THÍCH TÂM TRỌNG

THÍCH TÂM TRỌNG
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT

Thứ Tư, 12 tháng 12, 2012

Còn đó quê tôi

Con Đã Lớn LTG: Viết theo tâm sự một người bạn Mẹ nhìn đồng hồ mãi. Mẹ mong con từ chiều mà bây giờ đã hơn 10 giờ khuya. Mỗi phút trôi qua, mẹ càng thấy thỏm lo âu, đầu nặng như treo đá, mắt mờ, tay run. Mẹ không làm gì được, cứ đi ra đi vào rồi vén màn ngó hờ ra sân, hoặc lắng nghe xem có phải tiếng xe con về. Điện thoại reo ! Mẹ nín thở nhắc ống nghe. Chẳng có gì ! Chỉ là người quảng cáo. Thế mà mẹ cứ sợ con gọi về báo một tin chẳng lành hay là cảnh sát công lộ báo một tai nạn gì... Từ ngày con bị lật xe đến nay, mẹ trở nên ngớ ngẩn, hễ con ra khỏi nhà là mẹ hồi hộp, lo nghĩ bâng quơ.... Bác sĩ nói thần kinh mẹ yếu nên hay tưởng tượng và thường xuyên sợ hãi. Mẹ biết đó là một cái bịnh, mẹ thường niệm đức Quan Thế Âm mong người ban vô úy thí. Khi mẹ mỏi mệt sắp thiếp vài giấc ngủ - chắc chắn là nhiều mộng mị - thì con về. Mẹ hay con về trước khi con vào nhà, mẹ vui mừng không kịp xỏ chân vào dép, vội vàng ra mở cửa. "Sao con về muộn thế ?" Mẹ chỉ mới nói bấy nhiêu thôi đã làm con bực bội. Con trả lời, vừa gằng giọng, vừa lớn tiếng : "Mẹ phải biết, đi chơi với bạn bè mà về giờ này là sớm ! Con lớn rồi, đừng..." Con còn muốn nói gì thêm nữa nhưng chợt nhớ có sự hiện diện của bạn con, con kịp dừng lại. Mẹ làm thinh, lúi húi lo dọn cơm. Phải rồi, bây giờ con đã lớn, hai mươi mấy tuổi rồi, còn một năm nữa thôi, con sẽ tốt nghiệp y khoa. Con lớn thì khôn ra, mẹ già sinh ngớ ngẩn. Có lẽ vì vậy mà càng lớn lên, con càng đối xử với mẹ khác xưa, khác hẳn lúc con còn nhỏ. Hồi mẹ sinh con, con nặng gần 4 kí. Mẹ rán gần đuối sức với sự tiếp tay của bác sĩ mà con vẫn chưa ra. Tưởng phải mổ. Bác sĩ nói : "Bà cố thêm một lần nữa, kẻo đứa bé ngộp". Lời nói có tác động mạnh mẽ, mẹ dùng hết sức bình sinh để đưa con ra ánh sáng cuộc đời. Mẹ đứt hơi, sắp sửa ngất đi thì có tiếng khóc "oa, oa". Tiếng khóc của con làm mẹ như được hồi sinh, mẹ mở mắt ra nhìn đứa con trai bụ bẫm dễ thương của mình. Anh con thì ốm yếu khó nuôi, bịnh hoạn liên miên còn con lớn như thổi. Bú lắm, ăn nhiều. Ai đụng tới thì toét miệng cười; cả ngày không khóc, đêm ngủ một mạch tới sáng. Con là niềm an ủi vô biên của mẹ. Cha con, sĩ quan tác chiến, vắng nhà thường xuyên, hễ về là bày ra nhậu nhẹt. Tánh ổng nóng, mẹ không dám can ngăn thành ra đối với ông, mẹ chỉ biết chịu đựng thôi, do đó, tình phai nhạt dần. Anh con tính tình cũng hung lắm, bắt đầu 6, 7 tuổi là đã đánh lộn cùng xóm, cha con không có ở nhà để dạy dỗ, nó thì chẳng sợ mẹ chút nào. Trái lại, con tỏ ra biết nghe lời mẹ. Mẹ dạy con làm điều phải, tránh điều trái, mẹ dạy con chăm chỉ học hành để sau này nhờ tấm thân, mẹ dạy con mở lòng thương yêu và giúp đỡ mọi người... Con thỏ thẻ : "Lớn lên con sẽ làm bác sĩ, ai nghèo, con trị bịnh không lấy tiền". Con khiến mẹ sung sướng quá ! Những lúc cha hoặc anh con làm mẹ buồn, mẹ khóc, con quấn quít bên cạnh không rời. Con còn quá nhỏ để có thể nói những lời an ủi nhưng đôi mắt con đã biết nhìn mẹ xót xa và con dùng đôi bàn tay mủm mỉm như búp sen để vuốt má mẹ hay gạt dòng nước mắt đang tuôn trào. Nhờ thế, nỗi đau trong lòng mẹ dịu lại và giúp mẹ có nhiều can đảm, nghị lực hơn. Những lúc đó, đối với mẹ, con là một ông Phật nhỏ hiện xuống trần gian này để làm vơi bớt những đắng cay, phiền muộn của mẹ. Rồi số phận gia đình mình cũng theo vận nước nổi trôi. May mắn hơn nhiều người khác, cha con đem được cả nhà xuống tàu hải quân đi Mỹ ngay ngày 30/4/75. Lúc đó, con mới 8 tuổi, anh con đã 13. Sang vùng đất mới, cha con thay đổi cách sinh hoạt và có thể gần gũi, dạy dỗ anh con chu đáo hơn. Nhưng khoảng thời gian quí báu này không kéo dài lâu. Chỉ 5 năm sau, cha con đột ngột qua đời vì tai nạn lưu thông. Tai nạn đó ám ảnh mẹ không thôi. Người ta đền cho mẹ 1 số tiền lớn. Anh con biết điều ấy nên bỏ bê việc học hành, cứ hạch sách tiền bạc để ăn chơi. Không tiền cũng khổ mà có tiền cũng khổ. Những lúc anh con đòi tiền không được, nó sừng sộ làm dữ, đập bàn đá ghế, mặt mày đỏ rần, tóc tai như dựng đứng cốt làm cho mẹ sợ. Nhưng mẹ không sợ đâu, mẹ phải cương quyết, nếu không, ngày nó càng hư và mẹ sẽ không còn tiền để giúp con theo học ngành y khoa như ước vọng của con. Chẳng phải mẹ không thương anh của con nhưng mẹ không thể nuông chìu sự hư hỏng của nó. Con hư con ngoan gì mẹ cũng thương nhưng tình thương cần phải kèm theo sự sáng suốt. Anh con giận mẹ lắm, nó bỏ nhà đi. Cũng may cho nó, nó có cô bạn gái rất tốt. Chính cô ta khuyên nhủ, vỗ về, an ủi và kéo nó trở lại trường học. Anh con giàu tự ái, từ ngày bỏ nhà ra đi, nó thân tự lập thân, vừa đi làm vừa đi học cho đến khi tốt nghiệp kỹ sư. Con nhớ không ? Anh con gửi thiệp mời mẹ đi dự lễ ra trường của nó như mời một người quen, một người khách. Ngày đó, nó nhìn mẹ với ánh mắt kiêu hãnh kèm theo một chút gì oán trách. Ngày đó, tự ái của nó được thỏa thuê. Nhưng mẹ không buồn, cũng không ân hận. Mẹ đã hành động đúng nên nó mới được như ngày nay. Nếu nó biết suy nghĩ sâu xa hơn, nó sẽ không giận mẹ đến thế. Con sợ mẹ buồn, con an ủi mẹ một câu : "Anh ấy mới thành danh chứ chưa thành nhân, mẹ ạ !". Mẹ cười, không biết con học được câu chữ nho ấy ở đâu. Mẹ mong con cái của mẹ thành nhân hơn là thành danh vì giá trị con người chẳng phải ở nơi danh vọng hay bạc tiền. Từ đấy, mẹ có cảm tưởng đã vĩnh viễn mất anh con dù ngày nó cưới vợ, mẹ là người đứng chủ hôn và hàng năm, tới ngày "Mother 's Day", nó gửi tặng mẹ một bó hoa. Rồi con vào đại học với học bổng bán phần. Con thông minh lại siêng năng nên môn nào cũng giỏi nhưng con quyết định chọn ngành y khoa như dự định từ bấy lâu. Ngành này thật bận rộn, dù nhà ở gần trường nhưng có khi cả tuần mẹ mới gặp con vì con mải miết lo học, đi sớm về khuya, lại còn lắm bạn bè, hội hè, giao tế. Bữa nào mẹ cũng ăn cơm một mình nên ngày cuối tuần mẹ hay nấu món ngon mong con về cùng ăn cho vui nhưng con thường có hẹn với các bạn thành ra mẹ con mình cứ xa nhau dần. Mẹ con mình không còn có những dịp ngồi tâm sự với mình; và con cũng chẳng có thì giờ để nói những lời an ủi khi mẹ buồn. Dần dần, mẹ có cảm tưởng con như người ở trọ. Tuy cùng một chốn đi về mà mạnh ai nấy sống, con chẳng muốn mẹ tham dự vào công việc và đời tư của con, có lẽ như vậy làm con không được tự do vì người mẹ nào chẳng hay cho ý kiến. Mẹ cô độc quá ! Đi làm 8 tiếng ở sở ra, lắm khi mẹ không muốn về nhà vì sợ cảnh quạnh hiu, mẹ đi loanh quanh ngoài phố đến mệt nhoài mới quay về. Bữa nay mẹ nấu bún bò, cơm tay cầm, món ăn mà con rất thích nhưng cơm canh đã nguội lạnh, con vẫn chưa về. Mẹ muốn có những bữa ăn gia đình với sự tham dự của bạn bè con để mẹ được hưởng lây bầu không khí trẻ trung vui nhộn của các con và có dịp nói đùa đôi câu để con biết là mẹ chưa đến đỗi già nua, lạc hậu. ... Con đã ngồi vào bàn ăn mà mặt vẫn còn cày cạy. Con tiếp tục bày tỏ sự khó chịu của mình : "Mẹ biết con đi đâu thì mẹ có thể đoán được giờ con về chứ !". Nước mắt mẹ ứa ra vì sự trách cứ của con nhưng mẹ cố ngăn lại. Mẹ không muốn khóc trước mặt Hảo, bạn con. Thấy mẹ khóc, có thể nó sẽ nói cho Hồng biết. Rồi cô em gái của nó sẽ nghĩ sao về con nếu cô ấy biết con đã lớn tiếng với mẹ, đã cằn nhằn mẹ và làm cho mẹ khóc chỉ vì mẹ có lỗi đã quá mong chờ và lo lắng cho con ! Mẹ thấy bây giờ hình như con không còn cần đến người đàn bà quê mùa này nữa. Chẳng những con muốn làm gì thì cứ làm - chắc vì con cho rằng con đã đủ lớn khôn - không bao giờ hỏi ý kiến mẹ, cho đến những sự nhắc nhở của mẹ, con cũng không lưu tâm. Mà mẹ thì chỉ biết lo những chuyện nhỏ thôi : "trời sắp mưa con nhớ mang dù theo"; "bữa nay lạnh đấy, con nhớ mặc áo ấm"; "con đã ho rồi, nhớ uống thuốc". Mẹ nói gì thì nói, con chỉ làm thinh và dĩ nhiên là không làm theo những gì mẹ dặn. Mẹ trở thành một người thừa thải trong cuộc đời của con rồi chăng ? Có thể là vậy. Con đã có bạn gái, cô săn sóc con thay mẹ; con đã kiếm ra tiền, đâu còn cần những đồng tiền chắt chiu dành dụm của mẹ mà mỗi lần xin, mẹ cứ hỏi lý do; còn kiến thức ư ? Con hơn mẹ quá xa rồi. Những lời dạy dỗ của mẹ đã trở nên lỗi thời, xưa rích. Thật là đau khổ cho người mẹ khi bà biết đứa con không cần đến mình nữa. Sự đau khổ này còn phũ phàng hơn tâm trạng của một công nhân bị ông chủ thình lình gọi lên cho nghỉ làm vì đã hết việc. Khi cuống rún đã đứt lìa, con có đời sống độc lập của con. Đó là lẽ tất nhiên, mẹ không muốn con mãi mãi lệ thuộc vào mẹ vì còn lệ thuộc thì không thể trưởng thành. Nhưng mà con ơi ! người mẹ nào cũng có trái tim rất nhạy cảm. Trái tim đó đã ấp ủ nuôi nấng con nên người, trái tim đó đã khiến cho mẹ biết quên mình để trọn đời hy sinh lo lắng cho con; đôi khi vì trái tim mù quáng đó, có những bà mẹ dám làm điều sai quấy chỉ vì muốn con mình được đầy đủ mọi thứ. Bây giờ, trái tim của mẹ khô cằn, nứt mẻ, chai cứng vì nó thiếu chất liệu ngọt ngào, nó không được tưới tẩm bằng tình thương yêu trìu mến của con mình. .. Hảo thấy bầu không khí có vẻ im lìm, căng thẳng, cậu thỏa lấp bằng vài câu bông đùa rồi mời mẹ xơi cơm trước khi cầm đũa. Mẹ mời cậu tự nhiên rồi bước vào trong. Bây giờ nước mắt mẹ có thể tự do tuôn chảy. Mẹ khóc chẳng phải vì giận con đâu. Mẹ hay tủi thân ấy mà ! Những lúc đau buồn như thế này, nếu mẹ có được một đứa con nhỏ như thuở con còn bé chắc em con cũng sẽ sà vào lòng mẹ để an ủi, dỗ dành và giúp nỗi đau của mẹ dịu lại, làm trái tim mẹ tươi tỉnh hơn. Mẹ lại mơ ước hão huyền rồi phải không ? Có lẽ bản chất của mẹ là một người yếu đuối nên lúc nào mẹ cũng tìm một chỗ nương tựa tình cảm. Hai mươi mấy năm qua, con đã là trụ cột để mẹ nương nhờ, đã là lẽ sống, là hy vọng, là tương lai của mẹ. Như thế chắc cũng đã đủ rồi, mẹ không dám đòi hỏi hơn nữa. Bạn của mẹ thường nói : "Chị có hai người con, đứa kỹ sư, đứa bác sĩ, thế thì tuổi già của chị được bảo đảm rồi đấy !". Mẹ chỉ cười trừ. Mẹ đâu dám nói cho họ biết rằng mẹ là người đau khổ, bơ vơ; liệu ai hiểu được cảnh tình của mẹ ? Nói đến tuổi già, nhiều người lo sợ vu vơ. Mẹ thì không ! Biết mẹ sống được bao lâu nữa ? Căn bệnh nan y đã bắt đầu phát hiện trong người mẹ, mẹ giấu không cho con biết, mẹ cũng không cần chạy nữa. Cắt xén một vài bộ phận trong cơ thể để sống thêm mấy năm nữa liệu có ích gì không đối với hoàn cảnh của mẹ hiện nay ? Người ta chỉ ham sống khi người ta còn yêu đời. Nói thế chứ mẹ không phải là kẻ bi quan chán đời đến nỗi muốn tìm cái chết đâu. Mẹ chỉ nghĩ rằng bổn phận của mẹ đối với con cái đã xong thì mẹ có thể nhẹ nhàng ra đi bất cứ lúc nào, chẳng có gì phải bận tâm. Mẹ thì giàu tưởng tượng lắm ! Có thể mẹ không bị bịnh như mẹ nghĩ. Thế mẹ sẽ sống tới già ! Mẹ sẽ sống làm gì ! Mẹ sẽ ở đâu ! Dĩ nhiên là mẹ chẳng muốn làm phiền các con. Mẹ biết đời nay, nhất là trên xứ Mỹ, vợ chồng son đâu ai muốn có cha mẹ chồng hay cha mẹ vợ ở chung. Dù mình dễ tính đến thế mấy, chúng nó cũng mất tự nhiên. Mẹ sẽ không vào nhà dưỡng lão đâu ! Mẹ đã cùng các bà bạn đến đấy làm công tác từ thiện mấy lần. Chao ôi ! Người ta nuôi người già như nuôi một loài động vật để làm thí nghiệm. Tới giờ ăn thì phải cố mà ăn. Ai không chịu há mồm ra thì bóp họng nhét thức ăn vào, cho nên đối với nhiều ông cụ bà cụ, đấy là giờ cực hình. Hãy để cho họ được tự do, muốn ăn thì ăn, muốn uống thì uống, đừng ép ngặt họ đến thế. Người già không cần thức ăn cho cơ thể lắm đâu. Họ cần tình cảm họ cần được yêu thương và mong có ai đến gần để họ có dịp nhắc đến kỷ niệm xưa của họ, để được nói về người chồng quá cố hay những đứa con yêu dấu của mình giờ đã xa xôi quá. Mẹ có dịp nhìn thấy một bà cụ đầu hói, răng rụng hết nên trông bà như một em bé. Bà ngồi im lìm trên xe đẩy. Mẹ tiến đến thăm hỏi đôi câu, bà mừng lắm, mắt sáng lên, hếch miệng cười. Bà nắm tay mẹ, nói líu lo rồi rút trong túi áo ra đưa cho mẹ xem tấm ảnh chụp chung của gia đình bà. Lúc đó, bà là một thiếu phụ xinh xắn đứng bên ông chồng mặc quân phục trên ngực gắn đầy huy chương trông rất uy nghi; chung quanh là 4 đứa con, 2 trai, 2 gái, đứa nào trông cũng ngộ nghĩnh, dễ thương. Có lẽ đó là thời kỳ vàng son nhất trong cuộc đời bà và dư vị của nó giúp bà sống nốt những ngày tàn trong viện dưởng lão này. Các con của bà bây giờ đều lớn khôn, chúng có đời sống riêng, có vợ chồng con cái nên chẳng mấy khi nhớ đến mẹ. Bà chưa chết nhưng hình như đã bị xếp vào một thế giới khác, thế giới của già nua, bịnh hoạn, phế thải; nơi mà thần chết thường xuyên gõ cửa. Mẹ có người bạn làm chung sở, dì Lài. Chưa đầy 60 tuổi mà đã lo hoạch định chương trình hưu trí. Chị kêu gọi những người có khả năng và hợp tính tình, hẹn khi nào về hưu sẽ sống chung với nhau. Chị sẽ mướn một căn nhà rộng lớn ở vùng quê, mướn y sĩ đến chăm sóc định kỳ. Mùa ấm sẽ tổ chức đi du lịch, đi là các công tác xã hội còn mùa lạnh thì cứ rút trong nhà xem ti vi và nói chuyện khào với nhau. Chị nghĩ rằng sống như vậy sẽ ấm cúng và tự do, không lệ thuộc vào con cháu, cũng không phải theo thời khóa cứng ngắt của viện dưỡng lão. Ý kiến cũng hay đó chứ, nhưng mẹ chưa tính gì về chuyện ấy. ... Cả đêm không ngủ nghê được, gần sáng mẹ mới chợp mắt một giấc ngắn. Lúc thức dậy, mặt trời đã lên cao, mẹ nghe có tiếng nước chảy trong nhà tắm và tiếng huýt sáo của con. Hình như chuyện tối qua không gây chút ảnh hưởng gì đến con cả phải không ? Mẹ tự hỏi đó là cái hay hay cái dở ? Mẹ hiểu đạo, mẹ biết rằng mỗi ngày phải sống với sự mới nguyên, mới tinh khôi của nó, đừng để cho bóng tối phiền não của ngày hôm trước làm u ám sáng hôm sau, nhất là sáng chủ nhật vào mùa thu rất đẹp trời, rất nên thơ như bữa nay. Nhưng mà, nếu không bao giờ con tự xét lại mình, lúc nào con cũng cho mình là đúng và không cảm thấy chút gì hối hận trong tâm thì cái tâm đó vô tư thật, vô tư đến nỗi trở thành vô tình. Con không bao giờ xin lỗi mẹ dù con đã nhiều lần làm mẹ buồn, con hay sửa sai mẹ vì mẹ đã không làm đúng như ý con, con thường trách cứ mẹ điều nọ điều kia mà có lẽ không bao giờ con đặt câu hỏi tại sao mẹ lại cư xử như thế ? Nếu con biết quên mình một chút và đặt mình vào hoàn cảnh của mẹ, chắc con sẽ hiểu biết và thông cảm hơn. Mẹ vẫn thầm mong thế. Mẹ biết con kiêu lắm và tự ái cao cũng như anh con vậy. Mẹ không lấy làm quan trọng chi một câu xin lỗi nhưng mẹ ngại cho con, với tánh tình đó, con sẽ đau khổ khi ra đời. Mẹ chờ một lời xin lỗi đâu phải để cho tự ái mình được thỏa mãn, đâu phải để thấy mình còn đủ quyền uy của một bà mẹ. Mẹ chỉ mong con biết tự hạ thấp một chút và có thể thấy được lỗi lầm của mình, như thế con sẽ khá hơn vì biết sửa đổi, nhờ đó con dễ có hạnh phúc. ... Mẹ tránh không cho con thấy mặt mẹ sáng nay vì sợ gương mặt đau khổ của bà già này sẽ làm con mất vui. Con đang sửa soạn đưa bạn gái của con đi lễ nhà thờ. Hai người khăn khít lắm, có thể đi đến hôn nhân. Mẹ không có ý kiến chi cả, nhưng mà mẹ mong phải chi con dâu của mẹ cùng đạo Phật thì nói chuyện với nhau dễ thông cảm hơn vì có nền tảng chung. Mẹ nghĩ rằng đạo nào cũng có cái hay - chỉ trừ những nhóm người mê tín nhảm nhí - và tất cả tôn giáo đều gặp nhau ở chỗ xây dựng nên những con người tốt cho gia đình, cho xã hội nên mẹ không dám đả kích gì. Nhưng mà riêng đạo Phật mới chỉ thẳng vào chân lý, phô bày sự thật muôn đời và giải quyết vấn đề sinh tử luân hồi cho con người. Mai kia, nếu vì sự ép buộc mà con từ bỏ đạo của mình thì thật là tiếc lắm thay, như người có viên ngọc mà vứt đi vì không biết giá trị của nó. Mong ước là quyền của mẹ và dĩ nhiên quyết định là quyền của con. Có hai điều mà bậc làm cha mẹ không nên ép uổng con, đó là sự chọn nghề và chọn bạn trăm năm. Mẹ biết thế nên không nói ra mà cũng chẳng nói vào về mối tình của con và Hồng. Vợ chồng, âu cũng là duyên nợ. ... Con lái xe đi rồi mẹ mới ra khỏi phòng. Trong khi rửa mặt, mẹ có dịp nhìn mình trong gương. Gương trả lại hình ảnh của một người đàn bà tiều tụy dung nhan, mái tóc màu muối tiêu khô cứng tua tủa ra giống tóc một chú hề, đôi mắt quầng thâm, sưng húp, làn da tái mét như người bịnh lâu năm, lại thêm trán nhăn, má hóp... Hơn bao giờ hết, mẹ thấy rõ tính vô ngã, vô thường. Trên đời này, có cái gì trường tồn, không biến hoại đâu ? Mẹ cũng đã từng là một đứa bé, rồi trở thành một cô thiếu nữ và bây giờ là một người luống tuổi. Mẹ đã từng vui, buồn, cười, khóc, ước mơ, hy vọng và thất vọng. Con cũng thế, con đang biến đổi, từng ngày một, về cả hai phương diện : sắc và tâm. Tất cả mọi sự trên thế gian này đều do nhân duyên mà thành tựu, do nhân duyên mà thay đổi và tan hoại. Nhân duyên nào đã làm con không còn dễ thương như trước ? Phải rồi, con đã lớn lên và trưởng thành trên đất Mỹ. Nơi xứ này, đứa bé không được hấp thụ khuôn khổ, nề nếp của người Á Đông mình. Đứa bé tự xem mình ngang hàng với cha mẹ, chẳng những nó có thể cãi tay đôi với người lớn mà nó còn có thể sừng sộ, lớn tiếng, chỉ thẳng vào mặt cha hay mẹ mình và đập bàn đá ghế để biểu lộ sự bất bình của nó. Những hình ảnh như vậy đầy trên màn ảnh, tivi và trong các gia đình người Mỹ tránh sao con không khỏi tiêm nhiễm mỗi ngày một ít ? Mẹ tiếc rằng cha con chẳng còn sống để phụ mẹ níu giữ lại truyền thống dân tộc, nét đẹp của một gia đình có giáo dục Đông Phương. Mẹ hiểu rồi, mẹ không buồn giận nữa đâu. Chỉ một mình, làm sao mẹ chống chỏi được với xã hội và môi trường chung quanh con nhỉ ? Nếu mẹ chấp chặt vào khuôn khổ trong đó mẹ đã lớn lên để phán xét con thì mẹ chỉ tự chuốc sầu mà thôi. Mẹ hiểu rồi nhưng mà mẹ vẫn còn hoài vọng, mong con đừng buông bỏ hết những gì mẹ đã dạy dỗ con từ tấm bé, những điều ấy tuy không cao xa chi nhưng mà nó là gốc rễ hạnh phúc cho cả đời con. Con nên hiểu rằng hạnh phúc của con luôn luôn tùy thuộc vào người chung quanh. Nếu con biết làm cho những người thân quen của con vui vẻ, sung sướng thì ánh mắt và nụ cười của họ sẽ làm con được vui vẻ, sung sướng gấp bội phần. Trái lại, nếu con chẳng cần để tâm đến sự vui buồn của người, muốn làm gì cứ làm theo ý muốn cá nhân con, mặc ai trách cứ, mặc người than van thì chẳng những con làm tổn hại phước đức của con mà thôi, con sẽ bị cô lập và mất cả tình thương mến, ấy là một đại nạn. Trên đời này, chỉ có cha mẹ mới hoàn toàn tha thứ những lỗi lầm của con, con đối với những người khác, dù con có hối lỗi ăn năn, những tì vết xấu của con cũng mẵi còn đậm nét trong trí nhớ của họ. Bởi thế, con hãy nên cẩn trọng về ngôn ngữ, hành động của mình, con nhé ! Có lẽ mẹ lo xa quá hay tưởng tượng nhiều quá ! Con mẹ dù sao cũng đâu đến nỗi tệ ! Con đâu lêu lỏng chơi bời, đâu phá làng xóm như những kẻ hư thân mất nết. Con chăm chỉ học hành, biết lo cho tương lai, có nếp sống lành mạnh và thỉnh thoảng cũng phụ giúp mẹ những công việc lặt vặt trong nhà ngoài sân vườn, mẹ còn dám đòi hỏi gì thêm ? Nếu đặt kỳ vọng quá nhiều ở con mình, mình dễ bị thất vọng cho nên mẹ tập chấp nhận cái gì mình được và chấp nhận cả những gì mình không thể được. Như thế thì khỏe hơn ! Đầu óc nhẹ nhàng hơn ! ... Hôm nay mẹ chuẩn bị nấu nồi bánh canh cho con và Hồng về ăn. Con về ăn cũng tốt hoặc là hai đứa đi ăn tiệm cũng tốt, không sao. Nếp sống của các con dĩ nhiên là phải hơn cha mẹ rồi. Việc ăn xài đối với các con thật dễ dàng, không cần tính toán. Cuộc sống của các con không khó khăn như thế hệ của những người đi trước, những người đi lập nghiệp trên đất khách với hai bàn tay trắng và vốn liếng Anh văn không đầy lá mít. Họ chịu đựng nhiều cay đắng, nhọc nhằn, họ sống tiện tặn kham khổ để gây dựng cho đàn con của họ. Bởi thế, nhìn vào họ, con sẽ không thấy vẻ sang trọng phong lưu như thế hệ của các con hôm nay, những người trí thức trong xã hội Hoa Kỳ. Nhưng con ơi, nếu không có những người đi trước hy sinh và dọn đường như thế ấy, các con không dễ thành công đâu. Các con đừng quên nguồn cội của mình. Mẹ biết, có những người đồng trang lứa với con hoặc nhỏ hơn con vài ba tuổi, họ không thích chơi với cộng đồng Việt Nam, không muốn nói tiếng Việt, chỉ thich giao thiệp với Mỹ và tự đồng hóa mình với người Mỹ. Họ đâu biết rằng chối bỏ nguồn cội là tự mình bứng mình ra khỏi gốc, cây sẽ èo uột và chẳng lớn nổi nếu không bị chết non. Một ngày nào không xa lắm, họ sẽ thấy mình bơ vơ vì thật ra những người da trắng mắt xanh tóc vàng đâu xem dân da vàng di cư là người Mỹ dù mình đã có quốc tịch từ lâu. Chối bỏ văn hóa Việt Nam, họ tự đánh mất di sản quí báu, họ không được thưởng thức những bài tình cả bất hủ, những câu hò câu hát trên sông nước, trên cánh đồng, những bài ca dao hồn nhiên trong sáng đầy tính dân tộc họ không biết Nguyễn Du là ai, bà Huyện Thanh Quan là ai, kể cả những triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần, những vị anh hùng chống ngoại xâm, kể cả mảnh đất hình cong như chữ S nằm ven biển Thái Bình Dương. Những thứ ấy đối với họ chẳng là gì cả, chẳng gây cho họ một cảm xúc gì. Một ngày nào đó, tình cờ người bạn Mỹ bảo : "Anh hãy nói cho tôi nghe về quê hương của anh". Người ấy sẽ trả lời ra sao ?. "Tôi không biết gì cả !". "Tôi là người Mỹ mà !". Con nghe như thế có được chăng ? Nghĩ đến quê hương, mẹ bỗng thấy nhớ quá những hàng dừa xanh um ở quê ngoại, những con sông rạch quanh co mà nước đầy phù sa, tôm cá, nhớ những "cầu tre lắt lẻo gập ghềnh khó đi", những thân dừa bắc ngang các con mương nhỏ trong vườn nhà rợp mát, nhớ cả "đèn Sài Gòn ngọn xanh ngọn đỏ, đèn Mỹ Tho ngọn tỏ ngọn lu", nhớ những tà áo dài trắng thướt tha như đàn bướm nhỏ lúc tan trường, nhớ những con đường có lá me bay nhè nhẹ vào mùa gió chướng, lạnh hanh hanh... Mai này khi con ra trường và lập gia đình xong thì đã đến lúc mẹ hưu trí. Có thể mẹ sẽ trở về Việt Nam. Mẹ sẽ tìm một vùng quê yên tịnh, mua miếng đất nho nhỏ ở cạnh chùa và cất lên một am tranh. Ở đó, mẹ sẽ có đủ duyên để chuyên tu Tịnh Độ và vui thú điền viên. Chắc chắn con nói rằng "Ở Mỹ này, mẹ cũng có thể làm như vậy, cần gì phải về đấy mới tu được". Nhưng mẹ biết, nếu mẹ còn nấn ná chốn này thì cũng như bao nhiêu người khác cùng lứa tuổi, mẹ sẽ bận bịu với đàn cháu và sợi dây tình cảm ngày càng trói chặt lấy mình, quyến luyến mãi khó rời. Tham ái là nguyên nhân của sinh tử, nếu không sớm dứt khoát, không sớm lìa xa thì mãi mãi bị giam trong tù lục đạo, bị trói chặt trong bánh xe luân hồi. Như thế thật luống uổng cho một kiếp người, nhất là mình lại là một Phật tử. Còn theo đề nghị của dì Lài, chị em bạn già họp lại sống chung với nhau cho vui. Thử hỏi, những ngày vui vẻ ấm cúng ấy được bao lâu ? Rồi ai cũng phải lần lượt ra nghĩa trang một mình. Mẹ nghiệm ra rằng những thứ mà người thế gian này - dĩ nhiên là có mẹ trong đó - nương tựa vào đấy mà sống như hạnh phúc gia đình, tình bè bạn cho đến quê hương, giống nòi... tất cả đều chỉ là những chỗ tạm thời, là những cái phao. Phai thì mong manh quá trong biển khổ không bờ bến này. Làm sao có thể vượt trùng dương với phương tiện eo hẹp như vậy ? ít ra mình phải có một chiéc thuyền, như thuyền Bát Nhã chẳng hạn, giúp mình buông bỏ hết mọi chấp trước về ngoại cảnh, về thân tâm thì mới mong tự tại, an ổn đến bờ giải thoát. Mẹ sẽ tập bỏ dần, bỏ dần những thứ mà xưa nay mình đã ôm đồm, tích lũy : những điều phải trái, những khuôn mẫu xã hội, những so sánh hơn thua, những quan niệm về còn mất, có không, những phân biệt tốt xấu, thiện ác, thánh phàm... Xả bỏ hết cho đến khi nào chỉ còn lại một "tâm không", một tấm lòng ngây thơ như trẻ nít, một nụ cười hồn nhiên trước sự đời thì khi đó mẹ khỏi cần tìm cách quay về Việt Nam vì quê hương đíc thực đã hiển hiện ngay trong lòng mình. ... Mẹ đã tìm được sự an ổn, mẹ vừa thoát ra khỏi một cơn sóng phiền não. Mẹ đang mỉm cười nhìn hai chú sóc rượt nhau, chuyền hết nhánh này sang nhánh nọ và đang lắng nghe chim hót líu lo mừng ngày nắng ấm giữa mùa thu của cuộc đời. Xả trừ được phiền não, lòng mình nhẹ tênh ! Tuy biết rằng phiền não tức Bồ Đề nhưng không phải là sự dễ dàng cho mẹ để chuyển hóa phiền não đâu. Tuổi tác cao, sự suy nhược về cơ thể kéo theo sự yếu đuối về tinh thần cho nên người già hay bị chìm lún trong đau khổ. Họ không còn đủ ý chí, nghị lực để ngoi vượt lên dù họ là người hiểu đạo, thừa biết vui buồn chỉ là trò huyễn hóa của tâm thức. Bởi thế, mong con thông cảm được sự yếu đuối và tánh nhạy cảm của mẹ mà tránh cho mẹ những giây phút tủi sầu, để mẹ có thể an vui tu tập. Được an vui tu tập, mẹ hồi hướng công đức này cho con và tất cả những người còn cha hay mẹ trên đời, mong mọi người con đều tròn câu hiếu đạo, cho tuổi già của những người mẹ, người cha không đến nỗi quá hiu hắt lạnh lùng vì những giọt lệ như sương. Và con ơi, nên biết rằng hiếu hạnh là căn bản của đạo làm người, không ai từ bỏ chữ hiếu mà có thể làm nên sự nghiệp lớn, cho đến những bậc thượng sĩ xuất trần như Thanh Văn, Bồ Tát cũng nhờ đạo hiếu mà tiến tới quả vị Vô Thượng Bồ Đề./.
Còn đó quê tôi Quê tôi còn đó dòng sông Nước đi nước đến chờ con nước về Quê tôi còn đó sơn khê Sắt son tô thắm ước thề không phai Ơn sâu nghĩa nặng tình dài Đường quê lối nhỏ hoa cài thơm hương Tin yêu hòa ái mến thương Chia mưa sẻ nắng gió sương không màng Quê tôi còn đó đò ngang Chờ người lữ thứ miên man chưa về Quê tôi còn đó tiếng ve Xót trong hạ nắng mùa hè kêu đau Xa mờ trắng mấy mùa cau Trôi dòng dĩ vãng phủ màu nhớ thương Đêm đêm nhạn vắng kêu sương Ngày ngày én liệng mây truông cuối trời Quê tôi từ thuở nằm nôi Chôn nhau cắt rốn nhớ lời mẹ cha Xẻ da xẻ thịt mới ra Trinh nguyên huyết thống cho ta nên người Quê tôi còn đó nụ cười Gắn trên môi héo da mồi tóc sương Kinh qua bao ải nghê thường Lênh đênh thời thế đoạn trường tóc tơ Nhưng tôi chẳng có bao giờ Cố quên quê cũ mịt mờ đời tôi Nếu tôi không có quê tôi Thì sao tôi có quê tôi trong đời Cho nên dù có cuối đời Vẫn thương vẫn nhớ mặn mòi tình quê Buông tay nhắm mắt gởi về… Tháng 6 – 2010 Mặc Giang macgiang@y7mail.com Quốc Lễ Thù Ân Quốc Lễ Thù Ân, dâng lên trước bàn thờ Tổ Quốc Xin khấu đầu lạy tạ Sông Núi Hồn Thiêng Đã khởi đi từ nguồn cội Rồng Tiên Trải lịch sử năm ngàn năm Văn Hiến Đức Hùng Vương phảng phất cờ bay khói quyện Nước Văn Lang tên khởi thủy Việt Nam Kết tinh thành dòng giống máu đỏ da vàng Sừng sững giữa trời Đông, như thành đồng vách núi Quốc Lễ Thù Ân, dâng theo dòng lịch sử Xin khấu đầu đảnh lễ các bậc tiền nhân Vì Quê hương, vì Dân tộc, vị Quốc vong thân Đem xương máu dựng xây Cơ đồ Tổ Quốc Ôi Cổ Loa, khí hùng tụ năm ngàn năm trước Ôi Thăng Long, chuyển hùng anh một ngàn năm xưa Đây Sài Gòn, ba trăm năm rực rỡ có thừa Đó Phú Xuân, vọng Cố Đô một thời cổ kính Quốc Lễ Thù Ân, dâng lên Hai Bà Trưng, Bà Triệu Nước trời Nam, rõ mặt những bậc anh thư Kiện tướng Phương Bắc phải khiếp đảm kinh người Đất Mê Linh còn vang danh sử tích Quốc Lễ Thù Ân, dâng lên Đức Ngô Quyền kiệt xuất Bạch Đằng Giang vỗ sóng sạch quân thù Một ngàn năm xâm thực, kết liễu thiên thu Đất nước ta hoàn toàn độc lập tự chủ Mở ra bốn Triều đại Đinh – Lê – Lý – Trần kỳ tú Xuất hiện những bậc Minh quân, Tướng sĩ kỳ tài Giặc Phương Bắc biết bao lần nhe vuốt ách tai Đều bỏ chạy trối chết, chui ống đồng ống cống Quốc Lễ Thù Ân, xin dâng lên Đức Trần Hưng Đạo Xin dâng lên Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ Quang Trung Xin dâng lên thế thế tiền nhân các bậc anh hùng Quét sạch bóng dáng ngoại xâm, bảo toàn biên cương lãnh thổ Quốc Lễ Thù Ân, xin dâng lên tất cả chiến sĩ vô danh không tên tuổi Tên của các anh đã hòa quyện với non sông Máu của các anh đã tưới tẩm khắp ruộng đồng Non nước Việt Nam mới thành quê hương gấm vóc Quốc Lễ Thù Ân, xin dâng lên những chơn linh thiếu phụ Ôm con chờ để chết đứng vọng phu Hồn tử sĩ đã về với ngàn thu Nên các chị cũng hóa ra thiên cổ Quốc Lễ Thù Ân, xin dâng lên chơn linh đồng bào tử nạn Chết dưới mọi vòm trời khói lửa, hay ngay chốn hậu phương Hòa với núi sông cùng mở nước mở đường Non nước Việt Nam mới thành sông dài biển rộng Quốc Lễ Thù Ân, xin dâng lên khắp mọi miền Tổ Quốc Bắc Nam Trung cùng lễ lạy Thù Ân Ân quốc gia, Ân dân tộc, Ân tiền nhân Ân Tổ Tiên, Ân cội nguồn, Ân sông núi Quốc Lễ Thù Ân, để tôn thờ Tiên Tổ Đức hùng anh thạch trụ vững Trường Sơn Mảnh cơ đồ xương máu của cha ông Nghiêm bóng cả khí hồn thiêng sông núi Quốc Lễ Thù Ân, nhớ người Cha nguồn cội Hỡi những đàn con thế hệ của Lạc Hồng Hãy cùng nhau gánh vác vẹn non sông Một tấc đất không bao giờ suy suyển Quốc Lễ Thù Ân, trần thiết từ Nam Quan giới tuyến Xuống Biển Đông đến tận mũi Cà Mau Việt Nam ta tay nắm vững con tàu Vượt tất cả mọi phong ba bão táp Quốc Lễ Thù Ân, dựng trên cơ ngơi sự nghiệp Đời đời Ông Cha ra sức đắp xây Đời đời con cháu tay nắm chặt tay Cho toàn vẹn nghĩa đáp ân đền Tình Sông Núi Rợp cờ bay lung linh Hồn Lịch Sử Khí hùng thiêng kết tụ giống Lạc Hồng Đỉnh Trường Sơn nghe triều sóng Biển Đông Mũi Cà Mau thấu Nam Quan cửa ải Liền biển liền bờ, nối liền biên giới Liền núi liền sông, thạch trụ giang sơn Năm ngàn năm trước, một tấc không mòn Năm ngàn năm sau, một ly không chuyển Quốc Lễ Thù Ân, triệu triệu con tim, đồng thanh lên tiếng Quốc Lễ Thù Ân, triệu triệu con người, dị khẩu đồng âm Quốc Lễ Thù Ân, toàn thể Dân tộc Việt Nam dõng dạc vang lên Đất nước nầy, Non sông nầy, đời đời bất diệt. Tháng 6 – 2010 TNT Mặc Giang macgiang@y7mail.com Còn đó Vu Lan Mỗi Mùa Hiếu Hạnh lại băng ngang Tôi đứng xa xa nhớ lạ lùng Nhìn thấy người ta dìu phụ mẫu Còn mình lành lạnh thoáng bâng khuâng Mỗi Mùa Hiếu Hạnh áo cài hoa Bông Đỏ xinh xinh mắt sáng lòa Bông Trắng rưng rưng tràn ngấn lệ Cũng Hồng cũng Trắng cũng cài hoa Thương Bông hồng Đỏ quá đi thôi Nhưng chẳng có ai cho nữa rồi Tôi tự tìm hoa ra viếng mộ Bông Hồng dâng Mẹ, Mẹ à ơi Tôi vào dự Lễ Hội Vu Lan Nghi ngút trầm hương quyện khói nhang Chuông mõ trang nghiêm hòa tụng niệm Cầu xin mẹ thoát cõi lầm than Tôi nghe tiếng vọng Hội Vu Lan Xin chắp tay hoa dâng trước thềm Khấn nguyện Mẹ, hoa khai Lạc Quốc Đền ơn muôn một nghĩa Từ Thân Thế rồi Mùa Hiếu Hạnh đi qua Tôi bước lang thang về đến nhà Đến trước bàn thờ nhìn ảnh Mẹ Mẹ ơi, xa Mẹ ngút ngàn xa Bếp lửa thắp lên chẳng đủ hồng Lạnh từ ngoài đến sâu trong lòng Lạnh băng đi xuống thềm băng giá Tuyết đóng cục hòn gõ vỡ toang Bông đỏ, Mẹ đem đi mất rồi Còn con bông trắng kiếp đơn côi Con mang đến cuối đời cô lữ Nhắm mắt còn kêu tiếng Mẹ ơi Nhắm mắt, nghĩa là hết Trắng Hồng Kìa xem bóng nguyệt giữa dòng sông Mẹ đi, con lại đi theo Mẹ Mẫu Tử đôi bờ, hỏi sắc không Nhưng đời còn đó Hội Vu Lan Cửa tử đi qua thật bẽ bàng Nghĩa đáp ân đền ơn hiếu hạnh Mong sao nhân thế hiểu, đừng quên !!! Tháng 6 – 2010 TNT Mặc Giang macgiang@y7mail.com Hoa Trắng thôi cài Lại Bông hồng Trắng áo cài hoa Mắt chị rưng rưng thấm lệ nhòa Trông ánh mắt anh kỳ lạ quá Và em chằm chặm chiếc “mù soa” Bông Trắng là gì thế hở anh Buồn buồn chị lặng ngó loanh quanh Ngậm ngùi em cuốn tròn khăn lệ Màu Trắng hoa cài, trắng tuổi xanh Không ai chia sẻ hết niềm đau Mỗi một niềm đau khác sắc màu Anh, chị, em đều cùng mất Mẹ Mỗi người riêng rẽ một chiều sâu Màu Trắng hoa cài, áo trắng hoa Một Mùa Hiếu Hạnh lại đi qua Tâm hương, nguyện Đức Từ lân mẫn Cứu Mẹ chúng con thoát hải hà Bông Hồng, Bông Trắng, Trắng Hồng Hoa Hồng Trắng còn đâu những đậm đà Xin chắp tay hoa dâng trước Phật Từ bi cứu độ mọi can qua Nuôi con, chắc Mẹ khổ vì con Trần thế lao lung sống cõi còm Nghiệp dĩ chất chồng sao tránh khỏi Đàn con khôn lớn, tội cao hơn Đó là chưa nói sinh con ra Đau thấu trời xanh, xé thịt da Mở mắt chào đời con khóc ré Mẹ cười sung sướng con tôi a “Ba năm bồng ẵm cảm ơn Cha Chín tháng cưu mang nhờ Đức Mẹ” Khuyên răn giáo dưỡng tình Phụ Tử Chén cơm manh áo nghĩa Mẫu Từ Những tưởng đời mình diễm phúc thôi Có Cha có Mẹ mãi trong đời Nào ngờ sinh tử vừa khua nhịp Bông Trắng cài hoa, trắng cuộc đời Nói nữa làm chi nghĩa đáp đền Một còn không có, huống mông mênh Công Cha như Núi hơn trời đất Nghĩa Mẹ Biển Đông sóng gập ghềnh Hoa Trắng cài lên trên áo ai Như sương thấm lạnh trắng đêm dài Thao thức thâu canh thương nhớ Mẹ Nước mắt lưng tròng đẩy giọt cay Hoa Trắng sẻ chia với những ai Lệ mòn như áo đã mòn vai Hai vai tiếp tục xin gồng gánh Gánh kiếp đơn côi mãi tháng ngày Đã gọi là xin chia sẻ mà Mỗi Mùa Hiếu Hạnh lại đi qua Nói không sâu nặng làm sao thấm Càng thấm càng thương nhớ Mẹ Cha Ơn Cha như Núi, xin đừng quên Đức Mẹ biển Đông, nguyện đáp đền Ghi nhớ suốt đời, và cẩn trọng Hương hồn Cha Mẹ mới bằng an Hiểu rõ đủ rồi, hở chị nghe Còn em, thôi khóc nữa chi hè Và anh, hãy xứng là nam tử Hoa Trắng thôi cài cũng thế nha !!! Tháng 6 – 2010 TNT Mặc Giang macgiang@y7mail.com Bông Hồng, một đóa em mang Bông Hồng một đóa em mang Còn Mẹ là nhất trần gian trên đời Ở gần hay ở xa xôi Thường xuyên hỏi Mẹ những lời Mẹ yêu Bông Hồng một đóa nâng niu Như ru khúc nhạc cầu kiều mến thương “Mẹ già như chuối ba hương Như xôi nếp một, như đường mía lau” Mẹ già như thể hương cau Như đồng lúa chín, như bàu hoa sen Mẹ già như gió trước đèn Em ơi, hãy giữ giữa thềm hoang vu Mẹ già như lá mùa thu Coi chừng Thần Tử lù lù lùa qua Mẹ già như ánh châu pha Sao kia rơi rụng ngân hà lạnh băng Bông Hồng một đóa em mang Mỗi Mùa Báo Hiếu Vu Lan lại về Tình Mẹ ôm ấp ủ ê Đói no ấm lạnh vỗ về nghe em Bông Hồng một đóa quen quen Em còn diễm phúc Mẹ Hiền em ơi “Đêm đêm thắp ngọn đèn trời Cầu cho Mẹ sống suốt đời với con” Nhớ nghe, nước chảy đá mòn Huống chi da thịt cõi còm phù sinh Nhớ nghe, nước chảy đầu ghình Tang thương bãi trắng, sập sình phù sa Nhớ nghe, một cõi ta bà Chẳng qua quán trọ la cà thế thôi Bông Hồng một đóa em ơi Nhớ thương yêu Mẹ suốt đời không phai Bông Hồng một đóa em cài Gắn trên tuyệt đỉnh phương đài Mẹ Thương Bông Hồng một đóa Song Đường Mẹ là tất cả tình thương con người Bông Hồng còn nở nụ cười Em còn có Mẹ, nhất đời nghe em ! Tháng 6 – 2010 TNT Mặc Giang macgiang@y7mail.com Bông Hồng, một đóa nâng niu Bông Hồng một đóa nâng niu Em còn diễm phúc Mẹ yêu trong đời Chỉ cần thương mẹ mà thôi Không cần lựa tiếng lựa lời nghe em Thỉnh thoảng Em nên ngồi bên Mẹ Cầm tay Mẹ thật lâu Em im lặng cúi đầu Rồi nhìn vào mắt Mẹ Mẹ ơi Con muốn thưa Mẹ một tiếng Nói với Mẹ một câu Một câu Tưởng rằng bình thường Quen thuộc quá Xa lạ gì Mẹ sẽ bảo Con muốn nói gì Con cứ nói đi Em nắm tay Mẹ thật chặt Rồi nói Mẹ ơi, “Mẹ có biết rằng, con thương Mẹ lắm không” Mẹ sẽ nhìn em mỉm cười Và nước mắt của Mẹ sẽ ứa ra Em có ngạc nhiên không Tại sao như thế vậy cà Tại sao như thế vậy ta Bởi vì Mẹ thương biển rộng hải hà Tình Mẹ sâu nặng bao la đất trời Mẹ thương tuyệt đỉnh cao vời Tình Mẹ tuyệt tác không lời hết đâu Mẹ thương một cõi nhiệm mầu Luôn ghi nhớ mãi trong đầu nghe em Em đừng cho rằng sao tôi nói quá Tôi không nói quá đâu Nếu một mai, lỡ có gì thì em sẽ biết Thế nào cũng có một ngày Ngày ấy thật bất ngờ Không hẹn thời gian Không hẹn không gian Nhưng một khi đã tới là nó tới Trời chẳng cứu được Đất chẳng cứu được Chẳng có một vị thiêng liêng nào cứu được Huống chi y khoa, bác sĩ, y tá, thuốc thang Thuốc Bắc, thuốc Nam Hay mọi phương cách của trần gian và thế gian Đến lúc Mẹ đi là Mẹ phải đi Không từ tạ Không một lời Buông tay Nhắm mắt Vĩnh viễn Vĩnh biệt Muôn trùng Khi Mẹ em đã đi rồi Em không còn Mẹ nữa Kể từ giờ phút đó Ngay thời điểm hôm đó Em sẽ hiểu ra Em sẽ nhận ra Tôi nói chưa hết đâu Hỏi ai đếm được mưa ngâu Dù dài dù ngắn giọt châu chưa mòn Hỏi ai đếm được héo hon Dù rơi dù rụng tâm hồn nhớ thương Hỏi ai đếm được nghê thường Bên cầu Ái Tử mờ sương cuối chiều Ngồi trong quán trọ cô liêu Mỗi khi nhớ Mẹ, chín chiều ruột đau Chiều này Hoa Trắng phai màu Chiều kia Hoa Đỏ gởi tàu trần gian Chiều này gợn bóng suối vàng Chiều kia nhớ Mẹ gởi ngàn thiên thu Chiều này gợn áng mây mù Chiều kia mây trắng lù lù không tan Em tìm trên cõi Thiên Đàng Hay tìm trên cõi Lạc Bang nhiệm mầu Nhưng em chẳng thấy Mẹ đâu Bởi không còn Mẹ, hết rồi nghe em! Tháng 6 – 2010 TNT Mặc Giang macgiang@y7mail.com Mẹ Cha là nhất trần gian Bao nhiêu sách vở viết về Tình Mẹ Bao nhiêu chữ nghĩa viết về Công Cha Dù có nhiều như vũ trụ bao la Cũng không thể diễn tả hết được Ơn Cha Nghĩa Mẹ Khi nhớ Mẹ, ta thầm kêu khe khẽ Mẹ ơi Mẹ, con nhớ Mẹ khôn nguôi Biển Đông dù cạn sóng mòi Nhưng con không cạn một đời Mẹ Thương Khi nhớ Cha, ta thầm vương Núi Thái Sông Núi kia, hỏi mấy ải sơn khê Trèo trên tột đỉnh ước thề Băng đèo vượt dốc không hề kêu than Nhớ Ơn Cha, ta dọc ngang trời rộng Nhớ Đức Mẹ, ta bương chải sông dài Bông Hồng một đóa thôi cài Bông Trắng rơi rụng phơi đài dặm băng Nhìn kia, con nước lăn tăn Trôi đi đâu nữa cũng căn cội nguồn Nhìn kia, én liệng mây truông Ai trông cánh én tỏ tường chi ai Chim có Tổ, hoa cài mấy đóa Người có Tông, mấy cánh hoa cài Bông Hồng một cánh trên tay Bông Trắng một đóa lệ dài thiên thu Trong vũ trụ, có một cõi nhiệm mầu nào đó Ta tôn thờ Đức Mẹ tận trên cao Trong càn khôn, có một cõi thiêng thiêng nào đó Ta tôn thờ Ơn Cha tận tột cùng Dù cho khắp cả thỉ chung Cũng không chứa hết vô cùng Mẹ Cha Dù cho vạn thể thiên hà Cũng không thế sánh Mẹ Cha tuyệt vời Mẹ Cha là nhất trên đời Mẹ Cha vượt cả đất trời mênh mông Mẹ Cha là nhất vô song Mẹ Cha vượt cả sắc dòng thời gian Mẹ Cha là nhất trần gian… Tháng 6 – 2010 TNT Mặc Giang macgiang@y7mail.com Nhờ Hội Vu Lan Mỗi độ Vu Lan nhớ Mẹ hiền Nhớ thương một mái ấm đoàn viên Không sao có được từ khi ấy Uống cạn biết bao nhiêu nỗi niềm Mỗi độ Vu Lan bỗng nhớ nhà Ôi chao nhớ quá nhũn lòng ta Nhũn mềm như bún đời phiêu lữ Quán trọ trần gian có đậm đà Mỗi độ Vu Lan bỗng nhớ quê Bao năm xa xứ vẫn chưa về Chuông chùa vang vọng khi còn bé Mấy chục năm trường tôi vẫn nghe Nghe, để biết rằng Mùa Hiếu Hạnh Cái Mùa Báo Hiếu của thiêng liêng Một khi đã mất thì vô vọng Hoa Trắng, trắng cành, trắng vĩnh miên Nghe, để biết rằng Mùa Thắng Hội Cái Mùa cứu độ mọi âm linh Tôi xin kính cẩn thành tâm nhất Trong đó có chung Cha Mẹ mình Nhớ xưa, chính Đức Mục Kiền Liên Đắc đạo chân thân thật diệu huyền Vận dụng thần thông không cứu nổi Còn tôi phước mỏng, tội vô biên Chân thành đảnh lễ Đức Từ Bi Phật Pháp nhiệm mầu, xin chứng tri Cứu tế hàm linh và tất cả Mẹ Cha thoát khỏi mọi A Tỳ Nguyện cầu quy hướng Hội Vu Lan Hiếu Hạnh hòa theo Ánh Đạo Vàng Sống trọn vẹn con hiền cháu thảo Từ bi thấm nhuận khắp nhân gian Nguyện cầu quy hướng Đạo Bồ Đề Đày ải lâu rồi đừng ngủ mê Biển khổ quay đầu là bỉ ngạn Đường xưa lối cũ dắt nhau về Nương nhờ từ Pháp Hội Vu Lan Pháp cổ trầm hùng đã vọng vang Trên thấu thiên đường, dưới địa ngục Chúng sanh thức tỉnh mọi nguy nàn Thầm cảm thâm ân Đức Phụ Từ Đàn con lạc lõng lại dễ duôi Lang thang lặn hụp trong ba cõi Đức Phật Từ Bi, mỉm miệng cười. Tháng 6 – 2010 TNT Mặc Giang macgiang@y7mail.com Hoa Hồng muôn thuở Hai tay ôm ấp Hoa Hồng Xin dâng cho Mẹ ấm nồng nghĩa ân Còn Mẹ, diễm phúc vô ngần Thiên Đường chẳng muốn, trần gian chẳng màng Hoa Hồng đỏ thắm con mang Tình thương của Mẹ chứa chan nhiệm mầu Trả đời tất cả minh châu Chỉ cần bên Mẹ, gục đầu ấp yêu Nhìn Mẹ, không cần nói nhiều Mà sao trời đất yêu kiều Mẹ ơi Kìa trông ánh mắt Mẹ tôi Ngàn sao lấp lánh, trăng soi thiên hà Nhìn Mẹ bằng thịt bằng da Kim ngân ẩn hiện, châu pha đong đầy Con ôm diễm phúc trong tay Để không vụt khỏi có ngày chia xa Đừng có ngày ấy Mẹ nha Dù ai đổi cả Ta Bà cũng không Đừng có ngày ấy nghe hông Dù ai đổi cả Tiên bồng chẳng cam Mẹ còn, hơn cõi Thiên Đàng Huống chi cái cảnh trần gian sá gì Cuộc đời sung sướng quá đi Tôi xin tất cả cũng vì Mẹ yêu Mẹ yêu, cần nói chi nhiều Nhìn Mẹ sẽ biết Mẹ yêu là gì Mẹ yêu, cần nói nhiều chi Ôm hai tay Mẹ, biết gì Mẹ Thương Tôi xin đổi cả vô thường Chỉ xin giữ lại Song Đường mà thôi Tôi xin đổi cả đất trời Chỉ xin giữ lại Mẹ tôi vô cùng Hai tay nâng đóa Hoa Hồng Hoa Hồng muôn thuở ấm lòng Mẹ Thương. Tháng 6 – 2010 TNT Mặc Giang macgiang@y7mail.com Cánh Hoa thiên thu Con xin nâng đóa Hoa Hồng Dâng lên cho Mẹ ấm lòng mẫu thân Mẹ là cao cả từ ân Cho con vững bước phong trần nhân gian Mẹ là cao quý muôn ngàn Cho con thước ngọc leo thang vào đời Hoa Hồng một đóa tuyệt vời Dâng lên cho Mẹ những lời Mẹ thương « Mẹ là hoa, Mẹ là hương Mẹ là nguồn cội tình thương nhiệm mầu » Mẹ là vị ngọt nếp xôi Vị thanh hoa bưởi, vị bồi hoa cau Cho con từ thuở ban đầu Để con vững lái con tàu nghĩa ân Hoa Hồng dâng tặng Mẫu thân Cuộc đời còn Mẹ phước phần nào hơn Mẹ là dấu ngọc điểm son Cho con châu thể tâm hồn trinh nguyên Mẹ là mầu nhiệm tay tiên Cho con trọn vẹn bình yên an lành Hoa Hồng một đóa tinh anh Xin dâng lên Mẹ lòng thành cháu con Cuộc đời chẳng có gì hơn Bằng hình bóng Mẹ vẫn còn trần gian Con xin đánh đổi bạc vàng Con xin đánh đổi cả ngàn thiên thu Để cho còn Mẹ, dẫu dù Trời long đất lở mây mù bủa giăng Tình Mẹ không thể lượng cân Càn khôn vũ trụ phù vân sá gì Lòng Mẹ mà nhớ li ti Hư vô trùm khắp khắc ghi chưa đầy Nhân Mùa Hiếu Hạnh về đây Xin dâng lên Mẹ, Hoa này thiên thu.
Con đường Bồ Tát và xã hội hiện đại Phật (lý tưởng đạt đến của Bồ tát), bậc thành tựu tất cả mọi khả năng có thể có của một con người, được gọi là Lưỡng Túc Tôn, bậc đã thành tựu viên mãn hai sự tích tập trí tuệ (tự giác) và sự tích tập phước đức phụng sự chúng sinh (giác tha), nghĩa là bậc Trí và Bi trọn vẹn. I.Ý nghĩa Bồ tát Bồ tát, từ người mới bắt đầu (sơ phát tâm) cho đến những vị dã nhiều đời sống theo hạnh Bồ tát (Đại Bồ tát) đều có một hướng đi rõ rệt: nỗ lực sống giải thoát và giác ngộ bằng chính cuộc đời mình và dùng cuộc đời đó để giúp đỡ những người khác giải thoát và giác ngộ, và hơn nữa, chính trong nỗ lực giúp đỡ những người khác giải thoát và giác ngộ mà vị ấy giải thoát và giác ngộ. Như vậy, Bồ tát có hai công việc chính: - Tự mình giải thoát và giác ngộ, đây là công việc của trí tuệ soi thấy tánh không hay vô tự tánh của tất cả các hiện tượng (các pháp), của tất cả không gian và thời gian. Công việc này được gọi là tích tập trí tuệ. - Phụng sự chúng sinh (để họ giải thoát và giác ngộ), đây là công việc của lòng đại bi. Sở dĩ gọi là “đại”, bởi vì đó không phải là công việc của một đời mà là công việc của một số đời bằng số đời của tất cả chúng sinh, công việc của một đời sống “không bỏ chúng sinh” và do đó mà “không sợ sinh tử luân hồi”. Phụng sự, làm lợi lạc cho chúng sinh trải qua nhiều đời, trong mọi mặt, công việc này được gọi là tích tập phước đức. Và cũng vì điều này Bồ tát được gọi là “Anh hùng”. Bởi vậy, Phật (lý tưởng đạt đến của Bồ tát), bậc thành tựu tất cả mọi khả năng có thể có của một con người, được gọi là Lưỡng Túc Tôn, bậc đã thành tựu viên mãn hai sự tích tập trí tuệ (tự giác) và sự tích tập phước đức phụng sự chúng sinh (giác tha), nghĩa là bậc Trí và Bi trọn vẹn. Cũng do sự tích tập phước đức mà một vị Phật có Sắc thân với đủ 32 tướng tốt, và do sự tích tập trí tuệ vị ấy có Pháp thân, sự giải thoát tự do rốt ráo, đồng nhất giữa tất cả những vị Phật. Bồ tát là một đời sống hòa hợp được hai cái mâu thuẫn: một mặt nỗ lực giải thoát khỏi sinh tử, mặt khác không lìa bỏ sinh tử. Giải thoát sinh tử bằng tánh không (sự thật vô ngã và vô pháp) đồng thời không bỏ sinh tử vì lòng đại bi. Như thế, trên con đường Bồ tát cuối cùng hai cái tưởng chừng như mâu thuẫn tánh không và đại bi trở thành một, bất khả phân và Bồ tát hòa hợp được hai phương diện mâu thuẫn này là nhờ phương tiện thiện xảo. Nhưng cũng chính từ phương tiện thiện xảo này, với một trí tuệ sáu sắc và một lòng bi bao la, Bồ tát thấy được ý nghĩa của sinh tử. Sinh tử không phải là cái gì đáng ghét và ghê gớm như một đống rác hôi hám nên vứt ra ngoài càng sớm càng tốt, mà rác cũng có cái ích lợi của nó; đây là mặt tích cực của sinh tử trên con đường thành Phật. Cũng do đó mà Bồ tát có sự nhớ ơn đối với sinh tử, với chúng sinh, và trong hạnh Bồ tát có bao hàm phần nào sự nhớ ơn đó: “Nếu thấy cái Vô vi (vô sinh, tánh không, Niết bàn) mà nhập chánh vị thì không còn có thể phát tâm vô thượng Bồ đề được nữa. Tuy nhiên, người sống giữa những cái hữu vi, trong những nẻo phiền não, dù chưa thấy chân lý rốt ráo, cũng có thể thật sự phát tâm Bồ đề. Ví như chỗ đất cao không thể sinh hoa sen. Nơi bùn lầy ẩm thấp mới sinh hoa ấy. Như vậy thấy pháp vô vi rồi nhập chánh vị rốt cuộc chẳng còn sinh được những phẩm tính Phật. Trong bùn lầy phiền não mới có chúng sinh khởi sinh những phẩm tính Phật. Lại như gieo hạt giống giữa không trung, rốt cuộc chẳng sinh được, ở đất phân bùn mới tốt tươi... Thế nên phải biết: Hết thảy phiền não là hạt giống Như Lai. Ví như không lặn xuống biển cả thì không thể được ngọc quý vô giá, cũng vậy không vào biển cả phiền não thì không thể được Nhất Thiết Trí vô giá (Kinh Duy Ma Cật – phẩm Phật đạo). Ở mức độ bình thường của con người, có thể nói rằng Bồ tát là người bên trong thì hiểu và thâm nhập tánh không, an trụ trong tánh không, bên ngoài thì hoạt động trong thế giới hiện tượng. Bồ tát là người sống trong thế giới sai biệt, nhưng trong tâm thì tương ưng với tánh không, do đó mà không phân biệt, không động, như kinh Duy Ma Cật diễn tả: Hay khéo phân biệt tướng các pháp (Mà) nơi đệ nhất nghĩa (tánh không, pháp tánh) thường không động. Chúng ta thấy trong lịch sử Phật giáo Việt Nam có những gương mặt tiêu biểu rõ nét cho sự nhập thế tích cực đồng thời tâm thức rất giải tháot như Thái sư Khuông Việt, các Thiền sư Vạn Hạnh, Trần Nhân Tông, Thiền sư Hương Hải... chúng ta cũng thấy cuốn kinh được dịch đầu tiên ở nước ta là Lục Độ Tập Kinh (theo sự khảo cứu của học giả Lê Mạnh Thát), một kinh điển nói về hạnh Bồ tát (Lục độ). Có lẽ vì thế mà động lực của dòng chảy Phật giáo Việt Nam là con đường Bồ tát chăng? Và một vị chỉ mới cách đây 40 năm mà chúng ta tôn vinh là Bồ tát Quảng Đức, khi ngài tự thiêu để bảo vệ Phật pháp, hình ảnh ngài ngồi trong lửa mà nét mặt vẫn bình thản, nếu không nói là vui tươi, đã dạy cho chúng ta ít nhiều về Bồ tát: ngồi trong biển lửa sinh tử mà vẫn an trụ trong lòng pháp tánh (hay tánh không) nên vẫn điềm nhiên bất động. Hình ảnh của ngài đúng như hai câu thơ của Thiền sư Ngộ Ấn ở thế kỷ XI Trên non ngọc cháy màu thường thắm Lò lửa hoa sen nở vẫn tươi. (Xem thêm Nguyễn Lang, Việt Nam Phật giáo sử luận) II.Tính cách của Bồ tát Dĩ nhiên chúng ta không thể nào nói hết những phẩm tính của Bồ tát, bởi vì trong quá trình tiến hóa qua nhiều kiếp sống, những đức tính nào con người có thể có, đều được khai triển mức hoàn hảo nơi một Bồ tát. Ở đây chúng ta chỉ nêu lên vài tính cách của Bồ tát phù hợp với ngữ cảnh của bài này: 1. Lạc quan không bờ bến. Con đường Bồ tát có thể gian khổ, nhưng con đường đó đặt trên một nền tảng: tôi và tất cả chúng sinh đều có Phật tính, đều sẽ đạt dến mức toàn thiện và toàn diện nhất, tức là thành Phật. Do đó, mọi tương quan tôi có với người này người nọ, dù tốt dù xấu, dù thuận dù nghịch, đều là tương quan của những vị Phật sẽ thành, tương quan tác thành cho nhau giúp nhau thành Phật. Mỗi người là một hoa sen, bởi thế tương quan giữa những con người là tương quan của những vị Phật sẽ thành. Như thế toàn bộ đời sống là một sự “sẽ thành Phật” bao la, rộng khắp, tất cả đều được chuyển hóa trong sự việc “đều sẽ thành Phật” này. Và đây là một nguồn lạc quan không bờ bến của một người theo hạnh Bồ tát. 2. Giúp đỡ và chia xẻ. Bồ tát là người muốn giúp đỡ và chia xẻ với người khác. Thậm chí giải thoát là cái vô hình vô tướng, hầu như không chia xẻ được, vậy mà Bồ tát cũng muốn chia xẻ với mọi người. Bồ tát đạt giải thoát là để chia xẻ với mọi người. Và như vậy giác ngộ trở thành cái gì chung như kinh điển thường nói: “Như thế đến hai muôn Đức Phật đều đồng một tên hiệu Nhật Nguyệt Đăng Minh, lại cùng đồng một họ Phả La Đọa” (kinh Pháp Hoa). Bồ tát không những muốn chia xẻ giải thoát với chúng sinh, mà còn chia xẻ cùng với chúng sinh sự khổ đau, những vấn nạn, cả cuộc sinh tử của chúng sinh. Sự giúp đỡ và chia xẻ này sâu rộng đến mức tột độ thì như Bồ tát Quán Thế Âm: “Trên hợp với Bản Giác Diệu Tâm của mười phương chư Phật, dưới hợp với tất cả chúng sinh trong sáu nẻo, cùng với các chúng sinh đồng một Bi ngưỡng” (Kinh Lăng Nghiêm). 3. Bồ đề tâm. Hiểu đơn giản, Bồ đề tâm là ý nguyện giải thoát và giác ngộ, đồng thời giúp cho người khác giải thoát và giác ngộ. Nói tóm, đó là phụng sự chúng sinh bằng Phật pháp. Đó là cốt lõi mà mọi hành động, mọi ý nghĩ, mọi biến cố trong cuộc đời một Bồ tát quay quanh. Thiết lập cuộc đời trên Bồ đề tâm, lý tưởng của mình, đời một con người thôi lao đao nghiêng ngã, thôi dật dờ phiêu bạt, và trong một mức độ nào, nó đã liên kết được cuộc đời nó với tất cả những cuộc đời của những bậc đã đi trước mình, đã vững vàng và làm được những Phật sự rộng lớn bao la, nói cách khác, theo kinh Hoa Nghiêm, nó đã đặt cuộc đời bèo bọt của nó vào trong “biển đại nguyện” thường trụ của chư đại Bồ tát và chư Phật. 4. Chuyển hóa những khó khăn, trở ngại, thất bại, khổ đau thành chính con đường giải thoát. Bồ tát làm được điều này nhờ phương tiện thiện xảo. III.Con đường Bồ tát và xã hội hiện đại. Thật ra đạo Bồ tát hay hạnh Bồ tát không phải là cái gì xa lạ quá với con người bình thường – giúp đỡ và chia xẻ thì có gì là lạ lùng với cuộc sống bình thường? Từ khi sống trong nhóm bộ lạc cho đến những hình thái xã hội ngày nay, con người luôn luôn thấy trách nhiệm của mình với người khác, luôn luôn gắn liền sự tiến hóa của bản thân mình với sự tiến hóa của cộng đồng. Trong những kinh điển nói về hạnh nguyện Bồ tát, từ ngữ “quyến thuộc của Bồ tát” thường được nhắc đến nhiều. Ngay cả một thực tại cao siêu như đại bi, thì đó cũng là sự khai triển đến mức cùng tột của cái mà chúng ta thường nói hàng ngày là “tình người”. Như vậy, những gì đạo Phật chỉ dạy không phải là một lý thuyết xa lạ được gán ghép một cách giả tạo vào số phận con người, mà trái lại, nó là một số phận tất yếu, con đường tiến hóa tất yếu mà con người phải trải qua, như những đại Bồ tát và những vị Phật là những người tiến hóa, đi trước chúng ta. Tích tập phước đức đơn giản là làm lợi ích cho một ai đó. Như vậy tích tập phước đức chỉ có trong tương quan. Và trong xã hội ngày nay nhờ giao thông, thông tin... những tương quan giữa người trở nên phong phú, đa dạng, mở rộng trên toàn thế giới. Ngay trong việc kiếm sống hàng ngày, trồng lúa gạo, cây trái, hay sản xuất trong nhà máy, phẩm vật đó sẽ đi đến một tỉnh nào hay nước nào trên thế giới. Vậy thì trong việc làm hàng ngày này, bằng sự nghĩ đến lợi ích cho người khác, thêm vào một chút tình thương và lòng bi, thêm vào sự không chấp thủ ta và cái của ta (tích tập trí tuệ: không trụ vào sắc thanh hương vị xúc pháp mà bố thí), chúng ta đã làm một công việc Bồ tát, đó là sự tích tập phước đức và trí tuệ. Và trong đó có niềm vui của phụng sự, niềm vui của tình thương, niềm vui của sự không chấp thủ, niềm vui của con đường Bồ tát. Trong kinh điển, chúng ta thấy có Bồ tát làm cầu đường, làm nghề dược, nghề y... như kinh Hoa Nghiêm, phẩm “Thập Địa” nói: “Đại Bồ tát này vì lợi ích chúng sinh nên học tập đủ tất cả kỹ nghệ thế gian, thông đạt văn tự, toán số, ấn loát. Lại giỏi những thứ văn bút, tán vịnh, ca vũ, kỷ nhạc, diểu cười, đàm luận. Biết rành cách thức kiến trúc, hầm mỏ... tất cả các việc thế gian khác”. Như thế, tất cả mọi người, trong tất cả lĩnh vực đều đã sẵn sàng ở trên mặt bằng của sự tích tập phước đức, chỉ cần thêm vào đó một phần “tinh thần Bồ tát” là công việc ấy trở thành một phần của đạo Bồ tát. Với trí tuệ và lòng bi, công việc hàng ngày trở thành phương tiện thiện xảo để thực hàh đạo Bồ tát. Và với trí tuệ và lòng bi, nghề nghiệp và tài năng của một người trở thành phương tiện để phụng sự, và như vậy được phát triển, nâng cấp trong sự mở rộng thay vì dính mắc vào đó (dính mắc nào cũng gây ra khổ đau), và vì không dính mắc, không chấp chặt, mà chính nghề nghiệp ấy có không gian hoạt động rộng hơn, cái nhìn sáng tạo hơn. Từ đó chúng ta thấy rằng nghề nghiệp, tài năng, công việc, đức tính trở thành “hạnh” như những Bồ tát và những vị Phật đã thành tựu qua hạnh của các ngài, như danh hiệu của ngài đã diễn tả: “Lắng nghe âm thanh cuộc đời” (Bồ tát Quan Thế Âm), “Thiện ý” (Phật Thiện Ý – trong Nghi thức sám hối), những Bồ tát Địa Tạng, Phổ Nhãn, Vô Tận Tạng... những vị Phật Dược Sư, Phật Từ Tạng, Phật Vô Lượng Quang... Theo những kinh điển Đại thừa, thế giới là tánh không, và do đó thế giới là sự tương tác lẫn nhau một cách vô ngại của tất cả mọi hiện tượng. Như vậy, thân khẩu ý của một người có tham dự – dù cố ý hay vô tình, biết – hay không biết – với thế giới. Chính từ cái nhìn như vậy mà chúng ta thấy rằng mỗi người, với thân khẩu ý của mình, đều chịu trách nhiệm với tất cả thế giới, với tất cả những gì xảy ra trong thế giới. Mỗi chúng ta đều có trách nhiệm với toàn bộ thế giới, chúng ta bắt đầu sống trong con đường Bồ tát. Nhìn vào xã hội ngày nay, chúng ta thấy có sự đan xen nhiều lĩnh vực vào trong một lĩnh vực. Một biến cố nào ở một phần nào của thế giới đều ảnh hưởng lên tất cả thế giới. Mỗi người trở nên “quốc tế” hơn, tham gia vào mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, nghĩa là toàn bộ đời sống của thế giới. Dĩ nhiên đó chỉ là cái nhìn trên bề mặt hiện tượng. Nhưng tính cách đan xen tương tác này cũng khiến chúng ta nghĩ đến tính cách trùng trùng duyên khởi vô tận của pháp giới của các đại Bồ tát; đó cũng là môi trường sinh hoạt của các ngài. Ít ra dù chỉ trên mặt hiện tượng, chúng ta cũng phần nào cảm nhận ra tính cách đan xen, tương tác lẫn nhau, tính cách “xã hội hóa”, “toàn cầu hóa”, nghĩa là tính cách mở rộng mọi mặt của cuộc sống bình thường của chúng ta. Và trước sự mở rộng ra của thế giới, chúng ta cảm thấy tâm thức chúng ta cũng cần mở rộng ra, để ôm lấy thế giới, trong chiều rộng cũng như chiều sâu, bằng ánh sáng của trí tuệ và sự sống động ẩn mật của lòng bi. Và phải chăng ôm trọn toàn bộ đời sống bằng trí tuệ và lòng bi như vậy chính là sự an vui, ý nghĩa của con đường Bồ tát? Tất cả đời sống con người đang được đa dạng hóa, toàn cầu hóa. Chúng ta cũng thấy toàn cầu hóa không phải là một nền kinh tế áp đặt luật lệ của mình lên những nền kinh tế khác và không chỉ riêng về mặt kinh tế. Xã hội hóa, toàn cầu hóa là sự tương thông lẫn nhau, chia xẻ với nhau những mặt vật chất và tinh thần, chia xẻ với nhau sự sống vốn hàm chứa nhiều ý nghĩa bí mật. Đó là một quá trình mở rộng phạm vi tâm thức, mở rộng giới hạn cuộc sống của mỗi chúng ta. Trong một thế giới đan xen lẫn nhau, tương tác hỗ tương lẫn nhau như vậy, nếu chúng ta biết mở rộng tâm thức để nhìn, để thấy, để sống thì có lẽ cuộc sống hiện đại là một môi trường – đầy nguy hiểm đồng thời cũng đầy cơ hội – để chúng ta khám phá ra một thế giới rộng lớn hơn (pháp giới) và những gì là lớn, là đại: đại trí, đại bi, đại hạnh... Sự khám phá bằng cách mở rộng tâm thức, làm cho tâm thức thêm tinh tế này sẽ đưa chúng ta bước vào một đời sống sâu rộng hơn, bao trùm hơn, mầu nhiệm hơn, đó chính là ý nghĩa cuộc đời Bồ tát. Như vậy, đạo Phật giúp chúng ta nâng cấp những tương quan, nhìn thấy ý nghĩa, nội dung chân thật của những tương quan để càng lúc càng đi sâu vào thế giới trùng trùng những tương quan vô tận mà đạo Phật gọi là pháp giới, môi trường sinh hoạt bình thường của những Bồ tát. Đó là đời sống của kinh Hoa Nghiêm: một thế giới trong đó cái Một tương quan với Tất cả và Tất cả tương quan với Một, pháp giới duyên khởi trùng trùng vô tận, pháp giới của sự tương quan vô ngại của Một với Tất cả, Tất cả với Một, và Tất cả với Tất cả. Tóm lại, qua vài phân tích sơ bộ và hẳn có nhiều thiếu sót, chúng ta có thể thấy rằng con đường Bồ tát, con đường dẫn tới sự thành tựu trọn vẹn mọi mặt của con người (con đường thành tựu giác ngộ), không phải là cái gì xa lạ và giả tạo do từ bên ngoài bản thân chúng ta, mà là một cái gì rất gần gũi, rất thân thiết, khia triển từ chính chiều sâu của mỗi chúng ta, nằm trong chính cuộc sống hàng ngày của chúng ta.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét