THÍCH TÂM TRỌNG
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT
Chủ Nhật, 2 tháng 12, 2012
Bước Chân Chưa Vững
Bước Chân Chưa Vững
Ánh nắng chiều chia đôi mảnh sân rộng. Tôi ngồi trong bóng mát nhìn bóng tối sẫm sẽ lan dần cho đến cuối chân trời trước mặt, và hồi trống thúc dồn, báo chiều tàn.
Chúng tôi có một buổi tối yên lặng sau một ngày lao xao, công tác trên ruộng đồng miên man như không có ngày chấm dứt.
Đêm không trăng, ánh đèn hắt ra mờ mờ. Bóng tối mù mù khiến mỏi mắt, dù có mở to mắt vẫn không thể thấy gì xa hơn khoảng sáng của bóng hắt. Đêm không trăng người trong xóm cũng không tụ tập ra đường nói cười như đêm rằm. Để không khí tĩnh mịch lại thêm tĩnh mịch.
“Đèn thị thành ngọn xanh ngọn đỏ,
đèn miền quê ngọn tỏ ngọn lu,
Tôi về học lấy chữ tu,
dẫu cho phải đến thiên thu cũng…”
Không biết phải “cũng…” thế nào, tôi tìm chưa ra chỉ một chữ nói cho hết tâm nguyện.
Bạn ở chốn thị thành, cười khi nghe tôi sửa lại một chút câu ca dao đó. Bạn thường cười, nhưng có một chút nghĩ ngợi khi ngồi yên lặng cạnh tôi. Với khối lượng công việc quá nhiều, bận rộn và bận rộn dồn dập, hết bài tham luận này tới bài tham luận khác, hết buổi giảng này đến buổi giảng khác, bạn không có thời giờ để nghĩ ngợi thêm.
Hết đại hội này đến đại hội kia, lịch công tác của bạn dầy đặc. Sao mà lắm đại hội thế nhỉ. “Thì họp cho thông cảm với nhau mà!” bạn nói với giọng chế giễu. Tôi nhớ những buổi họp giao ban ở trường, cũng kiến nghị này kia nghe rất đạt, tưởng như sau cuộc họp sẽ có một cuộc chấn động. Nhưng sau đó thì mọi chuyện bình lắng như chưa có buổi họp xảy ra.
“Không nên đi họp với một bộ mặt đăm đăm, sửa đổi gì được nào! Vui lên cho không khí dễ chịu một chút.” bạn thường nói nhỏ với tôi như thế trước buổi họp. Tôi không được như bạn đành chịu thua lui ra.
Tôi về nơi xa xôi này, con đường đất bụi mù, chú bé lấm lem đi ngang tôi cất tiếng thưa chào. Ngày thường trông lem luốc như thế cũng phải thôi, em còn cắt cỏ cho bò ăn, giúp mẹ dọn hàng. Ngày chủ nhật đến chùa trong chiếc áo lam, quần xanh, gọn gàng sáng sủa, tôi nhìn không ra, khi em chào tôi trong khuôn viên chùa. Những giọng hát như hét, cùng tiếng vỗ tay chưa đồng nhịp, tạo thành một ban hợp ca đặc biệt, dù vị huynh trưởng đã hết sức tập cho. Buổi cơm trưa sau ba tiếng niệm Phật, có những giọng niệm còn ngọng, thật hồn nhiên. Khuôn khổ ngăn nắp, không phải một ngày một tháng.
Chú bé nhỏ ngày xưa lem luốc, bây giờ với học bổng đã vào đại học, đến chào tôi để lên thành phố. Hình ảnh chập chững vào đời, xa nhà lên thành phố học, nhắc tôi nhớ, cậu bé đến chùa xin xuất gia. Chú vừa thi vào đại học, đến chùa công quả, phát tâm xuất gia. Giấy báo thi đậu về đúng ngày chú lên thầy xin xuất gia. Quyết tâm quyết chí đến thế.
Vài tháng trước bạn chú đến thăm, báo tin vừa ra trường, nếu ngày đó chú không xuất gia thì bây giờ cũng ra trường. Dù rằng chú bảo, con không ân hận về quyết định của mình. Nhưng tôi đọc trong ánh mắt xa xăm kia, một hoài bão hơi lệch hướng ban đầu.
Tôi không có một lời khuyên giữ chú lại, những lý do giữ chân chú càng lúc càng nhạt dần. Bài vở trong những buổi học đã bắt đầu chểnh mảng. Chú còn chần chừ vì vào lý do nào đó. Rời bỏ một môi trường đâu dễ. Ngày tôi rời bỏ phố thị về đây, cũng chần chừ như chú trước khi rời bỏ nơi đây trở về phố thị.
Lúc đó tôi sợ buông cán bút cầm cán cuốc, một đời trong rừng sâu, còn chú chú sợ gì. Chú sợ buông xuống những lời nhắc nhở mang vào những cám dỗ rình rập bước chân người trẻ ư.
“Con đi chắc ít nhất mười năm.” Tôi biết lòng chú thầm nghĩ, xong tiến sĩ chú sẽ trở về. “Con đường nào cũng có lý của nó” tôi nói thế, để chú yên lòng. Chú đã lên phòng thầy nhiều lần, rồi lặng lẽ đi xuống. Nhìn hình ảnh đó giống ngài Thần Tú lên trình kệ, người ướt đẫm mồ hôi, hơn mười lần cũng không trình được, bèn viết bài kệ lên vách. Chú chưa biết phải viết lên đâu, để được chấp nhận.
Chú vẫn chưa tin được “đâu ngờ tâm mình vốn thanh tịnh”. Đâu ai có thể đặt niềm tin vào tâm mình, chỉ có chính mình được niềm tin qua năm tháng tu học mà thôi.
Niềm tin chưa vững thì bước đi còn chập choạng lắm, dù chọn con đường nào.
CẢM GIÁC SỐNG
Cát Tường
Có vị thí chủ biết mình không còn sống được bao lâu nữa, ông ghi trong nhật ký một đoạn văn như sau:
“…Nếu được làm người thêm lần nữa, thì tôi phải nếm trải nhiều sai lầm hơn, tôi sẽ không truy cầu hoàn thiện trong mọi việc.
Tôi tình nguyện nghỉ ngơi nhiều, tùy cảnh mà an thân, đối nhân xử thế hơi hồ đồ một tí, đối với những việc phải xảy ra không để tâm suy nghĩ tính toán nhiều. Thật ra trong thế gian có việc gì cần phải so đo tính toán đâu?
Nếu có thể, tôi sẽ đi du lịch nhiều nơi, băng đèo lội suối, những nơi càng nguy hiểm cũng đi không sợ hãi. Trước đây, tôi không dám ăn kem, không dám ăn đậu, sợ sức khoẻ có vấn đề, bây giờ tôi hối hận biết bao! Ngày xưa tôi sống rất dè dặt, từng phút từng giây không cho phép mình mắc phải lỗi lầm. Tỉnh táo sáng suốt thái quá, yên tĩnh hợp lý thái quá.
Nếu tất cả đều có thể làm lại từ đầu, tôi sẽ đi phố mà không cần chuẩn bị gì, thậm chí không đem theo một đồng tiền, tôi sẽ thong thả thưởng thức từng phút từng giây. Nếu có thể làm lại được, tôi sẽ đi chân không ngoài trời, thậm chí suốt đêm không ngủ, dùng thân thể này để cảm nhận sự hài hòa và đẹp đẽ của thế giới này. Còn nữa, tôi sẽ đi du lịch ở Lạc Viên cưỡi ngựa gỗ vài vòng, xem thêm vài lần mặt trời mọc, nô đùa với các bạn nhỏ trong công viên.
Chỉ cần cuộc đời có thể bắt đầu lại từ đầu, nhưng tôi biết điều đó không thể được…”
Cuộc đời thực sự không thể làm lại lần nữa, hãy trân trọng cảm giác sống! Cười với cuộc đời, dù buồn hay vui; nhìn thẳng cuộc đời dù thành công hay thất bại; ngày hôm qua sẽ không trở lại, tương lai dựa vào hôm nay, hãy trân trọng từng ngày, nắm bắt thời gian của từng ngày, từng giờ, từng phút, từng giây vì đó đều là vật quý báu nhất của chúng ta, thời gian qua đi không bao giờ trở lại…
Chén Trà
& lời bình của Tung Sơn
Nan-in, một thiền sư Nhật bản dưới thời Minh Trị (1868-1912), ngày kia tiếp một giáo sư đại học đến hỏi Thiền. Nan-in pha trà, ông rót trà đầy chén của khách, rồi vẫn tiếp tục rót. Vị giáo sư nhìn nước trà chảy ra ngoài cho đến khi ông không thể tự kiềm chế được nữa bèn nói: "Chén đầy rồi !" Nan-in trả lời: "Như chén trà kia, trí ngài đầy cả những ý tưởng, những suy luận thuần lý riêng tư. Làm thế nào tôi có thể chỉ Thiền cho ngài, trừ phi ngài đã đổ sạch trà trong cốc của ngài ra ?" (*)
Lời Bình Của Tung Sơn
Một bạn đọc lời bàn bạc thô thiển và quê mùa của ta xong trách: "Lối bàn của bác thiếu tôn kính. Đối với ngôn từ của những bậc cao minh hiền giả ngày xưa, làm sao bác lại dám đùa cợt, phê bình phóng túng như vậy ?" Ta ngửa mặt nhìn trời cười to mà không nói, không phải vì học đòi các vị thiền sư, nhưng vì thấy người đang giận, sợ trả lời ngay thì đâm ra cãi vả vô ích.
Ôi! ta nghĩ chuyện thiền là những thí dụ điển hình, có thể dùng làm khởi điểm để suy nghĩ về một số vấn đề căn bản ở đời, và tuyệt nhiên không có tính cách thần bí, linh thiêng. Thế thì bổn phận của người bàn không phải là tán dương suông, không phải là thổi vào rún các vị thiền sư để những chiếc bụng xẹp lép vì ăn uống thanh đạm của các ngài phùng to một cách không đẹp và vô ích.
Ôi mọi chuyện ngụ ngôn đều hạn chế và diễn tả một chân lý tương đối. Khư khư bám chặt vào chúng là một chuyện khôi hài vậy. Cho nên khi tuyên bố "Ta vốn không nói lời nào" (ngã bổn vô ngôn), đã đành đức Phật muốn nói là những điều Người đã dạy cho đệ tử không đáng kể gì so với những điều Người chứng ngộ, nhưng một đàng người cũng muốn ngăn ngừa tinh thần giáo điều chấp chặt vào kinh điển, trở ngại lớn lao cho hạnh tinh tấn.
Chuyện thiền trên đây nhằm đả kích chủ nghĩa giáo điều hẹp hòi và tinh thần cố chấp thường gặp ở những người trí thức vậy. Ôi! cũng như chén trà đầy nước, một khi chúng ta đã nô lệ thành kiến, giáo điều rồi thì làm sao chúng ta có thể đối thoại một cách hữu ích với người khác. Nhưng có người sẽ hỏi: "Câu nói của vị thiền sư há không thể ứng dụng cho chính ông ta hay sao? Dựa vào đâu mà ông cho là những tư tưởng của chính ông là đúng? Và liệu thiền sư lại không phải đổ sạch trà ra khỏi chén của ông ta sao?" Câu hỏi hoàn toàn chí lý và chính đáng. Câu nói của vị thiền sư cần phải được xem như là lời cảnh cáo cần thiết cho một cuộc đối thoại đích thực nghĩa là một cuộc đối thoại nhằm đi tìm sự thực, trên cơ sở luận lý. Chính vì vậy mà đạo Phật đề cao tinh thần phá chấp và hỷ xả: không bám chặt những tư tưởng của riêng mình và luôn luôn hoan hỷ đón nhận những tư tưởng đúng đắn, tốt đẹp của người khác. Do đó, yêu cầu mà vị thiền sư đặt ra cho khách, ngài vẫn thường xuyên đặt ra cho chính mình nếu ngài không chối bỏ tinh thần hỷ xả mà bất cứ người Phật tử chân chính nào cũng phải thực hành.
Hình ảnh chiếc chén không, như vậy, diễn tả tinh thần hỷ xả, sẵn sàng chấp nhận chân lý bất cứ đến từ đâu. Và những kẻ ăn nói hồ đồ, không dám nhìn sự thực và lý luận trên những dữ kiện khách quan đúng đắn, chỉ đáng làm trò cười cho thiên hạ vậy.
Chiếc Gương và Cửa Sổ
Huệ Thiện (sưu tầm & chuyển ngữ)
Có một phú ông tên Hạo Tường luôn cảm thấy trong cuộc sống của mình thiếu thốn một cái gì đó, nên ông quyết định lên đường tìm Thiền sư để tham hỏi.
Khi gặp Thiền sư: “Thưa ngài! Tôi có rất nhiều tiền, muốn thứ gì thì có thứ đó nhưng lại không cảm thấy vui và hạnh phúc được”. Vị thiền sư mời ông ta đứng trước một cửa sổ được làm bằng kính và hỏi ông thấy được những gì qua ô cửa kính đó. “Dạ, con thấy những đoàn người tất bật, hối hả qua lại trên những con đường, có khi bằng phẳng, có khi gập ghềnh, khúc khủyu nữa”
Thiền sư chẳng nói gì và mời ông ta đứng trước một chiếc gương soi, hỏi ông thấy gì qua chiếc gương đó. “Con thấy chính mình…” phú ông đáp.
Thiền sư ôn tồn nói: “Chiếc gương được làm bằng kính, cửa sổ cũng được làm bằng kính, nhưng cửa sổ thì trong suốt nên có thể thấy được bên ngoài, có thể nhìn được người, cảnh vật xung quanh ta nhưng chiếc gương thì phủ một lớp sơn phía sau hoặc một tấm gỗ nên chỉ có thể nhìn được mình mà thôi, khi trong con người mình có thể gỡ bỏ đi lớp sơn hay tấm gỗ kia thì lúc đó con sẽ nhìn thấy người khác, lúc con nhìn thấy người khác con sẽ cảm thấy hạnh phúc với những gì đang có”.
Lời bạt: Bạn có là người hạnh phúc không? hay là người luôn bận rộn với cuộc sống hiện đại này? Hoặc ta cảm nhận cuộc sống mình mỗi ngày một vui hơn? Mỗi ngày chúng ta chạy danh cầu lợi. Ở đâu đó, chúng ta đã có một góc của sự bình yên và hạnh phúc nhưng chưa bao giờ thay đổi góc độ nhìn để dung nạp, tha thứ cho người khác. Chỉ khi nào ta hiểu được hai chữ "dừng bước". Ta đứng lại để tiếp nhận người khác đang tồn tại, họ hiện hữu trong sự tương quan của ta, ta dừng lại để nhìn, để hiểu và để thương. Khi thương được mọi người ta sẽ thương chính mình.
lượt đọc kể từ Mùa Phật Đản 2552 - 2008
Chín Ân Đức Của Cha Mẹ
1- Sinh: người Mẹ phải khó nhọc cưu mang hơn chín tháng, chịu sự đau đớn trong lúc đẩy thai nhi ra khỏi lòng mẹ.
2- Cúc: Nuôi dưỡng, nâng đỡ, chăm nom, săn sóc hài nhi cả vật chất lẫn tinh thần. Tình cảm rất tự nhiên nhưng gắn bó ân cần, nên khi Cha Mẹ nhìn con thêm hân hoan vui vẻ, bé nhìn Cha Mẹ càng mừng rỡ cười tươi.
3- Súc: Cho bú mớm, lo sữa nước cháo cơm, chuẩn bị áo xống ấm lạnh theo thời tiết mỗi mùa; trông cho con lần hồi biết cử động, điều hòa và nên vóc nên hình cân đối xinh đẹp.
4- Dục: Dạy dỗ con thơ động chân cất bước linh hoạt tự nhiên; biết chào kính người lớn, vui với bạn đồng hàng; tập con từ câu nói tiếng cười hồn nhiên vui vẻ. Khi trẻ lớn khôn thì khuyên răng dạy dỗ con chăm ngoan, để tiến bước trên đường đời.
5- Vũ: Âu yếm, nâng niu, vuốt ve, bế ẵm ... để con trẻ vào đời trong tình cảm trìu mến thân thương.
6- Cố: Chăm nom, thương nhớ, đoái hoài, cố cập con trẻ từ tấm bé đến khi khôn lớn, lúc ở gần cũng như lúc đi xa.
7- Phúc: Giữ gìn, đùm bọc, che gió, chắn mưa, nhường khô, nằm ướt, hay Cha Mẹ quên mình chống đỡ những bạo lực bất cứ từ đâu đến, để bảo vệ cho con.
8- Phục: theo khả năng và tâm tính của trẻ mà uốn nắn, dạy dỗ, tìm phương pháp hướng dẫn trẻ vươn lên hợp tình đời lẽ đạo, tránh cho con bị lôi cuốn bởi tiền tài ảo vọng, vật chất và thị hiếu bên ngoài.
9- Trưởng: Lo lắng tận tình, đầu tư hợp lý, cho con học tập để chuẩn bị dấn thân với đời; cố vấn cho con nên vợ thành chồng xứng hợp với gia phong, thế đạo. Dù không cố chấp vấn đề "môn đăng hộ đối", nhưng vợ chồng so le về tuổi tác, trình độ, sức khỏe và khả năng thu hoạch tiền tài... cũng thiếu đi phần nào hạnh phúc lứa đôi, mà tuổi trẻ thường vì tiếng sét ái tình, làm lu mờ lý trí, khi tỉnh ngộ xem như chén nước đã đổ, khó mà lấy lại đủ!
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)


Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét