THÍCH TÂM TRỌNG

THÍCH TÂM TRỌNG
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT

Thứ Tư, 12 tháng 12, 2012

Cốt Tủy Của Thiền Ba Phương Diện Chính Yếu Của Tâm

Cốt Tủy Của Thiền Ba Phương Diện Chính Yếu Của Tâm Ở Trung Hoa Thiền cũng còn được gọi là Tâm Tông, có nghĩa là Tâm Giáo, hay "giáo lý về Tâm". Chữ này có lẽ là lược ngữ hay nhất để chỉ tất cả những gì Thiền muốn nói, vì những gì Thiền giảng dạy chính là đường lối để giác ngộ viên mãn về Tâm. Ngộ chỉ là một tên khác chỉ sự khai mở viên mãn của cái tâm "nội tại”. Ngoài cõi miền sâu thẳm và mênh mông của Tâm thì chả có gì để ngộ cả. Do đó, mục tiêu duy nhất của Thiền là khiến ta có đủ khả năng để hiểu, thực hiện, và toàn thiện tâm của mình. Tâm là chủ đề và then chốt của việc nghiên cứu Thiền. Phật giáo và tâm lý học hiện đại đều cho ta biết rằng tâm có nhiều “phương diện và giai tầng", một số được lưu ý đặc biệt trong phạm vi tâm lý học, và một số thì được lưu ý đặc biệt trong các phạm vi của triết lý và tôn giáo. Tuy nhiên, Thiền không lưu tâm đến những "phạm vi" dị biệt này, mà chỉ lưu ý đến việc thâm nhập vào Thể, hoặc cái tâm điếm tận cùng của tâm, vì Thiền chủ trương rằng một khi nắm được cái tâm điểm này, tất cả những cái khác hẳn trở nên có phần không hệ trọng, và rõ như ban ngày. Trước khi bàn luận về cái "tâm điểm" này, ta thử xem Phật giáo có gì để nói về các "đường nét" tổng quát của tâm. Theo nhiều học giả Phật giáo cách giản dị và minh bạch nhất để phác họa "cơ cấu của tâm" là mô tả tâm như là có ba phương diện hay giai tầng. Phương diện thứ nhất, hoặc tầng "ngoài", là cái bề mặt thể hiện và hoạt động (Dụng). Phương diện này bao hàm những tác năng tinh thần hoạt động (của cả Tám Thức), cả những chức vụ trí năng lẫn tình cảm, trừu tượng và tượng trưng, như là yêu, ghét, dục vọng, lý trí, tưởng tượng, ký ức, v.v... Đây là cái phương diện hiển nhiên, mà ai cũng đã từng trực tiếp thể nghiệm. Phương diện này vẫn là mục nghiên cứu thiết yếu trong phạm vi tổng quát của tâm lý học, nhưng lại là một chủ đề mà Thiền ít lưu tâm đến. Phương diện thứ nhì, hoặc tầng "trong" của tâm tiếng Trung Hoa gọi là Tướng có nghĩa là "hình thể" hay "bản chất." Thế thì cái bản chất của tâm này là gì? Nói một cách cô đọng bản chất của tâm là tự thức. Tự thức có nghĩa là ý thức được những sự biến hiện của ý thức, hoặc ý thức được các ấn tượng nhận được hay các hình ảnh do ý thức nhận bắt được. Ý thức được sự biến hiện này là một kinh nghiệm tuyệt đối, thuần túy trong đó không có chủ thể "năng tri" hoặc khách thể "sở tri", năng tri và sở tri đã hợp nhất vào một thực thể của "cảm thức thuần túy". Trong cái "cảm thức thuần túy" này không có chỗ cho sự lưỡng phân của nhị nguyên luận. Tự thức thuần túy thì thực sự và thực nghiệm có tính chất bất nhị, như các hiền triết của Phật giáo và các tôn giáo khác đã chứng thực cách đây nhiều thế kỷ . Tự thức (bản chất của tâm) không phải là tác năng của trí thức, mà là chính tri thức trong hình thức chân thật nhất của nó. Khi một người khám phá ra cái tự thức này, hắn thấy cả con người mình thay đổi. Trong khi dấn thân vào một hành động nào đó, hắn cảm thấy như thể mình đang vượt qua chính hành động đó, hắn nói chuyện và đi lại, nhưng hắn cảm thấy cái nói và đi của mình không giống như trước, bây giờ hắn đi với một tâm thức mở rộng. Hắn thực sự biết rằng chính là hắn đang làm cái công việc đi; kẻ chỉ đạo - chính hắn - đang ngồi ngay giữa tâm hắn kiểm soát tất cả hành động hắn một cách tự nhiên. Hắn đi trong ý thức sáng sủa và với tâm linh chiếu diệu. Nói cách khác, kẻ đã thực hiện tự thức cảm thấy rằng mình không còn là tên đầy tớ ngoan ngoãn của xung lực mù quáng, mà là chủ của chính mình. Lúc ấy hắn cảm thấy rằng những người bình thường, mê mờ không biết đến cái ý thức chiếu diệu, bẩm sinh của họ, bước trên đường như những xác ma biết đi! Nếu cái tự thức này có thể được duy trì và tôi luyện, người ta hẳn thể nghiệm được cái phương diện sáng tỏ của tâm mà nhiều nhà thần bi gọi là Tịnh Thức. Khi cái ý thức chiếu diệu này được tôi luyện tới mức độ viên mãn nhất của nó, ta thấy rõ ràng cả vũ trụ nằm trong vòng bao trùm của nó. Nhiều nhà thần bi và tu sĩ Phật giáo đã lầm lạc coi trạng thái này là trạng thái cao nhất - trạng thái Niết bàn, hoặc trạng thái hợp nhất tối hậu với cái Ý Thức Đại Đồng hay "Vũ Trụ" vĩ đại. Nhưng, theo Thiền, trạng thái này vẫn còn ở trên bờ Luân hồi. Những đạo sĩ đã đạt đến trạng thái này vẫn còn bị trói buộc bởi cái tư tưởng nhất nguyên đã bắt rễ sâu xa, không đủ khả năng để cắt đứt sợi dây chấp trước vi tế trói buộc và tự giải thoát mình qua "bờ bên kia" của tự do hoàn toàn. Do đó, tự thức, hoặc cái hình thức đã tôi luyện của nó - cái ý thức chiếu diệu- là một manh mối của tất cả những thực hiện nội tâm, bản chất và đặc tính của nó vẫn là "chấp trước". Ngộ của Phật giáo không đạt được bằng cách bám lấy hay bành trướng tự-thức của mình. Trái lại, Ngộ đạt được nhờ giết chết hay tiêu diệt bất cứ một sự chấp trước nào vào cái ý thức chiếu diệu này; chỉ bằng cách vượt qua nó mà họa may ta mới đạt đến được cái tâm điểm tận cùng nhất của Tâm - cái Không hoàn toàn tự do, hoàn toàn vô tướng sáng tỏ. Cái tính Không chiếu diệu này, trống rỗng nhưng năng động, là Thể của Tâm. Điểm quan trọng ở đây là khi ta đề cập đến chữ "Thể", người ta lập tức liên tưởng đến một cái gì cụ thể có thể chất, và khi ta đề cập đến chữ "Không", họ tự động có hình ảnh về một "hư vô" chết cứng và tĩnh nọa. Cả hai khái niệm này đều không đúng với ý nghĩa của chữ Trung Hoa “Thể” và chữ Sanskrit “Sunyatà” (Không), và để lộ sự giới hạn của cái lối suy tưởng hữu hạn và một chiều của con người. Lối suy tưởng thông thường là phải chấp nhận cái ý niệm rằng một sự thể hoặc hữu hoặc phi hữu, chứ không bao giờ rằng nó vừa hữu và phi hữu đồng thời. A là A hay không là A, chứ không bao giờ nó vừa là A vừa không là A đồng thời. Cũng vậy, cái phán quyết của thường thức về Không đối lại với hữu là: "Không không phải là hữu, mà hữu cũng chẳng phải là Không." Cái mẫu suy luận, được coi là lối suy tưởng chính xác và hợp lý này, được các luận lý gia bênh vực là sine qua non (tất yếu) và được thường thức chấp nhận cho tất cả các mục tiêu thật tiễn. Nhưng Phật giáo không tuân theo cái sine qua non này một cách bất di dịch, nhất là khi nó đối trị với chân lý của sunyata. Phật giáo nói: "Sắc không khác với Không, Không không khác với Sắc, Sắc là Không, Không là Sắc." Phật giáo cũng nói rằng nhờ Không mà vạn vật mới hiện hữu được, và chính bởi vì cái sự kiện rằng vạn vật hiện hữu, chúng phải là Không. Phật giáo nhấn mạnh rằng Không và hữu bổ túc nhau chứ không tương phản nhau, chúng có phần hàm chứa và bao trùm nhau, hơn là thải trừ và phủ nhận nhau. Khi những sinh linh thông thường thấy một đối tượng, họ chỉ thấy cái phương diện hữu, chứ không thấy cái phương diện không của nó. Nhưng một kẻ giác ngộ thấy cả hai phương diện đồng thời. Sự vô phân biệt hay "hợp nhất" này như một số người thích gọi vậy, giữa Không và hữu, là cái gọi là Giáo Lý Trung Đạo Vô Tự Tính của Phật Giáo Đại Thừa. Do đó, Không, hiểu theo Phật giáo, không phải là một cái gì phủ nhận, nó cũng không có nghĩa là khuyết tịch hay tuyệt diệt. Không chỉ là một chữ để biểu thị cái bản tính vô tự tính và vô ngã của các pháp, và một kim chỉ thị tình trạng vô trước và tự do tuyệt đối. Không dễ gì giải thích được Không. Không thể định nghĩa hay mô tả nó được . Như Thiền Sư Hoài Nhượng đã nói, "Tôi có nói gì đi nữa cũng trật." “Không” không thể mô tả và biểu thị bằng ngôn ngữ được. Như thế là bởi vì ngôn ngữ của loài người vốn được đặt ra để gọi tên các sự thể và những cảm giác hiện hữu; dùng nó để biểu thị những sự thể và những cảm giác phi hữu thì không thích hợp. Toan bàn luận về Tính Không trong những giới hạn của một thứ ngôn ngữ bị hạn hẹp trong khuôn mẫu của hữu thì vừa vô ích vừa lầm lạc. Chính vì thế mà những Thiền Sư la hét, đá, và đánh. Vì họ còn biết làm cách nào khác hơn nữa để phô diễn trực tiếp cái Tính Không bất khả tư nghị này mà không được viện đến ngôn ngữ? Giáo lý Phật giáo về Tính Không thì quảng bác và thâm trầm, đòi hỏi nhiều nghiên cứu trước khi hiểu được nó. Sự nghiên cứu này là bước đầu căn bản để hiểu Thiền. Trở lại đề tài nguyên bản của chúng ta, Thể, hay cái tâm điểm nội tại nhất của tâm, trước tiên chúng ta phải cố định nghĩa nó một cách tinh xác. Thể của tâm là cái Không Như Chiếu Diệu. Một Thiền gia đã ngộ không những chỉ biết cái phương diện chiếu diệu của ý thức mà, quan trọng hơn hết còn biết cả cái phương diện không của tâm. Chiếu diệu mà còn chấp trước bị Thiền khinh thị là "nước chết", còn chiếu diệu mà không chấp trước, hoặc cái Tính Không Chiếu Diệu thì được ca tụng là "đời sống vĩ đại". Bài kệ mà Thần Tú viết để bày tỏ kiến thức về Thiền của mình lên với Ngũ Tổ chứng tỏ ngài chỉ biết cái phương diện chiếu diệu, chứ không biết cái phương diện không của tâm. Khi cái "tâm như đài gương sáng" của ngài đứng đối lại với "xưa nay không một vật !" của Huệ Năng, nó trở nên vô vị một cách thảm hại đến nỗi nó làm ngài thua trong cuộc đua tranh chức "Lục Tổ của Thiền". Câu "Xưa nay không một vật !" của Huệ Năng biểu thị hiển nhiên cái Thể của Tâm cũng như cái cốt tủy thâm sâu nhất của Thiền. Chính nhờ cái kiến thức sâu xa này mà Huệ Năng được chức Lục Tổ. Có hai câu chuyện rất thú vị nói lên ý nghĩa sự thực hiện cái tính không của tâm mình. A. Một hôm một thiên thần, bay trở về cõi Trời thấy bên dưới một khu rừng xanh tốt phủ đầy hào quang rực rỡ. Đã từng du hành trên trời biết bao nhiêu lần trước đây, dĩ nhiên thiên thần đã thấy vô số suối, núi, và rừng, nhưng chẳng bao giờ để ý đến chúng lắm. Tuy nhiên, hôm nay, ngài nhận thấy một cái gì khác biệt - một khu rừng bao bọc bởi một hào quang rực rỡ, từ đó những tia sáng chiếu rọi khắp bầu trời. Thiên thần tự suy luận với mình: "À hẳn phải có một bậc giác ngộ trong khu rừng này! Mình thử xuống coi xem ai vậy." Xuống đến, thiên thần thấy một vị Bồ Tát ngồi thiền định lặng lẽ dưới một gốc cây. Ngài tự nghĩ, "Giờ ta thử khám phá ra xem ông ta đang tu loại thiền gì vậy." Và ngài mở thiên nhãn của mình để xem vị đại sĩ kia đã định tâm mình vào đối tượng gì hay ý tưởng gì. Thường thì các thiên thần có thể thông được tâm của những đạo sĩ, nhưng trong trường hợp này, vị thiên thần quá đỗi ngạc nhiên, vì ngài chả thấy được gì cả. Ngài đi nhiều vòng quanh vị đạo sĩ mãi, và cuối cùng ngài cũng nhập định, nhưng vẫn không thấy được gì trong tâm của vị Bồ Tát. Cuối cùng, vị thiên thần biến thành một người, đi nhiễu quanh vị đạo sĩ ba vòng, quì lạy, và nói: "Xin cúi lạy Đấng Từ Bi; Tôi xin đảnh lễ lên ngài, Hỡi Chúa Tể của các sinh linh vô thường! Xin ngài xuất định, Và cho tôi biết ngài đang quán tưởng gì. Đã vận dụng tất cả thần thông, Tôi vẫn không khám phá ra được Cái gì ở trong tâm ngài." Vị đạo sĩ mỉm cười. Thiên thần lại kêu lên. "Xin cúi lạy ngài, xin đảnh lễ lên ngài. Ngài đang quán tưởng gì vậy?" Vị đạo sĩ chỉ tiếp tục mỉm cười và vẫn im lặng. B. Sư Huệ Trung, là Quốc sư của vua Túc Tông đời nhà Đường, được hoàng đế cũng như các Thiền gia ở Trung Hoa rất kính trọng. Một hôm một nhà sư Tây Thiên (Ấn Độ) danh tiếng tên "Đại Nhĩ Tam Tạng" đến kinh đô. Nhà sư này nổi tiếng là có tha tâm thông. Tiếng đồn đến tai vua, nhà sư Ấn được triệu đến triều đình để phô bày thần thông trước Quốc Sư Huệ Trung. Quốc Sư đến, Tam Tạng vái chào rồi đứng bên phải. Quốc Sư hỏi, "Ông có tha tâm thông phải không ?" Đáp, "Không dám" Quốc Sư nói, "Ông thử nói xem tâm lão tăng bây giờ ở đâu ?" Đáp, "Hòa Thượng là một bậc Quốc Sư, chả lẽ ngài lại đến bờ sông Tây Xuyên để xem đua thuyền ?" Quốc Sư lại hỏi, "Ông thử nói xem bây giờ lại ở chỗ nào rồi?" Đáp, "Trên cầu Thiên Tân xem vượn giở trò." Quốc Sư lại hỏi, "Thế ông thử nói bây giờ ở đâu xem?" Tam Tạng lúng túng. Quốc Sư hét, "Con cáo đồng này, tha tâm thông đâu rồi." (Đường Túc Tông chiếu Nam Dương Huệ Trung Quốc Sư, thí nghiệm Tây Thiên Đại Nhĩ Tam Tạng tha tâm thông. Sư đáo, Tam Tạng tác lễ lập hữu biên. Sư vấn viết, nhữ đắc tha tâm thông da. Viết, bất cảm. Sư viết, nhữ đạo lão tăng chỉ kim tại hà xứ. Viết, hoà thượng thị nhất quốc chi sư, khước khứ Tây Xuyên khán cánh độ. Hựu vấn, nhữ đạo chỉ kim hựu tại hà xứ. Viết, Thiên Tân kiều thượng khán lộng hồ tôn. Hựu vấn, nhữ đạo chỉ kim niết. Tam Tạng võng nhiên. Sư sất viết, giả dã hồ tinh, tha tâm thông tại hà xứ). Trước khi kết thúc cuộc bàn luận về "ba phương diện của tâm" này, tôi phải làm sáng tỏ một điểm. Không được hiểu sự phân chia tâm làm "ba phương diện" hay "tầng lớp" một cách quá từ chương, bởi vì, thật ra; không có những "phương diện" hay "tầng lớp" như vậy. Tâm là một Toàn Thể vĩ đại, không có những thành phần hay phân bộ. Các đặc tính thể hiện, chiếu diệu, và vô tướng của Tâm hiện hữu đồng thời và thường hằng - bất khả phân ly trong cái toàn thể tính của chúng. Chỉ vì muốn cho độc giả lý hội vấn đề rõ rệt hơn mà ba "phương diện" này được đề ra. (Trích từ sách “Thiền Đạo Tu Tập’, tác giả Chang Chen-Chi, dịch giả Như Hạnh, Kinh Thi xuất bản ngày 22 tháng 4 năm 1972 tại Sài Gòn).
Cụ già tu mướn Giác Ngộ - Thiền sư Bạch Ẩn ở Nhật Bản có một tục gia đệ tử. Người này thường đến than thở rằng cha của y dù tuổi đã cao, vẫn cứ mải mê làm việc kiếm tiền chứ chẳng chịu tu niệm gì cả. Mỗi lần y nhắc nhở thì ông cụ quả quyết: "Nếu chuyện tu hành mà té tiền té bạc thì hãy nói với ta, bằng không thì đừng hòng!". Hôm nọ, nghe xong nỗi băn khoăn của người đệ tử, Thiền sư Bạch Ẩn bảo: "Chiều nay con về bảo với cha con rằng: Hòa thượng Bạch Ẩn bận bịu công việc quá đỗi nên không thể tu hành như ý muốn được. Ngài nhờ con tìm một người tu mướn. Cứ mười chuỗi niệm Phật là một quan tiền. Cần chọn người tuổi cao như cha. Người làm mướn có thể lãnh tiền mỗi ngày hoặc hàng tuần cũng được". Người đệ tử y lời về thưa với cha mình. Nhận thấy rằng đây là một công việc làm ăn té tiền té bạc hẳn hoi, ông lão sốt sắng nhận lời. Thêm vào đó, ngoài mười xâu chuỗi niệm Phật ăn tiền, ông còn hoan hỷ khuyến mãi biếu không cho Hòa thượng hai xâu nữa. Giao kèo đã ký kết, ông cụ cứ đến chùa lãnh tiền hàng ngày. Về sau để khỏi mất thời giờ, cụ để dồn hàng tuần mới lãnh. Bẵng đi một thời gian không thấy cụ đến lãnh tiền. Người con theo lời dạy của Hòa thượng, cứ để cha già làm theo ý muốn. Ngoài ba bữa ăn, ông cụ ngồi ngay ngắn trước điện Phật… mà làm mướn. Cho đến một hôm, thấy cha mình cơ hồ đã ngưng lần chuỗi, mắt khép nhẹ, hơi thở điều hòa, nhẹ nhàng. Người con liền đến báo tin Hòa thượng hay. Thiền sư Bạch Ẩn đến tận nơi quan sát. Thấy cụ già có dáng người có hơi nghiêng, do tuổi tác chất chồng, nhưng mặt mũi hồng hào. Gương mặt ông phảng phất một niềm bình thản khinh an. Ngài nói khẽ với người con như một hơi gió thoảng: "Cha con đã nhập định". Thiền sư Bạch Ẩn đã dạy thiền cho ông cụ bằng cách ấy. (Theo Truyện cổ Phật giáo Nhật Bản) Bài học đạo lý́: Có một người cha đã đọc câu chuyện "Cụ già tu mướn" và thấy rằng đây là một câu chuyện rất hay! Thiền sư Bạch Ẩn (Hakuin Ekaku, 1685-1768) đã rất giỏi khi dùng phương tiện để đạt cứu cánh. Và người cha kia đã học theo cách này để dạy một cậu con trai mới vào lớp một, vì cậu ta không được chăm chỉ cho lắm, có thể nói là ham chơi nhiều hơn học. Người cha đã nói với con nếu có được một điểm 10, ông sẽ thưởng cho cậu một ngàn đồng. Nghe vậy cậu ta khoái quá, hăng say học quên cả chơi, ngày nào tối thiểu cậu ta cũng có được một hoặc hai điểm 10. Sau một học kỳ, cậu ta rất vui mừng vì đã biết đọc. Cậu hí hửng đem con heo đất đầy tiền thưởng tặng bố và nói một câu ngắn gọn: "Con không lấy tiền của bố nữa đâu!". Thế mới biết, để dẫn dắt một người mê quay về con đường tỉnh thức là rất khó, nhưng không phải không làm được. Điều quan trọng là phải có những bậc thầy giỏi như Thiền sư Bạch Ẩn. Thiền sư là người có trí tuệ, biết ông cụ đang say sưa mê mải kiếm tiền, chưa thích thú việc tu. Vì chưa tu học, cho nên ông cụ chưa biết những lợi lạc của việc tĩnh tâm tu niệm. Thiền sư đã nghĩ ra cách thuê tiền để cho ông cụ "tu mướn", vì ông đang thích tiền. Sau một thời gian "tu mướn" không lâu, ông cụ đã chuyển sang tu thật vì cảm nhận được nhiều điều lợi ích. Hiện nay, không ít những gia đình có các thành viên rất siêng năng tu học, nhưng những người khác lại chỉ lo kiếm tiền, không quan tâm đến chuyện tu tâm, dưỡng tánh. Tất nhiên, việc kiếm tiền phục vụ cho đời sống là quan trọng nhưng cũng không được xao lãng việc tu, nếu không ta sẽ rơi vào con đường bất thiện. Điều trăn trở của vị đệ tử trong câu chuyện trên cũng là niềm trăn trở chung cho rất nhiều người Phật tử. May sao còn có những ngôi chùa và không thiếu những vị thầy giỏi để có thể giúp cho chúng ta hóa giải những bài toán khó mà mỗi gia đình đang gặp phải như gia đình của vị đệ tử trong câu chuyện "Cụ già tu mướn" kia.
Cư Sĩ Phật Giáo Hàng ngũ phật tử thường được chia là phật tử tại gia và phật tử xuất gia. Các phật tử tại gia thường được gọi là cư sĩ. Trong lịch sử đạo Phật có ghi lại chuyện một số các vị cư sĩ nổi tiếng, tuy các vị ấy không xuất gia nhưng về phương diện tu hành, thấu hiểu đạo lý thì không thua kém gì các vị đã xuất gia. Có nhiều vị cư sĩ nổi tiếng nhưng bài này chỉ xin nhắc đến ông Duy Ma Cật, bà hoàng hậu Thắng Man, cư sĩ Huệ Năng lúc chưa xuất gia và sau đó đến gia đình ông Bàng Uẩn. Duy Ma Cật Người nổi tiếng nhất là cư sĩ Duy Ma Cật, cũng có khi được gọi là Tịnh Danh, một vị trưởng giả, cùng thời với đức Phật Thích Ca, được ghi lại trong kinh Duy Ma Cật. Kinh này kể: vì nhân thấy cư sĩ Duy Ma Cật có bệnh, đức Phật chỉ định một số các đại đệ tử như Xá Lợi Phất, Mửc Kiền Liên, Ðại Ca Diếp, Tu Bồ Ðề, Phú Lâu Na ... cùng một số các vị Bồ Tát như Bồ Tát Di Lặc, Ðồng Tử Quang Nghiêm, Bồ Tát Trì Thế ... đi thăm cư sĩ, nhưng mỗi vị đều lần lượt từ chối, vì trước đó, mỗi vị đều đã có dịp gặp cư sĩ, và trong khi đối đáp các vị thấy cư sĩ Duy Ma Cật đã đạt tới trình độ giác ngộ cao hơn mình nhiều vì đã chỉ rạ cho từng người những sự thiếu sót trên con đường tu tập. Sau khi các vị nói trên đã từ chối thì sau cùng có Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi, người thường được coi như tượng trưng cho trí căn bản, trí vô phân biệt, bậc thượng thủ đại trí trong hàng Bồ Tát, mới dám nhận trách nhiệm đi thăm cư sĩ Duy Ma Cật. Phần chính của kinh là phần đối thoại giữa hai vị đó. Những câu đối đáp rất là thâm cao và cho chúng ta hiểu ý chính của kinh là khi nào Tâm tịnh thì độ tịnh. Kinh cũng còn chỉ rạ là đâu cũng là đạo tràng, ở đâu cũng tu được, dù là ở nhà, chợ, ngay trong những hoàn cảnh đối nghịch, không thuận tiện, cho nên những phật tử tại gia cũng vẫn có nhiệm vử tu tập, và vẫn có thể đắc đạo quả. Phu nhân Thắng Man Ngoài kinh Duy Ma Cật mà số đông chúng ta biết đến, còn có kinh Thắng Man cũng nói về sự thâm hiểu pháp môn của một cư sĩ, và đặc biệt là một nữ cư sĩ. Ðó là phu nhân Thắng Man, con gái của vua Ba Tư Nặc, sống cùng thời với đức Phật. Kinh kể rằng sau khi bà trình bầy với đức Phật về những sự hiểu biết của bà về thâm lý của Phật pháp thì được đức Phật ngợi khen là "ngươi đối với Phật pháp thâm sâu". Ý chính của kinh là giảng về Như Lai Tạng, nhưng nhờ đó cũng biểu hiện được tinh thần của Ðại Thừa về sự bình đẳng trong việc hành đạo chứng đắc giữa xuất gia và tại gia, giữa nam và nữ. Cư sĩ Thiền Tông Sau đây là chuyện về các cư sĩ của Thiền tông. Nhưng trước khi nói về các vị đó thì cũng nên nói rạ về Thiền tông vì danh từ Thiền thường được dùng để chỉ rất nhiều đường lối tu tập khác nhau nên đã đem lại nhiều sự hiểu lầm. Ngoại đạo cũng có nhiều môn Thiền, và ngay trong đạo Phật cũng có những môn Thiền khác nhau. Chữ Thiền trong bài này chỉ nói về môn Thiền Tông, là môn Thiền được truyền từ đức Phật xuống các Tổ Sư, theo một đường lối tu tập riêng biệt, khác hẳn những môn Thiền của Nguyên Thủy (Tiểu Thừa), tu theo nhân vô ngã, và Ðại Thừa, coi ngã, pháp đều không. Theo nhiều tác phẩm thì Thiền Tông còn có nhiều tên khác như: Như Lai Tối Thượng Thiền, Như Lai Thanh Tịnh Thiền, Chân Như Tam Muội, Ðạt Ma Thiền, Tổ Sư Thiền ... Nói vắn tắt thì Thiền Tông bao gồm trong hai câu : "Trực chỉ nhân tâm, Kiến tánh thành Phật", tức là chỉ thẳng tâm người, thấy tánh thành Phật. Cư sĩ Huệ Năng Trước hết nên nhắc về chuyện một cư sĩ Thiền Tông đặc biệt, vì vị đó tuy sau này có xuất gia nhưng khi còn là cư sĩ vị ấy đã đắc đạo và được truyền ngôi Tổ Sư Thiền. Ðó là chuyện Lục Tổ Huệ Năng (638-713) (tên Trung Hoa: Hui Neng, tên Nhật: Eno). Khi ngài đến xin làm đệ tử với Ngũ Tổ Hoàng Nhẫn thì được giao cho nhiệm vụ là bổ củi, giã gạo. Suốt hơn 8 tháng trời tại chùa, chưa được thọ giới nên ngài chỉ làm có công việc đó, không được bước chân tới nhà trên, tức nơi các tăng tu tập. Hơn năm trăm tăng tại chùa chẳng ai để ý tới người cư sĩ ốm yếu siêng năng giã gạo. Riêng Ngũ Tổ sau mấy câu đối đáp khi Huệ Năng tới xin làm đệ tử đã sớm biết người cư sĩ đó đã có những tri kiến khác thường. Sau đó vì có ý định kiếm người để truyền y pháp cho làm Tổ thứ sáu nên ngài yêu cầu đệ tử nếu người nào thấy mình đã hiểu đạo thì làm bài kệ trình lên để ngài xét trình độ. Trên năm trăm tăng tại chùa chỉ có thầy giảng pháp là Thượng Tọa Thần Tú mới dám trình bài kệ, mà trình một cách kín đáo (coi Kinh Pháp Bảo Ðàn). Sau đó thì Huệ Năng cũng trình một bài kệ 4 câu. Ngũ Tổ đọc bài kệ đó thấy ngay là người cư sĩ đó hơn ông giáo thọ rất nhiều nên đã hẹn riêng gặp và đem kinh Kim Cang ra giảng. Khi thấy Huệ Năng đã đại ngộ, Ngũ Tổ mới nói rằng : "Chẳng biết bổn tâm, học pháp vô ích, nếu biết được bổn tâm mình, thấy được bổn tánh mình, tức gọi Trượng Phu, là thầy của Trời, Người, là Phật " và truyền y bát và trao cho nhiệm vụ làm vị Tổ thứ sáu của Thiền Tông tại Trung Hoa. Sau khi nhận y bát và sống ẩn danh được 15 năm, Huệ Năng gặp ngài Ấn Tông tại chùa Pháp Tánh. Sau cuộc đối thoại, ngài Ấn Tông đã kính phục và xuống tóc cho Huệ Năng và tôn thờ Huệ Năng làm thầy. Tới lúc đó cư sĩ Huệ Năng mới chính thức thọ giới cụ túc. Trong lịch sử Thiền Tông thì Tổ Huệ Năng giữ một vai trò tối quan trọng vì đã đặt ra một nền móng vững chắc cho Thiền Tông. Ðiểm đáng lưu ý là khi còn là cư sĩ mà Huệ Năng đã ngộ và được chấp nhận làm tổ, cho nên chúng ta thấy rằng việc ngộ đạo hay không, không nhất thiết phải là có xuất gia rồi mới ngộ đạo được. Ngoài ra còn nhiều các cư sĩ Thiền khác nổi tiếng, nhưng trong bài này xin ngưng nơi đây và nói về cư sĩ Bàng Uẩn. Cư sĩ Bàng Uẩn Tiểu sử : Ông Bàng Uẩn (tên Trung Hoa là P'ang Yun, theo cuốn A Man of Zen, của R.F. Sasaki, Y. Iriya và D.R. Fraser) người huyện Hành Dương, Trung Hoa, tự là Ðạo Huyền (Tao-hsuan) sinh khoảng năm 740 và chết năm 808. Ông sống tại Hành Dương với vợ và hai con: một trai tên Kenh-huo, một gái tên Linh Chiếu (Ling-Chao). Tất cả gia đình tu theo Thiền Tông, và đều được coi như đã ngộ đạo hết. Sau khi đốn ngộ, ông về nhà lấy thuyền chở của cải đem đổ xuống sông, căn nhà thì cúng dường để xây chùa. ông cất một thất nhỏ để tu ở. Cô Linh Chiếu thường theo hầu hạ, chuyên việc chẻ tre bện sáo bán để nuôi cha. Người con trai thì lo việc trồng trọt để nuôi mẹ. Ông Bàng Uẩn thường đi nhiều nơi để tham vấn các vị thiền sư nổi danh thời đó. Theo Thiền Tông thì việc đi tham vấn là phương pháp cần thiết để học hỏi và trao đổi những kinh nghiệm tu tập, các thầy còn khuyến khích trò của mình phải đi tham vấn, chứ không có ngăn cản. Ông Bàng Uẩn đã gặp nhiều Thiền Sư nổi tiếng như Thạch Ðầu, Mã Tổ, Ðơn Hà và đều được các vị ấy coi như ông đã chứng đắc. Khi gặp Thạch Ðầu, Ông được coi như đã giải ngộ, nhưng sau đó được gặp Mã Tổ thì ông mới thiệt triệt ngộ và ở lại với Mã Tổ hơn một năm. ông có làm chừng ba trăm bài thơ về đạo và được truyền tửng rộng rãi. Ông có dịp gặp vị quan châu Vu Công (Tr. Hoa: Yu Ti) và vị này nhờ ông mà được ngộ đạo nên theo học ông cho đến khi ông chết. Nhờ vậy ông Vu Công đã ghi chép những mẩu chuyện, những bài thơ và viết cuốn "Bàng Uẩn ngữ lục" mà đã được dịch thành cuốn " A Man of Zen - The Recorded Sayings of Layman P'ang". Sau đây là vài mẩu chuyện về cuộc đời của ông: Ông có làm bài kệ: "Có trai không cưới - Có gái không gả - Cả nhà chung hội họp - Ðồng bàn lời vô sanh." " Một hôm ngồi trong am, ông chợt nói: Khó khó, mười tạ đầu mè trên cây vuốt. Bà Uẩn đáp: Dễ dễ trên đầu trăm cỏ, ý Tổ sư. Cô Linh Chiếu tiếp: Cũng chẳng khó, cũng chẳng dễ, đói đến thì ăn, mệt ngủ khò. " "Ông ngồi hỏi Linh Chiếu: "Cổ nhân nói: "Sáng sáng đầu trăm cỏ, sáng sáng ý Tổ sư là sao?" Linh Chiếu thưa: "Lớn lớn già già thốt ra lời ấy." Ông hỏi: "Con thế nào? " "Sáng sáng đầu trăm cỏ, sáng sáng ý Tổ sư" ông bèn cười." Ông có làm bài kệ: "Tâm như, cảnh cũng như - Không thật, cũng không hư - Có cũng chẳng quản - Không cũng chẳng cư - Chẳng phải hiền, thánh - Xong việc phàm phu - Dễ lại dễ - Tức năm uẩn này có chân trí - Thế giới mười phương đồng một thừa - Pháp thân không tướng nào có nhị - Nếu bỏ phiền não vào Bồ Ðề - Chẳng biết nơi nào có Phật địa ? " Câu chuyện về cái chết của ông rất là đặc biệt và được truyền tụng trong nhiều tài liệu về sau. " Sắp tịch, ông bảo Linh Chiếu ra xem mặt trời đúng ngọ vô cho ông hay. Linh Chiếu ra xem vào thưa : "Mặt trời đã đúng ngọ, mà có nhật thực.". Ông ra cửa xem. Linh Chiếu lên tòa của ông, ngồi kiết già chấp tay thị tịch. Ông vào xem thấy cười, nói :" Con gái ta lanh lợi quá !". ông bèn chậm lại bẩy ngày sau mới tịch. Tin ông tịch đưa về nhà cho bà hay. Bà nói :" Con gái ngu si, ông già vô tri, không báo tin mà đi, sao đành vậy ?". Bà ra báo tin cho con trai đang làm ngoài đồng. Bà nói: "Long Công với Linh Chiếu đi rồi con !". Người con trai đang bừa ruộng đáp: " Dạ !". Rồi lặng thinh giây lâu bèn đứng mà tịch. Bà nói :" Thằng này sao ngu si lắm vậy!". Lo thiêu con song, bà đi từ biệt thân thuộc rồi biệt tích. " (Trung Hoa Chư Thiền Ðức Hành Trạng, tập 1) Câu chuyện này đối với các vị Thiền sư thì không có gì lạ lắm, vì trong các chuyện về đời các Thiền sư thường kể các vị đó khi sắp tịch đều biết trước và khi ra đi rất là tự tại, thường đều sửa sọan trước, tới khi ra đi đều ngồi kiết già, căn dặn các đệ tử xong xuôi mới tịch. Nhưng ở đây có đặc biệt là chẳng những riêng ông Bàng Uẩn, mà con gái và con trai cũng ra đi một cách rất an nhiên tự tại. Thái độ bình tĩnh của bà cũng đặc biệt không kém vậy. Cả một gia đình mà đồng ngộ đạo như vậy thì là một chuyện thật hiếm có. Người sau này nói ông đúng là một Duy Ma Cật. Tu hành : Ông Bàng Uẩn đã đi tham vấn nhiều vị thiền sư , nhưng trong đó có hai vị nổi tiếng nhất là Thạch Ðầu Hy Thiên (Tr. H: Shih-T'ou Hsi-ch'ien, Nhật: Sekito Kisen) và Mã Tổ Ðạo Nhất (Tr.H.: Ma-Tsu Tao-i, Nhật: Baso Doitsu). Hai vị đó nổi tiếng nhất thời đó và đều là đệ tử đời thứ hai của Lục Tổ Huệ Năng. Sau đây là phần ghi về những cuộc đối thoại : " Ông đến yết kiến Hòa Thượng Thạch Ðầu, hỏi :" Chẳng cùng muôn pháp làm bạn là người gì?" Thạch Ðầu lấy tay bụm miệng ông. ông bỗng nhiên tỉnh ngộ. Một hôm Thạch Ðầu hỏi :" Từ ngày ông thấy lão tăng đến nay, hàng ngày ông làm việc gì?". Ông thưa :" Nếu hỏi việc làm hàng ngày tức không có chỗ mở miệng". Ông liền trình bài kệ : Hàng ngày không việc khác Chỉ tôi tự biết hay Vật vật chẳng bỏ, lấy Chỗ chỗ nào trái bày Ðỏ tía gì làm hiệu Núi gò bặt trần ai Thần thông cùng diệu dụng Gánh nước, bổ củi tài. Thạch Ðầu hứa khả, bảo :" Ông làm cư sĩ hay làm xuất gia ?". Ông thưa :" Xin cho con theo sở nguyện, không cạo tóc xuất gia." (Trích trong "Trung Hoa Chư Thiền Ðức Hành Trạng, tập 1") Câu hỏi :" Chẳng cùng muôn pháp làm bạn là người gì ?" có ý nghĩa rất thâm sâu trong Thiền tông. Pháp đây chỉ về mọi sự vật, vật chất cùng tâm linh trong thế gian. Những phàm nhân như chúng ta, chưa phải là thánh, thì luôn ham làm bạn với muôn pháp, rất thân thiết và không lúc nào rời các pháp. Chúng ta làm thân với các pháp đến nỗi kinh điển gọi đó là "nhận giặc làm con". Chúng ta chấp đủ thứ, cảnh đến là chúng ta nhận và khởi niệm phân biệt, suy nghĩ, tính toán. Những niệm đó, do cảnh ở ngoài gây ra, tạo nên cái "tâm" mà mỗi chúng ta coi là điều quan trọng nhất trong cuộc đời. Phương pháp chính yếu của Thiền Tông là "đối cảnh không sanh tâm", cảnh đến ta không làm bạn, không chấp thì khi đó tâm sẽ không còn bị loạn động, điên đảo nữa. Ðây cũng là điểm mà nhiều người hay hiểu lầm về phương pháp tu của Thiền Tông. Phần đông chúng ta, khi nói tới thiền, là chỉ nghĩ tới việc ngồi xếp chân, nhắm mắt để cố không nghĩ đến gì hết. Dĩ nhiên là một khi giữ cho tâm mình không còn nghĩ ngợi bung lung nữa, bằng cách tập trung tư tưởng, dù là tập trung tư tưởng vào việc không nghĩ gì, thì cũng có điều tốt. Nhưng nếu cho rằng như vậy là thành công trong việc tu tập thì quả là một sự hiểu lầm. Thiền Tông cũng có cho rằng tọa thiền là cần thiết, trong bước đầu ai cũng phải qua giai đoạn đó, nhưng nếu cho rằng như vậy là cứu cánh thì không đúng. Tu thiền là trong bốn oai nghi (đi, đứng, nằm, ngồi) lúc nào cũng phải rõ vọng tâm và thấy được bản tánh của mình. Trong Kinh Pháp Bảo Ðàn, Lục Tổ Huệ Năng dậy rằng :"Ðạo do tâm mà ngộ, đâu phải do tọa." Thiền Tông, với phương pháp "chỉ thẳng tánh người" (trực chỉ nhân tâm) muốn chúng ta phải tự tìm hiểu cái tâm đó một cách rõ ràng. Câu chuyện về tổ Huệ Khả (Tr.H. Hui-k'o, Nhật: Eka), tức vị tổ Trung Hoa thứ hai, cho thấy phương pháp độc đáo của Thiền Tông. "Một hôm Huệ Khả tới bạch với tổ Ðạt Ma :"Bạch Hòa thượng, tâm con chẳng an, xin Hòa thượng dạy con "pháp an tâm". Tổ Ðạt Ma nhìn thẳng bảo: "Ðem tâm ra ta an cho". Sau một thời gian tìm tâm mà không thấy bóng dáng liền bạch Tổ: "Con tìm tâm không được". Tổ bảo " Ta đã an tâm cho ngươi rồi". Ngay đó Huệ Khả ngộ. " Câu chuyện đó nghe qua thật là giản dị, nhưng đã chỉ rõ pháp tu rất quan trọng trong việc tu của Thiền Tông. Thiền Tông đòi hỏi mỗi chúng ta phải tự lực, sống với kinh nghiệm riêng của chính mình và tìm hiểu cái "tâm" là gì. Nếu chúng ta, thay vì lúc nào cũng hướng ngoại, chạy theo danh và tướng, bây giờ quay vào trong tìm hiểu tâm mình, và thấy được cái tâm lăng xăng, duyên theo cảnh, biến đổi từng phút, từng giây, mà Thiền Tông gọi là "vọng tâm". Lục Tổ Huệ Năng có nói rạ pháp môn của Tổ gồm có: Vô niệm, Vô tướng và Vô trử. Lửc tổ chỉ rạ Vô niệm là "Trong các niệm tưởng của mình, tâm thường lìa cảnh, chẳng vì đối cảnh mà sinh tâm". Như vậy khi ông Bàng Uẩn biết : " không làm bạn với muôn pháp ", tức là biết giữ cho tâm lìa được cảnh, không còn chấp, chạy theo cảnh, thì khi đối cảnh, cái vọng tâm chẳng thể sinh. Câu hỏi đó chứng tỏ ông đã thấu hiểu phương pháp an tâm của Thiền Tông, nhưng ông muốn biết rạ là tới đó rồi thì đạt được gì, nên hỏi người đó là "người gì ". Hòa thượng Thạch Ðầu lấy tay bửm miệng ông, và ngay đó ông ngộ. Trong bài kệ nói trên, ông trình bày rõ ràng những điều ông đã hiểu và đã thực hành. Câu "vạn vật chẳng bỏ, lấy" tức là ông chẳng còn thấy có gì để thủ, để xả. Bước đầu của đường tu, như chúng ta thường biết, là phải bỏ cái này, lấy cái kia như bỏ điều ác và làm điều thiện, bỏ vọng theo chân, bỏ tà theo chính ... Ðó là giai đoạn còn dùng phương pháp đối trị, dùng cái hay để trị cái dở, nhưng tới trình độ cao hơn, lại bỏ luôn thiện, bỏ luôn chân ... Thí dụ như khi còn thấy mình sống với các điều thiện, chân, tịnh ... và coi như mình đã đắc đạo, thấy những người khác là vọng, uế, thì vẫn là còn chấp hai bên, vẫn còn có cái phân biệt, tâm vẫn còn khởi niệm, vọng tâm vẫn còn đó. Ông Bàng Uẩn biết "không cùng muôn pháp làm bạn" là ngoài không chấp cảnh, trong thì "vạn vật chẳng bỏ lấy" là trong không còn chấp cái vọng tâm, tỏ ra ông xứng đáng được Thạch Ðầu ấn chứng. Nhưng theo Thiền Tông, tới mức cao hơn nữa tức là sau khi thấy mình không còn có trí phân biệt nữa, thì phải bỏ luôn cả cái trí biết mình không phân biệt đối đãi ấy, và người này mới thật là người "không tu, không chứng" mà đức Phật nói tới trong kinh "Bốn Mươi Hai Chương" (chương 11): " Cúng một trăm triệu đức Phật, không bằng cúng một vị không niệm, không trụ, không tu, không chứng" . Chúng ta nên suy nghĩ về tại sao đức Phật lại nói một người "không tu, không chứng" lại xứng đáng được cúng hơn cả một trăm triệu đức Phật. Riêng về hai câu chót rất là đặc biệt và được truyền tụng rất nhiều : "Thần thông cùng diệu dụng Gánh nước, bổ củi tài." Hai câu đó nói rõ được sự độc đáo của Thiền Tông. Phần đông hiểu rất sai lầm về việc tu hành của Thiền Tông. Nếu ta tu Thiền và khi gặp một người nào thì câu hỏi đầu tiên của họ gần như chắc chắn là : "Tu có thấy được gì chưa ?". Quan niệm chung là tu Thiền phải có thần thông, hoặc khả năng đặc biệt nào đó. Những người tu mà bị đưa vào con đường tà đạo là tại ham thấy những phép lạ, như thấy hào quang sáng rực, thấy gặp vị nọ, vị kia, biết được những tiền kiếp hoặc tương lai của mình hay của người, biết được ý nghĩ của người khác, điều khiển được hơi thở, tim, biết bay, đi trên mặt nước ... Nếu chúng ta tin rằng những người đắc đạo là phải có những thần thông như vậy tức là không hiểu rõ đạo Phật. Ngoại đạo, nhất là tà đạo, với những phương pháp tu tập đặc biệt họ cũng có thể thực hành được những thần thông đó. Chính vì biết những ưa thích đó của số đông nên ngoại đạo, tà đạo và những người lợi dụng danh nghĩa đạo Phật đã thành công trong việc dụ dỗ những người ham có những thần thông, phép lạ. Người hiểu rạ giáo lý đạo Phật không bao giờ bị dẫn dắt lạc đường vì biết rõ rằng những thần thông, phép lạ đó không có ích lợi gì cho việc tu hành cả. Ðức Phật thường nghiêm cấm các đệ tử, dù khi tu hành mà có được những thần thông nào đó thì cũng không được đem ra trình diễn hoặc phải từ bỏ đi, vì nếu đem những điều đó để khuyến dũ người ta theo, tin đạo Phật là một việc trái đạo. Ðạo Phật là đạo giác ngộ, giải thoát chứ không phải giải trí. Ngoài ra Thiền Tông quan niệm thần thông một cách rõ ràng và hợp với tôn chỉ của đạo Phật. Tổ Lâm Tế chỉ rằng bất cứ lúc nào đối sắc, thanh, hương, vị, xúc và pháp mà không bị dính mắc vào những thứ đó thì đó là lục thông. Người đã "không làm bạn với muôn pháp" chính là người đã không còn bị những vọng niệm lôi cuốn và như vậy mới thấy được bản thể như như, không động, của mình. Người đó mới thực là an nhiên, tự tại trong mọi hành động. ông Bàng Uẩn đã nắm vững và hiểu rõ đường lối của Thiền Tông nên ông nói thần thông của ông là "gánh nước, bổ củi tài". Chắc đọc tới đây nhiều người sẽ thắc mắc: nếu tu Thiền chỉ là để gánh nước, bổ củi tài thì ai chẳng làm được, cần gì phải tu cho mất công, tu là phải có được những thần thông, biến hóa hoặc ít ra phải có vài phép lạ để làm cho thiên hạ thán phục. Câu nói của ông Bàng Uẩn không phải là một câu hài hước hoặc khiêm tốn, mà là một câu chứng tỏ ông đã thấy đúng tôn chỉ của Thiền Tông vậy. Thiền Tông nổi bật chính vì đã đi sát với đời sống thường ngày, thực tiễn, không phải là cái gì huyền bí, xa vời. Chân lý của sự vật lúc nào cũng hiện ngay trước mắt chúng ta chứ không phải ở nơi xa xăm. Sau buổi đối thoại đó, hòa thượng Thạch Ðầu ấn chứng ông Bàng Uẩn đã ngộ đạo và hỏi ông có ý định xuất gia không, nhưng ông từ chối vì chỉ muốn sống một cuộc đời cư sĩ. Sau đó là câu chuyện việc ông theo học với Mã Tổ: " ông đến tham vấn Mã Tổ, hỏi :" Chẳng cùng muôn pháp làm bạn là người gì ?". Mã Tổ bảo :" Ðợi miệng ông hút hết nước sông Giang Tây, ta sẽ nói với ông". Ngay câu nói này, ông ngộ được huyền chỉ. Ông dừng ở chỗ Mã Tổ hai năm. " (Trích trong "Trung Hoa Chư Thiền Ðức Hành Trạng, tập 1") Ngay khi ngộ từ câu nói của Mã Tổ ông trình liền bài kệ: " Mười phương đồng tử hội Mỗi mỗi học vô vi Ðây là nơi tuyển Phật "Tâm không" thi đậu về " (Trích trong "Ðại Huệ Ngữ Lục") Tới gặp Mã Tổ, ông lại hỏi lại câu mà ông đã hỏi Thạch Ðầu, nhưng lần này thay vì bị bụm miệng thì ông được trả lời. Tuy vậy đối với chúng ta, câu trả lời cũng không chỉ rõ gì hơn vì cũng khó hiểu như trước. Nhưng đối với ông thì câu trả lời đó rất quý báu vì đã giúp ông hoàn toàn ngộ đạo. Nếu muốn thấy được ý nghĩa của cuộc đối thoại đó, chúng ta nên tìm hiểu Mã Tổ hơn là suy nghĩ về câu nói đó. Sau này câu trả lời đó được dùng làm câu thoại đầu (cũng còn gọi là công án) cho nên không phải là câu để tìm hiểu. Mã Tổ là một vị tổ giữ vai trò rất quan trọng trong lịch sử Thiền Tông, vì các đệ tử đời sau của ngài đã tạo nên những môn phái nổi tiếng. Sau đời Mã Tổ Ðạo Nhất là các vị : Bá Trượng Hoài Hải (724-814), Hoàng Bá Hy Vận (?-850) và sau đó là vị tổ nổi tiếng Lâm Tế Nghĩa Huyền (?-867), vị đã lập ra dòng Lâm Tế mà cho tới nay vẫn còn tiếp tửc tại Trung Hoa, Nhật Bản và Việt Nam. Ngài truyền đạo tại Giang Tây, và người thời đó coi Giang Tây như trường thi Phật nên ông Bàng Uẩn nói :"Ðây là nơi tuyển Phật". Ðệ tử của ngài rất đông và có tới 84 người ngộ đạo, một con số hiếm có. Câu giảng dậy nổi tiếng của Mã Tổ là "Tức Tâm Tức Phật", ngài đã giảng như sau "Phàm người cầu pháp nên không có chỗ cầu, ngoài tâm không có Phật, ngoài Phật không có tâm, không lấy thiện chẳng bỏ ác, hai bên nhơ sạch đều không nương cậy". Chúng ta thường chỉ thấy cái tâm duyên theo bóng dáng sáu trần, theo kinh điển gọi là "vọng tâm", chỉ khi nào chúng ta hiểu rõ cái vọng tâm đó thì mới thoát khỏi vòng sanh tử luân hồi. Mã Tổ dạy rằng "Vọng tưởng đã trừ tức là vô sanh. Pháp tánh sẵn có, có chẳng nhờ tu". Chúng ta cần hiểu rằng mỗi người đều có sẵn Chân Tâm, chứ không phải vì tu tập đắc đạo rồi mới có. Mã Tổ muốn chỉ cho chúng ta thấy Tâm đó tức là Phật, nếu đi tìm Phật ở ngoài Tâm đó là làm một điều vô ích mà các thiền sư nói là "mang Phật đi tìm Phật". Mã Tổ còn dậy "Tâm bình thường là Ðạo. Sao gọi là tâm bình thường ? - Không tạo tác, không phải trái, không thủ xả, không đoạn thường, không phàm thánh". Những bài kệ ghi trên của ông Bàng Uẩn cho thấy ông đã tu hành y theo đường lối của Mã Tổ và xứng đáng làm đệ tử đã ngộ của Mã Tổ vậy. Câu kết của bài kệ là "Tâm không, thi đậu về". Sau khi đạt Tâm Không, ông đã thi đậu ở trường tuyển Phật và trở về. Phải chăng tâm không là tâm trống rỗng, chẳng có gì hết, trơ như gỗ, đá. Như vậy phải chăng là trái ngược với lời dậy của Mã Tổ "Tâm bình thường là Ðạo", thì làm sao mà thi đậu ? Nhưng cần hiểu là Tâm Không có nghĩa tâm không còn những vọng tưởng, tới đó mới đúng nghĩa bình thường. Biết được "tâm không" cũng còn có nghĩa là thấy cái bản thể của vọng tâm vốn nó là không, cho nên tổ Huệ Khả đã nói với tổ Ðạt Ma "Con tìm tâm không được". Qua câu chuyện kể trên chúng ta thấy quả ông Bàng Uẩn đã chứng ngộ trọn vẹn. ông đã đi tham vấn rất nhiều thiền sư, những cuộc đối thoại với gần hai mươi vị, cùng rất nhiều bài thơ, đều có được dịch ra Anh văn trong cuốn "A Man of Zen", mà rất tiếc chưa được dịch từ Hán văn ra Việt văn. Tấm gương sáng của cư sĩ Bàng Uẩn nhắc nhở chúng ta là dù ở trường hợp tại gia, vì không hoặc chưa có phương tiện để xuất gia, chúng ta không nên nghĩ là sống với gia đình, phải làm ăn sinh sống thì đâu có thể tu hành gì được, thỉnh thoảng đến chùa cúng lễ, ráng tu một chút lấy phước đức là đủ rồi. Chúng ta cho rằng việc tu hành là việc của các tăng, mình đâu có phần mà tính tới. Những kinh điển Ðại Thừa đã chỉ rõ là ý kiến đó không đúng. Riêng về Thiền Tông thì lại còn đánh đổ quan niệm đó một cách mạnh hơn nữa. Trong cuốn "Sáu cửa vào động Thiếu Thất" tổ Bồ Ðề Ðạt Ma nói thẳng :" Nếu thấy tâm mình là Phật thì không cần cắt tóc cạo râu (xuất gia), hàng áo trắng (cư sĩ) vẫn là Phật. Nếu không thấy tánh, cắt tóc cạo râu, vẫn là ngoại đạo". Nếu có đủ điều kiện thì việc xuất gia vẫn là hơn, nhưng còn tại gia thì không phải là không thể tu hành được. Tài liệu trích dẫn : - A Man of Zen, the recorded sayings of layman P'ang, do Ruth Fuller Sasaki, Yoshitaka Iriya và Dana R. Fraser dịch từ Hán văn. - Kinh Duy Ma Cật. - Kinh Thắng Man, Nhất thừa đại phương tiện. - Kinh Pháp Bảo Ðàn. - Trung Hoa chư Thiền đức hành trạng, tập 1 của TS Thích Thanh Từ. - Sáu cửa vào động Thiếu Thất của tổ Bồ đề Ðạt ma, do Trúc Thiên dịch. - Ðại Huệ ngữ lửc do TS Thích duy Lực dịch. Xin đính kèm phụ bản gồm vài bài thơ của ông Bàng Uẩn, bằng tiếng Anh, trích từ cuốn A Man of Zen để quý vị có thêm tài liệu. Rất mong vị nào có khả năng sẽ dịch thẳng những bài thơ của ông Bàng Uẩn từ Hán văn, thay vì dịch lại bản Anh văn có thể sẽ không diễn tả hết ý được. Phụ bản
CƯ SĨ Chúng tôi du tăng khất thực, sống với lẽ chung của tất cả chúng sanh, theo chơn lý võ trụ, không phân chia chủng tộc, màu da, phái môn, giai cấp, bần phú, sang hèn, cỏ cây, thú, người, Tăng, Phật. Mục đích của chánh đẳng chánh giác, quyết đến nẻo giải thoát hoàn toàn, không vì nhỏ hẹp mà đem mình vào sự trói buộc phiền não. Vậy nên theo giới luật Phật xưa, nhà tăng không ở một chỗ thâu nhận tín đồ bổn đạo riêng, mà phải vân du khắp nơi cùng xứ, vừa học với tất cả mọi người, vừa đem sự học của mình giúp ích cho ai nấy trao đổi lẫn nhau, để cho sự học nhờ kinh nghiệm trong chỗ hành, mà chóng được đầy đủ toàn giác. Vả chăng cõi đời trường học, có đủ nhiều lớp, từ thấp đến cao để dắt người, từ ác, đến thiện, đến huệ, đến giải thoát , đến Niết bàn, mà giáo pháp khất sĩ lại là mức cao viễn cuối cùng tối thượng! Người được đây là đã phải trãi qua bao lớp học của các tông giáo cư sĩ; thế là các phái môn đàng nào cũng hữu ích cả. Bởi Giáo hội Tăng già Khất sĩ tu Giới Định Huệ, không có sự học nương văn tự của bước đầu. Khất sĩ là pháp tu hành sau sự tập học của cư sĩ, chỉ là một lớp riêng rất ít của chúng sanh. Thế nên chư Tăng không bỏ những ai muốn theo, nếu có thể giữ giới luật được, mặc dầu cư sĩ nào muốn bước vào, và không bao giờ thâu nhận số đông lớp yếu nhỏ. Trường đạo đức võ trụ, chúng sanh là học trò chung, các lớp chung, càng nhiều rộng, càng quý ích, để dắt người từ bực, bước lên đến mục đích chung, là sáng suốt hiền lương, và khỏi khổ. Giải thoát từng lớp để tiến đến sự giải thoát hoàn toàn, mà thiết tưởng mỗi người, chắc không ai có ý gì muốn trói buộc, để làm trễ nãi cuộc tiến hóa chung. Ấy thế, khất sĩ là một lớp trong nhiều lớp, không phải hiệp, không phải chia. Chư tăng quen sống với lẽ chung bình đẳng, học cho mình, dạy cho người tránh khổ cho tất cả, mong cầu sự giải thoát, rảnh rang, yên tịnh, dứt nghiệp xa hẳn vật chất của tiền, không biết đến việc ngoài chi cả. Cho nên về tứ sự: sự ăn, sự mặc, chỗ ở, khi bệnh nếu cư gia sẳn lòng hộ pháp làm duyên, thì quý ngài có thể hộ cho thực phẩm đơn sơ chay lạc, đạm bạc, cốc liều tranh lá, chăn áo vải bô, thuốc men thường thức... Dể không đến nỗi phải vướng tiếng; nhiễm ô vật chất, tham đắm bạc tiền, biếng nhác lánh đời, ăn hại xã hội, hoặc đạo chỉ mong cầu danh lợi, đó thôi. Về trật tự mà quý Ngài sắp dùm được sự thanh tịnh cho Tăng, thì các tăng sư sẽ thường tới lui, nhắc nhở cho quý Ngài, và được chỗ nghĩ đêm trong khi mưa bịnh, giữa cõi đời ly loạn, thì chúng tăng rất xin đa tạ, cầu chúc quý Ngài, mau nhẹ nghiệp, vượt lên bờ giác, nương theo chúng tăng để hiệp hòa chung sống nơi nhàn cảnh. Xin nán đợi các Ngài! ĐOÀN DU TĂNG KHẤT SĨ TẠI TỊNH XÁ MỠ CỬA TỪ 7 GIỜ SÁNG TỚI 5 GIỜ CHIỀU Ngoài giờ thuyết pháp có sự việc. Ni lưu có đến, nghĩ chân nơi nhà ngoài. Thiện nam có đến , nghĩ chân nơi nhà ngoài. Tín nữ có đến , nghĩ chân nơi nhà ngoài. Xin phải giữ sự trang nghiêm thanh tịnh, trẻ em đến hãy theo chỗ riêng nam nữ, phải có mặc áo quần, chớ phá giỡn la luôn tuồng. Cốc riêng của Tăng xin chớ ai vào, chớ ai ngồi chung với Tăng một tấm chiếu, chớ đưa lấy đồ trao tay, nhưng phải có sự chứng minh. Xin chớ cười cợt nói nhiễu, nói lớn tiếng. Xin đừng sai khiến, ra lệnh, bảo rầy. Ni cô nếu vào tịnh xá tăng . Phải đi từ 4 người sắp lên, tín nữ phải đi từ hai người sắp lên, chớ ở quá hai giờ đồng hồ, xin chớ nói hỏi nhau, cùng đừng nhắn đưa thơ từ giấy từ, tin ngoài gì cho Tăng cả... ! Thiện nam nương theo Tăng, tín nữ nương theo ni. PHẬN SỰ CỦA Phật 1) Trong buổi mai Ngài ngự đi trì bình khất thực, trưa độ cơm. 2) Trong buổi chiều Ngài thuyết Pháp. 3) Trong buổi hoàn hôn Ngài giáo hóa chư Tăng. 4) Trong canh khuya Ngài đáp lời vấn của chư thiên. 5) Trong canh 5 Ngài xem xét đến chúng sanh và nhân duyên PHÉP CƯ SĨ TAM TỤ (GOM HIỆP SỐNG CHUNG) 1) Dứt các điều ác. 2) Làm các điều lành 3) Từ bi tế độ tấ cả chúng sanh LỤC HÒA (YÊN VUI HÒA NHÃ) 1) Thân cùng nhau hòa hiệp ở chung 2) Miệng không tranh đua cãi lẫy. 3) Ý ưa nhau không trái nghịch. 4) Giới luật đồng cùng nhau tu theo. 5) Kiến thức riêng chỉ giải cho nhau. 6) Lợi quyền chia đồng với nhau 1) NHƠN LOẠI: Nhơn ái, nhơn từ, nhơn đức, lòng nhơn là đức từ ái, có chơn chánh mới có nhơn, nhơn là hột giống (loài người có được hột giống biết, giác Phật) Nhơn đạo là không sát sanh người, thú (cây cỏ). Nhơn người là biết có người, người, là một nấc thang thiện, cao hơn cõi ác thú sình lầy; kêu gọi là giới BẤT SÁT bước đầu. Nói hẹp là thân sống với một gia đình, giáo lý trăm năm, nương theo vật chất sắc thân. (Nhơn đạo cũng là trung đạo, niết bàn). Người là cõi dâm giới. 2) CHƯ THIÊN: Là trí thanh thiện có học đạo lý, trí sống với xã hội một xứ, giáo lý ngàn năm, nương theo tinh thần, là nấc thang trên nhơn loại, có ba cõi. a) Dục giới: Còn ưa muốn (của sáu thức) Bậc trì giữ năm giới: 1) Không sát sanh 2) Không trộm cắp 3)Không tà dâm. 4)Không nói dối 5)Không uống rượu Mỗi tháng ăn chay sáu ngày, về theo tam bảo Phật Pháp Tăng (hết dâm, còn dục ở trong nhà, gọi dục giới) b) Sắc giới: Còn chấp có sự thiện, có các pháp (của 18 giới) Bậc trì giữ 5 giới kể trên... cộng thêm. 6)Không ngồi ghế cao, nằm giường rộng, chiếu lớn xinh đẹp. 7) Không nghe xem hát múa đờn kèn, chỗ vui đông yến tiệc. 8) Không trang điểm phấn son dầu hoa, áo quần hàng lụa tươi tốt. Trường chay về theo tam bảo Phật Pháp Tăng (hết dâm, hết dục, ở chùa am, nam theo xứ nam, nữ theo xứ nữ) c) Vô sắc giới: Vấp không không, không cái đó, không phân biệt, không biên lường, bỏ nhớ tưởng, bậc trì giữ mười giới: Tám giới kể trên... cộng thêm. 9) không ăn sái giờ, từ quá ngọ đến ngọ mai, ăn chay. 10) Không rớ đến tiền bạc vàng, của quý, đồ trang sức. Về theo tam bảo Phật Pháp Tăng. Cất cốc ở riêng một mình trong núi, chỗ vắng, động, hang (hết dâm, hết dục, hết sắc) 3) DÂNG XỨ Phật: Hộ pháp chư thiên, cận sự nam, cận sự nũ, là người cư sĩ, gần tam bảo, tập xuất gia: a) Người giữ 5 giới, mỗi lần tới chỉ 2 tiếng đồng hồ nghĩ chân nơi nhà ngoài. b) Người giữ tám giới được ở từ sáng đến chiều, nơi nhà ngoài. c) Người giữ 10 giới được ở luôn ngày đêm nơi nhà ngoài. Người không có giới mặc áo quần đen. Người 1 giới mặc áo trắng quần đen. Người 5 giới thì mặc áo quần trắng. Người tám giới áo đà quần trắng. Người 10 giới mặc áo quần đà. Áo trung bình: Bề dài xương sống 1 mét, kích 0,7 mét, ống tay 0,85 mét, ống tay 0,2 mét, cổ, lai, bâu, đinh, nếu người nam thì 0,03 mét, nữ thì 0,02 mét. Đây là áo trung đạo bình đẳng không giai cấp, cùng là áo đạo của cả cư gia. TĂNG GIỮ 250 GIỚI, NI GIỮ 348 GIỚI ĐẮP Y VÀNG MANG BÁT NHÀ SƯ Những người vào cận sự tam bảo tập xuất gia, có ba bậc. A) Người mới nhập đạo còn tới lui cõi thế kêu là nhập lưu. b) Người mới nhập đạo còn tới lui cõi thế một lần, kêu là nhứt vãng lai. c) Người không tới lui cõi thế nữa, kêu là bất lai. Bậc xuất gia thọ giới rồi kêu là vô sanh. Bậc giác ngộ nhân duyên rồi đi du hành một hai người, kêu là duyên giác. Bậc đi giáo hóa chúng sanh thâu đệ tử rất đông, kêu là Bồ Tát. Bậc hư trí nghĩ ngơi kêu là Như Lai. Đó làm 7 đạo, bậc nào đắc trí huệ và quả linh thì gọi là đắc quả ( có 7 quả trong 7 đạo). Gồm he61tla2 một Niết Bàn, chót hết, nín nghĩ hoàn toàn là sự kết quả của đạo lý gọi chư Phật. Phật là tâm lành sống với cả chúng sanh một thế giới, giáo lý muôm năm. Vậy nên cư sĩ đừng tham danh lợi tình thương, mà phải khổ, chết, điên, cuồng vô ích. a) Người không giới ở theo xứ không giới. Người một giới ở theo xứ một giới Người năm giới ở theo xứ năm giới Người tám giới ở theo xứ tám giới Người mười giới ở theo xứ mười giới Người 250 giới ở theo xứ 250 giới (là tăng chúng) Như vậy hạnh phúc sẽ toại lòng, do giới luật mà được yên vui, yên vui nhiều ít là do giới luật, hiền theo hiền, dữ theo dữ tự mình. Chớ đừng quyến luyến tình nghĩa, tham tiết lợi, mong cầu danh, mà ở chung lộn xộn thiện ác một gia đình, tu không tu, một xã hội mà phải khổ với nhau, phải quấy trắng đen, hai nẽo, không ai vừa ý ai thì không thể hòa, không hòa là không đạo, không yên vui chung sống! (Trong đời nếu không có giới luật hoặc giới luật khác nhau thì nào phải là vua quan cha con chồng vợ xã hội gia đình, mà tức là giặc nghịch chính mình cũng làm giặc lấy mình nữa) LỜI KHUYÊN CƯ SĨ Đã là cư sĩ thì cần phải hiểu biết mục đích của mình, chúng sanh là từ cái không biết đến có biết, và biết hoàn toàn (hay toàn giác là Phật), chưa biết đến biết và đã biết (là nghĩ ngơi). Từ tối đến sáng và yên lặng. Chúng sanh là học trò vô minh dốt nát đến cư sĩ tại gia, Tăng khất sĩ xuất gia, và đến vô thượng sĩ là Phật. Nghĩa là: Học ở nhà, đi du học, và học đầy đủ. Của cải, sắc thân, quyến thuộc, cuộc đời, thảy bỏ hết, mà chỉ còn tồn tại cái giác biết, của sự học là hết mê lầm, thì mới không còn sự khổ. Vậy nên đời là trường học chung, càng nhiều lớp phái môn càng tốt, chớ chê bai chỉ trích lẫn nhau, bởi không phải tất cả đều học chung một lớp được. Chúng sanh đủ cỡ tánh hóa không đồng mà một người học, chín người phá, lại chín người học một người hại, vậy phải làm sao cho mười người đều mắc phải có sự học, có hiểu chơn lý mới biết thương yêu nhau. Nên trường phải nhiều lớp, mỗi lớp phải nhiều ngăn, lớp trên thương lớp dưới, lớp dưới mến kính lớp trên để sống chung, chung học. Ai thi đậu thì vui, ai học học giỏi thì yên, trước dùng văn tự mở trí, để đi sâu vào chân lý nhiệm mầu, hãy chất chứa gia tài là Pháp bảo. Tạo tâm chơn là sự sống, giới hạnh làm chỗ ở, từ bi làm làm quyến thuộc, mà cùng nhau dứt bỏ sự chơi bời. Như cõi đời hôm nay, giờ chơi đã hết rồi, bây giờ phải chăm chỉ học hành. Trường học thế giới đã mở cửa là chiến tranh. Học sanh xưa nay bỏ học quên tu lu bù lem lấm, bỏ đạo theo đời, rối khổ mệt nhọc. Nay là lúc phải bỏ ham chơi, đi tìm học, đặng tìm hạnh phúc sự sống trở lại yên vui. Trong trường học , học trò phải vượt qua đủ các lo81p từ tháp đến cao, mà giáo phái, tông môn nào cũng là của mình tất cả, hoặc đến rồi, hoặc chưa đến, chớ không phải ở ngoài một lớp Học một bài giữ mặt đất, loài người, mà hại kẻ khác, để sống hoài một tuổi, ở một nơi đặng chặt đứt sự tiến hóa của mình và ai nấy. Bởi vì giáo lý chủ nghĩa nào cũng phải cả, mà chỉ phải do nhơn duyên trình độ, hoàn cảnh của mỗi người thôi. Không ai có thể theo ai được, thì cãi mà làm gì? Và cũng không ai có quyền gì áp chế ai được. Biết đâu sao nầy mình phản lại lý thuyết của mình mà theo kẻ khác, bởi sự học đã đi tới, hoặc ý đã bị say theo cảnh ngộ thời duyên, rồi chừng đó ta lại còn nói ai được nữa! Chúng ta đều biết mục đích của sự sanh ra sự học, thì nào có ai đã học đủ, mà mong đến ngôi vị chủ tể tổ thầy? Mà ai đã dạy được bậc tài giỏi hơn mình, vậy thì lấy gì trị phục người, mà trị phục để làm gì? Dâu phải là sự đánh đập chém giết, vả lại sự sống của ai nấy cũng như nhau. Còn như mình nào đã học giỏi hơn hết thảy, vì càng học càng dốt kia mà? Hơn thì chớ chắc hơn, kém thì nên gọi kém, vậy mỗi ai nấy lo tu học, chẳng là hay hơn hết, dòm ngó nhau mà làm gì? Chúng ta nên ráng lo học, để cho được sáng suốt hiền lương và khỏi khổ. Chớ nói liều: Không học là hay. Bằng chẳng có thầy thì hãy theo bạn, để cho có người dạy dỗ mỗi ngày. Hoặc chọn người giám đốc , đức cao trí sáng, nhờ sự sắp đặt chỉ bảo mới nên ( bởi d8ức quý hơn tài và được bền dài mãi mãi) Ráng lo học hành, vui chung, chung sống, dứt bỏ đều càng, tập gìn giới hạnh, để tạo một phong hóa trang nghiêm, sắp đặt chương trình kỷ luật, phân biệt cho xa khác với trẻ em, tạo nên thiên đường, Phật quốc trên mặt đất, cùng nhau chung góp trí lành để thành đạo tràng , cho mai hậu ấy mới là người đáng sống của đời nầy. Mỗi người phải biết chữ. Mỗi người phải thuộc giới. Mỗi người phải tránh ác. Mỗi người phải học đạo. Trò nào quay về thầy nấy, lo ăn và học, chớ ở lang thang bởi chen lộn sợ sệt mới phải phiền não cùng nhau. Giáo nào về lớp nấy, môn nào về bàn nấy để hiệp hòa chung sống; da nào nồi cơm nấy, áo nào tô canh nấy, mới mong tránh khỏi sự phiền hà. Đến bao giờ chúng sanh trí lớn, học cao, mới mong được sự không ai kia khác. Nếu bằng ta ai muốn dạy người thì tốt hơn là để tự người tìm rước thỉnh cầu. Đã là chúng sanh, thì ai cũng là chữ sĩ học trò; vậy chúng ta tự hỏi: Môn học nào mới bổ ích? Một khi đã xét kỹ và lựa chọn xin chúng ta siêng năng học tập, bỏ qua sự ăn chay lêu lõng, thì mới mong được sự đắc quả thành công. Vậy nên xin khuyên người cư sĩ tinh cần giữ giới, định tâm lo học, chớ day qua ngó lại phí mất thì giờ, xao động lớp học, có lỗi không nên. Thánh kia mà còn chẳng nói tin ý của mình thay huống chi là chúng ta, mà đi chê kẻ khác, vậy nên nhớ rằng; Thiện mới là phải hơn ác thôi, tranh cãi bao giờ cũng sái trật! (Dĩ hòa vi quí). PHÉP ĐỊNH TÂM CƯ SĨ Muốn ĐỊNH thì phải chánh. Muốn CHÁNH thì phải thiện. Muốn THIỆN thì phải phân biệt ác để dứt trừ. Không ác thì khỏi quả báo hành phạt khổ sở. Muốn ĐỊNH thì phải trong sạch không không thanh tịnh. Muốn TỊNH thì phải có sự vui. Muốn VUI thì phải có sự mừng. Muốn MỪNG thì phải có sự tầm tõi quán xét. Có TẦM SÁT thấu hiểu chơn lý lẽ đạo, mới có sự mừng. Hết mừng mới đến vui. Hết nui mới đến tịnh sạch. có tịnh sạch mới có định! Kẻ thiện mà định không được thì khổ. Khổ trí không định thì điên. Có định mới dứt khổ, vì khổ mới cần định! Cho nên gọi định là đạo Niết bàn, để kết quả chơn như, sau khi giác ngộ. Chơn như sau vọng động, định sau khi loạn, giác sau khi mê. Lìa đoạn đến định là do nhờ chánh kiến của tầm sát. Được tầm sát là nhờ thiện ngăn ác, tức là giới luật, giới nhiều định nhiều, giới ít định ít. Loạn là thất bại hư hoại, giả dối, bên ngoài, không không chẳng được có gì ích lợi, cái có cái ta chơn thật! Cũng ví von như con sâu đeo ngoài vỏ trái, bị nắng mưa sương gió, nhọc sức trơn trợt leo trèo quẩn lộn. Định ví như vào tận trong hột trái, ở trong tổ ấm để ngủ nghỉ ăn no, nên kêu là nhập định. Người ta hằng ví rằng: Giới luật là vỏ trái cây, trí huệ là thịt cơm định là hột, chơn như ấy ngòi mộng, tức là Phật. Thế nghĩa là giới định huệ nuôi chơn như, là sự giác ngộ ẩm kính trong cõi trần. Có tầm sát, hỷ, tịnh, mới có định. Muốn tầm sát thì phải thiện. Người thiện không bị rồi khổ, mới có thì thong thả, mà tìm xét sự giải thoát cuộc đời, để bước đến cõi lý trí thanh nhàn khoái lạc. Chẳng phải là sự học giỏi thông minh mà thành công. Người ta dầu học bực nào, nhưng nếu ác, thì oan trái nặng nề, bắt buộc phá hại, đốc xúi kéo lôi, dễ gì tự chủ mà hòng làm nên kết quả? THIỆN là định, Ác là loạn. TRÍ là hiểu trắng, kẻ hiểu trắng lẽ trên, không phải là lời nói, chữ viết, thông thái, học nhiều sức lực, nghề hay, mà không cần phân chia thiện để làm ác rồi phải chịu đau sầu! Có giới mới có trí, vì giới là ngăn ranh của thiện ác, mà nơi người thiện, giới tức là trường học, là lớp chỗ của học sanh, ở đó định tâm, thì được học là trí huệ mới đến nghỉ ngơi “toàn giác”. Vậy muốn thiện phải hiểu chơn lý lẽ thật cõi đời mới biết được nẻo lui tới, sanh tử, mà không phải là sự hủy mạng liều càng. Có hiểu chơn lý mới chịu dứt bỏ lục trần, không bị ngộp trong trần vật chất, không bị bao vây đen tối, thì mới hết ác hung mê muội. Loài người mà trí soi vẹt được: lục trần. Sắc thinh, hương vị, xúc, pháp, mới thiện lành, vượt lên trên Trời Phật, để thoát ra khỏi địa ngục vật chất nấm mồ. Vã lại:1) TIỀN BẠC là không có, trước kia ăn thú ăn trái lá cây, cổ nhơn cuốc đất cấy cầy, tiền bạc không dùng, nên là sạn sỏi. 2) RUỘNG ĐẤT cũng không, đất của nước lóng sanh, cỏ cây người thú mới tượng ra, ai đâu đi đâu cũng được, sanh thì ở, chết lại đi, kẻ đi qua, người sắp đến, vốn không có chủ tớ ít nhiều; Trước sau tạm ở, để tấn hóa học hành, bước lên tinh thần Trời Phật. Chẳng có sự tham tiếc mua gì của lẽ tạo hóa nhơn duyên được. 3) CỦA CẢI, TÀI HAY, NGHỆ NGHIỆP, cũng là không. Xưa hiền thánh nuôi thân để trau tâm, thanh bần đơn giản thua kém bề ngoài, mà trong tâm lại giàu sang trí mạnh, ấy nào phải khoe khoang, tôi tớ không công cho xác thịt, mảnh lo tạo sắm, giữ gìn mê chơi, mất học, bỏ thì giờ. 4) VUA QUAN, GIÀU SANG, TỘI DÂN, NGHÈO KHÓ, cũng là không có, Vua quan vì hoàn cảnh, do người tôn lập chẳng phải tự mình xưng, giàu sang tự người giúp đỡ, nào phải tại giựt giành, sự sống chúng sanh là như nhau bình đẳng, kẻ thiện từ, há lại có sự nghèo dân tội, cho ai sao? Trong đời chỉ có ông Hiền thiện là đúng hơn hết, vì thiện là sống yên vui đi tới, ác là chết và rối khổ đi lui! 5) SỐNG CHẾT vốn không, chỉ là sự tấn hóa, bỏ vỏ lấy hột, bỏ xấu lấy tốt, bỏ nhỏ lấy lớn, như cởi bỏ áo quần cũ dơ, thay đồ mới sạch, như bỏ cái chán nhàm khổ nhọc, đổi cái già bịnh, để đem lại sự tươi xuân. Có chết mới biết sống, biết giác ngộ lẽ thật mà tấn hóa! 6) CHA CON không có, tiếng cha con là giáo lý cho vay và trả nợ, của kẻ không đường chứ chúng sanh tiến từ cỏ cây thú người do từ đại, sau trước là kẻ đồng hành sanh ra từ duyên nghiệp; kẻ không biết đường đi mới núm níu nương nhau, cho là nghĩa phận, sự vần công. Quá khứ vị lai có biết đâu ai vầy ai khác, sự chen lộn trong hồng trần. Bằng mà bước lên đi tới dắt đường, dứt sự trói buộc chết chùm, ấy mới gọi là hiếu đạo. 7) CHỒNG VỢ NAM NỮ cũng không có, chỉ thật cái biết mới chúng sanh, sắc thân tội nghiệp nương theo cây thú, đực cái đổi thay, đâu có tự cao tốt đẹp, luyến ái giữ gìn, nối dòng sanh sản, khốn họa muôn đời! 8) SẮC ĐẸP ra ma, tốt qua xấu đến, thân tướng, không thường, bóng hình tan rã, tiếng thanh lời dịu, mùi thơm vị ngọt, êm láng mịn màng, các pháp lăn xây; gia đình xã hội, quyến thuộc bà con danh lợi, sắc tài... Thảy là mộng ảo điển chớp mây bay, vọng động không ngừng, lý lẽ không thông, phiền não không rồi, vô ích mà không thật. Chết hết rồi thì còn âu sầu sợ sệt, áo não, đau, thương, vơ vẩn, mãi mãi, chỉ một bóng hình mình mang chịu, mà nào có ai chia sớt hỏi han giùm? Au là ta để tâm niệm Phật, Pháp, Tăng thanh tịnh, chẳng là an nhàn khoái lạc khỏe khoắn hơn nhiều, mà lại hay vui, cao nhẹ biết là bao! BƯỚC CHÂN CƯ SĨ Bước chân vào cõi đời gian nguy, người cư sĩ phải cần đem theo giới định huệ. vì không thế nào với cái tham sân si mà được sống đời nên công kết quả cho được? Một ông vua mà còn chút điểm say mê, một vị quan tâm còn sân giận, một người giàu sang mà ý còn tham lam, là sẽ thất bại (vì không đạo). Cho đến đối với tất cả các hạng sĩ, nông, công, thương nghèo nàn, dân tội, mà còn tham sân si, thì không được tần hóa, lợi ích và bình yên lâu dài. Từ trong gia đình đến ngoài xã hội, cùng khắp cả thế gian, tham sân si là cái chết sình từ trong ruột mà ra, nó sẽ giết thân mạng ta, của ta và tất cả trước khi ta lo làm, hoặc lúc đang lo làm, cùng lúc mới lo làm vừa xong, nó không bao giờ để yên cho ta được hưởng kết quả! Chính tham sân si là ác độc, là khổ hại. Đối trị nó chỉ có đạo đức, của giới định huệ mà thôi. Vậy nên mỗi ai đều phải xuất gia khất sĩ, để tu tập học hành pháp bảo ấy. Trước khi để chơn vào nơi mọi chỗ, hay muốn nối tiếp mọi việc, ta cần phải đứng im lại một lúc để xem xét mình kỹ lưỡng, rồi sẽ bước chân vào. Người trẻ tuổi đúng 18 tuổi, phải nghỉ chân vào trường đạo hai năm, để tập sự khất sĩ. Như vậy về sau tu hành luôn, để giáo hóa chúng sanh mai hậu là càng quý, còn bằng có trở ra lìa cõi Phật, thì cũng còn được đứng vững bậc Trời, người, là do nhờ có tu tập đức hạnh hiểu thông đạo lý, hiền lương sáng suốt. Hột giống trì giới nhập định trí huệ đã có sẵn trong mình, thì được mong sự thành công trong mọi việc. Người từ 20 tuổi tới 48 tuổi, mỗi người đều phải lựa thì giờ để ra hai năm đi tu học, càng sớm càng hay. Sự đi tu học cần thiết hơn miếng ăn thân sống, quý nhứt là sự trang sức chỉnh đốn cõi đời, lập xứ trang nghiêm tịnh độ cho chúng sanh trong ngày hôm nay. Người già 48 tuổi, phải đi xuất gia khất sĩ hết thảy; người bịnh tật ở tu học tại chùa. Người đủ căn duyên phước đức, thì ra đi hành đạo giáo hóa chúng sanh khắp nơi, cho đến ngày giờ nghỉ ngơi hưu trí. Cha mẹ chớ bắt con nuôi, khi tuổi già 48, xác thân vật chất đã hao mòn; mà đến lúc phải sống bằng đạo đức tinh thần, để đem giáo lý chỉ dạy cho kẻ nhỏ về sau. Dầu ít dầu nhiều, do sự học hành kinh nghiệm, đã từng trải qua nhiều năm khắp xứ, đặng dắt đường dẫn lối cho trẻ nhỏ lầm sai. Vừa là sự thi ân không cầu báo, để tránh nạn cha chết con già, ngàn đời dốt học, thân hư, tâm trệ. Vừa là tránh sự ích kỷ tình thương, mê đắm lục trần, cùng sự luyến ác quyến thuộc luân hồi lộn kiếp. Còn kẻ làm con chẳng đặng để cha mẹ nuôi mình, khi đã nên 18 tuổi, phải tự mình tìm lo ăn học, đi tu. Chẳng nên làm tội kéo níu cha mẹ, mà gọi là hiếu thảo (không tròn). Phải nuôi con 18 năm, y như cha mẹ nuôi mình khi trước, như vậy là đủ, nuôi con tức đền ơn cha mẹ; hoặc người có học, thì phải lo tu đặng giáo hóa, cứu độ cả chúng sanh chung, mà đền ơn thí chủ cha mẹ muôn đời mới phải. Kẻ có dư nên bố thí giúp cho người thiếu, ta cho người vay, người trả lại cho kẻ khác, kẻ khác nữa trả lại ta, khi ta thiếu, hụt; chan hòa cho nhau, theo lẽ lăn xoay tiến hóa của võ trụ, chớ đừng lại đi lui, mà phải đụng chạm, trở ngại cho nhau. Nếu là kẻ thật hiền, thì phải thấy rõ mục đích sanh ra đời là để học, công ơn cơm áo của cỏ cây thú người Trời Phật, đất, đất nước lửa gió, từ xưa nay phải rán lo đền trả bằng cách thi đậu đắc quả làm Phật, thuyết pháp cứu độ đông người, theo lòng mong cầu của họ. Chớ đừng nghỉ quấy, bỏ sự ăn học lỡ dở, để đem thân đi làm nô lệ cho một hai người trong ngày hôm nay; dầu có ai mê muội hỏi đòi, thì ta mau hãy giải rành cội lý. An nghĩa hãy dẹp qua một bên đó, đợi ngày sau, còn bây giờ ta tiếp lo ăn học tu hành. Nếu lo sớm trả vần công, ắt là dốt học, đã không rồi, còn thêm tội ác khổ não, mà không còn được sự ích chi lợi. Nên phải tập sống theo phép không ta không của ta theo lẽ thay đổi tiến hóa, người nầy nấu cơm, người khác ăn; người kia may áo người nọ mặc, kẻ khác cất nhà người nấy ở, kẻ kia đau, người nọ nuôi. Mỗi năm đổi một bộ áo cho nhau, hai năm đổi nhà cho nhau, đổi cha, đổi mẹ, đổi anh em, con cháu, đổi thầy, đổi bạn, đổi học trò, để chung sống, chung học, theo trung đạo chánh đẳng chánh giác vô thượng, để diệt bỏ vô thường tương đối của hai bờ lề thái hóa bất cập, khổ não không ta. Mười người phải xuất gia khất sĩ một, vì ngoài cách tu ấy, không có pháp thứ hai nào diệt trừ tham sân si ác độc được. Và cư sĩ với khất sĩ kẻ xin tài, người xin pháp tài, pháp bố thí trao đổi cho nhau, cũng như có đủ linh hốn xác thịt, thân tâm, vật chất tinh thần thì mới sống. Mà cần nhứt là đạo lành phải còn giữ mãi mãi, chớ nếu mất đạo thì trần thế không còn. Về xác thân ta thì có mất, chớ tâm hồn đạo đức vĩnh viễn, không tan hoại. Ai ai cũng đều như vậy hết. Giàu sang nên phải xuất gia! Nghèo nàn nên lo cúng thí, thì nạn chết khổ tự nhiên sẽ hết.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét