THÍCH TÂM TRỌNG

THÍCH TÂM TRỌNG
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT

Thứ Tư, 12 tháng 12, 2012

CON NGƯỜI VỚI TÂM, THÂN,THIỆN VÀ ÁC.

CON NGƯỜI VỚI TÂM, THÂN,THIỆN VÀ ÁC. Dân tộc Việt Nam từ ngày lập quốc, đã trải bao thế hệ. 18 đời Vua Hùng Vương đã tạo dựng Ðinh, Lê, Lý, Trần....để bảo vệ và phát huy nền văn hoá cho các từng lớp nhân dân, mà con người là “Linh ư vạn vật”. Trời, Phật đã ban cho con người có bộ óc siêu việt, chúa tể muôn loài, Trời, Phật lại ở trong lòng ta. Phật tại Tâm, người là một vũ trụ thu gọn, nên ông bà ta thường nói : “Vũ trụ giai bị ư ngã, phản thân nhi thành lạc mạc đại yên”, Tức là Vũ Trụ ở trong ta mọi việc đều an vui. Bản chất thật của con người vốn chí thành, ông bà ta thường nói “Chí thành thông thánh”, Lại nói :”Thành giả thiên chi đạo giả”, Tức thành là đạo Trời Phật vậy. -Khi tôi còn thơ ấu, cắp sách đến thầy Ðồ nho, đó là ông Bác, anh của Bồ tôi Oâng thường dậy tôi rằng : Làm người phải sống cho ra người, đói cho sạch, rách cho thơm. Người như ngọc, nhưng ngọc mà không dũa cũng trở thành vô dụng, tức là người tuy là “Linh chi vạn vật” nhưng người phải được giáo dưỡng mới ra con người. Ðạo làm người là căn bản cho nền giáo dục, không theo được đạo làm người thì cũng không thể theo được các Ðạo Phật, Ðạo Cao Ðài, Hoà hảo, Thiên chúa, tin lành...... Thầy tôi còn dậy : “Tiên học lễ, hậu học văn”, Có học mà không có hạnh con người cũng vô dụng. Phải học lễ phép trước, biết tôn sư học đạo, biết các lễ nghi gia giáo, biết tôn ty trật tự, tổ tiên, ông bà, cha mẹ, anh em,...Cho nên các cụ thường nói phải “Kính trên nhường dưới, kính lão đắc tho, ăn quả nhớ kẻ trồng cây, uống nước nhớ nguồn, con chim có tổ, con người có tông”. Nền giáo dục của Á Ðông và nhất là đối với dân tộc Việt Nam là như vậy. Ðó chính là đạo làm người vậy. Không thể viện dẫn bất cứ một lý do nào đó, để tự huỷ diệt nền văn hoá của tiền nhân để lại. Nền giáo dục là căn bản để tạo cho con người phải biết có TÂM và THÂN, hay thể xác và linh hồn, vì con người ngoài tính người hay được gọi là nhân tính, thiên tính, còn có xã hội tính, hợp quần tính và dân tộc tính. Giáo dục là tu luyện hoàn hảo của con người để hướng thượng. Ðức Phật Thích Ca đã tu thành Phật, nhưng ngài lại trở lại nhân gian với hạnh Bồ Tát, để cứu giúp chúng sanh, truyền bá đạo pháp của ngài, để giáo dục con người ác độc trở thành con người có bản ngã lương thiện, biết tu tâm, tích đức, làm lành, lánh dữ. Ðức Phật cũng đã dậy cho ta rằng :”Lấy ân báo oán thì oán tiêu tan, lấy oán báo oán thì oán chồng chất”- hay Khổng Tử cũng đã truyền lại cho ta rằng “Oan oan tương báo, ác giả ác báo” Thiện ác đáo đầu chung hữu báo. QUAN NIỆM THIÊN ÐÀNG HAY ÐỊA NGỤC Cư Sĩ Tuệ Minh Đạo Nguyễn Ðức Can ---00O00--- Tất cả những con người trên thế gian này đang sống giữa quãng đời đua chen, tranh đấu, tìm đủ mọi thủ đoạn để giành hơn thua lẫn nhau, kẻ giầu còn muốn giầu thêm, mọi người từ già đến trẻ, ai ai cũng ngày đêm suy nghĩ, tìm ra trăm phương ngàn kế để lo cho ta, cho gia đình rồi lại lo cho thân bằng quyến thuộc, làm sao cho hơn người khác, cứ như thế ai ai cũng mang trong người cái nghiệp, nghiệp tham, sân si.. Ít có ai nghĩ đến quả báo, một ngày nào đó rồi ta cung phải chết, chỉ gặp một chút nghịch cãnh là hồn lìa khỏi xác. Bạn bè thân hữu như kẻ bạn đường, vàng bạc, châu bắu tiền của chỉ là phương tiện sinh nhai nào có chi chắc thật. Cái chác thật là linh hồn, còn gọi là thần thức, chỉ có linh hồn mới có cái thật, tất cả các tôn giáo, Phật Giáo, Cao Ðài Giáo, Hồi Giáo, Hoà Hảo hay Thiên Chúa Giáo, Tin Lành...Các vị thánh nhân sáng lập ra các thuyết giáo, để truyền bá cho mọi người chỉ nhắm mục đích, răn dậy, khuyên bảo cho nhân loại trên thế gian loại bỏ các ý nghĩ và hành động gây nghiệp báo. Thật vậy, nếu ta chịu khó đọc sách, nghiên cứu và dành thì giờ đi nghe thuyết pháp của các vị chân tu truyền giáo, ta có thể cải đổi được bản ngã và hiểu được linh hồn là phần quan trọng đối với ta khi nhắm mắt ngàn thu. Hiện nay chúng ta đang đứng giữa hai con đường, con đường nuôi thân ích kỷ, tham lam, ác độc, si mê dẫn đến địa ngục khổ đău, con dường khác là nuôi tâm vị tha, bố thí, từ bi, sáng suốt dẫn đến thiên đàng, an lạc. Nếu ta theo con đường nuôi thân tội lỗi thi thân chúng ta phạm ba tội : Sát sanh, trọâm cắp và dâm dục. Miệng phạm 4 tội : nói láo, vu oan giá hoạ, nói thêm bớt và chửi rủa. Ý ta cũng phạm 3 lỗi : Tham lam, sân hận và cuồng si. Bây giờ chúng ta quay về nẻo thiện thì thân, miệng và ý sẽ quay đầu trở lại : Thân không sát sanh mà phóng sanh, giúp người không cầu lợi, miệng nói lời chân thật, đứng đắn, hoà giải và dịu dàng, ý không tham lam mà phải bố thí, từ bi và sáng suốt. Ở đây, vì đức mỏng, tội dầy nên chúng ta chưa giám nghĩ đến cảnh niết bàn của chư Phật đầy đủ 4 đức : Chân thường, chơn lạc, chơn ngã, và chơn tịnh mà tôi chỉ bàn đến ác và thiện. khổ và vui để định rõ hai con đường hầu giúp chúng ta cùng đi. Tôi sinh ra và lớn lên hấp thụ trong một gia đình nho giáo, có lẽ đối với hiện tại thì đã lỗi thời - theo quan niệm của một số người - . Nhưng tôi vẫn không bao giờ quên được những điều tôi đã học, học sinh lúc đó đối với thầy rất tôn kính, trọng thầy như cha đẻ, sống thì tết chết chì giỗ, đã là đồng môn thì tất cả đều phải đóng góp để nuôi thầy, tết thầy, và khi thầy chết phải làm giỗ, cùng góp sức với các con đẻ của thầy. Nếu chúng ta cứ lấy ân oán, để trả thù lẫn nhău thì không bao giờ hết. Khổng Tử cũng đã dậy cho ta rằng “Oan oan tương báo, ác giả ác báo, thiện ác đáo đầu chung hữu báo”. Nếu ai cũng cứ nghĩ đến hơn thua, ân oán giang hồ thì nghiệp chướng oan gia cứ chồng chất, không bao giờ hết nạn binh đao, không bao giờ hết được cái tội lỗi của con người đã gây ra. Mạnh Tử cũng đã phát huy chủ thuyết Khổng Tử để khuyên răn người đời cần phải có Ðức. Ðức được tạo dựng bởi Ðạo, Ðạo là một con đường hướng dẫn ta đi đến Chân, Thiện, Mỹ hầu đạt được cái Ðức, cho nên ngài đã nói “Ðạo bất viễn nhân, nhân chi vi đạo nhi viễn nhân, bất khả dĩ vi Ðạo”.Ðạo không thể xa con người, người không thể xa Ðạo, tất cả ai ai trên thế gian này cũng phải có Ðạo. Ðạo đây là đạo ông bà, cha mẹ đã để lại những lời vàng thước ngọc và các Ðạo Phật, Ðạo Cao Ðài, Ðạo Hoà Hảo v..v.. Vậy, nếu ai chưa có Ðạo thì hãy tìm lấy một con đường cho linh hồn khi quá vãng, đó là theo Ðạo, Ðạo Phật là Ðạo từ bi hỷ xả, một trong những lời dậy của Ðức Thế Tôn để ta lấy đó làm kim chỉ nam cho cuộc đời của mình là : “Lấy ân báo oán thì oán tiêu tan. Lấy oán báo oán, thì oán chồng chất.” Ðến đây tôi xin dẫn giải một vài thuyết của các danh nhân : Lão Tử đã nói : “Ngô hữu đại hoạn do ngô hữu thân, nhược ngô vô thân hà hoạn chi hữu” Ta có hoạn lớn do ta có thân, bằng ta không thân làm gì có hoạn. Không phải ta tạo tội mà cứ chịu quả báo nhất định, mà theo Phật dậy, ta còn có phương pháp cải thiện được, không có gì khó, một anh đồ tể nếu biết ăn năn hối cải buông giao xám hối cũng có thể thành Bồ Tát được. Nho giáo có câu : Thế sự vô vạn sự. Ðô lại tâm bất chuyên, Tạc sơn thông đại hải, Phi vụ đỗ thánh thiên. Tạm dịch : Ở đời không có việc gì khó, Ðều do Tâm không chuyên mà thôi, Có thể đục núi thông ra biển, Vén mây núi thấy trời xanh. Lại có câu “Nhất chí đông khí, nhơn định thắng thiên”.Nghĩa là quyết chí thì có một năng lực mạnh, mình định lấy nghiệp mình không phải trời làm cho. Vì chúng ta không chịu làm, cứ xuôi tay theo định mệnh thế thôi, bằng muốân cải thiện cho khỏi tai ương cũng như qủa báo nơi địa ngục, thì nên cố gắng tập ăn chay, không sát sinh, thường ngày tụng kinh niệm Phật, nhờ Phật cầu sanh về Tịnh Ðộ, chớ có chần chờ, thân người khó đặng, Phật Pháp khó gặp, sống ngày nay khó bảo đảm ngày mai, thân như cá cạn nước, có vui gì mà chẳng lo tu. Nếu ai không hiểu được thế nào là địa ngục, linh hồn đi về đâu său khi qua đời, chỉ biết sống cho hiện tại, bồi đaà'e1p cho thể xác không nghĩ đến kiếp său, khi thân xác này trong tích tắc đã qua đi, linh hồn sẽ trở về địa ngục vì ta đã quá tham lam, ích kỷ, gây nhiều tội ác. Ðịa ngục, âm phủ, danh từ này không phải xuất xứ từ các tôn giáo, mặc dầu tôn giáo nào cũng nhìn nhận có địa ngục, âm phủ, ngước lên trời ta thấy bầu trời xanh bao la, thanh bạch, nhìn xuống ta thấy hỗn loạn ô trược. Do đó, người ta có một khái niệm rõ rệt về âm, dương hay thiên đàng, địa ngục vậy. Lão giáo cho rằng :”Khinh quang thắng thượng, trông ám trầm học”. Ðạo Gia Tô gọi là thiên đàng, tất cả các tín đồ Thiên Chúa dường như ai cũng thuộc lòng câu “Ai làm lành tin theo Chúa, được lên thiên đàng, ai làm ác phải bị phạt nơi địa ngục” Phật Giáo nói : “ Ba cõi dục giới, vô sắc giới, cộng chung có 38 cõi trời và theo Duy thức luận : “Nhất thiết do tâm, vạn pháp duy thức”. Thiên đàng hay địa ngục đều do Tâm tạo, cho đến siêu lên giải thoát thành Phật cũng đều do Tâm, những hiện cảnh đang thấy đây là địa ngục, thiên đàng nơi xa xôi thanh bạch, mờ ám kia cũng do Tâm tạo ra cả. Cao Ðài Giáo trong bài xám hối có câu : -Hình bảo lục, cột đồng vòi vọi, -Ðốt lửa hồng, ánh sáng chói loà, -Trói người vào đó xát chà, -Vì chưng hung bạo, đốt nhà bắn săn. Nói tóm lại các tôn giáo đều công nhận và quả quyết rằng có “Ðịa ngục” . Người ngoài các tôn giáo kém lòng tin cũng phải nhận có địa ngục như : Hiện cảnh nơi khám đường, những người có bổn phận điều tra giám sát hiện nay họ đâu có thù oán gì, mà cứ tra tấn đánh đập tội nhân, cũng như quỷ sứ hiện tại há thù hằn gì với vong giả mà cứ cưa xẻ, đánh đập như vậy, đó là oan gia thù đối nhiều kiếp, nên tạo cảnh khám đường cũng như địa ngục nên Nho Giáo có câu “Dương gian âm phủ đồng nhất lý”. Lênh đênh qua cửa trần phù Khéo tu thì nổi, vụng tu thì chìm Thế mà chẳng biết nổi lên ở đâu ? Chìm xuống ở đâu ? Khéo tu những gì ? Và vụng tu là sao ?. Nếu ta chịu khó tìm hiểu, nghiên cứu, tham khảo và chuyên cần đi chùa lễ Phật, đi nghe thuyết giảng của các vị chân tu truyền giáo những điều của các thánh nhân để lại trong các kinh sách, ta có thể tạo cho Tâm có được niềm tin để tu thân, tích đức vậy. Trời Phật ở tại lòng ta Làm lành, lánh dư,õ ấy là đức tin Ta tin có trời, có đất Có mưa, có gió, có ngày, có đêm Hết đêm trời lại bừng sáng./.
Con sẽ sống, mẹ ơi! Mẹ đã vì con mà hết bán nhà này rồi lại tìm mua nhà khác. Cũng phải cả chục lần dời nhà rồi mẹ nhỉ. Mỗi lần dời, nhà mình lại nhỏ hơn, xa hơn... Và cũng vì thế mà ba đã mất việc làm cả chục bận, còn em con cũng không biết bao lần phải chuyển học. Vậy mà mẹ vẫn lạc quan, không hề buồn giận gì con. Lần sau cùng dời nhà về tận vùng bãi rác Đông Thạnh (Hóc Môn, TP.HCM), mẹ còn bảo: “Bãi rác nay đã hóa thành công viên cây xanh rồi đấy con ạ. Chiều, hai mẹ con mình lại ra đó dạo chơi, tập thể dục...”. Những lúc ấy sao con thấy nụ cười của mẹ đẹp và hiền dịu biết bao. Con chưa hiểu hết được cuộc chiến đấu dữ dội của mẹ để cho con được hòa nhập cuộc sống, được đi học, được vui chơi với mọi người. Với một đứa trẻ mang căn bệnh như con thì giữ được mạng sống đã là khó, vậy mà mẹ vẫn tin là con còn làm nên được nhiều điều tốt đẹp nữa, dẫu có lúc niềm tin của mẹ đã bị ông trời “phá đám”. Như năm trước, chỉ còn ba tháng nữa là con thi tốt nghiệp cấp II, vậy mà chỉ sau một cú sượt chân, tất cả đã hóa thành ác mộng: xương đùi con vỡ vụn và bác sĩ đã lạnh lùng tuyên bố: “Kiểu này thì chỉ bó cho liền chứ không còn cơ may đi lại nữa đâu!...”. Sau lần gãy xương thứ 24 ấy, tất nhiên con đã không còn đi lại được nữa. Những sinh hoạt cá nhân của con phải nhờ hết ba rồi đến mẹ, làm con cứ có cảm giác như không còn là mình nữa. Rồi thấy những ánh mắt tò mò của các bạn nhỏ cứ dòm ngó con ngồi thu lu trong nhà, con tức chịu không được! Biết vậy, mẹ đã bán đi đôi bông tai chỉ để tổ chức một bữa họp mặt cho con với đám trẻ con trong xóm, và mẹ cũng hò hét ca hát y như chúng. Con đã rất ngạc nhiên và rơi nước mắt vì điều này. Mẹ vẫn ước nguyện cho con được hòa nhập xã hội và mẹ đã âm thầm để dành tiền mua cho con một chiếc xe lăn. Hôm mang xe về mẹ đã nhìn ngắm nó với một niềm hoan hỉ vô cùng. Hình như những điều mẹ làm cho con đều chưa đủ, mà có lẽ không bao giờ đủ: mẹ còn muốn con biết cả thế giới này. Để làm được điều đó, mẹ lại quyết chí (luôn luôn là như thế) sắm cho con một dàn vi tính, nối mạng (thật sự con đã kêu trời khi mẹ quyết định như thế, vì con biết nhà mình chẳng còn gì). Dàn máy cả chục triệu đồng mà nhà mình thì còn quá nhiều thứ phải lo. Ấy vậy nhưng mẹ không dừng lại, mẹ đã chọn giải pháp mua trả góp. Cứ ngày ngày mẹ dọn một cái quán nhỏ bán lặt vặt trước nhà và đến cuối ngày mẹ lại bỏ những đồng keng vào một ống tiền hình Đôrêmon. Cứ mỗi lần như thế mẹ lại nhìn con tủm tỉm cười. Đến cuối tuần mẹ lại khui con Đôrêmon để lấy tiền trả góp... Cuối cùng thì con cũng đã được 16 tuổi (nhưng chỉ cao 1,1m!). Cuộc sống nhà mình cũng tạm ổn định và con thì đã an phận là một người tật nguyền, với căn bệnh coi như vô phương cứu chữa. Nhưng mẹ thì vẫn nung nấu một ý chí sắt đá rằng chỉ cần có thứ thuốc chữa được bệnh của con thì dù có phải đốt cháy cả thế gian này (như lời mẹ nói) mẹ cũng sẽ kiếm tìm... Có lẽ niềm tin của mẹ cuối cùng rồi cũng được đền đáp. Trong một lần lướt web, con đã tình cờ phát hiện một loại biệt dược có thể giúp tình trạng bệnh của con khá hơn. Tin này làm “chấn động” cả nhà mình, giống như tìm thấy ánh sáng cuối đường hầm. Cả nhà tưng bừng hẳn lên. Nhưng... chưa kịp mừng vui thì nhà mình lại đối mặt với thách thức: một hộp với hai lọ thuốc giá tới 3,7 triệu đồng và một đợt điều trị trong năm lên tới hàng chục triệu... Dẫu vậy ba mẹ vẫn không nản chí, ba mẹ đã tính toán, tạm thời đem chủ quyền nhà đi thế chấp để vay được 20 triệu đồng... Con thật sự rất lo lắng về khoản chi phí điều trị tiếp theo và số nợ của gia đình nữa, nhưng mẹ đã truyền cho con một niềm tin rằng con sẽ sống, sống để trả ơn ba mẹ, hòa nhập cộng đồng và để cảm ơn cuộc đời vì cuộc đời đã cho gia đình mình niềm tin, nghị lực lạ kỳ... ĐỖ MINH HỘI
Con Sư Tử Trọng Pháp Ðầu đời mạt pháp về thời Ðức Phật Tỳ Bà Thi, tại sứ Ba La Nại có một hòn núi tên là Tiên Thánh Sơn. Trong núi thường có các vị Sa môn Bích Chi Phật tu hành. Thường thường có các loài cầm thú hay đến gần gũi để nghe thuyết pháp. Có một con sư tử tên là Kiên Thệ, lông ánh sắc vàng, sức mạnh địch trên một ngàn con. Một khi rống lên thì chim bay phải rớt xuống, loài thú phải ẩn nấp sợ hãi. Một hôm sư tử Kiên Thệ gặp một vị Sa môn Bích Chi Phật oai nghi thanh tịnh, tâm sanh hoan hỷ, nên thường ngày đến thân cận nghe tụng kinh và thuyết pháp. Lúc bấy giờ có một người thợ săn thấy sư tử có lông vàng, nên muốn mưu giết, lột da dâng cho vua để lãnh thưởng. Người thợ săn nghĩ rằng: “Con sư tử này là vua các loài thú, cung tên không thể hại, lưới bẫy không thể sập được, chỉ có cách là giả dạng vị Sa môn, chờ con sư tử nghe quen thời lấy tên độc mà bắn." Nói đoạn liền cạo đầu, mạo hình Sa môn, vào núi ngồi dưới một gốc cây. Lúc ấy, con sư tử Kiên Thệ thấy vị Sa môn, liền vui mừng đến liếm chân quấn quít một bên để nghe thuyết pháp. Người thợ săn dùng tên độc nhắm bắn. Con sư tử bị trúng tên đau quá rống ngược lên, muốn nhảy tới vồ giết vị Sa môn giả kia, nhưng lại nghĩ rằng: “Người này đã mặc áo cà sa là thứ biểu hiện của các Ðức Phật Hiền Thánh trong ba đời, nay ta sát hại thời không khó gì, nhưng tức là ta sát hại biểu tượng của các Ðức Phật”. Nghĩ vậy bèn nuốt giận chịu đau. Một lát sau, thuốc độc ngấm dần, đau đớn quá, sư tử lại muốn nhảy tới vồ nát người thợ săn, nhưng lại nghĩ rằng “Nay ta vồ giết thời không khó gì, nhưng ta sẽ bị các Ðức Phật quở trách và làm người đời không thể phân biệt người lành kẻ ác. Người thợ săn độc ác âm mưu hại ta, nếu ta không nhẫn sẽ bị mọi người oán ghét, phiền não sẽ tăng trưởng. Phiền não tăng trưởng thời sanh tử tăng trưởng, sanh tử tăng trưởng thời sẽ sanh vào các chỗ hiễm địa, sanh vào chỗ hiểm địa thời rời xa bạn lành, xa bạn lành thời không được nghe chánh pháp, không được nghe chánh pháp thời mê mờ nghi loạn, mê mờ nghi loạn thời không được vô thượng chánh đẳng chánh giác. Vậy ta nên quyết không khởi ác tâm. Nghĩ vậy con sư tử liền nói bài kệ rằng: Nguyện tự chịu bỏ thân mạng, Trọn đời không khởi ác tâm. Hại người mặc áo hoại sắc. Nguyện tự chịu bỏ thân mạng, Trọn đời không khởi ác tâm. Ðối với các bậc xuất gia. Nói bài kệ xong liền ngã xuống chết. Người thợ săn cầm dao lột da sư tử đem về dâng vua. Nhưng khi vua nghe đầu đuôi câu chuyện, thấy rõ ác tâm của người thợ săn và rất cảm động trước lòng trọng Tam Bảo của con sư tử, bèn sai chém người thợ săn và đem xác con sư tử làm lễ Trà Tỳ xem như một vị Sa môn vậy. Sư tử Kiên Thệ là tiền thân của Ðức Phật Thích Ca.
CON SƯ TỬ Bấm vào biểu tượng Play để nghe Thuở xưa tại xứ Ấn Độ, dưới chân núi Hy Mã Lạp Sơn, dựa mé sông Hằng, có một đám rừng to rộng lớn rậm hoang, nơi ấy không có dấu chơn người đi tới được. Bấy giờ trong giữa rừng, có một con sư tử chúa cao lớn dị thường, sắc lông vàng rực, không một điểm pha lộn. Con sư tử có bộ lông sang trọng ấy, cai quản trọn khu rừng, cả thảy các thú kia đều là tay sai bộ hạ. Đội binh hùng mạnh của nó gồm có : cọp, beo, voi, gấu, khỉ, vượn, chó, thỏ, trâu v.v… đủ cả các thú rừng do sư tử chúa rèn tập un đúc từ lâu. Với một đạo binh tinh luyện ấy, ủng hộ, chúa sư tử nghinh ngang, không còn phải sợ ai nữa hết. Bao phen thắng trận vẻ vang, lấn đất giành rừng, hiện bây giờ sư tử chúa giàu sang cường thạnh, ranh giới mênh mông ; mồi thịt mỗi ngày ăn không hết kịp, mà lại không có bầy thú nào dém bén mảng đến toan trả thù chi cả. Đã từ lâu rồi, chúa sư tử hưởng phước trong sự bình yên, mỗi buổi có gấu, voi đem đến dâng cho thịt tươi ngon tốt, không còn phải mắc bận đi kiếm ăn nữa. Chúa sư tử rất hãnh diện, trong đám đa thê, hoàng hậu, cung phi, toàn là mỹ nữ xinh đẹp, quanh quẩn tối ngày, chúa sư tử ta không còn biết thời gian bao rộng chi cả. Mỗi khi lâm triều là chúa ta ngự yến thiết tiệc say sưa, no nê, phình bụng, la lối ngông càn, thét vang gầm dội. Đời sống của sư tử chúa chỉ biết sát hại để ăn, giành giựt cho có, dâm dục chơi bời, la lối ngông nghêu, say sưa bất kể. Mỗi ngày bộ hạ chúng nó đi bắt thịt sống ăn tươi, cho đến thịt của đồng bạn con nào chết thì con khác ăn, theo lời sư tử chúa dạy bảo, hễ gặp thịt ăn được là phải ăn đặng sống. Chúng nó không có lòng nhơn chi cả. Sau khi ăn rồi, ngủ đã, thay cho sự ở không, là chúng nó tiêu khiển bằng sự tập dượt võ nghệ, vật cắn lẫn nhau, cùng tìm kiếm thú khác lấn ranh, rượt bắt, thị oai, cướp giựt, không lẽ có ăn, dư của, lại chịu rầu buồn, chúng nó tìm sự vui chơi loại cái, loạn luân bất kể, thấy gặp nô đùa. Đời của chúng nó, đực cái là để chơi vui, loại cái phải là con vật hy sinh thân mạng cho đồng loại, phải chịu cho chúng loại đực thỏa mãn nhục dục, và phải sanh con cho chúng nó ăn thịt nữa. Ngoài sự dâm dục, chúng nó gầm thét vang rền, dậy tai điếc óc, ca hát giỡn la nô đùa chọc ghẹo, chúng nó chửi rủa, khoe khoang, đâm thọc, láo dối chi chi đủ tiếng, chát chúa om sòm. Đã vậy nào thôi, chúng nó lại tinh không lắm, quân sư vượn của chúng nó, lại chế ra nhiều thứ rượu ngon say mạnh, bằng các thứ trái chín, lượm gom chất ủ. Mỗi khi ăn uống, thì có khỉ dâng rượu, gấu dâng thịt ; uống say để được ăn nhiều, la lớn, ngủ ngon, dâm dục mạnh, vật lộn hay, cắn giết giỏi. Uống say để cho hừng chí, vui hăng, liều mạng. Đời của chúng nó dạy xúi cho nhau như vậy, từ nhỏ cho đến lớn, đời kiếp không sửa đổi chi cả, cho nên xã hội của chúng nó, không có gì đông đảo, chẳng có con vật nào được sống tới già. Chúng nó sống trong cuộc đời ngang ngược, hợm hĩnh, giữa sự bao vây thù oán. Còn các con vật nhỏ yếu thì phải sợ sệt lo trốn tránh mãi, không biết làm sao sống được. Một hôm con sư tử chúa bị bệnh cảm gió, vì bởi uống rượu nhiều, ba ngày nhịn đói tóp khô, không ăn uống chi được, bụng vì ăn thịt sống nên sanh chất độc, quặn đau lăn lộn, miệng hôi, lưỡi đắng, uống ăn mửa chảy, tánh mạng rất nguy nan. Bấy giờ chung quanh nó, không còn có một con cọp beo sư tử cái nào cả, cho đến chó cũng không ngơ, mà văng vẳng nghe phía ngoài xa, lại có tiếng gầm thét vui cười trửng giỡn. Khi ấy sư tử chúa tức giận vô cùng. Không có miếng nước nào uống, nó khô cổ khát quá, rán lết lại gần vùng nước dưới khe bên chân núi, nó khòm đầu xuống, uống xong, đuối sức quá, nó nằm mẹp xuội nơi đó, thở mệt, nhắm mắt xuôi đờ. Chẳng biết bao lâu nó mới tỉnh dậy mở mắt ra, nhìn xuống mặt nước, xem thấy gương mặt của nó khô khan, cằn cỗi, như đã quá già, thêm sự ác hung tàn bạo xấu xa, tỏ ra đó là một bộ xương da khủng khiếp. Nó nhìn xem lại thân thể tay chân, gầy đét, ốm o, chỉ còn xương bọc lấy da thôi, không còn sự xinh đẹp mạnh mẽ chi nữa cả. Hôm nay thế lực nó đã tàn, thời vận của nó đã hết, phước đức cũng không ngơ. Nó càng đau càng mệt, lại càng tức giận thù ghét bầy tôi ác gian của nó, nó rán hộc lên vài tiếng kêu gọi, cũng chẳng thấy ai thưa. Nó ậm ực nói thầm trong dạ rằng : để rồi ta mạnh lại, các ngươi sẽ biết tay ta hết thảy ! Nhưng sau câu nói thầm ấy, nó bỗng giựt mình, mà nhận thấy ra rằng : tay chân của nó không rán gượng đứng lên đi đặng. Nó thấy nó nói vô lý quá, vì bịnh của nó sắp chết, và thịt của nó sẽ bị chúng kia xé ăn. Suy nghĩ đến đó nó buồn rầu hối hận lắm, tự nói rằng : Mình không phải giận ghét những kẻ kia mới phải, vì chính mình đã dạy bảo chúng nó như vậy ! Mình đã dạy bảo và làm gương cho chúng nó rằng : Con nào chết, phải xé thịt mà ăn, sống là phải sát sanh, trộm cướp, dâm dục, láo xược, say sưa. Nào mình đã có dạy tập chúng nó làm gương trung nghĩa, hiếu thuận, thương yêu, nuôi bịnh, nhơn ái, nghĩa ân, lễ phép, cùng là sự chơn thật tỉnh táo, khiêm nhượng, trang nghiêm, tinh khiết chi đâu. Bây giờ mình đi phiền trách chúng nó sao cho phải lẽ ; mà tại sao mình không phiền trách lấy mình, vì việc làm sái quấy của mình, mãi để lại về sau, tai hại chung cho tất cả. Đời sống như thế thì đâu còn được yên vui, kẻ nhỏ yếu hiền lương phải sợ sệt khổ chết trước, kẻ ác dữ sức lực thì cũng phải sợ sệt khổ chết sau. Như vậy thì đâu có ai sống mãi, đâu có ai được sống tới già, và cõi đất nầy không bao giờ có đông đảo sống chung nhau được. Nó thấy hối lỗi lắm, nó buồn ghét, trở lại cái tự cao háo thắng, tuổi xuân xanh hợm hĩnh của nó. Chừng ấy nó mới biết là nó đã đi lạc. Con đường liều bướng của nó đã phác họa ra ấy, không có mục đích, và không đi đến đâu được. Nó thấy nó đã cùng đường rồi, không còn biết đi đâu, đến đâu, sau nữa ? Nó thấy nó sẽ chết đi, rồi thì bơ vơ, khổ não, không có một chút chi là của vốn, và nó cũng sẽ không biết nó là ai, ra sao nữa đực, xét đến việc ấy nó sợ lắm ! Nó thấy nó đau là tại ăn thịt, nó mê muội là tại uống rượu, nó ốm già mau là tại dâm dục, tất cả đều thù oán nó, và đều muốn giết nó để giựt quyền, là vì thói quen cướp giựt. Nó hôm nay tắt tiếng khan cổ, và kêu không ai lại, là bởi sự la lối ngông cuồng láo xược. Nó thấy nó đã đau sắp chết, mà hiện tại trong mỗi lúc, nghi sợ như có thú khác ẩn núp báo thù, là do trước kia nó đã lấn ranh đoạt xứ của người ta. Mỗi ngọn gió thổi qua, nó tưởng chừng như có con thú giặc nghịch nào nhảy đến chụp nó. Nằm đó mà cặp mắt nó không phút yên định được ; trước kia nó vui sướng bao nhiêu, là hôm nay nó khổ sầu bấy nhiêu. Nhứt là nó sợ sau khi chết rồi, tội lỗi nó còn để lại đời sau, cả loài vật đều noi gương theo giáo lý ác hung của nó, mà khổ chết vì nhau. Bây giờ nó nghĩ ra một phương pháp đền tội, là nó phải sống, có rán để mà sống, gắng gượng mà sống, phải bò lết sống thêm. Nó phải đi ngược lại con đường của nó, nó phải quên mình hạ thấp xuống nhỏ-nhoi, để cứu vớt đồng loại. Ý định đã quyết, nó bỏ hết, quên hết những sự việc đã qua, nó chỉ còn thấy có con đường khai vạch bởi trí não nó thôi, nó không còn kể gì bịnh nặng nữa, nó hăng- hái can-đảm đứng dậy và bước đi, nó tin tưởng chắc chắn rằng : Phật, thánh, thần tiên vô-hình chi đó, ắt đã vui lòng chứng-kiến ủng-hộ cho sự muốn làm lành của nó, các bậc ấy đã tha thứ xóa bỏ tội-lỗi của nó hết rồi, bây giờ đây chắc là phải thương mến cảm-động nó lắm ; vì nó hứa sẽ nguyện thay thế đấng hóa-sanh, cứu-vớt dắt đường cho chủng-loại. Nó cố rán bước đi, quên cả ốm đau, sự hừng của nó làm cho khắp mình nóng ran, mồ-hôi chảy đượm, tiêu tan chứng bịnh. Nó bước đi với quả tim bồng-bột của nỗi mừng nỗi lo, cũng giống như một ông thầy tu ngồi tham-thiền mới đắc đạo, đứng dậy sắp đi ra dạy đạo cho chúng-sanh ngày mai. Nó lần mò bước đi xiểng-niểng, vào giữa đám rừng sâu, trước sự ngạc-nhiên, dừng lặng, của trăm ngàn con thú khác, đang nhảy múa thét la gầm giỡn. Vì ai ai cũng tưởng là nó sắp chết, đang chết ; chúng nó cũng sắp sẽ đi chia thịt ông chủ nó, thế mà sao chủ nó lại còn sống, mạnh giỏi và đến đây, thuốc chi ở đâu hay như vậy ? Thế là cả bọn thôi chơi, lặng in, xúm nhau bu lại, để hỏi thăm nghe dạy, khi ấy chúa sư-tử mới thốt ra giọng cảm-động, run-run, khàn-khàn mà nói rằng : Hỡi các anh em ! Trước hết các anh em hãy tha thứ tội -lỗi cho tôi, mà đừng kêu gọi xem tôi là chúa tể nữa. Các anh em hãy coi tôi là kẻ có tội trọng hơn ai hết, là thấp nhỏ xấu xa hơn hết ! Bởi vì sao vậy ? Vì hôm nay Tôi đã thức tỉnh giác-ngộ, sám-hối ăn-năn, nên quá ghê sợ quá hổ-thẹn tội-lỗi lắm. Hỡi các anh em! tôi đã lầm, mà dắt dẫn cả anh em đều lầm lộn nữa, thật là tội-lỗi ác quấy của tôi lớn lắm. Từ xưa cho đến nay, bao nhiêu sự chết khổ của đồng loài, là bởi tại tôi, và từ nay sắp đến những về sau, sự chết khổ của đồng loại, cũng là tội ác của tôi nữa. Vậy nên hôm nay tôi sống trở lại, sống để đền tội chuộc tội, cứu vớt tội, bằng cách tôi phải dắt dẫn chỉ đường cho anh em đi, để rửa bớt tội ác của tôi trong muôn một. Hỡi các anh em ! Tôi rất cảm-động mà thấy trong khi tôi đau nặng sắp chết, các anh em lại có lòng nhơn, tha thứ cho thân mạng tôi còn được sống sót đây. Tôi rất xấu-hổ mà thấy lòng nhơn của các anh em ấy, cao thương đáng kính, hơn ác tâm của tôi từ bấy lâu nay. Đến đây sư-tử chúa vừa khóc chảy nước mắt, ngó xuống dàu-dàu, mà chẫm rãi nói thêm rằng : "Lòng nhơn của các anh em ấy tôi quý kính lắm, tôi ước mong sao cho điều lành ấy nẩy –nở giữa sự sống của chúng ta trước hết! Hôm nay tôi chưa phải chết, hay là Trời chưa cho tôi phải chết, vì tôi còn phải xin chuộc tội-lỗi với anh em, tôi rất cám ơn anh em, anh em muốn cho tôi sống, anh em muốn được sự sung-sướng bởi tiếng cám ơn. Có lẽ anh em đều muốn cho tất cả chúng-sanh đều đem lại cho anh em những tiếng cám ơn vang dội mãi mãi, để cho các anh em sung-sướng mãi mãi ! Sự sung-sướng ấy tốt hơn là sự vui chơi trụy –lạc, nơi vật-chất xác thân, ăn thịt, uống rượu, nói dối, dâm-dục, cướp bóc, tự cao, ác xảo. Sự sung-sướng ấy cũng như hôm nay, các anh em được sung-sướng trước mặt tôi, với lời nói hạ mình nhỏ-nhoi thấp-thỏi của tôi, chút ít đây vậy. Muốn có sự sung-sướng đầy dẫy tràn-trề mãi mãi ấy, là các anh em trước hết chớ gọi tôi là loạn óc, là điên rồi nhe ! Không đâu, anh em ! Hôm nay tôi tỉnh lắm, tôi sáng lắm, vì tôi đã mới tìm ra được một con đường khác lạ, hay cao, quý báu lắm, tốt đẹp sạch sẽ mà vĩnh-viễn nữa. Con đường đó trái ngược với con đường đã qua của chúng ta. Tức là con đường thiện vậy : phải, một chữ thiện là đủ rồi. Thế nào gọi là thiện ? Thiện nghĩa là lành, lại cũng như thiện nghệ là lành nghề, thay cho sự chuyên-môn rành lành nghệ nghiệp dối tạm. Chúng ta hôm nay phải chuyên-môn rành lành lẽ sống, cái sống. Tức là cái sống thiện lành kinh-nghiệm, hay là phải thiện lành kinh nghiệm về cái sống ấy. Hỡi các anh em ! Chúng ta phải chữa sửa mau lẹ, hành-vi của chúng ta, chúng ta không nên sát sanh đồng loại nữa, chúng ta không nên dùng cái lớn to sức lực, để ăn thịt uống huyết lẫn nhau nữa, lẽ thật là sống, chúng ta phải sống, tất cả phải sống với ta. Chúng ta đừng gây thù oán vô ích với nhau, bằng sự chặt đứt con đường sống của ai nấy. Chúng ta phải tấn hóa, phải làm cho cõi thú của chúng ta, trở nên lớp cao ráo tốt đẹp, hơn là sự chết khổ xưa nay. Cái sống thiện của chúng ta là phải nhơn-ái. Nhơn ái, nhơn-từ, nhơn-đức, lòng nhơn là phải chứa đức, hiền từ, thương yêu, lòng nhơn phải là nấc thang, cao trên hơn vật-chất, lạc thú ngông càng, lòng nhơn phải là cảnh sống của tất cả. Lòng nhơn phải là áo mặc, nhà cửa món ăn, thuốc uống của chúng ta, là hạnh phúc của cải chúng ta. Hỡi các anh em ! Ai là kẻ đã ngó thấy xa, biết sợ cái đau, cái già, cái chết, cái không thường thất –bại. Nào ai đã nghĩ đến sau khi chết, hoặc không phải trở lại đời sau, hay mặt đất nầy nó sẽ ra sao ? Hỡi các anh em ! Phải sống, phải sống trước đã, phải ở trong lòng nhơn, trong cái sống thiện. Hỡi các anh em ! Nào ai là kẻ đã từng có sự đau-đớn, tức-tối, và như thế là chúng ta nên rộng lượng mà dòm ngó đến kẻ khác, vì họ cũng y như ta vậy, ta đã không muốn cái gì, thì đừng bắt kẻ khác phải chịu cái ấy, mà ta muốn gì và họ không muốn gì ? Trả lời được câu ấy, là ta thấy ra tất cả thế-giới chúng-sanh ngay. Hỡi các bạn ơi ! Cái biết của chúng ta, nó bảo chúng ta phải lo học thôi ! Hỡi các bạn ơi ! Cái tư-tưởng linh-thiêng của chúng ta, nó bảo chúng ta phải có đủ thần-thông vậy ! Hợi các bạn ơi ! Cái sống của chúng ta, nó bảo chúng ta phải sống mãi, và tất cả cũng phải sống y như chúng ta ! Nầy là cái sát- sanh, nó cản trở con đường đi của chúng ta và ai nấy. Nầy là cái trộm cắp, cái dâm-dục, cái nói dối, cái uống rượu, ham vui xấc lối ỷ thị, cũng y như vậy. Nó làm cho chúng ta xa lìa mục – đích cái sống, không còn biết có chi mùi vị; chúng ta càng sa ngã theo nó, càng khó đi đứng vững –vàng. Cái sát sanh làm cho thân ta phải chết, phải bị chúng giết hại lại ! Cái trộm cắp nó sẽ làm cho thân ta phải thiếu-thốn, vì phải bị chúng cắp trộm lại ! Cái tà-dâm nó làm cho thân ta phải chết, mau già, sanh bịnh, phải bị chúng hiếp đáp trở lại ! Cái nói dối, khoe –khoang, đâm-thọc, rủa chửi, nó làm cho trí ta phải hư, và không còn có sự chi chơn thật, nơi cõi của ta, và những kẻ khác với nhau nữa ! Sự say-sưa, cái thứ nước rượu say-sưa, nó sẽ làm cho chúng ta tăng thêm sự tham-lam, sân-giận, si-mê tối đốt, đối với cái sống học tu, lẽ thật, cái phải mà thôi. Biết bao nhiêu muôn ngàn sự tai hại bấy lâu nay, từ trẻ cho đến già, già cũng in như trẻ nhỏ, không ai qua khỏi cái ác, cái ăn, cái lấy, cái chơi, cái nói, cái say, chỉ có bấy nhiêu. Xã- hội của chúng ta chưa từng có ai được sống lâu, đuợc đông nhiều, được trang nghiêm im lặng. Chúng ta chưa từng xúm nhau lại để cùng nhau bàn ra lẽ phải ! Nào chúng ta đã biết đến cái học cái tu ? Cuộc đời của chúng ta mãi vẫn no rồi ngủ, chán nản mỏi mệt mà không ích chi hết. Sao chúng ta chẳng tìm ra một lối sống mới ? Tại sao chúng ta chẳng thay đổi cách sống mới, những hành động mới, cho được có ý nghĩa thích hay hơn ? Hỡi các anh em ! Từ nay chúng ta hãy bắt đầu vào sự việc của cái thiện, cái sống, cái học, cái tu, cùng nhau cố sức tìm sự yên vui ích-lợi, vĩnh-viễn bền dài, để gầy dựng hạnh-phúc tương-lai về sau cho cả thảy. Như vậy mới là thích thú hay ho, cái chết của chúng ta ấy sẽ là không phải chết, vì hành-vi của nó vẫn sống mãi trên đời. Cái sống của chúng, ta sẽ không vị-kỷ, vô dụng, chán nản bởi thời-gian võ-trụ. Chúng ta phải trở nên những ông thầy giáo. Chúng ta phải trở nên những ông thầy tu. Chúng ta làm những ông già sống mãi. Đó là con đường, và chỗ kết cuộc của chúng ta, các bạn ạ ! Tôi tin chắc rằng : sự phát-minh, sự văn-minh, sự tiến-triển do hột giống nhơn lành tốt đẹp của chúng ta, nó sẽ đem lại cho chúng ta những kết-quả an-vui, sau khi thác và trong đời, chúng-sanh ai ai cũng hưởng dùng cất giữ được. Hỡi các bạn ơi ! Đời sống mới của chúng ta hãy bắt đầu thay đổi đi, thật hành mau chóng tức-khắc ngay đi, kẻo rồi chúng ta chết đến, không xem kip những cái kết quả. Hỡi các bạn ơi ! Trước hết với lòng nhơn của chúng ta, chúng-sanh về sau, ắt sẽ kêu gọi tên của cõi chúng ta, là mặt đất nhơn loại loài người, vì nơi cõi ấy có tiếng người người, biết nguòi chớ không có biết mình, tiếng mình của lòng duy-kỷ nữa ! Và những ai được cao thượng hơn, tâm trí rộng lớn hơn, bậc trên, chắc chúng ta sẽ gọi là Trời. Còn bậc nào hoàn toàn giác –ngộ, sẽ được kêu là Phật, là ngôi chánh-giác quý báu hơn hết ! Hỡi các bạn ơi ! Tội –lỗi trong đời, không biết nói sao cho hết, tai hại chẳng biết kể sao cho cùng! Chớ chi tất cả chúng-sanh từ-bi hỷ-xả với nhau, để sống chung tu học, thì tốt đẹp biết bao nhiêu ! Hỡi các bạn ơi ! Tôi muốn sao cho tất cả tâm-đia của chúng ta đều nhỏ rút nhu-nhuyễn mịn-màng, như những hột cát vàng, trải lót trên mặt trần –gian, để nâng cao chứa đựng chúng-sanh về sau, cho họ thành nên quả Phật hết thảy, (ở trên mặt đất cát vàng nhỏ rứt bằngthẳng trong sạch ấy) được vậy tức là tôi sung –sướng lắm ! Hỡi các anh em ôi ! Tôi chỉ muốn đầu tiên trước hết, nơi cõi của loại thú mê-muội vui chơi, tôi sẽ làm một cái chén ngọc, để chứa nước cam-lồ mát-mẻ ! Tôi muốn hy-sinh trải tâm ra làm một cái nhà to lớn, để chứa nuôi học dạy, cho tất cả chúng-sanh, chóng mau thành Phật, thế là tôi sẽ được vui mừng toại nguyện lắm, mà tôi thì không có ước mong vọng cầu chi cho tôi cả. Như thế tức là ý muốn của tôi, ngay trong ngày hôm nay, chúng ta hãy cải -thiện lại hết những tội-lỗi trái ngược của chúng ta, phải khuyến-khích nhau, bằng sự chen đua lẽ phải. Kể từ đây trở đi, ai mà còn tật quấy, là rất tự xấu hổ đối với những nhân vật kia. Trong đời nếu chúng ta mà tự biết chê mình chỗ sai quấy, và biêt khen tán việc tốt phải của người, thì quý báu lắm ; cũng như ai biết hy-sinh mình, để giúp cho kể khác nên thì người ấy tức là bậc Thánh-nhân, đáng cho kẻ đời sau thờ bái, gọi là bậc ông già thầy giáo, tiên-sanh, Trời, Phật, tự họ sẽ tôn-sùng kính-trọng, mãi mãi không bao giờ quên. Sau khi sư – tử chúa nói xong, mệt quá ngất lịm chúi xuống, giây lâu tỉnh dậy, nhìn ngó đồng bạn vẫn còn ngồi im đó, mà hỏi thêm rằng : "Hỡi các bạn ! Các bạn đã nghĩ sao ? Từ nay chúng ta hãy xóa bỏ những giai-cấp tội -lỗi ấy hết đi, chúng ta phải chỉ là chúng-sanh, tất cả với nhau, có một tiếng chúng-sanh thôi. Chỉ có một cái thiện là nền tảng chơn gốc của chúng ta ! Thiện là con đàng dày-đặc êm-ái thông-lưu hơn hết. Sở dĩ hôm nay tôi mới nói đến được lời như thế là bởi tôi gặp phải cảnh cùng đường rồi. Hỡi các bạn ơi ! Tôi cùng đường không phải là chết, mà là cái ác, cái mê -muội; tôi thấy sau khi chết, không còn biết phải đi đâu, ở đâu. Hơn nữa như sự sống hiện-tại đây, quanh-quẩn dốt-nát mãi có bấy nhiêu, tôi đã chán nhàm ghê sợ quá; tôi không còn muốn sống thêm, như trong cảnh xưa nay ấy, tôi không còn muốn sống thêm, như trong cảnh xưa nay ấy, tôi không còn muốn phải nhập thai sanh trở lại, để mang thân của loại thú như vầy. Nhưng mà hỡi các bạn ơi ! Dầu tôi có phải trở lại làm một con cọp con đi nữa, thì cũng chưa chắc còn sống sót được, vì với cái ác, mà tất cả họ sẽ ắt ăn thịt. Như vậy là chúng ta chỉ có một đời kiếp, rồi thôi sao, hỡi các bạn ? Tôi tiếc cái sống quá, tôi muốn sống mãi, chúng ta hãy sống mãi nhe các bạn ! Và như vậy là chúng ta không nên thái-quá bất cập nữa. Từ nay chúng ta nên hãy tập ăn rau trái đạm-bạc, không nên cần dùng nuôi dưỡng sưc lực làm chi nữa. Chúng ta phải học tu, làm gương không sát hại, để cho con đường sống của chúng ta, mỗi kiếp được sanh ra, có chỗ, kéo dài, tu học, cho đến khi hoàn –toàn cao-viễn tột bực, nghỉ-ngơi trọn vẹn !" Chúa sư-tử nói xong, tiếng vừa mới dứt, cả bọn đồng thanh đứng dậy, do thẳng hai tay lên cao, thét lên vang dậy rằng :"Phải, phải lắm ! Hay lắm ! Qúi báu lắm ! Lạ mới thay ! Vui thay ! Chúng tôi đã thấy ra được sự lợi-ích lớn xa ấy rồi, từ nay chúng tôi cúi xin phụng-mạng, từ nay chúng tôi đã được sống, đã biết rỏ nẽo sống, mục-đích của chúng tôi. Chúng tôi rất mang ơn Ngài điểm –hóa, cứu sống chúng tôi muôn ngàn kiếp, và lại thêm sự chỉ đạo cho chúng tôi đi nữa. Vậy xin Đức Ngài hãy an tâm, từ đây trở đi, chúng tôi sẽ cố rán tu học, theo lời Đức Ngài chỉ dạy quý báu ấy. Chúng tôi sẽ không để cho Đức Ngài nhọc tâm, thương-xót, lo-lắng cho chúng tôi thêm nữa ! Chúng tôi xin chơn thành kính trọng, chúc mong cho Đức Ngài được an vui thân mạng, sống mãi với chúng tôi, để dạy bảo cho chúng tôi thêm, đời đời kiếp kiếp, chúng tôi nguyện xin thờ Đức Ngài làm thầy luôn luôn, không hề xa lìa nhau cho đến khi tất cả được thành Phật!". Sau sự đồng tâm phát nguyện của tất cả đó, khu rừng rậm ấy trở nên sáng chói, chông gai hết sạch, mưa nắng điều hòa, gió thanh thổi nhẹ, đực cái phân chia, lớn nhỏ hòa-thuận và bắt đầu từ đấy, dân-cư đông đảo thêm hoài, đạo-đức càng nêu cao chiếu rọi. Đạo-luật của sư tử ban hành với giáo-lý, từ-bi, bác-ái, bình đẳng, thanh-tịnh, hòa-hiệp, sống chung, mà nhóm giác ngộ đầu tiên theo bên chơn sư-tử, là những bậc kiểu-mẫu. Họ sống chúng nhau rất êm ái thuận-hòa, vầy hiệp thành đoàn, dưới sự huấn dạy của sư-tử. Mỗi ngày thầy trò họ nhóm họp dưới gốc cây, hoặc bên bờ suối, để học dạy lẫn nhau. Đói thì kiếm trái cây cùng rau cỏ đỡ dạ qua ngày, họ chỉ dùng tạm để sống tu học trau tâm. Việc làm của họ là giáo-hóa cho nhau, xem xét cho nhau những điều khuyết điểm để chữa sửa chỉ khuyên lẫn nhau. Hễ ai trọn lành trọn phải, là có phận- sự phải dắt-dìu kẻ còn ái quấy thiếu sót. Đời sống của họ là một cuộc đời tịnh-lạc, xứ của họ là xứ tịnh độ, người người đều chất phác hiền-lương, là những bậc siêu-nhơn thoát-tục. Con sư-tử ấy sau khi cảm –hoa xng đồng-loại xứ ấy rồi, bấy giờ nó đã già yếu tật bịnh, nhưng nó cũng rán đi ra xa, giảng đạo rộng lần tới mãi. Nó rán hết sức lực bước chân đi run –rẩy, đi để cứu vớt chúng-sanh. Nó cố rán gân cổ lên to, để thốt ra từ tiếng nói, với giọng khàn-khàn run-run cảm động. Nó nguyện nó sẽ đi đi mãi, nó nói hoài, xác thân dầu có rủ nát dưới cột cây nào cũng được, miễn là chúng-sanh trước mắt nó, được sống, được yên vui tu học, thì nó thỏa lòng lắm. Cũng có những còn vật nhỏ-nhít khờ-dại bướng-bỉnh chẳng tin nghe, làm cho con sư-tử phải chảy nước mắt nhủ khuyên cho đến khi nào tỉnh-ngộ, vâng chịu, thật-hành theo, bấy giờ nó mới yên tâm, lìa ra, đi tới nơi chỗ khác kế đó nữa. Chẳng bao lâu, nó đi được giáp hết cả khu rừng xứ Ấn-Độ, khắp cả loài vật trong rừng, thảy được sống chung nhàn-lạc hạnh-phúc lắm, không còn chia ranh thù oán cắn xé lẫn nhau. Các thú dữ, đã biết ăn lần rau trái, chỉ còn một số ít con non, đang tập ăn thịt thúi chết, bởi tự nó đau bịnh mà thôi, chớ không ai giết hại. Những môn đệ của sư-tử khi đã thành tài rồi, cũng chia ra đi khắo nơi giáo-hoa, càng ngày mối đạo càng lan rộng thanh-hành. Cho đến khi sư-tử ấy bỏ xác rồi, trong chư đệ-tử vẫn tiếp-tục nối chí y như thế. Và cũng nhờ đó mà con đường đạo-đức ấy kéo dài đến đời này; trên bước tiến-triển, từ loài thú đến loài người từ lúc dã-man đến khi văn-minh, mà khởi điểm là ở nơi một chữ thiện vậy. THÍCH GIẢI Triết-lý của bài này là chỉ rõ rằng : cái tâm của ta là chúa tể như sư-tử, vì nhơn-loại có, là do từ trong cái ác mà tiến lần ra. Cái khổ cái chết sẽ làm cho tâm ta lần lần trở nên giác ngộ. Còn quan- quân tướng-tá là các cái ý thức, tình-dục, thọ, tư, trí, tưởng, chí, sắc, hành, khẩu, thân, v.v… các pháp của trong tâm ta vậy. Khi tâm mê thì các pháo đều mê, cũng như chúa ác thì bầy tôi thảy ác. Khi tâm giác thì các pháp đều giác, cũng như chúa thiện thì bầy tôi thảy thiện. Cho nên gọi, mình làm chủ, dạy chúng-sanh của mình là y như thế. Lại cũng giống như Phật Thích-Ca, khi xưa còn làm Thái-tử ở trong cung điện, cao sang tột bực, thịt rượu nữ-sắc, mê muội khác nào sư-tử chúa kia, ngôi vị ấy là của nhiều kiếp tạo gây nên tội-lỗi, một khi Ngài có cái cảm-tưởng giác-ngộ của sự gì, bịnh, chết, tu. Ngài thấy ra được sự tu để dứt trừ tội-lỗi và cứu chữa chúng -sanh. Ngài tạo nên xứ Ấn-Độ, con đường đạo Phật quan-trọng cho cả toàn dân noi dấu, để lại đến ngày nay. Đó tức là sự thành-công của sư-tử vương vậy. Sự tích này thật là một mảnh gương soi đời quý báu vô cùng. Loài vật còn tu, huống chi nhơn loại. Sao chúng ta chưa lo tu hết.
CON TRÂU NHÀ PHẬT Tại các nước nông nghiệp Châu Á như Ấn Độ, Trung Quốc, Việt Nam, v.v…, trải qua hàng ngàn năm, con trâu là hình ảnh quen thuộc, gần gũi và giúp ích như một phần quan trọng trong sinh hoạt thường nhật của người nông dân. Đạo Phật khởi đi từ Ấn Độ và truyền bá sang các nước lân bang trong khu vực Châu Á, cho nên trong truyền thống kinh điển cũng như trong cách dạy đạo từ thời Phật cho đến sau này đều có hình ảnh con trâu hiển hiện. Từ hình ảnh quen thuộc đối với con người đến tính biểu tượng của sự thuần hóa, chăn trâu thật sự là thí dụ điển hình để đưa vào trong phương thức giáo hóa của đạo Phật. Chính vì vậy, việc chăn trâu đã được đề cập đến nhiều lần trong những thời pháp của Đức Phật khi Ngài còn tại thế. Việc chăn trâu cũng đã tiếp tục có mặt trong các phương pháp dạy đạo của chư vị tổ sư, thiền sư qua nhiều thế hệ, tại nhiều quốc độ. * Trâu ví như vọng tâm điên đảo Quá trình thuần hóa trâu để cho nó từ bản chất hung hăng, tàn bạo và dã man như loài thú hoang trở thành hiền hòa, nhẫn nại, siêng năng và chịu phục theo con người là một quá trình không chỉ mang đặc trưng về mặt giáo dục trong thế giới thực dụng thường nghiệm của thế gian mà còn mang tính biểu tượng về mặt giáo hóa và chuyển hóa tâm linh trong thế giới nhà Phật. Trong ý nghĩa đó, tâm vô minh của chúng sinh, của con người với sự si mê của con trâu vốn khởi đi từ một gốc gác vô minh như nhau. Cả hai đều không giác ngộ được tâm như thật của mình. Cả hai đều sống theo vọng tâm điên đảo từ hằng hà sa số kiếp. Cả hai đều bị ông chủ vô minh sai khiến mà không biết. Nhưng cả hai đều vốn sẵn có tánh Phật hay tánh giác siêu việt. Cả hai đều có thể thành tựu giác ngộ và giải thoát. Cả hai đều là Phật sẽ thành. Chính vì vậy, trong Luận Đại Thừa Khởi Tín, Bồ tát Mã Minh đã chỉ rõ tâm chúng sinh chứa đựng hai diệu nghĩa: một là chân tâm tức tâm chân như bất sinh diệt; hai là vọng tâm tức tâm sinh diệt điên đảo. Trâu ví như vọng tâm điên đảo. Người tu tập chuyển hóa tâm giống như kẻ mục đồng chăn trâu, điều ngự vọng tâm sinh diệt để thuần phục nó. Bởi lẽ đó, quá trình tu chứng chính là quá trình chuyển hóa tâm, từ vọng sang chân, từ sinh diệt sang vô sinh diệt, từ mê sang ngộ, từ chúng sinh sang quả vị Phật. Nhưng quá trình chuyển hóa tâm đó, tùy theo căn cơ của người tu mà có đốn tiệm, có cao thấp, có sâu cạn. Tùy theo căn cơ và đối tượng, có khi đức Phật dạy lấy sự nhiếp phục thân khẩu ý qua phương thức giới định làm chuẩn. Có khi đức Phật dạy phép chỉ thẳng lấy sự chiếu kiến tự tánh qua trí tuệ là chính. Đa phần trong các Kinh thuộc Thanh Văn Thừa, đức Phật chỉ pháp điều phục thân tâm qua con đường giới định. Giống như câu chuyện sau đây từ trong Kinh Phóng Ngưu của Bộ Tăng Nhất A Hàm, mà sau này trong Luận Đại Trí Độ, Bồ tát Long Thọ cũng đã thuật lại trong cuốn 2, chương 3 phần giải thích Bà Già Bà. (Xin mở ngoặc để chú thích về danh từ Bà Già Bà. Tiếng Phạn là Bhagavat. Dịch âm theo Hán ngữ là Bạc Già Phạm, Bà Già Phạm, Bà Già Bà. Dịch nghĩa theo Hán ngữ là Hữu Đức, Hữu Thanh Danh, Năng Phá, Thế Tôn. Đây là một trong 10 hiệu của đức Phật gồm: Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn.) * Đức Phật giảng pháp: từ 11 cách chăn trâu Chuyện kể rằng, năm đó, vua Tần Bà Sa La (Bimbisàra) của nước Ma Kiệt Đà (Magadha), một nước ở miền Trung Ấn Độ thời Phật, đã phát tâm hộ trì tứ sự cúng dường cho Phật và 500 vị Tỳ Kheo trọn 3 tháng an cư kiết hạ. Do vậy, nhà vua đã cần đến sự cung cấp sữa trâu của nhiều nhà nuôi trâu trong nước. Vào cuối mùa an cư, vì muốn tạo phước duyên cho những người chăn nuôi trâu, nên vua Tần Bà Sa La đã cho gọi tất cả những người chăn nuôi trâu đến để gặp Phật. Khi được thông báo của nhà vua, nhiều người chăn trâu nói với nhau rằng, nhân dịp đến gặp Phật họ sẽ thử xem lời đồn đức Phật là bậc Nhất Thiết Trí, cái gì cũng biết, có đúng thật hay không. Rồi họ cùng nhau bàn bạc. Nhiều người trong số họ nói rằng, Sa Môn Cồ Đàm sinh ra trong dòng Sát Đế Lợi, lớn lên được học hỏi và tinh thông mọi chuyện, từ tứ thư Vệ Đà đến thiên văn toán số, từ triết học đến tôn giáo, từ giáo dục đến xã hội, từ luận lý đến vấn nạn, cái gì ngài cũng đã biết. Chúng ta không thể đem những vấn đề ấy để trắc nghiệm ngài. Duy chỉ có việc chăn trâu, việc mà từ nhỏ đến lớn ngài chưa từng biết qua, là vấn đề có thể làm khó được ngài. Quyết định như vậy, những người chăn trâu cùng nhau đi đến Tinh Xá Trúc Lâm, nơi Phật và 500 vị Tỳ Kheo đang an cư. Đến nơi, những người chăn trâu nhìn thấy hội chúng đang có mặt đông đảo chư vị Tỳ Kheo, các hàng cư sĩ, Bà La Môn, Sát Đế Lợi, v.v… ngồi ngay ngắn chỉnh tề trong im lặng. Trước mặt hội chúng đông đảo ấy, trên Tòa Kim Cang, đức Phật đang tịnh toạ. Nhìn tướng hảo quang minh, oai đức sáng rỡ, dáng vẻ từ bi, phong cách tự tại như ngọn núi Tu Di sừng sững trang nghiêm của đức Phật, những người chăn trâu liền khởi tâm kính ngưỡng. Họ đến gần, đi ba vòng chung quanh đức Phật, theo nghi cách cung kính của Ấn Độ thời bấy giờ, rồi cùng nhau ngồi xuống một bên. Khi ấy, đại diện của những người chăn trâu hỏi Phật: - Thưa Sa Môn Cồ Đàm, người chăn trâu có mấy điều thành tựu để cho bầy trâu nhiều thêm và an ổn? Đức Phật bình thản trả lời: - Này chư vị, có mười một điều để người chăn trâu làm cho bầy trâu nhiều thêm và an ổn. Những gì là mười một? Đó là biết sắc, biết tướng, biết mổ xẻ, biết che vết thương, biết hun khói, biết đường đi tốt, biết chỗ trâu thích hợp, biết khéo đưa qua sông, biết chỗ an ổn, biết giữ sữa, biết nuôi trâu chúa. Nếu người chăn trâu biết mười một điều này thì có thể làm cho bầy trâu thêm nhiều và an ổn. - Sao lại gọi là biết sắc? Là biết sắc đen, sắc trắng, tạp sắc. - Sao lại gọi là biết tướng? Là biết trâu có tướng tốt hay không có tướng tốt, khi hợp với bầy trâu khác nhân tướng mà biết. - Sao lại gọi là biết mổ xẻ?Là trâu bị các loại trùng hút máu thì vết thương lở ra, mổ xẻ thời trừ hại, thời vui tươi. - Sao lại gọi là biết che vết thương? Là biết lấy vải, cỏ, lá để ngăn ngừa chỗ muỗi mòng chích đốt. - Sao lại gọi là biết hun khói? Hun khói là để trừ muỗi mòng, trâu ở xa thấy khói thì nhắm theo mà về nhà. - Sao lại gọi là biết đường đi? Biết con đường trâu đi về tốt hay xấu. - Sao lại gọi là biết chỗ trâu thích hợp? Là biết làm cho trâu sinh sôi, an ổn, ít bệnh.. - Sao lại gọi là biết khéo đưa qua sông? Biết chỗ dễ vào, dễ qua, không sóng dữ, trùng độc. - Sao lại gọi là biết chỗ an ổn? Biết chỗ ở không có cọp beo, sư tử, ác trùng, độc thú. - Sao lại gọi là biết giữ sữa? Trâu mẹ ái niệm trâu con nên cho sữa. Vì sữa giữ lại một phần nên trâu mẹ vui mừng, thời tiếp nối không khô kiệt, chủ trâu và người chăn trâu ngày ngày có ích. - Sao lại gọi là biết nuôi trâu chúa? Bảo hộ trâu đực lớn, vì nó giữ gìn đàn trâu, nên phải nuôi nấng không để ốm gầy, cho uống dầu mè, trang sức bằng anh lạc, ra dấu hiệu với cái Tù-và sắt, biết cọ xát, khen ngợi, v.v… (Trích Luận Đại Trí Độ, Bồ Tát Long Thọ viết, Cưu Ma La Thập dịch Hán, Thích Thiện Siêu dịch Việt.) Khi những người chăn trâu nghe đức Phật dạy về mười một cách chăn trâu thông thạo như vậy thì rất kính phục. Họ tự nghĩ, cho dù là người chuyên môn chăn trâu với kinh nghiệm dày dạn thì cũng chỉ có thể biết được ba bốn việc là cùng, làm sao có thể biết đến mười một cách chăn trâu như thế. Việc chăn trâu mà ngài còn biết rành như vậy thì các việc khác làm sao ngài không biết. Cho nên, họ tin rằng đức Phật là bậc Nhất Thiết Trí. * tới 11 cách tiến tu đạo nghiệp Nhân những người chăn trâu hỏi về cách chăn trâu, đức Phật đã dạy cho chư vị Tỳ Kheo mười một cách thúc liễm thân tâm, tiến tu đạo nghiệp. Kinh Phóng Ngươu trong Tăng Nhất A Hàm thuật lại lời Phật dạy chư vị Tỳ Kheo như sau: “Cũng vậy, cũng như người chăn trâu, Tỳ kheo thành tựu mười một pháp mà không mất thời tiết, trọn không bị trở ngăn. Tỳ kheo thành tựu mười một pháp như vậy, ngay trong hiện pháp, được nhiều điều lợi ích. Những gì là mười một? Ở đây, Tỳ kheo biết sắc, biết tướng, biết vuốt chải, biết che đậy vết thương, biết xông khói, biết ruộng tốt chỗ có nhiều cỏ, biết điều đáng yêu, biết chọn đường đi, biết chỗ qua sông, biết kính Tỳ kheo trưởng lão mà tùy thời lễ bái. Thế nào là Tỳ kheo biết sắc? Ở đây, Tỳ kheo biết sắc bốn đại, và cũng biết sắc do bốn đại tạo. Đó gọi là Tỳ kheo biết sắc. Thế nào là Tỳ kheo biết tướng? Ở đây, Tỳ kheo biết tướng ngu, biết tướng trí; biết như thật. Như vậy, Tỳ kheo biết tướng. Thế nào là Tỳ kheo biết vuốt chải? Ở đây, Tỳ kheo khi khởi tâm niệm dục tưởng, liền biết xả ly, không thân cận, vĩnh viễn không có dục tưởng. Khi sân tưởng, hại tưởng, các tưởng ác bất thiện khởi lên, liền biết xả ly, không thân cân, vĩnh viễn không có sân tưởng các thứ. Như vậy, Tỳ kheo biết vuốt chải. “Thế nào là Tỳ kheo biết che đậy vết thương? Ở đây, Tỳ kheo khi mắt thấy sắc mà không khởi sắc tưởng, cũng không nhiễm trước, mà làm thanh tịnh nhãn căn; trừ khử các pháp ác bất thiện, sầu ưu, tâm không tham đắm, ở trong đó mà thủ hộ nhãn căn. Cũng vậy, Tỳ kheo khi tai nghe tiếng, mũi ngửi hương, lưỡi nếm vị, thân biết trơn láng, ý biết pháp mà không khởi thức tưởng, cũng không nhiễm trước, mà thanh tịnh ý căn. Như vậy, Tỳ kheo biết che đậy vết thương. Thế nào, Tỳ kheo biết xông khói? Ở đây, Tỳ kheo nói lại cho người khác pháp mà mình đã từng nghe. Như vậy, Tỳ kheo biết xông khói. Thế nào, Tỳ kheo biết ruộng tốt chỗ có nhiều cỏ? Ở đây, Tỳ kheo như thật biết tám phẩm đạo Hiền Thánh. Như vậy, Tỳ kheo biết ruộng tốt chỗ có nhiều cỏ. Thế nào, Tỳ kheo biết điều đáng yêu qúy? Ở đây, Tỳ kheo nghe pháp bảo mà Như Lai đã nói, trong tâm liền yêu quý. Như vậy, Tỳ kheo biết điều đáng yêu quý. Thế nào, Tỳ kheo biết chọn đường đi? Ở đây, Tỳ kheo đối với 12 bộ kinh biết lựa chọn mà hành. Đó là, Khế kinh, Kỳ-dạ, Thọ quyết, Kệ, Nhân duyên, Bản mạt, Phương đẳng, Thí dụ, Sanh kinh, Thuyết, Quảng phổ, Vị tằng hữu pháp. Như vậy, Tỳ kheo biết chọn đường đi. Thế nào, Tỳ kheo biết chỗ qua sông? Ở đây, Tỳ kheo biết bốn niệm xứ. Đó là Tỳ kheo biết chỗ qua sông. Thế nào, Tỳ kheo biết ăn vừa đủ no? Ở đây, Tỳ kheo có bà-la-môn, ưu-bà-tắc, là những người có tín tâm, đến thỉnh. Tỳ kheo không tham ăn uống, có thể biết đủ mà dừng lại. Tỳ kheo, như vậy là vừa đủ. Thế nào, Tỳ kheo tùy thời cung kính Tỳ kheo trưởng lão? Ở đây, Tỳ kheo hằng với thiện hành bởi thân, miệng, ý đối với các Tỳ kheo trưởng lão. Như vậy Tỳ kheo tùy thời cung phụng các Tỳ kheo trưởng lão. Tỳ kheo thành tựu mười một pháp như vậy, ở ngay trong hiện pháp, được nhiều điều lợi ích.” (Trích Kinh Tăng Nhất A Hàm, Phẩm 49, Phóng Ngưu, Thích Đức Thắng dịch, Thích Tuệ Sỹ hiệu đính và chú thích.) * Xe dê, xa hươu, và xe trâu Trong Kinh Đại Thừa Diệu Pháp Liên Hoa (Mahayana Saddharma Pundarika Sutra), Phẩm Thí Dụ thứ 3, đức Phật, để nêu rõ chủ đích “hội tam quy nhất”, tức là đem Ba Thừa về Nhất Thừa, đã kể câu chuyện về người cha tìm cách cứu các đứa con đang mê chơi trong nhà lửa bằng việc đưa ra ba cỗ xe đẹp và lộng lẫy hầu kích thích lòng ưa thích của các con để chúng chạy ra khỏi nhà lửa. Nhà lửa chỉ cho ba cõi (tam giới): dục, sắc và vô sắc giới. Ba cỗ xe đó là: xe dê, xe hươu và xe trâu. Xe Dê tượng trưng cho Thanh Văn Thừa. Xe Hươu biểu thị cho Duyên Giác Thừa. Xe Trâu chỉ cho Đại Thừa hay Nhất Phật Thừa. Bản nguyện của đức Phật đã được nói rõ trong Phẩm Phương Tiện thứ hai của Kinh Pháp Hoa rằng, “Các đức Phật ra đời vì một nhân duyên lớn là muốn khiến cho chúng sinh được khai mở, chỉ bày, hiểu rõ và thâm nhập vào tri kiến của Phật.” Tri kiến Phật tức trí tuệ giác ngộ vô minh và giải thoát phiền não khổ đau. Phật Thừa chính là mục tiêu duy nhất và tối thượng đó. Hay nói một cách khác, đức Phật ra đời là để làm cho chúng sinh thành Phật. Trừ thành Phật ra không có cách nào khác có thể dứt sạch gốc rễ vô minh và giải thoát triệt để khổ đau. Mục tiêu trọng đại và lợi lạc này cần phải được phổ truyền cho tất cả chúng sinh cùng được thừa hưởng. Với lý tưởng đó, việc tự tu tự độ đã không thể hoàn thành được sứ mệnh cao cả của đức Phật mà phải cần đến con đường mở rộng để tế độ hết thảy chúng sinh. Con đường ấy chính là Đại Thừa. Đại thừa là cỗ xe trâu, cỗ xe lớn, cỗ xe có thể chở được nhiều người. Việc dùng xe trâu để biểu tượng cỗ xe Đại Thừa mang nhiều ý nghiã thâm diệu. Thứ nhất, con trâu là con vật được nuôi trong nhà. Hình ảnh con trâu gắn liền với đời sống của người dân. Nó đi vào trong sinh hoạt thường nhật của từng con người, từng gia đình. Lấy con trâu làm con vật kéo xe Đại Thừa nói lên được tính đại chúng, tính phổ quát, tính bình dân của lý tưởng thành Phật. Thứ hai, con trâu là con vật có sức mạnh đảm đang việc kéo xe để chuyên chở nhiều đồ đạt, nhiều người, không biết mệt mỏi. Cỗ xe trâu Đại Thừa vì vậy mới có thể chở được nhiều chúng sinh để đi trên đoạn đường dài từ phàm phu đến thành Phật. Thứ ba, con trâu, như đã nói ở trên, tượng trưng cho tâm vô minh của chúng sinh. Con đường thành Phật khởi đi từ tâm chúng sinh đến tâm Phật, từ giai đoạn một chúng sinh bắt đầu sơ phát bồ đề tâm cho đến khi hoàn thành việc giác ngộ và giải thoát. Chính vì vậy, cỗ xe chở chúng sinh đi từ bờ bên này (thử ngạn) vô minh khổ não đến bờ bên kia (bỉ ngạn) giác ngộ an lạc phải là cỗ xe tâm chúng sinh, tức cỗ xe trâu, rồi lần hồi chuyển hóa thành tâm giác ngộ, tức cỗ xe Phật Thừa trọn vẹn. * Con trâu trong lời dạy cuối của Đức Phật Ngay trong đêm nhập Niết Bàn tại rừng cây Sa La (Salavana) ở thành Câu Thi Na (Kushinagar), đức Phật, trong lời dặn dò cuối cùng đối với chư vị Tỳ Kheo, cũng đã có dạy: “Các Thầy Tỳ kheo, đã hay giữ tịnh giới; còn cần phải biết cách tự chế, không cho năm căn dông dỡ đuổi theo năm dục vọng. Cũng như người chăn trâu, cầm roi trông chừng, là cốt giữ trâu khỏi ăn lúa mạ nhà người ta.” (Kinh Lời Dạy Cuối Cùng Của Đức Phật, tức Kinh Di Giáo, Thích Trí Tạng dịch.) Đem hành động cầm roi trông chừng con trâu để nó khỏi ăn lúa mạ của người so sánh để minh họa cho hành động tự chế không để năm căn chạy theo năm dục vọng là một lối thí dụ vừa cụ thể, linh hoạt, vừa tế nhị, sâu sắc. Điều này cũng nói lên cách dạy đạo, cách giáo dục rất thực tế, rất sống động và hữu hiệu của đức Phật. Ngài đưa ra một hình ảnh mà trong thính chúng không một vị nào không biết, không hiểu. Đối với năm dục trong tâm chúng sinh lúc nào cũng sẵn sàng khởi lên để thao tác, người tu cần thận trọng trong từng giây phút như mục đồng trông coi trâu không để nó ăn lúa mạ của người. Mục đồng nếu sơ hở trong giây lát thì trâu sẽ ăn lúa mạ ngay. Người tu không tự chế trong mỗi ý tưởng, lời nói và hành động thì năm dục sẽ có cơ hội thao tác. Giống như trong Kinh Tứ Thập Nhị Chương, đức Phật cũng ân cần nhắc nhở: "Người hành Ðạo giống như con trâu chở nặng đi trong bùn sâu, mệt lắm mà không dám nhìn hai bên, ra khỏi bùn lầy rồi mới có thể nghỉ ngơi. Người Sa môn phải luôn quán chiếu tình dục còn hơn bùn lầy, một lòng nhớ Ðạo mới có thể khỏi bị khổ vậy.” (Kinh Tứ Thập Nhị Chương, Chương 41, Thích Viên Giác dịch và giải.) * Huyền ký về trâu của nhà Thiền Trung Hoa Khi Bồ Đề Đạt Ma đem Thiền từ Ấn Độ truyền vào đất Trung Hoa vào đầu thế kỷ thứ 6 Tây lịch như cây được trồng đúng vùng đất và khí hậu tốt, cho nên đã hưng phát rực rỡ. Ngài đã để lại một huyền ký cho tương lai Thiền của Trung Hoa qua bài kệ: Ngô bổn lai tư thổ, Truyền pháp độ mê tình. Nhứt hoa khai ngũ diệp, Kết quả tự nhiên thành. (Ta đến đất nước này, Truyền pháp cứu kẻ mê. Một hoa nở năm cánh, Kết quả tự nhiên thành.) Huyền ký đó đã ứng nghiệm chính xác vào hai thế kỷ sau, tức thời nhà Đường. Một hoa chỉ cho Thiền Tào Khê của Lục Tổ Huệ Năng. Năm cánh chỉ cho năm trường phái Thiền lớn nhất khởi đi từ Lục Tổ: Lâm Tế, Tào Động, Quy Ngưỡng, Vân Môn, và Pháp Nhãn. Hai trong 5 trường phái Thiền trên là Lâm Tế và Tào Động sau đó đã được truyền qua Việt Nam và phát triển rất mạnh, nhất là Tông Lâm Tế cho đến nay vẫn còn. Trung Hoa là đất nước nông nghiệp. Các Thiền sư đều có liên hệ trực tiếp hay gián tiếp với nếp sống và sinh hoạt nhà nông. Cho nên, Thiền sư Bách Trượng đã chủ trương các thiền viện tự túc canh tác để sống, tu và hành đạo. Ngài nói “nhất nhựt bất tác, nhất nhựt bất thực,” một ngày không làm, một ngày không ăn. Trong bối cảnh đất nước và xã hội đó, hình ảnh con trâu rất gần gũi trong nhà Thiền. Cho nên, từ rất sớm, Phật Giáo Trung Hoa đã minh họa quá trình chuyển mê khai ngộ trong mười bức tranh chăn trâu của Đại Thừa lẫn Thiền Tông. Các Thiền sư, trong những cách dạy Thiền, thường đề cập đến con trâu và việc chăn trâu. Chuyện kể, một hôm, thiền sư Mã Tổ hỏi thiền sư Thạch Củng: - Ông làm gì đây? - Chăn trâu. - Chăn như thế nào? - Mỗi khi nó chạy vào đồng cỏ thì xỏ mũi kéo lại, thế là người chăn giỏi. Hoặc như câu chuyện thiền sư Đại An tham vấn với thiền sư Bách Trượng: - Tôi khát khao muốn biết Phật pháp, việc đó thế nào? - Hệt như cỡi trâu tìm trâu. - Hiểu rồi làm sao? - Như người cỡi trâu về nhà. - Rồi làm sao giữ trước sau khế hợp? - Như người chăn trâu cầm roi giữ trâu, đừng cho phạm vào lúa mạ của người. Hoặc, có hôm, ngài Đại An thăng đường dạy chúng: "Đại An ba mươi năm ở Qui sơn, ăn cơm Qui sơn, đại tiểu tiện Qui sơn, mà chẳng học Thiền Qui sơn. Ngày đêm chỉ xem chừng một con trâu nước đen. Nếu nó đi lạc vào trong cỏ mạ, liền nắm mũi kéo lại. Vừa mới xâm phạm đến ruộng lúa người ta, liền đưa roi ra quất. Thật đáng thương! Trâu bị điều phục lâu ngày trở nên thuần thục, vâng lời người dạy mắn. Giờ đây trâu đen đã hóa thành trâu trắng, sờ sờ rõ ràng trước mặt, trọn ngày đuổi cũng không đi." Trong câu chuyện trên, thiền sư Đại An có nói đến trâu đen và trâu trắng. Trâu đen chỉ tâm vô minh. Trâu trắng chỉ tâm giác ngộ. Trọn ngày đuổi không đi là tâm đã được điều phục, không còn dong ruỗi theo trần cảnh. Đó là trạng thái tâm lúc nào cũng hiện tiền trong minh giác, là trạng thái hiện pháp lạc trú. * Con trâu trong nhà Thiền Việt Nam: Tuệ Trung Thượng Sĩ “Phóng Ngưu” Những chuyện Thiền liên quan đến trâu như vậy còn nhiều, nhưng đó là chuyện nhà Thiền của Trung Hoa. Việt Nam cũng là đất nước nông nghiệp. Phật Giáo truyền vào Việt Nam còn sớm hơn vào Trung Hoa, vì qua ngả các thương buôn đi bằng đường hàng hải trực tiếp từ Ấn Độ sang Giao Chỉ, Giao Châu. Vào thời Tam Quốc, Thiền sư Khương Tăng Hội từ Giao Chỉ đã sang Kinh Châu của Đông Ngô để truyền bá đạo Phật. Ngày xưa, các ngôi Chùa ở Việt Nam đa phần đều có ruộng đất canh tác, hoặc là ruộng do chư Tăng tự khai phá tạo nên, hoặc là do triều đình cấp, hoặc là ruộng do quần chúng Phật tử hiến cúng. Đặc biệt các ngôi Chùa tại mỗi làng đều có ruộng đất để tự canh tác. Có chùa còn nuôi cả trâu, bò để cày ruộng hay lấy phân đem bón hoa màu. Hình ảnh con trâu, vì vậy, lại càng gần gũi và thân thiết hơn với Thiền môn. Vào thời nhà Trần, trong Thiền môn Việt Nam xuất hiện một nhân vật kiệt xuất. Đó là Tuệ Trung Thượng Sĩ Trần Tung, một thiền sư đắc đạo có hành trạng diệu dụng mà mắt phàm khó thấu rõ. Chuyện kể về vị thiền sư này khá nhiều và li kỳ, song ở đây chỉ xin nhắc đến vài bài thơ ông làm có đề cập đến con trâu. Bài Phóng Ngưu, như sau: Ngẫu hướng Quy Sơn đắc đệ lân, Hoang vu cam tác mục ngưu nhân. Quốc vương đức trạch khoan như hải, Tùy phận tat a thủy thản xuân. Trúc Thiên đã dịch như sau: Chợt hướng non Quy được thảnh thơi, Đồng hoang đành vậy giữ trâu chơi. Nhà vua đức rộng như sông biển, Tùy phận xuân về nước cỏ tươi. Trong một bài thơ khác, Tuệ Trung Thượng Sĩ cũng không tách rời con trâu đang chăn của ông. Nhất thân độc thủ nhất nê ngưu, Đằng tỵ khiên lai vi khắn hưu. Tương đáo Tào Khê đô phóng hạ, Mang mang thủy cấp đả viên cầu. Đại Lãn dịch như sau: Một mình cố giữ con trâu đất, Xỏ mũi dắt về chẳng nghỉ ngơi. Vừa đến Tào Khê buông xuống hết, Mênh mông nước chảy cuống bọt trôi. (Cả hai bài thơ của Tuệ Trung Thượng Sĩ ở trên được trích theo bài viết của Đại Lãn, Con Trâu Đất Một Biểu Tượng Độc Đáo của Tuệ Trung, nguồn www.daitangkinhvietnam.org). Đến thời Trịnh Nguyễn phân tranh, trong một bài thơ tương truyền là của thiền sư Hương Hải cũng đã đề cập đến việc đi tìm chân tánh hay bản lai diện mục như đi tìm trâu. Bài thơ như sau: Tầm ngưu tu phỏng tích, Học đạo quý vô tâm. Tích tại ngưu hoàn tại, Vô tâm đạo dị tầm. Tạm dịch nghĩa: Tìm trâu cần theo dấu, Học đạo quý vô tâm. Dấu còn trâu còn đó, Vô tâm đạo dễ thành. Vô tâm không phải là vô tình, vô cảm, thờ ơ, chuyện gì cũng không cần biết tới. Vô tâm như vậy thì có khác gì gỗ đá. Vô tâm là thấy được tánh không sinh diệt của tâm, là thấy tánh. Cho nên trong Kinh Kim Cang Bát Nhã, đức Phật dạy: “Nhược kiến chư tướng phi tướng, tức kiến Như Lai.” Thấy được tánh không của các pháp tức là kiến tánh, tức là thấy Phật. Tâm không sinh cho nên các pháp không sinh. Vì vậy không bị vướng mắc hay trói buộc vào trần cảnh. Đó là trạng thái vô tâm của nhà Phật. Trong tâm mỗi người đều có vóc dáng con trâu. Con trâu đó thuần hậu hay hung hăng, trắng hay đen là tùy mỗi người. Để cho con trâu tâm thuần đen thì nó sẽ không ngừng gây phiền não và khổ đau cho mình và người. Biết cách chăn, điều phục và chuyển hóa thì nó sẽ được thuần hậu, trở đen thành trắng. Nhìn theo khía cạnh này, đạo Phật quả là bình dân và thiết thực: không dạy gì khác ngoài việc chăn trâu. Nhưng để đạt đến cảnh giới như chàng mục đồng ngồi trên mình trâu, ngêu ngao hát khúc nghê thường, hay thong dong thổi điệu sáo thiên thai thì không dễ. Người ta phải sống gần gũi, lân mẫn, lăn lội, vất vả, chăm sóc cho nó từng đám cỏ, từng bụm nước, chạy vòng quanh theo nó trong các nẻo đường ngõ hẻm hay bờ ruộng ao hồ, đôi khi phải dùng đến roi để thị uy, dùng đến ngàm để buộc miệng, dùng đến dây để trói buộc, rồi nó mới chịu phục mà nghe lời. Một khi trâu đã biết nghe lời thì chàng mục đồng mới thong dong tự tại trên đồng cỏ thênh thang. Khi mê ngộ đã tan theo tiếng sáo của chàng mục đồng thì không còn trâu đen hay trâu trắng, trâu nhà phật hay trâu thế gian, vì nhất thiết pháp vô sở đắc cố…

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét