THÍCH TÂM TRỌNG

THÍCH TÂM TRỌNG
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT

Thứ Ba, 4 tháng 12, 2012

PHẨM THẾ CHỦ DIỆU NGHIÊM THỨ NHẤT

PHẨM THẾ CHỦ DIỆU NGHIÊM THỨ NHẤT Lại nữa, Chủ Trú Thần Thị Hiện Cung Ðiện, được môn giải thoát, vào khắp tất cả thế gian. Ý nghiã ở trên vẫn chưa nói xong, bây giờ tiếp tục nói, tức cũng là tiếp tục nói về đạo lý Kinh Hoa Nghiêm. Ðã giải thích xong tám bộ chúng trong dị sinh chúng. Nay tiếp tục giảng về các vị thần mười chín chúng trong dị sinh chúng. Các chúng Thần là: 1. Chủ Trú Thần. 2. Chủ Dạ Thần. 3. Chủ Phương Thần. 4. Chủ Không Thần. 5. Chủ Phong Thần. 6. Chủ Hỏa Thần. 7. Chủ Thủy Thần. 8. Chủ Hải Thần. 9. Chủ Hà Thần. 10. Chủ Giá Thần. 11. Chủ Dược Thần. 12. Chủ Lâm Thần. 13. Chủ Sơn Thần. 14. Chủ Ðịa Thần. 15. Chủ Thành Thần. 16. Ðạo Tràng Thần. 17. Túc Hành Thần. 18. Thân Chúng Thần, 19. Chấp Kim Cang Thần. Trong mỗi chúng Thần có mười vị Thần chủ, mỗi vị Thần chủ chứng đắc được một môn giải thoát, nói ra một bài kệ, để tán thán công đức của Phật, tổng cộng có một trăm chín mươi môn giải thoát, có môt trăm chín mươi bài kệ. Nếu ai hiểu rõ một môn giải thoát, hoặc minh bạch một bài kệ, thì có hy vọng giải thoát, có khả năng thành tựu. Mong những người tu đạo tinh tấn tụng Kinh Hoa Nghiêm, lạy Kinh Hoa Nghiêm, in Kinh Hoa Nghiêm, biên chép Kinh Hoa Nghiêm, truyền bá Kinh Hoa Nghiêm, thì chắc chắn công đức và sự cảm ứng không thể nghĩ bàn. Chư Phật Bồ Tát nhất định sẽ gia bị cho bạn, khiến cho bạn khai mở đại trí huệ trồng căn lành lớn ! Người mới nghe Kinh Hoa Nghiêm, cảm thấy Kinh văn của Kinh Hoa Nghiêm rất phức tạp, tựa như nói chẳng bao giờ hết. Ðúng vậy ! Ðạo lý Kinh Hoa Nghiêm nói chẳng hết, trùng trùng vô tận, vô tận trùng trùng. Chỉ cần bạn thành tâm nghe Kinh nghe pháp, thì lâu dần từ từ tự nhiên sẽ hiểu nghĩa Kinh, lĩnh ngộ nghĩa lý huyền diệu thâm áo vô cùng. Có người đọc Kinh Hoa Nghiêm đến lần thứ tư, mới hiểu ý nghĩa vi diệu của nó. Tụng Kinh càng nhiều, thì được ích càng sâu, tụng một lần thì có lợi ích một lần. Vị Thị Hiện Cung Ðiện Chủ Trú Thần. Chủ Trú Thần là thần quản lý ban ngày, tức cũng là quản lý tất cả công và tội, Những gì chúng sinh làm đều ghi nhớ hết, nhưng không cần dùng bút ghi chép vào vở. Sự ghi nhớ của Thần rất là đặc thù, còn diệu hơn so với máy vi tính, càng diệu hơn so với máy tính ! Các vị đó đều ghi nhớ hết tất cả sự việc của thế gian. Khi muốn kiểm tra thì không cần bấm nút máy vi tính, tự nhiên sẽ hiện ra tư liệu cần đến, không những nhanh chóng mà còn chính xác, đó là thần thông diệu toán. Vị Chủ Trú Thần nầy, thị hiện được tất cả cung điện. Cung điện của vua, cung điện của Phật Bồ Tát, vị nầy không những thị hiện được, mà còn trang nghiêm được, và còn vào khắp trong tất cả thế gian, dùng pháp nhập thế để hiển thị pháp xuất thế. Ðó là môn giải thoát vị nầy đắc được. Chủ Trú Thần Phát Khởi Huệ Hương, được môn giải thoát, quán sát khắp tất cả sự lợi ích của chúng sinh, khiến cho họ vui mừng đầy đủ. Vị Phát Khởi Huệ Hương Chủ Trú Thần nầy, phát khởi giới hương, định hương, huệ hương, giải thoát hương, giải thoát tri kiến hương, năm phần hương pháp thân. Vị nầy biết sự vui mừng của chúng sinh, cho nên toả ra năm thứ hương, khiến cho chúng sinh sinh tín tâm. Bạn trì giới thì thân sẽ toả ra giới hương. Bạn thiền định thì thân sẽ toả ra định hương. Bạn tu huệ thì sẽ toả ra huệ hương. Tâm bạn không phan duyên, thì thân sẽ toả ra hương giải thoát. Bạn học rộng nghe nhiều, thì thân sẽ toả ra hương giải thoát tri kiến. Vị Chủ Trú Thần nầy quán sát khắp tất cả chúng sinh, khiến cho họ hoàn toàn đắc được lợi ích năm thứ hương nầy, và còn khiến cho chúng sinh vui mừng mà đầy đủ, toại tâm mãn nguyện, đó là môn giải thoát vị nầy đắc được. Tổ Ðạt Ma nói: "Giới hương đoạn được các điều ác, hay tu các điều thiện. Ðịnh hương tin sâu đại thừa, tâm không thối chuyển. Huệ hương thường ở thân tâm, trong tự quán sát. Hương giải thoát đoạn tất cả vô minh trói buộc. Hương giải thoát tri kiến quán chiếu thường sáng suốt, thông đạt vô ngại". Năm phần hương pháp thân là do giới sinh định, do định sinh huệ, do huệ được giải thoát, do giải thoát mà đắc được giải thoát tri kiến, tức cũng là hậu đắc trí. Do đó, có thể thấy, giới luật quan trọng như thế nào. Bất cứ tu pháp gì, điều kiện đầu tiên là phải giữ gìn giới luật. Bằng không, chẳng có sự thành tựu chân chánh. Ví như có vị pháp sư biết giảng kinh, giảng rất hay, biện tài vô ngại, nói thao thao bất tuyệt, nói ngang nói dọc đều có lý, khiến cho người nghe vào thắng địa. Nhưng nếu như vị pháp sư đó chẳng giữ giới luật, bất quá cũng chỉ là khẩu đầu thiền mà thôi. Chủ Trú Thần Lạc Thắng Trang Nghiêm, được môn giải thoát, phóng vô biên pháp quang minh đáng ưa thích. Vị Lạc Thắng Trang Nghiêm Chủ Trú Thần nầy, tu đủ thứ phước, đắc được đủ thứ công đức. Do đó, sinh ra sự an vui. Sự an vui nầy chẳng giống sự an vui bình thường, là sự an vui rất thù thắng. Vị Thần nầy, không những trang nghiêm mà còn tốt tướng, biết được sở tạo công hoặc tội của chúng sinh, và còn phóng ra vô lượng trí huệ quang minh. Quang nầy tức là quang minh đáng ưa thích pháp, chiếu soi chúng sinh, khiến cho chúng sinh có công tiếp tục làm công đức lành; khiến cho chúng sinh có tội, cải ác hướng thiện, quay đầu là bờ. Quang nầy khiến cho tất cả chúng sinh đều vui mừng, đều sinh ra tư tưởng ưa thích Phật pháp, đó là môn giải thoát của vị nầy đắc được. Chủ Trú Thần Hoa Hương Diệu Quang, được môn giải thoát, khai phát tâm tin hiểu thanh tịnh của vô biên chúng sinh. Vị Hoa Hương Diệu Chủ Trú Thần nầy, tùy thuận nguyện của chúng sinh, mà toả ra các thứ hoa và các thứ hương, và còn hiện ra quang minh vi diệu không thể nghĩ bàn, để chiếu soi tất cả chúng sinh, khiến cho họ khai ngộ, đắc được trí huệ. Vị nầy có thể khai khẩn đất hoang, chưa có ai gieo trồng ngũ cốc xuống mảnh đất màu mỡ nầy. Cho nên phải có người đến khai khẩn, cạo sạch cỏ hoang, sau đó mới trồng trọt được. Khai đất hoang phải tốn công khổ cực một phen mới thành công được, do đó: "Trồng trọt một phần, Thì có một phần thu hoạch". Ruộng phước của chúng sinh, giống như một mảnh đất hoang, phải cần có đại thiện tri thức phát bồ đề tâm đến khai quật, trồng xuống hạt giống bồ đề tâm tin hiểu thanh tịnh, mới đắc được quả giác bồ đề. Tâm chúng sinh phần nhiều không thanh tịnh, có tư tưởng ô nhiễm. Vì tâm nhiễm ô quá nhiều, mà tâm thanh tịnh thì ít, cho nên chẳng tin hiểu. Giảng Phật pháp cũng nghe chẳng vào, nói đạo lý cũng chẳng tin. Vì không tin không hiểu cho nên chẳng minh bạch. Không minh bạch thì chẳng có tâm tin hiểu thanh tịnh. Tâm tin hiểu thanh tịnh là gì ? Nếu không có vô minh, không có phiền não, không có nóng giận, đó là tâm tin hiểu thanh tịnh. Nếu như có vô minh, có phiền não, có nóng giận, thì tâm tin hiểu chẳng thanh tịnh. Tóm lại, người mà tâm ô nhiễm quá nặng, thì tâm tin hiểu thanh tịnh nhẹ đi. Người mà tâm thanh tịnh quá nặng, thì tâm tinh hiểu thanh tịnh cũng nặng. Cho nên, người học Phật pháp, mỗi cử chỉ, mỗi hành động, đều phải hồi quang phản chiếu, cầu trở lại nơi chính mình. Phải phản tỉnh tâm của mình, nhiễm ô nhiều hay là thanh tịnh nhiều ? Tâm tin hiểu của tôi nhiều, hay là tâm không tin hiểu nhiều ? Tự mình kiểm thảo, nếu minh bạch được cảnh giới nầy, thì vào được môn giải thoát tin hiểu thanh tịnh. Chủ Trú Thần Phổ Tập Diệu Dược, được môn giải thoát, sức tích tập quang minh khắp trang nghiêm. Vị Phổ Tập Diệu Dược Chủ Trú Thần nầy, tích tập hết thảy tất cả chất thuốc đặc biệt thù thắng, để chữa trị bệnh tham sân si ba độc phiền não của tất cả chúng sinh. Vị nầy tu đủ thứ pháp môn, tích tập nhiều công đức để trang nghiêm. Giống như trồng hoa, bón phân đầy đủ thì hoa mới sum sê tươi tốt, hoa nở mới tươi đẹp. Tại sao hoa vừa tươi tốt vừa đẹp ? Vì có người bón phân. Chúng ta tu công đức cũng phải như thế, trang nghiêm tức là bón phân. Chúng ta người tu đạo, tại sao phải có sự trang nghiêm? Vì tích tập tất cả công đức lành. Công đức nầy, tức là phân để đượm nhuần pháp thân huệ mạng của chúng ta, khiến cho chúng ta đắc được sức quang minh đại trí huệ. Có sức nầy rồi thì gặp được tất cả cảnh giới, đều nhận thức rõ ràng, mà không bị cảnh giới làm lay chuyển, ngược lại còn chuyển được cảnh giới. Tóm lại, cảnh giới ác chuyển đổi thành cảnh giới lành, cảnh giới nhiễm ô chuyển đổi thành cảnh giới thanh tịnh. Ðó là sức đại trí huệ quang. Vị Chủ Trú Thần nầy, đắc được sức phổ quang minh, tức cũng là sức trí huệ Bát nhã. Trí huệ Bát nhã giống như một cây đao, còn gọi là kiếm trí huệ. Bạn chẳng có trí huệ thì là ngu si, chẳng có kiếm trí huệ, thì không thể chém đầu lục tặc, lục tặc tức là lục trần. Lục trần nầy sai khiến con người làm việc điên đảo. Cho nên nói, kiếm trí huệ là pháp bảo rất quang trọng. Trong chứng Ðạo Ca có nói: "Ðại trượng phu, bỉnh huệ kiếm, Bát nhã phong hề kim cang diễm, Phi đán năng thôi ngoại đạo tâm, Tảo hội lạc khước thiên ma đảm". Nghĩa là nói, chúng ta người xuất gia đều là đại trượng phu. Phật Thích Ca là đại trượng phu, chúng ta là đệ tử của Phật, cho nên cũng là đại trượng phu. Bất cứ nam nữ, phàm là xuất gia đều là đại trượng phu. Phật Thích Ca là đại anh hùng, cho nên điện Phật gọi là đại hùng bảo điện. Bỉnh huệ kiếm tức là cầm thanh bảo kiếm trí huệ, sắc bén vô cùng, giống như đá kim cang phát ra lửa ngọn, không những phá tan tâm ngoại đạo, mà cũng làm cho thiên ma khiếp đảm. Vị Chủ Trú Thần nầy, vì có sức trí huệ quang minh mới vào được môn giải thoát nầy. Chủ Trú Thần Lạc Tác Hỉ Mục, được môn giải thoát, khai ngộ khắp tất cả khổ vui của chúng sinh, khiến cho họ đắc được pháp vui. Vị Lạc Tác Hỉ Mục Chủ Trú Thần luôn luôn an vui, luôn luôn hoan hỉ, cũng khiến cho tất cả chúng sinh luôn luôn an vui, luôn luôn hoan hỉ. Vị nầy dùng tâm từ bi để tiếp dẫn chúng sinh, khiến cho tất cả chúng sinh khai ngộ. Khai ngộ gì ? Khai tất cả khổ vui của chúng sinh, khiến cho họ ngộ được pháp vui. Khổ có rất nhiều thứ khổ: Có ba thứ khổ, tám thứ khổ và vô lượng khổ. Ba thứ khổ tức là: 1. Khổ khổ. 2. Hoại khổ. 3. Hành khổ. Tám thứ khổ là: 1. Khổ về sinh. 2. Khổ về già. 3. Khổ về bệnh. 4. Khổ về chết. 5. Khổ về thương mà phải biệt ly. 6. Khổ về ghét mà gặp nhau. 7. Khổ về cầu muốn không được. 8. Khổ về năm uẩn. Và còn có vô lượng vô biên thứ khổ. Khổ khổ: Tức là khổ của người nghèo. Ví như có một túp lều để ở, che mưa che nắng, chẳng may bị gió bão thổi sập, không chỗ để nương tựa. Hoặc là người không có tiền bạc lại bệnh hoạn, đó là khổ tăng thêm khổ, cũng là khổ trong khổ. Hoại khổ: Tức là khổ của người giàu. Ví như nhà nọ giàu có, chẳng may bị lửa thiêu sạch, tiền bạc châu báu cũng bị lửa thiêu hủy, đó là hoại khổ. Hành khổ: Chẳng phải là khổ khổ, cũng chẳng phải là hoại khổ, mà là hành khổ về vô thường. Bất cứ là anh hùng hào kiệt, đại trượng phu, cũng không tránh khỏi sinh già bệnh chết, bốn đại hành khổ. Khổ về sinh: Khi sinh ra thì thống khổ giống như rùa lột mai, và thống khổ giống như hai hòn núi ép nhau, cho nên trẻ con khi sinh ra, thì khóc oà lên đó là khổ. Khổ về già: Thân thể từ nhỏ lớn dần rồi già nua, chẳng lúc nào mà không biến đổi, tóc bạc da nhăn, tai điết mắt mờ, tứ chi yếu đuối, ngũ quan tứ chi chẳng làm gì được, răng rụng ăn gì cũng chẳng biết mùi vị. Khổ về bệnh: Tứ đại không điều hòa thì thường phát sinh bệnh. Khổ về bệnh mới là khổ thật, chẳng ăn được gì, chẳng hành động được. Già thì mắt tai mũi lưỡi phải về hưu; có bệnh thì thân thể cũng phải về hưu. Khổ về chết: Thứ khổ nầy thật đáng sợ, thống khổ như bò sống bị lột da. Phút cuối cùng khi lâm chung, thì trong tâm tính sổ sách, nếu như khi sống làm việc còn thiếu sót, thì chết cắn răn trừng mắt mà đi. Khổ về thương mà phải biệt ly: Việc thống khổ nhất của đời người là lúc sinh ly tử biệt. Vì đủ thứ nhân duyên phải biệt ly với người thân. Thứ khổ nầy ai chưa trải qua hoàn cảnh ấy, thì chẳng biết được vị của nó. Khổ về ghét mà gặp nhau: Người càng không thích ưa mà thình lình gặp nhau, thứ khổ nầy không thể tả. Người xưa nói: "Oán nên giải không nên kết". Bắt tay vui vẻ, đổi địch làm bạn, đó là tránh gieo thứ khổ nầy. Khổ về cầu muốn không được: Thứ khổ nầy ai ai cũng có. Người nghèo có, người giàu cũng có, người nam có, người nữ cũng có, già có, trẻ có, tức là khổ về mong muốn không ngừng. Khổ về năm ấm: Năm ấm tức là: Sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Năm uẩn nầy giống như lửa thiêu hủy. Sắc là vật chất, thọ tưởng hành thức là tinh thần, đều vì vô minh mà thiêu đốt không ngừng, khiến cho người thọ thống khổ vô cùng. Vô lượng khổ: Nỗi khổ không thể tả ! Bất cứ thứ khổ nào cũng đều chịu không thấu. Tại sao có vô lượng sự khổ ? Vì tâm tham không đủ, được rồi muốn được nữa, không khi nào biết đủ. Nói ngược lại là biết đủ thì an vui. Vui cũng đủ thứ vui, có sự vui của mình, sự vui của người khác, sự vui của ta và người, vui cũng có vô lượng vô biên. Song, chúng sinh sống trong khổ vui, lúc thì vui, lúc thì khổ, khổ vui đều không dễ chịu. Bây giờ, bất cứ là khổ hay là vui, vị Chủ Trú Thần nầy, đều khiến cho chúng sinh đắc được pháp vui, tức cũng là pháp hỉ sung mãn, an vui chân thật. Nghe kinh nghe pháp đều là pháp vui, vị nầy đắc được cảnh giới nầy, mà vào môn giải thoát nầy. Chủ Trú Thần Quán Phương Phổ Hiện, được môn giải thoát, đều hiện thân khác nhau trong mười phương pháp giới. Vị Quán Phương Phổ Hiện Chủ Trú Thần nầy, quán căn cơ chúng sinh vì người thuyết pháp, theo bệnh cho thuốc. Vị nầy quán sát mười phương pháp giới, hiện thân khắp vì chúng sinh mà thuyết pháp. Và còn minh bạch chư Phật ở trong mười phương pháp giới, khắp các cõi nước nhiều như số hạt bụi, hóa hiện vô lượng thân khác nhau, mà vì người độ được mà thuyết pháp, tức cũng là người đáng dùng thân Phật độ được, thì Phật hiện thân Phật mà vì họ nói pháp, để giáo hóa chúng sinh. Vị nầy minh bạch được cảnh giới nầy, mà vào môn giải thoát nầy. Chủ Trú Thần Ðại Bi Oai Lực, được môn giải thoát, cứu hộ tất cả chúng sinh, khiến cho họ được an lạc. Vị Ðại Bi Oai Lực Chủ Trú Thần. Ðại bi là cứu tất cả thống khổ của chúng sinh, ban tất cả an vui cho chúng sinh. Oai lực là có sức đại oai đức. Vị nầy có tâm đại bi, cứu tất cả khổ của chúng sinh, và còn có đại oai đức hàng phục được tất cả ma. Vị nầy đắc được cảnh giới nầy, và còn minh bạch đức Phật vì cứu hộ tất cả chúng sinh, mà khiến cho tất cả chúng sinh lìa khổ được vui, vị nầy vào được môn giải thoát nầy. Chủ Trú Thần Thiện Căn Quang Chiếu, được môn giải thoát, sức công đức khắp sinh ra vui mừng đầy đủ. Vị Thiện Căn Quang Chiếu Chủ Trú Thần nầy, trong đời quá khứ gieo trồng đủ thứ căn lành, tu tập đủ thứ trí huệ quang, để giáo hóa tất cả chúng sinh, cũng khiến cho tất cả chúng sinh vun bồi căn lành, gieo trồng căn lành. Vị nầy đắc được trí huệ quang minh, cho nên mới nói đắc được sức thiện xảo công đức khắp sinh ra vui mừng đầy đủ. Vị nầy vào môn giải thoát nầy. Chủ Trú Thần Diệu Hoa Anh Lạc, được môn giải thoát, danh tiếng vang khắp, chúng sinh nào thấy được cũng đều được lợi ích. Vị Diệu Hoa Anh Lạc Chủ Trú Thần nầy, danh tiếng đều vang khắp mười phương thế giới. Phàm là chúng sinh trong mười phương thế giới, nghe được âm thanh của vị nầy, hoặc là nghe được tên của vị nầy, đều đắc được lợi ích, đắc được pháp vui, vị nầy vào môn giải thoát nầy. Bấy giờ, Chủ Trú Thần Thị Hiện Cung Ðiện, nương oai lực của đức Phật, quán khắp tất cả chúng Chủ Trú Thần, mà nói bài kệ rằng. Lúc đó, khi vị Diệu Hoa Anh Lạc Chủ Trú Thần, vừa nói xong đoạn kinh nầy, thì vị Thị Hiện Cung Ðiện Chủ Trú Thần, nương đại oai thần lực của đức Phật, quán sát khắp tất cả Chủ Trú Thần trong pháp hội, mà dùng kệ tán thán công đức của Phật. Trí Phật như không chẳng cùng tận Quang minh chiếu soi khắp mười phương Tâm hạnh chúng sinh đều biết rõ Tất cả thế gian đều vào khắp. "Trí Phật như không chẳng cùng Tận". Trí huệ của Phật giống như hư không. Hư không thì rộng lớn chẳng cùng tận. "Quang minh chiếu soi khắp mười phương". Trí huệ quang minh của Phật không thể sánh, chiếu soi khắp mười phương thế giới, chiếu soi cõi nước chư Phật mười phương. "Tâm hạnh chúng sinh đều biết rõ". Tất cả những sự việc chúng sinh suy nghĩ, hoặc làm, Phật đều hiểu biết rõ. Tóm lại, Bạn khởi vọng tưởng gì, tạo nghiệp gì, Phật đều biết rõ ràng. "Tất cả thế gian đều vào khắp". Phật có đại trí huệ quang minh, có đại thần thông, có sức đại bi nguyện, do đó, đến tất cả thế giới để giáo hóa chúng sinh, chẳng có một thế giới nào mà Phật không vào. Phật biết sở thích của chúng sinh Vì họ mà nói các biển pháp Ý nghĩa rộng lớn đều khác nhau Cụ Túc Huệ Thần thấy rõ được. "Phật biết sở thích của chúng sinh". Phật biết được trong tâm của tất cả chúng sinh hoan hỉ những gì, và còn biết được tất cả sự việc chúng sinh mong muốn. "Vì họ mà nói các biển pháp". Nghĩa là đáng hiện thân gì để độ được, thì hiện thân đó mà nói pháp đó. Pháp môn nói ra nhiều như biển, nói chẳng hết. "Ý nghĩa rộng lớn đều khác nhau". Nghĩa lý mỗi câu mỗi chữ rộng lớn vô cùng, đều khác nhau. Mỗi câu có nghĩa lý của mỗi câu, mỗi chữ có ý nghĩa mỗi chữ, ý vị vô cùng. "Cụ Túc Huệ Thần thấy rõ được". Vị Phát Khởi Huệ Hương Chủ Trú Thần, hoàn toàn thấy được cảnh giới nầy, và còn thấy rất rõ ràng. Phật phóng quang minh chiếu thế gian Thấy nghe vui mừng không luống qua Chỉ bày chỗ tịch diệt rộng lớn Lạc Thắng Trang Nghiêm tâm ngộ hiểu. "Phật phóng quang minh chiếu thế gian". Phật phóng vô lượng đại quang minh tạng, chiếu soi hữu tình thế gian trong mười phương. Khiến cho tất cả hữu tình chúng sinh, bất cứ thấy được quang minh của Phật, hoặc nghe được pháp âm của Phật, đều đắc được công đức và lợi ích. "Thấy nghe vui mừng không luống qua". Không luống qua tức là không hư mất, không lãng phí. Nếu luống qua thì không được lợi ích. Phàm là chúng sinh thấy được quang minh của Phật, hoặc nghe được âm thanh của Phật, đều sinh ra vô lượng công đức pháp tài, vô lượng tâm vui mừng. "Chỉ bày chỗ tịch diệt rộng lớn". Phật thuyết pháp ở trong quang minh, để giáo hóa tất cả chúng sinh, không những thuyết pháp, mà còn nói pháp vi diệu thâm sâu vô thượng, và còn chỉ bày chỗ tịch diệt cho chúng sinh, tức cũng là bờ Niết Bàn. Niết Bàn tức là đạo lý: Thường, lạc, ngã, tịnh. Thường tức là pháp thân, Lạc tức là Niết Bàn, Ngã tức là Như Lai, Tịnh tức là pháp vô vi. "Lạc Thắng Trang Nghiêm tâm ngộ hiểu". Cảnh giới nầy, vị Lạc Thắng Trang Nghiêm Chủ Trú Thần ngộ và hiểu rõ, vào được môn giải thoát nầy. Phật rưới mưa pháp vô biên lượng Khiến cho người thấy vui mừng lớn Căn lành tối thắng từ đây sinh Ðây là sở ngộ của Diệu Quang. « Phật rưới mưa pháp vô biên lượng ». Phật tức là Phật Thích Ca Mâu Ni, rưới tức là chỉ pháp của Phật nói. Mưa pháp tức là Phật nói pháp giáo hóa chúng sinh, giống như trời mưa, khiến cho chúng sinh đắc được đượm nhuần mưa pháp, mà tăng trưởng huệ mạng. Phật pháp vô lượng vô biên, cho nên không có chỗ nào mà chẳng phải là nơi Phật rưới mưa pháp đầy khắp, cho nên nói Phật rưới mưa pháp vô biên lượng. « Khiến cho người thấy vui mừng lớn ». Phật nói pháp vi diệu thâm sâu vô thượng, chúng sinh thấy, hoặc nghe được, đều sinh tâm vui mừng lớn. Cho nên, cuối cùng mỗi bộ kinh đều nói « vui mừng lớn » (đại hoan hỉ) hoặc « vui mừng tin nhận » (hoan hỉ tín thọ) hoặc « tín thọ phụng hành, làm lễ lui ra ». Ðó là nói, phàm là người tham gia pháp hội, người nghe kinh nghe pháp, đều đắc được tâm vui mừng lớn. « Căn lành tối thắng từ đây sinh ». Vì chúng sinh đắc được đượm nhuần mưa pháp, mà sinh ra căn lành thù thắng. Căn lành của chúng sinh sinh trưởng ở trong Phật pháp. Bạn muốn sinh căn lành chăng ? Vậy thì phải nghe kinh nghe pháp. « Ðây là sở ngộ của Diệu Quang ». Cảnh giới nầy, vị Hoa Hương Diệu Quang Chủ Trú Thần ngộ hiểu được. Vào khắp pháp môn sức khai ngộ Nhiều kiếp tu trị đều thanh tịnh Như thế đều vì nhiếp chúng sinh Môn nầy Diệu Dược thấu rõ được. « Vào khắp pháp môn sức khai ngộ ». Phật vào khắp tất cả tâm của chúng sinh, khiến cho tất cả chúng sinh đều phát tâm bồ đề, kết quả bồ đề, và còn khiến cho tất cả chúng sinh vào khắp tất cả pháp môn, phát sinh sức khai ngộ. « Nhiều kiếp tu trị đều thanh tịnh ». Pháp môn và sức lực nầy, là do Phật tu pháp môn thanh tịnh, từ vô thủy kiếp cho đến hiện tại. Phật đã trị sạch đủ thứ mao bệnh, cho nên thanh tịnh không ô nhiễm. « Như thế đều vì nhiếp chúng sinh ». Phật vào khắp pháp môn tu học, khiến cho sức khai ngộ của chúng sinh, từ đời đời kiếp kiếp tu hành mà thành công. Tại sao Phật phải tu hành ? Vì phải nhiếp hóa chúng sinh, khiến cho chúng sinh đều được thanh tịnh. « Môn nầy Diệu Dược thấu rõ được ». Cảnh giới nầy, vị Phổ Tập Diệu Dược Chủ Trú Thần hiểu rõ. Ðủ thứ phương tiện hóa quần sinh Ai thấy nghe được đều lợi ích Ðều khiến nhảy nhót vui mừng lớn Diệu Nhãn Trú Thần thấy như vậy. « Ðủ thứ phương tiện hóa quần sinh ». Phật vì thật mà thí quyền, dùng đủ thứ pháp môn phương tiện quyền xảo, để giáo hóa chúng sinh, sau đó mới khai quyền hiển thật, khiến cho chúng sinh hồi tiểu hướng đại, phát tâm bồ đề, hành Bồ Tát đạo. « Ai thấy nghe được đều lợi ích ». Hết thảy tất cả chúng sinh, bất cứ thấy được hóa thân của Phật, hoặc nghe được pháp âm của Phật, đều đắc được lợi ích. Nếu quy y Tam Bảo, cúng dường Tam Bảo, thì càng được lợi ích lớn. « Ðều khiến nhảy nhót vui mừng lớn ». Phật hoàn toàn khiến cho tất cả chúng sinh sinh tâm vui mừng, khiến cho chúng sinh nhảy nhót lên không tự chủ được, quên mất chính mình. Phật pháp tức là khiến cho chúng sinh lìa khổ thế gian, mà đắc được vui xuất thế gian. « Diệu Nhãn Trú Thần thấy như vậy ». Vị Lạc Tác Hỉ Mục Chủ Trú Thần, minh bạch thấy được cảnh giới môn giải thoát nầy. Thập lực ứng hiện khắp thế gian Mười phương pháp giới đều không thừa Thể tánh chẳng không cũng chẳng có Quán Phương Phổ Hiện vào môn nầy. « Thập lực ứng hiện khắp thế gian ». Thập lực của Phật ứng hiện tận hư không khắp pháp giới, đầy khắp tất cả thế gian. « Mười phương pháp giới đều không thừa ». Sức lực nầy, sung mãn khắp mười phương pháp giới, chẳng có nơi nào dư thừa. « Thể tánh chẳng không cũng chẳng có ». Thể tánh của Phật chẳng phải không có, cũng chẳng phải có. Ðối với chúng sinh thì có khác biệt, khắp trong mười phương không thể nói không có. Ðối với Phật thì gọi là nhất chân pháp giới, không thể nói có. « Quán Phương Phổ Hiện vào môn nầy ». Cảnh giới môn giải thoát nầy, vị Quán Phương Phổ Hiện Chủ Trú Thần vào được. Chúng sinh lưu chuyển trong hiểm nạn Như Lai thương xót hiện ra đời Khiến cho tiêu diệt tất cả khổ Môn giải thoát nầy của Bi Lực. « Chúng sinh lưu chuyển trong hiểm nạn ». Chúng sinh tức là anh, tôi, họ, cũng bao quát hết tất cả chúng sinh; bạn, tôi, họ, là chúng duyên hoà hợp mà sinh, thiếu một duyên cũng không thể sinh, cho nên gọi là chúng sinh. Giống như ngũ cốc trồng xuống đất, phải có duyên trời che đất chở, duyên đất duyên nước, duyên ấm và duyên lạnh, và phải có duyên người làm, và duyên thời tiết. Ðầy đủ nhân duyên phối hợp rồi, thì mới sinh trưởng được. Chúng sinh cũng phải có duyên cha duyên mẹ hoà hợp, nếu không thì không thể sinh ra. Lưu chuyển tức là lưu đi chuyển lại, chuyển đến chuyển đi. Tức cũng là đời nay làm người, đời sau làm trâu ngựa dê gà chó heo lục súc. Hoặc là đời trước làm lục súc, đời nay làm người, đó gọi là lưu chuyển. Có khi kiếp trước là ếch nhái hoặc chuột, nhưng vì gần gũi chùa chiền, cho nên có cơ hội nghe pháp nghe kinh. Thời gian lâu rồi chúng đều có công đức, gieo trồng căn lành, đời sau bèn chuyển sinh làm người, không những làm người mà còn xuất gia làm Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni. Trước đây mấy hôm tôi thấy hai người xuất gia. Một vị kiếp trước là ếch nhái, phước báu rất lớn, cho nên mập mạp. Một vị kiếp trước là chuột, phước báu rất nhỏ, cho nên gầy ốm, nhưng vị đó rất thông minh. Chuyện nầy nghe qua giống như là kể chuyện, giống như nói chuyện tiếu, nhưng là sự thật. Khi nào bạn chân chánh biết được, thì mới tin là có thật, chớ chẳng phải giả. Tuy nhiên họ xuất gia làm hòa thượng, nhưng lại tạo nhiều nghiệp ác, tương lai nói không nhầm thì, chưa chắt đã làm được ếch nhái hoặc là chuột, có thể phải làm con giòi trong hầm phân. Ðó là vì không tu công đức cho nên bị đoạ lạc, nếu siêng tu công đức, rộng gieo căn lành, thì phước báu đời đời tăng thêm, nói cho dễ hiểu, tu công đức thì có phước báu, không tu công đức thì chẳng có phước báu, đó là đạo lý lưu chuyển. Chúng ta là người tu đạo, phải càng ngày càng sinh tâm tinh tấn, sinh đại đạo tâm, sinh tâm vui mừng, thì căn lành càng bám càng sâu. Căn lành sâu rồi, thì cành lá càng sum sê tươi tốt. Nếu hôm nay không tu hành, ngày mai không dụng công, ngày mốt lại giải đãi, cứ như thế thì, đạo nghiệp một ngày không như một ngày. Do đó, có thể chứng minh, bạn đời đời kiếp kiếp đều là hoà thượng lười như thế. Nếu tu đạo, lúc tiến lúc lùi, tiến tới một bước, lùi về sau hai bước, thì vĩnh viễn không đạt đến bờ kia. Công đức mình tu chẳng bao nhiêu, mà tạo tội thì nhiều, thì chắc chắn sẽ đọa lạc, tơ hào chẳng có gì nghi vấn. Ðó gọi là lưu chuyển. Trong hiểm nạn tức là chỉ sự lưu chuyển trong các đường, con đường nầy rất nguy hiểm và gian nan, lang, trùng, hổ, báo, sư tử, rắn độc, thú dữ gì cũng đều có. Nếu gặp rắn độc sẽ bị rắn độc cắn chết, gặp thú dữ thì sẽ bị thú dữ cắn nuốt. Cho nên nói trong hiểm nạn. Chúng ta người tu đạo, bất cứ xử lý việc gì, nên nhớ đừng có chút tâm đố kị, đừng có tâm cầu danh cầu lợi. Nếu có tâm cầu danh cầu lợi, hoặc tâm đố kị, vì cầu danh hoặc vì cầu lợi để tu đạo, thì chắc chắn sẽ đọa lạc, hoặc đoạ lạc vào điạ ngục, ngạ quỷ, súc sinh, đều không nhất định. Vì tu đạo phải tu nhẫn nhục Ba la mật, nếu không nhẫn được thì không bằng chết thanh tịnh; nếu không tinh tấn được, thì tu đạo có ích gì ? Nếu không rõ sự lý, thì càng ngày càng chẳng có ý nghĩa; nếu không hiểu Phật Pháp thì càng ngày càng đọa lạc, thậm chí đọa lạc vào trong hầm phân làm giòi, trải qua vô lượng kiếp rồi chuyển làm người, thân thể của họ sẽ toả ra một mùi hôi thối vô vùng. Phàm là thân thể người nào có một thứ mùi lạ, hoặc hôi thối thì, đều là kiếp trước không giữ giới luật. Vừa nói về ếch nhái và chuột tái sinh làm người, lại xuất gia tu hành. Chắc chắn có người khởi hoài nghi: Làm sao biết được họ là ếch nhái tái sinh ? Làm sao biết được họ là chuột tái sinh ? Vấn đề nầy rất là đơn giản, rất dễ biết. Ai dũng mãnh tinh tấn, dụng công ngồi thiền, thì sẽ biết cảnh giới nầy. Ví như súc sinh sinh làm người, thì sau lưng xương sống của người đó, lưu lại bóng hình kiếp trước. Kiếp trước là súc sinh gì ? Thì hiện ra hình bóng đó. Song, phải là minh nhãn thiện tri thức mới biết được. Nếu muốn biết mình kiếp trước là gì ? Thì hãy xem đời nầy mình làm những việc gì để quyết định, nếu bạn có tâm làm việc thiện, giữ quy cụ, thì bạn nhất định kiếp trước là người trồng căn lành. Nếu bạn không muốn làm việc thiện và không giữ quy cụ, thì nhất định kiếp trước là người chẳng trồng căn lành. Người xuất gia, nhất định phải giữ gìn giới luật, dụng công tu hành, dù một giây một phút thời gian cũng đừng để luống qua, mỗi người phải có mỗi thời khóa biểu nhất định : Khi nào tọa thiền, khi nào tụng kinh, khi nào lễ Phật, khi nào trì Chú, đều phải làm đúng giờ. Bất cứ khổ như thế nào, mệt nhọc như thế nào, đều phải tự mình dụng công, tu pháp của mình. Không những một ngày có tâm thành, mà mỗi ngày đều có tâm thành, không những một ngày phải nhẫn nhục, mà mỗi ngày đều phải nhẫn nhục. Thành tâm nhẫn nhục là tại nơi mình, không thể gạt người. Phải dũng mãnh tu hành, mới mong thành tựu. Làm sao biết được kiếp trước ? Phải xem họ giữ hay không giữ giới luật ? Giữ hay không giữ quy cụ ? Giữ được giới luật là có căn lành, giữ được quy cụ là thiện tri thức. Phàm là không giữ giới luật, vạch lộng tìm vết, làm cho người phiền não thì chẳng có căn lành. Con mắt của con người tức là gương sáng, có khi chiếu bên ngoài, có khi chiếu bên trong, phải chiếu ngược lại, chiếu chính mình. Ðừng làm máy nhiếp ảnh, chỉ chiếu người mà không chiếu chính mình. Bất cứ là người xuất gia hoặc tại gia, đều phải hồi quang phản chiếu. Nếu thường hồi quang phản chiếu, thì sẽ có ngày thành công. Nếu không hồi quang phản chiếu, thì chỉ là lãng phí thời gian quý báu, đều để luống qua. « Như Lai thương xót hiện ra đời ». Tại sao Phật xuất hiện ra đời ? Vì muốn giáo hóa chúng sinh cang cường khó điều khó phục, Phật thương xót tất cả chúng sinh. Những chúng sinh nầy mê mà không tỉnh, bất cứ dùng pháp môn gì để giáo hóa, họ cũng không giác ngộ. Họ chỉ biết đọa lạc vào trong ba đường ác, nhận súc sinh làm cha mẹ, ngạ quỷ làm bạn bè, đến địa ngục để tham quan, đều muốn thưởng thức, đáo để mùi vị như thế nào ? Cho nên, Phật thương xót loại chúng sinh nầy, mới xuất hiện ra thế giới nầy. « Khiến cho diệt trừ tất cả khổ ». Phật đều khiến cho tất cả khổ não của chúng sinh đều tiêu diệt, mà đắc được an vui. Người không có khổ thì không có vô minh, phiền não, nóng giận. Người chẳng có khổ mới là người tự tại thật sự. Nếu y theo pháp mà tu hành, thì mới đoạn được vô minh, diệt phiền não, như vậy thì sự nóng giận chẳng tồn tại dấu vết. Lúc đó mới đắc được Ba la mật. « Môn giải thoát nầy của Bi Lực ». Môn giải thoát nầy, vị Ðại Bi Oai Lực Chủ Trú Thần thấy rõ được. Chúng sinh trôi chìm trong đen tối Phật vì thuyết pháp khiến thông đạt Ðều khiến được vui trừ các khổ Thiện Căn Quang Thần vào môn nầy. « Chúng sinh trôi chìm trong đen tối ». Lúc chẳng có Phật ra đời, thì tất cả chúng sinh đều bị hãm ở trong thế giới đen tối, bị vô minh che đậy, trôi nổi ở trong ba đường ác, trong ba đường ác chẳng có ánh sáng, đen tối như ban đêm, chúng sinh vĩnh viễn chịu khổ ở trong ba đường ác, chẳng được tự do, càng không được ánh sáng. Ba đường ác là gì ? Tức là địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh. Ba đường ác nầy do tội nghiệt tạo thành. Vậy tại sao phải tạo tội nghiệt ? Vì tham sân si ba độc tác quái, tham thì chuyển làm ngạ quỷ, sân thì đọa vào địa ngục, si thì đọa làm súc sinh. « Phật vì thuyết pháp khiến thông đạt ». Vì chúng sinh tạo tội nghiệt, mà đọa lạc vào ba đường ác. Dù ở trong ba đường lành cũng bị vô minh che đậy, cho nên cũng chẳng có trí huệ. Phật phát tâm thương xót vì những chúng sinh nầy, mà thuyết pháp khiến cho họ bỏ mê về giác, cải tà quy chánh, phát tâm bồ đề, cứu kính thành Phật. Phật giáo hóa tất cả chúng sinh, khiến cho họ hiểu đạo lý chân chánh, thì họ không còn tạo tội nghiệt nữa, muốn diệt trừ tham sân si, thì phải siêng tu giới định huệ, thực tiễn tín hạnh nguyện. « Ðều khiến được vui trừ các khổ ». Phật giáo hóa tất cả chúng sinh, khiến cho họ lìa khổ được vui, diệt sạch tất cả sự thống khổ. « Thiện Căn Quang Thần vào môn nầy ». Vị Thiện Căn Quang Chiếu Chủ Trú Thần, đắc được cảnh giới nầy, minh bạch được Phật vì khiến cho tất cả chúng sinh dứt khổ được vui, mà xuất hiện ra đời. Vị nầy vào môn giải thoát nầy. Phước Như Lai lường đồng hư không Phước của thế gian từ đây sinh Phàm ai làm được không luống qua Hoa Anh đắc được giải thoát nầy. « Phước Như Lai lường đồng hư không ». Tất cả phước của Phật đều là phước thanh tịnh. Tất cả phước của chúng sinh là phước không thanh tịnh. Song, phước không thanh tịnh là từ phước thanh tịnh sinh ra. Phước thanh tịnh cứu kính lớn cỡ nào ? Rộng cỡ nào ? Dài cỡ nào ? Có hạn lượng chăng ? Chẳng có ! Cho nên nói phước Như Lai lường đồng hư không. Hư không thì chẳng có số lượng, hư không thì chẳng cách chi tính được, cũng chẳng có bờ mé có thể tìm được. « Phước của thế gian từ đây sinh ». Tất cả phước của thế gian đều chẳng thanh tịnh. Song, tất cả phước báu của thế gian, đều từ trong phước thanh tịnh của Phật sinh ra. Phàm ai làm được không luống qua ». Bất cứ làm việc công đức gì, đều có phước báo không luống qua. Tuy nhiên, phước báu là từ trong phước thanh tịnh của Phật sinh ra, nhưng cũng phải tự mình đi làm công đức lành, thì mới được phước báo. Bằng không, thì đừng hy vọng có phước báo, phước báu chẳng phải ngẫu nhiên có được, mà là phải thực hành ! Nếu chúng ta làm việc thiện, lập công, tích tập công đức, thì mới có phước báo. Một số người thế gian chỉ biết tu phước trước mắt, mà không biết tài bồi phước báo cho tương lai. Phước báo trước mắt là từ đâu đến ? Là từ vô lượng kiếp tài bồi mà đến. Tức là trong đời quá khứ tu đủ thứ căn lành, lập nhiều công, tích nhiều đức, cho nên đời này mới có phước báo. Vậy thì hãy nhớ phước báu cố hữu để tu phước báo vị lai. Ðó là phước lại thêm phước, trong phước tích phước, thì phước báu đời sau chắc chắn càng lớn. Nếu không tiếp tục làm lành lập công tích đức, hưởng hết phước thì đời sau phải chịu khổ. Cho nên mới nói: « Chịu khổ thì hết khổ, Hưởng phước thì hết phước ». Hai câu nầy rất quang trọng, hy vọng mọi người ghi nhớ, hiểu ý nghĩa hai câu nầy, thì cũng hiểu được đạo lý làm người. Trồng nhân lành thì kết quả tốt, trồng nhân ác thì kết quả ác, đó là luật nhân qủa. Tuy nhiên đạo lý nầy rất đơn giản, dễ hiểu, song không thực hành thì chẳng ích gì! Cho nên chịu khổ thì hết khổ, hưởng phước thì hết phước, hai câu nầy rất là hệ trọng, nên nhớ ! không thể như gió qua tai! Giống như bạn hiếu thuận với cha mẹ, thì con cái cũng sẽ hiếu thuận, do đó: « Hiếu thuận thì sinh con hiếu thuận, Con cháu hiếu thuận bồi đáp lại ». Bạn hiếu thuận với cha mẹ như thế nào, thì con cháu của bạn sẽ hiếu thuận với bạn như thế đó, đó cũng là đạo lý nhân quả. Dù con cái không biết hiếu thuận, thì bạn cũng nên hiếu thuận với cha mẹ, lấy thân làm gương ngày lại ngày, lâu dần thì từ từ sẽ cảm hóa con cái bất hiếu, mà biết hiếu thuận. Tại nước Mỹ nầy, người dân chẳng có quan niệm về luân lý phải hiếu thuận với cha mẹ, tôn kính sư trưởng, mọi người đều cho rằng là xã hội bại hoại, ngựa hại bầy. Do đó, đều đồng loã, mắng họ chưởi họ, nói họ ngu si quá, cho rằng tuy cha mẹ sinh ra mình, nuôi dưỡng dạy dỗ mình, đó là trách nhiệm của họ, cho nên người già chẳng ai chiếu cứ, thật đáng thương xót ! Khoa học của nước Mỹ là nhất thế giới, nhưng người già chẳng ai trông, đó cũng là nhất thế giới. Ở nước Mỹ, ai hiếu thuận với cha mẹ là kẻ địch của mọi người, khắp nơi chịu kỳ thị, chịu bài bác, chịu phỉ báng, bị người phê bình là ngoan cố, bảo thủ, lạc hậu, không theo thời đại. Thanh niên nước Mỹ tìm hết phương pháp thanh toán cha mẹ, đấu tranh cha mẹ. Tóm lại, không những không báo ân dưỡng dục của cha mẹ, ngược lại bất hiếu với cha mẹ. Người làm cha mẹ, sinh ra con cái không giáo dục, để mặc chúng tự do phát triển, thì những con cái đó làm sao biết ý nghĩa chữ hiếu là gì ? Do đó, nuôi mà không dạy là lỗi của cha mẹ vậy. Tại đất nước nầy, nếu đề xướng về hiếu đạo, thì một số thanh niên sẽ phản đối. Nếu đề xướng về làm "hippi" hoặc hút độc .v.v., thì họ hoan nghênh, nhiệt liệt ủng hộ. Dạy họ hướng về hạ lưu thì cho rằng tốt, dạy họ hướng về thượng lưu thì cho rằng xấu, chẳng phải là đáng thương xót chăng ? Pháp luật trên thế giới đều khác nhau. Ðồng thế ấy, tại nước nầy thì hợp pháp, đến nước khác thì phạm pháp. Có nước cho đàn ông để tóc dài râu dài, cho rằng là tiến bộ, hiện đại, tân thời. Có nước cho rằng sẽ ảnh hưởng trị an xã hội. Ðất nước nầy không hoan nghênh người hiếu thuận, nước nọ thì hoan nghênh người hiếu thuận. Cho nên, trên thế giới nầy rất nhiều việc quái lạ, do đó: "Mười dặm không đồng phong, Trăm dặm không đồng tục". Viêc trên thế gian trăm kỳ ngàn quái rất khó nói, chẳng phải một đạo lý mà nói xong. Tại đất nước tây phương trước kia chẳng có Phật giáo, ai ai cũng đều không cảm thấy thế nào là không tốt, bây giờ có Phật giáo, ai ai cũng không cảm thấy thế nào là tốt. Ðó là điên đảo tướng của chúng sinh. Có khi thật thì họ cho rằng giả, có khi giả lại cho là thật. Cho nên, một sự việc dùng một đạo lý nói thì không xong được. Song, dùng lý luận Phật giáo nói thì viên mãn được. Nếu bạn tạo tội nghiệt thì đọa lạc vào ba đường ác. Nếu bạn làm công đức lành thì vượt ra tam giới. Cho nên nói, phàm là làm việc gì cũng không luống qua. « Hoa Anh đắc được giải thoát nầy ». Ðạo lý môn giải thoát đã nói ở trước, vị Hoa Anh Lạc Chủ Trú Thần minh bạch, hiểu rõ được. Lại nữa, Chủ Dạ Thần Phổ Ðức Tịnh Quang, được môn giải thoát, vui tịch tĩnh thiền định đại dũng kiện. Nghĩa lý ở trên chưa nói hết, bây giờ tiếp tục nói, cho nên gọi là lại nữa. Ở trên đã giảng qua Chủ Trú Thần, là Thần quản lý ban ngày. Ðương nhiên cũng phải có Thần quản lý ban đêm. Những vị Chủ Dạ Thần nầy, phân làm đầu hôm, giữa đêm và cuối đêm ba phần. Các vị Thần nầy quan sát chúng sinh vào ban đêm, xem họ có tạo tội nghiệt chăng ? Nếu tạo tội nghiệt thì ghi nhớ. Tương lai khiến cho họ thọ quả báo. Có khi thấy chúng sinh tạo tội nhẹ thì không ghi nhớ, tựa như không biết. Trong các vị Chủ Dạ Thần nầy, trong đó có bảy vị là thiện hữu của Thiện Tài đồng tử, trong năm mươi ba vị thiện tri thức. Vị Phổ Ðức Tịnh Quang Chủ Dạ Thần nầy, đức tính phổ biến để lợi ích chúng sinh, để cứu hộ chúng sinh, để khiến cho chúng sinh phát tâm đại bồ đề. Quang minh của vị nầy thanh tịnh vô ngại, ở trong quang minh lại hiện quang minh, hiện ra đủ thứ quang minh vô ngại, thật là diệu không thể tả. Vị nầy đắc được môn giải thoát, vui tịch tĩnh thiền định. Tịch là lặng yên không động, tĩnh là tĩnh mà thông đạt, do đó Ềtĩnh cực quang thông đạtỀ, nghĩa là lặng đến chỗ cùng cực, thì trí huệ quang sẽ hiện tiền. Tịch nhiên tức là : « Chư pháp tùng bản lai, Thường tự tịch diệt tướng ». Vì tịch diệt, cho nên là tĩnh. Vì tịch tĩnh thì được thiền lạc. Thiền định là gì ? Thiền là tiếng Phạn, đầy đủ là Thiền na, dịch là "tĩnh lự". Vì tĩnh lự mới có thiền, không tĩnh lự thì không có thiền. Ðịnh nghĩa là bất động, tóm lại, không động tức là định, động thì chẳng phải định. Có thiền mà không định, có định mà không thiền, thì không thể đắc được cảnh giới thiền duyệt vi thực. Công phu tu thiền định là ngồi thiền. Thiền là phải ngồi xuống, thì công phu mới hiện tiền, chẳng phải ngồi thiền là ngủ. Ngủ chẳng phải là ngồi thiền, mà là thiền ngủ. Ngủ chẳng phải thiền, thiền không thể ngủ. Khi nhập định thì lưng phải thẳng, đầu phải ngay, ngồi thẳng ngay ngắn, đầu không chúi, thân không nghiêng, hai mắt nửa nhắm nửa mở, đó là tư thế nhập định. Nhập định và ngủ khác nhau, ngủ thì mất đi linh tri linh giác, hồ đồ trong hồ đồ nhập mộng, gì cũng chẳng biết. Ðó là ngủ, chẳng phải định, nhập định cần có sức lực. Sức lực nầy chi trì thân thể không nghiêng ngã, không ngã về trước, không nghiêng về sau. Như thế, thì mới đắc được công phu thiền định. Vui thiền định là gì ? Tức là ở trong định đắc được một thứ khoái lạc không gì so sánh được. Thứ khoái lạc nầy, không cách chi có thể hình dung, vượt ra khỏi sự suy nghĩ. Do đó : « Ngôn ngữ đạo đoạn, Tâm hành xứ diệt ». Thứ vui thiền định nầy, là sự khoái lạc liên tục không ngừng, phải là người trải qua cảnh giới nầy, mới biết được diệu lạc của nó. Giống như: « Như người uống nước, Nóng lạnh tự biết ». Thiền chẳng phải nói, mà là thực hành. Có vui thiền định rồi, thì sinh ra một thứ tâm dũng mãnh tinh tấn, thứ dũng mãnh tinh tấn nầy chẳng phải là tầm thường, mà rất đặc thù, là một thứ đại dũng mãnh tinh tấn, là một thứ đại thiền định khoái lạc. Thứ tinh tấn nầy là kiên cố nhất, sự khoái lạc nầy là hằng thường nhất. Ðại dũng kiện tức là định dụng, tức cũng là kham được chẳng sợ. Sức lực nầy rất rộng lớn, chẳng có sức lực nào cản trở được. Vị Chủ Dạ Thần nầy, đắc được môn giải thoát nầy. Vị nầy là thiện tri thức thứ ba mươi hai của Thiện Tài đồng tử, tức cũng là thiện hữu Ly Cấu Ðịa, đã chứng đắc địa thứ hai của bậc Bồ Tát. Chủ Dạ Thần Hỉ Nhãn Quán Thế, được môn giải thoát, tướng công đức thanh tịnh rộng lớn đáng ưa thích. Vị Hỉ Nhãn Quán Thế Chủ Dạ Thần nầy, mắt luôn luôn hoan hỉ. Vị nầy dùng mắt hoan hỉ, để quán sát tất cả chúng sinh thế gian. Nếu có chúng sinh ở trong hoạn nạn, thì vị nầy duỗi tay ra cứu giúp chúng sinh ra khỏi dầu sôi lửa bỏng, khiến cho họ được mát mẻ. Vì nhân duyên đó, cho nên mới đắc được công đức tướng thanh tịnh rộng lớn đáng ưa thích, đó là tâm của Bồ tát. Vị nầy đắc được môn giải thoát nầy, và còn là thiện tri thức thứ ba mươi ba của Thiện Tài đồng tử, tức cũng là Thiện Hữu Phát Quang Ðịa, đã chứng địa thứ ba của bậc Bồ tát. Chủ Dạ Thần Hộ Thế Tinh Khí, được môn giải thoát, hiện khắp thế gian để điều phục chúng sinh. Vị Hộ Thế Tinh Khí Chủ Dạ Thần nầy, bảo hộ tinh khí tất cả hữu tình chúng sinh thế gian, khiến cho tinh khí của tất cả chúng sinh không mất đi. Vì vị nầy phát nguyện bảo hộ tinh khí của chúng sinh, cho nên hiện khắp trong thế gian. Vậy hiện khắp trong thế gian để làm gì ? Ðể điều phục chúng sinh cang cường. Vì tướng ngã của chúng sinh quá sâu, ngã kiến quá nặng, cho nên dính mắc tại ngã tướng và ngã kiến, dù thiệt thòi đi một chút cũng không được : "Ðây là ta, kia là của ta". Tóm lại, không chịu mình thiệt thòi, không muốn mình chịu khổ, đó đều là tác dụng của sự cang cường chấp trước. Vị Chủ Dạ Thần nầy phát nguyện để điều phục chúng sinh, khiến cho họ đều vào môn giải thoát, đều được lợi ích. Vị nầy là thiện tri thức thứ ba mươi bốn của Thiện Tài đồng tử, tức cũng là thiện hữu Diệm Huệ Ðịa, đã chứng địa thứ tư của bậc Bồ tát. Chủ Dạ Thần Tịch Tĩnh Hải Âm, được môn giải thoát, tích tập tâm vui mừng rộng lớn. Vị Tịch Tĩnh Hải Âm Chủ Dạ Thần. Tịch tĩnh hải âm là trong biển chẳng có âm thanh sóng gió. Biển cũng nhập định, chẳng có âm thanh, không nghe mà nghe, chẳng phải chẳng có âm thanh, mà là âm thanh tịch tĩnh, ban đêm chẳng có âm thanh gì hết, cho nên gọi là Tịch Tĩnh Hải Âm. Vị nầy đắc được tâm vui mừng rộng lớn, tâm vui mừng nầy, do từng chút từng chút tích tập mà thành, tức cũng là tích ít thành nhiều, do đó: « Tích cát thành tháp », cho nên tụ tập tâm vui mừng rộng lớn. Ai ai cũng biết vui mừng là tốt, song nhiều khi vẫn bi ai hoặc buồn phiền, tâm không vui mừng. Tại sao không vui mừng ? Vì chẳng tích tập tâm vui mừng rộng lớn. Nếu tích tập được tâm vui mừng rộng lớn, thì sẽ không buồn phiền. « Tự cổ thần tiên vô biệt pháp, Quảng sinh hoan hỉ không sinh sầu ». Thần tiên thì tiêu dao tự tại, khoái lạc vô ngần, vì họ có tâm vui mừng. Tại sao chúng sinh có khổ não? Vì có tâm bi ai, cho nên không được khoái lạc luôn luôn. Vị Chủ Dạ Thần nầy, đắc được tam muội tâm vui mừng rộng lớn, mà vào môn giải thoát tâm vui mừng rộng lớn, vị nầy là thiện tri thức thứ ba mươi lăm của Thiện Tài đồng tử, tức cũng là thiện hữu Nan Thắng Ðịa, đã chứng đắc địa thứ năm của bậc Bồ tát. Chủ Dạ Thần Phổ Hiện Cát Tường, được môn giải thoát, lời nói vừa ý tự tại thâm sâu. Vị Phổ Hiện Cát Tường Chủ Dạ Thần. Cát tường là hiện tượng tốt, hung ác là hiện tượng xấu, cho nên ai ai cũng thích cát tường mà chẳng thích hung ác. Do đó : « Cát tường như ý », cát tường là chẳng có việc xấu, như ý là toại tâm như ý. Vị nầy hiện ra khắp các hiên tượng cát tường, nếu ai gặp được vị nầy, thì chắt chắn sẽ cát tường, sẽ khoái lạc. Vị nầy đắc được tự tại thâm hậu phi thường, trong tâm có sự cảm giác hoan hỉ. Ai nghe được lời nói và âm thanh cũng đều vừa ý, đều vui mừng, đó là môn giải thoát vị nầy đắc được. Vị nầy là thiện tri thức thứ ba mươi sáu của Thiện Tài đồng tử, cũng là thiện hữu Hiện Tiền Ðịa đã chứng được địa thứ sáu của bậc Bồ Tát. Chủ Dạ Thần Phổ Phát Thụ Hoa, được môn giải thoát, quang minh đầy khắp hoan hỉ tạng rộng lớn. Vị Phổ Phát Thụ Hoa Chủ Dạ Thần nầy, khiến cho tất cả cây cối đồng thời nở hoa. Môn giải thoát của vị nầy đắc được là, phóng quang minh đầy khắp pháp giới. Và còn đắc được hoan hỉ tạng rộng lớn, tức cũng là hoan hỉ vô cùng vô tận. Vị nầy là thiện tri thức thứ ba mươi bảy của Thiện Tài đồng tử, tức cũng là thiện hữu Viễn Hành Ðịa, đã chứng được địa thứ bảy của bậc Bồ Tát. Chủ Dạ Thần Bình Ðẳng Hộ Dục, được môn giải thoát, khai ngộ chúng sinh, khiến cho căn lành thành thục. Vị Bình Ðẳng Hộ Dục Chủ Trú Thần nầy, bình đẳng bảo hộ và giáo dục đối với tất cả chúng sinh, chẳng có tâm phân biệt, do đó: ỂMắt từ trông chúng sinhỀ, khiến cho tất cả chúng sinh, đều đắc được khai ngộ và chứng quả bình đẳng. Vị nầy đắc được môn giải thoát, khai ngộ chúng sinh, khiến cho chúng sinh khai mở tri kiến của Phật, ngộ tri kiến của Phật, vào tri kiến của Phật. Tức cũng là khai thị ngộ nhập tri kiến của Phật. Khiến cho tất cả chúng sinh, không trồng căn lành thì khiến cho họ trồng, người đã trồng căn lành thì khiến cho tăng trưởng, đã tăng trưởng thì khiến cho thành thục, đã thành thục thì khiến cho họ được giải thoát. Vị nầy thường khiến cho căn lành của chúng sinh được thành tựu viên mãn, vào môn giải thoát nầy. Vị nầy là thiện tri thức thứ ba mươi tám của Thiện Tài đồng tử, tức cũng là thiện hữu Bất Ðộng Ðịa đã chứng được địa thứ tám của bậc Bồ Tát. Chủ Dạ Thần Du Hí Khoái Lạc, được môn giải thoát, vô biên từ cứu hộ chúng sinh. Vị Du Hí Khoái Lạc Chủ Dạ Thần nầy, thích du hí và khoái lạc. Giống như trong đạo tràng của chúng ta, có những trẻ em chạy qua chạy lại chơi đùa, chúng cho rằng đó là chơi vui, đó là du hí. Trẻ con đến đây chẳng nghe kinh, mà chỉ đùa giỡn chạy la ồn ào, đó là khoái lạc. Chúng ta chúng sinh ở trong thế giới nầy cũng thế. Chư Phật Bồ Tát xem chúng ta cũng như trẻ con, chạy nhảy đùa giỡn, suốt ngày điên đảo thị phi. Chúng ta đều cảm thấy là khoái lạc. Vì chúng sinh thích du hí khoái lạc, cho nên vị Chủ Dạ Thần nầy, dùng sự du hí khoái lạc để giáo hóa chúng sinh, để khai đạo chúng sinh. Vị nầy đắc được môn giải thoát, vô biên từ cứu hộ chúng sinh, dùng vô biên từ để ái hộ tất cả trẻ con. Có những vị cư sĩ thấy có trẻ con thì không vui, cho nên không đến nghe kinh. Họ không những chẳng đến nghe kinh, mà còn kêu người khác cũng đừng đến nghe kinh. Thật ra, dù không có trẻ con, họ cũng không đến nghe kinh, cũng không đến nghiên cứu Phật pháp, đó là khéo từ chối mà thôi. Vậy họ nghiên cứu gì ? Nghiên cứu nhảy đầm, nghe âm nhạc, xem truyền hình, họ dồn hết thời giờ vào những việc du hí vô ích, cho rằng đó là khoái lạc. Bây giờ, có những người tại gia và xuất gia rất tệ hại, họ chẳng tinh tấn, không lạy Phật, không nghe kinh, không nghiên cứu Phật pháp, ngược lại còn ganh ghét người khác đến đây nghe kinh nghe pháp, còn khuyên họ đừng đến vô tri vô thức, nghe họ nói thế bèn tin, cho rằng họ nói có lý. Họ nói: « Trẻ con ở trong đạo tràng vừa khóc vừa la ồn ào, sư phụ giảng kinh lại nghe không rõ, không bằng ở nhà xem truyền hình còn khoái lạc hơn ». Thật ra, đó là mượn cớ không đến nghe kinh. Thứ người nầy, họ vốn chẳng muốn tu học Phật pháp, còn làm ảnh hưởng đến người khác không học Phật pháp, cho nên mới có tư tưởng như thế. Thật là dẫn người vào địa ngục, dẫn người vào đường tà. Cho nên, các vị phải chú ý loại người nầy, đừng để mắc lừa họ mà thối đạo tâm. Vô biên từ tức là tha thứ cho người, bất cứ ai khinh thường ta, hoặc phỉ báng, vu cáo đều phải nhẫn nại. Giống như trẻ con khóc, đừng đánh nó, cũng đừng chưởi nó, dùng lời từ bi để nói với nó, thì từ từ nó sẽ hết khóc, đó là vô biên từ. Chủ Dạ Thần Chư Căn Thường Hỉ, được môn giải thoát, môn đại bi hiện khắp trang nghiêm. Vị Chư Căn Thường Hỉ Chủ Dạ Thần nầy, mắt tai mũi lưỡi thân ý các căn luôn luôn biểu hiện sự hoan hỉ. Sự hoan hỉ nầy là pháp hỉ sung mãn. Nhãn căn thấy được pháp thì đắc được pháp hỉ sung mãn. Nhĩ căn mà nghe được pháp thì đắc được pháp hỉ sung mãn. Tĩ căn mà ngửi được pháp thì đắc được pháp hỉ sung mãn. Thiệt căn mà nếm được pháp thì đắc được pháp hỉ sung mãn. Thân căn mà giác được pháp thì đắc được pháp hỉ sung mãn. Ý căn mà biết được pháp thì cũng đắc được pháp hỉ sung mãn. Cho nên gọi là Chư Căn Thường Hỉ Chủ Dạ Thần. Tâm từ bi của vị nầy rất lớn, luôn luôn giáo hóa chúng sinh, ban đêm bố thí tất cả pháp để gia bị cho tất cả chúng sinh, hoặc khiến cho chúng sinh ở trong mộng, đắc được lợi ích pháp thí, hoặc là trong sự ngồi nằm, cũng đắc được lợi ích pháp thí. Vị nầy thí pháp âm bình đẳng, khiến cho chúng sinh phát tâm bồ đề, cải ác hướng thiện. Chữ « chư » của chư căn nầy, có thể làm từ trợ ngữ để nói. Từ trợ ngữ là nói một căn, tức là nói riêng về nhãn căn thường hỉ. Vậy vừa mới giảng "chư căn", là nói nhãn nhĩ tĩ thiệt thân ý sáu căn. Bây giờ lại nói là nhãn một căn. Nếu nói riêng nhãn căn tức là từ trợ ngữ. « Chư » tức là chỉ một, cho nên nói nhãn căn thường thường hoan hỉ. Vị Chủ Dạ Thần nầy làm việc ban đêm. Làm việc gì ban đêm ? Vị nầy dùng pháp thí để cứu hộ tất cả chúng sinh, cho nên đắc được môn giải thoát, hiện khắp tất cả các nơi để trang nghiêm cõi Phật. Tất cả công đức của vị nầy làm, đều hồi hướng cõi nước chư Phật mười phương, đều trang nghiêm cõi nước chư Phật trong mười phương. Ðó gọi là dùng sự trang nghiêm cho Phật, mà tự trang nghiêm cho mình, trang nghiêm cõi nước chư Phật, tức là trang nghiêm cõi nước chính mình. Tại sao ? Vì khi tương lai thành Phật, thì cõi nước của mình càng tô điểm trang nghiêm mỹ lệ. Vì phát tâm lớn vô lượng vô biên không thể tả, cho nên đắc được sự trang nghiêm cũng vô cùng vô tận không thể tả. Vị nầy dùng môn đại bi trang nghiêm, để phổ độ tất cả chúng sinh. Ðại bi tức là cứu khổ chúng sinh, khiến cho chúng sinh lìa khổ được vui, vị nầy dùng pháp môn nầy, minh bạch được cảnh giới nầy mà đắc được môn giải thoát nầy. Vị nầy dùng môn đại bi hiện thân trang nghiêm, để cảm hóa chúng sinh, cho nên có câu chuyện « Thạch ốc lưu ảnh, độc long hoa tâm ». Phật nói với tôn giả A Nan rằng: Trước kia, Như Lai đến núi Cổ Tiên, nước Na Càn Ha La, tại rừng Hoa Ðảm Bặc, bên hồ của rồng độc ở phía sau suối thanh liên hoa. Ở trong động La Sát, có năm con quỷ La Sát, biến hóa làm long nữ và thông dâm với rồng độc. Rồng độc làm mưa đá, khiến cho quỷ La Sát chạy tán loạn, do đó tạo thành tai nạn đói khát và bệnh ôn dịch. Hoạn nạn trải qua hơn bốn năm, vị quốc vương sợ hãi bèn khấn vái thần linh nhưng chẳng kết quả. Lúc đó, có vị Phạm Chí tán thán công đức của Phật, cho nên vị quốc vương mới đốt hương khấn vái ở xa thỉnh đức Như Lai. Như Lai nhận sự thỉnh mời của quốc vương Phất Ba Phù Ðề nước Na Càn Ma La, thị hiện thần thông biến hóa rộng lớn. Quỷ La Sát và rồng độc đều thọ sự cảm hóa, cải tà quy chánh. Lúc đó, Long vương quỳ chắp tay ở trước Phật, thỉnh Phật ở lâu chỗ nầy, nói : « Nếu Phật không ở thì tôi sẽ phát tâm ác, không thể đắc được Vô thượng bồ đề, cho nên Phật mới hứa khả mà không rời hang rồng ». Một lần nọ, Phật nhận lời mời của Long Vương vào thành giáo hóa, du hành đến những nơi mà đã từng hành Bồ Tát đạo trong qúa khứ, lúc đó, các loài rồng thấy được Phật muốn bỏ đi, mới khóc lóc thỉnh cầu đức Phật từ bi ở lâu, bèn nói với Phật: « Tại sao muốn bỏ chúng tôi mà đi ? Mỗi ngày tôi không thấy được tôn dung của Phật, thì sẽ làm việc ác, chắt sẽ phải đọa vào ba đường ác ». Lúc đó, Phật an ủi Long Vương nói: « Ta đã nhận sự thỉnh cầu của nhà ngươi rồi, ngồi ở trong hang của nhà ngươi một ngàn năm trăm năm », đức Phật nói xong, bèn vọt thân nhập vào trong đá, tượng đó sáng rõ như gương. Do đó, các loài rồng luôn luôn thấy được đức Phật ngồi kiết già ở trên vách đá, bóng hiện ra ngoài. Nhờ đó, loài rồng chắp tay vui mừng, về sau không ra khỏi nơi đó. Chủ Dạ Thần Thị Hiên Tịnh Phước, được môn giải thoát, khiến khắp tất cả chúng sinh đầy đủ sự vui thích. Vị Thị Hiện Tịnh Phước Chủ Dạ Thần nầy, thường thị hiện ra cõi nước thanh tịnh. Chúng sinh có phước đức đều được độ đến bờ kia. Vậy, chúng sinh chẳng có phước đức thì không được độ chăng ? Cũng được độ, nhưng thời gian phải chậm một chút, chẳng phải được độ cùng lúc. Trước hết, độ chúng sinh bậc thượng, sau mới độ chúng sinh bậc trung, cuối cùng thì độ chúng sinh bậc hạ, độ có thứ tự. Thị hiện cũng như thế, trước hết thị hiện cõi thanh tịnh, sau mới thị hiện cõi nước nửa tịnh nửa uế, cuối cùng thị hiện cõi đời ác năm trược. Ðời ác năm trược là thế giới của chúng ta đây. Năm trược là: Kiếp trược, kiến trược, phiền não trược, chúng sinh trược, mạng trược, năm thứ cấu trược. Vì có năm thứ không thanh tịnh, cho nên ảnh hưởng thế giới của chúng ta đang ở, thành là đời ác năm trược. Vị Chủ Dạ Thần nầy, hiện sức đại thần thông, quán sát khắp tất cả chúng sinh, ai có duyên chín mùi, thì đi độ chúng sinh đó. Chúng sinh cơ duyên chưa chín mùi, thì phải chờ đợi. Chúng sinh căn tánh kém nhất, thì đợi cuối cùng mới độ. Tóm lại, bất cứ căn lành lợi, hoặc hạ liệt, đều được độ, song chia ra độ trước độ sau mà thôi. Phàm là việc chúng sinh ưa thích, thì vị Chủ Dạ Thần nầy, sẽ khiến cho họ mãn nguyện. Ví như bạn thích chó, thì cho bạn một con chó xinh đẹp, bạn thích mèo thì cho bạn một con mèo đáng mến. Có người nói: ỂPháp sư giảng pháp gì vậy ?Ề Tức là giảng pháp chó mèo. Ðộ người không được, thì độ chó mèo cũng không sai. Bạn đừng khinh thường chó mèo, Phật Thích Ca trong quá khứ, vừa làm chó vừa làm mèo, vừa làm nai, vừa làm rồng, cho nên tại Ấn Ðộ còn có cổ tích Lộc dã uyển. Các bạn đừng xem thường tất cả chúng sinh, tất cả chúng sinh đều có Phật tánh, đều có thể thành Phật. Trên thế gian nầy, những gì con người mong muốn mà được mãn nguyện thì vui vẻ, còn không được điều mà mình mong muốn thì buồn rầu, đó là việc thường tình ! Trừ khi, người tu hành đã đến nhà rồi thì miễn bàn. Vị Chủ Dạ Thần nầy, đắc được môn giải thoát nầy. Chỉ cần chúng sinh thích gì, thì vị nầy nhất định sẽ làm cho họ tùy tâm mãn nguyện. Bấy giờ, Chủ Dạ Thần Phổ Ðức Tịnh Quang, nương oai lực của đức Phật, quán khắp tất cả chúng Chủ Dạ Thần, mà nói ra bài kệ. Lúc đó, là lúc nào ? Tức là khi vị Thị Hiện Tịnh Phước Chủ Dạ Thần, nói kinh trường hàng xong rồi, thì lúc đó, vị Phổ Ðức Tịnh Quang Chủ Dạ Thần, nương đại oai thần lực của Phật, quán sát khắp tất cả đại chúng Chủ Dạ Thần, mà nói ra bài kệ để tán thán Phật. Các ông hãy quán Phật tu hành Rộng lớn tịch tĩnh như hư không Biển dục vô tận đều trị tịnh Ly cấu đoan nghiêm chiếu mười phương. « Các ông hãy quán Phật tu hành ». Vị Phổ Ðức Tịnh Quang Chủ Dạ Thần nói : Các ông hãy quán sát hạnh môn tu hành của Phật. Những pháp môn Phật tu hành, là khó hành mà hành được, khó nhẫn mà nhẫn được. Người chịu khổ không được mà Ngài chịu được. Hạnh người tu không được mà Ngài tu được, cho nên hãy quán sát những khổ hạnh khó hành của Phật tu. Ðây chẳng phải nói suông là được, mà phải y pháp tu hành, tự mình hỏi mình, Phật tu khổ hạnh khó hành mà tu được, ta có thể tu được chăng ? Chẳng phải chỉ quán sát là xong, mà phải thực hành. Nếu không thể y pháp tu hành, thì nên sinh tâm sám hối. « Rộng lớn tịch tĩnh như hư không ». Hạnh môn của Phật tu là rộng lớn nhất, tịch tĩnh nhất, giống như hư không. Hư không thì rộng lớn không bờ mé, hư không thì tịch tĩnh không âm thanh. Tướng của hư không là rộng lớn mà tịch tĩnh. Phật chẳng có sự chấp trước, tu mà không tu, chứng mà không chứng. Không tu, không chứng, không chấp trước, cho nên giống như hư không. Hư không thì chẳng có tướng, nhưng không lìa tất cả tướng, cũng là: « Tức tất cả tướng, lìa tất cả tướng ». « Biển dục vô tận đều trị tịnh ». Dục vọng của con người chẳng có bờ mé, cũng chẳng biết đủ, do đó: « Nhân tâm bất túc xà thôn tượng ». Dục niệm của con người chẳng có khi nào ngừng nghỉ, không bờ bến giống như biển cả, cho nên gọi là biển dục. Biển dục của chúng sinh tuy nhiên chẳng có bờ bến, song Phật dùng phương tiện pháp môn, làm cho biển dục của chúng sinh đều được thanh tịnh, khiến cho chúng sinh trở về cội nguồn, khôi phục lại bản lai chân diện mục, khiến cho chúng sinh giác ngộ tất cả, biết rõ pháp thế gian là vô thường. « Ly cấu đoan nghiêm chiếu mười phương ». Phật là pháp thân ly cấu thanh tịnh, cho nên đoan chánh trang nghiêm đầy đủ, tức cũng là ba mươi hai tướng, tám mươi vẻ đẹp trang nghiêm thân. Trí huệ quang minh chiếu soi khắp mười phương thế giới. Bây giờ, chúng ta đang giảng Kinh Hoa Nghiêm Ðại Phương Quảng Phật, tức cũng là nơi trí huệ quang của Phật chiếu. Tất cả thế gian đều thích thấy Trong vô lượng kiếp gặp một lần Ðại bi nghĩ nhớ khắp hết thảy Môn giải thoát nầy Quán Thế thấy. « Tất cả thế gian đều thích thấy ». Tất cả thế gian dù hữu tình hay vô tình thế gian, bao quát tất cả chúng sinh trong mười phương. Ðều thích thấy, tức là tất cả chúng sinh đều thích thấy được Phật. « Trong vô lượng kiếp gặp một lần ». Song, trong vô lượng vô biên đại kiếp, mới có thể gặp được Phật, chẳng phải thường gặp được Phật. « Ðại bi nghĩ nhớ khắp chúng sinh ». Phật dùng tâm đại bi để giáo hóa chúng sinh, nghĩ chúng sinh, tưởng chúng sinh, cho nên mới độ chúng sinh. Phật đều tưởng nhớ tất cả hết thảy chúng sinh khắp mọi nơi, cho nên nói đại bi nghĩ nhớ khắp chúng sinh. « Môn giải thoát nầy Quán Thế thấy ». Môn giải thoát nầy, vị Hỉ Nhãn Quán Thế Chủ Dạ Thần thấy hiểu biết được. Người tu đạo phải ngày càng tinh tấn, ngày càng có tâm thành, ngày càng có tâm sám hối. Nếu ngày càng lười biếng giải đãi, ngày càng cẩu thả, tu hành như thế, thì vĩnh viễn chẳng có tiến bộ, đừng nói đến sự thành tựu. Phải luôn luôn giữ chánh niệm, đừng khởi vọng tưởng, đừng sinh dục niệm. Nếu muốn đừng sinh dục niệm, thì trước hết phải giữ quy cụ. Quy cụ nầy chẳng phải là quy cụ của một người, mà là quy cụ của mọi người. Mọi người phải giữ quy cụ, vì không nương quy cụ thì không thể thành vuông tròn. Do đó, người tu đạo không giữ quy cụ, thì cũng giống như gỗ mục, không thể đẽo gọt được, cùng đạo lý ấy. Nếu làm thầy Tỳ kheo mà không giữ quy cụ, thì chẳng có chút giá trị gì. Thầy Tỳ Kheo mà không giữ quy cụ, thì người tại gia học Phật pháp với thầy Tỳ kheo đó, càng không giữ quy cụ. Cử chỉ hành động nói năng của thầy Tỳ Kheo, đều là mô phạm cho người, cho nên đi đứng nằm ngồi, đều phải hợp với quy cụ, đó là oai nghi đại biểu của người xuất gia. Nếu Tỳ Kheo khinh sư mạn pháp, chẳng tôn trọng đối với sư phụ, cũng chẳng cung kính đối với pháp, thì đó là làm Tỳ Kheo gì ? Ðừng nói đến muốn khai ngộ, muốn thành Phật. Như thế chỉ là càng ngày càng đọa lạc, làm Tỳ Kheo không hiểu quy cụ, thật không bằng người tại gia. Người tại gia đều hiểu được quy cụ, đều biết đi thỉnh pháp, phải đắp y trì cụ. Ngược lại, làm Tỳ Kheo mà không hiểu quy cụ nầy, vậy làm Tỳ Kheo gì vậy ? Tôi thấy thứ người nầy, thật rất là đau lòng ! Ðạo Sư cứu hộ các thế gian Chúng sinh đều thấy ở trước họ Khiến cho các cõi đều thanh tịnh Hộ Thế quán sát được như vậy. « Ðạo sư cứu hộ các thế gian ». Ðạo sư tức là sư tiếp dẫn, tức cũng là đức Phật. Vị Phật nầy tức là Phật Thích Ca Mâu Ni, chẳng phải mười phương ba đời tất cả chư Phật. Song, mười phương ba đời tất cả chư Phật, và Phật Thích Ca Mâu Ni, đều cứu hộ các thế gian, cứu tất cả các chúng sinh ra khỏi biển khổ, đồng thời bảo hộ tất cả chúng sinh và tất cả hữu tình thế gian. « Chúng sinh đều thấy ở trước họ ». Phật xuất hiện ra đời, tất cả chúng sinh đều thấy được Phật ở trước mặt họ, để vì họ thuyết pháp. Ðây cũng giống như mặt trăng hiện khắp ở trong tất cả nước. Mặt trăng trong tất cả nước, vẫn do một mặt trăng hiện ra. Bây giờ, Phật hiện ra ở trước mặt chúng sinh. Tâm của chúng sinh tức là nước, Phật là mặt trăng, nếu tâm nước của chúng sinh lắng trong không đục, thì mặt trăng sẽ hiện tiền. Do đó: « Phật thị thanh lương nguyệt, Thường du tất kính không, Chúng sinh tâm cấu tịnh, Bồ đề ảnh hiện trung ». Nghĩa là: Phật như mặt trăng mát mẻ, Thường lơ lửng trong hư không, Tâm nước chúng sinh lắng trong, Bồ đề giác đạo sẽ hiện ra. « Khiến cho các cõi đều thanh tịnh». Phật khiến cho tất cả chúng sinh ở trong các đường ác, đều được tội diệt phước sinh, nghiệp sạch tình không, đều đắc được nghiệp báo thanh tịnh. « Hộ Thế quán sát được như vậy ». Cảnh giới nầy, vị Hộ Thế Tinh Khí Chủ Dạ Thần quán sát được, hiểu biết được. Xưa Phật tu trị biển hoan hỉ Rộng lớn vô biên không thể dò Nên ai thấy được đều vui thích Tịch Tĩnh Hải Âm ngộ thấy được. « Xưa Phật tu trị biển hoan hỉ ». Ðức Phật trong vô lượng kiếp về trước, khi bắt đầu tu hành và trị lý, thì tu hành hoan hỉ. Do đó: « Tự cổ thần tiên vô biệt pháp, Quảng sinh hoan hỉ bất sinh sầu ». Thần tiên thì chẳng còn sinh tử, các Ngài đều tu hành hoan hỉ. Hạnh hoan hỉ tức là đối với bất cứ người nào, cũng luôn luôn sinh tâm hoan hỉ, dù họ đối với mình không tốt, mình cũng sinh tâm hoan hỉ đối với họ. Tu hạnh hoan hỉ phải có tâm thường hằng mới thành tựu. Chẳng phải tu mười ngày, hai mươi ngày thì thành công, mà là phải tu hạnh nầy đời đời kiếp kiếp, tức là không nóng giận đối với bất cứ ai, không sinh phiền não với bất cứ ai. Chỉ tu hành tiến tới, không thối lùi về sau, tinh tấn tinh tấn càng tinh tấn, dũng mãnh dũng mãnh càng dũng mãnh ! Trong quá khứ, Ðức Phật tu hành hoan hỉ, thì bất cứ ai đối với Ngài không tốt, Ngài cũng đều sinh tâm hoan hỉ, mà không sinh tâm phiền não, cũng chẳng nóng giận. Chúng ta là đệ tử của Phật, thì hãy y theo hạnh của Phật tu mà tu hành. Trong Thái Căn Ðàm có mấy câu : « Quang phong tế nguyệt, thảo mộc hân hân Nộ vũ tật phong, cầm điểu thê thê Cố thiên địa bất khả nhất nhật vô hoà khí, Nhân tâm bất khả nhất thời vô hỉ thần ». Ðại ý là: Trời chẳng có mây gió, thì ánh trăng rạng soi, cỏ cây đều vui vẻ hớn hở. Khi cuồng phong bạo vũ nổi lên, thì cầm thú chim chóc đều bị thảm thê lương. Vì nguyên nhân đó, cho nên giữa trời đất, một ngày không thể chẳng có hòa khí; trong tâm con người, phải luôn luôn hoan hỉ vui vẻ. « Rộng lớn vô biên không thể dò ». Biển hoan hỉ rộng lớn chẳng có bờ bến, không thể đo lường. « Nên ai thấy được đều vui thích ». Vì nhân duyên đó, cho nên chúng sinh thấy được Phật, đều sinh tâm hoan hỉ vui vẻ. « Tịch Tĩnh Hải Âm ngộ thấy được ». Cảnh giới nầy, môn giải thoát nầy, vị Tịch Tĩnh Hải Âm Chủ Dạ Thần minh bạch được. Cảnh giới Như Lai không thể lường Tịch mà diễn được khắp mười phương Khiến khắp chúng sinh tâm thanh tịnh Thi Lợi Dạ Thần nghe nhảy nhót. « Cảnh giới Như Lai không thể lường ». Như Lai tức là: "Không từ đâu đến cũng chẳng đi về đâu". Bậc Như Lai giống như đến mà chẳng đến. Có đi chăng ? Cũng chẳng đi. Không đến không đi, cho nên gọi là Như Lai. Như Lai là một trong mười hiệu của Phật, tức cũng là Phật. Cho nên, Như Lai tức là Phật, Phật tức là Như Lai. Một số người không hiểu Phật pháp, gọi Phật là Như Lai Phật. Thật ra, tức là Phật Phật, Phật Phật đạo đồng, Phật Phật đều như nhau. Phật và Phật là một thể, giống như quang minh với quang minh là một. Tuy nhiên quang minh có màu đỏ, màu vàng, màu trắng, màu tía, nhưng quang minh tương hợp, đều là quang minh. Phật với Phật chẳng phân biệt đó đây, cho nên mới nói: « Ba đời mười phương Phật, Ðều cùng một pháp thân ». Tức cũng là một pháp thân, một quang minh. Phật thì một quang minh, tại sao chúng ta chẳng phải là một quang minh ? Song, quang minh chẳng phải là một, nhưng khí là một. Khí là gì ? Tức là nóng giận. Bạn có nóng giận, tôi cũng có nóng giận, y cũng có nóng giận, mọi người cũng có nóng giận. Nếu biến sự nóng giận nầy, thành quang minh thì tốt biết bao ! Nếu tiêu diệt được sự nóng giận thì là quang minh, tức là trí huệ. Tại sao con người ngu si ? Vì có nóng giận. Nóng giận là do vô minh phiền não tích tập mà thành. Có sự nóng giận thật là đáng thương xót, phải biết lửa vô minh thường thiêu đốt rừng công đức. Vì có sự nóng giận cho nên sinh tâm sân hận. Tâm sân hận sinh ra rồi, thì tâm sát hại cũng sinh ra. Phải biết : Tâm sát hại, trộm cắp, dâm dục, nói dối, uống rượu, đều từ vô minh, phiền não, nóng giận, mà biến thành. Cho nên, tôi mới nói sự nóng giận của con người là như nhau. Nhất là, tôi là người xuất gia tâm tham dễ sợ. Tham gì ? Tham sự nóng giận của người khác. Tôi muốn hết thảy mọi người, hãy đem tâm nóng giận bố thí cho tôi. Song, các bạn những người Mỹ đều xả bỏ chẳng đặng. Ôm ấp sự nóng giận, so với trân châu đá quý còn quý hơn. Bây giờ, nói với các bạn, xả bỏ không được cũng xả bỏ, không xả bỏ không được, không xả bỏ thì chẳng có phần thành Phật. Nếu xả bỏ được thì sẽ có phần thành Phật. Tất cả chúng sinh đều có Phật tánh, song tất cả chúng sinh đều có ma tánh. Ma tánh tức là nóng giận. Bạn hãy nghĩ xem, có nóng giận thì sẽ tác quái, không có nóng giận, thì trở về nguồn cội, hiện ra đại quang minh tạng, Bát nhã trí huệ. Tôi giảng nãy giờ quên mất thời gian, quên mất đề mục, nhưng hiện tại lìa đề chưa xa lắm, bây giờ trở lại ! Trở lại đâu ? Trở lại cảnh giới của Phật ở trên. Có người nói : Hòa Thượng có hiểu biết cảnh giới của Phật chăng ? Tôi chỉ hiểu biết chút chút cảnh giới của Phật, nhưng không nhiều. Người khác lại hỏi: ỂTại sao nói hiểu biết chút chút ?Ề Vì cảnh giới không thể lường được, chẳng có số lượng, chẳng có bờ bến, hoặc là không thể nói không thể nói. Tôi chỉ hiểu được cảnh giới không thể nói. Cảnh giới nầy tức là chỗ tôi biết. Nếu bạn truy cứu gốc rễ, thì cứu kính không thể nói ! Có người lại hỏi: ’’Tức nhiên là không thể nói, sao còn phải nói" ? Tôi cũng không thể nói, bạn cũng không cần hỏi. Tôi cũng không thể nói, đó là cảnh giới của Phật, bạn cũng không cần hỏi, đó tức là cảnh giới của Phật. Biết được chút chút nầy thì khá rồi, đừng biết quá nhiều, quá nhiều thì có phiền não. Lại có người hỏi : ‘’Chút chút nầy là gì ? ‘’Tức là phá vô minh, hiển pháp tánh. Phá được vô minh, thì pháp tánh tự nhiên sẽ hiển hiện ra, đó tức là chút chút cảnh giới của Phật. Minh bạch được cũng là cảnh giới của Phật, tất cả tất cả đều là cảnh giới của Phật. Nếu không minh bạch, cũng là cảnh giới của Phật. Bất quá bạn không biết, tạm thời chẳng thấu hiểu mà thôi. Ðó là đạo lý cảnh giới của Phật không thể lường. ‘’Tịch mà diễn được khắp mười phương’’. Cảnh giới của Phật là: ’’Tĩnh lặng không động, Cảm mà toại thông.’’ Tĩnh lặng không động, mà chẳng có tướng tịch diệt, cảm mà toại thông, mà chẳng có tướng động. Cho nên mới nói: Tịch mà diễn được khắp mười phương. Nghĩa là : Không động đạo tràng mà khắp cùng pháp giới. Ðạo tràng, vì tịch mà diễn được, ở trong tĩnh lặng, Phật vì chúng sinh trong mười phương pháp giới, mà diễn nói diệu pháp. Chúng ta đến chỗ nầy, thì chỗ kia chẳng có, đến chỗ nọ, thì chỗ nầy chẳng có. Vì không thể phân thân, cho nên không thể tịch mà diễn được. Ðộng tức là ngồi máy bay đến nơi nào đó để diễn nói, hoặc ngồi thuyền đến nơi đó để diễn nói. Phật có trăm ngàn ức hóa thân, cho nên tịch mà diễn được, không cần mua vé máy bay, hoặc tàu, mà đến khắp cùng mười phương thế giới, vì chúng sinh diễn nói diệu pháp. Có người nói: ’’Ðó thật là quá thần diệu ! Nhưng bây giờ là thời đại khoa học, con người đi đến được mặt trăng mà còn giảng như thế, thật là không thực tế’’! Tức nhiên bạn nói điều nầy không thực tế, vậy thì bạn hãy đi tìm thực tế ! Tôi tin rằng bạn tìm chẳng được. Tự tánh của chúng ta có sự diệu dụng như vậy. Song, bạn chẳng minh bạch được đạo lý nầy. Giống như trong túi áo của bạn có hạt minh châu, mà bạn chẳng biết dùng nó, tuy là có mà giống như không có. Nếu bạn dùng được nó, thì ngàn biến vạn hóa, tùy tâm mãn nguyện, nhưng bạn phải biết dùng. Nếu không dùng được, thì như ý cũng không như ý, còn dùng được, thì không như ý cũng như ý. Tại sao chúng ta có vô minh ? Vì ‘’ý‘’ chẳng thanh tịnh. Tại sao chúng ta có phiền não ? Vì ‘’ý‘’ chẳng thanh tịnh. Nếu ý thanh tịnh, thì vô minh cũng phá tan, phiền não cũng dứt. Vô minh không thể phá tan, thì phiền não không thể dứt. Tại sao ? Vì phiền não phải biến, biến gì ? Biến phiền não thành bồ đề, phá vô minh thành trí huệ. Nếu đoạn được phiền não, làm sao biến thành bồ đề ? Cho nên không cần đoạn trừ, mà biến nó thành bồ đề. Phiền não tức là không minh bạch, mới sinh phiền não, bồ đề tức là minh bạch, mới sinh bồ đề. Ví như băng là phiền não, nước là bồ đề. Chẳng phải bảo đem băng nấu cho khô sạch, thì gọi là đoạn phiền não, không phải vậy ! Hãy làm cho băng tan thành nước, do đó : ’’Băng tức là nước, nước tức là băng’’. ‘’Phiền não tức là bồ đề, bồ đề tức là phiền não.’’ Tóm lại, bạn minh bạch tức là bồ đề, bạn hồ đồ tức là phiền não. Phiền não và bồ đề chẳng hai, mà là một. Cho nên đừng "đầu lại thêm đầu", ở ngoài phiền não đi tìm bồ đề. Kinh văn ở trên nói khắp mười phương. Phiền não cũng khắp mười phương, bồ đề cũng khắp mười phương, trí huệ quang minh của Phật cũng khắp mười phương, đó đều có mối quan hệ với nhau. Tại sao nói phiền não, vô minh, nóng giận, đều khắp mười phương ? Lý nầy rất đơn giản, vì trong mười phương đều có chúng sinh, có chúng sinh thì có phiền não, vô minh, nóng giận. Bồ đề cũng như thế, cũng khắp mười phương. Có chúng sinh thì có tánh bồ đề, tánh bồ đề tức là Phật tánh, do đó: "Tất cả chúng sinh đều có Phật tánh, Ðều có thể thành Phật". "Khiến khắp chúng sinh tâm thanh tịnh". Trong Kinh Hoa Nghiêm có câu: "Nếu ai muốn biết cảnh giới Phật, Hãy tịnh ý mình như hư không". Bạn muốn minh bạch cảnh giới của Phật, thì hãy làm cho ý thanh tịnh, thanh tịnh như hư không, dù một cũng chẳng chỗ thanh tịnh, bị bụi khói làm ô nhiễm. Tuy hư không bị ô nhiễm, đó là tính tạm thời, từ từ sẽ thanh tịnh, không khí không thanh tịnh, không lâu thì sẽ thanh tịnh. Phật khiến cho ý thức của tất cả chúng sinh được thanh tịnh, chẳng có chút ô nhiễm tồn tại. "Thi Lợi Dạ Thần nghe nhảy nhót". Thi Lợi tức là Phổ Hiện Các Tường, vị Dạ Thần nầy nghe được cảnh giới không thể tả nầy, mà vui mừng nhảy nhót, do đó: "Nghe pháp tâm quá đỗi vui mừng mà nhảy múa". Tôn giả Ðại Ca Diếp, là đệ tử lớn của đức Phật, chuyên tu khổ hạnh, cho nên xưng là đầu đà đệ nhất. Tôn giả nghe được pháp diệu quá êm tai, chẳng kiềm chế được bèn nhảy múa lên, cho nên pháp khiến cho ngu si chuyển thành trí huệ. Mục đích chúng ta học Phật pháp là học trí huệ. Có trí huệ rồi, thì sẽ không tạo các nghiệp ác mà tạo các nghiệp thiện. Vì có trạch pháp nhãn phân biệt được thiện và ác, đó là tác dụng của trí huệ. "Bày pháp tịch diệt lìa trần cấu". Phật mở bày cho chúng sinh vô phước, phải lìa bỏ tất cả nhiễm trước. Nhiễm trước tức là trần cấu, trần cấu thì không thanh tịnh, tức cũng là đời ác năm trược. Trần cấu nhiều thì sẽ đọa lạc, đọa đi xuống tức là trần cấu. Ðọa lạc vào đâu ? Vào ba đường ác. Bụi trần tuy nhiên từng hạt từng hạt, song, nhiều rồi thì trọng lượng cũng không nhẹ, cho nên phải lìa khỏi sự bám níu, sự bám níu tức là nghiệp chướng, lìa khỏi nghiệp chướng thì đắc được pháp tịch diệt. "Phổ Phát Hoa Thần ngộ môn này". Ðạo lý vừa giảng ở trên, vị Phổ Phát Thụ Hoa Chủ Dạ Thần, minh bạch cảnh giới nầy, mà vào môn giải thoát nầy. Ðại thần thông hiện khắp mười phương Tất cả chúng sinh đều điều phục Các loại sắc tướng đều khiến thấy Bình Ðẳng Hộ Dục quán sát được. "Ðại thần thông hiện khắp mười phương". Phật có thể hiện thần thông rộng lớn khắp trong mười phương. Tại sao phải hiện khắp thần thông rộng lớn ? Vì muốn độ khắp chúng sinh, khiến cho họ lìa khổ được vui. "Tất cả chúng sinh đều điều phục". Hết thảy chúng sinh không dễ gì điều phục. Trong Kinh Ðịa Tạng nói: "Chúng sinh ở cõi Nam Diêm Phù Ðề cang cường khó điều khó phục". "Các loại sắc tướng đều khiến thấy". Phật thị hiện đủ loại pháp thân. Tại sao ? Vì khiến cho chúng sinh thấy được thân của Phật, mới tín ngưỡng Phật pháp. Trong Kinh Pháp Hoa nói : "Ðáng dùng thân gì độ được, thì hiện ra thân đó mà vì họ thuyết pháp". "Bình Ðẳng Hộ Dục quán sát được". Cảnh giới nầy, vị Bình Ðẳng Hộ Dục Chủ Dạ Thần, quán sát được mà vào môn giải thoát nầy. Mỗi niệm của Như Lai xưa kia Ðều tịnh phương tiện biển từ bi Cứu hộ khắp hết thảy thế gian Giải thoát nầy của Phước Lạc Thần. "Mỗi niệm của Như Lai xưa kia". Phật ở trong vô lượng kiếp quá khứ, mỗi niệm đều không quên cứu độ chúng sinh, khiến cho chúng sinh lìa khổ được vui. "Ðều tịnh phương tiện biển từ bi". Tu pháp môn phương tiện nầy, đều hoàn toàn thanh tịnh. Dùng phương tiện để tăng trưởng tâm từ bi, dùng tâm từ bi để trợ giúp phương tiện, tương trợ lẫn nhau. Từ bi nhiều thì giống như biển cả, cho nên gọi là biển từ bi. "Cứu hộ khắp hết thảy thế gian". Phật vì cứu hộ chúng sinh hữu tình thế gian, nơi nào có chúng sinh, thì Phật đều thị hiện pháp thân, hoặc hóa thân. Trên thế gian, chẳng có nơi nào mà Phật không hiện thân. Phật là Ðạo sư vĩ đại nhất, từ bi nhất. Ngài tuyệt đối không bỏ một chúng sinh nào, dù chúng sinh này đã tạo ác nghiệp, chướng che bản tâm, không kham nạp thọ, thế mà Phật cũng nguyện cứu hộ họ. Hạnh của Phật là không thể giáo hóa mà giáo hóa, không thể độ mà độ hóa, vì tinh thần vĩ đại, nguyện lực vĩ đại, từ bi vĩ đại nầy, cho nên cứu hộ khắp hết thảy thế gian. "Giải thoát nầy của Phước Lạc Thần". Môn giải thoát nầy, vị Du Hí Khoái Lạc Chủ Dạ Thần đã chứng nhập được. Chúng ta có muốn vào môn giải thoát nầy chăng ? Nếu muốn vào thì có thể vào, không muốn vào thì không thể vào. Tại sao ? Vì tất cả đều do tâm đạo, do đó: "Người có chí, việc tất thành". Chí muốn thành Phật, thì sẽ thành Phật; chí muốn thành Bồ Tát, thì sẽ thành Bồ tát. Hãy xem chí nguyện của bạn để quyết định. Môn giải thoát nầy, ai ai cũng có cơ hội vào. Nếu chẳng có hy vọng, thì Phật giảng pháp môn nầy để làm gì ? Mục đích của Phật nói pháp, là dạy chúng sinh y pháp tu hành. Nếu không y pháp tu hành, thì pháp vốn chẳng có ích gì. Tức nhiên, Phật nói ra môn giải thoát nầy, thì bạn, tôi, họ, đều có tư cách vào môn nầy. Song, phải phát tâm tinh tấn dũng mãnh, tiến về trước, đừng lùi về sau. Như vậy, thì sẽ có hy vọng vào môn giải thoát nầy. Chúng sinh ngu si thường loạn trược Tâm họ cứng độc rất đáng sợ Như Lai thương sót mà ra đời Chư Căn Thường Hỉ Thần ngộ được. "Chúng sinh ngu si thường loạn trược". Chúng sinh tức là Phật, Phật tức là chúng sinh, đừng ở ngoài chúng sinh mà đi tìm Phật, cũng đừng ở ngoài Phật, mà đi tìm chúng sinh, cho nên, mười pháp giới không lìa một tâm niệm, một tâm niệm đầy đủ mười pháp giới. Do đó, tâm, Phật và chúng sinh là ba, chứ chẳng khác biệt, đó là chúng sinh. Ngu si tức là trí huệ, trí huệ tức là ngu si. Ðạo lý nầy không dễ gì hiểu được. Ví như bề mặt bàn tay, và bề trái bàn tay, chuyển qua được tức là trí huệ, không chuyển qua được tức là ngu si. Ngu si và trí huệ là một thể hai mặt. Nếu hiểu thì là trí huệ, không hiểu thì là ngu si, chẳng có diệu lý gì thâm áo ! Cho nên, đừng đầu lại thêm đầu, ở ngoài ngu si đi tìm trí huệ, ở ngoài trí huệ lại đi tìm ngu si. Ðạo lý nầy, tức là tâm, Phật, chúng sinh, cả ba không khác biệt. Phiền não tức bồ đề, bồ đề tức phiền não, phiền não tức là ngu si, bồ đề tức là trí huệ. Cho nên, phiền não và bồ đề là hai mà chẳng hai, chẳng hai mà hai. Nói ra lời nầy, giống như chẳng có ý nghĩa là bao, tức là ở trong cái chẳng có đại ý nghĩa, lại có đại ý nghĩa. Nếu riêng ngoài tìm cái có đại ý nghĩa, thì đó tức là đầu lại thêm đầu. Giống như sự ngu si của Diễn Nhã Ðạt Ða trong Kinh Lăng Nghiêm, chạy khắp các đường phố đi tìm đầu, gặp người bèn hỏi : "Ðầu của tôi chạy đi đâu mất rồi" ? Thường loạn trược, tức là thường hỗn loạn mà ô trược, nghĩa là không thanh tịnh. Thường và ngắn đều khác nhau, song kéo dài một niệm làm tám vạn kiếp, thu tám vạn kiếp lại làm một niệm, chẳng có mục đích nhất định là thường, là ngắn. Tức nhiên chẳng có thường và ngắn, vậy, tại sao phải nói thường loạn trược ? Ðó là đối với tư tưởng của chúng sinh mà nói. Nếu nói ra thường loạn trược, thì chúng sinh nghĩ ta phải ngắn loạn trược, ngắn lại ngắn đi thì chẳng có, tức là ý nghĩa nầy. Tôi là pháp sư không biết giảng kinh, cũng chẳng biết giảng giải, song tôi dùng tri kiến ngu si của tôi, để giải thích diệu pháp của Như Lai. Tận hết sở tri kiến của tôi giảng ra, để làm tư liệu cho mọi người tham khảo. "Tâm họ cứng độc rất đáng sợ". Ðộc nầy không thể phá hoại, giống như sự cứng rắn của đá kim cương, bất cứ vật gì cũng không thể phá hoại được, cho nên gọi là cứng độc. Sự cứng độc nầy ở đâu ? Ở trong tâm của chúng ta. Làm sao tâm sinh ra cứng độc ? Vì do tham sân si mà có, cho nên gọi là ba độc. Chỉ có sự ngu si, thì chưa có vấn đề là bao. Lão Tử nói: "Trí huệ xuất hữu đại ngụy". Nếu bạn ngu si thì chẳng hư ngụy. Người có trí huệ mới làm điều hư ngụy. Lão Tử đã từng nói đoạn nầy : "Ðại đạo phế, hữu nhân nghĩa. Trí huệ xuất, hữu đại ngụy. Lục thân bất hòa, hữu hiếu tử. Quốc gia hỗn loạn, hữu trung thần". Tâm của chúng ta vì quá thông minh, cho nên mới có hư ngụy. Nếu ngu si thì chẳng có hư ngụy. Nhưng ngu si không thể đầy đủ tham sân si ba độc. Nếu ba độc đầy đủ, thì tâm cứng độc rất đáng sợ. Có gì đáng sợ ? Vì sớm phải đọa địa ngục, có thể nói không đáng sợ chăng ? Nếu làm ngạ quỷ, có thể nói không đáng sợ chăng ? Nếu biến thành súc sinh, có thể nói không đáng sợ chăng ? Nếu có người cho rằng không đáng sợ, vậy đừng ngại hãy thử xem, cứu kính đáng sợ hay chăng ? "Như Lai thương xót mà ra đời". Như Lai thương chúng sinh như mẹ thương con. Chúng sinh ở thế giới nầy tác quái, khi thì sinh về cõi trời, khi thì làm người, khi thì làm quỷ, khi thì làm A Tu La, khi thì làm súc sinh, khi thì đọa địa ngục. Du hí ở trong sáu nẻo, trôi nổi ở trong luân hồi mà không biết về nhà. Như Lai ở cõi Thường Tịch Quang đợi chờ, đợi rất lâu mà cũng chẳng thấy trở về, cho nên mới đến thế giới của chúng ta. Ðến nơi chúng ta ở để làm gì ? Thương xót chúng sinh, rờ đầu bạn, rờ đầu tôi, rờ đầu họ, đó là rờ đầu gia bị, nói : "Thiện nam tử ! Thiện nữ nhân ! Các con sớm tỉnh ngộ ! Ðừng tham luyến hồng trần, mau trở về cõi Thường Tịch Quang ! "Ðó là Như Lai thương xót chúng sinh mà xuất hiện ra đời. Cõi Phật chia ra làm bốn thứ : 1. Cõi phàm, Thánh đồng ở : Tức là nơi Thánh nhân và phàm phu cùng ở với nhau. 2. Cõi phương tiện hữu dư : Tức là nơi Thanh Văn và Duyên Giác ở. 3. Cõi thật báo trang nghiêm : Tức là nơi Bồ Tát ở. 4. Cõi Thường Tịch Quang : Là nơi chư Phật ở. "Chư Căn Thường Hỉ Thần ngộ được". Vị Chư Căn Thường Hỉ Chủ Dạ Thần, ngộ được cảnh giới nầy, mà vào môn giải thoát nầy. Vị Chủ Dạ Thần nầy đã phát bồ đề tâm, chẳng có tư tưởng ích kỷ, không muốn tự lợi, mà muốn lợi tha, cho nên nói lại môn giải thoát nầy, để cho tất cả chúng sinh đều nghe, mỗi chúng sinh đều muốn nghe môn giải thoát nầy. Bạn muốn vào môn giải thoát nầy chăng ? Rất hoan nghênh ! Bất cứ ai vào cũng đều chẳng có vấn đề, hoan nghênh mọi người đều vào, nguyện tất cả chúng sinh đồng vào môn Bát Nhã Ba La Mật, hoan nghênh tất cả các vị thiện tri thức, đồng vào môn Bát Nhã Ba La Mật. Xưa Phật tu hành vì chúng sinh Tất cả mong cầu đều khiến đủ Do đó thành tựu công đức tướng Thị Hiện Tịnh Phước vào môn nầy. "Xưa Phật tu hành vì chúng sinh". Phật tức là đức Phật Thích Ca, cũng là mười phương ba đời tất cả chư Phật. Vì Phật Phật đồng nhau. Một vị Phật tức là tất cả Phật. Tất cả Phật là một vị Phật. Phật và Phật giống như quang minh với quang minh, quang quang hợp với nhau, Phật Phật đồng nhau. Xưa tức là trước kia, khi mỗi vị Phật chưa thành Phật, hoặc gọi là xưa kia, tức cũng là thời gian vô lượng kiếp. Tu hành tức là tu chân hành đạo, đời đời kiếp kiếp đều tu hành như thế. Trước kia, khi chưa thành Phật, dù việc rất nhỏ cũng chú ý cẩn thận, tụ ít thành nhiều, từ từ biến thành đại tu hành. Ðại tu hành lâu dần, thành pháp thân vạn đức trang nghiêm, cuối cùng thành Phật. Tu hành tự mình hiểu chân lý, giác ngộ chân lý, vẫn không quên chúng sinh, khiến cho chúng sinh cũng giác ngộ, đó là tư tưởng tự giác giác tha của Bồ Tát. Bồ Tát có ba mục tiêu lớn là : Tự độ độ tha, tự lợi lợi tha, tự giác giác tha. Tóm lại, tất cả đều vì lợi ích chúng sinh, tuyệt đối không vì lợi ích cho chính mình. Giác ngộ có bắt đầu, có giữa, có cuối, tức cũng là tự giác, giác tha, giác mãn. Cuối cùng đắc được giác hạnh viên mãn. Lúc đó, tự giác cũng viên mãn, giác tha cũng viên mãn. Tám vạn bốn ngàn pháp môn đều tu hành viên mãn. Tại sao phải như thế ? Vì muốn độ chúng sinh, cho nên Phật mới tu hành. Tại sao Phật không có việc tìm việc làm ? Ðã thành Phật rồi, thì ngồi tại đó tiếp nhận sự cúng dàng của tất cả chúng sinh không tốt chăng ? Bất tất phải đi cứu độ chúng sinh ? Vì Phật thấy tất cả chúng sinh với mình là một thể, cho nên phải độ mọi người đều thành Phật, đó là hoài bão của Phật. Bất cứ chúng sinh không nghe lời như thế nào, Phật cũng không thay đổi, vẫn thương xót chúng sinh, cứu độ chúng sinh. Làm thế nào Phật cứu độ chúng sinh ? Ở dưới đây đã nói ra. "Tất cả mong cầu đều khiến đủ". Tất cả những gì trong tâm của chúng sinh ưa thích, Phật đều khiến cho họ toại tâm mãn nguyện. Nguyện vọng của chúng sinh đầy đủ, thì sẽ cảm tạ công đức Phật, thì sẽ gần gũi Tam Bảo. Mục đích Phật tu hành là muốn độ chúng sinh, khiến cho chúng sinh lìa khỏi biển khổ, chỉ cần quay đầu thì đến bờ kia. "Do đó trọn thành công đức tướng". Vì Phật muốn cứu độ chúng sinh, cho nên khiến cho cúng sinh đầy đủ mãn nguyện, chính Phật cũng đắc được công đức tướng, Công đức tướng là gì ? Do nhân duyên nầy, cho nên thành tựu đầy đủ ba mươi hai tướng, tám mươi vẻ đẹp trang nghiêm tướng tốt, mà làm Ðạo Sư của trời người. Những công đức tướng nầy, đều do quá khứ tu hành mà thành tựu. Nếu có một pháp môn tu hành không thành tựu, thì công đức tướng trang nghiêm nầy, cũng không viên mãn. Nếu nói như thế thì có tướng chăng ? Phật là vô tướng. Tức nhiên là vô tướng, sao còn nói công đức tướng ? Nếu Phật vô tướng, vậy bạn lại tin Phật gì ? Phật là vô tướng vô bất tướng, chẳng có tướng vẫn tích tập tất cả tướng. Vì tích tập tất cả tướng, thì trong đó bao quát có công đức tướng. "Thị Hiện Tịnh Phước vào môn nầy". Môn giải thoát nầy, vị Thị Hiện Tịnh Phước Chủ Dạ Thần, thấy rõ mà ngộ nhập. Bốn câu kệ nầy, đã giảng sơ lược xong, nếu giảng tỉ mỉ vẫn chưa giảng hết. Ðạo lý của Kinh Hoa Nghiêm là đầy khắp pháp giới. Nghĩa lý của mỗi câu kệ đều đầy khắp pháp giới, đầy đủ tám vạn bốn ngàn pháp môn. Cho nên, nếu giảng tỉ mỉ thì hết thuở kiếp vị lai, cũng không thể giảng hết được. Tôi chỉ có thể nói chút chút nầy, nếu nói nhiều tôi cũng không hiểu. Tuy nhiên nghĩa lý rộng lớn, song tri thức của tôi có hạn, không thể giảng nhiều. Vậy, tại sao tôi nói có nhiều nghĩa lý như thế ? Vì khuyên các bạn tự đi nghiên cứu, tự phát huy, tự tìm ở trong thật tạng. Vì nguyên nhân đó, cho nên tôi mới giảng chút chút. Song, người nghe kinh, tất phải nghiên cứu minh bạch chút chút đạo lý nầy, thì được ích lợi chẳng nhỏ. Nếu chút chút đạo lý nầy mà không hiểu, thì làm sao hiểu vô lượng vô biên đạo lý ? Tuy nhiên thường nói : "Một làm vô lượng, vô lượng làm một". Nhưng thế nào là một làm vô lượng ? Thế nào là vô lượng làm một ? Ðạo lý nầy, dạy bạn tự mình đi thể nghiệm, đi lĩnh hội. Giống như ăn đồ ăn, có ăn mới no, không ăn thì không no. Ăn rồi mới biết mùi vị, trước khi ăn không cách chi biết được mùi vị gì, cho nên nói: Phải vào sâu tạng kinh, thì trí huệ sẽ như biển. Phải sớm nghiền ngẫm, luôn luôn nghiền ngẫm thì mới đắc được trí huệ. Lại nữa, Chủ Phương Thần Biến Trụ Nhất Thiết, được môn giải thoát, sức cứu hộ khắp hết thảy chúng sinh. Nghĩa văn ở trước chưa giảng xong, nay tiếp tục giảng, cho nên gọi là lại nữa. Vị Biến Trụ Nhất Thiết Chủ Phương Thần. Phương là phương hướng. Phương hướng tức là mười phương, mười phương là nơi ở của tất cả chúng sinh. Phương có sự phân biệt một phương, bốn phương, tám phương, mười phương. Bây giờ là biến trụ nhất thiết, có thể nói đến mười phương. Không có biến trụ nhất thiết, thì có thể nói đến một phương. Mười phương thế giới, đều là chỗ ở của vị Chủ Phương Thần nầy. Vị nầy ở trong mười phương thế giới để làm gì ? Phải chăng hy vọng người đốt cho mình chút hương ? Cúng kiến ? Lễ lạy ? Cung kính ? Chẳng phải ! Vị nầy đắc được sức cứu hộ khắp tất cả chúng sinh, phải chăng sức lực nầy chính vị nầy đắc được ? Chẳng phải, là nhờ thần lực của Phật gia bị, khiến cho vị nầy minh bạch cảnh giới này. Vị nầy đắc được môn giải thoát nầy. Cảnh giới và môn giải thoát nầy, là một trong vô lượng pháp môn của Phật. Cho nên vị nầy đắc được sức cứu hộ khắp hết thảy. Sức cứu hộ nầy là khắp hết thảy, chẳng có lựa chọn, chẳng có phân biệt. Chẳng phải nói chúng sinh nầy đốt hương, cúng kiến, và lễ lạy tôi, thì tôi cứu hộ cho, còn chúng sinh kia, không lễ lạy tôi, không cung kính tôi, thì tôi không cứu hộ họ, chẳng phải như thế, mà là khắp hết thảy. Bất cứ cúng dường hay không cúng dường, chỉ cần chúng sinh có tai nạn, thì vị Chủ Phương Thần nầy đến cứu bạn. Bất cứ có tai nạn hoặc không có tai nạn, vị nầy cũng đều đến cứu hộ chúng sinh. Nếu có tai nạn thì có thể làm cho tiêu tai nạn, không có tai nạn thì có thể khiến cho tai nạn không hiện tiền. Tóm lại, chúng sinh đã phát sinh tai nạn, thì vị nầy cũng đến cứu, chúng sinh sẽ phát sinh tai nạn, thì vị nầy cũng đến cứu, chúng sinh chưa phát sinh tai nạn, thì vị nầy cũng đến cứu. Cho nên, gọi là sức cứu hộ khắp hết thảy, không phân biệt chúng sinh thiện ác, cũng không lựa chọn chúng sinh thiện ác, mà bình đẳng cứu hộ đồng đều, cho nên gọi là môn giải thoát, sức cứu hộ khắp hết thảy chúng sinh. Chủ Phương Thần Phổ Hiện Quang Minh, được môn giải thoát, nghiệp thần thông thành tựu biện tài giáo hóa tất cả chúng sinh. Vị Phổ Quang Minh Chủ Phương Thần nầy, quang minh hiện khắp trong mười phương, khiến cho tất cả chúng sinh trong mười phương, thấy được quang minh nầy, thì thành tựu nghiệp thiện, thành tựu nghiệp thanh tịnh, thành tựu nghiệp thần thông. Thành tựu nghiệp thiện, khiến cho tất cả chúng sinh, sinh phát tâm thiện, làm công đức thập thiện, tu giữ năm giới. Thành tựu nghiệp thanh tịnh, thì khiến cho nghiệp nhiễm ô của tất cả chúng sinh đều không, thì nghiệp thanh tịnh sẽ có sở thành tựu. Thành tựu nghiệp thần thông, khiến cho tất cả chúng sinh xa lìa ngu si, đắc được thần thông trí huệ. Cho nên nói, vị nầy đắc được nghiệp thần thông thành tựu biện tài giáo hóa tất cả chúng sinh. Nghiệp thần thông trợ giúp cho người tu đạo quả bồ đề, có thể dùng: "Sở tác dĩ biện, đại sự dĩ tất, bất thọ hậu hữu". Những việc gì đáng làm đã làm xong, tất cả mọi việc cũng đều hoàn thành, không còn trôi nổi trong sáu nẻo sinh tử luân hồi nữa. Lúc đó, đắc được quả viên mãn không sinh không diệt, không dơ không sạch, không tăng không giảm. Vị Chủ Phương Thần nầy, đắc được cảnh giới nầy, vào môn giải thoát nầy. Môn giải thoát nầy, là một pháp môn trong tám vạn bốn ngàn pháp môn. Bất cứ người nào, chỉ cần chuyên tâm để tu pháp môn nầy, thì đều có thể thành tựu, đều có thể vào môn giải thoát nầy. Chủ Phương Thần Quang Hành Trang Nghiêm, được môn giải thoát, đại quang minh phá tan tất cả ám chướng sinh hỉ lạc. Vị Quang Hành Trang Nghiêm Chủ Phương Thần nầy, cũng phóng đại quang minh, do định sinh huệ. Giới định huệ mà tu thành rồi, thì đắc được quang minh, cho nên gọi là môn giải thoát đại quang minh. Ðắc được đại quang minh mới có trí huệ, thì tự nhiên được giải thoát. Tại sao chúng ta không được giải thoát ? Vì chúng ta chẳng có trí huệ chân chánh. Vị Chủ Phương Thần nầy, nói ra cảnh giới nầy, chúng ta cũng nên y pháp tu hành, thì cũng phá trừ được tất cả ám chướng, chứng được môn giải thoát nầy. Bây giờ, thời giờ còn lại là vấn đề nghiên cứu kinh văn, hy vọng mọi người nêu ra vấn đề, để cùng nhau nghiên cứu, để mọi người phát biểu ý kiến. Hôm nay giảng Kinh Hoa Nghiêm, có những chỗ nào không đúng thì mọi người hãy thảo luận. Giảng kinh văn không cần giảng quá nhiều, phải chân chánh hiểu rõ nghĩa kinh, thì mới đắc được pháp ích. Nếu có chỗ nào không hiểu, tôi sẽ không ngại giảng lại lần nữa, đến khi bạn minh bạch mới thôi. Bây giờ, mọi người đều có quyền nói, đều có tư cách phê bình. Mọi người hãy đưa ra nghi vấn để thảo luận. Nhất định phải phát huy hết nghĩa lý kinh văn, khiến cho ai nấy cũng đều minh bạch hiểu rõ triệt để, như vậy thì không uổng thời gian chúng ta ngồi lâu tại chỗ nầy. Bây giờ có người đưa ra vấn đề. Làm thế nào được làm thần ? Có thể nói "Thông minh chánh trực gọi là thần", chỉ cần thông minh, lời nói lại ngay thẳng, đó tức là thần. Thần chẳng phải là kỳ quái gì, cũng chẳng phải huyền diệu. Người trong âm là quỷ, người trong dương là thần. Có đen tối tức là quỷ, có quang minh tức là thần. Thần chẳng phải là đi tìm ở bên ngoài, chính mình có trí huệ tức là thần, chính mình ngu si tức là quỷ. Chúng sinh ngu si lấy tham sân si làm chủ, đó tức là chúng sinh quỷ ngu si. Chúng sinh thông minh lấy giới định huệ làm chủ, đó tức là chúng sinh thần thông minh. Thần có nhiều loại, nào là: Sơn thần, thổ thần, thiên thần, địa thần, thảo thần, thụ thần, phong thần, vũ thần, thủy thần, hỏa thần .v.v. Thần của Lão Tử nói là Cốc thần, thần của nhà nho nói là Thiên thần. Lão Tử đã từng nói : "Cốc thần bất tử, thị vị nguyên tẫn. Nguyên tẫn chi môn, thị vị thiên địa căn". Cốc thần là ngoài trời đất, sức đại khí. Cốc thần là không chết cũng không sinh, cho nên nói là cốc thần bất tử. Nguyên tẫn tức là con đường sinh giữa trời đất, cho nên nói là làm căn bản của trời đất, đó tức là Thiên địa căn. Nhà nho nói : "Sung thật nhi hữu quang huy chi vị đại, Ðại hóa chi chi vị Thánh, Thánh nhi bất khả tri vị chi thần". Sung thật mà vẻ vang, đó là đại nhân. Lớn rồi lại khởi biến hóa, đó là Thánh nhân, Thánh nhân chẳng kiêu ngạo, lớn mà nhỏ, nhỏ mà lớn. Vị Thánh nhân nầy, tức là Khổng Lão Phu Tử. Thánh nhân cũng chẳng biết, biến hóa cũng biến không ra, đó đều là không thể nghĩ bàn, đó gọi là Thần. Các bạn nói Thần cứu kính là gì ? Muốn biết vấn đề làm thế nào mà thành Thần chăng ? Bây giờ không cần nghiên cứu họ, chỉ cần nỗ lực dụng công tu hành, đến khi thành Phật, thì lúc đó chẳng có gì mà không biết, chẳng có gì mà không thấy, đó mới là Chánh Biến Tri, mà không phải là tà biến tri. Lúc đó, trên thì biết được nhân duyên vô lượng kiếp, dưới thì biết được nhân duyên vô lượng kiếp. Ðừng nói là Thần những gì cũng đều biết ! Bây giờ lại hà tất không việc tìm việc làm ? Muốn biết pháp môn làm thần ? Phải chăng muốn làm thần ? Vị Chủ Phương Thần nầy, với Thần vừa mới nói chẳng giống nhau, chẳng phải Thần của bạn, cũng chẳng phải Thần của tôi, càng không phải thần của họ, mà là Bồ Tát thị hiện làm thần. Những vị pháp thân Ðại sĩ thị hiện làm thần, đến thế gian để giáo hóa tất cả chúng sinh. Các Ngài vốn cũng là chúng sinh, vì tu hành mà thành Bồ Tát, tại sao phải hỏi chúng sinh làm sao làm thần ? Tại sao không nghiên cứu chúng sinh làm thế nào để thành Phật ? Tức nhiên, biết đạo lý chúng sinh làm thế nào để thành Phật, thì cũng biết đạo lý chúng sinh làm thế nào để làm thần. Vì Phật cao hơn Thần mấy vạn lần, do đó vấn đề nầy chẳng phải là vấn đề. Chủ Phương Thần Du Hành Vô Ngại, được môn giải thoát, hiện khắp tất cả chỗ mà không mệt nhọc. Vị Du Hành Vô Ngại Chủ Phương Thần nầy, bất cứ đi đến cõi nào cũng đều không chướng ngại. Tại sao ? Vì vị nầy có thần thông biến hóa diệu dụng, đến khắp tất cả cõi nước trong mười phương giáo hóa chúng sinh, chịu mệt chịu nhọc, không sợ khổ, không sợ gian nan, chỉ cần chúng sinh cải ác hướng thiện, thì dù khổ nhọc mấy cũng tình nguyện. Thần mà Bồ Tát hóa hiện đều có tâm từ bi, xem chúng sinh như quyến thuộc, cứu chúng sinh lìa khỏi lò lửa tam giới. Vị Chủ Phương Thần nầy vào môn giải thoát nầy không mệt nhọc. Hôm nay báo cáo với mọi người, một tin mới về Quả Du (Hằng Cụ) và Quả Ðạo (Hằng Do) hai vị "Tam bộ nhất bái". Hai vị nầy lạy từ San Francisco thẳng đến tiểu bang Seattle. Không ngờ lạy giữa đường quần của Quả Ðạo bị rách nát, tình hình rách rất là nghiêm trọng, không thể nào mặc quần rách rưới mà lạy, như vậy thì mất oai nghi. Hai vị suy nghĩ tìm cách mãi mà chẳng có kết quả gì, chính lúc hết cách suy nghĩ tìm tòi, thì hốt nhiên phát hiện ở giữa đường có một cái quần, lượm lên xem thì cái quần đó không lớn không nhỏ, không dài không ngắn, kích thước vừa vặn cho Quả Ðạo mặc. Các bạn nói có lạ chăng ? Chủ Phương Thần Vĩnh Ðoạn Mê Hoặc, được môn giải thoát, thị hiện số danh hiệu đồng tất cả chúng sinh, mà phát sinh công đức. Vị Vĩnh Ðoạn Mê Hoặc Chủ Phương Thần nầy, vĩnh viễn đoạn tuyệt mê hoặc. Mê hoặc là gì ? Mê hoặc tức là chẳng thấy rõ gì hết, cũng chẳng biết gì hết. Hoặc là mê hoặc, gì cũng chẳng rõ ràng, phải thì cho là trái, trái thì cho là phải. Trắng thì cho là đen, đen thì cho là trắng, nghĩa là nhận lý không thật, sinh khởi mê hoặc. Lại có thể nói, lấy sự nhận làm lý, lấy lý nhận làm sự, sự lý chẳng phân biệt rõ ràng, trắng đen chẳng phân biệt rõ ràng, thậm chí, ta, người, cũng không phân biệt rõ ràng. Tại sao chẳng rõ ràng ? Vì sinh ra hồ nghi, cho nên không tin bất cứ lý và sự. Giống như hồ ly mùa đông đi qua sông, đi trên băng mà luôn luôn vẫn hoài nghi, sợ băng tan thì lọt xuống nước, cho nên đi một bước, thì phải lắng nghe thử băng có âm thanh gì chăng, nếu có âm thanh thì chứng minh băng không chắc chắn, dễ lọt xuống nước, hành vi như thế là hồ nghi. Hồ ly khéo nghi, đó là biểu hiện sự hoài nghi. Trong Kinh Kim Cang có nói : "Ðoạn nghi sinh tin". Nghĩa là đoạn được mê hoặc, thì sẽ sinh tín tâm, như thế thì có Bát nhã trí huệ chân chánh. Vị Chủ Phương Thần nầy, thường đoạn mê hoặc cho ai ? Thường đoạn mê hoặc cho chúng sinh, khiến cho chúng sinh bỏ mê về giác, cải ta quy chánh, cho nên tên của vị nầy là Vĩnh Ðoạn Mê Hoặc Chủ Phương Thần. Vị Chủ Phương Thần nầy, đắc được môn giải thoát: Thị hiện số danh hiệu đồng tất cả chúng sinh, mà phát sinh công đức, tức cũng là Phật hiện khắp số danh hiệu của tất cả chúng sinh, khiến cho tất cả chúng sinh đều phát sinh công đức tâm bồ đề. Phật khiến cho chúng sinh, chưa phát công đức bồ đề tâm, thì phát bồ đề tâm. Chẳng phải khiến cho một chúng sinh phát bồ đề tâm, mà là khiến cho hết thảy chúng sinh đều phát bồ đề tâm. Phát bồ đề tâm chẳng phải hôm nay tu hành, thì hôm sau mới phát bồ đề tâm, mà là trong vô lượng kiếp về trước, đã phát bồ đề tâm. Bất quá, đến bây giờ mới sinh ra một sức lực bồ đề, tương lai sẽ kết quả giác bồ đề. Có người nói : "Chẳng phải ! Lúc nào đó, tôi nghe kinh gì đó, thì tôi phát tâm tin Phật". Bạn nghe được kinh, là nhân bồ đề xa. Nếu chẳng có nhân bồ đề xa, thì vốn không cách chi nghe được kinh. Bạn hãy nhìn xem ! Trên thế gian nầy có bao nhiêu người chẳng nghe được kinh ? Có bao nhiêu chúng sinh chẳng nhìn thấy được Phật ? Chẳng nghe được pháp ? Chẳng thấy được Tăng ? Những chúng sinh nầy, nhiều vô lượng vô biên. Vậy họ đã phát bồ đề tâm chăng ? Ðã gieo hạt giống bồ đề chăng ? Họ đều đã phát bồ đề tâm, và đã trồng xuống hạt giống bồ đề. Song, giống như nhân sâm, nếu thấy người thì ẩn tàng dưới đất sáu mươi năm, qua sáu mươi năm sau mới đội lên. Nếu như người không thấy nó, thì mỗi năm nó sẽ lên. Bồ đề tâm cũng như thế, nếu không gặp ma, thì nó luôn luôn đều phát triển, nhưng khi gặp ma, thì cũng phải ẩn tàng lại, ẩn tàng bao nhiêu năm ? Hoặc là ẩn tàng sáu mươi năm, hoặc lâu hơn, chẳng có nhất định. Có người nói : "Hòa Thượng ! Ðạo lý mà Hòa Thượng vừa nói nằm ở trong bộ kinh nào" ? Nằm ở trong bộ kinh của tôi đây. Bạn muốn đọc bộ kinh nầy của tôi, thì có đoạn kinh văn nầy. Bạn cũng có bộ kinh điển nầy, nhưng kinh của bạn và tôi không dễ gì đọc. Chủ Phương Thần Biến Du Tịnh Không, được môn giải thoát, luôn luôn phát ra âm thanh vi diệu, khiến cho người nghe đều vui mừng. Vị Biến Du Tịnh Không Chủ Phương Thần, thích du khắp hư không thanh tịnh, cho nên gọi là Biến Du Tịnh Không Chủ Phương Thần. Vị Chủ Phương Thần nầy, khắp cùng tất cả mọi nơi, minh bạch được cảnh giới của Phật là, luôn luôn phát ra âm thanh vi diệu. Thứ diệu âm nầy, cũng không nhất định, bất cứ loài chúng sinh nào nghe được, cũng đều vừa ý của họ mà sinh vui mừng. Bây giờ, nói về một chút cảnh giới vi diệu không thể nghĩ bàn. Phàm là pháp sư giảng kinh thuyết pháp, đều có hộ pháp. Có chư Phật đến hộ pháp, có Bồ Tát đến hộ pháp, có Thanh Văn đến hộ pháp, có trời người đến hộ pháp, có A Tu La đến hộ pháp, có một số người đến hộ pháp, có quỷ đến hộ pháp. Vậy, làm sao biết được ? Nếu bạn đắc được thiên nhãn thông, thì sẽ biết vị pháp sư giảng kinh pháp, là do một giới Thánh hiền trong mười pháp giới, đến ủng hộ đạo tràng. Pháp sư có đạo đức, thì khi giảng kinh ở trong đạo tràng, luôn luôn phóng quang minh, chiếu khắp chúng sinh trong và ngoài hội, khiến cho họ đều đắc được lợi ích, đều tiêu trừ nghiệp chướng. Có pháp sư khi giảng kinh ở trong đạo tràng, cũng có chút quang minh như khói sương không rõ ràng, chỉ có chút chút quang minh nhỏ, hoặc là quang trắng, quang đỏ, quang tía. Tại sao ? Vì bồ đề tâm của vị pháp sư đó, chưa phát triển lớn, cho nên quang phát ra rất nhỏ. Tóm lại, tâm lượng của pháp sư lớn bao nhiêu, thì quang minh trong pháp hội lớn bấy nhiêu, ngược lại, tâm lượng nhỏ thì quang minh nhỏ, tâm lượng lớn thì quang minh lớn, do đó : "Tất cả do tâm tạo". Căn cứ chỗ tôi biết, kinh nghiệm thấy được một số pháp sư giảng kinh thuyết pháp, đa số đều do trời người đến hộ pháp, hoặc do chim tước trên trời đến hộ pháp, đến ủng hộ đạo tràng. Nếu vị pháp sư giảng kinh thuyết pháp biện tài vô ngại, thao thao bất tuyệt, đầu đầu thị đạo, giảng đến mỗi chư Thiên rải hoa cúng dường, âm thanh như chim hót, êm tai vô cùng, khiến cho người nghe sinh tâm hoan hỉ, đó gọi là thảy đều vui mừng. Tại sao hôm nay phải nói những điều nầy ? Vì hiện tại giảng đến luôn luôn phát âm thanh vi diệu. Trong Kinh A Di Ðà có nói : "Chim Bạch hạt, Khổng tước, Anh vũ, Xá lợi, Ca lăng tần già, Cộng mệnh; các loại chim nầy ngày đêm sáu thời phát ra âm thanh hòa nhã". Những thứ chim nầy, đều phát ra âm thanh vi diệu không thể nghĩ bàn. Những âm thanh nầy, đều do Ðức Phật A Di Ðà muốn khiến cho pháp âm tuyên lưu mà biến hóa làm ra. Vị Chủ Phương Thần nầy, luôn luôn phát ra diệu âm, cũng là muốn cho pháp âm tuyên lưu, do Phật Tỳ Lô Giá Na biến hóa làm ra, khiến cho người nghe được diệu âm nầy mà tu hành, thì sẽ có sở thành tựu. Nếu không nghe được diệu âm nầy, thì cũng phải tu hành, cảm ứng đạo giao, ở trong định bèn nghe được mười phương chư Phật thường phát diệu âm. Chủ Phương Thần Vân Tràng Ðại Âm, được môn giải thoát, như rồng mưa khắp hết thảy, khiến cho chúng sinh đều vui mừng. Vị Vân Tràng Ðại Âm Chủ Phương Thần nầy, âm thanh rất vang dội, giống như tiếng sấm ở trên mây, xa gần đều nghe. Trong Kinh Ðịa Tạng có nói : "...Vân lôi âm, đại vân lôi âm..." (tiếng mây sấm, tiếng mây sấm lớn). Vị Chủ Phương Thần nầy, có tiếng mây sấm lớn vi diệu. Làm sao biết được ? Vì cảnh giới của Kinh Hoa Nghiêm không thể nghĩ bàn. Cho nên âm thanh lớn nầy, với tiếng mây sấm lớn trong Kinh Ðịa Tạng có chỗ chẳng giống nhau. Ðây là Ðại Vân Lôi Âm Chủ Phương Thần. Vị Chủ Phương Thần nầy, đắc được cảnh giới của Phật là gì ? Tức là như rồng mưa khắp hết thảy, đượm nhuần vạn vật. Rồng có thần thông rưới mưa pháp, khiến cho chúng sinh phàm phu, đất mỏng đắc được đượm nhuần của mưa pháp, mà sinh tâm hoan hỉ. Có người ở tại đây phát sinh tâm hoài nghi nói : "Tất cả sự mong muốn đều khiến cho đầy đủ". Vậy tại sao sự mong muốn của tôi chẳng đầy đủ ? Tôi hỏi y là "mong muốn gì" ? Y đáp : "Muốn thành Phật". Bạn muốn thành Phật thì phải tu hành, không tu hành thì làm sao đầy đủ được nguyện vọng của bạn ? Giống như ăn cơm, cơm thì ngon nhưng phải ăn, bụng mới no được, nếu không ăn thì bụng làm sao no ? Hiện tại, chúng ta giảng Kinh Hoa Nghiêm, tức như rồng mưa khắp hết thảy. Nghe được Kinh Hoa Nghiêm nầy, thì đắc được đượm nhuần của pháp vũ. Nghe kinh hiểu rõ đạo lý, thì trong tâm sinh ra tâm vui mừng, đó chẳng phải là như rồng mưa khắp hết thảy chăng ? Còn phải đi đâu tìm ? Bây giờ đang ở trước mắt. Bất quá đắc được pháp vũ mà không nhận ra mà thôi. Các bạn phải minh bạch đạo lý nầy, nghe Kinh Hoa Nghiêm đại pháp rồi, trong tâm cảm thấy có một không khí pháp hỉ tràn trề, đó chẳng phải như rồng mưa khắp chăng ? Khiến cho tất cả chúng sinh sinh hoan hỉ chăng ? Song, còn cách môn giải thoát nầy xa lắm. Nếu chân chánh đắc được pháp hỷ sung mãn, thì hợp vào môn giải thoát nầy. Khi nào các bạn vào môn giải thoát nầy, thì lúc đó sẽ đắc được pháp hỷ sung mãn. Có câu rằng : "Tánh định ma phục triều triều lạc, Vọng niệm bất khởi xứ xứ an". Nghĩa hai câu nầy là: Tánh không định thì ma không phục, khi tánh định thì ma phục và luôn luôn đều an lạc. Không khởi vọng tưởng, thì bất cứ ở đâu cũng đều chẳng có sự phân biệt, đều tốt hết. Hai câu nầy nên làm pháp môn để mọi người tu tâm. - Có người hỏi tôi: "Hòa Thượng cảm thấy ở San Francisco tốt chăng"? - Tôi nói: "Tốt lắm". - Y lại hỏi: "Hòa Thượng cảm thấy Hương Cảng tốt chăng" ? - Tôi nói: "Cũng tốt lắm". Tóm lại, bất cứ ở đâu, chỉ cần đừng sinh vọng tưởng, thì nơi nào cũng tốt. Chúng ta nghiên cứu Phật pháp ở tại đây, phải học chí nguyện của Phật, phải học hành vi của Phật. Cử chỉ động niệm của Phật đều là Phật pháp. Phật đem phương pháp của Ngài đã khai ngộ, nói ra hết chẳng lưu lại chữ nào, nên y theo pháp mà tu hành, cung hành thực tiễn, đừng chú trọng nói suông. Nói suông cũng giống như ăn bánh vẽ, nói no mà chẳng no. Phật pháp là thực hành chẳng phải nói suông, do đó: "Nói một trượng, không bằng hành một thước". Khoảng hai mươi hai năm về trước, khi tôi ở Hương Cảng, tại núi Ðạo Phong, có vị Mục Sư đạo Cơ Ðốc, nhiệm vụ của Y là chuyên môn dạy những người xuất gia hoàn tục. Phương pháp của Y là dùng tiền bạc và sắc đẹp để dẫn dụ người xuất gia, nếu ý chí không kiên cường thì bị gạt, lầm lỡ cơ hội một đời tu. Người xuất gia thích tiền tài sắc đẹp thì ở tại nơi đó, đam vui hưởng thụ, gọi là "Lưu liên vong phản". Lưu liên vong phản là gì ? Trong Mạnh Tử có nói : "Từ hạ lưu mà vong phản gọi là lưu, Từ thượng lưu mà vong phản gọi là liên, Từ (loài) thú mà không chán gọi là hoang, Thích rượu mà không chán gọi là vong". Nghĩa là: Hoàng đế thời xưa rất dễ phạm những mao bệnh nầy. Song, những vị pháp sư xuất gia nầy, cũng chạy theo "Lưu liên vong phản" đó. Tại sao ? Thứ nhất là vị Mục Sư đó cho tiền bạc, thứ hai là cho con gái; tức nhiên có tiền dùng, lại có con gái. Sau khi tôi biết tin đó, cũng muốn đi thử nghiệm một phen. Tôi đến đó xem, phát giác chẳng có duyên với tôi, lúc đó, tôi với vị Mục Sư đó biện luận. Tôi chẳng e dè phê bình nói : "Ông ở đây làm những việc đó, là trái với tâm của Chúa. Chúa là cứu người chớ chẳng phải hại người. Tác phong của ông là phá hoại người, chứ chẳng phải cứu người, cho nên ông chẳng phải là tín đồ của đạo Cơ Ðốc, cũng không đủ tư cách làm tín đồ của đạo Cơ Ðốc. Ông dạy người xuất gia hoàn tục, phá hoại phạm hạnh của người xuất gia, việc làm của ông có lợi cho đạo Cơ Ðốc chăng ? Ðối với Phật giáo có hại chăng ? Tơ hào chẳng ăn thua gì. Tôi cũng chẳng phải là Phật giáo đồ, tại sao ? Vì chẳng có lòng từ bi giống như Phật để cứu ông, thật đáng tiếc ! Tôi cứu không được ông, cũng chẳng có sức cứu ông, cho nên nói tôi chẳng phải là Phật giáo đồ". Tôi nói một phen như vậy, y chẳng có lời gì để đáp, ngước mắt nhìn tôi, câm miệng không nói. Cuối cùng, y yêu cầu chụp chung một tấm hình làm kỷ niệm, nhưng bị tôi cự tuyệt. Tôi nói: "Ông là thứ bại hoại của đạo Cơ Ðốc, tôi là bại hoại của Phật giáo, chụp hình ra để cho Phật giáo đảo lộn, cho Cơ Ðốc giáo đảo lộn, không chụp là tốt hơn". Ðó là vấn đề chúng ta không nên nghiên cứu, bất quá nói ra để mọi người biết, ở Hương Cảng có sự việc quái lạ như thế phát sinh. Chủ Phương Thần Kế Mục Vô Loạn, được môn giải thoát, sức tự tại thị hiện nghiệp vô sai biệt của tất cả chúng sinh. Vị Kế Mục Vô Loạn Chủ Phương Thần nầy, trong kế tóc sinh ra tám vạn bốn ngàn con mắt, tức cũng là trên mỗi sợi tóc sinh ra nhiều con mắt như thế, tuy nhiên là nhiều như thế, nhưng không tạp loạn, cho nên có tên nầy. Giảng kinh, mỗi người có mỗi ý, có trí huệ vốn có, phát huy đạo lý vốn có. Nhưng đạo lý của kinh, mỗi chữ mỗi câu kinh, mỗi đoạn kinh, đều đầy đủ tánh pháp giới. Muốn biểu lộ ra hết nghĩa lý của kinh, đừng nói đến một tuần giảng chín tiếng, dù hết thuở vị lai cũng nói không hết. Bây giờ giảng chữ "kế" cũng có đạo lý vô cùng vô tận. Kế thì có kế tóc, nhục kế, bảo kế. Kế tóc tức là búi tóc, cuốn tóc lại thành hình tròn cao ở trên đỉnh đầu. Nhục kế là cục thịt lồi hình tròn sinh ra trên đỉnh đầu, Phật mới có tướng cát tường nầy, do đó: "Vô kiến đảnh tướng". Trong Kinh Lăng Nghiêm có nói: "Nhĩ thời Thế Tôn, tùng nhục kế trung, dũng bách bảo quang, quang trung dũng xuất, thiên diệp bảo liên". (Lúc đó, từ trong nhục kế của đức Thế Tôn, vọt ra trăm luồng quang minh báu, trong quang minh báu đó, vọt ra hoa sen báu ngàn cánh). Nghĩa là, từ trong nhục kế của đức Phật, vọt ra hoa sen báu ngàn cánh, ở trong mỗi cánh hoa sen, lại có hóa thân Phật Thích Ca Mâu Ni ngồi. Mỗi hóa thân lại có ba mươi hai tướng tám mươi vẻ đẹp, làm sao mà nói hết được ? Bảo kế tức là dùng bảy báu để trang nghiêm, để thành tựu. Chữ kế ở đây có thể giảng là kế tóc, lại có thể nói là nhục kế. Chỉ nói về kế tóc, thì diệu lý đã vô cùng vô tận. Nói huyền diệu một chút, ở trên mỗi sợi tóc, có thể trang nghiêm vô lượng mười phương pháp giới, do đó: "Ư nhất mao đoan hiện bảo vương sát" (Nơi đầu sợi lông hiện ra cõi Bảo Vương). Trên mỗi đầu sợi tóc, có vô lượng vô biên con mắt. Trên mỗi đầu sợi tóc, sinh ra tám vạn bốn ngàn con mắt. Tuy nhiên, mỗi đầu sợi tóc đầy đủ tám vạn bốn ngàn con mắt, song vẫn không rối, không tạp loạn, mỗi con mắt quán sát việc nên quán của mỗi con. Chẳng phải nói bạn nhìn tôi cũng nhìn, nhìn chẳng rõ ràng, nhìn hồ đồ, không phải vậy, mà là phân biệt rất rõ ràng sáng suốt. Phân biệt gì ? Sức tự tại phân biệt nghiệp sai biệt của chúng sinh. Vị Chủ Phương Thần nầy có nhiều kế mục như thế, đối với chúng sinh nghiệp nhiều như vậy vẫn chưa phân biệt hết. Nhưng ở trong sự không phân biệt, mà quả báu của chúng sinh không sai mảy may, mỗi người chịu quả báu của mình. Bổn lai: "Thấu rõ thì nghiệp chướng vốn không, Không thấu rõ thì phải sớm hoàn trả". Nếu thấu rõ thì nghiệp chướng sẽ không. Nghiệp tính vốn không là vốn chẳng có. Nghiệp thì chẳng có hình tướng, nếu có hình tướng thì tận hư không khắp pháp giới, cũng không có chỗ chứa. Vì nghiệp của mỗi người đều đầy khắp pháp giới. Sở hạnh nghiệp chẳng có hình tướng, cho nên không cần chứa tại nguyệt cầu hoặc tinh cầu. Vì nghiệp có thể cuốn theo trong sự ẩn mật, nhưng không thể phóng thì hợp trong di lục. Có người nói: "Tôi không tin trên đầu sợi tóc có tám vạn bốn ngàn con mắt. Cần nhiều con mắt như thế để làm gì" ? Bạn có nhìn thấy trong phòng lái của phi cơ có nhiều nút bấm chăng ? Bạn có nhìn thấy trong buồn lái tàu ngầm có nhiều nút bấm chăng ? Ðó tức là con mắt. Biểu pháp nầy, chẳng phải như nút bấm của phi cơ và tàu ngầm. Hôm nay là thời đại khoa học tiến bộ, đều có những vật cổ linh tinh quái xuất hiện, hà huống có thần thông. Trên đầu một sợi tóc, có tám vạn bốn ngàn con mắt chẳng phải nhiều, vì có thần thông, không thể nhìn lộn, tóc cũng chẳng loạn, con mắt cũng chẳng loạn. Mỗi sợi tóc chẳng rối loạn, mắt thì nhìn chân chánh mà chẳng quán loạn xạ. Quán gì ? Quán sát nghiệp của tất cả chúng sinh, bất cứ chúng sinh làm nghiệp gì, cũng đều biết được. Vị Kế Mục Vô Loạn Chủ Phương Thần, có một sự tác dụng là, thị hiện được nghiệp của tất cả chúng sinh. "Thị" là chỉ thị "tương có kim vô", tức là tương lai sẽ có, nhưng bây giờ thì chưa hiện. Vị nầy chỉ thị chúng sinh nói: "Nói với các vị ! Chúng sinh gieo nghiệp gì, thì tương lai phải thọ quả báo như thế đó". "Hiện" là nay có xưa không, nghĩa là bây giờ có, nhưng trong quá khứ thì không, tức cũng là hiện ra. Hiện ra cái gì ? Hiện ra nghiệp của chúng sinh. Nghiệp của chúng sinh mỗi người đều khác nhau, ai nấy đều có nghiệp của mình, song, thọ quả báo thì cùng một đạo lý: Thiện thì có thiện báo, ác thì có ác báo. Quả báo tuy nhiên khác nhau, nhưng đạo lý không khác nhau. Tại sao nói chẳng có khác nhau ? Vì tạo nghiệp như thế nào, thì thọ quả báo như thế đó, tuyệt đối không sai lầm, mà là rất tự nhiên. Chúng sinh không chịu ngoại lực chi phối, mà chịu nghiệp lực của mình để chi phối mình. Nói về sự thật thì nghiệp tính vốn không, tức nhiên nghiệp tính ác vốn không, thì tính thiện cũng không tồn tại, cho nên đây gọi là vô sai biệt tự tại lực. Vị Chủ Phương Thần nầy đắc được môn giải thoát nầy. Chủ Phương Thần Phổ Quán Thế Nghiệp, được môn giải thoát, quán sát đủ thứ nghiệp sinh trong tất cả các cõi. Vị Phổ Quán Thế Nghiệp Chủ Phương Thần, quán sát khắp nhân duyên của tất cả chúng sinh trong mười phương thế giới, khởi hoặc, tạo nghiệp, thọ báo. Vị nầy dùng phương pháp gì để giác ngộ chúng sinh, khiến cho họ y pháp tu hành ? Vì vị Chủ Phương Thần nầy là Bồ Tát thị hiện, cho nên minh bạch cảnh giới của Phật. Do đó, dùng cảnh giới của Phật, để khiến cho chúng sinh giác ngộ, khiến cho chúng sinh tu hành. Cảnh giới của Phật là khéo quán sát tất cả các cõi. Cõi nầy đi hướng về trước, đi về đâu ? Hoặc là vào trong ba đường ác ? Hoặc vào trong bốn đường ác ? Hoặc là thăng lên trời ? Hoặc làm người ? Con người cứ nghĩ như vậy không ngừng, đó gọi là cõi. Vị chủ Phương Thần nầy, dùng mắt trí huệ để quán sát trong tất cả các cõi, dùng trí huệ quang minh chiếu soi, phá tan đen tối trong các đường ác, khiến cho chúng sinh có nghiệp ác bỏ mê về giác, cải tà quy chánh, và khiến cho chúng sinh nghiệp thiện chưa phát bồ đề tâm, thì phát bồ đề tâm. Chúng sinh chưa trồng căn lành, thì dạy họ trồng căn lành; chúng sinh đã trồng căn lành, thì dạy họ làm cho căn lành tăng trưởng; chúng sinh căn lành đã tăng trưởng, thì trợ giúp cho họ căn lành sớm thành thục; chúng sinh căn lành đã thành thục, thì trợ giúp cho họ đắc được giải thoát. Vị Chủ Phương Thần nầy, dùng đủ thứ pháp để đối trị nghiệp của chúng sinh, khiến cho tất cả chúng sinh cùng tu môn Bát Nhã Ba La Mật, cùng chứng được cảnh giới không thể nghĩ bàn nầy, cùng vào môn giải thoát nầy. Chủ Phương Thần Chu Biến Du Lãm, được môn giải thoát, những việc làm đều rốt ráo, tất cả chúng sinh đều sinh hoan hỉ. Vị Chu Biến Du Lãm Chủ Phương Thần nầy, thích du hành, du lãm khắp nơi. Song, sự du lãm của vị nầy, chẳng giống sự du lãm của chúng sinh. Chúng sinh muốn du hành, thì trước hết đến tòa đại sứ xin kiểm chứng (visa), nếu lãnh sự quán không phê chuẩn thì không được đi. Sau đó phải mua vé máy bay, hoặc vé tàu, hoặc vé xe lửa .v.v., phải trải qua nhiều thủ tục mới đi được. Vị Chủ Phương Thần nầy, khi muốn du hành thì chẳng có rắc rối như thế, được tự do thật sự, không có gì hạn chế, muốn đi thì đi. Chẳng tốn kém gì cả, mà còn rất được hoan nghênh. Vị nầy đi du lãm tận hư không khắp pháp giới. Tại sao vị nầy phải đi du lãm ? Vì muốn trợ giúp tất cả chúng sinh làm việc. Vị nầy đắc được cảnh giới của Phật, những gì làm đều được rốt ráo, như là mười Ba La Mật rốt ráo, tứ vô lượng tâm rốt ráo, cho nên sinh tất cả sự hoan hỉ, tức cũng khiến cho tất cả chúng sinh đều sinh tâm hoan hỉ. Hoan hỉ cái gì ? Hoan hỉ đắc được pháp ích. Vị nầy khiến cho tất cả mọi việc đều rốt ráo, cho nên tất cả chúng sinh đều sinh đại hoan hỉ. Vị nầy vào môn giải thoát nầy. Bây giờ, mọi người cùng nghiên cứu về mười Ba La Mật và tứ vô lượng tâm. Tôi nhớ bắt đầu giảng kinh từ năm 1968, mười Ba la mật nầy đã giảng qua ba lần và bốn vô lượng tâm đã giảng qua năm lần. Nay nghiên cứu lại một lần nữa. Nghiên cứu Phật pháp thì phải giành trước đừng lạc về sau. Ai nhớ thì người đó nói trước, nói sai cũng chẳng quan hệ gì, vì chúng ta đang nghiên cứu vấn đề. Mười ba la mật là : 1. Bố thí. 2. Trì giới. 3. Nhẫn nhục. 4. Tinh tấn. 5. Thiền định. 6. Bát nhã. 7. Phương tiện. 8. Nguyện. 9. Lực. 10. Trí. Sáu ba la mật trước đã giảng nhiều lần. Bây giờ, chỉ giảng sơ lược về bốn Ba la mật sau cùng. Trước hết, chúng ta phải biết tại sao Bồ Tát phải tu mười pháp Ba la mật ? Vì tâm của Bồ Tát quá từ bi, không đành để chúng sinh chịu khổ đói rét, cho nên phải bố thí. Không nhẫn tâm làm thương hại sinh mạng chúng sinh, cho nên phải trì giới. Thương xót chúng sinh vô tri và phiền não, cho nên phải nhẫn nhục. Muốn rộng độ chúng sinh, tự cầu giải thoát cho nên phải tinh tấn. Vì cầu đại trí huệ, đại thần thông, cho nên phải thiền định. Vì lãnh đạo năm Ba la mật ở trên, đạt đến cảnh giới chí chân chí thiện chí mỹ, cho nên tu Bát Nhã. Ðó là chí nguyện của Bồ Tát tu sáu Ba la mật. Phương tiện Ba la mật : Tức là phương tiện khéo léo đến bờ kia, có phương tiện hồi hướng và cứu tế, có phương tiện bất xả bất thọ. Nguyện Ba la mật : Là phát nguyện đến bờ kia, có nguyện cầu bồ đề, và lợi lạc cho kẻ khác. Lực Ba la mật: Là sức lực đến bờ kia, có lực tu tập, lực hóa độ, lực nghĩ chọn ba sức lực. Trí Ba la mật: Là trí huệ đến bờ kia, có hai thứ trí là trí thọ dụng pháp lạc, và trí thành thục hữu tình. Bốn vô lượng tâm là: 1. Từ 2. Bi 3. Hỉ 4. Xả Tu hành bốn hạnh nầy, đối tượng là tất cả chúng sinh, cho nên chẳng có giới hạn, chẳng có số lượng, chẳng có thời gian .v.v., cho nên gọi là bốn vô lượng. Bốn hạnh nầy là tự phát nơi tâm của mình, tức cũng là cam tâm tình nguyện làm bốn việc nầy, cho nên mới gọi là bốn vô lượng tâm. Từ vô lượng tâm: Là ban sự an vui cho tất cả chúng sinh, bất cứ là chúng sinh có duyên hay là vô duyên, đều ban cho sự an vui, đó gọi là vô duyên đại từ. Bi vô lượng tâm: Là cứu mọi sự thống khổ của tất cả chúng sinh, thấy chúng sinh chịu khổ giống như chính mình chịu khổ không khác, cho nên không màng là chúng sinh thiện hay là chúng sinh ác, thảy đều cứu trừ sự khổ của họ, đó là đồng thể đại bi. Hỉ vô lượng tâm: Là gặp chúng sinh làm việc thiện, đắc được cảnh giới khoái lạc, phải biểu thị sự vui mừng, pháp môn nầy đối trị tâm đố kị, chúng ta đừng có tâm lý vui mừng khi họ gặp tai họa. Xả vô lượng tâm: Là đồi với chúng sinh, chẳng sinh tâm thương ghét, không phân biệt kẻ oán người thân, đều xem bình đẳng. Xả bỏ tất cả mà không chấp trước, chỉ bố thí cho chúng sinh mà chẳng có xí đồ, do đó : "Thi ân bất cầu báo" (giúp đỡ người chẳng mong họ đền đáp). Bốn tâm nầy, mà tu đến giai đoạn vô lượng, thì chúng sinh mới cung kính bạn, tin bạn, sau đó mới cảm hóa họ tín ngưỡng Tam Bảo, quy y Tam Bảo, cung kính Tam Bảo, cúng dường Tam Bảo, làm Phật giáo đồ thuần thành. Người tu hành phải hành pháp môn mười Ba la mật, và phối hợp với bốn vô lượng tâm và bốn nhiếp pháp, như thế thì mới có sự thành tựu, bằng không thì tất cả chỉ là nói suông, tuyệt đối chẳng có gì thành tựu đáng nói. Bấy giờ, Chủ Phương Thần Biến Trụ Nhất Thiết, nương oai lực của đức Phật, quán khắp tất cả chúng Chủ Phương Thần, mà nói ra bài kệ. Lúc bấy giờ là lúc nào ? Tức là lúc vị Chu Biến Du Lãm Chủ Phương Thần vừa nói xong, thì lúc đó, vị Biến Trụ Nhất Thiết Chủ Phương Thần, nương đại oai thần lực của đức Phật, mà nói ra bài kệ. Sức lực của vị thần nầy, có được là nhờ đức Phật gia bị, được Phật trợ giúp. Phật dùng đại oai thần lực để gia bị cho vị nầy, cho nên vị nầy mới có trí huệ như thế, mới quán sát khắp tất cả chúng Chủ Phương Thần, dùng kệ bốn câu để tụng lại, diễn đạt rõ nghĩa lý trong trường hàng ở trên. Bây giờ nói cho quí vị biết một tin tức. Tại sao Thiện Tài đồng tử luôn luôn đến pháp hội Hoa Nghiêm của chúng ta ? Chẳng có ý nghĩa gì khác, chỉ là vì đến ủng hộ pháp hội, ủng hộ đại đạo tràng Hoa Nghiêm của thế giới. Bạn thấy được Thiện Tài đồng tử, tức là có duyên thù đặc với Thiện Tài. Có người nói : "Tôi chẳng thấy được Thiện Tài đồng tử". Vì công phu tu hành của bạn chưa đến nhà, cho nên bạn chẳng thấy. Nếu khai mở ngũ nhãn thì sẽ thấy được, không những thấy được mà còn là bạn tốt. Bạn muốn làm bạn với Thiện Tài đồng tử chăng ? Vậy thì phải dũng mãnh tinh tấn tu hành, tham thiền đả tọa, tâm chẳng vọng tưởng, thì sẽ khai ngộ, thì sẽ thấy được Thiện Tài đồng tử. Như Lai tự tại hiện ra đời Giáo hóa tất cả các quần sinh Bày hết pháp môn khiến ngộ nhập Ðều khiến sẽ thành vô thượng trí. "Như Lai tự tại hiện ra đời". Phật rất tự nhiên tự tại đến thế giới Ta Bà trong đời ác năm trược. Tại sao ? Trong Kinh Pháp Hoa có nói: "Phật vì một đại sự nhân duyên mà xuất hiện ra đời". Ðại sự gì ? Tức là sinh tử đại sự. "Giáo hóa tất cả các quần sinh". Vì chúng sinh bị vô minh che, suốt ngày điên đảo, khởi hoặc, tạo nghiệp, thọ báo, lưu chuyển trong vòng sinh tử, chẳng biết cầu giải thoát. Phật ôm lòng thương xót chúng sinh, đến đời ác năm trược, giáo hóa chúng sinh bị tình dục mê hoặc, khiến cho họ sớm tỉnh ngộ. Do đó : "Biển khổ bao la, quay đầu thì thấy bờ". Quay đầu tức là tu hành. Người tu đạo biết đi sai đường, thì phải sớm quay trở lại, không thể bế tắc giữa đường, phải siêng tinh tấn thì mới đạt đến bờ giác ngộ. "Bày hết pháp môn khiến ngộ nhập". Phật mở bày hết phương pháp, cho chúng sinh bị tình dục mê hoặc, để vượt ra khỏi biển khổ, tức là tám vạn bốn ngàn pháp môn, nói đơn giản là: "Ðừng làm điều ác, hãy làm các điều lành". Và : "Siêng tu giới định huệ, dứt sạch tham sân si". Ðó là pháp cơ bản tu hành, có cơ sở rồi thì mới hành Bồ Tát đạo, công đức viên mãn thì mới ngộ nhập vào môn giải thoát. "Ðều khiến sẽ thành vô thượng trí". Nếu được như thế, thì đều khiến cho họ thành tựu trí huệ vô thượng, tức cũng là chuyển thức thành trí, chuyển tám thức thành bốn trí, đem năm thức trước chuyển thành Thành sở tác trí, thức thứ sáu chuyển thành Diệu quán sát trí, thức thứ bảy chuyển thành Bình đẳng tánh trí, thức thứ tám chuyển thành Ðại viên cảnh trí. Thần thông vô lượng đồng chúng sinh Tuỳ chúng sinh thích hiện các tướng Ai thấy cũng lìa các sự khổ Giải thoát lực nầy của Hiện Quang. "Thần thông vô lượng đồng chúng sinh". Thần thông là cảnh giới không thể nghĩ bàn. Phật có thần thông của Phật, Bồ Tát có thần thông của Bồ Tát, La Hán có thần thông của La Hán, trời có thần thông của trời, người có thần thông của người, quỷ có thần thông của quỷ, tuy nhiên đều có thần thông, nhưng đều khác nhau, có thần thông cứu kính, thần thông không cứu kính. Phật thì có vô lượng vô biên đại thần thông cứu kính, vì muốn cứu độ chúng sinh, cho nên có bao nhiêu chúng sinh, thì Phật có bấy nhiêu thần thông. Nếu Phật không có thần thông nhiều như thế, thì làm sao cứu độ chúng sinh ? Chúng sinh vô lượng thì thần thông của Phật cũng vô lượng. Dùng vô lượng thần thông để giáo hóa vô lượng chúng sinh, cho nên nói thần thông vô lượng đồng chúng sinh. Bây giờ, đưa ra một ví dụ nông cạn dễ hiểu, để thuyết minh về đạo lý thần thông, hiểu rõ đạo lý nông cạn thì tự nhiên sẽ hiểu đạo lý thâm sâu. Các bạn đều thấy rõ công dụng của máy lôi đạt (radar), là hành động trinh sát máy bay và tàu ngầm. Nếu máy bay của địch đến phạm vi bầu trời của nước mình, thì máy lôi đạt lập tức phát hiện. Hoặc là tàu địch xâm phạm đến hải phận của nước mình, thì máy lôi đạt hiện ra, đó tức là thần thông, bất quá đó là thần thông khoa học, cũng là thần thông nhân tạo, mà không phải là thần thông tự nhiên. Thần thông của Phật là thần thông tự nhiên, là vốn có, không cần bấm nút, là tự tánh vốn có sẵn đầy đủ. Thần thông của Phật là vì cứu độ tất cả chúng sinh. Do đó: "Nhất thiết chúng sinh, Nhược can chủng tâm, Như Lai tất tri tất kiến". Nghĩa là : Tất cả chúng sinh, Có bao nhiêu thứ tâm Như Lai thảy đều thấy biết hết. Vì tâm của Phật và chúng sinh có lưới lôi đạt (radar) tương giao với nhau, có quan hệ tâm điện cảm ứng, cho nên Phật biết được việc suy nghĩ trong tâm của chúng sinh, đều rõ ràng không sai lầm mảy may, đó là tác dụng của thần thông. "Tùy chúng sinh thích hiện các tướng". Mười phương ba đời tất cả chư Phật, tùy theo sự ưa thích của chúng sinh, cho nên mới thị hiện đủ thứ tướng, khiến cho chúng sinh minh bạch tất cả tướng. Tôi thường nói với các bạn : Kiến sự tỉnh sự xuất thế gian, Kiến sự mê sự đọa trầm luân. Nghĩa là : Nếu thấy việc gì mà giác ngộ việc đó, thấu rõ nguyên lai là như thế, minh bạch được, thì chẳng có vấn đề gì. Nếu thấy việc mà hồ đồ, thì bị cảnh giới chuyển, mà chẳng chuyển được cảnh giới, thì phải đọa lạc vào ba đường ác chịu khổ. "Nhãn quán hình sắc nội vô hữu, Nhĩ thính trần sự tâm bất tri". Nghĩa là : Mắt thấy hình sắc chẳng dính mắc, Tai nghe chuyện đời tâm chẳng hay. Tâm của bạn một thời thanh tịnh, thì một thời tại núi Linh Sơn. Luôn luôn thanh tịnh, thì luôn luôn tại Linh Sơn. Phật Thích Ca Mâu Ni đang ở trên pháp hội Linh Sơn, vẫn còn đang thuyết pháp chưa giải tán. Cảnh giới nầy, vị Trí Giả đại sư vào đời Tùy thấy được. Nếu bạn thấy việc tỉnh việc, thì cũng sẽ có sự cảm ứng nầy. Vì pháp hội Linh Sơn chưa tan, cho nên mới nói, tùy chúng sinh thích hiện các tướng, tức là thị hiện tất cả các tướng. Tất cả tướng tức là tất cả pháp. Minh bạch được tất cả tướng, thì minh bạch được tất cả pháp. "Ai thấy cũng lìa các sự khổ". Bạn thấy được Phật, nghe được pháp, khai mở trí huệ, thì lìa khổ được vui, liễu sinh thoát tử. Nếu bạn ngu si, thì ở trong địa ngục đen tối, giống như ở trong phòng đen tối chẳng có ánh đèn. Nếu thắp lên một cây đèn cầy, thì có chút chút ánh sáng Bát nhã. Chút ánh sáng Bát nhã nầy, khiến cho bạn nhìn thấy được chữ. Bạn nên khai mở ánh sáng của tâm, nếu ánh sáng của tâm khai mở, thì không cần đèn cầy, cũng chẳng cần đèn điện, cũng chiếu sáng như thường. Ðó là đắc được cảnh giới vô thượng trí. Ðắc được vô thượng trí, thì dù ở trong thế giới đen tối, cũng có đại quang minh tạng chiếu khắp như thường. "Giải thoát lực nầy của Hiện Quang". Cảnh giới nầy vị Phổ Hiện Quang Minh Chủ Phương Thần, thấy rõ giải thoát lực nầy. Phật trong biển ám chướng chúng sinh Vì hiện đuốc pháp đại quang minh Quang nầy chiếu soi khắp hết thảy Giải thoát nầy của Hành Trang Nghiêm. "Phật trong biển ám chướng chúng sinh". Chúng sinh ngu si quá nhiều, ám chướng cũng quá nhiều, nhiều sâu rộng như biển cả. Phật ở trong biển đen tối nghiệp chướng của chúng sinh, phóng đại quang minh, khiến cho chúng sinh quay đầu thấy bờ kia. "Vì hiện đuốc pháp đại quang minh". Phật thương xót tất cả chúng sinh, vì chúng sinh mà hiện đuốc pháp. Ðuốc pháp tức là trí huệ quang minh. Ðuốc pháp tức là đèn pháp, do đó đèn pháp thường sáng. Phật vì chúng sinh mà phóng đại quang minh, hiện ra đèn sáng trí tuệ, tức cũng là Phật quang phổ chiếu. "Quang nầy chiếu soi khắp hết thảy". Ðen tối tức là ngu si, Bát nhã tức là trí huệ. Chúng sinh có trí huệ thì phá trừ đen tối. Phá trừ đen tối rồi, thì Bát nhã quang minh sẽ chiếu khắp tất cả chúng sinh trong mười phương, khiến cho tất cả chúng sinh, đều đắc được Bát nhã quang minh, đó là đạo lý khắp hết thảy, tức cũng là chẳng có một chúng sinh nào, mà không đắc được lợi ích Bát nhã quang minh. "Giải thoát nầy của Hành Trang Nghiêm". Cảnh giới môn giải thoát nầy, vị Quang Hành Trang Nghiêm Chủ Phương Thần đắc được. Ðầy đủ các âm thanh thế gian Chuyển pháp luân khắp thảy đều hiểu Chúng sinh nghe được phiền não diệt Sở ngộ nầy của Du Hành Thần. "Ðầy đủ các âm thanh thế gian". Phật dùng một âm diễn nói pháp, chúng sinh tùy loại đều hiểu được. Một âm thanh của Phật tức là tất cả âm thanh. Tất cả âm thanh tức là một âm thanh. Cho nên nói đầy đủ các âm thanh thế gian. Các thứ âm thanh nầy, đều đầy đủ trong một âm thanh của Phật. "Chuyển pháp luân khắp thảy đều hiểu". Phật chuyển đại pháp luân khắp hết thảy. Chuyển pháp luân tức là đầy đủ các thứ âm thanh thế gian. Dùng đủ loại âm thanh, đủ thứ pháp để chuyển đại pháp luân, khiến cho chúng sinh đều được ngộ hiểu, đều được cứu. Chuyển đại pháp luân là gì ? Nói đơn giản, phàm là vì sự nghiệp Phật giáo mà nỗ lực, tức là chuyển pháp luân. Ví như : Giảng kinh thuyết pháp, phiên dịch kinh điển, ấn tống kinh điển, truyền bá kinh điển, đó tức là thay thế mười phương chư Phật để chuyển pháp luân. Thành lập đạo tràng, thổi đại pháp loa, đánh đại pháp cổ, đều là chuyển đại pháp luân. "Chúng sinh nghe được phiền não diệt". Chúng sinh nghe được pháp âm nầy, thì phiền não sẽ tiêu diệt, vô minh cũng phá tan. Phá vô minh hiển pháp tính, thì trở về cội nguồn, nhận ra bộ mặt thật của mình trước khi cha mẹ sinh ra. Bây giờ chúng ta tự hỏi mình, nghe cảnh giới không thể nghĩ bàn của Kinh Hoa Nghiêm, phiền não của mình đã tiêu diệt chưa ? Phải hồi quang phản chiếu, kiểm thảo chính mình. Nếu phiền não của mình tiêu diệt rồi, thì nên lên thêm một từng lầu, do đó : "Ðầu sào trăm thước, Tiến thêm một bước". Nếu không diệt thì hãy sinh tâm sám hối, phải dùng trí huệ của mình để tiêu diệt phiền não. Ðây là điểm quan trọng nhất. Học Phật pháp thì phải không có phiền não, không có phiền não mới khai ngộ được, khai ngộ mới có đại trí huệ, tức cũng là diệu dụng của thần thông. "Sở ngộ nầy của Du Hành Thần". Cảnh giới nầy, vị Du Hành Vô Ngại Chủ Phương Thần, ngộ hiểu minh bạch được. Tất cả hết thảy tên chúng sinh Ðều đồng tên Phật mà sinh ra Tất khiến chúng sinh lìa si hoặc Nơi sở hành của Ðoạn Mê Thần. "Tất cả hết thảy tên chúng sinh". Tất cả chúng sinh hữu tình thế gian, đều có tên của mình. Có vô lượng vô biên chúng sinh, thì có vô lượng vô biên tên, tất cả tên tức là bao quát tên của hết thảy chúng sinh. "Ðều đồng tên Phật mà sinh ra". Tên của chúng sinh có rất nhiều, song, tên Phật và tên chúng sinh đều nhiều như nhau. Phật xuất hiện ra đời, để giáo hóa nhiều chúng sinh như thế. "Tất khiến chúng sinh lìa si hoặc". Phật hoàn toàn khiến cho chúng sinh, đều thoát khỏi ngu si, vô minh, nghi hoặc. Do đó : "Tu đạo thì tâm chớ nghi, Nếu khởi tâm nghi tức mê đồ". Người tu đạo, thì phải y pháp tu hành, đừng khởi tâm hoài nghi. Có Phật chăng ? Ai cũng đều nói có Phật, sao tôi chẳng thấy Phật ? Là giả chăng ? Kinh điển có phải Phật nói chăng ? Sinh ra đủ thứ tâm nghi hoặc, đó là nhân duyên chướng ngại đạo. Có rất nhiều người nói Kinh Lăng Nghiêm là giả, đáo để là giả chăng ? Hãy nghiên cứu xem. A ! Ðại khái là giả, đó là sinh nghi. Sự nghi nầy sinh ra, thì nhận thức không rõ ràng, đó chẳng khác nào như kẻ mù đi đường, chẳng biết đi về hướng nam hay là hướng bắc ? Ði về hướng đông hay là hướng tây ? Người mù mắt vì không thấy được ánh sáng, cho nên cho rằng khắp nơi đều là đen tối, chính y chẳng thấy được ánh sáng, mà cho rằng tất cả mọi người đều giống như y, không thấy được ánh sáng. Làm thế nào lìa được si hoặc ? Vì có si mới có hoặc. Nếu không có ngu si, thì chẳng có hoặc, do đó : "Trí hiện hoặc đoạn, Đoạn hoặc chứng chân". Nói về chữ hoặc có rất nhiều ý nghĩa, nào thô hoặc, tế hoặc, kiến tư hoặc, trần sa hoặc, vô minh hoặc .v.v... Tóm lại, có trí huệ thì đoạn sạch tất cả hoặc. "Nơi sở hành của Ðoạn Mê Thần". Hoặc mà đoạn trừ thì trí huệ sẽ hiện tiền. Cảnh giới nầy, là nơi sở hành của vị Vĩnh Ðoạn Mê Hoặc Chủ Phương Thần. Nếu có chúng sinh đến trước Phật Nghe được mỹ diệu âm Như Lai Thảy đều sinh tâm đại hoan hỉ Biến Du Hư Không ngộ pháp nầy. "Nếu có chúng sinh đến trước Phật". Nếu như có chúng sinh đến trước mặt đức Phật. Ðể làm gì ? Nghe Phật nói pháp vi diệu thâm sâu vô thượng. "Nghe được mỹ diệu âm Như Lai". Ðến trước đức Phật, cung kính nghe Phật diễn nói pháp âm mỹ diệu không thể nghĩ bàn, nghe được rồi thì sinh trí huệ. "Thảy đều sinh tâm đại hoan hỉ". Chúng sinh nghe được Phật thuyết pháp, thì chẳng có một chúng sinh nào mà trong tâm không sinh đại hoan hỉ, đắc được pháp hỷ sung mãn. "Biến Du Hư Không ngộ pháp nầy". Vị Biến Du Hư Không Chủ Phương Thần, tỏ ngộ cảnh giới nầy của Phật, mà ngộ nhập vào môn giải thoát nầy. Phật ở trong mỗi một sát na Rưới khắp vô biên mưa pháp lớn Đều khiến chúng sinh diệt phiền não Pháp nầy Vân Tràng Thần biết rõ. "Phật ở trong mỗi một sát na". Một sát na là thời gian rất ngắn. Phật ở trong mỗi một sát na làm gì ? Chuyển đại pháp luân, mưa đại pháp vũ, phổ độ chúng sinh. "Rưới khắp vô biên mưa pháp lớn". Phật ở trong mỗi một sát na, luôn luôn không nghỉ, nói pháp không ngừng, mưa khắp vô biên đại pháp vũ, trong mỗi niệm đều giáo hóa, trong mỗi sát na đều thức tỉnh chúng sinh, mà không cảm thấy mỏi mệt. "Ðều khiến chúng sinh diệt phiền não". Phật dùng nước Bát nhã trí huệ, để dập tắt lửa vô minh phiền não, làm cho phiền não của chúng sinh hoàn toàn tiêu diệt. "Pháp nầy Vân Tràng Thần biết rõ". Vị Vân Tràng Ðại Âm Chủ Phương Thần, biết rõ cảnh giới nầy mà vào môn giải thoát nầy. Tất cả các biển nghiệp thế gian Phật đều khai thị đồng không khác Khiến khắp chúng sinh trừ nghiệp hoặc Môn nầy Kế Mục Thần thấy rõ. "Tất cả các biển nghiệp thế gian". Tất cả chúng sinh hữu tình thế gian, đã tạo nghiệp chướng như biển cả, vừa sâu vừa rộng lớn. Tại sao có nghiệp ? Vì mê hoặc, cho nên mới tạo nghiệp, do đó : "Khởi cảm, tạo nghiệp, thọ báo". "Phật đều khai thị đồng không khác". Nghiệp của chúng sinh tạo ra như biển cả. Song, Phật vẫn khai thị chúng sinh, tạo đủ thứ nghiệp, thì thọ đủ thứ quả báo. Chúng sinh đều có nghiệp khác nhau, cho nên thọ quả báo cũng khác nhau, rất là bình đẳng và công đạo. Trồng nhân gì, thì kết quả đó. Trồng nhân thiện, thì kết quả thiện, trồng nhân ác, thì kết quả ác. Tuy nhiên quả báo không giống, là tùy theo việc làm của họ, mà thọ lấy quả báo. Cho nên nói, Phật đều khai thị đồng không khác. "Ðều khiến chúng sinh trừ nghiệp hoặc". Phật khiến cho khắp hết thảy tất cả chúng sinh, đều trừ khử sạch nghiệp hoặc. Trừ khử nghiệp hoặc thì đắc được bổn thể thanh tịnh. Không trừ khử nghiệp hoặc thì không đắc được bổn thể thanh tịnh. "Môn nầy Kế Mục Thần thấy rõ". Cảnh giới môn giải thoát nầy, vị Kế Mục Vô Loạn Chủ Phương Thần thấy rõ được. Nhất thiết trí địa không bờ bến Tất cả tâm niệm của chúng sinh Như Lai chiếu thấy đều rõ ràng Môn rộng lớn nầy Quán Thế vào. "Nhất thiết trí địa không bờ bến". Nhứt thiết chủng trí địa nầy vô lượng vô biên. Ðây là Phật trí, là Phật địa, là vô thượng trí, vô thượng trí tức là Phật trí, chẳng có gì cao hơn được. Cho nên nói Nhất thiết trí địa không bờ bến. Trí huệ nầy tùy cơ hóa đạo, tuỳ duyên dẫn độ, đều hiện ở trong tất cả tâm của chúng sinh. Do đó : "Thiên đầm hữu thủy thiên đầm nguyệt, Vạn lý vô vân vạn lý thiên". Nghĩa là: Ngàn đầm có nước đều hiện mặt trăng Ngàn dặm không mây, ngàn dặm trời xanh. Trí huệ nầy là diệu trí vô tác, diệu huệ vô tác. Vô tác tức là không cần tạo tác. Trí huệ của Phật không cần suy nghĩ, bất cứ cảnh giới gì đến, đều tiếp nhận mà giải quyết, vừa cấp tốc vừa nhanh chóng. Ðó gọi là Nhất thiết trí địa không bờ bến. Ðó là nói đại khái, nếu nói tỉ mỉ thì hết thuở vị lai cũng nói không hết. Vì nó chẳng có bờ bến, làm sao nói xong được ? "Tất cả chúng sinh đủ thứ tâm". Do đó : "Chúng sinh nhược can chủng tâm, Như Lai tất tri tất kiến". Nghĩa là: Chúng sinh có bao nhiêu thứ tâm Như Lai đều biết đều thấy. Làm sao biết ? Vì có vô thượng trí. Làm sao thấy được ? Vì có mắt trí huệ. "Như Lai chiếu thấy đều rõ ràng". Mắt trí huệ của Phật chiếu thấy được tất cả, hoàn toàn đều thấy rõ. Do đó : "Không gì mà không biết, Không chỗ nào mà không thấy". "Môn rộng lớn nầy Quán Thế vào". Môn Bát Nhã rộng lớn nầy, vị Phổ Quán Thế Nghiệp Chủ Phương Thần, tỏ ngộ mà vào được môn giải thoát nầy. Phật trong quá khứ tu các hạnh Vô lượng các độ đều viên mãn Đại từ thương xót lợi chúng sinh Giải thoát nầy của Biến Du Thần. "Phật trong quá khứ tu các hạnh". Phật ở trong vô lượng kiếp thuở xa xưa, tu tất cả hạnh môn. Hạnh môn là gì ? Tức là tám vạn bốn ngàn hạnh môn, cho nên gọi là các hạnh. Lại có thể nói là, một môn trong tám vạn bốn ngàn hạnh môn, tức là một môn nầy. Tu một môn nầy thành công rồi, thì tu môn khác, môn này tu thành công rồi, thì tu môn khác nữa. Cho nên chữ "các" (chư) nầy, có thể nói là nhiều, lại có thể nói là một. Chữ một nầy là từ trợ ngữ, tức là một môn nầy. Vì nếu nói nhiều hạnh môn, thì chúng ta phát sợ. Chao ôi ! Có nhiều hạnh môn như thế làm sao mà tu ? Chúng ta tuyệt đối không thể thành Phật. Ðừng quan tâm, đừng sợ ! Tu từng môn từng môn, tu môn nầy thành rồi, thì môn khác cũng thành. Tại sao ? Vì một môn là tất cả môn, tất cả môn là một môn. Một thông thì tất cả thông, tất cả thông là một thông, do đó : "Một pháp thông, Thì trăm pháp đều thông". Trong Kinh Hoa Nghiêm nói : "Tự tánh như hư không, Chân vọng tại kỳ trung, Ngộ triệt bổn lai thể, Nhất thông nhất thiết thông". Nghĩa là : Tánh mình như hư không Chân vọng đều có hết Thấu triệt thể vốn có, Một thông vạn sự đều thông. Ðắc được một, thì việc gì cũng đều chẳng có. Giống như ăn cơm no rồi, thì chẳng muốn ăn gì nữa. Phật tu tất cả hạnh, trước hết bắt đầu tu từ đâu ? Trước hết bắt đầu từ nhẫn nhục mà tu, do đó : "Nhẫn là báu vô giá, Mọi người đối không tốt, Phải thường dùng được nó, Vạn sự đều thành công". Tại sao chúng ta buông bỏ chẳng đặng ? Vì nhẫn không đặng. "Vô lượng các độ đều viên mãn". Ðộ là gì ? Tức là Ba La Mật. Các độ tức là vô lượng vô biên Ba La Mật. Ba la mật dịch là "đến bờ kia", tức là từ bờ sinh tử bên nầy, qua dòng sinh tử phiền não, đạt đến bờ Niết Bàn bên kia. Các độ tức là lục độ (Ba la mật), cũng là thập độ (Ba la mật). Bạn thấy độ nào tốt thì tu độ đó, tu từng độ từng độ, nếu không tu thì tuyệt đối không đến được bờ kia. Nhất định trước phải tu một độ, tu độ nầy xong thì tu độ khác, từ từ tu viên mãn hết các độ, đó là đạo lý hòa tu pháp môn đồng một dạng. Một dạng tu viên mãn, thì dạng dạng cũng đều viên mãn, chúng đều hỗ tương thông đạt, hỗ tương trợ giúp, cũng giống như bạn giúp tôi, tôi giúp bạn, hợp tác với nhau. Bạn mượn chút sức của tôi, tôi mượn chút sức của bạn. Sức này viên mãn, thì vô lượng vô biên Ba la mật đều tu viên mãn. "Ðại từ thương xót lợi chúng sinh". Phật dùng tâm đại từ ban vui cho chúng sinh, dùng tâm thương xót (đại bi) cứu khổ của chúng sinh, khiến cho chúng sinh lìa khổ được vui, khiến cho chúng sinh liễu sinh thoát tử, đó tức là lợi ích chúng sinh. "Giải thoát nầy của Biến Du Thần". Vị Chu Biến Du Lãm Chủ Phương Thần đắc được môn giải thoát nầy. Lại nữa, Chủ Không Thần Tịnh Quang Phổ Chiếu, được môn giải thoát, biết khắp tâm chúng sinh trong tất cả các cõi. Lại nữa, tức là tiếp tục nói, Vị Tịnh Quang Phổ Chiếu Chủ Không Thần nầy, có quang minh thanh tịnh. Quang minh nầy do Bát Nhã trí huệ hiện ra, mà chiếu sáng khắp mười phương. Trong Kinh Lăng Nghiêm nói : "Thuấn Nhã Ða tính khả tiêu vong, Thước ca la tâm vô động chuyển". Thuấn Nhã Ða là Không Thần, vị Không Thần nầy có thể không còn, nhưng tâm kiên cố không thể lay động chuyển đổi. Con tin sâu vào đại định Lăng Nghiêm, tâm kiên cố của con không lay động chuyển đổi, đó là kệ của tôn giả A Nan nói. Vị Chủ Không Thần nầy, biết khắp tâm của chúng sinh trong tất cả các cõi. Các cõi tức là sáu nẻo. Chúng sinh ở trong sáu nẻo đang khởi vọng tưởng gì, thì vị nầy đều biết. Nếu có chúng sinh khởi tâm tham, thì vị nầy ban bố cho họ. Tham một đồng tiền thì cho hai đồng tiền. Tại sao ? Vì: "Muốn khiến vào Phật trí, Trước dùng móc dục dắt". Chúng sinh thích gì, thì trước hết cho họ cái đó. Ví như muốn một bộ Phật học từ điển, thì có người mang đến cho bạn, hoàn thành tâm nguyện của bạn. Tóm lại, vị Chủ Không Thần nầy, có cầu thì tất ứng, song, chỉ mãn túc vọng tưởng thiện, chứ không phải là vọng tưởng ác. Vị nầy đắc được môn giải thoát, biết khắp tâm của tất cả chúng sinh. Chủ Không Thần Phổ Du Thâm Quảng, được môn giải thoát, vào khắp pháp giới. Vị Phổ Du Thâm Quảng Chủ Không Thần nầy, thích du hành, không những du hành khắp thế giới, mà còn đến các nơi rộng sâu, thậm chí cũng đi đến tham quan Long cung, xem thử có phải Long Vương đang ngủ, làm mưa sái giờ, hoặc là sai rồng khác đi làm mưa, còn mình thì lười ngủ khò ? Nếu Long Vương ngủ, thì vị Chủ Không Thần nầy đánh thức dậy nói : "Ê ! Ông bạn ! Hãy tỉnh dậy ! Ông phải chấp hành nhiệm vị của ông ! Ngủ nữa thì chúng sinh trong thiên hạ sớm phải chết đói" ! Tôi nói vị Phổ Du Thâm Quảng Chủ Không Thần đi xuống Long cung, chẳng phải người si nói mộng mà là có căn cứ. Căn cứ gì ? Căn cứ vị nầy đắc được môn giải thoát vào khắp pháp giới. Pháp giới thì bao quát tất cả, Long cung cũng ở trong pháp giới. Do đó, có thể chứng minh vị Chủ Không Thần nầy, đã đến Long cung thưởng thức phong cảnh, chẳng phải vui miệng nói bậy. Các bạn ai muốn du hành đến Long cung, thì trước hết phải chứng được môn giải thoát vào khắp pháp giới. Có cảnh giới nầy rồi, thì mới toại tâm mãn nguyện, chẳng có gì hạn chế được, đến đi tự do. Ðó là môn giải thoát mà vị Chủ Không Thần nầy vào được. Những người xuất gia và tại gia tại chùa Kim Sơn, đều dũng mãnh tinh tấn. Vì Phật giáo đang bắt đầu ở phương tây, cần người khai ngộ, cần người chứng quả. Có người khai ngộ và người chứng quả, thì phật giáo mới dễ dàng phát dương quang đại. Cho nên hy vọng Tỳ kheo và Tỳ Kheo Ni nỗ lực tham thiền, chí cầu khai ngộ, chứng đắc đạo quả. Hiện tại có hai vị Tỳ Kheo phát tâm tam bộ nhất bái, cầu cho thế giới hoà bình vô tai nạn. Tỳ Kheo Ni không thể đứng đàng sau, vì tại nước Mỹ nầy nam nữ bình đẳng. Hiện tại đang khảo tuyển nhân tài khai ngộ và chứng quả, hy vọng mọi người nỗ lực tranh thủ. Hiện tại có vị cư sĩ đưa ra vấn đề. Vị cư sĩ nầy không biết là cư sĩ nam hay là cư sĩ nữ ? y nói : "Tỳ kheo và Tỳ Kheo ni có thể khai ngộ, có thể chứng quả. Vậy, chúng tôi người cư sĩ có hy vọng chăng" ? Bây giờ bổ sung thêm, cư sĩ nam và cư sĩ nữ đều có hy vọng, đều có thể khai ngộ cũng có thể chứng quả, nhưng phải tu hành. Nếu không tu hành, thì dù Phật đích thân tới giáo hóa, cũng không thể thành Phật. Nếu thành tâm tu hành, thì Phật không đến cũng có thể thành Phật, chỉ xem bạn tu hành hay chăng, để quyết định thành Phật hay không thành Phật. Chủ Không Thần Sanh Cát Tường Phong, được môn giải thoát, thấu rõ vô biên cảnh giới thân tướng. Vị Sinh Cát Tường Chủ Không Thần. Cát Tường tức là gì cũng đều tốt, chẳng có xấu, nếu có xấu thì chẳng phải là cát tường. Vị Chủ Không Thần nầy, sinh được gió cát tường, gió nầy là pháp thanh tịnh, chứ chẳng phải là pháp nhiễm ô, cho nên gọi là gió cát tường. Gió có rất nhiều loại. Có gió cuồng, gió bão, gió bắc, gió đông, gió tây, đều chẳng phải là gió cát tường. Gió từ, gió hòa, gió huệ, gió nam, đều là gió cát tường. Ðại Thuấn nói : "Nam phong chi huân hề, Khả dĩ giài ngô dân chi xấn hề. Nam phong chi thời hề, Khả dĩ phú ngô dân chi tài hề". Ông ta nói gió nam rất nhu hòa, rất dễ chịu, làm cho dân của tôi đều chẳng có nóng giận, mọi người đều hòa mục tương xứ; khi trời thổi gió nam, thì có thể khiến cho dân của tôi đều giàu có. Vị vua Thuấn nầy, là hoàng đế hiếu thuận nhất của Trung Quốc, cũng là hoàng đế dân chủ nhất. Ông ta là Bồ Tát đến giáo hóa chúng sinh, đến lợi ích chúng sinh. Cử chỉ hành động của ông ta là đại công vô tư, là hoàng đế được đời sau nầy tôn kính nhất, sùng bái nhất. Có bài thơ rằng : "Sơn ngoại thanh sơn, lầu ngoại lầu, Tây hồ ca vũ ki thời hưu ? Noãn phong huân đắc du nhân túy, Trực bả Hàng Châu đương Biện Châu". Ðây là bài thơ vào đời Tống, người ái quốc sáng tác. チnh Sạ Thiên An hoàng đế tại Giang Nam, quên chinh phạt phía bắc, khôi phục đất nước, cho nên nhận lầm Hàng Châu (kinh đô Nam Tống gọi là Lâm An, nay gọi là Hàng Châu) làm Biện Châu (kinh đô bắc Tống gọi là Biện Lương nay là Khai Phong). Bài thơ nầy cũng nói về gió. Ông ta nói bên ngoài núi còn có núi xanh, bên ngoài lầu còn có lầu các, giống như một bức họa tuyệt tác. Ðây là hình dung cảnh trí Tây Hồ. Gió ấm nhẹ nhàng dễ chịu, thổi vào mặt người làm cho thoải mái dễ chịu, khiến cho người viếng cảnh giống như uống say, chẳng biết đông tây nam bắc. Cho đến Hàng Châu mà nhận làm Biên Châu, vui mà quên về. Ðó là nói Nam Tống hoàng đế không có ý chí phạt bắc, mà nhớ nhung say sưa sự ca vũ. Hiện tại chúng ta đang nói đến chữ phong, chữ nầy có rất nhiều danh từ, như : Phong tục, phong hóa, phong khí, phong tình, phong nguyệt, phong thủy, phong thổ, phong vân, phong cảnh, phong ba, phong tai .v.v. Muốn biết tỉ mỉ thì có thể tra từ điển ở trong đó, có đề cập đến rất nhiều. Chúng ta phải quạt gió cát tường đến khắp mọi nơi. Làm sao sinh được gió cát tường ? Nếu bạn có sự khoái lạc thanh tịnh, tức là gió cát tường, không thanh tịnh không khoái lạc, thì chẳng phải là gió cát tường, mà là cuồng phong bạo vũ. Chúng ta phải làm cho gió cát tường hòa phong tế vũ cùng khắp pháp giới, khiến cho tất cả chúng sinh đắc được lợi ích ở trong gió cát tường. Có câu : "Hàng như ý vũ ư trần hoàn", (rưới mưa như ý khắp hoàn cầu). Khắp hoàn cầu đều rưới mưa như ý, tức cũng là rưới mưa châu như ý trong hoàn vũ. Bạn có châu như ý, tôi cũng có châu như ý. Hạt châu như ý nầy, tròn sáng lấp lánh đều ở trong tự tánh của chúng ta, bất tất phải cầu bên ngoài. Muốn tận hư không khắp pháp giới, đều sinh ra thứ gió cát tường nầy, thì phải quạt gió cát tường làm cho tất cả tai nạn đều chẳng còn nữa, quạt hết khí xấu đi chẳng còn nữa, thì sẽ có hòa khí, hòa khí tức là cát tường, khí sấu tức là ách nạn. Trong Tâm Kinh có nói : "Độ tất cả khổ ách", có khổ ách thì chẳng có cát tường, không có khổ ách thì có cát tường. Chúng ta phải quạt gió cát tường đến khắp mọi nơi, rưới mưa như ý khắp mười phương, phải phát tâm như thế. Nếu không quạt gió cát tường, thì không thể rưới mưa như ý. Như vậy thì sao chổi sẽ đến. Hiện tại trong hư không xuất hiện sao chổi, con sao chổi nầy lợi hại nhất, lớn nhất, nó đã xuất hiện cách đây hai ngàn năm. Nó có thể hủy diệt quả địa cầu nầy, có thể khiến cho trời đất đảo ngược, trời ở dưới đất ở trên ! Ai có sức lực nầy ? Con sao chổi có oai lực nầy. Ðó là thế giới đã đến ngày cuối vậy. Trong Kinh Lăng Nghiêm nó : "Tuệ bộc phi lưu". (sao chổi bay chạy). Tia sáng nhoáng của sao chổi, là thiên sạ giống như hỏa tiển, ở đuôi đều phun ra lửa ngọn giống như cái chổi, cho nên gọi là sao chổi; là sao chẳng cát tường. Khi nó xuất hiện thì tạo thành đại kiếp vận. Sao bộc cũng một thứ sao chổi, tia sáng nhoáng tứ sạ cũng chẳng cát tường. Phi lưu tức là sao rớt. Vào tháng 10 năm 1973 con sao chổi nầy xuất hiện, đã đến gần bên cạnh quả địa cầu, xem ra tràng kiếp vận nầy không cách chi vãn hồi. Những lời nầy tôi vốn không muốn nói, vì sao chổi quá nguy hiểm, lần kiếp vận nầy quá lớn. Song, nếu không nói thì tâm của mọi người vẫn chuyển không qua được. Nếu tâm của mọi người chuyển biến thành tâm thanh tịnh, thì mới khiến cho sao chổi nầy tiêu mất trong vô hình, mới tránh được tràng kiếp lớn nầy. Tai nạn nầy chẳng phải là một quốc gia, mà là tai nạn lớn của toàn thế giới. Lúc đó, là đầu mối sinh tử của nhân loại, có thể nói là vạn phần nguy hiểm. Chùa Kim Sơn của chúng ta có hai vị Tỳ Kheo hành Bồ Tát đạo, vì cầu cho thế giới hòa bình, mà phát tâm tam bộ nhất bái, hiện thân thuyết pháp, có khả năng điều phục sao chổi lần nầy, khiến cho nó chuyển biến phương hướng, không để cho địa cầu hủy diệt. Một số người xem ra cho rằng việc làm hành vi nầy là ngu si nhất. Kì thật, hai vị nầy dùng phương pháp cổ lão ngu si nhất, để hàng phục sao chổi, khiến cho nó không đến xâm đánh quả địa cầu, nhờ đó mà cứu vãn sinh mạng của tất cả chúng sinh toàn thế giới. Ðại kiếp vận nầy, là nghiệp tạo ra bởi chúng sinh toàn thế giới. Nếu ai ai cũng cải ác hướng thiện, thay đổi tâm tánh, thì tức là sinh gió cát tường. Thứ gió cát tường nầy, có thể làm cho vận nguy của thế giới xoay chuyển, không bị sao chổi lẻn đánh. Sự lẻn đánh nguy hại nầy, so với đạn nguyên tử, hoặc đạn kinh khí (nucléaire) còn lợi hại hơn gấp trăm ngàn vạn lần. Hãy nhìn hai vị hành giả nầy, công đức tam bộ nhất bái có thể vãn hồi kiếp vận chăng ? Vị Chủ Không Thần nầy, đắc được môn giải thoát, thấu đạt vô biên cảnh giới thân tướng. Thấu đạt tức là tỏ ngộ triệt để, triệt ngộ đến vô biên cảnh giới. Vô biên cảnh giới là gì ? Tức là thân Phật như hư không. Vì thân Phật như hư không cho nên gọi là vô biên cảnh giới. Do đó : Nếu ai muốn biết cảnh giới Phật, Hãy tịnh ý mình như hư không". Vô biên cảnh giới cũng vô tướng. Tướng mà vô tướng, mà tướng cảnh giới nầy, tức là cảnh giới Hoa Nghiêm không thể nghĩ bàn. Cảnh giới vi diệu nầy, chẳng phải sự suy nghĩ của phàm phu mà minh bạch được. Vị Chủ Không Thần nầy, vào được môn giải thoát nầy. Chủ Không Thần Ly Chướng An Trụ, được môn giải thoát, trừ được tất cả nghiệp, hoặc, chướng, của tất cả chúng sinh. Vị Ly Chướng An Trụ Chủ Không Thần nầy, lìa khỏi tất cả chướng ngại, an trụ nơi bất động địa, an trụ nơi thiền định, an trụ nơi tịch tĩnh. Vị nầy đắc được trừ diệt nghiệp, hoặc, chướng, của tất cả chúng sinh, tức là trừ tất cả ác nghiệp, tất cả hoặc, tất cả chướng ngại của chúng sinh. Nghiệp ác trừ khử được, thì tồn tại nghiệp thiện. Nghi hoặc tức là mê hoặc, chẳng thấy rõ gì hết, chướng là chướng ngại bồ đề đạo. Cái gì chướng ngại bồ đề đạo ? Tức là phiền não. Song, phiền não là bồ đề, làm sao trừ khử ? Không cần trừ khử mà phải chuyển hóa nó, chuyển phiền não thành bồ đề, chuyển vô minh thành trí tuệ, chuyển nghiệp ác thành nghiệp thiện. Cho nên vị Chủ Không Thần nầy, đắc được môn giải thoát nầy. Chủ Không Thần Quảng Bộ Diệu Kế, được môn giải thoát, tư duy quán sát khắp biển hạnh rộng lớn. Vị Quảng Bộ Diệu Kế Chủ Không Thần nầy, quán sát được sở tu hành biển hạnh rộng lớn của tất cả chúng sinh, suy gẫm căn tính rộng lớn của tất cả chúng sinh, bèn quán sát căn cơ vì người nói pháp, theo bệnh cho thuốc, mà phổ độ tất cả chúng sinh. Biển hạnh rộng lớn, tức là hạnh môn vô lượng vô biên. Mỗi một chúng sinh đều có một thứ nhân duyên, thì họ tu thứ pháp môn đó, cần nhất phải tương ưng. Nếu không tương ưng, thì đó đây đều chẳng ích lợi gì. Cho nên, vị Chủ Không Thần nầy, đắc được cảnh giới nầy, minh bạch được môn giải thoát nầy. Chủ Không Thần Vô Ngại Quang Diệm, được môn giải thoát, đại bi quang cứu hộ hết thảy ách nạn của tất cả chúng sinh. Vị Vô Ngại Quang Diệm Chủ Không Thần nầy, đắc được môn giải thoát đại bi quang. Ðại bi tức là cứu khổ. Vị nầy dùng Bát nhã quang minh, để cứu hộ hết thảy ách nạn của tất cả chúng sinh, khiến cho họ lìa khổ được vui. Tất cả chúng sinh, sinh tử ở trong biển khổ, sinh rồi chết, chết rồi sinh, tuần hoàn không ngừng ở trong sinh tử luân hồi, ở trong biển khổ bỏ thân nầy sinh thân khác, tự cho rằng đó là việc tốt, cho nên trôi nổi mà không nghĩ lìa khỏi. Ðó là ách nạn của tất cả chúng sinh. Trong Tâm Kinh nói : "Năm uẩn đều không, vượt qua tất cả khổ ách". Khổ ách nầy tức là khổ ách sinh tử. Năm uẩn giống như năm bộ y phục mặc trên thân, phải cởi ra từng bộ từng bộ, đến khi chẳng còn đeo sợi tơ nào nữa, thì thấy được bổn lai bộ mặt thật, đắc được giải thoát, liễu sinh thoát tử, như thế thì vượt qua được sinh tử luân hồi, đạt đến bờ Niết Bàn bên kia. Vị Chủ Không Thần nầy, cứu hộ tất cả chúng sinh lìa khổ ách, đắc được môn giải thoát nầy. Chủ Không Thần Vô Ngại Thắng Lực, được môn giải thoát, sức vào khắp tất cả phước đức mà chẳng chấp trước. Vị Vô Ngại Thắng Lực Chủ Không Thần nầy, đắc được môn giải thoát, sức vào khắp tất cả phước đức mà không chấp trước. Tại sao chúng ta chấp trước ? Vì tồn tại cái ta. Ðây là ta, đó là của ta, chấp đông chấp tây, tất cả đều buông chẳng đặng, cho nên chẳng có phước, chẳng có đức. Chúng ta người tu đạo, phải phá chấp trước, tu phước đức, chẳng còn chấp trước nơi năm uẩn, thì sẽ có sở thành tựu. Tóm lại, năm uẩn đều không tức là Bồ Tát, năm uẩn chưa không là phàm phu. Vị Chủ Không Thần nầy, tu vô lượng phước đức. Phước thì bên ngoài, đức thì bên trong, song cũng chẳng chấp trước. Chủ Không Thần Ly Cấu Quang Minh, được môn giải thoát, khiến tất cả chúng sinh lìa chư cái, thì tâm được thanh tịnh. Vị Ly Cấu Quang Minh Chủ Không Thần nầy, xa lìa trần cấu mà đắc được quang minh. Không thanh tịnh gọi là cấu, cấu nầy che đậy tâm tính của con người, che tính tịnh minh thể của chúng ta không sáng được, giống như trên gương có bụi bặm đóng, không thể chiếu soi tất cả tướng. Phải lau chùi bụi bặm trên gương, thì dụng đồ của gương sẽ hiện ra. Dụng đồ của gương là gì ? Tức là chiếu được mọi hình tướng. Nếu có một lớp bụi bặm, thì không thể chiếu soi tất cả hình tướng. Tâm quang minh của chúng ta, vốn có tự tánh quang minh, vốn có trí huệ quang minh như tấm gương. Trí huệ vốn có, trạch pháp nhãn vốn có, cũng giống như gương. Song, bị trần cấu vô minh tập khí che lấp, cho nên không hiện ra quang minh. Ly cấu quang minh tức là lìa cấu bẩn, quét sạch trần cấu, tức là đoạn trừ tập khí nhiều đời nhiều kiếp. Quét sạch cấu tham, cấu sân, cấu si, thì quang minh tự nhiên sẽ hiện ra. Cho nên, vị Chủ Không Thần nầy gọi tên nầy, tên nầy cũng là giả, vì vị nầy là Chủ Không Thần. Không tức là gì cũng chẳng có, một không thì tất cả đều không, ở đâu cũng chẳng có tình hình gì, sao lại có một cái tên gọi là ly cấu quang minh ? Bổn lai, thì gì cũng chẳng có, lại có cấu gì có thể lìa ? Còn có quang minh gì có thể hiện ? Ðó là nói tự tánh của con người, bổn lai là thanh tịnh, bổn lai là bất cấu bất tịnh, khiến cho con người đừng chấp trước. Vị Ly Cấu Quang Minh Chủ Không Thần nầy, chỉ minh bạch được một pháp môn, trong vô lượng pháp môn của Phật. Vì vị nầy là Thần, cho nên chỉ minh bạch một bộ phận. Giống như chúng ta uống nước, chỉ cần uống đủ lượng nước, vừa đủ thì ngưng, không thể uống nhiều vì sức chứa của bụng có hạn. Vị Chủ Không Thần nầy, tuy nhiên không như thế, song cũng không thể hoàn toàn thấy rõ, thông đạt hết pháp môn của Phật, chỉ minh bạch được cảnh giới môn giải thoát, khiến cho tất cả chúng sinh tâm lìa chư cái thanh tịnh mà thôi. Chư cái tức là ngũ cái. Những gì là ngũ cái ? Tức là : 1) Tham dục cái : Có thứ cái nầy rồi, thì chấp trước vào cảnh giới năm dục. 2) Sân khuể cái : Có thứ cái nầy rồi, thì gặp nghịch cảnh tâm bèn phẫn nộ. 3) Thùy miên cái : Có thứ cái nầy rồi, thì thân tâm hôn trầm. 4) Trạo hối cái : Có thứ cái nầy rồi, thì tâm tánh nóng nảy, đối với những việc làm đều khởi ưu não. 5) Nghi pháp cái : Có thứ cái nầy rồi, thì khởi mê hoặc đối với các pháp, do dự không quyết định. Năm thứ cái nầy che đậy tâm tánh nên không thể sinh ra pháp lành. Nếu không có năm thứ cái nầy, thì sẽ đắc được thanh tịnh, tâm quang minh sẽ hiện tiền, tâm quang minh hiện tiền, thì sẽ chiếu khắp pháp giới. Vị Chủ Không Thần nầy, vào môn giải thoát nầy. Trí huệ quang minh bổn lai chiếu khắp pháp giới, song vì có thùng gỗ đen cho nên chẳng có quang minh. Trên thùng gỗ đen nầy có nắp đậy, bây giờ bị che đậy, cho nên một chút ánh sáng cũng chẳng có. Giống như ly trà nầy, bây giờ tôi đậy nắp lên, thì bên trong sẽ đen tối. Tâm của chúng ta cũng như thế, trí huệ của chúng ta cũng như thế. Sự che đậy tức là vô minh, ai phá được năm cái nầy, thì người đó được tự tại, không phá được năm cái nầy, thì chẳng được tự tại. Phương thức giảng kinh hiện tại của chúng ta, có những điều khác với phương thức giảng kinh ở Trung Quốc. Chúng ta chọn lấy phương thức dân chủ, mọi người đều có quyền phát biểu, bất cứ ai giảng sai thì mọi người đều có quyền đưa ra thảo luận. Dù tôi cũng thế, nếu có chỗ nào giảng sai lầm, thì chỉ ra để nghiên cứu. Chúng ta đều bình đẳng, không có quan niệm giai cấp, đừng có phân biệt thầy trò, nên phá tư tưởng chuyên chế. Trên lý luận, bất cứ ai cũng không thể cẩu thả lơ là, phô diễn mà phải nhận chân để nghiên cứu. Cho nên Vĩnh Gia Ðại Sư nói : "Có nghi bất quyết trực tu tranh", chỗ nào không minh bạch hoài nghi thì phải tranh. Tranh gì ? Tranh chân lý. Nhất định phải phát huy ra chân lý. Kiến giải của tôi không nhất định đều là đúng, hãy dùng trí huệ của mọi người để phát minh. Trí huệ của một người có hạn, trí huệ của đại chúng vô hạn. Tôi nghĩ không tới mà bạn nghĩ tới, bạn nghĩ không đến mà họ nghĩ đến. Mọi người cùng nhau hợp thành một, đó gọi là tâm đại chúng, tức là Phật tâm. Lý luận của đại chúng là lý luận của Phật. Cho nên mọi người đừng khách sáo thảo luận, cùng nhau phát huy ra chân lý. Tôi nhớ xưa kia, không rõ năm nào, tôi cảm thấy ai ai cũng đều phát nguyện muốn giỏi hơn người, thông minh hơn người, hy vọng có trí huệ hơn người. Do đó, tôi phát một lời nguyện đặc biệt là : "Nguyện ngu si hơn người, nguyện đem trí huệ của mình bố thí cho hết thảy mọi người". Phát nguyện nầy rồi, quả nhiên ngu si thật, có tiền thì bố thí cho người dùng, có vật gì cũng thế, thậm chí sinh mạng cũng nguyện bố thí, đó là việc quá khứ của tôi. Chủ Không Thần Thâm Viễn Diệu Âm, được môn giải thoát, trí quang minh thấy khắp mười phương. Vị Thâm Viễn Diệu Âm Chủ Không Thần nầy, có cảnh giới sâu xa không thể nghĩ bàn. Cảnh giới nầy, vị nầy khéo nói các pháp, vì vị nầy có đại trí huệ, phá được tất cả ngu si, cho nên đắc được môn giải thoát, trí huệ quang minh thấy khắp mười phương, đó là một phần trong cảnh giới của Phật. Chủ Không Thần Quang Biến Thập Phương, được môn giải thoát, không động bổn xứ mà hiện khắp thế giới. Vị Quang Biến Thập Phương Chủ Không Thần nầy, có trí huệ quang minh đầy khắp mười phương, đắc được cảnh giới không động bổn xứ. Không động tức là tuy thân tâm không động, mà trí huệ quang biến khắp mười phương. Tuy nhiên biến khắp mười phương, mà trí huệ quang minh vốn có chẳng giảm bớt. Không động bổn xứ là chỗ chính không giao động, mà biến khắp mười phương, mà bổn xứ không động. Cho nên, vị nầy gọi là Quang Biến Thập Phương Chủ Không Thần. Môn giải thoát nầy, ai muốn tu thì người đó đắc được. Tu đạo là từ nhỏ mà lớn, từ gần mà xa, từ tự mà tha, tu từng bước từng bước. Bất động bổn xứ là gì ? Ví như làm rất nhiều công việc, mà trong tâm không cảm thấy mệt, không có ý niệm khổ nhọc mệt mỏi, đó là sở hành vô sự, dùng công việc làm vận động thân thể. Tuy làm việc mà không có việc để làm, đó là vô công dụng đạo, tức cũng là không động bổn xứ. Bổn xứ tức là tâm, tâm không động thì không động bổn xứ. Nếu tâm động thì động bổn xứ. Bấy giờ, Chủ Không Thần Tịnh Quang Phổ Chiếu, nương oai lực của đức Phật, quán khắp tất cả chúng Chủ Không Thần, mà nói bài kệ rằng: Lúc bấy giờ, là chỉ lúc nào ? Kì thật chẳng có một thời nào. Nếu nói là thời nầy đây, thì thời nầy đây đã qua rồi. Trong kinh Kim Cang nói : "Quá khứ tâm bất khả đắc, Hiện tại tâm bất khả đắc, Vị lai tâm bất khả đắc". Tức nhiên là ba tâm bất khả đắc, sao lại chấp trước vào một thời ? Vậy tại sao trong kinh văn nói có một thời ? Lúc bấy giờ trong kinh văn, là vì lúc đó có trăm ngàn ức Bồ Tát và Thần chúng, Thiên Long bát bộ .v.v., đều vây quanh đức Phật, mọi người đồng thời tán thán Phật, chẳng phân biệt trước sau. Nhưng dùng văn tự ghi chép, thì có phân biệt trước sau, không thể biên chép ra nhiều kệ như vậy cùng một lúc, giống như ăn đồ ăn, phải ăn từng miếng từng miếng, không thể cùng lúc ăn một miếng mà no được. Cho nên có thứ lớp trước sau. Bổn lai, lúc bấy giờ nầy, là lúc đương thời tất cả Bồ Tát, tất cả Thiên Vương, tất cả Thần chúng, tất cả Thiên Long bát bộ, đồng thời tán thán Phật. Cho nên lúc đó chẳng có trước sau. Hơn nữa, lúc đó đã quá khứ rồi, chấp trước vào lúc đó lại có ích gì ? Vị Tịnh Quang Phổ Chiếu Chủ Không Thần nầy, có quang minh thanh tịnh, chiếu khắp mười phương pháp giới. Vị nầy nương đại oai thần lực của Phật, quán sát khắp tất cả chúng Chủ Không Thần, mà nói ra bài kệ, tán thán cảnh giới của Phật. Mắt Như Lai rộng lớn Thanh tịnh như hư không Thấy khắp các chúng sinh Hết thảy đều rõ ràng. Bài kệ bốn câu nầy, là vị Tịnh Quang Phổ Chiếu Chủ Không Thần, tán thán những gì Phật nói. Những vị Thần chúng nầy đồng thời tán thán Phật, đều đồng thời nói kệ của mình, nhưng lúc ghi chép thì có phân ra thứ tự trước sau. Giống như chúng ta tụ hội lại với nhau, đồng thời tán thán một quốc gia, hoặc là một người. Thậm chí đối với một sự việc, mọi người đồng thời phát biểu, lại giống như mọi người đồng thời tán thán hoàng đế, hoàng đế là nhân vương, Phật là Pháp vương, dùng đạo lý nhân vương để ví dụ pháp lý Pháp vương. Giống như hoàng đế xuất chinh đi đến đâu, thì dân chúng ở đó đều đến triều bái hoàng đế, mọi người dị khẩu đồng thanh nói : "Hoàng thượng vạn tuế, vạn vạn tuế", bất cứ có bao nhiêu người, đều đồng thời cùng hô lên. Ðó là biểu thị cung kính chúc tụng. Nhân vương thì như thế, Pháp vương cũng như thế. Ðồng thời mỗi vị Thần đều dùng kệ bốn câu để tán thán Phật, tức là sự cảm tưởng và thấy pháp của mỗi người đối với Phật. Các ngài dùng kinh nghiệm sự chứng đạo của mình, môn giải thoát mình đắc được, làm kệ để tán thán đức Phật. "Mắt Như Lai rộng lớn". Phật có pháp nhãn rộng lớn vô biên, quán sát được mười phương pháp giới. "Thanh tịnh như hư không". Pháp nhãn của Phật thanh tịnh quang minh giống như hư không. "Thấy khắp các chúng sinh". Mắt rộng lớn của Phật, quán sát được khắp hết thảy chúng sinh. "Tất cả đều thấy rõ". Tất cả chúng sinh khởi hoặc, tạo nghiệp, thọ báo, Phật đều thấy rất rõ ràng, cho nên dùng đủ thứ pháp môn để giáo hóa tất cả chúng sinh, khiến cho tất cả chúng sinh lìa khỏi khổ não, đắc được khoái lạc. Con người thì có kỷ niệm sinh nhật, quốc gia thì có kỷ niệm ngày quốc khánh. Ngày sinh nhật thì các thân hữu đến chúc thọ, mọi người đều ca bài sinh nhật khoái lạc. Ngày quốc khánh thì nhân dân Trung Quốc hô to Trung Hoa Dân Quốc vạn tuế ! Quốc khánh của nước nào thì hô vạn tuế của nước đó ! Một sự chúc mừng thế tục còn như thế, huống hồ là Phật thành Phật, có vô lượng Bồ Tát, A la hán, Thiên vương, Thần chúng, Thiên Long bát bộ, đều đến vây chung quang Phật, tán thán Phật. Vị Tịnh Quang Phổ Chiếu Chủ Không Thần nầy, dùng bốn câu nầy để tán thán Phật, biểu thị sự cảm tưởng và sự thấy pháp đối với Phật. Khi tôn giả A Nan kết tập kinh điển, thì ghi vào trong kinh điển. Bây giờ chúng ta đọc tụng ra, thì minh bạch chỗ diệu của Kinh Hoa Nghiêm. Kệ có nhiều như thế, song nếu thông đạt thấy rõ được một bài kệ, thì có thể đắc được giải thoát. Thân Phật đại quang minh Chiếu khắp trong mười phương Nơi nơi đều hiện tiền Phổ Du quán đạo nầy. "Thân Phật đại quang minh". Thân Phật phóng đại quang minh, vào khắp pháp giới. Trí huệ quang minh của Phật, cũng vào khắp pháp giới. "Chiếu khắp trong mười phương". Thân Phật phóng đại quang minh, chiếu soi khắp tất cả chúng sinh trong mười phương, khiến cho tất cả chúng sinh đắc được trí huệ. "Nơi nơi đều hiện tiền". Mỗi chúng sinh đều nói như vầy : "Phật ở trước mặt tôi, mà vì tôi nói diệu pháp". Ðạo lý nầy giống như "Nguyệt ảnh thiên giang". Nghĩa là: Một mặt trăng, hiện bóng xuống muôn ngàn con sông. Quang minh của Phật chiếu khắp, phàm là chúng sinh thì quang của Phật đều chiếu đến. "Phổ Du quán đạo nầy". Vị Phổ Du Thâm Quảng Chủ Không Thần, quán sát và minh bạch được đạo lý nầy, mà vào môn giải thoát nầy. Thân Phật như hư không Không sinh không thủ lấy Không đắc không tự tánh Cát Tường Phong thấy rõ. "Thân Phật như hư không". Thân của Phật giống như hư không, là vô tướng nhưng vô bất tướng, cho nên nói thật tướng. "Không sinh không thủ lấy". Tức nhiên là vô sinh, làm sao có sự thủ lấy ? Không sinh không nhiễm, tức là gió cát tường. "Không đắc không tự tánh". Cũng chẳng có đắc, bạn nói có sở đắc chăng ? Đắc gì ? Thân Phật chẳng có tự tánh, giống như hư không, hư không cũng chẳng có tự tánh. "Cát Tường Phong thấy rõ". Cảnh giới nầy, vị Sinh Cát Tường Phong Chủ Không Thần thấy rõ được. Như Lai vô lượng kiếp Rộng nói các Thánh đạo Diệt khắp chúng sinh chướng Viên Quang ngộ môn nầy. "Như Lai vô lượng kiếp". Như Lai là một trong mười danh hiệu của Phật, Phật từ trong vô lượng kiếp cho đến hiện tại. "Rộng nói các Thánh đạo". Phật luôn luôn rộng nói con đường tu hành của bậc Thánh, nghĩa là rộng nói chánh pháp. "Diệt khắp chúng sinh chướng". Khiến khắp hết thảy nghiệp chướng của chúng sinh đều tiêu diệt. Nghiệp chướng diệt rồi, thì sinh ra trí huệ. Có trí huệ thì có thể vào môn giải thoát của Phật. "Viên Quang ngộ môn nầy". Cảnh giới nầy, vị Viên Quang Chủ Không Thần minh bạch, và ngộ hiểu được. Chùa Kim Sơn và Viện Dịch Kinh Quốc Tế, mỗi ngày đều giảng Kinh Hoa Nghiêm, nếu không giảng ở Chùa Kim Sơn, thì giảng ở Viện Dịch Kinh Quốc Tế. Giống như nước sông lớn, đều chảy hằng ngày không gián đoạn. Vào thời mạt pháp nầy, đệ tử Phật nên làm việc chánh pháp, đó là nguyện lực của tôi đã phát ra xưa kia. Tôi nguyện khi thời đại mạt pháp, thì duy trì chánh pháp. Bất cứ tôi đến đâu, chỉ có chánh pháp chứ không có mạt pháp tồn tại, đó là nguyện lực quá khứ của tôi, bây giờ, tôi cũng phát nguyện lực như vậy, vị lai, tôi cũng phát nguyện lực như vậy. Nguyện lực của tôi là diệt trừ mạt pháp, phải nối tiếp huệ mạng của Phật, thiệu long Tam Bảo, cho nên giảng kinh không ngừng. Tôi quán Phật xưa kia Tích tập hạnh bồ đề Đều vì an thế gian Diệu Kế hành môn nầy. "Tôi quán Phật xưa kia". Vị Quảng Bộ Diệu Kế Chủ Không Thần nói : "Tôi quán sát Phật thuở xa xưa, đời đời kiếp kiếp tu tập các hạnh môn". "Tích tập hạnh bồ đề". Phật trong vô lượng kiếp đến nay, tích tập hạnh bồ đề chẳng có ai có thể sánh bằng, đó là hạnh môn vô thượng. "Ðều vì an thế gian". Tại sao Phật tu hạnh bồ đề ? Hoàn toàn vì khiến cho chúng sinh hữu tình thế gian đắc được an lạc. "Diệu Kế hành môn nầy". Ðây là cảnh giới tu hành của Quảng Bộ Diệu Kế Chủ Không Thần. Tất cả cõi chúng sinh Lưu chuyển biển sinh tử Phật phóng quang diệt khổ Vô Ngại Thần thấy được. "Tất cả cõi chúng sinh". Ðây là bao quát chúng sinh hữu tình và vô tình. Chúng sinh hữu tình là vì chúng sinh vô tình mà hữu tình, chúng sinh vô tình là vì chúng sinh hữu tình mà vô tình. Ðó là đạo lý hỗ tương với nhau, khiến cho người thấy rõ Phật pháp, do đó các pháp bổn lai là tướng tịch diệt. Vì có tất cả chúng sinh, ở trong pháp vốn chẳng có gì có thể nói, nhưng bất đắc dĩ mới nói ra. Cho nên nói tất cả cõi chúng sinh. "Lưu chuyển biển sinh tử". Chúng ta chuyển đi chuyển lại ở trong sáu nẻo luân hồi không thoát ra được. Sự sinh tử rộng lớn như biển cả, trôi đi trôi lại ở trong biển khổ sinh tử, hoặc lưu chuyển đến cõi trời, hoặc cõi người, cho đến địa ngục, vĩnh viễn ở trong sáu nẻo, không đắc được liễu sinh thoát tử. "Phật phóng quang diệt khổ". Vì chúng sinh quá ngu si, quá khổ não, không phân biệt được đâu là đúng, đâu là không đúng. Rõ ràng là đúng mà nói không đúng, rõ ràng là không đúng mà nói là đúng, đó là chuyển ở trong cảnh giới hư vọng không thật. Chuyển tức là khổ não, cho nên, Phật phóng ra một luồng quang minh diệt khổ, khiến cho chúng sinh giác ngộ, khiến cho họ phát tâm lìa khổ được vui. "Vô Ngại Thần thấy được". Vị Vô Ngại Quang Diệm Chủ Không Thần, thấy được cảnh giới nầy, mà vào được môn giải thoát nầy. Tạng công đức thanh tịnh Làm ruộng phước thế gian Vì họ khai trí giác Lực Thần ngộ môn nầy. "Tạng công đức thanh tịnh". Thanh tịnh là gì ? Tức là chẳng có nhiễm ô. Công đức là gì ? Tức là lập công tích đức, làm nhiều việc lợi ích chúng sinh. Do đó, công đức thiện, là làm hết những việc tốt tức là thiện, dũng cảm mà làm thiện tức là công, lập công nhiều rồi tức là đức. Mặt trái của công đức thiện, là tội nghiệt quá. Việc không nên làm mà làm, tức là tội nghiệt quá. Ví như, không nên giết hại chúng sinh mà bạn đi giết hại, đó là tội. Không nên tà dâm mà bạn tà dâm, đó là nghiệt. Có tội có nghiệt, tức là có lỗi lầm. Tóm lại, tu mười điều thiện tức là công đức thiện, tạo mười điều ác tức là tội nghiệt quá. Công của Phật lập nên, thật là vô lượng vô biên, đức của Phật làm, cũng vô lượng vô biên. Bảo tạng công đức của Phật, cũng vô lượng vô biên. Tóm lại, công đức thanh tịnh, tức là trồng ruộng phước. "Làm ruộng phước thế gian". Phật Pháp Tăng Tam Bảo, là ruộng phước thù thắng nhất trong thế gian. Ai muốn gieo trồng ruộng phước, thì phải gần gũi Tam Bảo, cúng dường Tam Bảo, cung kính Tam Bảo, hộ trì Tam Bảo. "Vì họ khai trí giác". Tại sao phải trồng vào ruộng phước ? Vì cầu khai mở trí huệ. Phật tùy theo môn trí huệ Bát nhã, để khai đạo tất cả chúng sinh, khiến cho tất cả chúng sinh đắc được giác ngộ. "Lực Thần ngộ môn nầy". Cảnh giới nầy, vị Vô Ngại Thắng Lực Chủ Không Thần giác ngộ được, mà vào môn giải thoát nầy. Chúng sinh bị si che Lưu chuyển trong đường hiểm Phật vì họ phóng quang Ly Cấu Thần chứng được. "Chúng sinh bị si che". Chúng sinh đều bị vô minh ngu si che đậy. Vì trí huệ quang minh bị vô minh đen tối che lấp, cho nên gọi là bị si che. "Lưu chuyển trong đường hiểm". Vì hồ đồ mà điên đảo, cho nên lưu chuyển không ngừng trong sáu nẻo. Có lúc sinh vào ba đường lành, có lúc sinh vào ba đường ác, đó thật là nguy hiểm vô cùng, cho nên gọi là lưu chuyển trong đường hiểm. "Phật vì họ phóng quang". Phật thương xót chúng sinh, vì chúng sinh mà phóng đại trí huệ quang minh để cứu họ, khiến cho họ lìa xa đường hiểm nạn. "Ly Cấu Thần chứng được". Vị Ly Cấu Quang Minh Chủ Không Thần, chứng được cảnh giới nầy. Trí huệ không ngằn mé Đều hiện các cõi nước Quang minh chiếu thế gian Diệu Âm thấy như vậy. "Trí huệ không ngằn mé". Trí huệ của ai không có ngằn mé ? Ðương nhiên là trí huệ của Phật ! Trí huệ quang minh của Phật tận hư không khắp pháp giới, không có ngằn mé, cũng không cùng tận. "Ðều hiện các cõi nước". Vì trí huệ quang minh của Phật chẳng có ngằn mé, cho nên chiếu soi khắp các cõi nước chư Phật trong mười phương. "Quang minh chiếu thế gian". Trí huệ quang minh của Phật, chiếu soi khắp tất cả chúng sinh trong ba ngàn đại thiên thế giới. "Diệu Âm thấy như vậy". Vị Thâm Viễn Diệu Âm Chủ Không Thần, thấy được cảnh giới nầy, mà vào môn giải thoát nầy. Phật vì độ chúng sinh Tu hành khắp mười phương Tâm nguyện lớn như vậy Phổ Hiện quán sát được. "Phật vì độ chúng sinh". Phật vì độ tất cả chúng sinh, mà đến thế giới nầy, khiến cho tất cả chúng sinh, đều lìa khổ được vui, liễu sinh thoát tử. "Tu hành khắp mười phương". Phật dùng trí huệ để tu hành, đầy khắp trong cõi nước chư Phật mười phương. "Tâm nguyện lớn như vậy". Phật muốn độ khắp chúng sinh, mà phải tu hành khắp mười phương, tâm nguyện thật lớn vô cùng. "Phổ Hiện quán sát được". Vị Phổ Hiện Quang Biến Thập Phương Chủ Không Thần, quán sát được cảnh giới nầy, minh bạch được đạo lý nầy, mà vào môn giải thoát nầy. Lại nữa, Chủ Phong Thần Vô Ngại Quang Minh, được môn giải thoát, vào khắp Phật pháp, và tất cả thế gian. Người không biết Phật pháp, thì không biết có Chủ Trú Thần, Chủ Dạ Thần, Chủ Phương Thần, Chủ Không Thần, Chủ Phong Thần .v.v., có nhiều vị thần như thế. Người nghiên cứu Phật pháp, mới biết có các Thần chúng nhiều như thế. Riêng nói về Chủ Phong Thần, chẳng phải là một Chủ Phong Thần, mà là có vô lượng vô biên Chủ Phong Thần. Kinh văn ở trước, bất quá chỉ nói ra tên của mười vị Chủ Phong Thần mà thôi, không biết còn có bao nhiêu không đề ra ? Cho nên bây giờ lại nói lại nữa. Lại nữa có nghĩa là ý nghĩa ở trên chưa nói xong, bây giờ tiếp tục nói. Các vị Thần đồng thời tán thán Phật, không những chỉ có Chủ Trú Thần, Chủ Dạ Thần, Chủ Phương Thần, Chủ Không Thần, mà còn có Chủ Phong Thần, và các vị Thần khác .v.v. Bây giờ nói về Chủ Phong Thần tán thán Phật. Vị Chủ Phong Thần nầy, tên là Vô Ngại Quang Minh. Vì quang minh của vị nầy, chẳng có gì chướng ngại được, chiếu khắp được mọi nơi. Vị nầy đắc được tam muội vào khắp Phật pháp. Phật pháp tức là pháp xuất thế gian. Vị nầy còn vào được tất cả pháp thế gian. Cho nên ngài Lục Tổ nói : "Phật pháp tại thế gian, Không lìa thế gian giác, Lìa thế cầu Bồ đề, Ví như tìm sừng thỏ. Phật pháp không lìa khỏi pháp thế gian. Nghĩa là ở trong pháp thế gian có pháp xuất thế, cho nên nói là tất cả thế gian. Vị Chủ Phong Thần nầy, đắc được môn giải thoát nầy. Gió có nhiều loại, cho nên tên của Phong Thần (thần gió) cũng rất nhiều, gió cũng có thần để quản lý, không để cho nó thổi bậy. Nếu không có thần quản lý, thì nó sẽ gây ra cuồng phong bạo vũ, tạo thành tai hại. Trong ba nạn lớn mà lợi hại nhất là nạn gió, dù trên cõi trời Tam Thiền, cũng phải chịu nạn gió. Trong thân thể của chúng ta cũng có gió, cho nên bên ngoài mới có gió. Thân thể của chúng ta do bốn đại giả hòa hợp mà thành. Bốn đại giả là đất nước gió lửa bốn yếu tố. Ðất tức là gân xương da thịt, nước là máu mồ hôi nước mắt, lửa là nhiệt độ của thân thể, gió là không khí hô hấp (hơi thở). Bốn đại điều hòa thì khỏe mạnh, bốn đại không điều hòa là bịnh hoạn. Bốn đại không nghe sự chỉ huy, mất đi tát dụng tức là lúc sắp chết. Vì quan hệ bốn đại giả hợp, cho nên trong thân thể của chúng ta có gió. Chúng ta ở trong gió mà nhìn chẳng thấy hình tướng của gió, giống như cá trong nước mà chẳng thấy hình tướng của nước. Con người ở trong gió (không khí) mới sinh tồn được, nếu không có gió thì không thể sống. Cá ở trong nước mới sinh tồn được, nếu chẳng có nước cũng không thể sống. Tóm lại, con người lìa khỏi không khí thì lập tức chết liền, giống như cá mà lìa khỏi nước không lâu sẽ chết. Cho nên, gió với con người có quan hệ mật thiết với nhau. Chủ Phong Thần Phổ Hiện Dũng Nghiệp, được môn giải thoát, Phật xuất hiện ra đời trong vô lượng cõi nước, đều cúng dường rộng lớn. Vị Phổ Hiện Dũng Nghiệp Chủ Phong Thần nầy, hiện ra dũng nghiệp khắp hết thảy. Dũng nghiệp tức là nghiệp dũng mãnh tinh tấn. Tinh tấn bồ đề, tinh tấn phạm hạnh, tinh tấn cúng dường Tam Bảo, tinh tấn cung kính Tam Bảo, đối với tất cả Phật pháp, đều tinh tấn không giải đãi. Khi Phật xuất hiện ra đời trong vô lượng vô biên cõi nước, thì vị nầy đều hoàn toàn cúng dường rộng lớn. Vị nầy dùng tâm pháp giới để cúng dường chư Phật pháp giới, không những cúng dường chư Phật trong quá khứ, chư Phật hiện tại, mà còn cúng dường chư Phật vị lai, đó là môn giải thoát của vị nầy đắc được. Chủ Phong Thần Phiêu Kích Vân Tràng, được môn giải thoát, dùng gió thơm tiêu diệt hết thảy bệnh của tất cả chúng sinh. Vị Phiêu Kích Vân Tràng Chủ Phong Thần nầy, đắc được môn giải thoát, gọi là gió thơm diệt khắp bệnh của tất cả chúng sinh. Ở trong gió nầy có một mùi thơm, mùi thơm nầy là dược phẩm vô thượng, tiêu diệt khắp bệnh tham sân si ba độc của tất cả chúng sinh. Bệnh ba độc giải trừ rồi, thì sinh ra đức hạnh giới định huệ. Ðó là môn giải thoát của vị nầy đắc được. Chủ Phong Thần Tịnh Quang Trang Nghiêm, được môn giải thoát, hết thảy tất cả chúng sinh, đều sinh căn lành, khiến cho họ diệt trừ núi chướng nặng. Vị Tịnh Quang Trang Nghiêm Chủ Phong Thần nầy, dùng quang minh thanh tịnh để trang nghiêm thân mình. Vị nầy đắc được môn giải thoát, khiến cho tất cả chúng sinh, đều phát bồ đề tâm, sinh căn lành lớn, cải ác hướng thiện, cải tà quy chánh, không làm các điều ác, làm các điều lành, cho nên khiến khắp tất cả chúng sinh, sinh ra căn lành. Căn lành tăng trưởng thì nghiệp ác tiêu diệt. Vị nầy khiến cho tất cả chúng sinh, diệt trừ núi chướng nặng. Núi chướng nặng lợi hại nhất, là ngã chấp và pháp chấp. A la Hán đã đoạn được ngã chấp (chấp cái ta) mà chưa đoạn được pháp chấp. Bồ Tát không những đã đoạn được ngã chấp, mà còn đoạn được pháp chấp. Vị Chủ Phong Thần nầy, diệt trừ được ngã, pháp hai chấp, sang bằng núi chướng nặng, đó là môn giải thoát của vị nầy đắc được. Chủ Phong Thần Lực Năng Kiệt Thuỷ, được môn giải thoát, phá được vô biên chúng ác ma. Vị Lực Năng Kiệt Thủy Chủ Phong Thần nầy, sức lực có thể thổi nước khô cạn. Vị nầy đắc được môn giải thoát, phá được vô biên chúng ác ma. Ác ma tức là ma lợi hại nhất, tức cũng là ma vô minh phiền não. Chúng ta người tu hành, phải luôn luôn hồi quang phản chiếu. Phản chiếu gì ? Phản chiếu trong tự tánh của mình có phiền não tồn tại chăng ? Nếu có người nói bạn không tốt, bạn có phiền não chăng ? Có người nói bạn không đúng, bạn có phiền não chăng ? Có người đến mắng bạn, bạn có phiền não chăng ? Có người đến đánh bạn, bạn có phiền não chăng ? Nếu bạn không sinh phiền não, tức là tiêu diệt được vô biên chúng ác ma. Nếu sinh phiền não, thì chẳng phá được chúng ác ma. Người tu đạo phải mỗi ngày hồi quang phản chiếu, nghĩa là kiểm thảo chính mình, phản tỉnh chính mình : Tại sao phải nóng giận ? Sao lại nổi giận ? Nên biết nóng giận là lửa vô minh, lửa vô minh thì thiêu hủy rừng công đức. Nếu chúng ta không có phiền não, không nóng giận, thì người đó cao thượng, khiến cho người cung kính, nếu vô minh phiền não và nóng giận quá lớn, thì người đó chẳng có giá trị, không cao thượng, không đáng cho người cung kính. Ðức tánh thanh cao của người tu đạo là, chẳng có phiền não. Ai không có phiền não, thì người đó sớm chứng quả, sớm khai ngộ. Ai có phiền não thì chứng quả muộn, khai ngộ muộn. Ðó là đạo lý thực tế, ai ai cũng biết, nhưng chẳng ai thực hành được. Tại nước Mỹ nầy, Phật pháp mới bắt đầu, chúng ta nhất định cần nhiều người chứng quả, nhiều người khai ngộ. Chúng ta phải tạo Thánh hiền, Bồ Tát, La Hán, tạo Thánh nhân sơ quả, nhị quả, tam quả, và tứ quả. Chúng ta phải tạo bậc Thánh hiền, chẳng phải tạo người dư thừa. Người dư thừa là gì ? Tức là người mà mọi người không cần. Tại nước nầy, mọi người đừng bỏ qua cơ hội tốt. Bạn vốn có thể chứng quả, nhưng một khi nóng giận lên, thì chẳng có phần. Bạn hãy xem có vị Thánh nhân nào có vô minh, có phiền não, có nóng giận chăng ? Vì họ đã chứng đến cảnh giới người cũng không, pháp cũng không, thì tự nhiên chẳng còn vô minh phiền não và nóng giận. Bạn phải tôn trọng mình, đừng khinh mình, tìm cách để sớm chứng quả, đừng rơi vào phía sau. Bạn muốn chứng quả chăng ? Vậy trước hết phải phá ác ma. Ác ma tức là vô minh phiền não của bạn. Khi tôi giảng Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Phẩm Phổ Môn có nói rằng : "Ngàn ngày nhặt củi, chút lửa đốt sạch". Khổ công nhặt củi cả ngàn ngày, chỉ một chút lửa thì thiêu sạch. Giống như công làm được ngàn ngày, đức tu được ngàn ngày, một khi phát lửa vô minh (nóng giận), thì bao nhiêu công đức tu được đều cháy sạch. Cho nên, người tu đạo, tối kị nhất là nóng giận, nhất định phải tu pháp môn nhẫn nhục ! Ác ma chuyên phá đạo nghiệp của bạn, nó thấy bạn tu được chút công đức, thì đến quấy nhiễu bạn, ngày ngày đợi cơ hội xem bạn chừng nào nổi nóng, thì nó thừa cơ mà vào trong tâm của bạn, khiến cho bạn thối đạo tâm. Bổn lai muốn tu hành, bây giờ suốt ngày đến tối muốn hoàn tục, không muốn tu hành nữa, đó là bị ma vương chi phối. Ma vương chuyên môn phá hoại đạo tâm. Nếu người tu hành ý chí không kiên cố, thì sẽ đầu hàng ma vương, làm quyến thuộc của chúng. Cho nên, muốn thoát khỏi khổ luân hồi, thì phải nhận chân tu hành. Vị Chủ Phong Thần nầy, phá được vô biên chúng ác ma, bất cứ loại ma nào, vị nầy cũng hàng phục được, chẳng cho chúng tác quái, không để cho chúng đến nhiễu loạn tâm thanh tịnh của người tu đạo, gia bị cho người tu đạo sớm chứng quả, sớm khai ngộ, đó là môn giải thoát của vị nầy đắc được. Chủ Phong Thần Ðại Thanh Biến Hống, được môn giải thoát, vĩnh viễn diệt trừ sự sợ hãi của tất cả chúng sinh. Vị Ðại Thanh Biến Hống Chủ Phong Thần nầy, khéo thổi gió lớn, cho nên âm thanh của gió rất lớn, khắp hư không đều có tiếng hống. Khi chúng sinh có sự sợ hãi, thì vị nầy bố thí không sợ hãi cho chúng sinh, khiến cho chúng sinh vĩnh viễn diệt trừ tâm sợ hãi, mà đắc được an lạc, đó là môn giải thoát của vị nầy đắc được. Chủ Phong Thần Thụ Diểu Thùy Kế, được môn giải thoát, biển biện tài vào thật tướng của tất cả các pháp. Vị Thụ Diểu Thùy Kế Chủ Phong Thần nầy, thổi gió khiến cho các cành cây nhỏ rũ xuống. Vị nầy minh bạch được cảnh giới thật tướng của các pháp, tỏ ngộ biển biện tài thật tướng của các pháp, tức cũng là bổn thể của các pháp. Bổn thể của các pháp là gì ? tức là : "Chư pháp tùng bản lai, Thường tự tịch diệt tướng. Không thể dùng lời nói, các pháp thật tướng là không thể nói, không thể nói. Tức nhiên không thể nói, sao còn có thể biện tài ? Vì không thể nói, cho nên mới có biện tài mà vào biện tài. Biển biện tài nầy, là bổn thể thật tướng của các pháp, dùng để phát huy diệu dụng của nó. Ðạo lý nầy vô cùng vô tận, giảng cách nào cũng có đạo lý, cho nên gọi là biển biện tài. Vì chẳng phải một đạo lý có thể nói hết được, cho nên chẳng có định pháp. Giảng kinh thuyết pháp mỗi người đều có sở thấy, sở ngộ của mình, giảng ra nghĩa kinh không nhất định đều giống nhau. Nếu giảng giống nhau đó là kinh chết, chẳng minh bạch được nghĩa sâu rộng của kinh, cũng chẳng vào được bổn thể thật tướng của các pháp, cũng chẳng hiểu rõ nghĩa lý chân chánh. Minh bạch được thật tướng của các pháp, thì vào được biển biện tài, tức là biện tài vô ngại, ai cũng giảng không bằng bạn, không bắt bẻ được lý luận của bạn, bạn luôn luôn là người thắng lợi. Nếu không như thế, thì chẳng đắc được biển biện tài. Vị Chủ Phong Thần nầy, đắc được môn giải thoát, biển biện tài vào thật tướng của tất cả các pháp. Chủ Phong Thần Phổ Hành Vô Ngại, được môn giải thoát, tạng phương tiện điều phục tất cả chúng sinh. Vị Phổ Hành Vô Ngại Chủ Phong Thần nầy, sức gió đi khắp mười phương pháp giới, mà chẳng chướng ngại. Vị nầy đắc được tạng phương tiện điều phục tất cả chúng sinh. Ðiều phục là gì ? Tức là khiến cho chúng sinh cang cường hết cang cường, chúng sinh ác hết ác, chúng sinh bại hoại hết bại hoại, điều phục chúng sinh, khiến cho họ nhu hòa mà nhẫn nhục, dũng mãnh tinh tấn, siêng tu đạo nghiệp. Khiến cho tất cả chúng sinh cải ác hướng thiện, bỏ tà về với chánh, bỏ tối về sáng đó là điều phục. Dùng phương pháp gì để điều phục tất cả chúng sinh ? Tức dùng pháp môn phương tiện khéo léo để điều phục. Pháp môn phương tiện khéo léo nầy vô lượng vô biên, cho nên gọi là tạng. Gặp chúng sinh cang cường, thì dùng pháp môn nhu hòa nhẫn nhục để điều phục, gặp chúng sinh xấu thì dùng phương pháp tốt để điều phục. Tóm lại, dùng đủ thứ pháp môn phương tiện, để điều phục tất cả chúng sinh. Vị Chủ Phong Thần nầy vào được môn giải thoát nầy. Chủ Phong Thần Chủng Chủng Cung Ðiện, được môn giải thoát, vào môn thiền định tịch tĩnh diệt trừ ngu si ám cực nặng. Vị Chủng Chủng Cung Ðiện Chủ Phong Thần nầy, vào môn thiền định tịch tĩnh. Tịch tĩnh tức là bất động, bất động tức là thiền định. Vị nầy diệt trừ ngu si ám cực nặng. Làm thế nào để diệt ? Vì vị nầy vào được môn thiền định, do giới sinh định, do định phát huệ. Vì có trí huệ cho nên tiêu trừ được ngu si ám cực nặng. Ngu là rất ngốc nghếch, si là rất u mê. Ngu si tức là rất hồ đồ, chẳng có trí huệ, chẳng có quang minh. Nhập thiền định thì có trí huệ quang minh, có thể phá trừ ngu si ám cực nặng, đó là môn giải thoát vị nầy đắc được. Chủ Phong Thần Ðại Quang Phổ Chiếu, được môn giải thoát, tùy thuận tất cả chúng sinh hành sức vô ngại. Vị Ðại Quang Phổ Chiếu Chủ Phong Thần nầy, có đại trí huệ quang chiếu khắp tất cả chúng sinh. Vị nầy đắc được cảnh giới, tùy thuận tất cả chúng sinh. Phàm là việc gì chúng sinh muốn làm, vị nầy đều thuận theo họ, không làm cho họ sinh phiền não nóng giận. Tóm lại, khiến cho chúng sinh sinh tâm hoan hỉ, tức là sức vô ngại. Khiến cho chúng sinh sinh phiền não, tức là có chướng ngại. Vị nầy đắc được môn giải thoát nầy. Bấy giờ, Chủ Phong Thần Vô Ngại Quang Minh, nương oai lực của đức Phật, quán sát khắp tất cả chúng Chủ Phong Thần, mà nói ra bài kệ. Khi Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni nói Kinh Hoa Nghiêm, thì có vô lượng các Bồ Tát đến tụ tập tại Ðạo Tràng, có vô lượng chư Thiên Vương, vô lượng Thiên Long bát bộ, và các chúng Thần đến tụ tập tại Ðạo Tràng. Lúc đó, vị Vô Ngại Quang Minh Chủ Phong Thần, nương đại oai thần lực của Phật Thích Ca Mâu Ni, quán sát khắp tất cả chúng Chủ Phong Thần, mà nói ra bài kệ. Tất cả Phật pháp rất thâm sâu Vô ngại phương tiện vào được khắp Phật thường xuất hiện khắp thế gian Không tướng không hình không bóng dáng. "Tất cả các Phật pháp thâm sâu". Hết thảy tất cả Phật pháp, của chư Phật trong mười phương ba đời nói, đều là pháp thâm sâu vi diệu. Trong Phật pháp lại sinh Phật pháp, trong Phật pháp lại hàm chứa Phật pháp, cho nên nói pháp của tất cả chư Phật, là không thể nghĩ bàn. "Vô ngại phương tiện vào được khắp". Phật có pháp môn vô ngại phương tiện, vào được khắp mọi nơi. Pháp môn nầy vào được khắp cõi nước, nhiều như hạt bụi chẳng có gì chướng ngại, không chỗ nào mà chẳng đến. "Thường xuất hiện hết thảy thế gian". Phật luôn luôn xuất hiện tại hữu tình thế gian, để giáo hóa chúng sinh, để phổ độ chúng sinh. "Không tướng không hình không bóng dáng". Tuy Phật thường xuất hiện, nhưng chẳng có tướng, chẳng có hình, tức nhiên không tướng không hình, làm sao có bóng dáng ? Cho nên nói không tướng không hình không bóng dáng. Những gì Phật làm đều chẳng chấp trước, không giống như chúng ta có tâm chấp trước. Hôm nay ta nghĩ làm gì ? Ta tốt như thế nào ? Mà chẳng nghĩ đến chỗ nào mình không đúng. Ðó là biến thành có tướng, có hình, có bóng dáng. Phật thì quét sạch tất cả pháp, lìa tất cả tướng, tuy là suốt ngày nói pháp, cũng chẳng nói câu pháp nào, suốt ngày ăn cơm, cũng chẳng ăn hạt gạo nào, suốt ngày mặt y phục, cũng chẳng mặc sợi tơ nào. Những gì Phật làm đều hành sở vô sự. Cảnh giới nầy, chẳng phải một số phàm phu minh bạch được. Ông quán Như Lai trong quá khứ Một niệm cúng dương vô biên Phật Hạnh bồ đề dũng mãnh như vậy Phổ Hiện Thần ngộ cảnh giới nầy. "Ông quán Như Lai thuở xa xưa". Vị Phổ Hiện Dũng Nghiệp Chủ Long Phong Thần nói : Các ông hãy quán sát, khi Phật ở tại nhân địa, thì tu những hạnh môn không thể nghĩ bàn. "Một niệm cúng dường vô biên Phật". Phật ở trong một niệm, cúng dường được vô biên chư Phật trong pháp giới. Ðều phát tâm cúng dường hết thảy các vị Phật đó, đó tức là : "Rộng tu cúng dường". "Hạnh bồ đề dũng mãnh như vậy". Dũng mãnh tinh tấn không giải đãi như vậy, luôn luôn tu hạnh bồ đề. Hạnh bồ đề là gì ? Tức là giác đạo, tu pháp môn trí huệ. "Phổ Hiện Thần ngộ cảnh giới nầy". Vị Phổ Hiện Dũng Mãnh Chủ Phong Thần, minh bạch được cảnh giới môn giải thoát nầy. Như Lai cứu thế không nghĩ bàn Hết thảy phương tiện chẳng luống qua Ðều khiến chúng sinh lìa các khổ Giải thoát nầy của Vân Tràng Thần. "Như Lai cứu thế không nghĩ bàn". Như Lai tức là Phật, Phật tức là Như Lai. Tuy hai tên nhưng một thể. Nếu xưng Như Lai Phật, tức là người không hiểu Phật pháp. Phật xuất hiện nơi hữu tình thế gian, để cứu độ tất cả chúng sinh. Sức nhu hòa nhẫn nhục nầy không thể nghĩ bàn, chúng sinh không dễ gì minh bạch, cũng không thể tưởng tượng được cảnh giới nầy. "Hết thảy phương tiện không luống qua". Phật nói pháp là vì muốn cứu chúng sinh thế gian, cho nên dùng pháp quyền xảo phương tiện, tức cũng là nhân thời thuyết pháp, nhân sự thuyết pháp, nhân địa thuyết pháp, vì người thuyết pháp. Tất cả phương tiện pháp môn, chẳng có môn nào mà không sử dụng. Phật thấy loài chúng sinh gì, thì thuyết pháp đó, cho nên không luống qua. "Giải thoát nầy của Vân Tràng Thần". Vị Phiêu Kích Vân Tràng Chủ Phong Thần, minh bạch được cảnh giới nầy. Chúng sinh vô phước chịu các khổ Trọng cái mật chướng thường mê đậy Tất cả đều khiến được giải thoát Tịnh Quang Thần biết rõ môn nầy. "Chúng sinh vô phước chịu các khổ". Chúng sinh tức là chúng duyên hòa hợp mà sinh, cũng là chúng duyên hòa hợp mà tử. Tại sao chúng sinh chẳng có phước báo ? Vì không có trồng phước, sao chẳng trồng phước ? Vì không gặp được Phật, không nghe được Pháp, không thấy được Tăng, cho nên chẳng có chỗ đi trồng phước. Do đó, chẳng đắc được phước báo. Chỗ nào không có Phật, không có Pháp, không có Tăng, thì sau khi chúng sinh hưởng hết phước báo, lại không thể tăng thêm phước báo nữa. Tại sao ? Vì chẳng có nơi trồng phước. Chẳng có phước thì chịu khổ, khổ có nhiều thứ gồm có: Ba thứ khổ, tám thứ khổ .v.v., cho nên gọi là các khổ. Ba thứ khổ tức là: Khổ khổ, hoại khổ và hành khổ. Tám thứ khổ là: Sinh, già, bệnh, chết, ái biệt ly, oán tắng hội, cầu bất đắc, ngũ ấm xí thạnh. "Trọng cái mật chướng thường mê đậy". Trọng cái tức là vô minh phiền não, mật chướng tức là nghiệp chướng, báo chướng, phiền não chướng, sở tri chướng, đủ thứ cái và chướng, che đậy rất nghiêm mật. Che đậy gì ? Che đậy tâm thanh tịnh của bạn. Bổn lai rất minh bạch, nhưng bây giờ khiến cho bạn luôn luôn mê hoặc không minh bạch, càng ngày càng hồ đồ, càng ngày càng nhiều vọng tưởng. Ai có trọng cái mật chướng thường mê đậy, thì bây giờ hãy giác ngộ, hãy minh bạch, đừng mê nữa, sớm tỉnh dậy, đừng ban ngày nằm mộng. "Tất cả đều khiến được giải thoát". Phật muốn tất cả những chúng sinh khổ, đều được giải thoát, tức cũng là lìa khổ được vui. "Tịnh Quang Thần biết rõ môn nầy". Cảnh giới môn giải thoát nầy, vị Tịnh Quang Trang Nghiêm Chủ Phong Thần thấy rõ được. Nghiệp gồm có định nghiệp và bất định nghiệp. Bất định nghiệp có thể thay đổi, có thể tiêu diệt. Ðịnh nghiệp thì không cách chi thay đổi được, phải chịu khổ, chịu tội để tiêu diệt. Vào cuối đời nhà Minh, hoàng đế Sùng Trinh kiếp trước là một vị Sa Di, chưa đến lúc thọ giới cụ túc thì qua đời. Sư phụ của y là minh nhãn thiện tri thức, quán sát được nhân duyên quá khứ vị lai. Biết y có định nghiệp, đời sau sẽ làm hoàng đế, song có đức mà không có phước, cho nên dạy sư huynh của y hãy phanh thi thể của y ra, như thế thì có thể trợ giúp cho y tiêu trừ nghiệp chướng. Ðó là một phen khổ tâm của sư phụ y, xí đồ muốn thành tựu phước báo đời sau cho y. Lúc đó, sư huynh của y phát tâm từ bi không nhẫn tâm sư đệ của mình chết không toàn thây, mới đem xác sư đệ đi chôn. Ðời sau, sư huynh của y biết được sự việc, mới đến tranh ngôi hoàng đế, đó là Lý Tự Thành. Lý Tự Thành tấn công vào Bắc Kinh, thì hoàng đế Sùng Tring đến dưới cây núi than treo ngược mà chết, chỉ làm hoàng đế được 17 năm. Nếu như lúc đó sư huynh của y, đem thi thể của y phanh ra, thì đời nầy y làm hoàng đế, vừa có đức vừa có phước, làm vị hoàng đế anh minh . Bất hạnh thay, vì nghiệp đã đến, nên làm vua bị mất nước. Ðó là sự việc có thật, để cho mọi người hiểu rõ đạo lý định nghiệp. Sức thần thông Như Lai rộng lớn Khắc phục tất cả chúng ma quân Hết thảy các phương tiện điều phục Dũng Kiện Oai Lực quán sát được. "Sức thần thông Như Lai rộng lớn". Phật có sức thần thông biến hóa rộng lớn vô lượng vô biên. "Khắc phục tất cả chúng ma quân". Thần thông của Phật không thể nghĩ bàn, có đại oai lực khắc phục tiêu diệt hết tất cả quân chúng thiên ma. "Hết thảy các phương tiện điều phục". Phật dùng tất cả pháp môn phương tiện, để điều phục ma quân, khiến cho chúng tâm phục khẩu phục. Ðó là dùng oai đức để cảm hóa. "Dũng Kiện Oai Lực quán sát được". Cảnh giới nầy, vị Dũng Kiện Oai Lực Chủ Phong Thần quán sát được. Trong lỗ lông Phật diễn diệu âm Âm đó vang khắp trong thế gian Tất cả khổ sợ đều dứt trừ Cảnh giới nầy của Biến Hống Thần. "Trong lỗ lông Phật diễn diệu âm". Chúng ta muốn nói thì dùng miệng để nói, dùng lưỡi để giảng giải, đó là bản năng của một số phàm phu tục tử. Phật thì không những miệng thuyết pháp được, mà tất cả lỗ chân lông khắp toàn thân, cũng diễn nói diệu pháp được. Mỗi lỗ chân lông đều có thể diễn nói tám vạn bốn ngàn pháp môn, mỗi lỗ chân lông lại có thể dung nạp ba ngàn đại thiên thế giới. Mỗi lỗ chân lông của Phật, đều có thể thuyết pháp giáo hóa chúng sinh, hơn nữa, trong mỗi lỗ chân lông đều có vô lượng chúng sinh đang ở trong đó để nghe pháp. Nếu chỉ có Phật thuyết pháp, mà chẳng có chúng sinh nghe pháp, thì cũng chẳng ích gì. Có người nói : "Trong một lỗ chân lông của Phật, có vô lượng chúng sinh đang nghe Phật thuyết pháp tại đó, đó là chuyện không thể có". Cảnh giới của phàm phu, thì đương nhiên bạn không tin có cảnh giới như thế, dù chứng được quả A La Hán, còn không biết cảnh giới pháp hội Hoa Nghiêm của Phật, phải là Bồ Tát thì mới minh bạch được cảnh giới nầy. Cho nên bạn không tin cũng không trách bạn, đợi khi nào bạn tu đến quả vị Bồ Tát thì sẽ tin. Diệu âm là gì ? Tức là đối cơ thuyết pháp, vừa đúng cơ của bạn tức là pháp diệu; không đúng cơ thì chẳng phải pháp diệu, đó tức là quán cơ đầu giáo, vì người thuyết pháp, cho nên gọi là diệu âm. "Âm đó vang khắp trong thế gian". Diệu âm nầy, vang khắp tất cả mọi nơi, tất cả mọi nơi đều có diệu âm nầy. Chúng sinh hữu tình thế gian, nghe được diệu âm nầy mà khai ngộ, bỏ mê về giác. "Tất cả khổ sợ đều dứt trừ". Tất cả thống khổ và sợ hãi, đều hoàn toàn tiêu diệt. Không có khổ não thì chẳng có sợ hãi, tức cũng là độ tất cả khổ ách. Trong Kinh Bát Nhã nói : "Tâm vô quái ngại, vô quái ngại cố, vô hữu khủng bố, viễn ly điên đảo mộng tưởng, cứu kính Niết Bàn". Không có quái ngại thì không có sợ hãi; không có sợ hãi mới xa lìa điên đảo mộng tưởng; xa lìa được điên đảo mộng tưởng rồi, mới đắc được cứu kính Niết Bàn. Chứng đắc được cứu kính Niết Bàn, đó là đắc được Thường Lạc Ngã Tịnh bốn đức Niết Bàn. Thường Lạc Ngã Tịnh là gì ? Thường tức là phần đoạn sinh tử và biến dịch sinh tử đều chẳng còn. Lạc tức là giải thoát thọ dụng, tức cũng là trí huệ giải thoát, đắc được vui chân thật, thiền duyệt vi thực, pháp hỷ sung mãn. Ngã tức là chứng được pháp thân. Tịnh tức là tuyệt đối chẳng còn nhiễm ô chướng ngại. "Giải thoát nầy của Biến Hống Thần". Vị Ðại Thanh Biến Hống Chủ Phong Thần nầy, thấy rõ được cảnh giới nầy, vào được môn giải thoát nầy. Hôm nay chỉ giảng bốn câu kệ, mọi người có ý kiến gì chăng ? Ðừng ngại hãy đưa ra nghiên cứu, phát huy trí huệ vốn có của các bạn, để giảng kiến giải đặc biệt của bạn trước mọi người. Bây giờ là đúng lúc, nếu có một chữ hoặc là một câu kinh văn không hiểu, thì có thể nêu ra nghiên cứu, không thể nuốt trựng mà không hay biết được mùi vị được. Nếu chẳng có ý kiến gì, thì sẽ tiếp tục giảng tiếp theo. Chúng ta là dân chủ giảng kinh, mọi người đều có quyền nói, mọi người đều có cơ hội giảng kinh, mỗi ngày chỉ nghe mình tôi giảng kinh, do đó: "U mê truyền u mê, Một truyền hai không hiểu, Sư phụ đọa địa ngục, Ðồ đệ cùng đi theo. Ðó là lấy bậy truyền bậy, càng truyền càng xa lìa kinh. Cho nên, có chỗ nào nghi vấn, phải nêu ra để cùng nhau nghiên cứu ! Phật trong tất cả các cõi nước Bất tư nghì kiếp thường diễn nói Là diệu biện tài của Như Lai Thụ Diểu Kế Thần ngộ hiểu được. "Phật trong tất cả các cõi nước". Phật ở trong đại kiếp, các cõi nước nhiều vô lượng không thể nghĩ bàn. "Bất tư nghì kiếp thường diễn nói". Trong đại kiếp không thể dùng tâm suy nghĩ, không thể dùng lời luận bàn, Phật luôn luôn diễn nói diệu pháp thâm sâu vô thượng. "Là diệu biện tài của Như Lai". Phật nói pháp là có diệu biện tài, bất cứ nói pháp gì, thì lý luận vô cùng tận, như vào sâu ra cạn, khiến cho người nghe đều hiểu rõ. Phật nhập vào tam muội biện tài thuyết pháp. "Thụ Diểu Kế Thần ngộ hiểu được". Cảnh giới nầy, vị Thụ Diểu Kế Chủ Phong Thần ngộ hiểu được. Phật trong tất cả môn phương tiện Trí vào trong đó đều không ngại Cảnh giới vô biên không ai bằng Giải thoát nầy của Phổ Hành Thần. "Phật trong tất cả môn phương tiện". Ðây là kệ của vị Phổ Hành Vô Ngại Chủ Phong Thần tán thán Phật. Ngài nói Phật ở trong tất cả đủ thứ môn phương tiện. "Trí vào trong đó đều vô ngại". Tất cả trí huệ của Phật vào tất cả môn phương tiện. Phương tiện pháp môn tức là vô ngại pháp môm, cho nên nói đều vô ngại. "Cảnh giới vô biên chẳng ai bằng". Cảnh giới của Phật vô lương vô biên, không thể nghĩ bàn, cũng chẳng có vị Bồ Tát nào, hoặc vị La Hán nào có thể sánh với Phật, cho nên gọi là không gì bằng. Nghĩa là chẳng có cảnh giới của ai đồng với cảnh giới của Phật. "Giải thoát nầy của Phổ Hành Thần". Vị Phổ Hành Vô Ngại Chủ Phong Thần, đắc được môn giải thoát nầy. Cảnh giới Như Lai chẳng bờ mé Nơi nơi phương tiện đều khiến thấy Mà thân tịch tĩnh không hình tướng Chủng Chủng Cung Thần môn giải thoát. "Cảnh giới Như Lai chẳng bờ mé". Cảnh giới của Phật chẳng có bờ mé, Ngài là tùy duyên không đổi, không đổi mà tùy duyên; một làm vô lượng, vô lượng làm một, cho nên cảnh giới của Phật là vô lượng vô biên, không thể nghĩ bàn. "Nơi nơi phương tiện đều khiến thấy". Nơi nơi tức là khắp mọi nơi. Khắp mọi nơi là mười phương pháp giới. Tận hư không biến pháp giới, khắp mọi nơi Phật dùng phương tiện pháp môn viên dung vô ngại, khiến cho chúng sinh đều thấy được sắc thân của Phật, pháp thân của Phật, hóa thân của Phật, đồng thời có thể thấy được pháp, báo, hóa, ba thân, chỉ xem nhân duyên của chúng sinh mà định. "Mà thân tịch tĩnh chẳng có tướng". Tuy nhiên thấy được ba thân của Phật, nhưng bổn thân của Phật tịch tĩnh chẳng chấp trước tướng. Bổn thân của Phật chẳng có tướng. Tại sao ? Vì là tịch tĩnh, là không. Tuy nhiên là không, nhưng không mà chẳng không, mà hay sinh ra diệu hữu, diệu hữu ấy chẳng phải hữu, cho nên nói diệu hữu phi hữu, không ngại chân không. Chân không chẳng không, không ngại diệu hữu. Ðó là không, hữu (có) chẳng hai, tức không tức có, tức có tức không. Không, hữu (có) chẳng hai, tức là trung đạo liễu nghĩa. Cho nên nói, bổn thân Phật là tịch tĩnh vô tướng, chẳng có tướng. Song, tuy chẳng có tướng nhưng chẳng lìa tất cả tướng. "Chủng Chủng Cung Thần môn giải thoát". Vị Chủng Chủng Cung Ðiện Chủ Phong Thần, đắc được môn giải thoát nầy. Như Lai biển kiếp tu các hạnh Tất cả các lực đều viên mãn Tùy theo thế pháp ứng chúng sinh Cảnh giới nầy của Phổ Chiếu Thần. "Như Lai biển kiếp tu các hạnh". Phật trong vô lượng đại kiếp về trước, tu hành tất cả hạnh môn, hết thảy đều viên mãn. Phật không chê việc thiện nhỏ mà không đi làm, cũng không xem thường việc ác nhỏ mà đi làm. Cho nên Phật tu hết thảy các hạnh, không bỏ pháp nào, tu hết tất cả pháp, tu hết tất cả phương tiện pháp môn. "Tất cả các lực đều viên mãn". Các lực tức là : Ðại từ lực, đại bi lực, đại hỉ lực, đại xả lực, đại tín lực, đại nguyện lực, đại hạnh lực, đại vô uý lực, đại vô ngại lực .v.v. Phật tu tất cả các lực đều viên mãn mà thành tựu. "Tùy theo thế pháp ứŨng chúng sinh". Phật thường tùy thuận tất cả chúng sinh, để giáo hóa tất cả chúng sinh. Ðó tức là vì thế pháp mà nói pháp xuất thế, ấy chẳng phải lìa thế pháp mà tu pháp xuất thế. Cho nên nói, tùy theo pháp thế gian để tùy cơ ứng hóa. Tóm lại, thấy căn tánh chúng sinh như thế nào, thì vì họ mà nói pháp. Cho nên dùng pháp hành phương tiện thiện xảo, để giáo hóa tất cả chúng sinh. "Cảnh giới nầy của Phổ Chiếu Thần". Ðây là vị Ðại Quang Phổ Chiếu Chủ Phong Thần, thấy được cảnh giới môn giải thoát nầy. Bây giờ là lúc thảo luận vấn đề, ai có vấn đề thì đưa ra, để mọi người nghiên cứu. Có người đưa ra vấn đề : "Niệm Phật là ai" ? Trong Kinh Kim Cang nói : "Ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm". Có một nơi nào đó tức là trụ. Vô sở trụ, tức là không nghĩ thiện, không nghĩ ác, là tại chỗ nầy mà dụng công. Nếu chú ý vào một nơi, nghĩ tốt nghĩ không tốt, đó đều là chấp trước. Tu hành tức là tu chẳng chấp trước vào gì hết, chấp trước gì cũng chẳng có, ngay cả thân thể của mình cũng quên luôn, cho đến thân thể cũng chẳng có, thì còn chấp trước vào cái gì ? Khi tham thiền thì chẳng nhớ gì hết, chỉ nhớ : "Niệm Phật là ai" ? Tìm cái "ai"? nầy, khi nào mà tìm được "ai"? Thì lúc đó sẽ khai ngộ, tìm không được thì một ngày cũng phải tìm, mười ngày cũng phải tìm, trăm ngày cũng phải tìm, ngàn ngày cũng phải tìm, vạn ngày cũng phải tìm, cho đến một năm, mười năm, trăm năm, ngàn năm, vạn năm, cũng đều tìm cái nầy. Khi nào tìm được thì lúc đó mới thôi. Ðừng muốn nhanh, chẳng như hút nha phiến, hút xong thì ghiền; sự việc chẳng dễ dàng như thế, đó là pháp môn gạt người. Tu pháp môn chân chánh, phải tự mình nỗ lực dụng công, đừng nhổ mầm giúp cho mau lớn, muốn cho mau lớn lên một chút ! Mau cao lên một chút ! Ðó là tư tưởng sai lầm. Câu "Niệm Phật là ai"? Là chém chặt hết tất cả mọi vọng tưởng, chém chặt hết tất cả mọi dục niệm, tức là chém hết mười đại ma quân. Chữ "ai" nầy, tức là kim cang vương bảo kiếm, gì cũng đều chém sạch hết, gì cũng chẳng còn. Ấy chẳng phải chấp trước một nơi nào. "Phàm tất cả tướng đều là hư vọng, Nếu thấy các tướng phi tướng, Tức thấy Như Lai". Tất cả chấp trước đó là nhân tâm. Chẳng chấp trước đó là đạo tâm. Ngồi thiền mà không tham chữ "ai" thì vọng tưởng sẽ sinh ra, như vậy thì suốt đời cũng chẳng khai ngộ. Tham thoại đầu tức là dùng độc trị độc, dùng vọng tưởng để khống chế vọng tưởng, nghĩa là dùng một vọng tưởng điều phục nhiều vọng tưởng, đến được sơn cùng thủy tận, hết đường đi thì sẽ khai ngộ. Giảng kinh chẳng phải là việc dễ, không giảng thì chẳng biết không dễ dàng, đợi khi nào bạn giảng thì mới biết là không dễ, nhất là người chưa nghe giảng kinh, càng không biết việc giảng kinh là không dễ dàng. Giảng kinh thì chẳng biết thế nào là đúng ? Thế nào là không đúng ? Thậm chí, chữ kinh hoặc kinh văn in sai cũng đều không biết, cho nên nói giảng kinh là không dễ dàng. Không những tôi giảng kinh có chỗ sai, mà nhiều vị pháp sư có khi cũng đều giảng sai. Giảng sai là giảng sai, nhưng hy vọng các bạn đừng nghe sai. Ðợi khi nào các bạn phiên dịch, thì phải cải chính lại mới đúng. Nếu biết sai mà không cải chính, đó là quả báo của tôi. Vì trước kia tôi nghe người ta giảng kinh, tôi cũng đều chê họ giảng sai. Bây giờ đồ đệ cũng chê sư phụ giảng sai. Vì tôi không sợ đọa địa ngục, cho nên phê bình người khác giảng kinh sai. Bây giờ đồ đệ của tôi, cũng chẳng sợ đọa địa ngục, đến phê bình sư phụ. Ðợi tương lai bạn giảng kinh, thì không những đồ đệ của các bạn đến phê bình bạn, mà đồ đệ tôn của các bạn, cũng đến phê bình các bạn giảng sai. Ðó là quả báo, tương lai các bạn sẽ biết, bây giờ tôi biết tôi đang thọ quả báo. Hôm nay nhận được thư của Quả Du nói : Y tam bộ nhất bái, thì mũi và miệng của y thường tiếp hợp với đất, nghĩ đến sự tu hành nghiên cứu Phật pháp ở tại chùa Kim Sơn rất là quan trọng. Y không thể tiếp hợp với Phật pháp, đại khái rất là khổ tâm ! Y muốn các bạn hãy nỗ lực nghiên cứu Phật pháp, và hợp với Phật pháp mà làm một, đả thành một khối, đó là đại ý trong thư của y. Các bạn hãy nghĩ xem ! Chùa Kim sơn có hai vị xuất gia, dùng công đức tam bộ nhất bái, để cầu cho thế giới hòa bình, tu hành Bồ Tát đạo khó hành. Chúng ta hằng ngày ở tại đây làm biếng, gì cũng chẳng làm, làm sao ăn nói với hai vị đó ? Chúng ở ngoài mưa ngoài gió hành Bồ Tát đạo, vì nhân loại thế giới mà cầu bình an, chứ chẳng phải vì hạnh phúc của mình. Các bạn hãy phản tỉnh một phen, nên tu hạnh môn gì, mới giúp được hai vị sớm hoàn thành hạnh nguyện to lớn nầy ? Có phải nghĩ biện pháp khiến cho Phật giáo phát dương quang đại ? Có phải dùng tâm từ bi để phổ độ tất cả chúng sinh ? Bất cứ tu pháp môn gì, chỉ cần tinh tấn đừng giải đãi, thì có thể trực tiếp hoặc gián tiếp, đều trợ giúp cho hai vị công đức được viên mãn. Hai vị tam bộ nhất bái trên xa lộ, có các nhà báo đến phỏng vấn, lại có ký giả đài truyền hình đến nhiếp ảnh, hai vị gây sức ảnh hưởng rất lớn cho Phật giáo ! Thành công của hai vị, tức là của mỗi người chúng ta. Chúng ta phải phát nguyện trợ giúp hạnh môn của hai vị, cho sớm được thành công. Ở tại đất nước nầy, tu hạnh môn tam bộ nhất bái, là kỷ lục từ trước chẳng có mà mới sáng tạo, hy vọng từ nay về sau, Phật giáo lấy họ làm mô phạm. Ðây mới là bắt đầu ! Về sau nhất định sẽ có người phá kỷ luật. Mọi người nghĩ xem, hai vị tu hạnh môn thế nầy, còn chúng ta thì tu hạnh môn ngủ chăng ? Hạnh môn lười biếng ? Tu hạnh môn đố kị ? Mọi người phải hồi quang phản chiếu. Cho nên tôi phát tâm vì họ mà giảng kinh nhiều lần, Mỗi chiều thứ bảy một giờ bắt đầu giảng kinh (hiện tại một tuần giảng kinh chín lần). Tôi đem công đức nầy, hồi hướng cho hai vị. Quả Du (Hằng Cụ) là người hồ đồ trong hồ đồ, không biết sự quan trọng học Phật pháp. Bây giờ, đi tam bộ nhất bái hơn một tháng, đã hiểu nhiều hơn so với lúc trước, có thể nói là khai ngộ một chút, Y biết bỏ lỡ cơ hội học Phật pháp, không những y bỏ lỡ cơ hội, mà cũng liên lụy đến Quả Ðạo (Hằng Do), cũng bỏ lỡ cơ hội nầy. Ðó là chỗ họ khai ngộ, cho nên hy vọng mọi người cố gắng học Phật pháp, nỗ lực tham thiền đả tọa. Y còn hy vọng mọi người giúp y học chút Phật pháp. Trong sự cảm giác của tôi, tướng mạo của Quả Du chẳng giống lúc trước, bây giờ hiện ra tướng Tỳ Kheo. Quả Ðạo cũng khác với lúc trước, không cần nhìn họ, chỉ nghe âm thanh của họ, thì biết khác hẳn lúc trước nhiều, đó là đạo lý công chẳng luống mất. Quả Du lúc trước, tuyệt đối không biên thư được như thế, bây giờ thư của y có ý nghĩa khai ngộ, song chẳng phải khai đại ngộ, mà là khai tiểu ngộ. Bất cứ pháp môn gì, cũng đều có cảm ứng đạo giao. Lại nữa, Chủ Hỏa Thần Phổ Quang Diệm Tạng, được môn giải thoát, phá trừ đen tối của tất cả thế gian. Ý nghĩa ở trên chưa nói hết, lại tiếp tục nói. Vị Phổ Quang Diệm Tạng Chủ Hỏa Thần này, quang minh chiếu soi khắp hết thảy. Quang minh của vị này trùng trùng vô tận, cho nên gọi là Phổ Quang Diệm Tạng. Vì vị này là Phổ Quang Diệm Tạng, cho nên chiếu phá trừ đen tối của tất cả thế gian, đó là môn giải thoát vị này đắc được. Phổ Tập Quang Tràng Chủ Hỏa Thần, được môn giải thoát, diệt trừ các hoặc phiêu lưu nhiệt não khổ, của tất cả chúng sinh. Vị Phổ Tập Quang Tràng Chủ Hỏa Thần này, quang minh tụ lại với nhau như tràng báu. Vị này diệt trừ được đủ thứ mê hoặc, vô minh, ngu si, ám chướng, của tất cả chúng sinh, khiến cho họ thoát khỏi phiêu lưu nhiệt não trong biển khổ, đó là môn giải thoát vị này đắc được. Vì chúng sinh sanh ra các hoặc, cho nên luân hồi trong sáu nẻo, lúc làm người, làm quỷ, làm súc sinh, làm A tu la, làm người trời, đọa địa ngục, cho nên gọi là phiêu lưu. Trong địa ngục là nơi nhiệt não khổ nhất, chịu khổ chẳng khi nào hết được. Phàm là người không hiếu thuận với cha mẹ, không cung kính sư trưởng, cho nên mới vào địa ngục thọ quả báo. Chủ Hỏa Thần Ðại Quang Biến Chiếu, được môn giải thoát, không động phước lực đại bi tạng. Vị Ðại Quang Biến Chiếu Chủ Hỏa Thần này, có hỏa quang chiếu khắp ba ngàn đại thiên thế giới. Vị này đắc được môn giải thoát, không động phước lực đại bi tạng. Không động phước lực là gì ? Tức là phước lực này vĩnh viễn không dứt, không động. Vì tu phước lực này, cho nên đắc được môn giải thoát đại bi tạng. Ðại bi tạng là gì ? Tức là tâm thương xót muốn giáo hóa cứu độ chúng sinh. Vị Chủ Hỏa Thần này, dùng phước lực của mình để hộ trì tất cả chúng sinh, khiến cho họ đều đắc được không động phước lực đại bi tạng, đó là tâm địa của Bồ Tát. Chủ Hỏa Thần Chúng Diệu Cung Ðiện, được môn giải thoát, quán sức thần thông của Như Lai thị hiện không có bờ mé. Vị Chúng Diệu Cung Ðiện Chủ Hỏa Thần này, dùng tất cả báu đẹp để trang nghiêm cung điện. Vị này đắc được sức thần thông tự tại của Phật, thị hiện được vô lượng vô biên cõi nước và chúng sinh, ở trong biển cõi giáo hóa tất cả chúng sinh, đó là môn giải thoát vị này đắc được. Chủ Hỏa Thần Vô Tận Quang Kế, được môn giải thoát, quang minh chiếu sáng vô biên cõi hư không. Vị Vô Tận Quang Kế Chủ Hỏa Thần này, quang minh vô tận, chiếu sáng vô tận cõi nước, vô lượng thế giới, vô lượng biển kiếp. Tận hư không khắp pháp giới đều chiếu soi đến, khiến cho tất cả chúng sinh đều phát tâm bồ đề, đó là môn giải thoát vị này đắc được. Chủ Hỏa Thần Chủng Chủng Diệm Nhãn, được môn giải thoát, đủ thứ phước trang nghiêm tịch tĩnh quang. Vị Chủng Chủng Diệm Nhãn Chủ Hỏa Thần này, mắt phóng ra đủ thứ quang minh lửa ngọn màu xanh vàng đỏ trắng đen. Vị này minh bạch được pháp thân của Phật, do vạn phước vạn đức trang nghiêm, do đó dùng đủ thứ phước để trang nghiêm thân Phật. Vị này có một thứ quang minh tịch tĩnh, tức cũng là định quang, thường phóng quang minh ở trong định, đó là môn giải thoát vị này đắc được. Chủ Hỏa Thần Thập Phương Cung Ðiện Như Tu Di Sơn, được môn giải thoát, diệt trừ sự khổ nóng bức của tất cả chúng sinh trong các đường ác. Vị Thập Phương Cung Ðiện Như Tu Di Sơn Chủ Hỏa Thần này, trang nghiêm tất cả cung điện trong mười phương, khiến cho nguy nga hùng vĩ như núi Tu di. Vị này diệt trừ được sự thống khổ thiêu đốt, của tất cả chúng sinh thế gian trong các cõi. Các cõi là địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, A tu la. Ở trong các cõi này, thống khổ giống như bị lửa thiêu đốt. Ðó là môn giải thoát vị này đắc được. Chủ Hỏa Thần Oai Quang Tự Tại, được môn giải thoát, tự tại khai ngộ tất cả thế gian. Vị Oai Quang Tự Tại Chủ Hỏa Thần này, có uy đức cho nên quang minh phóng ra rất tự tại vô cùng. Vị này đắc được môn giải thoát, tự tại khai ngộ tất cả thế gian. Vị này khiến cho tất cả chúng sinh thế gian, cũng đều tự tại khai ngộ, thành tựu đạo nghiệp, vị Chủ Hỏa Thần này, không những oai quang tự tại, mà còn có tâm từ bi lớn, mình khai ngộ rồi, cũng muốn cho họ khai ngộ. Chủ Hỏa Thần Quang Chiếu Thập Phương, được môn giải thoát, vĩnh viễn phá tất cả ngu si chấp trước sự thấy. Vị Quang Chiếu Thập Phương Chủ Hỏa Thần này, hỏa quang chiếu khắp mười phương, vĩnh viễn phá trừ tất cả đen tối ngu si, của những kẻ chẳng có trí huệ. Kẻ ngu si, chính mình chẳng chịu mình là ngu si, ngược lại, nói người thông minh mới là ngu si, giống như con quạ ở trên lưng con heo đen, mà chẳng biết mình cũng là màu đen. Ðó tức là hành vi của kẻ ngu si. Kẻ ngu si, chính mình còn chẳng biết mình là ngu si, mà còn nói họ là ngu si, thật là quá ngu si ! Vì ngu si mới có chấp trước. Việc gì nhìn cũng không thấu, thấy việc gì cũng chẳng hiểu biết, do đó bị sự việc trói buộc, mà không được giải thoát, nhất là chấp trước sự thấy, chấp trước sự hiểu biết của mình là đúng, còn sự hiểu biết của họ là sai, đó là cố chấp không thông. Nếu có tư tưởng chấp trước sự thấy, thì không thể khai ngộ, không thể giải thoát. Vị Chủ Hỏa Thần này, đắc được môn giải thoát, phá trừ ngu si chấp trước sự thấy. Chủ Hỏa Thần Lôi Âm Ðiện Quang, được môn giải thoát, thành tựu tất cả nguyện lực đại chấn hống. Vị Lôi Âm Ðiện Quang Chủ Hỏa Thần này, có âm thanh như sấm sét, chấn động khắp pháp giới, và có quang minh như điện chiếu khắp pháp giới. Vị này thành tựu nguyện lực của tất cả chúng sinh, bất cứ bạn phát nguyện gì, thì vị này đều giúp cho bạn thành tựu. Âm thanh sư tử hống của vị này, chấn động pháp giới, đánh thức kẻ mê muội, khiến cho họ thức tỉnh, bỏ mê về giác, đó là môn giải thoát vị này đắc được. Bây giờ, là thời gian để chúng ta nghiên cứu với nhau. Ai có ý kiến gì thì nói ra, đừng ngập ngừng, muốn nói lại không dám nói, không dám nói lại muốn nói, đó chẳng phải là thái độ học Phật pháp. Học Phật pháp phải hoạt bát, đừng học kiểu khúc gỗ, phải tiến về trước, đừng lùi về sau. Phải đưa ra ý kiến, đó mới là tinh thần học Phật pháp. Người thối lùi về sau, thì sẽ bị người mới theo đuổi kịp, cho nên tự mình hỏi chính mình, có phải muốn thối lùi chăng ? Nếu muốn không thối lùi, thì phải dũng mãnh tinh tấn, đừng dậm chân tại chỗ. Do đó: "Dừng lại một bước, thì cách xa hai dặm rưỡi.’’ Tu đạo giống như thuyền đi ngược dòng, không tiến thì lùi, lại giống như hành giả tam bộ nhất bái, quy định mỗi ngày phải lạy hai dặm rưỡi, nếu không tinh tấn, thì không đạt được như đã quy định. Các vị phải tinh tấn đừng thối lùi về sau. Bấy giờ ! Chủ Hỏa Thần Phổ Quang Diệm Tạng, nương oai lực của đức Phật, quán sát khắp tất cả chúng Chủ Hỏa Thần, mà nói ra bài kệ. Lúc đó, vị Phổ Quang Diệm Tạng Chủ Hỏa Thần, nương đại oai thần lực của Phật, quán sát khắp tất cả chúng Chủ Hỏa Thần rồi dùng kệ để thuật lại môn giải thoát. Hiện tại, tôi giảng Kinh Hoa Nghiêm đã có chút nhập môn. Mỗi đoạn kinh văn, chỉ cần xem qua một lần thì nhớ, không cần xem lại lần thứ hai. Bây giờ giảng kinh thì nhìn qua một lần, sau đó thì tụng thuộc lòng lại được, đó là nhờ chư Phật, Bồ Tát của pháp hội Hoa Nghiêm gia bị, mới có sự cảm ứng như thế. Tôi vốn chẳng muốn nói tin này với các vị, song tôi hy vọng các vị cũng phải học theo, không cần nhìn kinh văn thì tụng ra được. Tôi thấy khi các vị giảng kinh, thì hoàn toàn dùng tiếng Anh của tôi đã giảng đọc ra, như thế thì không đúng. Các vị nên phát huy trí huệ của mình, dùng kiến giải của mình để giảng mới sinh động được, mới có ý nghĩa. Những gì tôi giảng, có những chỗ không được viên mãn lắm, cho nên hy vọng các vị y chiếu ý nghĩa của mình để giảng, không thể chiếu theo ý nghĩa của tôi giảng đọc lại, như vậy chẳng khác gì là tôi giảng, chỉ bất quá các vị đọc lại mà thôi. Giảng kinh không cần đọc thuộc chú giải, tôi giảng kinh thì chẳng nhìn chú giải, có khi nhìn nhưng cũng chẳng nhớ. Nghe nói có người khi giảng Ðại Thừa Khởi Tín Luận, thì trước hết họ xem qua nghĩa giảng giải của Khởi Tín Luận, như thế cũng được, nhưng nhìn tài liệu của người, chứ chẳng phải của mình, cuối cùng sẽ quên mất. Cho nên, tôi khuyên các vị, nên phát huy trí huệ của mình, xem chú giải phải thêm kiến giải của mình, nếu chỉ lập lại của người thì chẳng tác dụng gì. Ông quán tinh tấn của Như Lai Ức kiếp rộng lớn không nghĩ bàn Vì lợi chúng sinh hiện ra đời Tất cả ám chướng đều diệt trừ. ‘’Ông quán tinh tấn của Như Lai‘’. Ông quán là ai nói ông ? Ai quán ? Như Lai là vị Như Lai nào ? Những vấn đề này đều phải biết, thì sau đó mới minh bạch được nghĩa kinh. Câu kệ này do ai nói ? Là vị Phổ Quang Diệm Tạng Chủ Hỏa Thần đã nói ở trên. Ngài nói: ‘’Các vị nhìn xem ! Xem gì ? Xem Như Lai. Vị Như Lai nào ? Là Thích Ca Mâu Ni Như Lai, xem ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp của Phật chăng ? Chẳng phải ! Xem sức tinh tấn của Như Lai tu vô lượng kiếp.’’ Phật vì cầu pháp mà hy sinh tất cả, buông bỏ tất cả, thậm chí, thân tâm tính mạng cũng đều xả bỏ, chỉ biết tinh tấn, ngày tinh tấn đêm tinh tấn, ngày đêm sáu thời đều tinh tấn, làm cho mười đại ma quân đều bỏ chạy. Phật dụng công tu hành những gì người làm không được, mà Ngài làm được, người nhẫn không được, mà Ngài nhẫn được. Như Phật xả thân cứu cọp đói, theo sự suy nghĩ của mọi người thì cọp rất là hung ác, cứu nó làm gì ? Nó chết đói tốt biết chừng nào ! Thế giới sẽ bớt đi một thú dữ. Phật thì không nghĩ như thế, Ngài có tâm từ bi, xả bỏ thân thể của mình để cứu cọp đói, và Phật còn lóc thịt cứu chim ưng. Phần đông đa số đều nghĩ, chim ưng cũng là thứ chim ác, chuyên môn ăn thịt động vật nhỏ, nhưng Phật lóc thịt mình để cứu nó. Bạn thấy đó ! Sức tinh tấn này có ai sánh bằng ? Các vị chỉ biết ích kỷ, mà chẳng biết vô tư, chỉ biết lợi mình, mà chẳng biết lợi người, còn tồn tại tư tưởng như thế, thì chẳng tinh tấn được. Cho nên chúng ta phải tinh tấn dụng công tu đạo. Tất cả hãy vì người đừng vì mình, như vậy thì mới hành Bồ Tát đạo được. ‘’Ức kiếp rộng lớn không nghĩ bàn‘’. Phật ở trong quá khứ vô lượng kiếp tu hành, hạnh môn sức tinh tấn không thể nghĩ bàn. ‘’Vì lợi chúng sinh hiện ra đời‘’. Tại sao Phật xuất hiện ra đời ? Vì muốn lợi ích chúng sinh. Tại sao chúng ta hiện ra đời ? Vì đến để làm tổn hại chúng sinh. Phật thì đến để giáo hóa chúng sinh, phổ độ chúng sinh, khiến cho chúng sinh lìa khổ được vui, liễu sinh thoát tử, còn chúng ta chỉ biết ích kỷ lợi mình, đem những gì ích lợi chúng sinh, để làm của riêng mình, chỉ biết có mình mà chẳng biết có kẻ khác. Có lẽ chúng ta có những tư tưởng này đối với chúng sinh: "Ông phải chết đi cho sớm ! Những đồ vật tôi cần đều bị ông xử dụng. Nếu ông chết đi, thì tôi hưởng thụ nhiều hơn một chút. Thậm chí giữa cha với con cũng có tư tưởng như thế, cha giàu có thì con mong cho cha chết sớm để tiền tài thuộc hết về mình. Chao ôi ! Sao ông không chết ? Ðã già mà không chết cho rồi, sống để báo hại". Con cái trông mong cha mẹ chết sớm một chút. Các vị nghĩ xem, chúng ta xuất hiện ra đời có phải để tổn hại chúng sinh chăng ? ‘’Tất cả ám chướng đều diệt trừ‘’. Ám chướng tức là phiền não chướng, sở tri chướng, nghiệp chướng, báo chướng .v.v. Vị Chủ Hỏa Thần này, khiến cho tất cả ám chướng của chúng sinh đều tiêu diệt. Ám chướng không còn nữa, thì xuất hiện quang minh, đắc được trí huệ, đó là môn giải thoát của vị này đắc được. Chúng sinh ngu si khởi chư kiến Phiền não tuông trào như lửa thiêu Ðạo Sư phương tiện đều diệt trừ Sở ngộ này của Phổ Quang Tràng. ‘’Chúng sinh ngu si khởi chư kiến‘’. Chư kiến tức là thân kiến, biên kiến, tà kiến .v.v. Tức cũng là tà tri tà kiến. Chúng sinh ngu si thì nhiều, còn chúng sinh thông minh thì ít. Trong một vạn người, khó tìm được một người thông minh. Chúng sinh thông minh có đủ chánh tri chánh kiến, chúng sinh ngu si có đủ tà tri tà kiến. ‘’Phiền não tuông trào như lửa thiêu‘’. Có tà tri tà kiến thì có phiền não. Phiền não giống như nước chảy cuồn cuộn, có thể làm cho nhà xập, cây ngã. Lại giống như lửa lớn thiêu đốt tất cả mọi vật. ‘’Ðạo Sư phương tiện đều diệt trừ‘’. Phật là tiếp dẫn đạo sư, Ngài dùng đủ thứ phương tiện pháp môn, để diệt trừ phiền não tuông trào và lửa lớn. ‘’Sở ngộ này của Phổ Quang Tràng’’. Vị Phổ Tập Quang Tràng Chủ Hỏa Thần, tỏ ngộ cảnh giới này, vào sâu môn giải thoát này. Phước đức như không chẳng bờ bến Muốn tìm bờ mé không thể được Là Phật đại bi sức bất động Quang Chiếu ngộ nhập tâm vui mừng. ‘’Phước đức như không chẳng bờ bến‘’. Phước đức của Phật như hư không, chẳng có bờ bến, chẳng phải tính đếm ví dụ mà biết được. ‘’Muốn tìm bờ mé không thể được‘’. Muốn biết phước đức của Ðức Phật có bao nhiêu ? Không thể biết được, vì như hư không, cho nên không cách chi tính được. ‘’Là Phật đại bi sức bất động‘’. Ðây là sức đại bi tâm tịch nhiên bất động của Phật. ‘’Quang Chiếu ngộ nhập tâm vui mừng.’’ Vị Ðại Quang Biến Chiếu Chủ Hỏa Thần, minh bạch cảnh giới này, trong tâm sinh vui mừng. Tôi quán việc làm của Như Lai Trải qua biển kiếp không bờ mé Như thế thị hiện sức thần thông Chúng Diệu Cung Thần biết rõ được. Tôn giả A Nan khi kết tập kinh điển, thì sợ rằng ý nghĩa của kinh trường hàng có người không hiểu, cho nên dùng kệ tụng lại. Hiện tại đang giảng mười bài kệ, tuy nhiên do Ngài A Nan nói ra, nhưng là ý nghĩa đại biểu của mười vị Chủ Hỏa Thần. Bất quá, Ngài A Nan là người ghi nhớ, mà chẳng phải là người thuyết pháp. Mỗi vị Chủ Hỏa Thần nói ra cảnh giới đắc được của mình, mà vào môn giải thoát đó. Bài kệ thứ nhất vì ở trước đã nói ra tên của vị Thần đó, cho nên câu cuối chẳng có tên, chín bài kệ còn lại đều có tên. Vì nguyên nhân này mà có người cho rằng, mười bài kệ là chỉ một vị Thần nói, đó là sai, không hợp với nghĩa kinh. Bây giờ giảng bốn câu kệ. ‘’Tôi quán việc làm của Như Lai‘’. Tôi quán này là do ai nói ? Là vị Chúng Diệu Cung Ðiện Chủ Hỏa Thần nói, đây là tôn giả A Nan biên kệ thế Ngài nói. Tôi quán sát hạnh môn của Phật tu. Hạnh môn gì ? Ở dưới đây có nói rõ. ‘’Trải qua biển kiếp không bờ mé‘’. Nên đọc, xem lại kinh trường hàng mới minh bạch được đại ý. Trong trường hàng ở trên nói, Chúng Diệu Cung Ðiện Chủ Hỏa Thần, đắc được môn giải thoát, quán sát sức thần thông của Như Lai thị hiện không bờ mé. Như Lai đắc được sức thần thông, tức là hạnh môn của Như Lai tu. Biển kiếp tức là đại kiếp nhiều như biển cả, vô cùng vô tận không bờ mé, số lượng không thể nghĩ bàn, cho nên gọi là biển kiếp. Trải qua biển kiếp thời gian dài như thế. Cứu kính có bao nhiêu đại kiếp ? Không thể biết được, vì không có bờ bến. ‘’Như thế thị hiện sức thần thông‘’. Ở trong thời gian lâu dài này, Phật thị hiện đủ thứ sức thần thong, để giáo hóa tất cả chúng sinh, khiến cho tất cả chúng sinh phát tâm bồ đề. ‘’Chúng Diệu Cung Thần biết rõ được.’’ Từ câu kệ này nhìn lại, chứng minh là kết tập kinh tạng do tôn giả A Nan nói. Trường hàng ở trước, đầu tiên nói tên của vị Chủ Hỏa Thần đó, nói là vị đó nương oai lực của Phật mà nói kệ. Tức nhiên vị đó nương oai lực của Phật mà nói kệ, vậy còn lại chín vị Chủ Hỏa Thần, sao lại không nương oai lực của Phật mà nói kệ ? Các bạn nghĩ thử thì sẽ minh bạch. Ở trước, tôi chẳng giải thích tỉ mỉ, cho rằng các bạn sẽ minh bạch đạo lý này, không ngờ còn có người không minh bạch, mà đi xem chú giải, song chú giải cũng không chắc chắn là đúng. Vì mỗi người có lối nhìn của mỗi người, mỗi người có kiến giải của mỗi người, cho nên bạn có chú giải của bạn, tôi có chú giải của tôi, người khác có chú giải của họ. Chú giải này cũng không nhất định chính xác. Tức nhiên không chính xác, tại sao đem nó liệt vào trong Ðại Tạng Kinh ? Tuy nhiên liệt vào trong Ðại Tạng Kinh, cũng không nhất định hoàn toàn là đúng. Mạnh Tử có nói câu này : ‘’Tận tín thư, bất như vô thư.’’ Nghĩa là: Tin trong sách, tốt hơn đừng có sách. Bạn tin đạo lý nói trong sách, chẳng bằng không có sách còn hơn, sẽ không làm cho người hồ đồ đến thế. Tại sao Mạnh Tử phải nói câu này ? Vì trong kinh sách có hai câu kinh văn như vầy : ‘’Võ Vương phạt Trụ, huyết lưu phiêu sử.’’ Là hình dung Chu Võ Vương chinh phạt vua Trụ, giết người vô số, máu chảy thành sông, còn chày sắt (vũ khí) thì trôi nổi bềnh bồng. Bạn có tin lời nói này chăng ? Cho nên nói tin trong sách tốt hơn đừng có sách. Chu Võ Vương là ông vua có đạo đức, binh lính của ông đều rất nhân nghĩa, ông dùng nhân nghĩa làm thầy, đi đánh ông vua vô đạo đức là thế thiên hành đạo, thay dân phạt tội, cứu dân thoát khỏi biển khổ dầu sôi lửa bỏng, mà giết người khiến cho máu chảy khắp nơi, đến nỗi chày sắt nổi lên. Bạn thử nghĩ xem điều này có đạo lý chăng ? Sẽ phân tích kỹ càng dưới đây, sức nặng cái chày sắt ít nhất cũng vài chục cân, vì thời xưa vũ khí rất nặng, vậy cần bao nhiêu máu huyết mới làm cho chày sắt nổi lên ? Ðạo lý nói ở trong kinh điển là phá chấp. Nếu bạn có sự chấp trước, thì sẽ không đắc được trí huệ chân chánh, do đó mê là chúng sinh, ngộ tức là Phật. Giác ngộ là gì ? Tức là chẳng có sự chấp trước. Cho nên, khi Phật đắc đạo dưới cội bồ đề, thì thốt lên ba lần lành thay. ‘’Lành thay ! Lành thay ! Lành thay ! Tất cả chúng sinh đều có trí huệ đức tướng của Như Lai, nhưng vì vọng tưởng chấp trước mà không chứng đắc.’’ Tại sao chúng ta ngu si ? Vì có chấp trước. Tại sao chẳng có trí huệ ? Vì có chấp trước. Chấp trước danh, chấp trước lợi; chấp trước danh thì chết vì danh, chấp trước lợi thì chết vì lợi, cho nên hai chữ danh lợi là kẻ giết người. Ức kiếp tu hành không nghĩ bàn Muốn tìm bờ mé chẳng biết được Nói pháp thật tướng khiến vui mừng Vô Tận Quang Thần quán thấy được. Bốn câu kệ này, cũng ở trong ký ức của tôn giả A Nan. Khi kết tập kinh điển thì tôn giả nói, vị Vô Tận Quang Kế Chủ Hỏa Thần, đắc được một môn giải thoát. Môn giải thoát gì ? Kệ đã nói rõ ở dưới đây. ‘’ Ức kiếp tu hành không nghĩ bàn‘’. Ngài biết được Phật trong vô lượng kiếp về trước, tu hành các hạnh môn thành công không thể nghĩ bàn, thần thông không thể nói, diệu dụng không thể nghĩ bàn. Nói tóm lại, tất cả tất cả đều không thể nghĩ bàn. ‘’Muốn tìm bờ mé chẳng biết được‘’. Muốn biết bờ mé thần thông diệu dụng, và phước đức trang nghiêm của Phật, thì chẳng cách chi có thể biết được. ‘’Nói pháp thật tướng khiến vui mừng‘’. Phật diễn nói diệu pháp thật tướng, diễn nói diệu pháp thật tướng vô tướng, diễn nói diệu pháp vô tướng vô bất tướng, khiến cho tất cả chúng sinh nghe được pháp âm này, đều hớn hở vui mừng tin nhận phụng hành. ‘’Vô Tận Quang Thần quán thấy được.’’ Vị Vô Tận Quang Kế Chủ Hỏa Thần, quán sát thấy được cảnh giới này, đắc được môn giải thoát này. Khi các bạn nghe kinh, nếu có chỗ nào không hiểu thì biên ra, song hiểu rồi thì phải đốt đi. Tại sao ? Vì khi mê thì xem ngàn quyển cũng cảm thấy ít, khi ngộ rồi thì một chữ cũng cảm thấy nhiều. Như còn có một chữ, tức là còn chướng ngại trong tự tánh. Các bạn nghĩ xem phải làm sao ? Các bạn phải biết những gì đã hiểu, những gì không hiểu ? Khi không hiểu, thì đối với Phật pháp chẳng vào sâu kinh tạng, chẳng có trí huệ như biển, đó tức là lúc nên ghi chép. Khi nào bạn vào sâu kinh tạng, trí huệ như biển, thì kinh tức là bạn, bạn tức là kinh, những gì ghi chép đều nhớ ở trong tự tánh, vĩnh viễn không quên mất, vậy bạn còn lưu lại những gì ghi chép để làm gì ? Cho nên, kêu bạn đốt sạch những gì ghi chép là vì lý do này. Mười phương tất cả chúng rộng lớn Hết thảy chiêm ngưỡng ở trước Phật Quang minh tịch tĩnh chiếu thế gian Diệu Diệm Thần thấu rõ môn này. ‘’Mười phương tất cả chúng rộng lớn‘’. Mười phương tức là: Trên, dưới, đông, tây, nam, bắc, sáu phương và đông nam, tây nam, đông bắc, tây bắc, cộng thành mười phương. Tất cả chúng sinh rộng lớn vô biên ở trong mười phương. ‘’Hết thảy chiêm ngưỡng ở trước Phật‘’. Hết thảy vô biên chúng sinh rộng lớn này, đều hiện ở trước Phật để chiêm ngưỡng Phật. ‘’Quang minh tịch tĩnh chiếu thế gian‘’. Tịch tĩnh là định. Phật ở trong định phóng quang, chiếu soi tất cả hữu tình thế gian. ‘’Diệu Diệm Thần thấu rõ môn này.’’ Cảnh giới này, vị Chủng Chủng Diệm Nhãn Chủ Hỏa Thần thấy rõ, đắc được môn giải thoát này. Mâu Ni xuất hiện các thế gian Ngự trong tất cả các cung điện Mưa khắp vô biên pháp rộng lớn Cảnh giới này của Thập Phương Thần. ‘’Mâu Ni xuất hiện các thế gian‘’. Mâu Ni tức là Phật Thích Ca Mâu Ni. Thích Ca dịch là "năng nhân", Mâu Ni dịch là "tịch mặc", tức là vị Phật này năng nhân tịch mặc, Ngài xuất hiện đến hết thảy tất cả thế gian. ‘’Ngự trong tất cả các cung điện‘’. Phật xuất hiện ra đời, Ngài thị hiện trong dòng dõi vua. Nơi của vua ở đều là cung điện, Phật ra đời cũng ở nơi cung điện, hoặc khi Phật ngồi dưới cội bồ đề, cung điện trang nghiêm bằng bảy báu cũng hiện ra. Phật ngồi trrong cung điện bảy báu, diễn nói diệu pháp Kinh Hoa Nghiêm Ðại Phương Quảng Phật. ‘’Mưa khắp vô biên pháp rộng lớn‘’. Phật ra đời vì chúng sinh diễn nói vô biên pháp môn rộng lớn. Phật nói pháp như ý, giống như rưới mưa cát tường khắp hết thảy, khiến cho tất cả chúng sinh nghe pháp, đều đắc được lợi ích của pháp. Giống như cây lớn (chúng sinh lợi căn), thì thấm nhuần pháp vũ cam lồ nhiều hơn một chút, cây nhỏ (chúng sinh độn căn), thì thấm nhuần pháp vũ cam lồ ít hơn một chút. Pháp vũ là bình đẳng, chẳng qua căn tánh có sự khác biệt mà thôi. ‘’Cảnh giới này của Thập Phương Thần.’’ Tôn giả A Nan nói: ‘’Cảnh giới này, vị Thập Phương Cung Ðiện Như Tu Di Sơn Chủ Hỏa Thần đắc được.’’ Trí huệ chư Phật thâm sâu nhất Nơi pháp tự tại hiện thế gian Ðều xiển minh được lý chân thật Oai Quang ngộ được tâm hớn hở. ‘’Trí huệ chư Phật thâm sâu nhất‘’. Chư Phật có thể nói là mười phương tất cả chư Phật, lại có thể nói là Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Bát nhã trí huệ của Phật thâm sâu nhất, chẳng có ai có trí huệ cao hơn Phật. Phật là đại đạo sư thế gian và xuất thế gian, Ngài có thể khai mở trí huệ của tất cả chúng sinh, khiến cho tất cả chúng sinh trở về nguồn cội, nhận ra bộ mặt thật của chính mình. Phật dùng đủ thứ ví dụ để vì chúng sinh thuyết pháp, khiến cho tất cả chúng sinh đều minh bạch Phật pháp. ‘’Nơi pháp tự tại hiện ra đời‘’. Phật chứng đắc quả giác viên mãn, Ngài thấu rõ pháp thế gian và pháp xuất thế gian, cho nên tự tại nơi các pháp. Sao gọi là tự tại nơi các pháp ? Tức là không cần miễn cưỡng, không cần tạo tác, rất là tự nhiên, rất là tự tại. Phật hiện ra đời, khiến cho tất cả chúng sinh đều khai mở tri kiến của Phật, ngộ vào tri kiến của Phật. ‘’Ðều xiển minh được ý chân thật‘’. Phật giảng pháp thì biểu hiện rõ ràng lý chân thật. Lý chân thật tức là lý không biến đổi, lý này là chân lý xưa nay trước sau đều tôn theo. ‘’Oai Quang ngộ được tâm hớn hở’’. Vị Oai Quang Tự Tại Chủ Hỏa Thần, minh bạch được cảnh giới này, cho nên trong tâm của Ngài hớn hở vui mừng vô cùng. Chư kiến ngu si là ám cái Chúng sinh mê hoặc thường lưu chuyển Phật vì khai xiển diệu pháp môn Sở ngộ này của Chiếu Phương Thần. ‘’Chư kiến ngu si là ám cái‘’. Chư kiến tức cũng là các thứ tà kiến, trước có tà tri, sau có tà kiến, thấy hiểu mà tà thì sẽ ngu si, thấy hiểu mà chánh thì sẽ có trí huệ. Cho nên nói có tà kiến thì có ngu si. Ngu si tức là vô minh, tức là đen tối, tức là cái, cái thì che lấp quang minh trí huệ của chúng sinh, cho nên nói là ám cái. ‘’Chúng sinh mê hoặc thường lưu chuyển‘’. Chúng ta vì có tà tri tà kiến, cho nên từ vô thủy đến nay, chưa thoát khỏi sáu nẻo luân hồi, không dứt sinh tử, do đó chuyển đi chuyển lại ở trong sáu nẻo luân hồi, khi thì ở cõi trời, cõi người, ngạ quỷ, súc sinh, địa ngục, A tu la. Sự vô minh ngu si ám chướng này, chướng ngại bạn không thể vượt khỏi sáu nẻo luân hồi, đó gọi là thường lưu chuyển. ‘’Phật vì khai xiển diệu pháp môn‘’. Phật vì chúng sinh ngu si, mà khai xiển diệu pháp môn diệu nhất không thể nghĩ bàn: Dạy người niệm Phật vãng sinh thế giới Cực Lạc, dạy người trì Chú tức thân thành Phật, dạy người tu đủ thứ hạnh môn, đều liễu sinh thoát tử, vượt khỏi luân hồi. ‘’Sở ngộ này của Chiếu Phương Thần.’’ Cảnh giới này, môn giải thoát này, vị Quang Chiếu Thập Phương Chủ Hỏa Thần ngộ nhập được. Nguyện môn rộng lớn không nghĩ bàn Lực, độ, tu hành đều thanh tịnh Như tâm nguyện xưa đều xuất hiện Môn này Chấn Âm Thần thấy rõ. ‘’Nguyện môn rộng lớn không nghĩ bàn‘’. Có tín môn, nguyện môn, và hạnh môn, đó là ba điều kiện để vãng sinh thế giới Cực Lạc. Bạn muốn thành Phật, muốn liễu sinh tử, muốn tu hành, thì trước hết phải có tín tâm, không những chỉ có tín tâm, mà còn phải có nguyện tâm, phát nguyện sinh tây phương Cực Lạc thế giới, phát nguyện sinh đông phương thế giới Lưu Ly. Cho nên nguyện môn rộng lớn không thể nghĩ bàn. ‘’Lực, độ, tu hành đều thanh tịnh‘’. Lực tức là mười lực, độ tức là mười độ. Mười độ và mười lực Phật đều tu hành viên mãn. Vì viên mãn cho nên đắc được bổn thể thanh tịnh. ‘’Như tâm nguyện xưa đều xuất hiện‘’. Nguyện lực phát ra, những gì tu hành thuở xưa, đời đời kiếp kiếp vô lượng đại kiếp trong quá khứ, đã hoàn toàn thanh tịnh. Bây giờ đều hiển hiện ra, giống như chiếu phim xuất hiện ra từng thứ lớp trên màn ảnh, lại giống như máy thu âm, phát ra từng câu từng câu nghe rất rõ ràng. ‘’Môn này Chấn Âm Thần thấy rõ.’’ Cảnh giới này, vị Lôi Âm Ðiện Quang Chủ Hỏa Thần thấy rõ, vào được môn giải thoát này.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét