiền. Ngũ thiền là 5 chi, giác quán hỷ lạc nhứt tâm ly ngũ cái, thành tựu ngũ chi. Đây là sơ thiền, ly giác thành tựu tứ chi. Đây là nhị thiền, ly hỷ thành tựu nhị chi. Đây là tam thiền, ly lạc thành tựu 2 phần .Đây là tứ thiền, cho nên xả nhất tâm.
Hỏi rằng: Vì sao gọi là tứ thiền và ngũ thiền?
Đáp rằng: Do 2 người chấp vậy. Đệ nhị thiền có 2 loại. Nghĩa là vô giác vô quán và vô giác thiểu quán.
Hỏi rằng: Ai là người tọa thiền? Làm cho sơ thiền tự tại khởi đệ nhị thiền?
Đáp rằng: Đối với thô giác quán, nhiếp niệm tư duy. Lại biết quán sai trái, làm cho khởi lên vô giác vô quán đệ nhị thiền. Đây là lần lượt tu tứ thiền. Lại nữa có một người đã làm cho sơ thiền tự tại hiện khởi đệ nhị thiền. Đối với thô giác nhiếp niệm tư duy. Tuy biết sai trái, thấy vô giác thiểu quán khởi lên đệ nhị thiền. Đây là thọ ngũ thiền thứ đệ. Cho nên nói đây là ngũ thiền.
Lại có 5 loại định. Nghĩa là 5 phần chánh thọ. Đó là hỷ mạn, lạc mãn, tâm mãn, quang mãn và quán tưởng. Đây là đối với sơ thiền nhị thiền hỷ mãn. Đối với tam thiền lạc mãn. Đối với tha tâm trí gọi là tâm mãn. Đối với thiên nhãn thông đây gọi là quang mãn. Từ kia, định kia khởi quán trí, gọi tên là quán tưởng.
Lại nữa Định có 5 loại. Đó là ngũ trí chánh định. Đây là hiện tại lạc và vị lai lạc báo. Y thân trí khởi; đây là định. Đây là chỗ thánh hành, chẳng phiền não. Đây là định huệ nhơn tu tập; đây là định. Tịch tịnh yên vui, vui nơi thành tựu không hai; chẳng trở lại sanh tử. Đây là định tịch tịnh tối lạc. Vui thành một tánh chỗ được. Chẳng lại sanh tử ngã. Đây là định niệm, nhập niệm khởi, nương vào thân trí khởi. Lại nữa phân biệt rồi, hành xứ rồi; phân biệt tu hành sự và hạ, trung, thượng mà định như thế có nhiều loại. Nên biết rằng tất cả các định đều nhập vào tứ định.
Phẩm Mịch Thiện Tri Thức
Thứ Năm
Hỏi rằng: Lúc ấy tại sao khởi định?
Đáp rằng: Nếu người tọa thiền muốn sanh thiền định sẽ tìm thấy thiện tri thức. Vì sao vậy?
Vì mới tọa thiền muốn sanh thiền định được tối thắng định. Nếu lìa thiện tri thức, thành bất trụ phần. Như trong kinh dạy: Có Đàm Tỳ Kheo thành nơi thoái phần, biết người một mình đi xa nước, chẳng có bạn chỉ bày, tùy ý một mình đi. Như voi chẳng có nài. Nếu người tọa thiền, chỗ tu hành gặp được thiện tri thức, chỉ bảo khuyên lơn rồi nhiếp thọ, chỉ chỗ sai trái liền được thiện pháp. Từ chỗ chỉ dạy mà tu hành tinh cần khổ hạnh, liền được tối thắng định. Như người buôn giàu có được mọi người kính quý. Như người bạn lành, như cha mẹ mình. Kẻ thiện tri thức như voi có dây làm cho dễ khiến. Như người lái xe khiến được việc đi hay dừng vậy. Như người cầm lái, dẫn đi con đường tốt. Như thuốc trị bịnh làm tiêu trừ sự khổ. Giống như trời mưa làm nhuần thấm mọi loài. Như mẹ nuôi con, như cha dạy trẻ. Như gần chẳng khó, như bạn lành, như Thầy dạy dỗ. Tất cả pháp lành đều nương vào đây để thành tựu. Cho nên Đức Thế Tôn dạy cho Nan Đà rằng: Tất cả phạm hạnh phải cần có thiện tri thức. Do vậy sẽ tìm người cho tốt hơn để làm bạn lành.
Vì sao gọi là thắng thiện tri thức?
Nghĩa là người ấy thành tựu rõ ràng về kinh, luật và luận. Đây có nghĩa là chỗ thành tựu. Rõ biết những loại nghiệp, được thiện thần thông, rõ biết Tứ Đế. Đây là 2 loại người công đức thành tựu. Đây là chỗ nên tìm. Nếu không được 2 loại công đức thành tựu ấy mà chỉ có 7 phần thành tựu thiện tri thức, thì đây lại cũng nên tìm.
Thế nào là 7 phần?
Khả kỉnh ái, khả trọng, khả quý; hay nói nhẫn nhục; nói lời sâu xa; nói chẳng nơi chẳng an.
Thế nào gọi là khả kỉnh ái?
Nương vào 2 loại hành giả, lành nói cộng trụ, tâm vui không gặp việc khó. Đây gọi là khả kỉnh ái.
Khả trọng là gì?
Giới hạnh tịch tĩnh, giữ niệm thành tựu; chẳng tham dục nói nhiều. Đây gọi là khả trọng.
Khả quý là sao?
Nghe huệ công đức thành tựu, biết ngồi thiền, khả trọng. Đây gọi là khả quý.
Hay nói là sao?
Lời nói của ta dễ thương, dễ mến, dễ quý. Có kết quả và như thế tư duy, làm lợi cho kia vậy. Tôn trọng pháp. Đối với việc chẳng thể làm thì chế phục nhiếp thọ và cuối cùng nghĩ rồi bỏ. Đây nghĩa là hay nói.
Nhẫn nhục nghĩa là sao?
Nghĩa là hay làm cho chẳng ngưng lời nói ỷ ngữ và tướng của tất cả lời nói, như hiền thánh vậy. Đây gọi là nhẫn nhục.
Thâm ngữ là sao?
Thông đạt nơi nghiệp. Nếu phân biệt, tưởng niệm tác ý, an trước, đều do chấp tướng lành mà nói như pháp. Chẳng phải chấp tướng như pháp phiền não, hay làm cho diệt tận. Đây gọi là thâm ngữ.
Bất an phi xứ là gì?
Nếu đối với tánh tộc trụ xứ, nghiệp tụ, tụng trước chẳng trụ có thể xa lánh. Hoặc đối với việc kham nhẫn hành xứ làm cho được an ổn. Đây gọi là trụ khả trụ. Đây nghĩa là bất an phi xứ. Lấy đây làm 7 phần thành tựu, là thiện tri thức có thể tìm.
Hỏi rằng: Vì sao nên tìm?
Đáp rằng: Nếu biết nơi ở của người A, B thì công đức thành tựu có thể quý mến. Nếu có Thiền sư nên lui tới kia. Nếu tự chẳng biết chỗ nào của kẻ đồng học; nên tìm đến gần gũi. Rồi biết lúc nào như pháp chưa nói ý nầy. Cung kính khơi hỏi khởi cư. Muốn hỏi chỗ hành thì nơi nào nước nào và dừng ở nơi đâu, có chúng an trụ, có tăng tịnh tọa, có cả Thiền sư. Việc làm nầy nếu làm, lấy gì là công đức tất cả chỗ quý; nên làm như thế và hỏi đồng học nên đáp rằng:
Nước đó, ở chỗ ấy, chúng thiền tọa ấy, Thiền sư ấy v.v... được chúng ái trọng, được nghe điều nầy rồi nghĩ sâu, tùy hỷ, rồi đến chỗ kia thân cận học hỏi thọ lãnh. Nên sửa y phục rồi đến nơi chỗ Hòa Thượng rồi tự nói ý vui. Hòa Thượng nghe ta, ta sẽ đến kia thân cận Thiền sư. Hòa Thượng nên nghe và đáp là lành thay. Ta lại tùy hỷ. Đây là người lành chỗ làm. Đây nghĩa là người lành cộng trụ, người lành chỗ làm. Đây là theo pháp tu hành; hoặc thấy nghe mà được lợi ích lớn. Hà huống ở chung. Ngươi nên đến đó. Ngươi đến rồi, kia sân, chẳng nên buông lung. Nếu là người lành, có thể khuyên tu học. Hoặc đối với một lúc hay tất cả lúc v.v... cần phải gia thêm niềm tin.
Kính thành nói lời lành, giữ gìn thân miệng, rõ lý tu hành, sẽ được thành tựu. Tất cả nương vào Thầy, chưa sanh dễ dãi. Như con dâu mới về nhà chồng, qua lại với mẹ và cô; nên sanh xấu hổ, nghe lãnh lời dạy. Nếu thấy đệ tử không có y phục, thuốc men, hoặc đến kia mà như pháp lo liệu, thuyết pháp giáo huấn. Cho đến đi đứng ngồi nằm đều chỉ dạy chỗ nên làm. Người tọa thiền kia nên y phục tề chỉnh, cung kính vây quanh. Lễ Thầy dưới chân. Đối với việc ra đi nơi đường sá bên ngoài gặp chỗ nước sâu, qua lại nơi ấy, y bát, giày dép, đồ ngồi thiền, để cao lên một nơi, chẳng làm cho gần nước. Khi tắm chẳng nghe tiếng. Lúc tắm rồi y phục phải ngay ngắn, mặc Uất Đa La Tăng, y bát, thiền cụ đặt lên vai phải. Vấn Tăng Già Lê để trên vai. Nếu vào chùa am bỏ giày nón nhiễu tháp. Nếu thấy Tỳ Kheo đến, phải thưa hỏi. Nơi đây có người ngồi thiền, chẳng có người mặc phấn tảo y, chẳng thấy người đi khất thực, chẳng có luật sư, chẳng có người ở nơi đây, từ đâu đến, có kẻ qua lại; hoặc chẳng phải người nầy, có luật sư, ta đều lui tới. Lại nếu không luật sư, ai làm Thượng Tọa, ta cũng lại lui tới. Nếu Thượng Tọa Đại Tăng vì giữ y bát chớ cùng. Ngoài ra kẻ nhỏ cũng chớ cùng. Nếu không có người, lấy để một nơi. Nếu thấy Thượng Tọa nên lễ dưới chân rồi đứng đối mặt. Tỳ Kheo cũ có ngồi, lấy nước và chỗ rửa tắm như pháp mà cung cấp; gần gũi để lo chỗ ăn, chỗ nghỉ cùng y bát, chỉ bày chỗ cần thiết; hỏi thăm về chế độ của Tăng. Ngày mới vào chùa phải đi quanh. Nếu thấy luật sư nên hỏi thăm chỗ nghi, tội lỗi và cố làm cho đừng phạm. Nếu thấy Thầy giảng pháp và muốn tu huệ, nên hỏi về ấm, nhập, giới nghiệp. Nếu thấy người tu đầu đà, vì tương ưng huệ mà hỏi về công đức đầu đà. Nếu ở nơi ấy mỗi ngày nên qua lại hỏi han. Nếu muốn đi nên chuẩn bị đồ mặc, lễ đại tăng nơi chân và bạch rằng sẽ đi. Đây là vì khách Tỳ Kheo dụng pháp. Đối với người tọa thiền kia nên đến gần gũi. Thiền sư nếu đến, tuy nhỏ nhưng mang thay y bát. Phép của Thiền sư có thể đi, chẳng thể đi; chẳng nên liền đi, liền vắng. Đây chính là việc làm trước, nên để tu hành. Nếu muốn dạy người, trước nên hiểu biết. Người học tọa thiền trước xong rồi mới hành pháp. Xem xét chỗ ở rồi để y bát. Ít nghỉ ngơi, hiểu biết thời tiết, gần gũi Thiền sư, cung kính lễ bái. Đôi khi ngồi yên. Nếu Thiền sư hỏi chỗ muốn, nên tùy đó mà nói chỗ vui. Nếu chẳng hỏi thì chẳng nên nói. Từ đây về sau, tăm xỉa răng, nước tắm gội v.v... nên cầu thỉnh việc y chỉ để tu hành. Nếu đến lúc ăn, phải hỏi vị A Xà Lê như pháp mà làm. Khi đến giờ ăn, vì A Xà Lê mà rửa chân, sửa soạn chỗ ngồi và mang bình bát. Đối với bát riêng của mình, nên hỏi A Xà Lê chỗ lấy nhiều ít, để bát của mình ít hơn đệ tử. Như thế giữ gìn, như thế chẳng khó.
Lúc ăn xong rồi, lấy bát của vị A Xà Lê đem rửa, để một nơi và biết lúc gần gũi cung kính lễ bái. Có lúc ngồi yên, nếu A Xà Lê hỏi, tùy theo chỗ mà nói điều vui. Nếu chẳng hỏi thì lễ bái A Xà Lê và cầu thỉnh để nghe. Ta nói bổn lai chỗ mong muốn. Nếu hứa cho thì tùy ý hỏi. Khi A Xà Lê nghe xong rồi nói. Nếu chẳng hỏi thì lễ A Xà Lê. Thấy đúng lúc nên nói nhơn duyên ta đến, nguyện A Xà Lê dạy bảo. Nếu A Xà Lê nghe, tất cả chỗ vui nên nói. A Xà Lê bảo: Lành thay! Rồi như pháp dạy bảo, nên như thế nầy mà vâng lời. Cho nên Đức Thế Tôn nói kệ rằng:
Đúng lúc mà gần gũi
Làm tâm chẳng kiêu mạn
Phạm hạnh hay hộ pháp
Giống như cây không gió
Nhớ pháp mà tu hành
Cùng pháp tự niềm vui
Pháp trụ pháp phân biệt
Nên nói pháp như thật
Hủy pháp chẳng nên làm
Vui nói, lo, mừng, cười
Sân nhuế, chớ giải đãi
Phẫn hận, tham, mạn, si
Ái chấp thật xấu vậy
Tu hành tất loại trừ
Giữ ý chẳng tự cao
Biết lành, lời thành thật
Vì định thật, biết nghe
Nếu người hay buông lung
Nghe huệ chẳng tăng trưởng
Nếu người biết chánh pháp
Trời người chỗ cung kính
Cung kính thành tín tâm
Nghe nhiều hay hộ pháp
Làm được chỗ nghe vui
Như thế các công đức
Tùy pháp hay tu hành
Hay sanh điều tốt đẹp
Thành tựu người trí huệ
Nếu được Thầy như thế
Nên tu, chẳng buông lung
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)


Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét