THÍCH TÂM TRỌNG

THÍCH TÂM TRỌNG
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT

Chủ Nhật, 2 tháng 12, 2012

Bốn mùa hoa giác

Bốn mùa hoa giác Mục lục Lời tựa I, KHOA TIẾT CẦN YẾU Tán lễ Tổ sư Huấn từ xuất gia Bát kính pháp Lục hoà Tịnh-độ Ni viện Thanh quy Thanh niên học Phật Cảnh sách hàng ngày Ngũ quán Thể dục Ba phẩm Liên Hoa Hoà-thượng Pháp chủ huấn từ Lớp Phật Học Phổ Thông Lớp Thập Tín II, MÙA HẠ TỪ 15-4 ĐẾN 15-7 Chương trình an cư Lễ tưởng niệm Hoà- thượng Trí Thủ- Đệ ngũ luật sư Tổ Quảng Bá huấn từ Cung an chức sự Kết hạ khai thị chúng Thỉnh pháp học Luật Quy Sơn Cảnh Sách Lễ đức Quán Thế Âm chùa Hương Tín nguyện lực Lời nói trong gió Chương trình tán hạ Lễ đức Đại Thế Chí Bồ-Tát Chương trình tự tứ Kinh Tự Tứ Thanh lương Ý nghĩa tự tứ Huấn từ ngày tán hạ Lễ Vu Lan Khánh tuế Thầy Ân đức tam sư Chúc thọ quý cụ Hiếu trong đạo Phật Gia đình Phật hoá phổ Tiếng nói của gà III, MÙA THU TỪ 16-7 ĐẾN 15-10 Chương trình thọ y công đức Chương trình tu học Kính đệ Hoà- thượng Già Lam Viện chủ Tứ Niệm Xứ và Phản Văn phát nguyện Có minh tâm mới kiến tánh Thiền Minh Sát Quán bất tịnh Kinh Niết Bàn, phẩm Ca Diếp Lễ đức Địa Tạng Bồ - Tát Giỗ Tổ Huệ Viễn Giỗ Tổ Ưu Ba Ly Giỗ Tổ Anan Bánh trung thu Trăng Lăng Nghiêm Biệt khoa giỗ Tổ Phùng Khoang Quán Thế Âm Thị Kính Dược Sư Vô ngã Hữu dụng vô dụng tuỳ chỗ biết dùng IV, MÙA DÔNG TỪ 16-10 ĐẾN 15-01 Đức Phật A Di Đà Biệt khoa cúng Tổ Quảng Bá Đại đàn phổ tế Ni Tổ Ma-ha Ba Xà Bà Đề Đức Phật Thích Ca thành đạo Chương trình xả y công đức Đại chúng bạch tạ Sư cô Ban Thủ Pháp tướng pháp tánh Phổ cáo đón xuân Tiền thân đức Di Lặc Kinh Di Lặc Hạ Sanh Thành Phật Long Hoa tam hội Hái lộc đầu năm Mãn khóa Abhidharma Thư thăm bệnh Thư gửi Ni chúng Viên Thông Chuyện cổ Phật giáo Làng Anh Nhi Việt Nam Tịnh Độ Tín Nguyện Hạnh V, MÙA XUÂN TỪ 16-01 ĐẾN 14-04 Thỉnh pháp Đức Bổn Sư xuất gia Đức Bổn Sư nhập Niết Bàn Quán Âm Quảng Trần Lễ đức Phổ Hiền Thần chú Chuẩn Đề yếu nghĩa Phó pháp Tôn Sư Đức Văn Thù Chương trình lễ khánh đản Trị tâm Đạo từ Thư gửi Liên Hoa VI, LỜI CÁC ĐẠI SƯ Trung đạo giản dị Học và hành Xả là bí quyết giải thoát Bình an Tâm phân biệt Chánh kiến Tiết chế ba nghiệp An vui ở đâu VII, ĐÀN GIỚI TỲ- KHEO-NI Nồi cơm Nhan hồi Tâm ta là Phật Khải hoàn ca Lời tựa Để tiến lên lầu pháp bảo vô biên, chúng ta phải bước từng nấc thang phương tiện. Chương trình tu học bốn mùa của Tịnh-độ Ni viện chẳng những y cứ trên văn tự kinh điển mà quan hệ ở ba nghiệp hằng thấm hoa hương giác tỉnh. Đạo Vô Lượng Quang nuôi dưỡng các tế bào, làm chất liệu giải thoát cho các dòng máu, khiến 5 ấm chuyển dần trở về 5 phần Pháp-thân. Kính thưa quý huynh đệ! Chúng ta thật may mắn. được sanh ra từ chiếc nôi và lớn lên trong môi trường giáo dưỡng của Thầy. Những ai sống gần Thầy đều cảm nhận rằng Thầy sống toàn vẹn với đạo pháp, Thầy đang hướng dẫn chúng ta trên con đường tư lợi lợi tha. Đường xa ngàn dặm, đến nơi được là nhờ bước ban đầu. Gốc dễ chẳng khéo vun trồng, thì do đâu có cây lớn toả cành xanh ngọn. Tịnh-độ Ni Viện chúng ta: 1. Học luật để tròn bổn phận một nữ tu sĩ. Ai cũng biết giới luật là nền tảng Thánh Hiền, cần phải tinh vi nghiên cứu và chân thành thực hiện. 2. Học và quán tứ Niệm Xứ để giác tỉnh, trong tiêu ba độc tham sân si, ngoài biết sáu trần ảo ảnh. Thực hiện nếp sống khắc kỷ khoan tha, để có thể vui hoà với tất cả mọi người và an ổn trong tất cả hoàn cảnh. 3. Học kinh A Di Đà Yếu giải để biết tông chỉ và đường lối tu Tịnh-độ. 4. Học kinh Thủ Lăng Nghiêm để nhận biết duy tâm Tịnh-độ, tự tánh Di Đà. Được thế mới nhất tâm niệm phật. Như người đã sẵn có hạt giống, chỉ cần công phu vun trồng, sẽ nở hoa giải thoát và kết quả Bồ-đề. Sách học bốn mùa đã có in riêng để cúng dường đại chúng. Ở đây chỉ ghi chương trình tu học, cô đọng lại một làn âm hưởng của Tôn Sư, nhưng rất cần thiết cho chúng ta hôm nay và ngày mai. Vãn cứu thế giới nhân tâm, Hoằng dương đại thừa Phật Pháp. Hoàn thành nhân gian Tịnh-độ, Trang nghiêm Vô-thượng Bồ-đề. I,KHOÁ TIẾT CẦN YẾU 1, Tán Lễ Tổ Sư NIỆM HƯƠNG Vầng dương rực rỡ, ánh sáng chói chang. Xét mặt trời không đứng mãi Nên chiếu phạm, lục hoà tăng chúng. Cõi không, lễ các bậc Thánh Hiền. Ngũ phần hương thơm lừng pháp giới. Hương này âm dương kết tụ, Trời đất hợp thành. Vun trồng nào phải công nhất thế, Gìn giữ trông mong ở sức bách thần. Cỗi cành tươi tốt vì đã thấm nhuần mưa pháp. Thể chất thanh cao nhờ cậy mây từ che phủ. Hương này lấy ở rừng thiền, Trồng trong vườn tuệ thiên nhiên ngạt ngào. Dao giới vót hình núi cao, Đốt lò tâm nguyện kính dâng cúng dường. DÂNG HOA Hoa tâm nở mau tốt tươi Mùi thơm sực nức hoa trời kém xa. Kính Phật con dâng đoá hoa Muôn thu gió nghiệp chẳng hề động lay. LỄ TỔ Bông hoa hiện điềm lành Năm cánh lạc phương xa, Trao pháp tạng đất Ấn, Tôn thờ tại Trung Hoa, Việt Nam trồng giống Thánh, Kết quả hằng hà sa. - Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Tây Thiên Đông Độ Việt Nam, lịch đại nhất thiết chư vị Tổ sư. (3 lạy) Đức tướng đoan nghiêm như vàng thắm, Đầu là khổ hạnh giữ chung thân. Lưu truyền Như Lai chánh nhãn tạng, Kê Túc trong non đợi Từ Tôn. - Chí tâm đảnh lễ: Ma-ha Ca Diếp tôn giả, THIỀN TÔNG liệt vị Tổ sư.( 3 lạy) Được độ đầu tiên tám vương tử, Thân tâm thanh tịnh tợ hoa sen, Hoằng truyền luật giáo Tỳ Ni tạng, Phật pháp do đây trụ thế lâu. - Chí tâm đảnh lễ: Ưu Ba Ly tôn giả , LUẬT TÔNG liệt vị Tổ sư.( 3 lạy) Đa văn trong chúng tôn đệ nhất, Lăng nghiêm hội thượng chứng viên thông, Kết tập Như Lai chánh pháp tạng, Vĩnh tại nhân thiên độ thế gian. - Chí tâm đảnh lễ: Ananđà tôn giả, GIÁO TÔNG liệt vị Tổ sư.(3 lạy) Tây phương cổ giáo Thế Tôn tuyên. Đông độ khai tông hiệu Bạch Liên, Mười tám đại hiền làm thượng thủ, “ Hổ Khê tam tiếu” tới nay truyền: - Chí tâm đảnh lễ : Huệ Viễn tôn giả, TỊNH-ĐỘ TÔNG liệt vị Tổ sư.(3 lạy) Phước đức trí tuệ diệu trang nghiêm, Nữ nhân xuất gia bậc thượng thủ, Bát kính thắng pháp thành thọ giới, Truyền thừa Ni luật độ thế nhân. - Chí tâm đảnh lễ: Ma-ha Ba Xà Ba Đề, Kiều Đàm Di Mẫu, Đại Ái Đạo tôn giả, Ni giới liệt vị tổ sư.(3 lạy) PHỤC NGUYỆN Tông phong vĩnh chấn, Tổ Ấn trùng quang. Giác hoa hương biến khắp rừng thiền. Mưa pháp tưới nhuần người sơ học. Cành cành lá lá tiếp nối không ngừng. Tổ đường rực rỡ, chánh pháp dương minh. - Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Độ Nhân sư Bồ-tát.(3 lạy) 2. Tổ Quảng Bá HUẤN LỄ TỪ XUẤT GIA Ngày 19/09/1981 Quý hoá thay! Quý vị phát tâm xuất gia làm đại trượng phu, không còn là nữ nhi nữa. Trượng phu sự không phải ai cũng làm được. Trượng phu có nghĩa là: Phú quý không rực rỡ, nghèo khổ không đổi lòng, thế lực không khuất phục. Thế gian phỉ báng, đủ các thứ khen chê, vẫn tu. Ăn đói mặc rách, làm nhiều học nhiều, bị mắng bị phạt có khi bị đòn, vẫn vui tu. Phải tập làm sao cho 8 gió không động. Tám gió là thịnh lợi suy vi, hạ giá đề cao, khen ngợi chê bai, đau khổ an vui. Luôn giác tỉnh vô thường, biết thân mỏng manh chợt còn chợt mất nên chẳng màng sung sướng thế gian. Có người thân xuất gia, tâm còn tại gia vì ham ưa thế sự. Có người thân tại gia đình nhưng tâm thật trượng phu. Mong rằng các cháu đã xuất gia thì cả thân và tâm đều xuất gia. Thân khoác cà sa, tâm tròn giới phẩm. Để tổ tiên ông bà cha mẹ nhân đây giải thoát. Chủ yếu tự mình ra khỏi luôn hồi để rồi trở vào sáu đạo đưa chúng sanh ra. Như người ở trong nhà cháy, mau mau làm sao tự cứu được mình để còn lo cứu người. Tình cha mẹ thương con như biển hồ lai láng nhưng chính ái ân là gốc trầm luân. Mê hoặc tạo nghiệp mới cho sanh tử nhiều kiếp. Đến nỗi nước mắt chứa lại thì bốn biển còn chưa đủ. Xương những kiếp trước nếu trữ lại thì được chất cao như núi Tu-Di. Cho nên phật dạy xuất gia để tìm đường giải thoát. Xong xuất gia cần nhất phát tâm Bồ-Đề: 1) Thiện tâm: Phiền não vô tận thệ nguyện đoạn, Pháp môn vô lượng thệ nguyệnhọc, 2) Bi tâm: Chúng sanh vô biên thệ nguyện độ. 3) trực tâm: Phật đạo vô lượng thệ nguyện thành Các cháu cố gắng hàng ngày ghi nhớ câu: Kia trượng phu, ta cũng trượng phu. 3. Bát Kính Pháp Ni chúng suốt đời phải tôn trọng , tán thán vâng giữ bát kính pháp. 1) Tỳ-kheo-ni dù 100 tuổi hạ, thấy Tỳ-kheo Tăng mới thọ giới, phải nghênh tiếp lễ bái, nhắc ghế thỉnh ngồi. 2) Không được chê bai mắng nhiếc Tỳ-kheo-Tăng. 3) Không được nói lỗi lầm và cử tội Tỳ-kheo-Tăng. 4) Thức xoa ma na phải theo đại Tăng cầu thọ đại giới. 5) Tỳ-kheo-ni phạm Tăng tàn phải cầu đại Tăng xuất tội 6) Nửa tháng phải đến đại Tăng cầu giáo thọ. 7) Không được kết hạ an cư ở nơi không có Tỳ-kheo Tăng. 8) An cư xong phải đến đại Tăng cầu tự tứ. 4. Lục hoà 1. Thân hoà đồng ở mọi nơi, Cùng nhau sửa nghiệp chung vui chung sầu. Những ngày sống ở bên nhau, Không tâm chia rẽ, đừng nên mất lòng. 2. Miệng hoà lời nói dịu dàng, Ôn tồn nhã nhặn, thật là vui tươi. Khuyên ai tránh thói giễu cười, Chớ nên khiêu khích, dành phần hơn thua. lời nói không mất tiền mua, Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau. 3. Ý hoà vui đẹp biết bao, Bể đông tát cạn lời nào có sai. Cuộc đời sở dĩ chông gai, Bởi không đồng ý, bởi lòng hoài nghi. 4. Giới hoà nhớ nghĩ nghiêm trì. Tỳ ni thanh tịnh đứng đi nằm ngồi. 5. Kiến hoà học hỏi những gì, Đem ra bàn bạc cùng ghi pháp lành. Cùng nhau dốc chí thu hành, Pháp môn thâm nghĩa viên thành quả tu. 6. Lợi hoà vui vẻ phân chia, Dù nhiều dù ít, lấy đều làm hơn. Chữ lợi cướp mất nghĩa nhân, Là người con Phật phải hằng không tham. Kính hoà sáu phép rõ ràng, Đây là nếp sống của hàng xuất gia. Hằng ngày tụng đọc thiết tha Gắng ghi trong dạ, sửa mình tu thân. 5. Tịnh độ ni viện Tịnh -độ là đất sạch, vì y báo toàn cảnh tươi đẹp trong sáng, chánh báo toàn thượng thiện nhân. Trái lại cõi Ta Bà y báo đất cát bụi bặm. Chánh báo toàn tham sân si nên gọi là uế độ( cõi đất nhơ bẩn). Kinh Duy Ma Cật dạy tâm tịnh là Tịnh-độ( không có cõi riêng tư nào. Bất cứ ở đâu hễ tâm tịnh đó là Tịnh-độ). Mới nghe tựa hồ khác với kinh A Di Đà. Nhưng thật hai kinh cùng tuyên dương lý nhân quả. Cõi Cực Lạc đất sở dĩ toàn vàng vì tâm địa nhân dân thuần thiện cảm thành. Cây hoa cung điện chói sáng do trí tuệ giác tỉnh cảm thành. Nơi nơi ngọc ma ni( như ý) trang nghiêm do tâm từ bi cảm thành. Kinh A Di Đà khế cơ vì chúng sanh cõi Ta Bà 9 tháng tù ngục trong thai nhơ uế, thoát ra để mùa hạ mặt trời thiêu đốt, mùa đông lạnh cóng buốt sương. Ác thế chỉ đem sát đạo dâm vọng đối xử với nhau. Khiến cho thân đã khổ vì sanh già bệnh chết, tâm đã khổ vì ân ái biệt ly, oán thù gặp gỡ, cầu chi chẳng được, lại thêm trăm cay ngàn đắng trong gia đình ngoài xã hội. Nay nghe cảnh giới an vui, có Thầy là Phật, có chúng bạn toàn Bồ-tát Thánh Hiền, ai đã tin được mà chẳng ham thích cầu về. Kinh A Di Đà khế lý vì cõi Cực Lạc có thật. Có những chúng sanh thanh tịnh nên cảm quả báo được Phật là người thanh tịnh đưa về cảnh giới thanh tịnh để chung sống với các bậc thanh tịnh. Hiện nay trên khắp toàn cầu, khoa thiên văn đều công nhận trong hư không vô biên có vô lượng thế giới thể chất khác nhau, nên tin ở phương Tây có cõi Cực Lạc là việc dễ dàng đối với nhân loại ở thế kỷ thứ 20. Tông Tịnh-độ có rất nhiều môn. Hiện nay tại Việt Nam chỉ lưu hành có ba Pháp: 1) Kinh Vô Lượng Thọ chủ trương đoạn trừ 5 thống 5 thiêu. Năm thống là năm sự đau đớn. Năm thiêu là năm sự đốt nấu. Kinh dạy: Dùng năm giới để thanh tịnh tâm địa. Lấy tịnh giới làm nhân tu cầu vãng sanh về cõi Phật A Di Đà. 2) Kinh Quán Vô Lượng Thọ chủ chương thanh tịnh tâm địa để cầu vãng sanh bằng định lực. Kinh dạy 16 pháp quán y báo chánh báo cõi Cực Lạc. 3) Kinh A Di Đà dùng tuệ lực buông xả căn trần hư vọng, một lòng niệm danh hiệu Phật A Di Đà. Nhất tâm bất loạn nghĩa là sạch hết kiến-hoặc tư-hoặc thì bảo đảm vãng sanh. Chữ A Di Đà, chúng ta đã biết, nghĩa là Vô Lượng Thọ, Vô Lượng Quang, Vô Biên Công Đức. Vô Lượng Thọ Là thường trụ không sanh diệt. Vô Lượng Quang là tánh giác ở khắp mười phương. Niệm danh hiệu Phật A Di Đà là niệm thật tướng của Phật. Thật tướng của mười phương Phật chính là thật tướng của mười phương chúng sanh. Chư Phật đã chứng ngộ sự thật này. Chúng ta còn mê. Nay niệm Phật, trở về với Phật, tức là trở về với thật tướng của chúng ta. a) Bậc thượng căn y theo lý này niệm Phật, được thượng phẩm thượng sanh, ở cõi Thường Tịnh Quang. b) Bậc trung căn trì giới, tu định, niệm danh hiệu Phật, được trung phẩm vãng sanh, ở cõi Phương Tiện Thánh Cư. c) Bậc hạ căn tránh ác làm lành niệm danh hiệu Phật, được hạ phẩm liên hoa, ở cõi Thánh Phàm Đồng Cư( Cõi An Lạc nói trong kinh A Di Đà). Vì kinh A Di Đà dùng một môn trì danh gồm nhiếp cả 3 căn, kiêm thông cả Thiền, Giáo, Luật, Mật...các tông, nên được lưu thông khắp các nước Đại thừa. Tới nay vẫn không kém bề hưng thịnh. Núi Lô Sơn bên Tàu, đời nhà Tấn, ngài Huệ Viễn cùng 123 huynh đệ lập thành Liên xã, khắc bia thề rằng:” Buông xả thế gian chìm đắm. Tỉnh ngộ vô thường qua mau. Phiền não chướng, nghiệp chướng, báo chướng bức bách thường xuyên. Ngó xuống cảnh tam đồ sâu hun hút, nhìn ra sáu đạo luân hồi hiểm nguy. Vòng sanh già bệnh chết thật khó thoát. Thế nên một lòng ngày đêm kính cẩn chuyên cần cầu Phật A Di Đà cứu vớt. Mượn thân phù du giả tạm cố gắng tu hành, dùng diệu quán khai trí giác tỉnh. Nương từ lực Phật bay về cực lạc, uống nước Tám đức, giải thoát lậu nghiệp, quay trở lại Ta Bà hoằng dương đạo thanh lương, đưa tất cả chúng sanh về Tịnh-độ”. Chúng ta hiện nay, chùa Viên Thông 26 vị, Liên Hoa 30 vị, Linh Quang 10 vị, Hương Sen 90 vị, Dược Sư 100 vị, Bát Nhã 80 vị, Lăng Nghiêm 10 vị. Tổng cộng 346 người hàng ngày niệm Phật, trừ vọng- hoặc viên thành giới phẩm. Niệm lực tương tục, đúng nghĩa châp trì danh, cố gắng hết sức mình cầu đài sen thượng phẩm. 6. Thanh Quy 1. Hô cảnh sách lớn tiếng, đúng giờ. Đại chúng chắp tay chí tâm lắng nghe, đồng niệm Phật. Trừ khi có việc cần. 2. Vào lớp học đúng giờ, không được tự tiện ra vào. Hết sức yên tĩnh, đứng ngồi ngay thẳng. Chú ý nghe giảng, có bệnh hoặc duyên sự cần nghỉ phải xin phép. 3. Chỉ được xem những sách chùa đã kiểm duyệt. 4. Mỗi nửa tháng nhóm chúng đọc quy luật, không được vắng mặt. Có việc cần nghỉ phải xin phép chi trưởng. 5. Gửi thư hay nhận thư phải trình tri chúng. 6. Giờ tụng niệm, chuông 2 phải có mặt. Lễ phục y vàng áo tràng lam, y phục tề chỉnh. Quỳ đứng trang nghiêm đều hàng. Âm thanh hoà chúng. Không được cao tiếng cũng không được đọc thầm. Có duyên sự nghỉ phải xin phép. Bất tịnh được nghỉ 4 ngày các khoá lễ, ngồi thiền và thể dục. 7. Mỗi nửa tháng trước ngày bồ tát, toàn chúng phải như luật sám hối. tri chúng phải kiểm chúng thanh tịnh mới cho bố tát. 8. Không được nói chuyện tạp. Được hỏi đáp về Phật pháp, nhưng muốn nói quá 10 phút phải xin phép tri chúng. 9. Thấy khách đến phải chào, mời tri khách tiếp, không được lân la nghe chuyện. Khách của mình phải xin phép tri chúng rồi mới tiếp, không được nói chuyện lâu. 10. Được chị em cử lỗi, dù đúng dù sai phải chắp tay cảm ơn rồi mới nhẹ lời hoà nhã trình bạch. trường hợp nào cũng phải tâm bình khí hoà. 11. Không được đem chuyện chùa nói với người ngoài. Không được đem chuyện ngoài vào chùa. Không được đem chuyện này nói với người kia. 12. Ở trong chúng phải giúp đỡ lẫn nhau, không được riêng lo bản thân. 13. Tự phạm quy luật phải phát lồ giữa chúng. Biết người khác phạm, không được che giấu. 14. Không được lấy trái cây của thường trụ ăn hoặc cho riêng ai. 15. Sau 3 tiếng bảng báo hiệu giờ ăn, phải có mặt ở trai đường. Tuyệt đối im lặng. Tưởng năm phép quán. Cần ăn riêng phải xin phép tri chúng. Giờ ăn, hành đường không được mặc áo ngắn, ngôn ngữ cử chỉ se sẽ nhẹ nhàng, không được động niệm chị em. Ăn xong đồng chúng tụng kinh rồi mới đứng dậy, trừ có việc cần. 16. Ba tiếng kẻng báo hiệu giờ trì tĩnh, phải sửa soạn. Sau một hồi kẻng phải có mặt trên đơn. Không được cười nói, đi mạnh, các việc động chúng. Nằm dáng cát tường. Ngồi nằm chỗ của mình. Có việc cần thức sớm phải xin phép. 17. Không được vô cớ vào liêu khác. Không được tự do ngồi nằm trên đơn người khác. 18. Chấp tác cấm nói chuyện. Phải niệm Phật. Đúng giờ khắc. Tròn nhiệm vụ. Cần nghỉ phải mượn người thay hoặc thưa tri sự. 19. Chậu và xô của chúng không được ngâm quần áo hoặc chứa nước riêng, chướng ngại sự cần dùng của người khác. Quần áo cần để cách đêm mới giặt, phải xin phép. Tẩy tịch dùng hết nước trong lu phải sách đền. 20. Phơi quần áo phải đúng nơi quy định, phải có kẹp, cất vào trước giờ lâm thuỵ. Quần áo vật dụng đều phải có tên. 21. Muốn mượn vật của người, phải hỏi chủ nhân. Dùng xong phải trả về chỗ cũ. Không được tự tiện lục đồ của người khác. 22. Không được vứt rác ra vườn 23. Không được phản kháng chức sự, muốn xây dựng không được đột ngột công cử giữa chúng, phải góp ý kiến riêng. Nếu cần thì trình lên Giám viện xét xử, không được sau lưng kể xấu. 24. Đi đường áo dài tề chỉnh. Không nên đi một mình. Không được đi đêm. Nếu cần phải xin phép, oai nghi đúng luật. 25. Không được đến chùa Tăng. Nếu thật cần phải xin phép Sư cô Giám Viện. Không được đi một mình, cần 1 hay 2 người làm bạn 26. Ra ngoài đại giới , phải xin phép tri chúng. Ở ngoài cách đêm hay nhiều đêm, phải xin phép Sư cô Giám Viện. Giới luật oai nghi nghiêm chỉnh như ở trong chúng. 27. Cãi nhau lần 1 đối chúng sám hối, lần 2 lạy một thời Hồng Danh, lần 3 tuỳ ban chức sự xét xử. 28. Trừ nhân duyên, ai trái nôij quy, lần 1 quay mặt vào tường niệm phật 5 phút. Lần 2 đối chúng sám hối. Lần 3 tri sự sai làm việc một ngày. Lần 4 tuỳ ban chức sự thẩm định. 7. Thanh niên học Phật Dù ngoài đời hay trong đạo, thanh thiếu nhi vẫn được gọi là măng non. Măng non chỉ có một nhiệm vụ là thu hút những tinh tuý của trời đất, để dần dần đan dệt thành những thớ tre vững chắc, đợi chờ ngày vươn mình cao vút, thẳng lên trời xanh, ứng dụng vào bao nhiêu nhu cầu của làng xã. Nhiệm vụ xây dựng tương lai, nhiệm vụ học tập để thành đạt kết quả, nhiệm vụ gói ghém bao nhiêu hi vọng, nhiệm vụ được tô điểm vì ngậm chứa tất cả ước mong. Nói riêng về thanh thiếu nhi đạo Phật chúng ta phải học những gì? Và cách học thế nào? Toàn bộ vấn đề giáo dục, học vấn và tập luyện là cải tạo ngũ ấm hữu lậu vô minh để xây dựng 5 phần pháp-thân hiền thánh. Pháp Bảo Đàn kinh, phẩm Bát Nhã: Phật pháp ở tại thế gian Chẳng lìa thế gian có giác Lìa thế gian tìm Bồ-đề Như uổng công tìm sừng thỏ. Chính từ thân tâm bất giác mà cầu Niết-bàn. Chính từ gốc rễ chúng sanh mà nở hoa giác tỉnh, kết quả Bồ-đề. Cố gắng của thế hệ trẻ là phải nghiên cứu kĩ lưỡng 3 khoen: HOẶC-NGHIỆP-KHỔ. Tin chắc lý nhân quả, luân lí đạo đức nhà Phật căn bản ở giới luật phòng phi chỉ ác. Tin HÀNH là chủ động nghiệp tái sinh, mới có thể hoàn thành chí nguyện giải thoát cho mình và người. Dĩ nhiên muốn là Phật tử thì phải học Phật Pháp. Nhưng chúng ta phải nhớ là vàng thường lẫn quặng, nên trong thất giác chi, cành lá đầu tiên của cây Bồ-đề là trí tuệ trạch pháp. Ngay từ bước đầu tất cả nguy cơ đã xuất hiện, nếu chúng ta học lầm hay không biết cách học. 1- Nắm vững những tri kiến Thánh Hiền trình bày trong kinh sách đã là một khó khăn cho các bộ óc phàm phu chúng ta. Nhưng đó mới là Văn tuệ. Nếu không bước thêm thì chúng ta chỉ thành những con mọt sách, huyênh hoang nói đạo nói huyền. Việc học này trở thành tổn thất nguy hại. Kinh thường dụ là ăn bánh vẽ, đếm bạc cho người, mải xem ngón tay quyên mặt trăng v.v... 2- Cố gắng cần thiết là luyện tập khả năng rời văn tự , thấy kinh ở ngay thân tâm và cảnh của mình. Đây là Tư tuệ. 3- Tư tuệ tức là thực hành, nếp sống đúng chánh pháp. Tệ nạn tai hại nhất là đời sống tách rời giáo lý. Như miệng tụng” thọ thị khổ” mà sinh hoạt cứ chạy theo sáu trần. Sớm chiều đọc Bát Nhã Tâm Kinh mà cả đời chẳng có lấy một phút giây chiếu kiến 5 uẩn huyễn vọng. Sự tu hành trở thành dối trá, người bị lừa đầu tiên chính là mình. Nếu không kịp thời hiểu mối nguy cơ này, không kịp thời sửa chữa mà cứ tự nhận là Phật tử thì sự nghiệp giải thoát không thành. Lại còn gây mối hại cho ngôi Tam-bảo ở thế gian. Như mấy ông lang băm đã làm suy sụp nền y học Đông phương. Vì thế tư tưởng, lời nói, việc làm, 3 nghiệp của chúng ta, đã chẳng được phép mâu thuẫn với kinh sách mà còn phải hình dung kinh sách lên bằng ngàn sắc vạn hình. Không có tự giác, giác tha, thì việc học Phật của chúng ta thật vô giá trị. Hoà -thượng Pháp Chủ dạy Giác có 2 nghĩa: 1) Giác sát: Hồi quang phản chiếu, mỗi động mỗi niệm liền biết ngay. Sắc ấm đã sanh, thọ tưởng ấm đã sanh, không nhận là mình mà phải quán nhân duyên sanh. Không để cho năm ấm này sai sử mình, bắt mình hành động quấy, đến nỗi nghiệp thức phải đi đầu thai vào sáu ngả. Giải thoát luân hồi mới thật là khôi phục lại quyền tự do độc lập. Cổ đức có sách Minh Tâm Bảo Giám. Giám là gương soi. Gương quý báu này chỉ chiếu liễu khi linh tâm minh sáng. Nên thầy không ngớt nhắc răn:” Phải điều hoà thân tâm, phải sinh sống thư thả điềm tĩnh”. Muốn được như thế thì nếp quy luật, thời khoá biểu phải tuân theo triệt để. Kinh nói : Giới sanh Định, Định phát Tuệ là ba vô lậu học. 2) Giác ngộ: Tỉnh thức, sống với chân tâm. Ngài Văn Thù hỏi căn bản tu hành của chư Phật lúc sơ tâm. Bổn sư đáp: Viên giác đà la ni. Đức Phổ hiền hỏi: Làm sao xoá được vô minh để sống với Viên Giác tánh? Bổn sư đáp: Quán thân bất tịnh, quán pháp vô ngã. Vấn đề trước mắt là phải để ý ngay là Phật tử sơ tâm sẽ có một lỗi lầm nghiêm trọng nếu cho rằng năm ấm hư vọng không cần lưu tâm, chỉ cần chuyên y vào tánh Viên Giác, hoặc nói chỉ tu đại thừa không dùng tiểu thừa. Kinh Lăng Nghiêm dạy: Phát giác sơ tâm phải hiểu 2 nghĩa quyết định: a) Nhân địa tu hành phải đồng với quả giác. Cầu Niết-bàn vô sanh bất diệt mà dùng ý thức sanh diệt để tu thì cũng như nấu cát mong thành cơm. Phải y nơi mật nhân Bồ-đề là tánh Biết hằng lưu lộ ở sáu căn thì mới có thể vào bể giác. b) Dõng mãnh muốn xả hữu vi, việc trước hết phải xét cho rõ gốc rễ phiền não từ vô thuỷ, chỗ phát nghiệp, cỗ nhuận sanh của tám thức, ai làm? ai chịu? Nếu không rõ chỗ điên đảo của hư vọng căn trần thì làm sao hàng phục để tiến lên Như Lai quả vị. Vì sao đức Phật đã thành công? Vì ngài đã nghiên cứu rõ 12 nhân duyên hư vọng, tìm được tánh thể của vô minh là Phật tánh. Phật Pháp không bỗng nhiên có, không phải do các Pháp sư phát minh ra. Ta thật ngu ngôc mỗi khi thuyết pháp ta tự thấy mình là người sáng tạo bài Pháp vừa nói. Phật Pháp có ra là từ công phu giác tỉnh của chư Phật, chư Tổ. Các ngài đã đánh thức chúng ta, khiến nhận ra thống khổ của ách luân hồi từ luỹ kiếp, cần phải lật đổ. Cho nên mở đầu nền học vấn, dĩ nhiên chúng ta phải làm giàu trí óc mình bằng những kho tàng tri kiến của các bậc cổ đức, cần mở mang và hoàn thiện tâm hồn bằng những dấu vết bước đi của người xưa. Nhưng không nhắm mắt hấp thụ, không chất đầy đầu óc những văn chương mà luôn luôn vận trí phê phán, am hiểu thực tế, luyện rèn bắt chước. Đạo giác tỉnh không cho phép nhắm mắt nghe bừa mà phải nghiền ngẫm sự thật, rút kết luận trên kết quả thực hành. Lại nữa, phương ngôn có câu:” Ăn cơm có canh, tu hành có ban”. Tổ dạy:” Hổ ly sơn hổ bại, Tăng ly chúng Tăng tàn”. Giọt nước đứng một mình chỉ một thoáng đã thành không, nhưng nếu theo dòng thì dư sức ra biển cả. Sự nghiệp Thánh Hiền vô biên oai đức, nhưng đối với chúng ta còn là ngoại phận rất mong manh. Trong mặt trận chống vô minh, chúng ta chịu tấn công ba mặt: a) Nội phiền não tham sân si, tứ đại sanh não bệnh tử từ trong đánh ra. b) Thầy tà bạn ác, sáu trần cám dỗ, gia đình xã hội buộc ràng, hoàn cảnh từ ngoài đánh vào. c) Giữa là nghiệp lực sát đạo dâm vọng, các tập khí si loạn lôi cuốn. Trí tuệ xuất thế phải có bạn đồng tâm, đồng chí, đồng nguyện đồng hành, như những giọt nước giúp đỡ sức mạnh cho nhau. Phải ở trong dòng mới hy vọng cùng xuôi về biển rộng. Lục hoà bảo đảm đoàn kết. Vi phạm lục hoà không phải chỉ mệt người khác mà còn tan vỡ đoàn thể, chính mình đã tự phá năm phần Pháp-thân. Nếu chỉ đọc bài lấy điểm là đủ an lòng tự đắc mà không chịu nghiêm chỉnh trong bổn phận, không phát tâm phục vụ chị em, thì chúng ta là những Phật tử đáng buồn. Tứ chánh cần không những khuyên thanh thiếu nhi chúng ta làm cỏ mà còn phải reo lúa. Tấm lòng bi mẫn, nụ cười an ủi, lời nói dịu hoà, bàn tay chăm sóc...như dầu thoa máy, điệu sống dễ nhịp nhàng trong đoàn thể. Giác hoa tươi nở trong tâm, hương công đức sẽ thấm nhuần vạn loại. Như đức A Di Đà từ mỗi chân lông toả ánh sáng và hương thơm đi khắp muôn phương, thâu nhiếp hữu tình về Phật hạnh. Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật 8. Cảnh sách hàng ngày Thức chúng khuya: 3 giờ Muôn tiếng chim im lặng rồi Canh ba trống đổ hồi Quốc kêu tiếng tha thiết(1) Mộng bướm còn miệt mài(2) Kiến đục trong cây hoè Cá ngoi mặt nước bơi. Không hay xem trăng thật Chỉ đắm đoá hoa cười. Lạc nhà xa ngàn dặm Còn ham giấc ngủ hoài. Không biết thân này ảo Mê man trọn một đời. Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật (3 lần) Nam mô A Di Đà Phật (10 lần) Tiểu thực : 5 giờ 30 phút Đời mộng ảo chuông chùa cảnh tỉnh Chuông trí tôn gieo khắp nhà nhà. Con ham giấc ngủ ngon mài miệt Chẳng quản vầng đông ánh chói loà. Dằng dặc đêm dài còn có sáng Mịt mờ lối quỷ khó lần ra. Nay không gắng gỏi tu hành đạo Ngày khác làm sao thấy Phật đà. Nam mô đại trí Văn Thù Sư Lợi Bồ-tát (3 lần) Nam mô A Di Đà Phật ( 10 lần) Học sáng: 7 giờ 30 phút. Đêm tối vừa lui sáng Mặt trời dần chiếu ra. Âm thầm tóc xanh bạc Má hồng đổi dần dà. Chẳng biết tuổi xuân ngắn Còn tranh quả nghiệp mà. Thân như băng gặp nắng Mệnh, đèn trước gió to. Chớ làm khách trọ mãi Sớm lo trở về nhà. Nam mô đại hạnh Phổ Hiền Bồ Tát (3 lần) Nam mô A Di Đà Phật (10 lần) Ngọ trai: 10 giờ 30 phút Chớp mắt mặt trời đã giữa trưa Còn ham thanh sắc, mãi say sưa. Ngàn cây đứng bóng, Nam Kha mộng(3). Vầng nhật trên không, bước chuyển vòng. Phút chốc hoa tươi đã rũ úa. Quẩn quanh mệnh nấm thịnh liền vong(4). Ai ơi sao chẳng hồi tâm lại. Tự khổ đường mê mãi ruổi rong. Nam mô Hộ Pháp chư tôn Bồ-tát (3 lần) Nam mô A Di Đà Phật ( 10 lần) Thức chúng trưa : 2 giờ. Sanh ra làm tớ cho hình thể, Già đến tám mươi trí hôn mê, Bệnh xâm tứ đại đau khôn nhẫn, Chết xuống ba đường nghiệp nặng nề, Gặp gỡ ghét hờn vô cùng hận, Ái ân khôn siết khổ biệt ly, Muốn cầu chẳng được thêm phiền muộn, Ngũ ấm lẫy lừng cháy thật ghê. Nam mô đại bi Quán Thế Âm Bồ-tát (3 lần) Nam mô A Di Đà Phật ( 10 lần) Học chiều : 2 giờ 30 phút Mặt trời nghiêng xế bóng Vườn dâu xanh mát râm(5). Ngày tháng khó cầm lại Già bệnh dễ đến tìm. Giờ chết luyến chẳng được Kỳ hẹn ai thể ghìm. Các ngươi mở to mắt Mê tan, chớ để tâm. Nam mô Đại Thế Chí Bồ-tát (3 lần) Nam mô A Di Đà Phật ( 10 lần) Ngồi tĩnh tối : 7 giờ 30 phút. Mặt trời vừa lặn tối nhá nhem, Bối rối đường đi lại tối thêm. Đốt đuốc chăm lo nhà người rạng, Đèn nhà mình sao chẳng chịu xem. Quạ lửa non tây đã chìm hẳn, Biển đông lấp lánh ánh cung thiềm(6) Sanh tử thay đổi tuần hoàn mãi, Tam-bảo quay về hết cảnh đêm. Nam mô đại nguyện Địa Tạng Vương Bồ-tát (3 lần) Nam mô A Di Đà Phật ( 10 lần) Lâm thuỵ : 9giờ tối. Cảnh bức núi tây mờ Bao giờ tiếc ngày giờ? Chỉ hay theo ý ngựa Đã dừng tâm vượn chưa? Trời lặn rồi lại mọc Thân nổi chìm đấy mà. Già đến khôn với ngu Chết đi nay như xưa. Tránh sao được vô thường, Trốn đâu đại hạn kia. Ai nấy làm đạo chánh Chớ lạc lối tà tâm. Nam mô Thanh Tịnh đại hải chúng Bồ-tát (3 lần). Nam mô A Di Đà Phật (10 lần) 9. Ngũ Quán Phàm tới bữa ăn phải tưởng năm phép quán: 1. Xét công nhiều ít, chỗ người đem đến. Mỗi một hạt cơm bao nhiêu vất vả! Trước hết phải lo ruộng mạ, cuốc cày, nhổ cỏ, tát nước, đắp bờ. Bao nhiêu thức khuya dậy sớm, mưa nắng dãi dầm. lại còn ngâm giống, reo mạ, nhổ mạ, cấy lúa, bón phân ba lần, bắt sâu nhiều buổi. Tới khi hạt lúa ngậm sữa thì cả tháng, ngày canh chim, đêm canh trộm. Lúa chín rồi nào gặt, nào đập, nào phơi, nào xay, nào giã. Chỉ tính một công phu gánh đi gánh lại từ thôn quê lên thành thị, mỗi ngày khuân vác, bao nhiêu mồ hôi. Có hạt gạo rồi còn phải bổ củi, gánh nước, lượm thóc, rửa nồi, vo gạo, đun nấu. Đếm tất cả 72 công việc, vậy mà vừa đặt vào miệng đã thành đờm dãi, cách một đêm biến thành phân tiểu, ai cũng ghét không muốn thấy. Thế gian bao kẻ tạo ác chỉ vì tham ăn, đến nỗi đoạ địa ngục, nuốt hòn sắt nóng, uống nước đồng sôi. Hết nghiệp lên làm súc sanh đền trả nợ người, trâu kéo cày, ngựa kéo xe, đói khát, roi vọt. Mưa nắng dãi dầm, trăm cay ngàn đắng, sống thống khổ, chết đoạ đày. Xét chỗ người đem đến là thế nào? Thí chủ cầu phước, giảm miệng bụng mình, bớt phần vợ con, đem của tới chùa. Ta không tu hành, lấy gì đáp lại sự tin kính này? Cho nên có câu:” Hạt gạo nặng như trái núi là vậy”. 2. Xét đức hạnh mình tròn hay khuyết: Nếu không giữ giới, ngồi thiền, tụng kinh, làm việc Tam-bảo, thời đức thiếu hạnh khuyết, không nên thọ người cúng dường. Nếu thọ thì vì đây mà đoạ lạc. Đức hạnh thì dù có hoàn toàn thì cũng phải tu năm phép quán mới tiêu của tín thí. Bởi không giác tỉnh, không có giải thoát, không giải thoát tức là đoạ lac, đã đoạ lạc hẳn phải đền trả nợ xưa. Tổ Thiên Thai dạy:” Bất luận ăn của chúng Tăng hay đi khất thực, đều phải tưởng năm phép quán. Nếu không nhập quán, ắt nhuận sanh tử. học đạo không học lý, thân sau đền tín thí”. Xưa kia ông trưởng giả cúng dường một vị Tỳ-kheo, tin kính một lòng. Chợt ông Tỳ-kheo mắc bệnh chết. Bỗng nhiên một hôm trưởng giả thấy trong vườn có mọc nấm. Thời gian sau nấm không mọc nữa. Phật dạy:” Nấm ấy là ông Tỳ-kheo đền nợ vậy”. Kinh đã nói rành đâu dám không tin, 3. Phòng tâm lìa lỗi: Từ vô thuỷ bao nhiêu lầm lỗi, gốc đều từ tham sân si. Cho nên ngày nay phải giác sát. Khi ăn gặp món ngon đừng khởi lòng tham, gặp món dở chớ khởi lòng sân, với món ăn bình thường chớ khởi lòng si. Đủ năm phép quán mới nên thọ thực. Ngoài ra mắt thấy sắc, tai nghe tiếng, mũi ngửi hương, thân giác xúc, ý thọ pháp trần, đèu là gốc xuất phát ba độc, cần tuệ minh sát thanh lọc vọng tâm. 4. Món ăn đây chính là thuôc hay, chữa bệnh hình khô sắc héo: Vì mượn tứ đại làm thân nên có nghiệp đói khát. Nếu không ăn uống thì hình gầy sắc ốm, không do đâu tiến tu đạo nghiệp. Cho nên ăn uống chính là thuốc hay trị bệnh. Nhưng nếu ta tham đắm thì trở thành thuốc độc. Kinh A Dục Vương: Tổ Ưu Ba Cấp Đa đưa bát sữa cho một Tỳ-kheo, bảo rằng:” Ông hãy đợi nguội rồi từ từ uống”. Tỳ- kheo thổi lia thổi lịa, uống một hơi cạn hết. Tổ nói:” Sữa tuy nguội nhưng tâm ông còn nóng, phải dùng phép quán bất tịnh để nguội tâm ông đi”. Tỳ-kheo vâng lời , lặng lẽ quán. Pháp quán đắc lực, ông ói ra đầy bát. Tổ bảo:” Ngươi ăn lại đi”. Tỳ-kheo bạch:” bất tịnh ăn làm sao được nữa”. Tổ dạy:” Ngươi phải quán tưởng các pháp như hỷ mũi khạc đờm”. Nhân đó Tỳ-kheo tinh tấn tư duy quan sát, được quả A-la-hán. 5. Vì thành đạo nghiệp mới thọ món ăn: Ta vì cầu đạo nghiệp mới tới đây thọ lãnh cơm này. Người cũng vì mong ta thành đạo, mới đem cơm tới đây cúng thí. Vậy hãy tự hỏi” Đạo nghiệp là gì? Đã thành chưa? Dù chưa thành đạo nhưng cũng phải vì đạo. Nếu không thì một hạt gạo cũng khó tiêu. Cho nên phàm khi ăn, phải tưởng năm phép quán, thường sanh lòng hổ thẹn, mỗi miếng thầm tưởng:” Nguyện dứt tất cả ác, tu tất cả lành, hằng thanh tịnh tự tâm, bao nhiêu công đức hồi hướng cho tất cả chúng sanh đồng thành Phật đạo”. Nếu quả được như vậy thì ngàn vàng cũng tiêu. 10, Thể dục - Hô theo Từ Bi quán. - Động tác theo hơi thở thật chậm và dài.  Động tác vươn thở: Mười phương Sư Tăng .Sống không hiềm hận, An vui mãi mãi  Động tác tay: Nguyện cho Thầy tôi. Sống không hiềm hận, An vui mãi mãi  Động tác chân: Nguyện cha mẹ tôi. Sống không hiềm hận, An vui mãi mãi  Động tác đầu gối: Mười phương tín thí. Sống không hiềm hận, An vui mãi mãi.  Động tác vặn mình: Nguyện khắp cõi trời. Sống không hiềm hận, An vui mãi mãi  Động tác lườn: Nguyện khắp cõi người. Sống không hiềm hận, An vui mãi mãi  Động tác bụng: Nguyện A-tu-la. Sớm mau giải thoát, An vui mãi mãi  Động tác lưng: Nguyện cõi địa ngục. Sớm mau giải thoát, An vui mãi mãi  Động tác toàn thân: Nguyện khắp quỷ thần. Sớm mau giải thoát, An vui mãi mãi  Động tác chạy tại chỗ: Nam mô A Di Đà Phật (10 lần)  Động tác điều hoà: Nguyện loài bàng sanh. Sớm mau giải thoát, An vui mãi mãi  Động tác thư giãn: Mười phương chúng sanh. Sớm mau giải thoát, An vui mãi mãi. ( Tuỳ sự cần dùng mỗi mỗi động tác làm từ 4 đến 8 lần) Lợi ích - Thân tập từng động tác, tâm duyên theo âm thanh rải từ bi quán. Đây là phương pháp diệt dần thói hờn giận, huân tập tâm từ bi, đồng thời giải oan gỡ kết với hết thảy chúng sanh. Tâm vốn ở khắp pháp giới nên mỗi niệm từ bi rải đến mười phương khổ não chúng sanh, phước báo vô tận. trái lại mỗi mống nghĩ xấu ác ảnh hưởng cũng cả Pháp giới nên tổn đức không cùng. - Theo từng động tác. chúng ta hít vào thở ra, điều hoà hơi thở. Hơi thở điều hoà thì tim đập điều hoà, thần kinh hệ cũng điều hoà theo. Do đó tâm an định, thân khoẻ mạnh, tinh thần thanh sáng an vui. Đây là một phương pháp tiêu tai giải nạn, bảo đảm đắc lực trong hiện tại và là điều kiện thiết yếu cho sự giác ngộ ngày mai. 11, Ba Phẩm Liên Hoa (năm1983) Phẩm 1. Liên hoa lấy Kinh Luật làm căn bản sinh sống. Kể từ năm ngoái quý sư cô mạnh dạn buông bỏ văn tự, sấn vào hành Pháp Tứ Niệm Xứ. Năm nay duyên lành có sư cô Hạnh về trì y, quý Sư cô tiến thẳng vào thiền đại thừa. Hai năm chuyên Tứ Niệm Xứ để thấy các pháp sanh diệt vô ngã. Vừa tạm đủ lông đủ cánh, quý Sư cô vào Nhĩ căn viên thông. Đây là bản hoài của Hoà-thượng Pháp chủ. Ăn đến cái bánh thứ ba này mới thật no. Nhưng không phải là không cần hai cái bánh trước. Liên Hoa hiện tại là một Tịnh-độ có 3 phẩm” 1. Hạ phẩm học Kinh và Luật để vào hiền vị. 2. Trung Phẩm tu Tứ Niệm Xứ để mở đường xuất thế. 3. Thượng phẩm phản văn vào tri kiến Phật. Kinh Pháp Cú dạy:” Canh phòng tâm nghiêm mật sẽ đi đến an vui”. Quý Sư cô là những dũng sĩ can đảm, quyết xông vào trận chiến nội tâm với mục đích tự tha đồng giải thoát. Biết nói sao cho hết nỗi cảm phục của chúng con khi thấy quý Sư cô khép mình trong kỉ luật nghiêm khắc, chịu đựng những thử thách của thân thể và nội tâm. Hình ảnh quý sư cô nghiêm trang thiền định đập mạnh vào tâm hồn chúng con, khiến tham sân lật đổ của chúng con bớt đi. Chúng con phải làm thế nào để xứng đáng làm em của những người chị đã từng giờ từng phút nhiếp niệm. Chúng con cố gắng học, nắm vững giáo lý để sau này cũng được tập tu. Chúng con thúc liễm thân tâm vì ngay trước mắt có các bậc thánh hiền gương mẫu. Mười phương chúng sanh còn được nhờ tư điển của quý sư cô huống chi chúng con hân hạnh sống liền bên? Chúng con sung sướng được nương tựa vào sư dẫn dắt của chánh pháp. Kinh pháp cú dạy: Làng mạc hay rừng sâu, non cao hay trũng thấp nơi nào A-La-hán trú ngụ cũng tịnh lạc. Kinh đại bi dạy: Người nhiếp tâm trì trú tắm rửa, nước văng vào chúng sanh nào, chúng sanh này liền tiêu tội được an vui. Hơi miệng người trì chú theo gió nhằm ai, người này sẽ được giải thoát. Quý Sư cô miên mật trở về tánh nghe không tạp niệm, soi từng hơi thở, biết từng bước đi. Hôm nay gieo nhân làm Phật, chắc chắn sẽ kết quả Phật. Tương lai chúng con nương nhờ vào sự tu hành của các chị đi trước. Nguyện cầu Tam-bảo gia hộ quý Sư cô bình an sức khoẻ, trí tuệ khai minh, Bồ-đề tâm kiên cố, hoàn thành cảnh giới Liên Trì ngay tại Việt Nam. Nam mô Hoan Hỷ mười phương Phật. Phần 2 Đã gọi là Tùng Lâm, rừng tùng, hẳn nhiều tùng bách hiên ngang, lá sanh rợp trời, thân thẳng một gióng, cao vút hư không. Đáng mừng là ban hộ pháp đã lấy tự tha lưỡng lợi làm nhiệm vụ. Tận tâm kiệt lực mà vẫn sợ tâm này chưa tận, lực này chưa đủ. Giúp người chính là giúp mình, cùng nhau biến thành biện sự nghiệp. Tổ dạy: Bổ củi sách nước, không việc nào chẳng phải đạo. Chủng chủng công vụ thiền môn, mỗi mỗi đều có phần quan trọng. Tu tĩnh đắc đạo đã đành mà xả thân khổ hạnh danh thơm cũng lắm. Tổ Quy Sơn nấu ăn. Tổ Kính Sơn quét dọn nhà bếp. Tổ thọ xương cầy ruộng. Tổ Bách Trượng một ngày không làm không ăn. Quý ngài đều có tên trên bảng truyền đăng, đều đã được tâm ấn nối Pháp Như Lai. Vì thế chấp lao phục dịch, tự lãnh khó nhọc để phụng thờ Tam-bảo, thật chính là tu đạo. Đây chính là những cây tùng, cây bách đang mong vươn cao, uống ánh quang minh vô tận. Đây chính là sửa soạn ngôi Tổ ngôi Phật. Mừng rằng toàn chúng Liên Hoa ai cũng có phần bên Cực Lạc. Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. 12. Huấn Từ Của Hoà -Thượng Pháp Chủ Nhân ngày lễ tạ 49 ngày đả thất của ban Phản Văn Tổ sư than rằng:” Thời chánh Pháp, người tu dùng mãnh tinh tấn, vì đạo quên thân, nên có tu có chứng. Ngày nay biếng nhác nên ít chứng ngộ”. Bậc tiền bối nhà Nho khuyến khích học sinh rằng: “Bạch nhật mạc nhàn quá Thanh xuân bất tái lai Song tiền cần khổ học Mã thượng cẩm y hồi”. Nghĩa là: “ Nắng vàng chớ bỏ qua Tuổi xanh không trở lại, Bên cửa cần chăm học Mai đây ngày vinh quy”. Vua Đại Vũ ngày xưa tiếc tấc bóng quang âm hơn thước ngọc. Kinh vô thường dạy:” Thiếu niên dung mạo tạm thời tươi, chẳng bao lâu sẽ thành khô tuỵ”. Học sinh thế gian biết quý thời giờ, sớm khuya học tập. Khi thi đỗ rồi, vua ban áo cẩm bào, cưỡi ngựa về quê, làng huyện đón rước, cha mẹ hớn hở, vinh hoa biết biết ngần nào? Học sinh xuất thế gian, bái từ cha mẹ vào cửa Thiền-na, lập chí siêu phàm, những mong nhập thánh. Tâm Bồ-đề vừa khai phát, mười phương Phật vui mừng, cõi âm cõi dương hi vọng, quỷ thần ủng hộ. Hàng ngày tự hỏi: Quán thông 3 tạng thánh giáo chưa? Nghiệp chướng đã đào thải hết chưa? Thân miệng ý đã thanh tịnh hết chưa? Làm sao đừng cô phụ bốn ân? Làm sao cứu vớt cả ba cõi? Trường thi tuyển Phật, tâm Không đỗ đầu. So với việc làm thế gian thật dễ hơn nhiều. Vì sao? Vì học vấn thế gian là đem những kiến thức bên ngoài vào tâm, luyện tài văn chương, phải dùng sức lực tinh thần rất nhiều. Mà kết quả làm quan phú quý vinh hoa chỉ hưởng may lắm mới được trọn vẹn một đời. Còn học sinh xuất thế gian, cưỡi xe bạch ngưu, mặc giáp liên hoa, ngay còn đang tu tập, trời người đã lễ bái huống chi khi tự giác, giác tha, giác hành viên mãn, khiến cho Phật nhật tăng huy, thì quý giá biết chừng nào. Vinh hoa kiếp kiếp đời đời. Cứu độ dân thế, ân đức trời đất biển sông không chi sánh bằng. Mà chỉ cần có một công phu xả ngã pháp, không nhất thiết tướng, thành vạn pháp trí. Nay các cháu đã chọn đường xuất thế, con đường vô thượng không chi hơn, còn lời nói nào để tán thán hết thịnh đức? Giới thân tuệ mạng vừa thêm 1 hạ. Lại tròn 49 ngày thiền thất phản văn, công phu viên mãn hứa hẹn tương lai siêu phàm. Con đường từ xưa tới đây đã thật là rực rỡ huy hoàng. Vậy khuyên cứ đường này mà đi đến nơi đến chốn. 13. Lớp Phật Học Phổ Thông Kính bạch trên Thầy! Kính bạch toàn thể đại chúng! Đã ngót ba ngàn năm đạo Phật có mặt ở Việt Nam. Lòng tin tội phước nhân quả đã thấm nhuần khắp các tầng lớp xã hội. Khoảng 100 năm gần đây, văn minh Âu Mỹ tràn vào, lớp người hiện đại thờ ơ với đạo Phật. Trong khi ấy, nghiên cứu lí học, sự hành thiền định được thực hành khắp năm Châu. Làm sao lại trái ngược như thế? Bởi vì trên khắp thế giới, pháp luân thường chuyển nên Phật nhật tăng huy. Còn ở Việt Nam, con số Tăng Ni giảng dạy Phật Pháp thật là quá ít. Đạo phật chỉ được học và tu kín đáo trong các ngôi chùa. Giữa thành phố, giáo lý còn được vang lên mỗi tuần chớ ở các thôn quê thì khoan nói đến ánh sáng chân lý cao xa, 99% người Việt Nam chẳng am tường tam quy ngũ giới. Ngay thôn Phú An chúng ta, nổi tiếng là đông tu sĩ Phật giáo, có tới 50 chiếc am cốc. Nhưng thử hỏi dân chúng, có ai biết đến đức Thích Ca Mâu Ni? Chắc chắn chỉ nhận được những lắc đầu. Người ta đến chùa chỉ để cầu an cầu siêu, coi đức Phật như ông thần gốc đa với bổn phận tiêu tai giáng phước. Chữ Phật nghĩa là Đại Giác mà nay đạo phật chỉ đưa người vào mê tín dị đoan. Như thế đối với đàn na tín thí, tứ sự hộ pháp cúng dường, cái im lặng của chúng ta quả thực là tàn nhẫn và độc ác. Nóng lòng về tình trạng ấy nên cố Hoà-thượng Thích Thiện Hoa suốt 25 năm, đã đem những kinh nghiệm giảng dạy, đúc kết thành bộ Phật Học Phổ Thông, gồm 12 nấc thang giáo lý, đưa dần người học đạo từ thấp nên cao, từ cạn vào sâu. Mong các đệ tử xuất gia có tài liệu để mở lời giáo hoá ông bà cha mẹ, trước Phật hoá gia đình, sau khai giác xã hội. Riêng chùa chúng ta, khiêm tốn nơi miền quê xa xôi, an tĩnh dưới những tàn cây rừng núi. Hàng ngày vẫn có những đoàn người từ thành phố đổ lên, đi cả ngàn cây số từ xứ Bắc đến, từ nước ngoài về thăm quê hương...bao nhiêu công lao, bao nhiêu vất vả, đem đầu đến trước Tam-bảo, cúng dường các Sư. Sư là tiếng Tàu. Tiếng việt dịch là Thầy, nghĩa là người dạy học. Cho nên để tiêu dung hạt gạo tín thí, chúng ta có bổn phận phải có một bài khai tuệ cho những người vì các Sư mà đến đây. Chúng con hôm nay thành kính nối gót tiền hiền, vâng lệnh Tôn sư, đảnh lễ Tam-bảo, nguyện nghiên cứu bộ Phật Học Phổ Thông, trên hoằng dương đạo giác, dưới mở đường giải thoát cho ông bà cha mẹ thân duyên cùng mười phương pháp giới hữu tình đồng vào Phật đạo. 14. lớp Thập Tín Nam mô Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm kinh, Hoa Nghiêm Hội thượng Phật bồ-tát Kính bạch trên Thầy, kính bạch toàn thể đại chúng. Tuy Phật pháp mênh mông như biển cả nhưng chúng sanh nào cũng có thể tuỳ phận lượng mà hưởng thọ. Bởi vì Phật pháp sẵn đủ trong tâm mỗi chúng sanh. Phật tánh là chánh nhân. Phật pháp là duyên nhân. Liễu nhân Phật đạo do đây viên thành. Hoa Nghiêm là bộ kinh hùng vĩ vẽ đường Vô-thượng Bồ-đề. Cổ đức đại từ đại bi đã dạy cho sơ tâm xuất gia chúng con,vừa bước chân vào chùa, liền được học Tỳ-Ni Hương Nhũ( rút từ phẩm Tịnh Hạnh). Một bộ nhật dụng này, sự thì thâu nhiếp thân tâm, lý thì quy viên đốn. Mỗi xúc mỗi trần, mỗi hành vi, tập cho tâm chí sáng suốt, thoát ly tạp tưởng quá khứ vị lai, trở về hiện tại. Nhiếp niệm thành định. Mỗi nguyện mỗi nguyện đều vì chúng sinh. Đọc văn này, phát nguyện này, làm hạnh này, sẽ đồng bậc với Viên Giác, không hai không khác. Bồ-tát Hiền Thủ dùng ngót 400 bài kệ để ca ngợi công đức Thập Tín Bồ-tát. Còn Tỳ-kheo-ni Bảo Tâm, đã đủ phước duyên được nhập thất mấy năm chuyên học kinh Hoa Nghiêm Sớ Sao của Thanh Lương quốc sư. Nay công phu hoàn tất, vâng lệnh Tôn sư, cùng một số chị em khai mở lớp học Thập tín. Mục đích xuất gia là cầu thành Phật. Bước đầu tiên dĩ nhiên phải vào Thập Tín. Như lai đem quả dụng ứng quần cơ, bủa khắp cõi Ta Bà những tia sáng Bồ-đề. Phật danh, Phật pháp, Phật thân đều là chỗ y cứ để khởi lòng TIN. Muốn viên mãn 10 TÂM( 10Tín) cần tu 10 quán pháp. Đây là then chốt, vì muốn tin phải hiểu. Trong phẩm Bồ-tát Vấn Minh, 10 Bồ-tát tên THỦ cùng nhau hỏi đáp, khám phá nghiên cùng giáo lý. Song phải do thắng hạnh mới tiến lên thêm bực ngôi vị. Học hiểu mà không thực hành uổng phí đa văn nên Phật nói tiếp phẩm Tịnh Hạnh. Tuỳ theo sự duyên mà khéo phát nguyện, tăng trưởng Trí Bi, thành tựu Phổ Hiền công hạnh, nội đức sớm viên thành, ta mà chẳng thể quấy. Thần lực pháp nhãn do TÍN mà đầy đủ. Chúng ta tự xưng là con Phật, học Phật và cầu thành Phật, hẳn cũng nên nhận rõ Phật là gì? Phật ở đâu? Đấng Đai Giác thường trụ ở khắp mười phương. Thập TÍN là bước đầu viên thông. Hôm nay chúng con đặt chân cất bước trên con đường vạn dặm, cầu mong đại trí Văn Thù, đại bi Quán Thế Âm nhỏ giọt sữa Pháp, nuôi mầm Bồ-đề. Nhất thừa viên đốn diệu pháp môn Để chân thật thấy tánh thành Phật. Tay cầm mắt xem tâm miệng tụng, Nên biết đều là đại nhân duyên. Thấy nghe, tuỳ hỷ, chứng Bồ-đề. Rốt ráo viên thành đạo Vô-thượng. Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật tác đại chứng minh. 1. CHƯƠNG TRÌNH AN CƯ - Lễ Tổ - Lễ Phật – Khai luật kệ - Giáo giới an cư. (đại chúng quỳ nghe giáo sắc của đại Tăng) - Thông kiểm số chúng - Cụ Tổ Quảng Bá huấn từ. - Thỉnh Chủ Pháp Sự. - Các thượng toà đối thú bạch an cư. - Toàn chúng bạch an cư. - Cung an chức sự mùa hạ. - Ban chức sự phát nguyện. - Bát Nhã- Hồi hướng-Tam quy. Mẫu thông kiểm số chúng Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Kính bạch đại đức Ni Tăng! Năm nay Ất Hợi 3 tháng tiền an cư, trước hết con xin cung thỉnh đức Trung thiên Giáo chủ Thích Ca Văn Phật đứng ngôi thượng thủ. Kế đến các cựu và khách Tỳ-kheo-ni gồm 15 vị, thức xoa ma na 3 vị, Sadini 16 vị, hình đồng 2 vị. Cuối cùng con xin cung thỉnh ngài Vi Đà Hộ Pháp an cư hội thượng nhận 1 ngôi vị. Vậy tổng cộng mùa hạ năm nay tại trụ xứ Liên Hoa có 38 vị tiền an cư. Kính xin quý tôn đức liễu tri cho ( 1lạy). Cảnh sách khuyên niệm Phật Tất cả khổ cực thế gian nằm trong 4 chữ sanh tử luân hồi. Thân người rất khó được mà lại vô cùng dễ mất. Tam đồ dễ vào mà rất khó ra. Thời gian trong địa ngục phải lấy số kiếp mà tính đếm. Vạn khổ nung đốt không biết nơi đâu cầu cứu. Đền tội xong lên dương thế làm bàng sanh để trả nợ xưa. Từ bụng heo chui ra, tự nhận mình là heo. Đem tánh vô lượng quang vào bào thai xú uế, nương gá bụng ngựa dạ trâu, thương tâm biết nhường nào! Bảy đời Phật đi qua vẫn còn làm thân kiến. Tám vạn kiếp sau chưa thoát nghiệp bồ câu. Bỏ đãy da này mang đãy da khác. Trải ngàn vạn năm mới được tướng người. Bao lần chịu thân cánh ấm, đâu còn trí sáng? Xúc thọ căn trần, sanh già bệnh chết làm sao tự chủ? Cho nên bây giờ, phải thống niệm hiểm nguy sanh tử như cứu lửa cháy dầu. Vì mười phương chúng sanh nhất tâm niệm Phật. Bởi vì họ với ta đồng thể. Bởi vì đã từng làm bà con quyến thuộc nhiều đời. Bởi vì đã cùng nhau chịu khổ từ vô thuỷ kiếp. Nên nay niệm Phật cầu cho ta và người đồng giải thoát, đồng thành Phật đạo. Phát đại tâm là như vậy, trên cảm thông chư Phật, dưới kế hợp tánh linh. Tội nghiệp từ luỹ kiếp sẽ giải trừ. Bao nhiêu thiện căn sớm thành thục. Lấy vui Cực lạc đối chiếu với thống khổ Ta Bà thì lòng muốn rời xa càng vội vàng như mong thoát hang cọp, như đói mong ăn, khát mong uống, như tránh oan gia đang cầm dao rượt, như chết đuối gấp cầu cứu vớt. Mê chân khởi vọng hay ngược vọng quy chân, đâu có pháp nào ngoài một niệm này. Theo tịnh duyên niệm liền vào Pháp giới thánh. Theo nhiễm duyên niệm mở ra Pháp giới phàm. Mười phương chánh báo y báo đều từ một niệm này mà ra. Trì một danh hiệu Phật là gieo một hạt giống vào 9 phẩm hoa sen. Niệm một câu Phật là một bước trên đường giải thoát. Tâm tâm liên tục niệm niệm chuyên cần. Càng lâu càng thấm thía. Sao cho thành một khối nhất tâm bất loạn. Một khi liên hoa khai nở thì tam thân tứ trí, ngũ nhỡn lục thông, bao nhiêu thắng duyên rực rỡ. Niệm Phật cốt yếu để minh tâm mà tịnh tâm cũng không chi bằng niệm Phật. Như nước đục được minh châu nhất định sẽ trong. Biết rõ lý này phải vội vàng Niệm Phật. Nếu có thể nhất tâm niệm phật thì coi như việc tham học đã xong, việc cần làm là thành biện vậy. Triệt Ngộ Đại Sư 2. LỄ TƯỞNG NIỆM HOÀ-THƯỢNG TRÍ THỦ ĐỆ NGŨ LUẬT SƯ(1984) Đại chúng sửa soạn an cư. Mọi năm ngày này, Liên Hoa cử 2 vị sang Già Lam đảnh lễ thỉnh Ôn làm đệ ngũ luật sư. Năm nay Ôn đã về cõi Phật. Chúng con không thể ngăn được nỗi niềm xúc động đảnh lễ di ảnh, cùng nhau nhắc lại công đức của Ôn đối với Liên Hoa, Hạ năm nay bà chắc rằng mãi mãi, chúng con không tìm đâu được một vị đệ ngũ Luật sư khoan dung đức độ và tận tình dạy dỗ chúng con như Ôn. Ôn đã vui vẻ giải quyết những khó khăn rắc rối trong ni chúng. Ôn lúc nào cũng có sẵn những bài pháp ngắn, hợp cơ phải thời, để vừa sách tấn, vừa dăn dạy con em lỗi lầm. Mỗi dịp khánh tuế là chúng con lại được Ôn kể cho một câu chuyện thật hay để về làm quà cho đại chúng. Ôn vắng bóng là một mất mát lớn cho Liên Hoa. Thật đúng như phương ngôn Việt Nam:” Con không cha như nhà không nóc”. Hoàn cảnh thời mạt Pháp đã cam go, thêm vào đó bao nhiêu đần ngu dại của chúng con. Ôn đã lặng lẽ che trở, gạt đi những mũi tên trì trích và từ mẫn nâng đỡ Liên Hoa trước những tầm mắt nghiêm khắc của trong và ngoài giáo Phật giáo. Cha lành toả đức từ che mát. Mỗi khi chúng con sang thỉnh ý kiến Ôn, dù việc nhỏ như cá nhân phạm lỗi, xin Ôn chỉ dạy cách trị phạt, Ôn vẫn từ hoà hoan hỉ cặn kẽ tận tình. Tưởng như Ôn thong thả rảnh rang lắm. Có lần thầy thị giả phát gắt vì chúng con đã liên tiếp làm rộn Ôn. Là người lãnh trách nhiệm lớn trong giáo hội toàn quốc, là thượng thủ trong hoạt động Tăng già, là Thầy đốc giáo của các trường Tăng Ni Ôn đã thành lập, là thầy Bổn sư của ngàn vạn Phật tử tại gia , làm sao Ôn có thời giờ ngồi không? Thế mà bất luận trường hợp nào, chúng con cũng chỉ thấy trong Ôn một đấng nghiêm từ hoan hỷ nâng giấc đàn con dại. Nếu không được Ôn khuyến khích, hẳn Liên Hoa có bao giờ dám tổ chức hàng năm khoá y công đức. Chính nhờ những chỉ dạy tỷ mỷ kĩ càng của Ôn mà Liên Hoa mỗi năm mạnh dạn tu học thêm năm tháng Cahyna, không lo trái pháp. Chúng con được quý Thầy cho biết sáng nào Ôn cũng dạy từ 2 giờ để làm lễ sám. Ôn còn dành thời gian để viết sách cho hậu lai chúng con. Cuốn YẾT MA YÊU CHỈ là tác phẩm cuối cùng của ngài vừa hoàn tất trước khi nhắm mắt. Toàn quốc đã nói nhiều về công đức Ôn đối với Phật Giáo Việt Nam. Giờ đây Ôn đối trước di ảnh, nhân buổi lễ truy niệm bậc đại ân nhân, Liên Hoa Ni chúng nhớ lại năm 1980, Thầy chúng con ở Phú An về thành phố Hồ Chí Minh, được Ôn cho một bài Pháp. Tết đến, thay vì lễ phẩm thế gian, Thầy bắt Diệu Văn học thuộc lòng bài ấy. Cùng với sư Cô Giám Viện sang làm lễ khánh tuế Ôn, chúng con đọc Ôn nghe lại, để dâng lên, xin Ôn chứng minh, lòng chân thành ghi nhớ Pháp bảo của mấy con. Ôn vô cùng hoan hỷ và dạy thêm rằng: Thời Phật còn tại thế, ở phương đông thành Xá Vệ, có một bà già ghét Phật, ghét cay ghét đắng. Mọi người thỉnh Phật độ cho bà. Phật thân hành tới nơi. Bà quay mặt đi. Phật hiện thân đứng bốn phía. Bà lấy 2 tay bịt mắt. Nhưng lại thấy mỗi đầu ngón tay một ông Phật. Bà tức mình oà lên khóc. Phật trở về tinh xá, sai La Hầu La đến thăm bà. Bà đon đả tiếp và vui vẻ quy y. Mọi người ngạc nhiên. La Hầu La có tài gì hơn Phật? Phật dạy: Kiếp xa xưa, một bà già lên chùa xin xâm bói quẻ. Thầy trụ trì đuổi. Bà giận lắm, bỏ đi. Thầy tri sự chạy theo an ủi. Thầy trụ trì nay là Phật. Thầy tri sự nay là La Hầu La. Cho nên Bồ-tát muốn độ tất cả chúng sinh, phải cẩn thận, chớ để chúng sanh có những ác cảm truyền kiếp như thế. Nhà ai cũng có Quán Thế Âm. Cố gắng sẽ được. 3. CỤ TỔ QUẢNG BÁ HUẤN TỪ KHAI THI ĐẦU HẠ Trên đường tu, hiểu đạo chưa là khó, hành đạo mới thật là khó. Chỗ biết của tôi dù có thể đã xa trăm dặm mà việc làm thật chưa đi được năm bước. Kinh Đại Tập dạy:” Đời mạt Pháp ức ức người tu, ít ai ngộ đạo, chỉ nương môn niệm Phật mà thoát luân hồi”. Vì cầu tu theo chiều sâu, Tăng Ni dùng hương thơm ánh sáng Pháp-thân mình. Huệ Viễn đại sư 30 năm không rời núi. Ấn Quang pháp sư, lúc vãng sanh xá lợi đủ năm màu. Còn bản thân tôi chỉ vì cơ duyên đòi hỏi, bất đắc dĩ phải phô sự kém dở, nhận bổn phận pháp chủ Việt Nam. Như người yếu chân tự đi không nổi, ngồi ở ngã tư đường, nhưng vẫn cố gắng chỉ lối về cho những ai còn lạc bước. Nhưng mong nhân đây tự tiêu tội chướng mà được đới nghiệp vãng sanh. Cổ đức từng bảo:” Ăn cơm, mặc áo vạn sự đều là Thiền. Đi đứng nằm ngồi đều là Đạo”. Tịnh-độ tông chúng ta cũng thế, cử tay cất bước, việc nào chẳng phải là hạnh hoa sen.? Muốn giữ sự thanh nghiêm trong tịnh viện, bất cứ lúc nào, bất cứ ở đâu, Ni chúng đều cần phải tuân hành đúng giới luật, nội quy. 1. OAI NGHI NHƯ LỜI PHẬT DẠY: a) Thân ngay thẳng, bước nhẹ nhàng: Không nhảy nhót hấp tấp, trừ khi thật cần. Đứng đoan trang, chớ chống nạnh, co chân, nghiêng dựa. Nằm cát tường, ngồi vững như chuông úp. b)Hạn chế việc đi ra ngoài: Tuyệt không có những rong chơi vô ích. Đi thưa về trình là bổn phận quyết định. Bắt buộc ra khỏi cổng chùa, cố gắng chớ đi một mình, như thế mới hợp Ni luật. c)Lời nói nghiêm tịnh: Đùa cợt phù phiếm, ồn ào bất nhã, thị phi vô ích, làm chết Pháp-thân. Sách thế gian có câu: “ Lời nói là bạc, im lặng là vàng”. Kinh dạy: “ Im lặng như Hiền Thánh”. 2. THANH LỌC TRI KIẾN: Chớ gặp sách nào cũng xem, báo chí nào cũng đọc, chuyện thế gian nào cũng nghe, vấn đề không liên hệ đến mình cũng đem ra bàn bạc. Tổ Quy Sơn dạy:” Đi trong sương móc tuy không thấy áo ướt mà thật ra có thấm nhuần”. Sáu căn giao thiệp với sáu trần, hàng ngày huân tập kiến-hoặc, tư-hoặc sâu đầy. Nếu nghiêm hộ sáu căn thì lìa trần thoát cấu, thành Pháp nhãn tịnh. 3. THIỂU DỤC TRI TÚC: a) Ăn mặc biết đủ: Vì thân vô ngã chẳng nên quá cưng chiều. b) Ngủ nghỉ biết đủ: Hằng nhớ vô thường. Tấc bóng quang âm không thể đem vàng mua được, chớ nên phí uổng bỏ qua. c) Chỗ ở nơi đơn giản: Người tu liêu phòng cần để trống, mắt tai do đây được thanh nhàn. Nếu còn so sánh đua đòi, lòng ham muốn sẽ không cùng tận. d) Tiết kiệm phước đức: Dù của Tam-bảo hay của mình dù giọt nước hay lá rau, không buông lung xài phí. Giặt giũ, quét tước , những việc chi tự làm được thì làm, không phiền sức lực người khác. Việc công thì cố gắng tận tình, chẳng trốn lánh trộm an. Những hạnh hoa sen như trên là tinh yếu của các bậc cổ đức. Nay góp vào nội quy trong tịnh viện. Trông mong những hạnh vi tế này sẽ đưa Ni chúng đến chỗ giới đức vẹn toàn cao đẹp. 4. CUNG AN CHỨC SỰ Giáo dục học vấn là trách nhiệm trên thầy bổn sư. Nhưng trợ giúp ngài rất cần nhiều bậc Thầy trợ tá. Trước hết là Sư Cô Giám Viện, quản lí tổng quát trong tùng lâm tất cả sự việc tinh thần vật chất, lớn nhỏ trong ngoài. Kế đến là Sư Cô Giám Luật, khuôn vàng thước ngọc. Kỷ cương thiền đạo vững bền không thể rời Tỳ Ni Tạng. Sư Cô Kiểm Khán là đấng nghiêm từ nêu cao kỷ luật, đốc thúc ban chức sự tinh tấn, ép buộc cả đại chúng vào nội quy, khiến khắp già lam, trên dưới trong ngoài toả hương thánh đức. Quý Sư Cô Giáo Thọ dạy chúng con chữ nghĩa kinh điển, truyền trao giáo Pháp Thánh Hiền. Từ quý ngài chúng con được uống cam lồ pháp vị của chư Phật liệt Tổ. Quý vị Tri Chúng như mẹ hiền theo dõi chúng con trong bốn oai nghi, uốn nắn dạy dăn từng tiếng nói bước đi, trông nom săn sóc giờ ăn giấc ngủ. Được vào khuân đúc, chúng con trong ngoài rạng rỡ phạm hạnh. Lại ơn quý Sư cô chánh, phó Tri Sự, dạy chúng con thổi cơm quét dọn. Chính trong những giờ chấp tác, bao quê hèn được gột bỏ. Trăm phước trang nghiêm, phụng sự Tam-bảo, thành công đắc quả, đâu không phải là do tri sự đã tận tình mài rũa chẳng tiếc lời. Cơ thể khang ninh, tâm trí mới khai phát, chúng con làm sao quên ơn quý Sư cô Khán Bệnh, suốt ngày lao tâm theo dõi bệnh nhân, đưa đi bác sĩ, đưa vào bệnh viện, cạo gió cắt lể, thăm nom săn sóc, thuốc sớm cháo chiều, nâng giấc an ủi. Ngoài ra Nghi Lễ giữ gìn phép tắc, nghiêm chỉnh các khoá công phu. Nhang Đăng đại lao toàn chúng hương hoa dâng Phật, nhang đèn cúng Tổ. Các vị Chi Trưởng quyền huynh thế phụ, răn nhắc bảo ban. Tri Khách, Tri Viên nhiều ít đưa tay góp sức. Do đây ngôi Tam-bảo đứng vững trong thế gian, làm nơi nương tựa cho trăm họ. Có thực mới vực được đạo, Ni chúng bình an, ơn chánh phó Tri Khố phơi đậu nhặt thóc. Chị em Trực Nhật sớm khuya, cho đến Rửa Chén, Hành Đường, đều là công lao hộ pháp. Chúng con hôm nay sung sướng được cùng nhau kết hạ an cư, nương từ bi quang Phật Tổ, một lòng biết ơn đền ơn, chí thành đản lễ toàn ban chức sự. Nam mô A Di Đà Phật 5. BAN CHỨC SỰ PHÁT NGUYỆN Kính bạch trên Thầy! Kính thưa quý sư cô và toàn thể đại chúng! Xiết bao hân hạnh! Xiết bao vui mừng! Chúng con hôm nay được góp bàn tay nhỏ bé vào guồng máy sinh hoạt của đại chúng. Khả năng kém cỏi, không xứng đáng trách nhiệm đại chúng giao phó, chúng con nguyện sẽ cố gắng đem hết tinh thần, tận tâm tận lực lo tròn nhiệm vụ, Trên Thầy đã lo lắng xếp đặt nếp sống lục hoà cho chúng con an vui tu học. Chị em chúng con sẽ sách tấn bên nhau, trau dồi giới thân tuệ mạng. Tuổi trẻ bồng bột, chúng con không sao tránh khỏi lỗi lầm sơ sót. Ngưỡng mong trên Thầy, quý Sư cô cùng toàn thể đại chúng từ bi tha thứ và hoan hỷ chỉ dạy, giúp chúng con hoàn thành bổn phận tốt đẹp. Nguyện cầu Phật nhật tăng huy, pháp luân thường chuyển, hải chúng an hoà, cùng nhau tiến bước trên con đường tự giác, giác tha cho đến ngày giác hành viên mãn. Nam mô Công Đức Lâm Bồ-tát ma- ha-tát. KẾT HẠ KHAI THỊ CHÚNG Phần I Rằm tháng tư hôm nay là ngày kết hạ. 2500 năm về trước, trên hội Linh Sơn cũng có ngày kết hạ. từ đó tùng lâm các nơi chẳng trái lệ cũ, 90 ngày cấm túc an cư. Ngay từ đầu tiên phát tâm xuất gia, người chân thật học đạo đã cương quyết liễu thoát sanh tử việc lớn. Như vậy” chân” đã cấm” hạ” đã kết. Tron đời năm tháng, cùng việc này tương ưng. Mùa hạ năm nay cũng thế, 90 ngày an cư trọn vẹn cùng việc này tương ưng. Được vậy mới có thời tiết gọi là Phật hoan hỷ, Tăng tự tứ. Bằng chỉ nhập hạ đủ ba tháng để lấy lệ thì chẳng những không hiểu ý Phật Tổ mà cũng là tự cô phụ, thật là đáng thương. Trên đây là lời của Trung Phong Minh Bổn thiền sư. Hôm nay chùa Liên Hoa, 38 người ai cũng rõ việc này, chẳng chịu tự cô phụ. Mượn cơ hội an cư để phấn khởi phiến tâm mạnh mẽ. Một ngày phải thấy công trình một ngày, một giờ phải thấy tiến tới một giờ. Người trên kẻ dưới cảnh sách lẫn nhau, mài rũa cho nhau. 90 ngày siêu phàm nhập thánh, việc này phải minh bạch. Chùa Liên Hoa là trường tuyển Phật. Tâm” không” mới thi đậu. Tâm không là thế nào? Ngã không và Pháp không. Ngã không là thân đất nước gió lửa không thật, tâm bóng ảnh sáu trần không thật. Biết cảnh sắc thanh hương vị xúc pháp huyễn hoá, tức là pháp không. Người tâm như hư không, hằng khoan dung tha thứ. trong siêng công khắc kỷ, ngoài rộng đức không tranh, mỗi mỗi đúng pháp lục hoà. Niệm niệm chẳng lui sụt, nhắm thẳng vào ba học giới định tuệ. Nếu không thì tấc vải hạt gạo chắc chắn phải bồi thường. Người xưa ba y một bát, ngoài ra coi là vật thừa, không phải của mình. Thanh bần tu luyện, thầm lặng dẹp bỏ vọng tình. Thề ở dưới mọi người, khiêm tốn hạ mình, không dám xem thường người thiếu khả năng. Tinh cần tỉnh giác chánh niệm, nghịch thuận chẳng biến. Chúng ta nếu thật học được như thế ắt hy vọng sau này vượt lên cao, đến chỗ xa. Nguyện cầu toàn chúng tinh tấn tu hành, viên mãn Bồ-đề. Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Phần II Rằm tháng tư đã về đây! Mỗi năm chúng ta chuẩn bị mùa hạ, cần ôn lại những gì dở đã qua để tránh, xét những gì cần bổ túc cho mùa hạ sắp tới. Ni chúng phải nghiền ngẫm mục đích sinh hoạt của mình, dù là an cư hay tự tứ, thọ giới hay học kinh, mỗi cử động đều nhắm vào việc mà quý Hoà-thượng gọi là đại sự. Thiền sư Thanh Từ bắt mạch Tăng Ni, thấy bệnh thông thường nhất là “tự mãn”, Năm đầu ai nấy hăm hở quyết chí giải thoát, nhưng dần dần đạo trở thành cái gì xa lắc xa lơ. Kinh A Hàm nói:” Xuất gia như cô dâu mới về nhà chồng, đối với cha mẹ chồng khép nép cung kính. Đôi ba năm quen rồi, khinh lờn, chẳng cần lễ phép”. Chúng mới cạo đầu cũng thế, ban sơ trên kính các thượng toà, dưới nể vì huynh đệ, tỏ ra dễ dạy ngoan ngoãn, nhu hoà, nhẫn nhịn. Nhưng ít lâu sau thì” gần chùa gọi Bụt bằng anh, thấy Bụt hiền lành cõng bụt đi chơi”. Thuộc hai thời công phu, rãnh rẽ mấy khoá lễ, học xong vài bộ kinh, thế là tự mãn, tự cho là đủ. Không bao giờ nghĩ đến hai chữ “tu chứng”. Nghiệp thức mơ màng, vọng tình chưa hết, làm sao ra khỏi luân hồi? Điểm chính nhắc nhở chị em hôm nay, là phải thực hành những gì đã học. Chí nguyện thiết tha thi công hành sẽ liễu đạt đại sự. Có sáng được việc lớn, chúng ta mới đáp ứng bản ngoài độ sanh của Phật Tổ, mới sứng đáng trí nguyện xuất gia, mới không phụ công hộ pháp của mười phương tín thí. Nếu không sáng được việc này, đạo Phật trở thành vô giá trị. Cho nên mùa hạ năm nay, chúng ta làm sao cho cái mê từ lịch kiếp phải mòn, phải mỏng. Người xưa đau khổ xót xa rơi nước mắt mỗi khi mặt trời sắp lặn, tiếc tấc bóng quan âm hơn vàng ngọc. Chúng ta hôm nay cũng lập nguyện cho mạnh , lập chí cho vững để vươn lên. Ngài Phần Dương dạy:” Bốn đại như bọt nước, thân như lá trên sông. Bốn tánh diệu linh quang khoáng kiếp còn mãi mãi”. Triều đình mời ngài về kinh đô, ngài từ chối. Sứ giả thưa:”Con đi không được việc, về ắt bị trị tội”. Ngài đành trả lời :” Vậy thì ngươi cứ về trước ta sẽ đi sau”. Rồi ngài nhóm chúng hỏi.” Ta phải đi , trong chúng có ai đi theo ta được không?” Thị giả xin đi,. Ngài hỏi:” Ngươi đi một ngày được mấy dặm?” Thưa:” Hoà-thượng tới đâu con tới đó”. Ngài liền kết già:” Ta đi đây”,nói rồi liền tịch. Thị giả đứng hầu khoanh tay tịch theo. Sống chết tự tại như vậy gọi là đại sự của người tu. Thân bốn đại mỏng manh vô thường, hư vọng như bọt nước. Chiếc lá trên sông theo sóng đong đưa, tuỳ làn nước chảy về Đông hay về Tây, làm sao có quyền tự chủ? Chỉ nhắm mắt cho nghiệp lực xoay vần. Chúng ta vào bào thai, ra làm con người, con trâu, con chó, hoàn toàn mịt mù mê muội, được sao biết vậy, nói gì đến kén chọn đường đi. Còn tâm linh vô lượng quang chúng ta muôn kiếp vẫn thanh tịnh không hư không hoại. Nên sống với căn bản sanh tử hay cầu sống với căn bản Bồ-đề? Ba tháng xuân Lăng Nghiêm chúng ta đã học và hiểu. Nay chỉ còn một thắc mắc:” Ngài Phần Dương đã đại tự tại đến như thế, sao còn sợ vinh hoa, đến nỗi phải thị tịch, để lánh vua quan triều đình?” Thưa:” Đốn ngộ thì đồng với Phật, nhưng tập khí nhiều đời thâm sâu đâu dễ đốn trừ”. Đây là tiếng chuông cảnh tỉnh những ai muốn lao xuống sông vớt người chết đuối, trước hết hãy tập bơi thật thạo. Mong ước rằng thêm mùa hạ này nữa, chúng ta chuyên tu học giới luật, xây đắp thật chắc thật bền nền móng giải thoát. 6. THỈNH PHÁP HỌC LUẬT Kính bạch trên Thầy! kính thưa quý Sư cô! - Ức ức triệu triệu sinh linh quẩn quanh trong biển trầm luân thống khổ. - Ức ức triệu triệu sinh linh mịt mù trong đêm tối vô minh! - Chỉ vì không gặp đèn pháp, chỉ vì không gặp thuyền từ. Đèn thánh đức, thuyền Bát Nhã, nước dương chi! Hạnh ngộ hôm nay, Tam-bảo đã đầy đủ xếp đặt duyên lành cho bầy trẻ mấy con vào cửa đạo. Chúng con được nghe:” Giới luật là thọ mạng của Phật pháp, giới luật còn là Phật pháp còn”. Ngày khai hạ, toàn thể chúng đê đầu đảnh lễ cung thỉnh Sư Cô giáo thọ thay vi mười phương thánh Phàm Tăng, đại lao trên Thầy, dạy chúng con bộ Sadi Luật Giải, để chúng con được thấm nhuần oai nghi phép tắc thiền môn. Đây là thềm thang giới Tỳ-kheo-ni, cội gốc giới Bồ-tát, là nền tảng Thánh Hiền. Chúng con nguyện cố găng thúc liễm tâm thân, dồn hết tinh thần vào việc học, làm sao trong đời sống trong đời không đến nỗi trái lời Phật dạy. Sau cùng chúng con thành tâm nguyện hồng ân Tam-bảo gia hộ Sư Cô Giáo thọ pháp thể khinh an, tuệ đăng thường chiếu, ân đức không cùng suốt kiếp vị lai. Hạnh phúc thay chánh Pháp xương mình! Hạnh phúc thay Tăng già hoà hợp! Hạnh phúc thay mùa hạ năm nay, chúng con được làm lễ thỉnh pháp, ngưỡng mong trên Thầy, Sư Cô Giáo thọ thương xót chứng minh. ĐÁP TỪ Mùa xuân Lăng Nghiêm thấm thoát đã trôi qua, chị em ai nấy phấn khởi đón mừng ngày Chư Tăng kết hạ. Chúng ta tuy xuất gia nhưng hàng ngày bận rộn lo toan đủ thứ, ít có thì giờ kiểm soát lại mình. Đức Phật xót thương, dạy các đệ tử, trong một năm phải quyết định dành 3 tháng hạ tấn tu đạo nghiệp. Theo thường lệ, chùa chúng ta mùa an cư miên mật học luật. Bởi vì có giới luật chùa mới an, có giới luật ngôi Tăng bảo nơi thế gian mới vững.. Cổ đức nói:” Nước không luật nước loạn, nhà không luật nhà tan”. Chính thế nước có luật của nước, nhà có luật của nhà, cho đến trường hợp nào đều có luật của trường hợp ấy. Luật pháp thế gian giúp con người sống an một đời. Giới luật xuất thế giải thoát luân hồi sanh tử. Đạo thánh hiền khó huân ướp, nghiệp chướng vô minh nặng nề. Không giới luật kiềm thúc, ba nghiệp buông lung tạo tội, thân tuy ở chùa mà sự đoạ lạc rõ ràng, vì vậy muốn học rất thiết yếu này, xuất gia chúng ta không thể lơ là. Thân thể nhờ ăn cơm, uống nước hít thở...mà sống. Tuệ mạng nhờ nghiêm trì giới luật mới bảo tồn. Kinh Lăng Nghiêm dạy:” Không nghiêm trì giới luật, dù thiền định trí tuệ hiện tiền cũng quyết lạc ma đạo”. Cho nên hôm nay toàn chúng vâng lời Phật dạy, lấy luật nghi làm đầu. Trông mong 3 tháng ai nấy tận lực học tu, xây nền giới luật vững chắc, đem sự an vui cho mình và người. 7. QUY SƠN CẢNH SÁCH Quy Sơn là hòn núi hình con rùa. Tổ vâng lời bổn sư đến ở đó một mình. Núi cao chót vót chạy dài cả vạn dặm, toàn rừng sâu hang thẳm, không một dấu chân người, chỉ có cọp, beo, gấu, khỉ. Tổ lượm trái rừng ăn đỡ bữa, vốc nước suối uống qua ngày, luân 7 năm không một người thăm hỏi. Nhân một tiều phu đi vào rừng lạc lối gặp ngài, tin cho bà con xóm làng. Chẳng bao lâu ngôi chùa được xây cất.Và từ đây đạo truyền khắp thiên hạ. Tổ dạy rằng: Phàm đã tạo nghiệp phải chịu báo thân, thì ai miễn được khổ luỵ hình hài. Vay máu mủ của cha mẹ, mượn đất nước gió lửa làm vóc thể. Vô thường già bệnh, sớm còn tối mất, giây phút qua đời khác. Vậy mà cứ ăn ngủ, đùa cười không cầu giải thoát. Cha mẹ không hiếu dưỡng, xã hội đã xa lìa. Vâng lời thầy cạo tóc, trong đinh linh 3 học Giới-Định-Tuệ, ngoài tập tu kính nhẫn, rộng đức lục hoà. Thế mà vừa thọ giới đã lên mặt ta là sư, ăn dùng của thường trụ, chẳng quán 5 pháp. Cứ cho rằng bổn phận tại gia phải cung phụng ta tiêu xài. Chụm đầu nói chuyện thế gian, đâu có nhớ mấy phút vui này là cái nhân tai ương vạn kiếp. Rông rỡ theo trần chưa từng phản tỉnh. Ngày đêm đi qua, thoạt đã bạc đầu, một đời vô ích. Người cầu phước nên cúng dường không chán. Còn ta thọ dụng, xét chỗ tu hành, không đáng hổ thẹn sao? Đức Phật khuyên răn: Này các Tỳ-kheo, nghiêm thân tu đạo, cần bớt ba việc ăn, ngủ, áo quần. Phép tắc oai nghi phải tịnh như băng tuyết. Giáo lý không để dạ, huyền đạo làm sao khế ngộ? Bụng trống lòng cao, mở miệng chỉ những lời kiêu ngạo. Nói thì lớn tiếng, ăn mải khua bát, đứng ngồi thô tháo. Bạn hiền khuyên nhắc, lòng sân la lớn:” Đại ngộ không chấp việc nhỏ”. Một mai nhắm mắt, nghiệp báo hiện ra. Cua bị trụng nước sôi, khi ấy càng ngoe rụng hết. Ngưỡng khuyên đại chúng mau mau tỉnh ngộ, đừng để thất tình lục dục cuốn trôi. Phí uổng một đời , chỉ vì biếng nhác. Người xuất gia nhập hạnh đại thừa, nối thịnh dòng Phật, phá dẹp ma quân, đền trả bốn ân, cứu giúp ba cõi. Nếu không như thế thì là ma quỷ trà trộn trong Tăng chúng. Huống chi hôm nay đường đường Tăng tướng, dung mạo oai nghiêm ai thấy cũng vui mừng kính nể, đều là nhờ kiếp trước đã vun trồng căn lành. Vậy mà nay đã xả tục ở chùa, thói tục vẫn đa mang. Đã đủ phước duyên thoát trần mà duyên trần chẳng chịu dứt. Tu hành không phẩm chất, chỉ mong thọ giới cao, ngồi trên làm thượng toà. Xuất gia như thế khác nào lánh chỗ chết chìm lại đâm đầu vào lửa? Mê si ngược ngạo tự cho là khôn giỏi, đi thụt lùi mà cứ tưởng mình lên cao. Chưa từng một niệm cải quấy sửa mình, chỉ đưa mắt tai ra nghe ngó lỗi lầm người khác. Cạo đầu cho láng, y áo chỉnh tề, không tu phước Tuệ, mai đây hết báo làm người, những cực hình ghê ghớm của địa ngục, ai người chịu thay? Nhân lành không vun trồng làm sao kết quả tốt? Mong làm rường cột trong Phật Pháp, gương mẫu cho hậu lai, mà cứ dần dà để ngày ngày đi qua không tiến bước. Kinh dạy:” Thầy tà bạn ác sợ như hổ lang. Thầy hay bạn hiền quí như cha mẹ. Thấp mình như đất, ngậm miệng như ngu, dẹp sạch thói ta người, bặt dứt tâm ương ngạnh. Nếu cứ lân la gần gũi người ác, tập thấy ác, làm ác, mắc báo ngay hiện đời, chết rồi trầm luân”. Cái tâm thương xót nhắc nhở của Tổ Quy Sơn như thế, dù sắt đá cũng phải đổ mồ hôi, huống chi chúng ta có tánh Phật, lẽ nào chẳng ghi lòng tạc dạ, sửa tâm nuôi đức. Trong thắp đèn Bát Nhã, ngoài nghiêm tịnh sáu căn, an định tinh thần mà tự nuôi lớn tâm Phật. Tinh xét nghĩa lý kinh luật, truyền pháp độ sanh, đền ơn Tam-bảo. Gánh vác chánh giáo có 2 việc: 1. Tự thân giới phẩm oai nghi xứng đáng bậc pháp khí. 2. Xả thân làm việc Phật pháp mong lợi cho muôn loài. Thánh trước Hiền sau, các ngài đều có phần trong Phật quả. Các ngài đã trượng phu, chúng ta cũng cố gắng trượng phu. Trông mong đại chúng phát chí quyết liệt, mở rộng lòng dạ theo gót Tổ sư. 8. NGÀY 19-06 LỄ ĐỨC QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT Tụng kinh Phổ Môn Sự tích Chúa Ba chùa Hương. Chân như đạo Phật rất mầu Trong tâm chữ Hiếu niệm đầu chữ Nhân Hiếu là độ được song thân Nhân là vớt hết trầm luân muôn loài. Thần thông ngàn mắt ngàn tay Cũng trong một điểm linh đài mà ra. Nay miền bắc nước Nam ta Phổ Môn có Đức Phật Bà Quan Âm. Thường chăm kính niệm tại Tâm Muôn phần linh ứng chẳng sai bao giờ. Thuở xa sưa, vua Diệu Trang Vương ở nước Hưng Lâm, không có con trai, lòng thành cầu tự được ba con gái, đặt tên Diệu Thanh, Diệu Âm và Diệu Thiện. Theo thường tình gái lớn gả chồng, vua gả công chúa nhất cho trạng nguyên họ Triệu, công chúa hai cho Quan võ họ Hà. Công chúa ba một mực xin đi tu. Vua cho ở chùa Bạch Tước nhưng gia lệnh các sư phải bắt công chúa làm việc nặng nhọc thật nhiều, hành hạ sao cho nản trí mà trở về cung. Không ngờ công chúa ba mững rỡ được dịp xả thân vì đạo hầu sớm chứng quả. Vua tức giận sai đốt chùa giết sư. Chúa cắt tay, lấy máu vẩy lên không trung. Lòng thành cảm động thấu trời, máu biến thành mưa, dập tắt ngọn lửa. Vua càng tức giận, thét quân điệu chúa ra pháp trường sử chém. Ngọc Hoàng Thượng Đế sai thiên thần hoá thành mãnh hổ tha chúa đem vào rừng sâu. Công Chúa thiêm thiếp thấy mình theo sứ giả Diêm Vương xuống âm ty, thăm 18 cửa ngục, búa đồng truỳ sắt khảo tra. Chúa ba thương xót trì chú niệm kinh khấn cầu mười phương Phật, 9 phương trời. Bỗng nhiên hào quang loé sáng, gông cùng rơi rụng tan tành, ngục nhân quỷ sứ giải thoát. Vua Diêm Vương mững rỡ đem bảo cái lọng vàng đưa tiễn chúa ba trở về dương thế. Chúa ba tỉnh giấc, thấy mình ở trong rừng rú, thanh vắng một bề. Đang khi lo lắng bơ vơ, chợt có một nam tử rẽ lá bước tới, khuyên cô cùng về chung sống. Vì ở đây lúc đêm khuya thì cọp beo rất đáng sợ. Chúa ba nói rằng:” Tôi đã xuất gia, đã quyết một lòng sắt đá không phai”. Ai ngờ Phật Tổ Như Lai thử lòng con trẻ. Biết người kiên tâm, Phật thuyết pháp chỉ đường tu, dạy về miền biển phương nam Chùa Hương Tích. Lại đưa cho quả đào tiên, ăn vào hết đói hết bệnh, chứng vô sanh. Ngay lúc ấy thần núi Hương Tích hiện thân hổ tới dẫn đường đưa đi. Bắt đầu từ đấy nguyện ước tu hành thoả mãn. Vua cha do hiếu sát mắc trọng bệnh. Phò mã họ Triệu dâng thuốc độc cho vua, nói là thuốc tiên. Phò mã họ Hà đem binh về đòi vua nhường ngôi. Chúa ba hiện thân một Hoà-thượng, mỗi mỗi giúp vua thoát nạn. Trang vương cùng hoàng hậu và chùa Nhất, chúa Hai đồng xuất gia, cùng thành đạo quả. Đào trên mây, hạnh trên đời Cổ cao ba ngấn, miệng cười trăm hoa. Vẻ thanh trong ngọc trắng ngà Trăng tròn nét mặt, núi xa dáng mày. Sắc tuy rằng sánh hạnh đào Nhưng mà đoan chính trông vào nghiêm trang. Trẻ thơ mà đã khác thường Ai ai cũng kính tiên nương dưới trần. - Trí tuệ công chúa siêu việt, thấu rõ quy luật vô thường sắc không, nên không vướng vòng danh lợi. - Mục đích tu hành của chúa rõ ràng: a) Đối với bản thân thì: May ra siêu thoát tử sanh Yên tâm cõi Phật vui hình cõi tiên. - Không phải chỉ ở chùa đắp cà sa đã là tu mà cần minh tâm kiến tánh và thể hiện trong cách sống hàng ngày. Không trang điểm chẳng chơi bời Ăn chay niệm phật nói lời từ bi Hoặc: Bạn cùng gió mát trăng trong Tự tại một lòng chẳng luỵ trần ai. b) Ngài hiểu về chữ hiếu rất là đứng đắn Đã hay nghĩa mẹ công cha Trời cao biển rộng báo đà xứng chưa? Nhưng tôi khổ hạnh bây giờ Mai sau cha mẹ nương nhờ được siêu. Kẻo e nghiệp chướng quá nhiều Chẳng tai bể khổ cũng nàn sông mê. - Vả lại vua cha đốt chùa giết Sư, dễ gì cải hoá, chỉ có một cách là: Thân này thành Phật may ra Hộ nước hộ nhà thì mới có phương, Giữ chi hiếu nhỏ tầm thường Giữ điều hiếu lớn là đường báo ân. c) Xúc động trước: 18 cảnh địa ngục ghê rợn Chẳng đành con mắt chẳng yên dạ lòng Ước sao tù ngục trống không Bao nhiêu khổ quả tội nhân sạch làu. - Thành chánh quả, Chúa càng có nhiều phương tiện để thực hành lý tưởng. trước tiến độ cho hai đệ tử, đưa cả gia đình lên toà sen, giác tỉnh cho hai yêu quái Thanh Sư và Bạch Tượng, còn vua Thuỷ Tề cũng kịp thời thoát khổ mắc lưới. - Cả cuộc đời ngài vẫn là một tấm gương sáng ngời phát huy tinh thần đại hùng lực, chánh tinh tấn, để giữ đạo cứu đời. Thân thế ngài chứng minh một sự thật, chỉ có tu hành mới độ được cha mẹ thân quyến, mới đưa được muôn loài ra khỏi những khốn khổ của phiền não chướng, nghiệp chướng và báo chướng. Nghĩa là mới thực hiện hai chữ Hiếu và Nhân một cách trọn vẹn rốt ráo. Ngoài ra sách Nam Hải Quán Thế Âm vẽ con đường nhân quả một cách sâu sắc. Tham sân si, sát đạo dâm đem tai hoạ cho con người thật nặng nề. Bức tranh xã hội được miêu tả rõ nét. Vua Trang Vương hiếu sát: Hay vì giặc giã đâu đâu Mà ta giết nó bấy lâu quá nhiều. Phép binh như lửa cháy đầu Há không oan uổng luống tiêu mạng người. Rồi vì vô minh sân hận muốn giết cả con gái. - Những cảnh suống cấp đạo lý như con rể âm mưu cho con rể uống thuốc độc, phò mã họ Hà nhân vua bị nạn đem quân về chiếm ngôi. Ven đường bờ bui yêu ma quỷ quái luôn luôn rình rập hãm hại người lành. Tất cả chỉ vì tranh danh đoạt lợi. Những cảnh như vậy thật tương phản hoàn toàn với nếp sống có bản chất từ bi đạo hạnh trong trắng của Chúa ba. Ngài thật là một đoá hoa sen thơm ngát, gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn. Đoạn miêu tả 18 cảnh địa ngục rùng rơn dài tới 95 câu, là một cảnh cáo nghiêm khắc cho bọn mê si độc ác. Đây cũng thể hiện ước mơ của nhân dân, mong muốn kẻ ác phải bị trừng trị đích đáng. Cho nên thông thường các chuyện cổ tích đều phân minh rõ rệt Ác và Thiện. Người thiện kẻ ác đấu tranh gay gắt. Cuối cùng thiện bao giờ cũng thắng và hưởng hạnh phúc, Ác thì bị trừng trị. Còn đây là sự tích ưng thân của Bồ-tát. Lý tưởng Phật giáo theo một hướng khác. Người thiện phải đấu tranh quyết liệt, dù mất thân mạng cũng cam, để bảo vệ đường đi sáng suốt của mình, để đưa kẻ ác trở về thiện chung hưởng an vui. Dưới đây là bài thơ của danh sĩ Chu Mạnh Trinh vịnh cảnh Chùa Hương Tích núi Hương Sơn ở Phủ Lý tỉnh Hà Nam Bắc Việt, nơi Chúa Ba tu thành chánh quả. Bầu trời, đất Bụt! Cảnh Hương Sơn ao ước bấy lâu nay! Kìa non non, nước nước, mây mây. Đệ nhất động, hỏi rằng đây có phải? Thỏ thẻ rừng mai, chim cúng trái. Lững lờ khe nước cá nghe kinh. Thoảng bên tai một tiếng chầy kình. Khách tang hải giật mình trong giấc mộng. Này suối Giải Oan, này Chùa Giải thoát. Kìa am Phật Tích, kìa động Tuyết Kinh. Nhác trông lên, ai khéo hoạ hình Đá ngũ sắc long lanh như gấm dệt. Thăm thẳm có hang lồng bóng nguyệt Gập ghềnh mấy lối bước lên mây Chừng giang sơn muốn đợi ai đây? Nên tạo hoá khéo ra tay xếp đặt. Lần tràng hạt niệm nam mô Phật Của từ bi đón khách trần lao. Viên thông tự tại ra vào Bồ-đề sẵn có ai ơi mau về(7) 100 quả núi trầu về một động. Chúa Trịnh dâng cúng biển đề:” NAM THIÊN ĐỆ NHẤT ĐỘNG”. Lối vào là một dòng suối rộng thênh thang. Nước trong xanh mát, lăn tăn sóng bạc. Đò vào đò ra, chào nhau vang lừng Nam Mô Quán Thế Âm Bồ-tát. Hai bên bờ suối núi xanh chạy dài ven núi, khiến chốn sơn lâm thăm thẳm mênh mông vắng vẻ, đượm làn không khí yên ổn thái bình. Không một nhà tại gia, không một thuyền đánh cá. Trùng trùng điệp điệp núi rồi lại núi. Ngoài những ngôi chùa trang nghiêm lẫm liệt, còn ẩn trong cây cao lá thắm, không biết bao nhiêu những am nho nhỏ, vàng son vui vẻ, như những thiên thọ vương nở hoa. Đâu đâu cũng chỉ thờ Phật bà Quán Thế Âm. Từng đàn cò trắng bay qua. Bao la là những rừng mơ, cả ngàn cây số, hoa trắng muốt màu tuyết, trái mịn vàng đỏ tươi, vị vừa ngọt vừa chua dịu dịu. Hoa cũng thơm trái cũng thơm. Đầu xuân toàn hoa, cuối thu trái chín. Hương thơm bát ngát ướp cả bầu trời. Dân gian giản dị đặt tên cả vùng là núi thơm ( hương sơn) Mặt đất đầy rau sắng, lòng đất sẵn củ mài. Vị ngon chất bổ hai thứ thổ sản đặc biệt chỉ Hương Sơn có, để cúng dường người tu. 9.TÍN NGUYỆN LỰC. Sách Thần Tăng chép: Gã Vinh Kha rượu thịt nặng nề. Một hôm đọc Vãng Sanh Truyện. Đọc xong một truyện, gật đầu một cái. Nhờ nhân lành này về sau đủ duyên tu hành. Nghe Phật A Di Đà dạy:” Mười năm nữa ngươi sẽ được vãng sanh”. Kha bạch:” Ta Bà uế trược, chánh niệm dễ mất. Nguyện con sớm về Tịnh-độ, phụng sự Thánh Hiền”. Quả nhiên ba hôm sau, Kha nhẹ nhàng vãng sanh. Tâm động một niệm là đã gieo một hạt giống trong mười pháp giới. Vậy mà có thể không trân trọng mỗi khi khởi niệm sao? Một tấc quang âm là một tấc đời sống. Vậy mà không mến tiếc sao? Niệm niệm chấp trì danh hiệu Phật là không uổng phí tinh thần cũng không uổng phí thời giờ. Làm phước cầu phước cũng là lãng phí như đem bảo châu như ý đổi lấy manh áo chén cơm. Huống chi còn buông lung ba nghiệp đến nỗi đoạ lạc tam đồ, đau xót bao nhiêu! Một niệm danh hiệu Phật tiêu 80 ức kiếp sanh tử trọng tội. Đã về tới cõi Phật rồi, bao nhiêu gốc ngọn sanh tử diệt hết, Đã cùng các bậc thượng thiện chung hội thì chỉ một đời thì nhất sanh bổ xứ. Xin quý học giả để tâm chiêm nghiệm mà lựa chọn đường đi. Một người nghèo xa nhìn thấy xâu tiền, vội tới nhặt. Nhưng cầm vào tay lại là con rắn, vội vứt đi. Kẻ khác thấy tiền lấy xài. Ta thấy căn thân ngoại cảnh cũng như thấy tiền ra rắn. Rắn duy tâm hiện mà cắn chết người. Tiền duy tâm hiện mà đem no ấm an vui cho người. Ta Bà nhơ uể đau khổ , An Lạc vi diệu thanh khiết, đều duy tâm hiện. Nhưng khổ Ta Bà từ khổ về khổ, không biết đến bao giờ mới hết khổ. Còn vui Tịnh-độ đi mãi về vui, cho tới ngày vĩnh viễn an vui. Kinh nói nghiệp lực khó nghĩ bàn. Nhưng nghiệp lực không tự tánh, toàn mượn tâm mà có. Dùng trọng tâm tu tịnh nghiệp quyết định vãng sanh. Như cổ đức có một vị mạng chung, chư thiên đem âm nhạc tới rước. Ngài nhất định không đi, một lòng niệm Phật cầu về Tịnh-độ. Thân tứ đại lúc sắp phân tán, đau khổ biết ngần nào. Cảnh trời lục dục hấp dẫn biết ngần nào? Nếu tin không sâu, nguyện không thiết, sức không kiên, ở hoàn cảnh này làm sao tự chủ? Ta thường nghe nói:” Tự tánh Di Đà, duy tâm Tịnh-độ”. Cái tâm tánh này, Phật và chúng sanh bình đẳng. Phật đã ngộ tâm này như người tỉnh thức. Chúng sanh mê tâm này như người đang chiêm bao. Hết chiêm bao, người mộng chính là người tỉnh. Ước về chỗ duyên sanh vô tánh thì Phật và chúng sanh bình đẳng nhất không. Ước về vô tánh duyên sanh thì 10 pháp giới khác nhau một vực một trời. Vua A Dục lúc lâm chung, kẻ hầu cận làm rớt cái quạt vào mặt. Vua nổi giận. Ngay niệm sân ấy ắt tắt hơi đoạ làm thân rắn. Một mụ ăn xin qua sông, bị sẩy tay rớt con xuống nước. Vì cố vớt con nên mẹ cũng chết chìm. Niệm thương con đưa mụ lên trời. Một niệm lúc lâm chung này không thể cầu may mà được. Hàng ngày TÍN-NGUYỆN-HÀNH phải tập cho thuần thục để đủ lực đối phó với những bất ngờ. Những bất ngờ dĩ nhiên phải có trong kiếp sống vô thường, vô ngã của chúng ta. 10. LỜI NÓI TRONG GIÓ Từ các trường học xa xôi cùng tột, lấp lánh trong ánh tuyết nước Nga cho đến các nóc trường hẻo lánh, ẩn trong đồi sử Ả Rập. Từ những ngôi đại học to lớn nước Anh ở phương Bắc, sinh hoạt trong sương mù đến những trường tiểu học bé con của lũ trẻ da đen Phi Châu cháy nắng. Có tới triệu triệu đứa trẻ đang đi học. Những tổ kiến học sinh này, ngàn vạn dân tộc khác nhau, đang phấn khởi tinh thần đi lên. Ví phỏng một lý do gì khiến sự sinh hoạt này ngừng lại, thì đó lại là tai hoạ lớn cho quả địa cầu, vì nhân loại sẽ trở về mọi rợ. Thế giới sẽ sa vào tối tăm. Hoạt động của học sinh là tiến bộ, là hi vọng, là ánh sáng vinh quang của văn minh. Mỗi học sinh là một tên lính nhỏ trong đạo quân hùng vĩ. Lấy sách vở làm khí giới. Trường học là quân đội. Coi ngu dốt là thù địch. Văn minh nhân loại là khúc khải hoàn. Hỡi các học sinh phấn đấu! Hãy cố gắng phấn đấu! Như mặt trời phấn đấu, xoá tan đêm tối, đem ánh sáng cho muôn loài. Được đọc bài trên đây ở cuốn” Tâm hồn cao thượng”. Thầy choàng dậy, nghĩ tới mùa hạ của chúng ta sắp chấm dứt. Cành cành lá lá tiếp nối không ngừng, Tổ đường rực rỡ chánh pháp xương minh. Chánh pháp của chúng ta xương minh chính nhờ mùa hạ! - Các con có hôm nào để chút thời gian suy nghĩ Hạ là gì không? - Phàm lập Pháp nếu gắt gao thì ít người theo kịp. Nên thế gian mỗi năm có 12 tháng, Đức Phật chỉ bắt chúng ta 3 tháng quyết định phải an cư, thân tâm đều chuyên nhất. Phải ở trong một đoàn thể đồng chí hướng, để cùng nhau sách tấn tu học. Ai không theo lệnh này gọi là phạm giới. Chúng ta không an cư, không thể gọi là Tăng. Bởi vì an cư là Tu, là Chứng, là nhập thánh siêu phàm. Cho nên bao nhiêu người vì chúng ta mà bận rộn, Phật tử khắp các nơi rủ nhau đem lễ phẩm, kính cúng dường người kết hạ. Thương cho chúng ta đâu có biết, kể từ lúc tác bạch an cư, bách thần lo lắng giữ gìn, các Bồ-tát đăm chiêu tìm phương tiện ủng hộ. Bởi vì mùa hạ này có thể vĩnh viễn xoá tên chúng ta trên con đường dài sanh tử. Bởi vì mùa hạ này, chúng ta có thể vĩnh viễn không còn số phận phải làm thân ngựa ngậm hàm sắt, kéo xe đền nợ tín thí như những kiếp luân hồi sanh tử vừa qua. Mùa hạ này, chúng ta có thể chuyển được địa vị. Đầu hạ còn là phàm, cuối hạ đã chứng thánh quả, tất cả đều ở chúng ta. Nếu miên mật dụng công, không nhiều thì ít, chúng ta sẽ có phần trên đền đáp hồng ân đức Phật, dưới đem mừng rỡ cho muôn loài. Còn nếu cứ vẩn vơ, mặc cho mùa hạ trôi qua, tâm hồn chỉ để lo chấp ta, chấp người. Một bụng chứa toàn tham sân si. Một lồng ngực thở ra tranh chấp, thở vào ta hay, thì hôm nay tự tứ, mai Vu lan, chúng ta chỉ có phần một gói quà hay vài cuốn tập... Viết tới đây, tu sĩ già bệnh mệt quá, phải trở về dường nằm, niệm đức Quán Thế Âm cho tĩnh thần tĩnh trí. Khoẻ một chút, Thầy ngồi dậy cầm bút viết tiếp để gởi mấy con. Đức Phật đại từ đại bi không bức thiết đệ tử. Một năm 12 tháng, ngài chỉ bắt buộc Tăng ni an cư 3 tháng. Ngoài ra tuỳ duyên tuỳ phước của mỗi người mà tự lo giải thoát. Chùa chúng ta nhờ thiện căn phước đức, đại chúng được an cư cả 12 tháng. Nay ba tháng hạ đã lỡ, vậy mùa Thu Đông sắp tới ( Chùa ta gọi là mùa y công đức), chị em ráng phấn đấu! Cố gắng phấn đấu! Hỡi hỡi các vị đã phát tâm Bồ-đề! Chúng ta quyết tâm giác tỉnh, đẩy màn vô minh, quyết đem thân ra khỏi mệnh cọp sanh, già, bệnh, chết. Mỗi tu sĩ là một tên lính trong đạo quân hùng vĩ ở khắp pháp giới của Như Lai. Kinh Pháp là vũ khí. Chùa chiền là nơi rèn luyện. Vô minh là thù địch. Giải thoát là khúc hải hoàn. Hỡi các học sinh phấn đấu! Cố gắng phấn đấu! Mong rằng Giới Định Tuệ của các con đem ánh sáng cho muôn loài, muôn đời vị lai. Mong rằng lời nói run rẩy này, xuyên qua được rừng cây khe lá, theo gió tìm đến tai các con. Thầy viết ngày 22-06 âm lịch 1992 khi vừa ra khỏi bệnh viện Chợ Rẫy. 11.CHƯƠNG TÁN HẠ Mùng 8: Tạ pháp và tạ ban chức sự Mùng 9: Tác pháp sám ma. 10 – 11 : Từng cá nhân y luật sám hối. 12 – 13 : Từng cá nhân đối đại chúng thỉnh tự tứ. Từ lớn đến nhỏ tuỳ ý cử lỗi. Tuổi 13 : Lễ đức Đại Thế Chí Bồ-Tát Ngày 14 : Tác pháp tự tứ theo nghi lễ thông thường. Sáng 15 : Đại lễ Vu Lan. Chiều 15 : Chia Vật Tăng. Sáng 16 : Thọ Y công đức. Chiều 16 : Đại đàn thí thực. 17 -18 : Khánh tuế giới sư. 11. NGÀY 13-07 LỄ ĐỨC ĐẠI THẾ CHÍ BỒ TÁT TÁN Tánh giác linh minh Tịnh chiếu chân thường. Xưa mê nay ngộ thật tỏ tường. Tam-bảo từ đường, Đảnh lễ cúng dường Một nén tâm hương. Nhẫn độ, Thích Ca pháp tôn vương! An lạc, Di Đà đại nguyện vương! Liên tông các Tổ tận lực hoàng dương. Ao sen thơm ngát, hải hội Tây phương. Duy nguyện giáng cát tường, Pháp giới hằng thanh lương. CHÍ TÂM ĐẢNH LỄ: - Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật (1 lễ) - Nam mô An Lạc thế giới, Phật Bồ-tát bao nhiêu kinh pháp, cho đến nước chim gió cây...tất cả pháp âm, thanh tịnh pháp tạng ( 1 lễ). - Nam mô đại thừa 48 nguyện, Vô Lượng Thọ kinh, mười phương 12 loại Tịnh-độ pháp bảo (1 lễ) - Nam mô An Lạc thế giới Quán Thế Âm Bồ-tát (1 lễ) - Nam mô An Lạc thế giới Đại Thế Chí Bồ-tát (1 lễ) - Nam mô An Lạc thế giới, Thanh Tịnh đại hải chúng Bồ-tát (1 lễ)  Liên tông sơ Tổ, Lô Sơn Đông Lâm, Bạch Liên đạo tràng, HUỆ VIỄN đại sư.  Liên tông nhị Tổ, Trường An, Quang Minh đạo tràng, THIÊN ĐẠO đại sư.  Liên tông Tam Tổ , Nam Nhạc, Bát Chu đạo tràng, THỪA VIỄN đại sư.  Liên tông tứ Tổ, Trường An, Ngũ Hội đạo tràng, PHÁP CHIẾU đại sư.  Liên tông ngũ Tổ, Hàng Châu, Vĩnh Minh đạo tràng, DIÊN THỌ đại sư.  Liên tông thất Tổ , Chiêu Khánh, Tịnh Hạnh đạo tràng, TĨNH THƯỜNG đại sư.  Liên tông bát Tổ, Hàng Châu, Vân Thê đạo tràng LIÊN TRÌ đại sư.  Liên tông cửu Tổ , Bắc Thiên Mục, Linh Phong đạo tràng, NGẪU ÍCH đại sư.  Liên tông thập Tổ, Ngưu Sơn, Phổ Nhãn đạo tràng, HÀNH SÁCH đại sư.  Liên tông thập nhất Tổ, Hàng Châu, Tiên Lâm đạo tràng, THẬT HIỀN đại sư.  Liên tông thập nhị Tổ, Hồng Loa, Tư Phước đạo tràng, TRIỆT NGỘ đại sư.  Liên tông thập tam Tổ, Tô Châu, Linh Nham đạo tràng, ẤN QUANG đại sư.  Liên tông Việt Nam, Vạn Đức đạo tràng, HÂN TỊNH đại sư.  Liên tông Việt Nam, Bồ-đề đạo tràng, TUỆ NHUẬN đại sư.  Liên tông Việt Nam, Hương Nghiêm đạo tràng, THIỀN TÂM đại sư.  Liên tông Việt Nam, tiền hiền hậu bối liệt vị Tổ sư. SÁM HỐI Quy mệnh mười phương Phật, Tôn Pháp, Hiền Thánh Tăng, Tam Thánh cõi Cực lạc Xin thương xót chứng minh. Vô thuỷ kiếp đến nay, Con mê lạc luân hồi, Do bởi tham, sân, si, Từ nơi thân miệng ý, Tạo 4 trọng, 5 nghịch, Mười ác vô biên tội. Nay đem tâm chí thành Tỏ bày cầu sám hối. Nguyện nhờ sức gia trì Chúng con đều thanh tịnh, Phát đại Bồ-đề tâm, Độ mình, người giải thoát. Nam mô Cầu Sám Hối Bồ-tát ma-ha-tát ( 3lần) Sám hối phát nguyện rồi, chí tâm đảnh lễ A Di Đà Phật biến giới Tam-bảo (1lễ) Ý NGHĨA DANH HIỆU ĐẠI THẾ CHÍ BỒ-TÁT Đại : lớn, Thế : thế lực, Chí : đến. ĐẠI THẾ CHÍ : là một bậc có thế lực lớn đến đây. Kinh dạy: Mỗi bước chân của Bồ-tát rung động cả trái đất. Ngài đi tới đâu, tạng thức chúng sanh ở nơi đó liền bị rung động. Các địa ngục, ngã quỷ, bàng sanh được giác tỉnh mà giải thoát đau khổ báo. Ánh sáng trí tuệ có mãnh lực soi tan vô minh từ luỹ kiếp. Chúng ta đảnh lễ đức Quán Thế Âm thân tử kim muôn ức. Thân màu vàng kim rực rỡ trang nghiêm là tướng phước báu đã từ bi tầm thanh cứu khổ. Còn đức Đại Thế Chí Bồ-tát được ca ngợi là thân trí sáng vô biên vì trí tuệ quang minh của ngài chiếu khắp pháp giới. Đức Đại Thế Chí và đức Quán Thế Âm đều là pháp thân Bồ-tát, báo thân ở Cực Lạc thế giới, hầu cận Phật A Di Đà. Các chùa thường thờ 3 vị gọi là Tây phương tam Thánh. KINH BI HOA: Vua Vô Tránh Niệm có 1000 con. Vua xuất gia sau thành Phật A Di Đà. Các thái tử đều theo cha đi tu. Vị lớn nhất là Quán Thế Âm Bồ Tát. Vị thứ hai là Đại Thế Chí Bồ Tát. Việt Nam thờ hình tượng đức Đại Thế Chí Bồ-tát, trên mũ có vẽ cái bình gọi là bình Trí Tuệ. Tay cầm hoa sen vì ngài có nguyện tiếp người niệm Phật vãng sanh Tịnh-độ. Trong kinh Lăng Nghiêm, các Thánh trình bày sự tu hành, có vị tu về căn mắt, có vị tu về căn mũi. Đức Quán Thế Âm tu về căn tai, đức Đại Thế Chí tu về kiến đại nghĩa là cả sáu căn. KINH LĂNG NGHIÊM CHƯƠNG ĐẠI THẾ CHÍ NIỆM PHẬT Ngài Đại thế Chí, con đấng Pháp-vương, cùng 52 vị đại Bồ-tát đồng hành với ngài, đứng dậy đập đầu lễ dưới chân Phật, mà bạch Phật rằng: Con nhớ xa xưa, có Phật ra đời, hiệu ngài gọi là Phật Vô Lượng Quang. Mười hai Như Lai cùng nối đuôi nhau ra trong một kiếp, Như Lai cuối cùng hiệu ngài gọi là Siêu Nhật Nguyệt Quang. Ngài dạy con pháp” Niệm Phật Tam Muội”. Ví như hai người: một người chuyên nhớ, một người chuyên quên. Hai người như thế dù có gặp nhau cũng như chẳng gặp, dù có thấy nhau cũng như chẳng thấy. Vậy hai người phải cùng nhớ tới nhau rất là thâm thiết, cứ như thế mãi, cho hết kiếp này, lại sang kiếp khác, như bóng với hình chẳng hề rời nhau. “ Mười phương Như Lai thương nhớ chúng sanh như mẹ nhớ con, nếu con trốn chạy, thì mẹ dẫu nhớ cũng có làm gì được. Nếu con nhớ mẹ, như mẹ nhớ con, mẹ con đời đời chẳng rời xa nhau”. Nếu tâm chúng sanh nhớ Phật Niệm Phật, đời này đời sau quyết định thấy Phật, cách Phật chẳng xa. Chẳng nhờ đến pháp phương tiện nào khác, mà cũng khai ngộ được tâm của mình. Như người ướp hương, thân có mùi hương. Pháp này gọi là Hương Quang Trang nghiêm”. Chỗ bản nhân con dùng tâm niệm Phật vào vô sanh nhẫn. Nay ở cõi này, tiếp người niệm phật về nơi Tịnh-độ. Phật hỏi viên thông, con không chọn lựa, con chỉ thu nhiếp tất cả sáu căn, chuyên một tịnh niệm, nối nhau liền liền, được vào chánh định, ấy là đệ nhất. Niệm Phật-Hồi Hướng-Tam Quy. 12. CHƯƠNG TRÌNH TỰ TỨ - Lễ Phật-Lễ Tổ - Đại chúng quỳ nghe giáo sắc của đại Tăng. - Thông kiểm số chúng. - Tụng kinh” Tự tứ Thanh Lương”. - Yết ma: a)Sai người thọ tự tứ. b)Bạch pháp hoà Tăng tự tứ. c)Yết ma nhận vải may y công đức. Vấn hoà yết ma sai người chia vật. Đã sai người rồi, không cần vấn hoà nữa, yết ma giao vật để chia( xem Yết Ma Chỉ Nam) - Đọc bài “Ý nghĩa tự tứ”. - Thượng toà đối thú tự tứ. - Sư cô thọ sai cho chúng tự tứ. - Đọc bài “ Huấn từ tán hạ”. - Bát Nhã-Hồi Hướng-Tam Quy. 14. KINH TỰ TỨ THANH LƯƠNG Tôi nghe như vầy: Một thời Phật ngự tại Thành Vương xá, trong rừng Trúc Lâm, vườn Ca Lan Đa, cùng với 500 đại Tỳ-kheo đồng an cư mùa mưa. Bấy giờ vào ngày 15 cuối hạ, đại chúng tự tứ thay vì Bồ-tát. Tôn giả Xá Lợi Phất đứng dậy sửa y , chắp tay bạch Phật: Bạch Thế Tôn, Vô-thượng Y Vương! Ai chưa điều ngự, chưa tịch tịnh khiến cho tịch tịnh, chưa giải thoát khiến cho giải thoát, chưa đắc đạo khiến cho đắc đạo, chưa tu tập phạm hạnh khiến cho tu tập phạm hạnh. Thế Tôn là bậc tri đạo, giác đạo, thức đạo, thuyết đạo. Chúng con là con của Phật, thọ sanh từ miệng Phật, hoá sanh từ Pháp Phật. Phật dạy chúng con:” Các Tỳ-kheo hãy nhắc nhở lẫn nhau, sám hối lẫn nhau:. Hôm nay ngày tự tứ, lãnh thọ khuyến giáo, lãnh thọ khiển trách. Đệ tử chúng con vâng theo lời dạy, nhất hướng tu hành. Do đây chúng con sẽ được tự tại như ý, khéo biết rõ chánh pháp. Bạch thế Tôn, đối với thân khẩu ý hành của Xá Lợi Phất con, Thế Tôn có phiền gì chăng? -Này Xá Lợi Phất! Ta không phiền gì đối với thân, khẩu, ý hành của Thầy. Vì Thầy đã Thành Tựu Thật Tuệ. Ví như Thái Tử không dám phạm lời khuyên dạy, bái lãnh sự truyền thừa của phụ vương và sau này có thể truyền thừa lại. Nay Xá Lợi Phất, ta chuyển vận pháp luân, Thầy cũng có thể chuyển vận Pháp Luân. Này xá lợi Phất! Ta không phiền gì về thân, khẩu, ý hành của Thầy. - Bạch Thế Tôn, ngài có phiền gì về thân khẩu ý hành của 500 thầy Tỳ-kheo chăng? - Này Xá Lợi Phất, các Tỳ-kheo này đều đã chứng đắc vô trước, dứt trừ các lậu, phạm hạnh đã vững, việc làm đã xong, hữu kết đã tận, gánh nặng đã đặt xuống. Các Tỳ-kheo này đã đạt được thiện nghĩa chánh trí, chánh giải thoát. Này Xá Lợi Phất, ta không phiền gì về thân khẩu ý hành của 500 Thầy Tỳ-kheo. Tôn giả Xá Lợi Phất, lần thứ ba chắp tay hướng về Thế Tôn: Bạch Thế Tôn! Trong số 500 Tỳ-kheo đây, bao nhiêu vị đã đạt tam minh, bao nhiêu vị đã chứng đắc câu giải thoát, bao nhiêu vị đã chứng đắc tuệ giải thoát? -Này Xá Lợi Phất! 90 vị đã đạt tam minh, 90 vị đã chứng câu giải thoát. Còn bao nhiêu đều đã được tuệ giải thoát. Trong chúng không có hạt lép, chỉ có toàn hột chắc. Khi ấy Tôn giả Bàng Kỳ Xá đứng dậy trịnh vai áo chắp tay: Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn gia trì cho con thêm uy lực! Để ở trước Phật và đại chúng, con được tụng lời tán đúng nghĩa. - Này Bàng Kỳ Xá! Thầy cứ tuỳ ý. Hôm nay ngày rằm tự tứ. Hội hoa Tăng chúng 500, Đoạn tận buộc ràng, kết sử Đồng chứng vô ngại, vô sanh. Thanh tịnh người quang minh Giải thoát tất cả hữu, Dứt sanh, lão, bệnh, tử. Lậu diệt, việc làm xong. Trạo hối và nghi kết, Mạn, hữu lậu đã trừ. Nhổ tuyệt gai ái dục, Thành vô thượng y sư. Dõng mãnh như sư tử, Sợ hãi đã dứt trừ, Đã vượt qua sanh tử, Diệt lậu tận, vô dư. Ví như Chuyển Luân Vương Quần thần vây chung quanh, Thống lãnh toàn trái đất, Cả đại dương vô cùng. Đấng đại hùng tối thắng Bậc thượng trí thượng tôn, Ai cung kính sẽ được Tam minh, ngoài tử sanh. Tất cả đại chúng đây Phạm hạnh đã thành lập, Chuyển pháp luân vô thượng Đảnh lễ đức Thế Tôn. Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật (3 lần) 15. Ý NGHĨA TỰ TỨ Tự là tự mình. Tứ là tha hồ. Trải thân đảnh lễ cầu thỉnh mọi người, hoặc thấy hoặc nghe hoặc nghi, xin tận tình chỉ bảo. Ta biết lỗi sám hối, khiến thân tâm được hoàn toàn thanh tịnh. Nhân duyên: Một trụ xứ, chúng Tỳ-kheo an cư, tự đặt luật lệ, không cùng nhau nói, để được tuyệt đối an tĩnh. Phật dạy:” Ngu si lấy hại làm lợi. Sống chung với nhau như oan gia. Ta vô số phương tiện dạy các Tỳ-kheo phải dạy dỗ nhau, nghe lời nhau, giác ngộ lẫn nhau. Nếu hành pháp câm, phạm đột-cát-la”. Bộn Lục Quần liền cử tội thanh tịnh Tỳ-kheo. Phật dạy: Muốn cử lỗi ai, trước phải cầu nghe, đến người đó phân tích minh định lỗi lầm. Nếu họ chịu sám hối thì thôi. Nếu không nghe mới cử tội. Lục Quần lại đến thanh tịnh Tỳ-kheo cầu nghe. Phật bảo: Muốn cầu người ta nghe, chính mình phải đủ năm pháp: 1) Phải thời, không được phi thời. Không nên cầu người đang bệnh hoặc đang sân nghe chỉ lỗi. 2) Chân thật, không được hư dối. Thật có lỗi lầm, không do vu báng. 3) Lợi ích, không dùng vô ích. Việc cần đáng nói mới nói, không lèm bèm vụn vặt, hão huyền. 4) Mềm mỏng hoà nhã, không dùng lời thô tháo, cứng xẵng. 5) Từ tâm không dùng sân giận, chân thật xây dựng không vì hiềm thù. Các Tỳ-kheo đủ năm pháp cầu Lục Quần nghe, Lục Quần không nghe. Phật dạy:” Từ nay an cư xong, phải tự tứ”. Cho ngăn tự tứ nếu phi pháp. Ngày tự tứ không nên cầu nghe, vì người tự tứ chính đương thỉnh chỉ lỗi. Phật bắt buộc trước phải sám hối tất cả lỗi lầm cho thanh tịnh, rồi sau mơi tự tứ. Nên chọn nơi đất trống, ngồi trên cỏ mà tự tứ. Ở đất trống nêu biểu sự thẳng thắn, không che đậy tội lỗi. Vì sao ngồi trên cỏ? Đức Như Lai nửa đêm vượt thành xuất gia, vào núi học pháp ngoại đạo, sáu năm khổ hạnh, chẳng được ích gì. Ngài bèn xuống sông Ni Liên tắm rửa rồi lên gốc Bồ-đề ngồi kết già. Có tên Cát Tường đang cắt cỏ tại đó, thấy thế vội đem dâng cỏ để ngài làm toà ngồi. 49 ngày sau Ngài chứng Vô-thượng Bồ-đề. Chúng ta ngày nay căn tánh kém cỏi lười biếng. 90 ngày an cư đi qua, đã không chứng thánh quả còn đầy lỗi lầm. Dù đã sám hối vẫn trải cỏ ngồi trên đất trống, vâng lời Phật, sạch lòng, kính cẩn cầu người mắt sáng theo chỗ thấy nghe nghi chỉ rõ những thiếu sót. Rửa sạch ba nghiệp, sáu căn thanh tịnh, làm sao pháp nhãn chẳng khai mở để thân chứng diệu tịnh minh tâm. Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. 16. HUẤN TỪ NGÀY TÁN HẠ Mùa hạ mưa nhiều, chư Tăng đi khất thực vất vả, ướt lạnh, có khi nguy hại tới sức khoẻ mạng sống. Lại thêm côn trùng sâu kiến sinh sản rất nhiều, khó tránh tội sát sanh. Nên Phật dạy Tăng ni mùa hạ phải nhóm họp một chỗ tịnh tu, y chỉ những bậc tiên giác thượng toạ. Ba tháng chuyên tu giới định tuệ. Thượng căn chứng qủa, trung căn hàng chục phiền não. Dù hạ căn mà giới luật thanh tịnh cũng tăng tấn đạo nghiệp. Nên Tỳ-kheo lấy kết hạ làm tuổi, gọi là hạ lạp.Niên thiếu Tỳ-kheo chưa đủ năm hạ phải y chỉ. Ai chưa đủ 12 hạ không được phép làm thầy. Trong khoá an cư, ai không được sự chấp thuận của đại chúng mà bước chân ra ngoài đại giới gọi là phá hạ, nghĩa là mất tuổi. Nên ngày rằm tháng bảy, lễ tán hạ là ngày Tăng nhận tuổi, là ngày khánh Tuế của thiền môn. Cũng gọi là ngày Tăng tự tứ vì sau ba tháng an cư, mỗi vị tự kiểm điểm mình để sửa lỗi. Có một ngày sám hối chưa đủ, còn phải đặc biệt thêm một ngày, thỉnh cả đại chúng, ai có thấy nghe nghi điều gì, cũng xin chỉ dạy, để như pháp sám hối. Thế thì toàn chúng hẳn phải thanh tịnh. Đã thanh tịnh hẳn được giải thoát. Được giải thoát là đáp đúng với bổn hoài độ sanh của chư Phật. Nên ngày ấy còn có tên là ngày chư Phật hoan hỷ. Ai thanh tịnh luân 3 tháng được thọ y công đức, được hưởng năm quyền lợi đặc biệt. Nên ngày thọ y công đức gọi là ngày thưởng thiện phạt ác. Lại nữa, theo kinh Vu Lan, Phật dạy ngài Mục Kiền Liên phải đợi Tăng tự tứ, đem cúng dường phẩm vật để cứu khổ treo ngược cho cha mẹ và cửu huyền thất tổ. Khổ treo ngược là khổ địa ngục. Khổ địa ngục còn cứu được huống chi các khổ khác. Nên ngày rằm tháng bảy là ngày xá tội vong nhân. Ngày những người con cứu khổ cha mẹ vì gặp được phước điền thanh tịnh. Nên có tên là ngày báo hiếu. Vì 3 tháng an cư, công đức lớn như thế nên an cư là luật quan yếu. Tỳ-kheo không an cư, dù trọn đời cạo tóc đắp y trì giới, vẫn gọi là phá giới. Nhóm họp an cư mà không kỷ luật chân chính, gọi là tặc trụ, tội không nhỏ. Tỳ-kheo dù thông hiểu Phật Pháp, dù đã chứng quả mà chẳng an cư, cũng phạm tội không kính thánh giáo. Chúng ta từ lịch kiếp nghiệp chướng nặng nề, đã trôi lăn mãi trong tam đồ lục thú. Nay nhờ thiện duyên được gặp Phật Pháp Tăng, được xuất gia, biết phát tâm Bồ-đề. Lại đủ phước viên mãn 3 tháng an cư. Chúng ta nên tự khánh tự mừng, phấn khởi trên con đường tự giác, giác tha, cho bản thân giải thoát, cho cha mẹ lục thân mong chờ, cho quốc gia xã hội nương đức, cho xứng đáng ngôi lục hoà thanh tịnh. Trong kinh Vu Lan, Phật đã đích chỉ Tăng già là nơi trồng cây độc nhất của vạn loài. 17.LỄ VU LAN SÁNG - Tụng kinh Vu Lan - Diễn từ bạch lễ Vu Lan. Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Trong khung cảnh trang nghiêm của đạo tràng Liên Hoa, con xim phép trình bạch những cảm nghĩ về Vu Lan, một ngày lễ trọng đại của Phật Giáo. Cách đây hơn 2500 năm, thái tử Tất Đạt Đa, vì thấy bốn cảnh khổ sanh, già, bệnh, chết đã quyết tâm xuất gia tìm đạo, một trường hợp thoát tục phi thường, có một không hai trong lịch sử. Sau khi phấn đấu mãnh liệt với bao gian khổ, đơn độc tham thiền nhập định trên núi Tuyết, ngài đã ngộ đạo giải thoát. Suốt 49 năm thuyết pháp, ngài căn dặn các đệ tử lấy giới luật làm Thầy. Ngài để lại cho thế gian một kho tàng pháp bảo thâm sâu, vi diệu. Nhờ đây tất cả chúng sanh, kẻ còn người mất, đều được hướng dẫn lên đường an vui lợi lạc. Hai giáo lý nghiệp báo và tái sinh, có liên hệ mật thiết với nhau. Đời sống hôm nay là kết quả của những hành động quá khứ. Tương lai sẽ là những kết quả của những hành động hiện tại. Trong bức tranh 12 nhân duyên. Phật dạy khoen “HÀNH” vẽ ông thợ đồ gốm đang nặn chiếc bình. Bình là kết quả theo ý muốn của ông thợ, theo hai bàn tay khéo léo hoặc vụng về của ông mà ra. Nghiệp cũng vậy, thường xuyên thay đổi theo tâm biến hoá: Một ác nhân ngày hôm nay có thể trở thành thánh nhân ngày mai. Một người tốt có thể vì một lý do nào đó, trở thành tội nhân. Dòng sông nghiệp lực còn được cung cấp bằng những khối nước bùn lầy tham, sân, si còn tiếp tục chảy. Tái sinh là kết quả tất nhiên của nghiệp lực. Ví như ánh sáng đèn điện, bóng đèn vỡ ánh sáng tắt, nhưng vì điện lực không mất, nên ánh sáng trở lại với một bóng đèn khác. Thân chúng ta dù tan rã, nghiệp lực còn tồn tại, hẳn còn tái sinh. Vòng luân hồi chỉ ngừng khi ta không tạo nghiệp. Tóm lại quả khổ chuyển theo nghiệp, nghiệp chuyển theo tâm. Chỉ cần soi sáng con tâm là hết khổ. Vì thế chỉ có ánh sáng giác ngộ của Tam-bảo là cứu tinh độc nhất của muôn loài. Tam-bảo thường trụ ở thế gian nhờ Tăng Ni kế tiếp truyền dăng. Chúng sanh nương Tam-bảo thoát khổ, tiến lên quả vị Thánh Hiền cho đến thành Phật. Vì vậy tronh kinh Vu Lan, Phật đích chỉ: Tăng chúng hoà hợp thanh tịnh tự tứ, là năng lực duy nhất có thể cứu khổ tam đồ và mở cửa giải thoát cho cả lục đạo luân hồi. Lễ Vu Lan làm sáng tỏ chân lý” Nhất thiết duy tâm tạo”. Công đức chư Tăng thanh tịnh cùng với tấm lòng hiểu thảo chí thành của Phật tử chúng con, cảm thông đến những tâm hồn đau khổ. Khiến cha mẹ tổ tiên chúng con chuyển tâm niệm, hướng về đường thiện mà thoát khỏi hình phạt của nghiệp báo, tiến dần lên thánh vị. Nghiệp lực sâu thẳm vô biên, từ lực và nguyện lực của Tăng Ni cùng vi diệu không tận. Hôm nay ngày rằm tháng bẩy, ngày chư Phật hoan hỷ, ngày chư Tăng tự tứ. Phật tử chúng con tụ hội về đây, thành kính dâng lễ phẩm cúng dường Tam-bảo, ngưỡng mong cha mẹ hiện đời tăng thêm phước thọ, cửu huyền thất tổ thoát cảnh luân hồi. Bản thân chúng con cùng với gia đình thân quyến cũng nương phước báo này mà tiêu tai giải nạn, kết duyên Bồ-đề. Trước khi dứt lời, chúng con xin chí thành cầu nguyện mười phương Tam-bảo gia hộ cho toàn thể Tăng Ni phật tử , Bồ-đề tâm kiên cố, Phật sự viên thành, để dắt dẫn chúng con bắc nhịp cầu giải thoát cùng về cõi Phật. Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Nam mô đại hiếu Mục Kiền Liên tôn giả tác đại chứng minh. NI TĂNG CHÚC NGUYỆN Toàn chúng quỳ tụng:” Nam mô tát đa nẩm. tam miệu tam bồ đề câu chi nẩm, đát diệt tha. Ám, chiết lệ chủ lệ chuẩn đề, sa bà ha” (108 biến từ chữ Ám...) Vì việc gì bố thí, Ắt sẽ được như ý. Như vì vui mà thí, Sau ắt được an vui. Quy y mười phương tận hư không giới nhất thiết thường trụ Tam-bảo. Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Nam mô tiếp dẫn đạo sư A Di Đà Phật. Nam mô Dược Sư hải hội Phật Bồ-tát, nhất thiết Hiền Thánh Tăng. Từ bi chứng minh công đức cho mười phương Phật Tử, đã tuân phụng Như Lai di giáo. Nhân ngày chúng Tăng tự tứ, làm lễ Vu Lan, dâng y và cúng dường phẩm vật, cùng hương trà hoa trái, hồi hướng công đức về cha mẹ hiện tiền, quá khứ phụ mẫu, cửu huyền thất tổ, lịch kiếp thân duyên, nội ngoại gia tiên, lục thân quyến thuộc. Rộng cùng mười phương trăm họ, đồng tiêu tội chướng, đồng thoát khổ luân, đồng sanh An Lạc, đồng thành Phật đạo (3 lần). Chuyển ý thức phân biệt hư vọng, Xoay trở về bản tánh viên minh. Thường trụ tâm địa quang hiển phát Như nước đục lóng thành trong sáng Kết quả chứng được đại thần thông. Chí tâm đảnh lễ: Nam mô đại hiếu Mục Kiền Liên tôn giả (3 lần). CHÍ TÂM ĐẢNH LỄ Nam mô tánh tướng bất nhị, mình hợp vô vi, nhất thiết tối thượng Tăng già gia chúng (1 lễ). Nam mô thập Địa tam Hiền, ngũ quả tứ hướng, nhất thiết xuất thế Tăng già gia chúng ( 1 lễ). Nam mô Tỳ-kheo ngũ chúng, hoà hợp vô tranh, nhất thiết trụ trì Tăng già gia chúng ( 1 lễ). SỚ TIẾN LỄ VU LAN SÁCH DẠY: Tiết Vu Lan trăng tỏ, Ngày Tự Tứ thanh lương. Thiết trai đàn cầu cha mẹ hiện tại bình an. Dâng sớ tấu độ tổ tiên siêu thăng Phật cảnh. Câu” dương khánh” một lòng mong tưởng. Chữ “âm siêu” trông đợi phước duyên. Khiến nhà nhà an lạc như nguyền. Mong trốn trốn bình yên toại ý. CHÚNG CON KÍNH NGHE Động chân cất bước mỗi sát na tạo tội muôn vàn. Tham sân si mạn, mỗi sơ sẩy gây oan luỹ kiếp. Từ vô thuỷ đã tạo bao ác nghiệp. E lại sinh còn thiếu thiện nhân. Ơn Phật Tổ mở hội Vu Lan, Mỗi năm dạy lập đàn xá tội. Trước bệ ngọc lạy cầu sám hối, Đối liên toà đèn nến trang nghiêm. Trượng Phật thừa nương đức từ bi, Cầu Tăng chúng dắt về giác đạo. DUYÊN NAY Ni chúng Liên Hoa 3 tháng hạ tinh tấn công phu. Đầu tháng 7 tụng kinh sám hối, tuần trung nguyên khiêm thân tự tứ. Lại kính vâng kim ngôn ngọc luật, mở hội Vu Lan. Cả hai chúng xuất gia tại tục vâng lời di giáo, tụ hội về chùa, thiết lập trai đàn, sửa lễ cúng dường. CHÍ TÂM ĐẢNH LỄ - Nam mô thập phương thường trụ Tam-bảo kim liên toạ hạ. - Nam mô Ta bà hải hội Phật Bồ-tát kim liên toạ hạ. - Nam mô Tây Phương An lạc thế giới Phật Bồ-tát kim liên toạ hạ. - Nam mô đại nguyện Địa Tạng Vương Bồ-tát kim liên toạ hạ. - Nam mô tánh tướng bất nhị, minh hợp vô vi, nhất thiết tối thượngTăng già gia chúng. - Nam mô thập Địa tam Hiền, ngũ quả tứ hướng, nhất thiết xuất thế Tăng già gia chúng. - Nam mô Tỳ-kheo ngũ chúng, hoà hợp vô tranh, nhất thiết trụ trì Tăng già gia chúng. KÍNH MONG Liệt Tổ cảm thông, Thánh Tăng chiếu giám. Đức lục hoà cứu khổ trầm luân, Thanh tịnh giới vớt dòng lục đạo. Bát bộ gia trì, thiên long ủng hộ, Khiến vong giả tội khiên diệt sạch Và người còn cát khánh tam đa. Mong gia tiên tắm gội liên trì, Cầu cha mẹ quay về bát đức. LẠI CHẠNH NGHĨ Trên trời biết bao tóc bạc da mồi không còn dưới gối, Dưới âm 36 loại quỷ thần ai kẻ xót thương, Địa ngục giờ này vạc dầu sôi lửa cháy, Ngay đến cõi thiên đường chưa thoát khổ mê say. Chúng con học Mục Liên, Địa Tạng, HIẾU chính Phật tâm, NHÂN là Phật hạnh. Nên dâng sớ nguyện cầu âm siêu dương thái. Phật nhật tăng huy, pháp luân thường chuyển. Để từ nay oan kết băng tiêu, Chung cộng hưởng thái bình Tịnh-độ. Việt Nam an lạc! Thế giới thanh bình! Trăm lạy khấu đầu dâng sớ. Ngưỡng mong Tam-bảo chứng minh. 18. KHÁNH TUẾ THẦY (1992) Kính bạch Thầy! Những tưởng rằng chị em chúng con sẽ mãi mãi không bao giờ còn Thầy nữa, như đàn chim non sắp mất mẹ hiền, bao nhiêu lo lắng bàng hoàng bên giường Thầy bệnh. Nhưng phước đức thay! Mười phương Chư Phật, Bồ-tát đã thấu nghe lời thống thiết nguyện cầu của chúng con mà thầm cảm ứng. Hôm nay Thầy thật sự ở lại với chúng con. Còn Thầy là còn tất cả. Sau cơn mưa trời lại sáng, cảnh trí tưng bừng, hoa lá xanh tươi hơn, gió núi rì rào như cùng chia sẻ niềm hân hoan với chúng con. Thầy đã 39 tuổi đạo là 39 bước vững vàng chắc chắn, trên con đường giác ngộ giải thoát. Mùa hạ năm nay, Thầy bị sốt rét nặng. Chị em chúng con ít được học kinh trong lớp. Nhưng nơi thân giáo, mỗi cử động của Thầy trên giường bệnh, chúng con đã học rất nhiều, nhất là khả năng tự trị, Thầy vẫn miên mật công phu, chiếu soi 5 uẩn là không, hàng phục thọ ấm. Đến nỗi ngay trong mê sảng, Thầy toàn giảng Bát Nhã Tâm Kinh. Ba tháng trôi qua nhanh chóng, chúng con có được phước sớm tối hầu Thầy, có người ở trụ xứ xa... Hôm nay giờ phút trang trọng này, chúng con kính dâng lên Thầy 39 bông sen thơm ngát như 39 tuổi đạo hương quang trang nghiêm và 10 ngọn đèn để cầu chúc Thầy sớm viên mãn 10 ba la mật. Một lần nữa chúng con xin thay mặt tất cả huynh đệ, từ đồng bằng đến cao nguyên, Việt Nam cũng như Hải Ngoại, hân hoan đồng thanh cầu chúc Thầy của chúng con sẽ như đức Quán Thế Âm. “ Ngàn xứ cần cầu ngàn xứ ứng, Biển khổ thả thuyền vớt chúng sinh, Diệu ứng thần hoá khó đo lường Tuỳ cơ thuyết pháp đồng giải thoát”. Toàn thể chị em chúng con dập đầu đảnh lễ kính mừng hoà nam bách bái. 19. ÂN ĐỨC TAM SƯ Lễ Vu Lan mở ra cho nhân loại một mùa báo hiếu. Cha mẹ thế gian có công sanh dưỡng tấm thân giả tạm, Phật còn dạy mỗi năm phải có một ngày đặc biệt thiết thực báo ân. Huống chi giới thân tuệ mạng, chúng ta lại lơ là không nghĩ tới người sanh dưỡng hay sao? Hôm nay ngày tốt đẹp khai khóa tu này, chúng ta nên cùng nhau nhớ tưởng ân đức tam sư. Thầy BỔN SƯ mở lòng đạo, cho ta thọ hưởng ân lành ngôi Tam-bảo. Đối với ngài ta phải hết lòng yêu mến, trọng kính như đấng cha lành chí ái chí thân. Đưa lên ngôi vị Tăng bảo, dẫn dắt ta đặt chân cất bước trên đường tu hành là công đức của GIỚI SƯ . Nhờ GIỚI SƯ ta được trang nghiêm đạo hạnh, giới phẩm triêm thân. Nên bổn phận chúng ta phải tuân thừa luật học, đỉnh đới phụng trì. Đây là chân thật báo ân. Thầy PHÁP SƯ giác mê khai ngộ. Đời tu hành chúng ta tươi sáng, trí đức chúng ta linh nghiêm, đều nhờ ngài trau dồi hun đúc. Bao nhiêu tâm huyết hao tổn, bao nhiêu công lao khó nhọc, Thầy mới dìu dắt được chúng ta ra khỏi rừng gai vô minh rậm rạp, đưa chúng ta lên cảnh giới quang sáng giải thoát. Là sứ giả của Như Lai, giáo hoá không màng danh lợi, Thầy bá thí thời giờ sức khoẻ, Thầy bá thí cả tâm hồn. Chúng ta ngày nay noi theo con đường Thầy đã vạch sẵn, đâu được không tận tình kính cẩn học hành, trên đền bốn ân, dưới cứu muôn loài, hầu mong đáp ơn giáo dưỡng trong muôn một. Đối với ba ngôi Thầy, nếu đủ nhân duyên được hân hạnh thân cận, chúng ta phải hết lòng phụng sự. Oai nghi tế hạnh, ba nghiệp không buông lung, gương mặt tươi tỉnh, mắt tai lanh lẹ, đón biết ý Thầy, thuận theo nhan sắc. Nếu để Thầy nói nhiều, vừa nhọc sức Thầy, vừa tổn đức mình. Thầy có điều quở trách, ta nên vui vẻ tạ ơn không hiện tướng chống trái. Ba ngôi Thầy là nhà cửa che mát, ruộng vườn nuôi sống giới thân tuệ mạng chúng ta. Các ngài là nguyên soái trong mặt trận chống vô minh, phiền não ma quân. Tất cả các pháp lành ở thế gian đều nhờ ơn quý ngài gieo giống. Nền đạo đức trang nghiêm của nhân loại chính từ bàn tay trăm phước của quí ngài an bài. Cho nên dầu thế nào, ta cũng phải một lòng biết ơn. Nếu như ta trái bước lùi lại thì thật là một điều đáng ân hận. Miễn chúng ta thành tâm cung kính quý mến phụng sự 3 đấng Tôn sư, còn các phương thức sự tướng thì tuỳ duyên. Gần Thầy, chúng ta được nghe những điều chưa nghe, được huân tập những nết chưa có. Như vậy chúng ta vừa tròn bổn phận đối với Thầy mà riêng mình lại được bội phần lợi ích. Ngoài Tăng già là một trong ba ngôi Tam-bảo. Đối với liệt vị Tăng Ni, chúng ta tuy không thọ ân riêng, nhưng vì quý ngài hạnh đức giới phẩm đáng ngôi Thầy cả cõi trời người, nên chúng ta phải cung kính phụng thờ. Mỗi khi có nhân duyên hầu tiếp, chúng ta nên thành thật trình bày chỗ còn ghi trong đạo lý, xin được học thêm. Quý ngài từ xa đến tạm trú, chúng ta nên liệu biện chu đáo tất cả các nhu dụng, cung kính tôn thờ, như đối với Thầy chúng ta không khác. Và sau nữa, ăn quả nhớ kẻ trồng cây, chị em chúng con một lòng thành kính biết ơn Sư cô trụ trì cùng toàn ban chức sự. Rộng ra mỗi mỗi chấp tác, quét nhà, bổ củi,v.v..., đều là công vụ thiền môn ân. Những bàn tay chung góp xây dựng cảnh giới An Lạc tương lai cho chúng con. Chúng con phát nguyện biết ơn và nỗ lực đền ơn. Cho nên hàng năm ngày Vu Lan, chúng con sung sướng được đảnh lễ khánh tuể. Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. 20. CHÚC THỌ QUÝ CỤ Vinh dự biết bao chùa chúng ta được tổ chức lễ chúc thọ quý cụ. Hạnh phúc bao nhiêu, chùa Hương Sen chúng ta có đến 16 bậc lão thành đã quá tuổi mà người đời gọi là “ cổ lai hy”. Hơn tuổi thầy có cụ Tỳ-kheo-ni Hạnh Lâm 94 xuân xanh. Trẻ nhất là ni sư Thể, Ni sư Lý, tuổi đã gần 70 nhưng ở trong hội trưởng lão, quý ngài còn tươi như hoa sen mới nở. Vinh dự biết bao cho đàn hậu học chúng con được xun vầy dưới gối. Lịch đại tiền hiền hậu bối truyền bá đạo giải thoát. Trải 3000 năm cho tới ngày nay, lại nhờ công ơn quý cụ đem thân làm nhịp cầu tiếp nối. Bàn tay một đời nâng đỡ ngọn đuốc chánh pháp quang minh, nay đã đốm da mồi. Mái đầu bao năm lao nhọc tinh thần trong mặt trận chống vô minh phiền não, nay nhuộm màu bạc trắng và gối mỏi răng long, quý cụ vẫn dõng mãnh trên con đường về cõi Phật. Hương sen ngào ngạt toả khắp gần xa. Quý cụ tay lần tràng hạt, miệng niệm nam mô không ngớt tiếng. Mỗi ngày 4 khoá lễ cầu vãng sanh, chuông mõ vang vang khắp rừng sâu núi thẳm. Hồng chung chiêu mộ, học luật sớm chiều... Hôm nay hậu học chúng con đảnh lễ Phật Tổ, thành kính dâng lên quí vị trưởng lão của gia đình Hương Sen niềm tri ân. Quý ngài vừa là những bậc Thầy đạo sư của chúng con, vừa là những tấm gương tinh tấn cho chúng con. Trẻ thơ còn sơ sanh trong đạo Thánh Hiền, chúng con nguyện cầu quí cụ trường thọ để đàn con dại dài lâu núp bóng. Và bên trời An Lạc phương Tây, đức Quán Âm, Thế Chí đang tô điểm những đoá sen trăm báu, đợi chờ mai đây, toàn thể gia đình Hương Sen ta thượng phẩm giác khai. Nam mô tiếp dẫn đạo sư A Di Đà Phật. MỞ CỬA TÂY PHƯƠNG Mở cửa Tây phương Cung thỉnh quý cụ đi về, đi di về. Bên Tây phương vui tươi ( 2 lần). Hằng nghe loài chim nói pháp. Mau mau đi lên ( 2 lần) Khỏi vòng tử sanh ( 2 lần) Đến cảnh Tây phương, Vui vẻ an lạc bốn mùa, bốn bốn mùa. Đi sang bên Tây phương (2 lần) Đầy hoa mùi hương thơm ngát. Trong ao hoa sen (2 lần) Dưới đáy ao hoa sen Lót những thuỷ ngọc xà cừ, xà xà cừ. Bốn phía trên ao sen (2 lần) Bao nhiêu hào quang chiếu sáng. Đua nhau tuân ra (2 lần) Trắng vàng đỏ xanh ( 2lần). Nhớ thủa xưa kia, Biết bao người đã sinh về, sinh sinh về. Đức Thích Ca Mâu Ni ( 2lần) Không hỏi mà ngài tự nói. Muốn cho nhân sinh (2 lần). Đặng về cõi Tây ( 2lần). Thích Ca Mâu Ni Quyết tâm độ tận phen này, phen phen này. Những ai muốn sanh ( 2lần). Thì mau trì danh Đức Phật. Hay thay! Hay thay! (2 lần) Thoát vòng tử sanh ( 2 lần). Hết thảy con em Tâm ý cung kính vui mừng, vui vui mừng. Nào còn có bao lâu ( 2 lần). Quý cụ hào quang sáng chói. Bay lên trên hư không ( 2 lần). Vang đầy trống chuông ( 2 lần). Lúc đến Tây Phương, Chư thánh trổi nhạc rước vào, rước rước vào. Ôi Tây phương vui thay ( 2 lần). Cầu xin về bên cõi ấy. Thánh tăng hân hoan ( 2lần) Đón mững những ai, phát nguyện vãng sanh. Hôm nay Hương Sen Quý cụ niệm Phật chuyên cần, chuyên chuyên cần. Chúng con kính dâng ( 2 lần) Tràng hoa hương thơm tinh khiết. Trông mong mai sau ( 2 lần). Quý cụ vãng sanh, thượng phẩm hoá sanh. ( Dành riêng cho các thiếu nhi đầu còn để chóp trái đào múa hát mừng quý cụ). - Dâng quà khách tuế quý cụ. 21. HIẾU TRONG ĐẠO PHẬT Liên Tông Bảo Giám dạy:” Hiếu đứng đầu trăm hạnh”. Hiếu là tâm Phật, dưỡng là hạnh Phật. Muốn được hạnh Phật phải biết thảo nuôi cha mẹ. Trường Lư Di thiền sư dạy: “ Hiếu là cửa mở ra vạn diệu”. Kinh lấy Hiếu làm tông. Luật lấy Hiếu làm giới. Hiếu tại gia là cha mẹ thương không lờn, khi cha mẹ ghét không giận, thuận theo nhan sắc mà phụng thờ. Hiếu xuất gia thế gian là tinh tấn giới định tuệ, đem công đức hồi hướng song thân. Chẳng những lợi ích cho cha mẹ về sau mà hiện đời này, cha mẹ cũng được bình an thêm thọ. Như Lai nử đêm vượt thành, sáu năm khổ hạnh mới có cái phước lên trời nói pháp độ cho mẫu thân. Một bậc Thế Tôn vua chúa cúi đầu lễ dưới chân, ngài còn về hộ niệm vua Tịnh Phạn lúc cuối cùng khiến trước khi tắt thở, vua chứng quả Tu-đà-hoàn. Lại đích thân cùng Anan, Nan Đà và La Hầu La, 3 vị A La Hán, khiêng linh cữu, để cho người xuất gia về sau, đừng lầm cậy mình đã xuất thế mà coi thường ân đức cù lao. Tổ Huệ Năng có 10 lạng bạc cúng mẹ hết rồi ra đi học đạo. Tổ Tất Năng ghánh cha mẹ đi học. Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn làm nhà riêng thờ mẹ, để tạ cái ơn 6 năm nhẫn khổ cưu mang. Ngài Trần Lục Châu dệt dép bán để nuôi mẹ già. Rạng pháp sư cõng mẹ đi giảng Pháp. Chính bởi vì đứng hàng Tăng bảo, làm Thầy cõi trời người nên mới đủ trí tuệ biết ơn đền ơn. Càng xuất thế càng không quên bổn phận con người. Sách dạy: Con quạ ở rừng sâu, ngày kiếm mồi về nuôi mẹ, tới khi mẹ chết, quạ vẫn đem mồi về, gọi mẹ suốt đêm thâu. Người tại gia độ cho cha mẹ đỡ cái khổ thân xác thịt hành hạ, người xuất gia độ cho cha mẹ thoát khổ luân hồi. Hôm nay đại chúng Liên Hoa, người người đều biết rõ bổn phận này. Sau ba tháng an cư kết hạ, vâng lời Phật dạy, mỗi năm một lần, hàng Phật tử xuất gia làm lễ đại sám hối, đảnh lễ mười phương Tăng cầu tự tứ, và nhân đây mở hội Vu Lan. Thỉnh mời cha mẹ về chùa dự lễ. Kính dâng tràng hoa tỏ tâm hiếu hạnh, noi gương Phật Tổ. TRÀNG HOA HIẾU HẠNH Trong cảnh trang nghiêm của tùng lâm Liên Hoa ngày Vu Lan, chúng con vô cùng xúc động, tâm hân hoan mà nước mắt tuôn rơi, chúng con cảm động bái lãnh tràng hoa. Hân hạnh bao nhiêu cho gia đình chúng con đã nẩy nở được mầm Bồ-đề, con của chúng con ngày nay, dự hàng Tăng bảo ở địa vị chúng trung tôn. Tâm hoa tươi nở, Trồng trong vườn tuệ. Tưới nước từ bi, Toả hương công đức. Phật dạy:” Làm thân lạc đà trở nặng đi xa chưa phải là khổ, ngu su không biết hướng đi mới thật là khổ”. Gia đình chúng con được Thầy dung nạp vào hàng đệ tử, đã được giải thoát một phần nào nỗi khổ thứ nhất ấy. Nhờ ân trời biển của Tam-bảo, chúng con đã hiểu được ý nghĩa cuộc đời. “ Thân này chẳng phải ta, chẳng phải của ta. Vạn vật có đấy rồi mất đấy. Chỉ có thánh Phật là thường trụ. Từng giờ, từng phút giữ gìn thân miệng ý thanh tịnh để trở về bản tánh chân không...” Quý sư cô đang đi lên, bỗng nhiên thầy gọi: “ Nhớ lại cha mẹ còn đang chơi vơi trong trần luỵ” Và nhắc nhở:” Đừng lầm cậy mình đã xuất thế mà coi thường ân đức cù lao”. Thật vậy! Hàng tại gia Phật tử chúng con tuy đã biết phá vô minh để chuyển nghiệp là cần thiết, nhưng vô cùng yếu đuối lại nặng trần lao, bao nhiêu phiền não từ ngàn đời đã nung nấu tâm gan. Giữa cảnh đời bơ vơ lạc lõng, biết bao ưu tư phiền muộn, tiếng chuông giác ngộ từ chùa Liên Hoa vọng ra giữa các nẻo đường đầy gió bụi. Bầu trời không khí nặng nề những lo âu. Không gian như mờ tối vì mây mù tham sân si. Ánh sáng từ chánh diện Liên Hoa toả ra hùng dũng như ánh sáng mặt trời, đem lại niềm tin và hy vọng cho những người đang lạc lõng trong đêm tối phân vân. Phật tử chúng con nguyện mười phương Tam-bảo gia hộ, mãi mãi đủ duyên lành, nội ngoại đồng khí liền cành, cao thấp trước sau quyến thuộc, nguyện đều phát tâm xuất thế. Xưa kia mỗi kẻ một đường. Nay cầu về Lạc Bang. Chúng con nguyện noi gương cổ nhân, một tấm lòng son phụng sự Tam-bảo. Nguyện tu học nghiêm minh để góp phần an vui giải thoát cho bản thân gia đình và xã hội. Chúng con xin chân thành đảnh lễ kính chúc Thầy cùng đại chúng thân tâm an lạc, pháp thể khinh an, rộng độ quần mê, đồng thành Phật đạo. Nam mô Hoan Hỷ mười phương Phật. Phật tử ĐINH VIỆT THÀNH Pháp danh Chánh Pháp. Mùa Vu Lan năm 1982 22. GIA ĐÌNH PHẬT HOÁ PHỔ Kính gửi phụ huynh các em... Mọi kế hoạch phát triển xã hội từ ngàn xưa không đề nghị gì hơn là làm sao cho con người đỡ khổ. Phật giáo cũng chỉ một mục đích ấy, nhưng phương tiện không dùng đến danh lợi, thế lực, cảm tình mà lo thực hiện chuyển hoá tâm thức. Liệt vị tổ sư noi dấu chân đức Phật, lấy chữ Hiếu làm đầu trăm hạnh, lấy rằm tháng 7 làm ngày cha mẹ. Lễ Vu Lan mở ra tục lệ bổn phận làm con phải lo đưa cha mẹ ra khỏi biển khổ luân hồi sanh tử. Riêng chúng tôi, ngửa lên cầu nguyện thần lực Tam-bảo gia hộ cho gia đình được âm dương siêu thái, là việc đương nhiên. Ngoài lợi ích cứu vớt song thân cùng cửu huyền thất tổ, còn thiết thực đức dục con em tập học chữ Hiếu. Luyện tâm hướng thiện là việc cần yếu để đưa quý cô đi lên. Vậy xin toàn gia quyến vui vẻ hưởng ứng chương trình giáo dục của nhà chùa mà trợ duyên cho quý cô, bằng cách vui vẻ nghe quý cô giảng giáo lý. Yêu cầu gia đình đặt câu hỏi về Phật Pháp để quý cô tập thực hiện chí nguyện tự giác giác tha. Lấy ngay gia đình làm điểm xuất phát tâm Bồ-đề, quý cô phải quan tâm, phải tôn trọng, phải đem tất cả tâm hồn để cầu nguyện cho gia đình hạnh phúc an vui. Sự nghiệp thánh thiện này sẽ đem lại lợi lạc giải thoát cho cả quý cô và gia đình. Trân trọng Tỳ-kheo-ni Hải Triều Âm Ngày 10-07-Kỷ Mão (1999) 23. TIẾNG NÓI CỦA GÀ Dù có để bao nhiêu trứng trong ổ cho gà ấp, con của chúng tất cả đều nở ra một lúc. Thiên nhiên đã quan tâm đến điều này: đàn con xuất hiện đồng loạt, mẹ dễ trông coi và bảo vệ. Tuy nhiên trong một thời gian dài, người ta không tìm ra được bí quyết của sự đồng bộ này. Alêchxanđrơ Tikhônôp, cán bộ khoa học chính của khoa sinh vật trường Đại Học Tổng Hợp Matxcơva, đã ngồi nhiều giờ trong phòng cách âm và nghe, theo đúng nghĩa của từ này, tiếng nói của các quả trứng. Thì ra các phôi thai truyền nhau qua vỏ trứng những tín hiệu âm tần. Tới một giai đoạn phát triển nhất định, phôi thai nào khoẻ nhất sẽ phát ra đầu tiên những tiếng lách tách. Như thế có nghĩa là chúng cũng bắt trước chuyển thở bằng phổi. Việc này làm tăng tốc độ phát triển và hình thành của chú gà con tương lai. Trong máy ấp trứng, “ một ổ” là 8-9 ngàn quả trứng, đẻ ra trong những lúc khác nhau. Tạo ra cho chúng một nhịp độ phát triển nhất định là một ý nghĩ hấp dẫn: các con gà nở cùng một lúc sẽ làm đơn giản rất nhiều quy trình nuôi gà. Alêchxanđrơ Tikhônôp đã cộng tác với các nhà động vật học, các kĩ sư và kĩ thuật viên vô tuyến điện. Họ đã tạo ra một tổ hợp kỹ thuật sinh vật của các máy tạo sóng âm tần. ...Trứng nằm trong máy ấp đến ngày thứ 17, khi phôi thai đã có thể nghe được, người ta cho thiết bị vô tuyến điện tử chạy. Nó phát ra những âm lách tách mạnh và khẩn thiết. Trong các máy ấp thông thường gà con nở ra suốt trong mấy ngày. Còn ở đây chúng theo “lệnh” và đồng loạt rời khỏi vỏ trứng chỉ trong cùng một ngày. Chúng tức thì rời khỏi ổ và chạy theo tiếng gọi của con gà điện tử. Bây giờ cần tách riêng gà mái gà trống. Người nuôi gà biết rằng đây là một công việc tỉ mỉ đòi hỏi rất nhiều công sức. Thiết bị” giải tần” cũng là một công trình mới của các nhà bác học và kĩ sư, giúp giải quyết vấn đề này, chỉ trong mấy giây và không sai sót. Chỉ cần gà con kêu một tiếng trước micrô thì gà trống có giọng “thấp” hơn, nhưng chỉ có máy thật nhạy mới phát hiện được sự khác nhau đó. Những nhà am hiểu cho rằng gà mái rất ưa kêu. Số “ từ” của chúng chưa tới 25 âm. Máy kích thích phát triển âm học “ Brôile”, phát ra một số các tín hiệu này, như các tín hiệu an thần và các tín hiệu gọi đi ăn, làm cho gà con ăn ngon miệng. Tất cả các thiết bị đã được chế tạo ra này là những thành phần của tổ hợp kĩ thuật sinh vật, có thể điều chỉnh chúng để ấp và nuôi gà tây, vịt, chim cút. Tổ hợp thí nghiệm này đã có kết quả trong các xí nghiệp chăn nuôi gia cầm. Tin tức khoa học báo Liên Xô 1983 Quý vị nghe xong hẳn ai cũng có cảm giác thương tâm. Tu sĩ còn thêm cảm giác lo sợ cho mình vì sống nhờ tín thí mà 5 uẩn chưa không, kiến-hoặc tư-hoặc chưa hết, thì kiếp sống trong quả trứng kia mấy ai đã bảo đảm giải thoát. Các nhà bác học kĩ sư đây, tài trí siêu việt, tinh thần an định tinh vi. Cho đến nghe được tiếng nói trong quả trứng. Có thể biết đích xác, đến ngày ấp thứ 17, phôi thai bắt đầu có nhĩ thức để nghe cảnh ngoài. Các ngài còn thấu đáo được sự cảm thông của cả 10.000 quả trứng với nhau. Một âm thanh của một phôi thai gà mạnh, được cả 10.000 đồng nghiệp hưởng ứng, đến nỗi đồng loạt cố gắng sớm hoàn tất sáu căn, để cùng nhau trỗi dậy trong một ngày, để đồng loạt một ngày ra khỏi vỏ trứng. Đã thực hiện đủ máy điện tử để phụng sự các cô mái chú gà. Hay nói cho đúng là phụng sự nghề chăn nuôi. Nghĩa là phụng sự đồng tiền và miếng ăn cho thế gian. Thương tâm thay những tâm thức mịt mù trong quả trứng. Nhưng đáng thương hơn nữa là bao nhiêu tài trí chẳng gặp được Phật Pháp. Uổng qua đời sống thông minh, chẳng thể ra khỏi vòng Hoặc-Nghiệp-Khổ. Mỗi nhà máy có cho ấp cả ngàn lần. Mỗi ổ ấp 10.000 trứng. Trong đó có biết bao bác học kỹ sư đang chuyển kiếp luân hồi. Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật Đấng Đại Giác đã cấm tiệt đệ tử không được ăn trứng, không được làm vỡ trứng, dù trứng sâu trứng nhện. Vì trong đó có hàm thức biết đau khổ. Ngài đặt ra giới luật quy tắc để bảo đảm các đệ tử khỏi xa đoạ. Giới luật thấp nhất là ngũ giới. Giữ được ngũ giới thì dù ngu xuẩn đến đâu cũng thoát khổ, không lọt vào những sọt trứng đáng thương kia. Trong loài người, đặc biệt đối với trẻ em mới đẻ, giọng nói của mẹ được chúng nhận biết rất chính xác. Tại một bệnh viện ở nước Đức, các núm vú nhựa được nối với máy ghi âm rồi cho vào miệng đứa trẻ 12 ngày tuổi. Khi tiếng nói của mẹ chúng cất lên, lũ trẻ đột nhiên múc sữa rất tích cực so với lúc tiếng lực khác, không phải của mẹ chúng. Các nhà bác học giải thích hiện tượng này rằng, trẻ nhỏ đã quen với chất giọng của mẹ từ hồi còn ở trong bụng. Giọng nói của mẹ đọng lại trên vỏ não của thai nhi từ khi mới được một vài tháng. Các bác sĩ khuyên phụ sản nên trò chuyện với đứa con trong bụng. Trẻ chắc chưa hiểu được lời nhưng tâm truyền tâm, chúng có thể cảm biết được ý mẹ. Các cụ Việt Nam ân cần khuyên các bà mẹ trong lúc mang thai nên cẩn thận từng tâm niệm. Tinh thần của mẹ có quan hệ mật thiết đến tính nết đứa trẻ rõ ràng. Như vậy tình mẹ con đâu có phải chỉ là vay mượn chút máu mủ để thành hình thai mà thai nhi bơ vơ không nơi trông cậy, chỉ có mẹ là đời sống, là tất cả. III, MÙA THU TỪ 16-07 ĐẾN 15-10 1.CHƯƠNG TRÌNH THỌ Y CÔNG ĐỨC 16-07 - Lễ Tổ - Lễ Phật - Tụng kinh Cahyna. - Lễ 18 A-La-Hán. - Huấn từ khai khoá Cahyna. - Chúng nhỏ giải tán. Tỳ-kheo-ni lưu lại yết ma: a)Sai người trì y. b)Trao y công đức. - Thọ y công đức. - Lễ y công đức. - Bát Nhã- Hồi hướng-Tam quy. LỄ Y CÔNG ĐỨC CHÍ TÂM ĐẢNH LỄ 1.Cahynay. 2.Kiên thật y. 3.Thưởng thiện phạt ác y. 4.Công đức y. 5.Tánh tướng bất nhị, minh hợp vô vi, nhất thiết tối thượng Tăng già gia chúng. 6.Thập Địa tam Hiền, ngũ quả tứ hướng, nhất thiết xuất thế Tăng già gia chúng. 7.Tỳ-kheo ngũ chúng, hoà hợp vô tranh, nhất thiết trụ trì Tăng già gia chúng. 8.Kết tập phiên dịch, giảng dạy chú thích tam tạng, Đông Tây kim cổ liệt vị Pháp sư. 9.Tây thiên Đông độ Việt Nam, thập phương du hoá, truyền giáo khai sơn lịch đại Tổ sư. 10. Tám trăm Tỳ-kheo núi Talala Cùng Thế Tôn may y Cahyna, Năm nấc thang A Na Luật Đà Xa lìa trần lao đời chật hẹp. Chứng A-La-Hán, đủ thần thông Đại phước lực, đại oan thần. Chí tâm đảnh lễ: Nam mô đệ nhất thiên nhãn Cahyna đàn tràng đường chủ, đại thánh A Na Luật Đà tôn giả (3 lễ) LỄ 18 A-LA-HÁN CHÍ TÂM ĐẢNH LỄ: NAM MÔ - Thập phương tam thế nhất thiết chư Phật. - Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật - Cahyna Tôn Pháp. 1.Đệ nhất trí tuệ XÁ LỢI PHẤT tôn giả. 2.Đệ nhất thần thông MỤC KIỀN LIÊN tôn giả. 3.Đệ nhất đầu đà MA-HA CA DIẾP tôn giả. 4.Đệ nhất nghị luận MA-HA CA CHIÊN DIÊN tôn giả 5.Đệ nhất vấn đáp MA-HA CÂU HY LA tôn giả. 6.Đệ nhất chánh định LY BÀ ĐA tôn giả 7.Đệ nhất khéo trì pháp Phật CHÂU LỢI BÀN ĐÀ tôn giả, 8.Đệ nhất đa văn ANANĐÀ tôn giả 9.Đệ nhất nghiêm hộ sáu căn NAN ĐÀ tôn giả. 10. Đệ nhất mật hạnh LA HẦU LA tôn giả. 11. Đệ nhất phước điền cõi trời KIỀU PHẠM BA ĐỀ tôn giả. 12. Đệ nhất khéo giáo hoá CA LƯU ĐÀ DI tôn giả. 13. Đệ nhất phước điền nhân gian TÂN ĐẦU LƯ PHẢ LA ĐOẠ tôn giả. 14. Đệ nhất thọ mạng BẠC CHÂU LA tôn giả. 15. Đệ nhất giỏi thiên văn MA-HA KIẾP TÂN NA tôn giả. 16. Đệ nhất nghĩa không TU BỒ ĐỀ tôn giả. 17. Đệ nhất nói pháp PHÚ LÂU NA tôn giả. 18. Đệ nhất thiên nhãn, Cahyna đàn tràng đường chủ, đại thánh A NA LUẬT ĐÀ tôn giả. - Đạo tràng hội thượng Phật Bồ-tát nhất thiết chư Hiền Thánh Tăng. 2.CHƯƠNG TRÌNH TU HỌC NĂM THÁNG Y CÔNG ĐỨC I.GIỚI ( Phần này đã học trong hạ nay chỉ hành trì) a/ Hình đồng mỗi ngày thọ bát quan trai và học 24 oai nghi. b/ Sadini học Sali Luật Giải và Quy Sơn Cảnh Sách. c/ Thức xoa học giới bổn. d/ Tỳ-kheo-ni ôn luật Tứ Phần và Như Thích. II. HỘ 6 CĂN Tụng sám 6 căn trong bộ Khoá Hư của Trúc Lâm sơ Tổ (đã in riêng) III. THIỂU DỤC TRI THỨC Học kinh Cahyna (đã in riêng). IV. TỰ CHỦ Tứ Niệm Xứ (đã in riêng). V. NGỒI THIỀN Sổ tức và quán bất tịnh để trừ ngũ cái, khai tuệ vô lậu. VI. NIỆM PHẬT Ngoài các thời khoá tu học, chị em phải nhiếp tâm niệm Phật để cầu vãng sanh. ĐÁP TỪ Cahyna là tiếng Ấn Độ, Tàu dịch là kiên thật ( bền chắc và chân thật). Thuyết pháp dạy người làm thiện để hưởng phước trong luân hồi, không phải là pháp Cahyna. Pháp Cahyna: chân thật đưa người tu đến kết quả ra khỏi luân hồi, vĩnh viễn an vui. Cuộc sống chúng ta hiện tại tạm bợ như khách trọ đến rồi đi. Thân tâm cảnh đều vô thường. Lầm cho là thật mà cố tình bám víu, khởi tham sân si thì đây là gốc trầm luân. Chỉ có ai nắm được một pháp Cahyna, cố vươn ra khỏi 12 khoen nhân duyên sanh tử hư vọng, thì đời sống mới thật có phẩm chất người, khác loài muông thú. Nhận thức tình vọng tưởng làm tâm tánh. Một bề nô lệ cho kiến-hoặc và tư-hoặc sai sử, quyên hẳn chân tâm tịnh thường diệu giác. Kinh dụ người này như con ông trưởng giả bỏ cha trốn đi. Đánh đu với giặc làm sao yên thân? Y Cahyna: Kinh kể chuyện ngài A Na Luật Đà, đã mù cả hai mắt, lại rách cả ba y. Toàn chúng họp nhau may y cho ngài, mở đầu tục lệ mỗi năm, sau ba tháng an cư, chúng Tăng chia vải may y, cần nhớ tới các bạn rách y, thiếu y. Phật dạy phải chọn lọc một tấm y đẹp nhất để làm y công đức. Coi như tấm y này là của toàn thể Tăng chúng thánh phàm trong trụ xứ. Sai người đủ năm đức( không ái, không sân, không sợ, không si, có trí tuệ biết rõ bổn phận trì y) giữ gìn y trong năm tháng, thời gian đại chúng học và tu pháp Cahyna. Luật Hiền Ty dạy:” Y công đức phải dành cho Tỳ-kheo-ni không y hoặc rách y, đặc biệt không cho người keo sẻn ( tự mình có được mà vẫn xin). Ai cúng dường một tấm y cho Tỳ-kheo, công đức không thể nghĩ bàn. Cúng dường những tấm y không thể nghĩ bàn ấy chồng chất cao bằng núi Tu-di, phước báu không bằng cúng dường một tấm y công đức”. Pháp môn Cahyna nào cũng đòi hỏi ba điều kiện: 1.-Cần ý thức rằng càng nói nhiều cách đạo càng xa, nói là hao tổn khí lực, là tinh thần hướng ngoại. Nội quy số 8 cấm nói chuyện tạp. Hỏi Phật pháp quá 10 phút phải xin phép tri chúng. Đây là để chị em an hoà tinh thần, dồn hết tâm lực vào nội quán. Qua được lớp cửa này như mây bay đi, hé mở một khung trời an ổn thênh thang. Tổ Đạt Ma 9 năm quay mặy vào vách cầu Bát Nhã vô ngôn của cụ Tu Bồ Đề, cái im lặng mà vua Đế Thích tung hoa xưng tán. Nếu cứ luôn luôn khắc trí, quyết tiến đến cùng, trong nhịp bước vui tươi vô uý, nhất định phen này một phiến công phu dứt sạch vô minh tận gốc, thì sẽ đạt tới cái im lặng thật tướng bất nhị của cư sĩ Duy Ma Cật. Có hiểu rõ như thế, chúng ta mới biết ơn tri chúng, tri sự đã gia công gò ép chúng ta vào quy luật. Đã biết ơn thì lo đền ơn, chúng ta sẽ tận tình đưa hậu lai vào quy luật giải thoát. 2.- Thận trọng chăn trâu. Tinh cần tỉnh giác, chánh niệm từng phút từng giây. Sư Huệ Tạng đang làm bếp. Mã Tổ xuống hỏi làm gì? - Thưa: Chăn trâu. - Chăn làm sao? - Thưa mỗi khi vào mạ thì nắm mũi kéo lại. - Thế là con đã biết chăn trâu. Luôn luôn thức tỉnh, không nghĩ về quá khứ vị lai, không nghĩ tới cảnh ngoài. Lấy thân tâm làm đề mục thiền, làm đối tượng trí quán. Tuệ minh sá như gương, lặng lẽ chiếu soi: Sáu căn sáu trần là sắc ấm. Khổ vui thuận nghịch là thọ ấm. Yêu ghét mừng giận là tưởng ấm. Hơi thở, 4 oai nghi là hành ấm. Thấy nghe ngửi nếm phân biệt là thức ấm. Mùa y công đức chúng ta học song song hai kinh Cahyna và Tứ Niệm Xứ. Soi chiếu tiểu oai nghi, ghi niệm không lười mỏi. Đi biết mình đi, nhấc chân biết nhấc chân.v.v...Ngồi nằm soi chiếu hơi thở. Thở ra thở vào mỗi mỗi biết rõ. Hễ hơi mờ mịt, đó là vọng tưởng đã khởi. Soi chiếu và tự chủ từng hơi thở từng oai nghi. Lại giác sát nội tâm, biết vọng tưởng thì để tan đi. Định tuệ cân phân đưa đến điều hoà, an bình và giải thoát. 3.- Coi thân này như đã chết. Đại thừa chủ chương vô ngã vô pháp. Tiểu thừa quyết định nếu còn tơ hào kiến- hoặc tư hoặc tức không giải thoát luân hồi. Vào được cửa này là thánh, còn đứng ngoài là phàm. Mà cửa này ai cũng vào được, chỉ cần quyết tâm. Quan trọng ở chỗ biết cửa mà chịu vào. Muốn biết cửa thì phải học kĩ Phật Pháp. Chịu vào là thực tập. Thợ mộc, thợ cày, nghề nào cũng do luyện tập mà thành. Luân hồi sáu đạo do tập tham, sân, si mà có thì Thánh Hiền giải thoát cũng phải do luyện Giới Định Tuệ mà chứng. Diệu quan sát trí chuyển Mạt-na thức khiến cho giác tỉnh từ tiềm tức phát ra. Nếu chỉ hiểu biết qua ý thức thì vừa tỉnh liền mê, biến hoá từng sát na, luân chuyển từng mỗi niệm cho nên quán trí phải chuyên cần. Nguyện cầu chị em trong đời sống hàng ngày, hằng nhớ thanh tịnh ba nghiệp, nhẫn nhục nhu hoà, mỗi mỗi y ly, tương ứng với Cahyna pháp, ngõ hầu sớm đầy đủ giới, định, tuệ, giải thoát, giải thoát tri kiến, năm phần hương Pháp-thân. 3. KÍNH ĐỆ HOÀ - THƯỢNG GIÀ LAM VIỆN CHỦ Kính bạch Hoà-thượng! Ni chúng Liên Hoa nương Hoà-thượng làm đệ ngũ luật sư mùa an cư năm nay đã được vui hoà êm đẹp. Chúng con xin Hoà-thượng gia ân cho chúng con thêm năm tháng y công đức. Trì y công đức với chúng con là một sự tướng cần thiết để y cứ vào đó mà cùng nhau nối tiếp công phu. Trì y nếu là bằng chứng đức hạnh không tham, không sân, không si thì nguy hiểm cho người trì. Bên trong, khó mà không kiêu mạn ngầm. Bên ngoài, khó mà không chiêu vời gai độc ganh ghét. Vì vậy ngày nay, không mấy chùa muốn bày vẽ việc y công đức. Nay chúng con xin Hoà-thượng cho phép Liên Hoa trì y công đức chỉ vì mong cho toàn chúng tiến tu đạo hạnh. Người trì y chỉ là một chức việc trong các chức việc. Thay chúng gìn giữ trong năm tháng không ái, không sợ, không sân, không si. Cứ một bề nhẫn nhục như cục đất ai muốn liệng đâu thì liệng, như chiếc khăn lau, ai muốn lau giày dép tuỳ ý. Muốn nhớ hộ sáu căn được như vậy, phải là người rảnh rang không phận sự, chỉ có một bổn phận trì y. Tâm hồn bất tịnh quán và từ bi quán, may ra có thể thành công trong năm tháng. Nếu lỡ có sơ sót, xin Hoà-thượng cho sám hối rồi lại tiếp tục công phu. Một khi tuyên bố người trì y chỉ là kẻ tập học đức hạnh, chớ không phải là người đức hạnh đã thành, thì sẽ tránh được những chướng ngại của thời mạt pháp. Con xin kính đệ lên Hoà - thượng chút thiển ý. Ngưỡng mong Hoà-thượng từ bi chỉ thị. Tỳ-kheo-ni Hải Triều Âm đảnh lễ tri ân. Hoà-thượng chấp thuận cho Tỳ-khoe Bảo Liên 2 hạ trì y công đức 4. TỨ NIỆM XỨ VÀ PHẢN VĂN PHÁT NGUYỆN Kính bạch trên Thầy, kính thưa Sư cô Giám viện và toàn ban hộ pháp. Chúng con những tưởng sau ba tháng hạ, Liên Hoa chẳng còn được sum vầy cùng nhau tu học. Nào ngờ đâu có cảm tất có ứng, vì lòng trí thành tha thiết nên thiên long bát bộ đã sắp đặt cho Liên Hoa thêm 5 tháng y công đức. Lai Quả thiền sư có dạy:” Đại bệnh sanh tử nhất định phải uống thuốc. Các ông phải hiểu thân người khó được. Trải qua bao kiếp trong các loài, đến nay mới được thân người. Mà đời người chỉ mong manh trong hơi thở. Nếu ta để thân này trôi qua vô ích, há chẳng phải là phí mất sự vun trồng của đời trước sao?” Hưng Thiền Đại Đăng quốc sư di giáo rằng: “ Dầu chỉ một người thôi, sống hẻo lánh nơi núi rừng, kết cỏ làm am, ăn rễ cây luộc mà nhất tâm quán tưởng đến chỗ cốt yếu. Người này hằng thân thiết đối diện với ta và biết đáp đền ân nặng” Thật thế, người tu chỉ có một việc để trên đầu là: “ Sanh tử sự đại”. Kính bạch Thầy! Tương lai chưa biết sẽ ra sao, hiện tại năm tháng y công đức này là thời gian vô cùng quý báu. Ngày giờ như thoi đưa, tháng năm như chớp mắt, trong thời gian ngắn ngủi này phải lo sao cho thiết thật giải thoát. vì thế ban Tứ Niệm Xứ và Phản văn chúng con hôm nay quỳ trước Tam-bảo, xin thành tâm phát nguyện, trong năm tháng quí giá này, chúng con thực tập theo năm nấc thang kim cương của ngài A Na Luật Đà, cùng nhau dõng mãnh đả thất, bắt đầu kể từ hôm nay. Suốt thời gian qua trên Thầy, Sư cô Giám Viện và toàn ban hộ Pháp đã tận lực đùm bọc cho lớp chuyên tu đứng vững đến giờ này. Một lần nữa nương hồng ân Tam-bảo, nương đức trên Thầy, Sư cô Giám Viện xin toàn thể đại chúng hoan hỷ cho chúng con chuyên tu thêm 5 tháng nữa, để hạnh nguyện và công đức chúng con được vuông tròn. Chị em chúng con thành kính đảnh lễ tri ân. Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. 5. CÓ MINH TÂM MỚI KIẾN TÁNH Ở Linh Quang một buổi sáng, Thầy chỉ tay xuống hồ hỏi Huệ Nghiêm: Con thấy gì? - Thưa con thấy cả bầu trời và sum la những cành mít. Bóng in trên mặt hồ rõ quá! - Con thấy đáy hồ không? - Thưa không. - Vì sao? - Bởi vì nước đục. - Thế tại sao lại thấy cả bầu trời? - Thưa vì nước đứng lặng như gương nên phản chiếu cảnh ngoài. Cũng bởi vì nước đục, cảnh thật của hồ không thể hiện ra nên cảnh ngoài thấy rõ. - Con có thấy sự điên đảo này giống chúng ta không? - Thưa Thầy chúng con đang học Tứ Niệm Xứ. Chúng sanh lồng ngực toàn tham sân si mạn nghi tà kiến. Tâm bị phiền não làm mờ mịt, ngang khởi bốn đảo: 1- Thân bất tịnh cho là quý báu. 2- Thọ là khổ lại cứ ước cầu càng nhiều càng hay. 3- Tâm vô thường mà cứ đòi mọi người chung thuỷ với mình. 4- Pháp vô ngã mà căn, trần, thức mỗi mỗi đều cho là thật. Nếu không giác tỉnh thì bao nhiêu khả năng minh chiếu chỉ dùng để phân biệt khách trần ngoại cảnh hư vọng. Cũng chính bởi vì không biết pháp thân, chân tâm, bản tánh của mình nên từ lịch kiếp cứ đắm say sống với luôn hồi sanh tử. - Cho nên muốn có tuệ nhãn việc đầu tiên của chúng ta là phải thanh tịnh tâm địa. 6.THIỀN MINH SÁT ( Rút ở cuốn Mặt Hồ Tĩnh Lặng) Ngồi ngay thẳng. Để ý đến hơi thở ra vào. Đừng kiểm soát hay điều khiển thở mà sẽ mất thoải mái. Nên hô hấp tự nhiên, Hơi thở thở tự nhiên vẫn nhẹ nhàng và điều hoà. Nếu phóng tâm, hãy dừng lại và trở về đề mục. Lúc đầu ta hay có khuynh hướng làm chủ hơi thở, đưa hơi thở theo ý mình. Rất không nên. Đừng tìm cách điều chỉnh nó. Chỉ quan sát. Có lúc ta cảm giác như hơi thở ngưng lại. Đó chỉ là một cảm giác hư vọng, cứ bình thản tiếp tục, một lát sau, sẽ thấy hơi thở rõ ràng như trước. Tiếp tục giữ tâm an tịnh dù ngồi trên xe đò, vẫn vào một cách an lạc dễ dàng mau chóng. Đạt được sự tiến bộ này là vào đạo đã khá. Nhưng phải quan sát những đối tượng của giác quan. Để tâm an tịnh, ghi biết 6 trần, các đối tượng của thân tâm. Tất cả cái gì phát sanh cũng ghi nhận, dù thích hay không thích. Khách quan mà ghi nhận không để yêu ghét ảnh hưởng. Dần dần sẽ thấy những cảm giác này cũng như các hiện tượng chỉ là vô thường, vô ngã khổ và không. Chỉ quan sát, không can thiệp vào một thứ nào. Đây là thiền minh sát đem lại sự bình an tĩnh lặng. Chẳng bao lâu tuệ giác vô thường vô ngã sẽ xuất hiện. Đây là bước đầu của trí tuệ thật sự, cốt tuỷ của thiền, dẫn đến giải thoát. Trong khi hành thiền, ta thấy ánh sáng, chư thiên, đức Phật.v.v...ngay khi ấy quay về xem tâm mình. Chớ quên điểm căn bản này. Cứ chú tâm quan sát, không mong mỏi thấy gì cũng không xua đuổi. Nếu theo đuổi những hình ảnh này, tâm sẽ mất an ổn. Chỉ nên nhớ đến hơi thở, coi tất cả đều vô thường vô ngã. Dù những hình ảnh ấy có tới sát gần cũng mặc, cứ chú tâm vào hơi thở. Hít vào thở ra ba hơi thật dài, mọi hình ảnh sẽ hết. Mọi kinh nghiệm bất thường đều đem lợi ích cho bậc chí nhưng là mối tai hại cho kẻ thiếu khôn ngoan. Tiếp tục hành thiền cho tới khi không còn những hình ảnh quấy nhiễu. Nếu tâm muốn vui, chỉ cần ý thức rằng những vui này không bền vững. Không nên sợ những hình ảnh từ tâm mình biến ra. Những tâm sở khác nào du khách đến rồi lại đi. THIỀN HÀNH VÀ HÀNH THIỀN Mỗi ngày đều phải kinh hành. Hai tay đan vào để trước bụng. Bóp chặt một chút cho dễ chú tâm. Bước bình thường, phải biết rõ mình. Phóng tâm, hãy dừng lại một chút để đưa tâm trở về. Vẫn phóng tâm, hãy chú ý vào hơi thở. Luôn luôn chánh niệm. Cơ thể mỏi mệt hãy thay đổi tư thế. Dầu hành thiền suốt đêm mà không giác tỉnh những diễn biến của tâm thì cũng chẳng phải là tinh tấn. Hãy nhìn xuống đất trước mặt khoảng 2 mét, chú tâm vào những cảm giác của cơ thể hoặc niệm Phật. Đừng sợ hãi khi thấy những hiện khởi của tâm. Đừng để những tư tưởng và cảm giác chói buộc. Nhìn vào toàn thể tiến trình sanh diệt. Có như thế trí tuệ mới phát triển. Điều gì hiện khởi trong tâm phải kịp thời giác tỉnh. Nếu không, phiền não sẽ xâm chiếm. Chỉ có chú tâm mới đốn ngã được nó. Do có kẻ trộm ta mới lo giữ của. Do có phiền não ta mới chăm hành thiền. Hành thiền là phải giác tỉnh trong mọi hoạt động chớ không phải tìm sự bình an tĩnh lặng trong lúc ngồi. Thực hành tốt đẹp là tự hỏi mình một cách thành thật: Tại sao ta sinh ra? Hàng ngày tự hỏi 3 lần như vậy. Tham dự kết tập tam tạng phải là A-la-hán. Anan quyết định hành thiền suốt đêm để đạt kết quả. Sự cố gắng chỉ đem lại mệt mỏi. Anan đành đi nghỉ. Nhưng khi đặt mình xuống, đầu chưa chấm gối, Anan chứng A-la-hán. Như thế nghĩa là phải sạch hết những háo hức mong cầu dù là ý muốn đắc đạo, mới giải thoát được. Việc thực hành quan trọng, hãy bắt tay vào. Đừng chần chừ do dự nữa mau lên đường. Không bao giờ bạn ân hạn đâu! 7. QUÁN BẤT TỊNH Hạt giống đầu tiên là nghiệp dâm dục. Thọ tinh cha huyết mẹ làm thân. Ở trong tử cung chín tháng 10 ngày góp đủ máu tanh thành máu căn. Nằm trong dạ con, chung quanh là mấy thước ruột toàn phân thối. Sát cạnh là bọng đái khai nồng. Tất cả tắm toàn nước nhớp khắm. Từ chỗ hạ tiện nhất mà ra. Thân khởi thuỷ như vậy. Mà chúng ta quên bẵng, cứ kiêu mạn tự thấy mình quan trọng. Mở nút ve nước hoa, ai nấy thấy thơm. Mở nắp thùng phân, ai nấy vội vàng bịt mũi. Thân chúng ta nếu là trầm hương thì sao chín khiếu ngày nào cũng chảy ra toàn thứ không sạch: 2 mắt ra ghèn, 2 tai ra ráy, 2 lỗ mũi thòng lòng chất xanh, miệng khạc đờm trắng, nào phân nào tiểu. Các lỗ chân lông hơi ra cũng hôi, nước ra cũng hôi, cáu ghét ra cũng hôi. Cả biển nước rửa cũng không thể sạch. Bởi vì thân là cái máy chuyên sản xuất những vật nhơ. Sơn hào hải vị, chọn những thứ sang quí, trái cây thật tươi thơm, cho vào miệng, cách một đêm, biến thành những thứ nhơ bẩn ai cũng chán ghét. Cứ như thế trọn đời. Cuối cùng khi tắt thở, máu không được hấp dưỡng khí, chuyển thành màu đen, làn da xanh xám, tím bẩn. Hơi ấm hét, thần thức không hiện hành. Không có sức chấp trì của thần thức, các tế bào vỡ tung, nước không còn bị ép, bật ra, toàn thân sưng phù. Chỉ còn phảng phất hình hài tướng mạo con người. Hai mắt sọp. Toàn thân nứt loét, bụng vỡ, ruột lòi, gan nứt, phân tiểu ứ khắp. Xú khí bốc lên lừng trời lừng đất. Bởi vì độc khí này đem bệnh hoạn cho những ai gặp phải. Dòi bọ lúc nhúc ăn hết thịt rồi tự tan đi, còn lại bộ xương phủ bụi. Lâu ngày gân đứt, xương long rụng, mủn tàn, trả về cho đất. Như trên là thân phận chung của chúng ta. Già trẻ, giàu nghèo, sang hèn, đẹp xấu, ai cũng đi đến giai đoạn hoại diệt này. Chỉ có một mùi giống nhau là mùi thối, một chất giống nhau là thịt nát. Vậy mà chúng ta thường quên, cứ tự cho mình là cao quý. Vì hy vọng sống lâu nên mới tạo đủ các nghiệp để bồi dưỡng thân và bảo vệ danh giá. Đức Phật khuyên chúng ta tập quan sát để thấy sự thật. Có trí tuệ sẽ tiêu ba độc tham, sân, si. Hạnh phúc của con người ở ngay chỗ giác tỉnh. 8. KINH NIẾT-BÀN PHẨM CA DIẾP BỒ TÁT THỌ ẤM là nhân sanh ra tất cả ái, tất cả hữu lậu thế gian, khiến chúng sanh trầm chìm trong ba cõi. Do có thọ, chúng sanh mới chấp thân này là ta, sáu trần là cảnh của ta. Muốn xả thọ, cần quan sát thọ chẳng do tưởng sanh, chẳng do tánh sanh, chẳng tự sanh, chẳng tha sanh, chỉ do các duyên hoà hợp mà có. Duyên chính là ái. Vì ái thân ái cảnh mới thọ. Vậy thọ gì làm nhân cho ái? Ái gì làm nhân cho thọ?- Thọ thân làm nhân cho ái, ái thân làm nhân cho thọ. Thọ và ái làm nhân duyên lẫn nhau. Khiến vòng luân hồi xoay chuyển không cùng tận. Muốn xả ái, dứt thọ, chỉ cần quán thân bất tịnh, pháp vô ngã. Hai chấp ngã và ngã sở đã tiêu thì Ái và Thọ sẽ tận diệt. Theo vòng 12 nhân duyên thì nhân xúc có thọ. Xúc có 3: 1-Minh xúc, trí tuệ, thấy rõ thân cảnh hư vọng nên xả thọ. 2-Vô minh xúc, mê chấp ngã và pháp. 3-Minh vô minh xúc( thí dụ biết vị trần là huyễn nhưng vẫn thích ăn chè). Hai xúc sau tăng trưởng thọ nên phải dứt. Thế gian nói khổ thọ, Phật gọi là khổ khổ. Thế gian nói lạc thọ, Phật gọi là hoại khổ. Thế gian nói không khổ không vui, phật gọi là hành khổ. Bản chất của thọ là khổ. Thọ lại còn là gốc của ba độc tham sân si, mở ra đủ thứ tội ác. Tuệ Tứ Niệm Xứ là thuốc trị độc duy nhất. Chánh kiến thọ giới luật, trì Phật Pháp, gọi là phạm hạnh thanh tịnh. TƯỞNG ẤM. Chỉ vì lầm cho sắc là có thật, cho thọ là vui mới có tư thưởng tham đắm. Vô minh là thể chất của tất cả ác tưởng ( căn bản phiền não và tuỳ phiền não). Chánh kiến Tứ Niệm Xứ thanh lọc tưởng ấm đưa về phạm hạnh thanh tịnh. Quán vô thường, vô ngã, khổ và không, quán thân bất tịnh, món ăn đáng chán, là khéo dùng tư tưởng hướng về Niết-bàn. 9. NGÀY 30-07 LỄ ĐỨC ĐỊA TẠNG Nâng chén cơm cúng dường cha mẹ là một cử chỉ đẹp, khắp cõi người ngợi khen. Ai cũng kính phụng thờ cha mẹ sẽ sanh về cõi trời. Đức Thích Ca Thành Phật về Ca Tỳ La độ cho phụ vương. Rồi lên Đao Lợi thiên cung vì mẫu hậu nói kinh Địa Tạng. Phật Tử nhớ ơn cha mẹ, noi gương đức Bổn Sư, khuyên cha mẹ tụng kinh Địa Tạng. Nếu cha mẹ đã quá vãng thì cha mẹ tụng kinh Địa Tạng. ĐỊA: đất, là nơi phát sanh, nuôi dưỡng, gánh vác muôn loài. trong kinh Phật bảo Văn Thù:” Ông quan sát hết thảy chư Phật, Bồ-tát, Thanh-văn, các chúng trời, rồng, quỷ thần trong hội này, có biết số lượng là bao nhiêu không?” - Bạch đức Thế Tôn, con tận dùng thần lực ttrong ngàn kiếp cũng không thể lường tính được. - Số lượng đó toàn do Bồ-tát Địa Tạng từ lâu xa tới nay đã hoá độ, đương hoá độ. Đã tác thành, đương tác thành. Đối với tầm hiểu biết của loài người thì đất tượng trưng sự bền bỉ xuất thời gian, sự rộng lớn khắp không gian. Bồ-tát lấy chữ Địa làm tên để hình dung Pháp-thân ngài thường trụ ở khắp mười phương. Từ nơi đây sẽ hằng sa tánh đức phát sanh. Từ nơi đây vô biên công hạnh lợi sanh. Cũng từ nơi đây an lập muôn loài ttrong thánh đạo. Nghe chữ Địa, chúng ta tưởng ngay đến sức an nhẫn vô vàn, để chịu đựng bao nhiêu nghiệp chướng ương nghạnh đảo điên của muôn loài. Chúng ta tưởng ngay đến sức kiên lao nhẫn nại, kiếp này sang kiếp khác, nâng giấc dắt dìu từng con sâu con kiến đi dần về quả Phật. Thế cho nên ba đời Như Lai đồng tán ngưỡng, mười phương Bồ-tát cộng quy y. Thích Ca Mâu Ni Phật thỉnh ngài cùng tất cả phân thân nhiều như hạt bụi lúa mè tre lau, về cung trời Đao Lợi, để Ma Gia phu nhân từ đỉnh dục lạc của Ngọc Hoàng Thượng đế, cần biết những thống khổ của lửa vô gián địa ngục để tự thức tỉnh. Bởi vì bánh xa luôn hồi đâu có nể ai. Đại hội này đã thức tỉnh bất khả thuyết bất khả thuyết thiên tử. Kinh dạy: Tam thiên đại thiên thế giới có bao nhiêu bụi, mỗi bụi tính là một sông Hằng, mỗi hạt cát của những sông Hằng này tính là một kiếp. Đức Địa Tạng chứng quả Thập địa đến nay đã lâu xa gấp bội ngàn lần. Trải thời gian không thể nghĩ bàn ấy, cứ một thân hoá làm vạn ức thân, mỗi thân độ vạn ức người. Kinh nói: Ai nghe tên đức địa Tạng một lần khen ngợi cúng dường, ai cũng được 100 lần sanh ở cõi trời an vui, không đoạ ác đạo nữa. Như báu kim cang trong biển cả, có oai lực sanh ra các báu, không tăng, không giảm, không cùng tận, công đức của Bồ-tát cũng vậy. Tạng: Cái kho như kho vàng, kho lúav.v...Tâm chúng ta gọi là tạng thức vì nó chứa đủ thứ hạt giống thiện ác, nảy nở thành chánh báo y báo, 4 thánh 6 phàm. Tâm thức của chúng ta còn có tên là Như Lai Tạng, vì tánh thể của kho là giác. Mai đây tu hành chuyển tất cả hạt giống trở về tánh Phật, tức là hoàn toàn thành Phật. Cái kho này rộng khắp mười phương, thường trụ suốt ba đời. Thái hư không kia ở trong tâm ta chỉ nhỏ như điểm mây chợt hợp chợt tan trong bầu trời, như mảnh phù âu chợt còn chợt mất trên biển cả. Huống chi các tinh tú nhiều như vi thần lửng lơ trong hư không. Tâm chúng ta bát ngát mênh mông không bờ bến. Đức Địa Tạng đã chứng được tâm này, sống với tâm này nên phát nguyện giác tỉnh cho tất cả chúng sanh đồng nhận được tâm mình. Bởi vì ngài thấy rõ tâm Phật và tâm chúng sanh đồng thể, không chút sai khác, nên quả quyết không để một chúng sanh nào ở lại đường mê. Chân tánh hằng sa công đức nhưng chúng ta chẳng biết gì thì coi như của còn giấu kín trong kho. Đức Địa Tạng đã biết dùng nên ta người tiêu xài không tận, bởi vì kho vô tận nên báu lấy ra cũng vô tận. Kinh dạy: Đời vị lai ai nghe danh hiệu Địa Tạng Bồ-tát mà chắp tay cung kính tán thán, sẽ thoát 30 kiếp tội khổ. Lại dạy: Tôi nhờ nghèo hèn, biết đây là tội báo nghiệp xưa, mong cầu sám hối. Nếu chí tâm chiêm bái hình tượng Địa Tạng Bồ-tát, 7 ngày chuyên niệm đủ 10.000 danh hiệu Bồ-tát, thì ngàn vạn đời về sau, hằng sanh nhà tôn quí, không đoạ ba đường ác. Chúng ta thờ đức Địa Tạng, tay phải cầm gậy tích trượng, thân mặc cà sa, hiện tướng Tỳ-kheo. Vì chúng sanh đoạ lạc chỉ do sát đạo dâm vọng, cảm các khổ quả trong luân hồi. Ngoài truyền giới luật, lấy gì cứu vớt? Tay trái cầm hạt minh châu tiêu hắc ám, phá vô minh. Địa ngục, ngã quỉ, bàng sanh, tam tai tám nạn cho đến vòng luân hồi từ vô thuỷ, dưới ánh sáng trí tuệ, chỉ là hoa đốm trong hư không. Đầu đội mũ Phật ( Tỳ Bà Thi Phật, Thi Khí Phật, Tỳ Xá Phù Phật, Câu Lưu Tôn Phật, Câu Na Hàm Mâu Ni Phật, Ca Diếp Phật, Thích Ca Văn Phật). Bảy đức Thế Tôn đại diện cho mười phương ba đời chư Phật. Tất cả tri kiến và hành sự của Địa Tạng Bồ Tát không rời pháp tam quy. Từ nguồn Tam-bảo chảy ra tất cả bổn nguyện bổn hạnh. Bổn hạnh của ngài thì hằng hà sa nhưng đặc biệt người ta xưng tán 2 đức Hiếu và Nhân. Tiền thân ngài là một đức Bà-la-môn, đã vì mẹ niệm danh hiệu đức Giác Hoa Định Tự Tại Vương Phật, một ngày một đêm nhất tâm không loạn. Do đây bà mẹ thoát địa ngục được sanh lên trời. Lại một kiếp khác, ngài cũng làm nữ nhân, cũng vì mẹ niệm danh hiệu Thanh Tịnh Liên Hoa Mục Như Lai. Bà mẹ thoát địa ngục, được thân người nhưng phải làm con kẻ nô tỳ mà yểu thọ. Nữ nhân lại vì mẹ phát nguyện: Từ nay đời đời kiếp kiếp cứu vớt chúng sanh trong mười phương. Địa ngục, ngã quỷ, bàng sanh, những tội nhân này thành Phật cả rồi con mới thành Phật. Nhờ nguyện lực này bà mẹ được sanh về cõi Vô ưu, hiện nay là Bồ-tát Giải Thoát. Phật dạy: Này Tứ Thiên Vương! Bồ-tát Địa Tạng gặp kẻ sát sanh, dạy quả báo chết non. Gặp kẻ trộm cướp, dạy quả báo nghèo cùng khổ sở. Gặp kẻ hay gièm chê, gặp quả báo lưỡi rụt miệng lở. Gặp kẻ sân giận, dạy quả báo thân hình xấu xa tàn tật. Như vậy Bồ-tát Địa Tạng ở cõi Nam Diêm-phù-đề, vận dụng trăm ngàn vạn ức phương tiện để giáo hoá chúng sanh. Đức Phật lại bảo Bồ-tát Quán Thế Âm: trời người mệnh chung chiêm ngưỡng lễ bái hình tượng, nghe danh hiệu đức Địa Tạng, sẽ được chuyển tăng phước báo về cõi trời, không đoạ ba đường ác. Nếu lại hương hoa cúng dường thì phước lợi vô biên. Sáu đạo chúng sanh được nghe danh hiệu đức Địa Tạng lọt vào tai lúc sắp chết, sẽ thoát ba đường ác. Người bệnh nặng hoặc mắt thấy, tai nghe, ý biết thân quyến mình tô vẽ hình tượng Bồ-tát Địa Tạng thì tội chướng tiêu trừ. Hoặc được sanh thiên, hoặc được khỏi bệnh. Nhưng ai từ tâm rộng lớn muốn thoát ba cõi, muốn cứu độ chúng sanh, nếu lễ bái thánh tượng, chuyên niệm hồng danh, sớm sẽ mãn nguyện, không bị chướng ngại. Những ai phát tâm cầu học kinh điển đại thừa nên nghiêm ttrì trai giới. Đặt một chén nước sạch trước tượng Bồ-tát một ngày một đêm, hướng về phương Nam trân trọng uống. Như thế bẩy ngày hoặc 21 ngày sẽ được thông minh sáng suốt, hiểu nghĩa nhớ lâu. Ai có những sợ hãi, ai có những mong cầu, cứ lễ bái hình tượng, tụng bổn nguyện kinh, niệm danh hiệu ngài sẽ được như ý. Công đức hồi hướng cho pháp giới, quyết siêu sanh tử, sẽ thành Phật đạo. Khi ấy Thế Tôn đưa cánh tay vàng xoa đỉnh đầu Bồ-tát Địa Tạng: Này Địa Tạng! Địa Tạng! Hãy nhớ hôm nay, tại cung trời Đao Lợi, Như Lai đem tất cả chúng sanh phó chúc cho ông, ông hãy giúp họ dần dần chứng đạo Vô-thượng. Bồ-tát Địa Tạng chắp tay quỳ bạch: Cúi xin Thế Tôn chớ lo! Cúi xin Thế Tôn chớ lo! Chúng sanh nào đối với Phật Pháp có được một niệm cung kính, con sẽ tận tình hoá độ cho ra khỏi vòng sanh tử, rốt ráo không thoái lui đạo Vô-thượng Bồ-đề. Xưng dương pháp hội Bồ-tát Địa Tạng: Đao lợi Thế Tôn nói pháp mầu, Địa Tạng công hạnh rất rộng sâu. Thánh giáo mãi truyền lưu hậu thế, Khắp độ nhân thiên thoát khổ đau. Từ bi quảng đại diệu khôn lường, Cứu khổ đường mê, Địa Tạng Vương. Tích trượng rung vang khai địa ngục, Minh châu soi sáng hết đau thương. Hiện thân cứu tế u minh giới, Pháp lực gương buồm Bát Nhã thuyền, Tiếp dẫn quần sanh lên bờ giác, Đường đường khắp phóng ngọc hào quang. Địa ngục chưa không hề chẳng thành Phật Chúng sanh độ hết mới chứng Bồ-đề. Nam mô đại bi đại nguyện đại hạnh đại từ bản tôn Địa tạng Vương Bồ-tát. 10. NGÀY 06-08 GIỖ TỔ HUỆ VIỄN Huệ viễn đại sư họ Cổ người Nhạn Môn, bẩm tánh hiếu học, đã thông Nho điển lại giỏi Lão Trang. Nghe Đạo An pháp sư thuyết pháp, ngài khen:” Nào ngờ Phật thừa thâm diệu”, liền xuất gia. Đạo An pháp sư thấy ngài chuyên cần, huyền ký rằng:” Phật pháp sẽ được lưu hành ở phương Đông do Huệ Viễn”. Thấy cảnh Lô Sơn rộng rãi tĩnh mịch, phải nơi hành dậo, ngài bèn lập tịnh xá Long tuyền. Được ít lâu, học chúng theo ngài quá đông. Sơn thần báo mộng xin cúng cây gỗ. Sau một đêm mưa to gió bão, cây lớn trong rừng ngã xuống ngổn ngang. Quan Thứ Sử phát tâm dựng tòng lâm cho ngài, để hiệu là” Đông Lâm Thần Vận Tự”. Tại Quảng Châu, những người đánh cá thấy trên mặt biển lấp lánh ánh sáng, bèn tìm đến xem và vớt được một pho tượng đức Văn Thù Sư Lợi Bồ-tát rất đẹp, liền đem trình quan Thái Thú. Tôn tượng được cung nghinh về chùa Đồng Lâm, tôn trí ở nơi trang nghiêm riêng biệt, gọi là Bát Nhã đài. Núi Lô Sơn có rất nhiều rắn độc, đã làm nguy hại đến tánh mạng dân cư trong vùng. Từ ngày cất chùa Đông Lâm, rắn dữ trở nên hiền lành, thường tới chùa nghe kinh. Đời Đông Tấn, quan phụ chính Hoàn Huyền gởi cho đại sư hai văn kiện, yêu cầu thanh lọc hàng ngũ xuất gia và giải tán đạo tràng, lấy lý do là đạo phật hoang đường thiếu thiết thực, không lợi ích cho quốc gia.Trong thời gian ấy, tăng chúng nước Tàu bị bắt buộc hoàn tục rất nhiều. Đại sư phúc đáp bằng lời lẽ vững mạnh đích đáng, khiến cho riêng tỉnh Giang Tây, núi Lô Sơn, chẳng những sắc lệnh không thi hành được mà còn là nơi trung tâm Phật hoá tại miền nam. Mấy năm sau, vua An Đế xa giá đến tỉnh Giang Tây, quan đầu tỉnh đến tận chùa, yêu cầu ngài xuống núi, nghênh tiếp vua. Đại sứ lấy cớ đau yếu khước từ. Hoàn Huyền lại giỏi văn thơ bắt buộc. Đại sư soạn văn” Samôn Bất Kính Vương Giả Luận” gần năm quyển để phúc đáp. Triều đình từ đấy nể trọng. Nơi chốn đã yên, ngài đốc thúc đại chúng hành đạo, đào ao trồng sen. Trên mặt nước thả một bông gỗ 12 cánh, dùng định giờ để hành đạo gọi là liên lậu. Dần dần những nhà đại tri thức mộ đạo, như Giác Hiền, Phật Đà Gia Xá, Lưu Di Dân, Vương Kiều Chi v.v... đến xin nhập chúng. tụ tập được 123 người, thành lập liên xã. Ông Lưu Di Dân làm bài văn phát nguyện khắc vào bia đá. Toàn hội tinh tấn hành đạo ngày đêm sáu thời, lần lượt đều chứng tam muội, đều được vãng sanh, lâm chung đều có thoại ứng. Ngài từng nói: “ Các môn tam muội rất nhiều, nhưng dễ được mà công cao, duy có niệm Phật”. Kinh luật lưu hành ở Lô Sơn đến gần trăm thứ. Ngài trứ tác bộ” Pháp Tánh Luận”, pháp sư Cưu Ma La Thập được xem, khen rằng:” Ông Viễn ở biên phương, chưa học Đại Niết Bàn Kinh, mà lời luận lại hợp lý”. Ngài trụ Lô Sơn hơn 30 năm, trọn không bước chân xuống núi. Ngày đêm chuyên tâm Tịnh-độ, lặng lòng quán tưởng, khước từ tất cả những liên lạc thế gian, nguyện giải quyết vấn đề sanh tử. Một hôm có hai danh nhân. Một nho sĩ, một đạo gia, tìm đến yết kiến. Luận bàn khế hợp, đưa khách ra về, đại sư bất giác bước chân xuống cầu. Chợt nghe hổ rống, 3 người bừng tỉnh, nhìn nhau cả cười rồi chia tay. Người sau đặt tên dòng suối ấy là Hổ Khê. Trong Tây Phương Bách Vịnh, Nhất Nguyên đại sư có thơ rằng: Tây phương cổ giáo Thế Tôn tuyên, Đông độ khai tông, hiệu Bạch Liên. Mười tám đại hiền làm thượng thủ, “ Hổ khê tam tiếu” tới nay truyền. Năm nghĩa Hy thứ 12, đêm 30-07 ngài nhập định nơi Bát Nhã Đài. Vừa mở mắt xuất định, thấy Phật A Di Đà giữa hư không. trong viên quang có vô số hoá Phật. Quán Thế Âm Bồ-tát hầu bên tả, Đại Thế Chí Bồ Tát hầu bên hữu. Phật và Bồ-tát đều ngự trên toà sen báu sáng đẹp, 14 tia sáng quanh lộn lên xuống như vòi nước, vang diễn những pháp khổ, không, vô thường, vô ngã và các môn ba la mật. Đức Phật bảo ngài rằng:” Vì bổn nguyện lực đến an ủi ông, 7 ngày nữa ông sẽ sanh về nước ta”. Ngài lại thấy những hội hữu trong Liên Xã đã tịch trước, như Phật Đà Gia Xá, Huệ trì, Huệ Vĩnh, Lưu Di Dân v.v...bước đến chắp tay chào: “Đại sư sớm phát tâm về Tịnh-độ”. Rồi ngài soạn quy chế để lại cho đại chúng. Ngày 06-08, ngài cáo biệt mọi người, đoan toạ viên tịch, thọ 83 tuổi. 11. NGÀY 07-08 GIỖ TỔ ƯU BA LY Trong đầm gì đẹp bằng sen Lá xanh bông trắng lại chen nhuỵ vàng. Nhuỵ vàng bông trắng lá xanh, Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn. Nam mô Ưu Ba Ly tôn giả, Luật tông đệ nhất Tổ sư. Xem trong sách chúng ta thấy có 3 Tỳ-kheo Ưu Ba Ly. I Đức thế Tôn du hoá. một người gánh phân thuộc dòng hạ cấp tên Ưu Ba Ly, chợt gặp ngài, định bỏ chạy. Ngài nắm tay giữ lại, người kia sợ hãi kêu lên:” Con vốn dòng hạ tiện, xin đức Thế Tôn chớ lại gần con mà bị ô nhiễm, xin tha lỗi cho con. Ngài là dòng quý phái, chúng con đâu được phép gần”. Đức Phật dạy:” Bà-la-môn hay Sát-đế-lợi, nông dân hay công nhân đều từ sản đạo mà ra. Đâu có ai từ miệng phạm thiên ra đâu? Thân nào cũng gồm có 4 chất đất, nước, gió, lửa, đâu có ai khác. Bà-la-môn hay Sát-đế-lợi mà thân miệng ý ác thì hiện đời là ô nhiễm, pháp luật không dung, mạng chung đoạ về đương khổ. Dù nông dân hay công nhân mà thân miệng ý thiện lành thì hiện đời là thanh tịnh, mọi ngưòi quý mến, mạng chung đều về cõi trời. Ngươi có chịu vào đạo ta không? Cả 4 giai cấp đều có người vào trong đạo ta. Đạo ta không phân chia giai cấp, chỉ có một vị là vị giải thoát. Như 100 sông một khi đã chảy vào biển thì hoà đồng thành một vị mặn gọi là nước biển”. Người kia vui mừng sụp lạy xin xuất gia. II Có tám vương tử rủ nhau đia xuất gia, cởi bỏ đồ trang sức cho anh thợ cạo tên Ưu Ba Ly. Trên đường về, anh ta suy nghĩ:” Các vương tử đầy đủ hạnh phức thế gian mà buông xả hết để xuất gia. Vậy xuất gia hẳn phải cao quí lắm. Tại sao ta không mong cầu? Những thứ này họ xả bỏ, tại sao ta thu nhận?” Anh liền treo tất cả lên một cành cây. Rồi ba chân bốn cẳng chạy vội theo tám vương tử, xin cũng được xuất gia. Tám vương tử bảo nhau:” Chúng ta vốn dòng Sát-đế-lợi, Ưu Ba Ly là kẻ công nhân. Thói quen phân biệt giai cấp khó trừ, bệnh kiêu mạn đã sẵn ở trong dòng máu. Nay chúng ta nên nhường cho Ưu Ba Ly xuất gia trước, chúng ta thọ giới nhau. Như vậy bắt buộc chúng ta phải đảnh lễ Ưu Ba Ly là thượng toà, do đây chúng ta dễ dàng khiêm tốn”. Cả Ưu Ba Ly và tám vương tử đều chứng quả A-la-hán. III KINH LĂNG NGHIÊM: Ưu Ba Ly đảnh lễ chân Phật bạch rằng:” Chính con theo Phật vượt thành xuất gia, chứng kiến đức Phật sáu năm khổ hạnh, hàng phục tà ma, đối trị ngoại đạo, giải thoát các lậu thế gian, còn giữu giới ba ngàn oai nghi tám vạn tế hạnh, tánh nghiệp giá nghiệp thảy đều thanh tịnh. Thân tâm tịch diệt thành A-la-hán. Giữ giới tu thân còn là kỷ cương đệ nhất trong chúng. Phật hỏi viên thông, con do giữu thân, thân được tự tại. Con lại giữu tâm, tâm được thông suốt. Thân tâm thông lợi đó là hơn cả”. Ba câu chuyện trên nói về ba ngài Ưu Ba Ly khác nhau. Chỉ có ở Kinh Lăng Nghiêm, đích thân ngài Ưu Ba Ly tự kể lại tiểu sử của mình, chúng ta tin được đây thật là đệ nhất Tổ sư về Luật tông của trái đất này. 12. NGÀY 08-08 GIỖ TỔ ANAN Anan là tiếng Ấn Độ, Tàu dịch là khánh Hỷ. Sanh sau Phật 30 năm, nhằm đêm Phật thành đạo. Ngài là con vua Hộc Phạn ở thành Ca Tỳ La Vệ, em ruột Đề Bà Đạt Đa, em con chú của đức Thích Ca. Tướng hảo tươi đẹp, thông minh tuyệt vời, 25 tuổi xuất gia. Đại chúng cử ngài làm thị giả Phật. Ngài nhận lời với ba điều kiện: 1)Không theo Phật đi thọ trai riêng nếu thí chủ không mời ngài. 2)Không mặc y thừa của Phật. 3)Không đến Phật phi thời. Phật khen Anan khôn ngoan, biết tránh trước những cơ hiềm. Anan còn được Phật khen ngợi một điều đặc biệt: Cả 4 chúng Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-Ba-Tắc, Ưu-Ba-Di, ai thấy hình bóng Anan cũng vui mừng, ai được chiêm ngưỡng nghi dung càng vui mừng, ai được nghe Anan thuyết pháp lại càng vui mừng hơn. Thuở ấy đức Thế Tôn ở nước Thích Xí Xấu, Ma-ha Ba Xà Ba Đề cùng 500 nữ xá-di xin Phật xuất gia. Phật không chấp thuận. Ngài Anan bạch: Nữ nhân xuất gia có thể chứng quả. Xin đức Thế Tôn mở cửa giải thoát cho họ. Do đây toàn thể Ni chúng được thành lập. Truyền mãi cho tới ngày nay, khắp châu Á, đã ba nghìn năm, Ni giới vần mát mẻ như vầng trăng sáng. trong khi đại tăng giáo hoá khắp năm châu như mặt trời chói chang nuôi dưỡng muôn loài. Phật Niết-bàn rồi, đại chúng cử ngài Anan lên pháp toà, trùng tuyên lại những kinh Phật đã nói. Cả đại chúng đều sa nước mắt vì nghe ngài trùng tuyên không khác Phật một lời. Ai nấy ngậm ngùi vì chư Tăng vắng Phật như vòm trời toàn sao mà không trăng. Một hôm ngài hỏi Tổ Ca Diếp: Đức Phật trao y bát, ngoài ra còn có pháp gì truyền riêng cho sư huynh không? Tổ Ca Diếp liền gọi: Anan! Ngài ứng đáp: Dạ! – Cây cột phướn trước chùa bị ngã. Anan đại ngộ. Tổ Ca Diếp đọc kệ trao chánh pháp nhãn tạng cho ngài: Pháp pháp bổn lai pháp. Vô pháp vô phi pháp. Hà ư nhất pháp trung, Hữu pháp, hữu phi pháp. Dịch ý: Vạn pháp xưa nay vẫn từ chân tâm hiển hiện. Không có chi là thật pháp, cũng không có chi là phi pháp. Về sau Thương na Hoà Tu thâm ngô diệu tâm, kế thừa ngài là Tổ thứ ba. Ngài trao bài kệ: Bổn lai truyền hữu pháp, Truyền liễu, ngôn vô pháp. Các pháp tu tự ngộ. Ngộ liễu, vô vô pháp. Dịch ý: Xưa nay vẫn có truyền pháp, truyền rồi lại nói không có pháp. Ai nấy cần tự ngộ chân tâm. Ngộ rồi, không phải là không có pháp. Tổ Anan kết già thị tịch ở trên một chiếc thuyền lơ lửng giữa sông hằng. Bên bờ này vua A Xà Thế, bên bờ kia vua Tỳ Xá Ly, 2 vua đảnh lễ thỉnh ngài lưu lại thế gian không được, cùng nhau tổ chức lễ trà tỳ, phân chia xá lợi, xây tháp cúng dường. 13. BÁNH TRUNG THU Hoà-thượng BỬU LAI đãi Tu viện Hương Nghiêm rằm tháng 8 năm Đinh Mão(1987) Phật pháp mênh mông như biển cả, chúng sanh tuỳ phận lượng mà hưởng thọ. Con voi, con muỗi cũng uống nước sông, tuy số lượng thâu nhập có ít nhiều khác nhau, nhưng sự đã khát thì đồng đều thoả mãn. Kinh Hoa Nghiêm Nói: “ Phật, tâm, chúng sanh tam vô sai biệt”. Chúng sanh tạo nghiệp chịu báo, khiến các trí tuệ đức vốn sẵn có bị che lấp. Vầng trăng tuy bị mây che, bản thể vẫn trong sáng. Cho nên Như Lai tận tình cứu vớt, tuỳ theo căn cơ đặt ra, nào Đại, Tiểu, Thiên, Viên, Quyền, Thật, Đốn, Tiệm... đủ thứ pháp môn. Chung quy không ngoài cái ý đưa chúng sanh ra khỏi nhà lửa sanh tử để trở về tâm thể bổn lai. Thuyết thiện ác báo ứng, nhân quả luân hồi, phổ thông giáo hoá gây thành thuần phong mỹ tục cho các quốc gia. Hiện nay ở Việt Nam, Phật giáo đang lưu hành 5 tông môn lớn: 1-Giáo tông chuyên giảng kinh thuyết pháp, hoằng dương Phật đạo. 2-Luật tông nghiêm chế ba nghiệp, thanh tịnh thân tâm. 3-Thiền tông chỉ thẳng nhân tâm, thấy tánh thành Phật 4-Mật tông trì chú Tổng Trì 5-Tinh-độ tông nhất niệm Phật, cầu sanh Cực Lạc, tựa hồ, là một tông phái riêng biệt, nhưng thật có bao gồm cả các tông trên. Theo lý, pháp-thân A Di Đà là bản thể của tất cả pháp. Không một pháp nào, sự vật nào ngoài cái thể tánh A Di Đà. Vậy giáo tông giảng thuyết bao nhiêu cũng chỉ là giải nghĩa 4 chữ A Di Đà Phật. Nhất tâm niệm Phật, huân tập chủng tử Bồ-đề, chuyển vọng thành chân, tức là hợp với pháp tướng tông chuyển thức thành trí. Thật tướng niệm Phật, ly khai tâm ý văn tự, trực nhận chân tâm, tức là hợp với thiền quán. Tâm tịnh thì độ tịnh. Đã gọi là Tịnh-độ tông chẳng thể rời bỏ giới luật. Niệm Phật cho nhất tâm thì 4 chữ A Di Đà Phật chính là thần chú tổng trì của Mật Tông. Ai cũng biết tất cả các pháp môn đều đưa đến một mục đích thành Phật. Nhưng các pháp môn khác đều nương tự lực như người đi bộ. Còn pháp môn Tịnh-độ nương nhờ thạ lực như có tàu xe, phí ít sức mà hạ lực nhiều, dễ thành công lại mau chóng. Phật A Di Đà như ông tài xế lái xe. Chẳng những có thế lực giúp chúng ta đới nghiệp vãng sanh( như kẻ què vẫn tới được) còn bảo đảm an ổn ngoại ma không quấy nhiễu( như thoát giặc cướp trên đường hiểm). Chỉ có một điều là cần miên mật công phu, đi đứng nằm ngồi chớ quên niệm Phật. Lơ là thì chỉ được chút tịnh nhân chớ quyết nhiên không thể vãng sanh. Chúng ta đừng sợ Phật không đến rước, chỉ lo rằng: “ Miệng niệm Di Đà tâm tán loạn. Tay lần tràng hạt dạ đâu đâu:. Như vậy không phải niệm Phật mà niệm ma, đã vời ma thì ma đến. Người niệm Phật phải tin chắc đức Thích Ca không nói dối, Phật Di Đà không nguyện suông, cõi Cực Lạc có thật, cảnh trang nghiêm chính đã từ công đức mà thành. Cõi Ta Bà thật khổ nay nguyện thoát ly. Cõi An Lạc toàn vui nay nguyện sớm về. Tín nguyện này cần rắn chắc như kim cang, vững chãi như núi thái sơn. Vội vàng Niệm Phật, thiết tha niệm Phật như cứu lửa cháy trên đầu, như người bơi thuyền lánh nạn. Không thể dùng rằng trì hoãn, há còn có thì giờ ngao du ngắm cảnh. Con heo thích ngủ ham ăn, Muôn đời nối tiếp bán thân làm hàng. Con người thích ngủ han ăn, Muôn đời nối tiếp trôi lăn luân hồi. Vậy xin đại chúng mạnh dạn thực hành đi. Hễ cõi Ta Bà đủ tín nguyện hạnh thời bên trời Tây hoa sen nẩy mầm tươi tốt. Thánh thai thơm ngát trong nước bát công đức sáng ngời. Sắc thanh hương vị xú siêu phàm, chính từ mỗi niệm mỗi niệm ta giác tỉnh thanh tịnh. Ấn quang đại sư dạy rằng:” Chín cõi chúng sanh rời pháp môn này, chẳng thể viên thành Phật quả. Mười phương chư Phật bỏ Pháp môn này, không thể khắp độ quần sanh”. - Tay lần 108 hạt, Diệt tội đẳng hà sa, Xa lìa ba đường khổ, Rực rỡ sen nở hoa. Nam mô Tây phương An Lạc thế giới đại từ đại bi tiếp dẫn đạo sư A Di Đà Phật. - Sống ái ngàn thước sóng Biển khổ vạn trùng ba. Muốn thoát khỏi luân hồi ngục Sớm gấp niệm Di Đà. Nam mô Tây phương An Lạc thế giới đại từ đại bi tiếp dẫn đạo sư A Di Đà Phật. - Di Đà tướng tốt lạ lùng, Hào quang chói sáng khắp cùng mười phương, Từ bi oai đức không lường, Sẵn sàng tế độ sáu đường chúng sanh. Được thấy tướng, được nghe danh Là nhờ kiếp trước căn lành trồng sâu. Thế Tôn đủ phép nhiệm mầu Chúng con muôn loại cúi đầu quy y. Nam mô Tây phương An Lạc thế giới đại từ đại bi tiếp dẫn đạo sư A Di Đà Phật. 14. NGÀY 15-08-1981 TRĂNG LĂNG NGHIÊM Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Kính bạch trên Thầy! Kính thưa quý sư cô cùng toàn thể đại chúng. Đêm nay ttrời vừa tạnh, trăng rằm tròn sáng. Tết trung thu khai mạc. Tụng kinh Dược Sư, mâm cỗ đủ 49 ngọn đèn rực rỡ. Chưa kể bao nhiêu ánh sáng từ trên bàn thờ toả xuống. Cỗ Trung Thu Liên Hoa năm nay thật to. Nên toàn chúng đã đồng lòng tình nguyện đem tất cả tới bệnh viện Thị Nghè chia cho cả ngàn người già trẻ lớn bé. Mỗi người một miếng bánh đã được trì chú Dược Sư. Kết duyên với 12 đại nguyện, mai sau có phần trong đạo quả Bồ-đề. Chúng con khôn siết cảm động, không biết bao đời đã gieo trồng thiện căn, nay được dự hàng tăng chúng, thừa hưởng nền giáo lý tối thượng, đích thân học tập công hạnh Bồ-tát tự lợi, tự tha. Vì toàn chúng không được ăn cỗ nên Thầy chỉ dạy: Mỗi người phải góp một phần đề mục để cống hiến đại chúng vào ngày mừng trăng sáng. Còn Ty-kheo ni Huệ Nghiêm có bổn phận phải nói về mặt trăng Lăng nghiêm. Mặt trăng thật năm nay chiếu, năm ngoái chiếu, sang năm chiếu. Từ hồi có trái đất, đến khi trái đất tan rã, mặt trăng vẫn luân thường chiếu. Sáng trăng phá đêm tối, dịu sức nóng, đem mát mẻ. Chân tâm thanh tịnh của chúng ta viên mãn thường trụ khắp pháp giới. Mê tâm là sanh tử, ngộ tâm là Niết-bàn. Phật và chúng sanh thể đồng, chỉ do tỉnh mê mà thành khác. Biết được tâm này, đốn đoạn mê căn từ lịch kiếp. Huệ năng ngộ được tâm này, liền ở núi Hoàng Mai khai đạo “ bản lai vô nhất vật”, lãnh y bát, làm Tổ thứ sáu. Ngộ được chân tâm, hằng sa tánh đức hiện tiền. Nên gọi là Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm. Mặt trăng thứ hai như người đè mí mắt nhìn lên mặt trăng, thấy bên cạnh có bóng loé. Mặt trăng của người này gọi là mặt trăng thứ hai. Mặt trăng này chính là mặt trăng thật, chỉ vì mí mắt bị đè nên thấy loé thêm một vòng sáng. Thức tinh nguyên minh tuy chưa phải là chân tâm, vì còn đeo vọng kiến, nhưng thật không lìa chân tâm, vốn vẫn tịnh thường viên thông. Chính là nguồn sống hàng ngày chúng ta không thể rời, nó lưu lộ ở sáu căn. Thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc, biết, tuy 6 công dụng khác nhau nhưng đồng một thể tinh minh. Như trong nhà chỉ có một đèn, ánh sáng toả ra khắp các cửa. Cửa có nhiều loại vuông, tròn, rộng, hẹp, cao, thấp. Ánh sáng toả ra 6 hình sai khác nhưng ở trong nhà chỉ có một đèn. Đêm tối ở xa muốn cầu đèn, cần nương một ánh sáng mà vào. Cũng thế, muốn trở về bản giác thường trụ diệu minh, nên y theo tánh thấy hoặc tánh nghe, một trong sáu căn, mà bội trần hợp giác. Trải bao kiếp sanh tử, tánh thấy tánh nghe không hề thay đổi. Vì là chân tâm nên vẫn thường trụ bất động. Chúng sanh lấy động làm thân, lấy động làm cảnh, niệm niệm sanh diệt, quên bỏ chân tâm, điên đảo tạo nghiệp, oan uổng lưu chuyển, thật là đáng thương. Nhưng dù đoạ lạc ba đường hay thành thánh quả, tánh thấy tánh nghe vẫn không biến đổi. Kinh Lăng Nghiêm dạy đó là Như Lai mật nhân, đích chỉ thức tinh nguyên minh là căn bản Bồ-đề. Trăng đáy nước: Người ngu thấy dưới lòng nước có trăng, lao đầu xuống mò kiếm. Nhọc sức luống uổng mà còn phải chịu cái khổ chết chìm. Chúng sanh từ lịch kiếp lầm nhận vọng tưởng phân biệt duyên theo 6 trần làm tâm. Suốt đời vất vả mưu cầu hạnh phúc hão huyền, kết cuộc chẳng nắm bắt được gì. Tâm phan duyên nuôi ba độc tham sân si, đưa đến sát, đạo, dâm, vọng để trầm nịch luôn hồi, không biết đến bao giờ mới ngóc đầu ra. Muốn thưởng thức ánh trăng diệu tịnh minh tâm, Phật Tử hãy nghe lời kinh dạy: Các ông đem duyên tâm nghe pháp thì chỉ được pháp duyên chớ chẳng được pháp tánh. Như người lấy tay chỉ mặt trăng. Nếu cứ khư khư ngó ngón tay, cho ngón tay là mặt trăng, thì đâu chỉ mất mặt trăng, người ấy mất luôn ngón tay, mất cả sáng và tối. Tụng kinh không lo vào tri kiến Phật, sống với bổn diệu minh tâm. Cứ tự cho tụng niệm là bổn phận, thì chẳng những không minh tâm kiến tánh mà còn không biết kinh là gì, đến nỗi mất phần trí tuệ, lại còn không biết chỗ ngu tối của mình. Muốn vào tri kiến Phật, trước hết phải xa lìa tri kiến chúng sanh. Cần bỏ tay ấn mắt, để thấy mặt trăng thật. Việc đầu tiên là phát tâm Bồ-đề. Chớ tham luyến trần duyên. Trăng đáy nước là một bóng ảnh giả, chỉ có tướng sáng mà không có lực dụng chiếu soi phá tối. Vọng tâm do nhân duyên sanh. Nhân là nghiệp. Duyên là 6 trần. Như người có nghiệp tham, thấy tiền liền khởi tâm ăn cắp. Người ngu si sống với vọng tâm, không giác tỉnh với sáu căn huyễn hoá, 6 trần ảo ảnh, 6 thức mê lầm, khởi tưởng chấp ta chấp cảnh, rông rỡ sát, đạo, dâm, vọng. Khổ báo chướng nạn chẳng thể trở về chân tam bản tánh, pháp-thân thường trụ. Phải ngửa lên nhìn trăng thật, nghĩa là vận sức trí tuệ quay về sống với bổn giác, khi ấy sẽ thấy năm ấm hư vọng vốn là Như Lai Tạng. Trong đếm dài sanh tử, muôn loài chìm đắm. muốn trở về nhà phải nương mặt trăng thứ 2, tức là tinh nguyên minh, làm nhân địa tu hành để vong trần hợp giác. Dĩ nhiên phản văn cũng như tát cả các pháp môn khác, trước hết cần nghiêm trì giới luật, thâu nhiếp 6 căn. Kinh chép: Ngài Xá Lợi Phất than rằng:” Thương thay! Những kẻ mò trăng đáy nước đến nỗi chết chìm”. Phật đáp:” Đúng thế! Thật đáng thương sót! Nhưng đáng thương hơn nữa là kẻ chấp rằng vũ trụ không trăng”. Thế gian tìm hạnh phúc nơi căn trần huyễn ảo, mở ra sáu đạo luân hồi, ba đường đau khổ, quả tình đáng thương. Nhưng nhị thừa đắm chấp Niết-bàn thiên không, đâu biết đến cái vui phước tuệ trang nghiêm Vô-thượng Bồ-đề. Trong các kinh thường có sự so sánh: A-la-hán nhiều như lúa, mè, tre, lau không bằng công đức một người phát tâm quy nguyên. Trước khi dứt lời, vì không quên vô số sinh linh đang quằn quại trong vòng hoặc nghiệp khổ, chúng con phát nguyện cố gắng và cố gắng hơn nữa, nương ánh sáng trí tuệ và gương mẫu từ bi của chư Phật, Bồ-tát, tìm về ánh trăng chân thật để trên đền bốn ân, dưới cứu khổ muôn loài. Đây là món quà trung thu con kính dâng lên Thầy và đại chúng chứng minh. 15. NGÀY 20-08 BIỆT KHOÁ GIỖ TỔ PHÙNG KHOANG 1.Đảnh lễ đấng vô thượng Từ Tôn. Bởi vì tuệ giám không xa nên chúng con tàn dung hữu hạnh ( 1 lễ). 2.Phật nhập Niết-bàn, ngót 3 ngàn năm, Ni chúng bình an tu hành như vầng trăng tròn sáng không mờ, toàn nhờ công đức Ananđà tôn giả (1 lễ) 3.Những ai có duyên nhất thừa nên nhớ công phu Long Nữ trực nhận Phật tánh chân tâm, mà cố gắng thông suốt ba pháp quán để vong tình tiến bộ (1 lễ) 4.Lại nguyện Đại Ái Đạo tôn giả không xả từ bi, thầm gia hộ lậu chất biến thành tam muội chất (1 lễ). 5.Da Du Đà La tôn giả, trí quang soi tỏ, cô tâm chuyển thành lục hoà tâm. Khiến cho Pháp tử chúng con, cây đạo thêm cao, bình an cát khánh, ví như hàng trăm hạt ngọc được mài giũa thành những chuỗi minh châu thanh tịnh trong sáng ( 1 lễ) Trầm hương vừa bén lửa Xuân giới ngào ngạt thơm, Vần vần kết mây lành Gần xa đều mông huân. Thiền vị diệu thường chân tánh. Tôn sư linh giác hiện thân. Nam mô Hương Vân Cái Bồ-tát ma-ha-tát. (3 lần) Hoa tươi Hương ngát, ánh đèn đuốc sáng, Đối trước di ảnh, chúng con xưng tán: Núi tuyết trinh trắng giữa hồng trần, Hoàng Mai lửa tuệ khác nhân gian. Huyện Hoàn Long , nước 8 công đức thanh lương. Phủ Hoài Đức, năm phần chân hương thắng diệu. Mảnh đất Phùng Khoang chân như trụ. Rừng hoa Liên Phái học nhiều môn. Hôm nay khải thỉnh trước thiền sàng, Nguyện Tổ chứng tâm mà giáng phó, Nam mô Độ Nhân Sư Bồ-tát ma-ha-tát ( 3lần). BỞI VÌ Có minh tâm mới kiến tánh Muốn thỉnh Tôn Đức lai lâm Cần phải trai diên khiết tịnh. ( Một chén nước nhỏ, một cành lá, vừa bắt ấn vừa đọc:) Cúi đầu quy y Tô Tất Đế, Đầu mặt đảnh lễ thất câu chi, Con nay xưng tán Đại Chuẩn Đề, Duy nguyện từ bi thuỳ gia hộ. Nam mô tát đa nẩm, tam miệu tam bồ đề câu chi nẩm, đát điệt tha. Ám, chiết lệ chủ lệ chuẩn đề, sa ba ha ( 3 biến). ( vừa rẩy nước vừa đọc:) Trời Nam một vị mưa pháp chan hoà, Âm dương đồng gội ân đức tam-ma, Phước thọ tăng gia Thanh Xuân nở hoa. Nam mô Thanh Lương Địa Bồ-tát ma-ha-tát (3 lần) THIẾT NGHĨ Tâm tánh viên minh, thần quang chiếu diệu. Muốn đạt cảnh giới trang nghiêm, cần phải ngát hương giải thoát. Hương này Bắc Châu gây giống, Nam Hải tưới nhuần. Giáng cách thoát tục, thể chất phi phàm. Quang sáng nguy nguy hơn nhật nguyệt Tốt tươi cánh triệt cả sơn hà. Đốt không ra khói ngạt ngào thường cúng dường đất Tam-bảo. Thiêu không tan rã, viên thông giao cảm suốt bốn trời thiền. Cúng kính thắp chân hương bảo triện, ngưỡng vọng linh giác Tôn sư. Nam mô Hương Cúng Dường Bồ-tát ma-ha-tát. KHÍNH NGHE Hoa ưu đàm báo điềm lành, hương phước quả bay rất xa. Rõ biết chân như, không còn kia đây sai khác. Ngay tại một chỗ, đâu có phân biệt thánh phàm. Tây phương tuy thật xa nhưng nhất chân tịnh diệu vẫn thấu suốt. Nam Hải tuy chẳng gần nhưng mộy niệm tịnh thành vẫn cảm thông. Cổ đức dạy: Sợi chỉ cây kim khó đáp nên chỗ thấy chỗ hiểu phải đúc thành chí khí. Áo bát tín thí khôn đền nên giới định tuệ phải nhuận thân hiện tại. Trải chiếu cỏ thơm, vọng về Thanh Xuân, chí thành tín chắc, đấng hư linh biến hoá vẫn thầm thông ngầm cảm. Nam mô bộ bộ đế rị, già rị đá rị đát đa nga đa gia ( 3 biến) I NHẤT TÂM PHỤNG THỈNH: Tây Phương Vô Lượng Thọ, Đông độ Thích Ca Văn, cầm giây vàng khai đường giác, dùng bè báu độ bến mê. Thân phụ ở làng Phương Liệt họ Nguyễn danh gia, thân mẫu người Hoàng Tổng vốn công nương thế phiệt. Nhỏ tuổi đã theo mẹ vào cửa thiền. Đến lớn vẫn đề huề trong Thích Giáo. Dù ở chỗ đông vui, trông lên mây vần biến đổi trên trời. Nhàn nhã nơi thanh vắng, nhìn xuống, kìa vẫn bóng trăng đáy nước. Đốn liễu thiền cơ, cuộc đời giấc mộng. Ngắm cảnh phát minh lý duy tâm. Lòng thấm Phật đạo, xu hướng xuất gia. Đây là chỗ dung chứa như biwnr cả nạp trăm sông. Đây là nơi giải thoát như hư không hàm vạn tượng. Nam mô Xuân Phương tháp, ma ha Tỳ-kheo-ni Bồ-tát giới, huý Thường Nga, pháp danh Đàm Uyển, hiệu Minh Mẫn Trinh Trinh, Tôn sư thiền toạ hạ. Duy nguyện quang giáng thiên đường chứng minh cúng dường. HƯƠNG HOA THỈNH II NHẤT TÂM PHỤNG THỈNH: Quán Thế Âm Chí đồng bạn, trong ao bát đức tắm mát, chín phẩm sen vàng tiêu dao. Cạo đầu nhuộm áo chốn Thanh Xuân, 16 tuổi tam quy ngũ giới. Ân cần học hỏi, như giáo phụng hành, thọ Sadini Thức xoa năm 18. 21 tuổi lên ngôi vị Thanh-văn. Tiến tu đội luật mang bình, cung kính giữ phận con em. Đi đứng nằm ngồi, nhất nhất không dám trái lời Sư Phụ. Thân thừa huyền châm chùa Liên Phái. Ba tháng hạ luật thân thắng tiến, sáng tỏ thiền đăng, pháp thuỷ chan hoà. Sáu tháng thu dạy chúng toạ thiền, khai pháp tịnh khiến Thanh Xuân hoa nở. Thảnh thơi một mình, nương tựa bảo tướng liên hoa. Nhàn nhã an vui chuỗi tràng niệm Phật. Nam mô Xuân Phương tháp, ma ha Tỳ-kheo-ni Bồ-tát giới, huý Thường Nga, pháp danh Đàm Uyển, hiệu Minh Mẫn Trinh Trinh, Tôn sư thiền toạ hạ. Thiền đường bóng nguyệt nay đâu vắng? Trên trời xanh mây trắng vãng lai. Duy nguyện Tôn sư giáng phó thiền đường chứng minh cúng dường. HƯƠNG HOA THỈNH III NHẤT PHỤNG TÂM THỈNH: Thanh tịnh đại hải chúng Bồ-tát, thiện bạn đề huề, ra khỏi nguồn sâu phiền não, lên bờ kia tới Bồ-đề. Đẹp thay Thanh Xuân, khung trời cõi phạm! Nhưng thế sự vô thường, bóng quang âm qua mau. Chỉ niệm Di Đà không chi khác, móng tay chưa gảy, đã tới Tây Phương. Năm Mậu Tuất tháng 8 ngày 20, Tôn sư quy Tịnh-độ. Nam mô Xuân Phương tháp, ma ha Tỳ-kheo-ni Bồ-tát giới, huý Thường Nga, pháp danh Đàm Uyển, hiệu Minh Mẫn Trinh Trinh, Tôn sư thiền toạ hạ. Thần thức đã vượt khỏi nhân gian vô thường, duy nguyện quang giáng thiên đường chứng minh cúng dường. HƯƠNG HOA THỈNH IV NHẤT TÂM PHỤNG THỈNH Nam Thiên pháp lữ, phước địa thiên đồ, xuất gia tu đạo, bậc Thầy thông luật, Yết ma Giáo thọ trượng đường, Hoà-thượng Xà-lê nghiêm toạ. Khắp cùng mười phương. Tỳ-kheo-ni, Thức xoa ma na, Sadini, Ưu-Bà-Di, 7 chúng Phật tử, những người khai sáng già lam, thí đất, thí ruộng, đào giếng, đắp đường, lịch đại luỹ kiếp gia nương, nhất thiết chư vị giác linh thiền toạ hạ. HƯƠNG HOA THỈNH V NHẤT TÂM PHỤNG THỈNH: Bồi triệu ân sâu, sanh thành đức hậu. Dưới thềm lan nhã, cây non nở hoa ưu đàm. trong đám hoè quế, bỗng nhiên mọc cây Bồ-đề. Nội ngoại đồng khí liền cành, cao thấp trước sau quyến thuộc, nguyện đều phát tâm xuất thế. Xưa kia mỗi kẻ một đường, nay cầu đồng sanh An dưỡng. Cung duy Tôn sư gia tiên tổ khảo Nguyễn Thuần Tích, Phủ quân. Tổ tỷ Đỗ Thị Cẩm hiệu Diệu Vạn, Nhũ Nhân. Thứ mẫu Tạ Thị Nẫm hiệu Diệu Minh, Nghi nhân. Tôn sư gia tiên tổ khảo Hoàng Thuần Nghi, Phủ quân. Tổ ty Trương Thị Yêm hiệu Diệu Viên, Nhũ nhân. Khắp cùng cao tằng tổ khảo, cao tằng tổ tỷ, trùng trùng quyến thuộc các hương hồn. Duy nguyện giáng phó thiền đường chứng minh cúng dường. HƯƠNG HOA THỈNH VI Hồng chung trong không cốc vang xa, tất cả hữu tình đều nghe tiếng. Duy nguyện giáng phó thiền đường chứng minh cúng dường. HƯƠNG HOA THỈNH Pháp tử:( tên) dập đầu phụng hiến lễ bạc: - Nam mô tát phạ đát tha nga đa phạ lô chỉ đế, ám tam bạt la tam bạt la hồng ( 7 biến). - Nam mô tô rô bà da, đát tha nga đa da, đát diệt tha. Ám tô rô tô rô, bát la tô rô, bát la tô rô, sa bà ha( 7 biến) Món ăn sắc hương vị, trên cúng mười phương Phật, dưới cúng các Tổ sư khắp đến 6 đạo phẩm, cúng dường không sai biệt. Tuỳ duyên đều đầy đủ. Khiến người bá thí, được vô lượng ba la mật. - Ám nga nga nẵng tam bà phạ phiệt nhật la hộc ( 7 biến). - Nam mô Phổ Cúng Dường Bồ-tát ma-ha-tát ( 3 lần). SỚ VĂN Tín căn nhất niệm, linh giác chứng minh, cung dâng văn sớ, kính xin tuyên đọc: Mây sớm mưa chiều, dòng sông sanh tử xuôi xuôi chảy. Pháp thuyền đưa chúng con lên bờ giác, hôm nay rời bến đi đâu. THIẾT NIỆM Bổn sư một đời chăm tu thắng nhân vô lậu, vì đã tỉnh mộng huyễn hữu vi. Nay thoát lồng ba cõi, trở về đất tịnh, báo địa diệu cực trang nghiêm. Hiếu đồ chúng con tâm thành cung thỉnh Tôn sư linh giác, ma ha Tỳ-kheo-ni Bồ-tát giới, huý Thường Nga, pháp danh Đàm Uyển, hiệu Minh Mẫn Trinh Trinh, quang lâm Linh Quang Ni Viện, chứng minh cúng dường. Duy nguyện Tôn sư đạt liên cung thượng phẩm, ngự cảnh An Dưỡng quê hương, phước tuệ nghiêm thân, ấn Tổ lưu truyền, đèn Phật sáng trưng mãi mãi. Tấc dạ đan thành thống thiết, đệ tử chúng con khấu đầu đảnh lễ tam bái thượng sớ. Đốt sớ( tụng Bát Nhã Tâm Kinh). Bát Nhã ba la diệu tối linh, Đại bi vô ngại nhuận quần sinh. Không không ngũ uẩn đại thần chú Nhất điểm linh tâm triệt diệu minh. Nam mô Quán Tự Tại Bồ-tát ma-ha-tát. Nay trai diên thâu kết, Tôn sư nhẹ gót đường mây. Đạp bỏ hồng trần như dép cỏ Đào hoa nước chảy chẳng quan tâm. Ái hà rửa chân lên bờ giác, Tịnh-độ chuyên tâm hướng kim đài. Nam mô Sanh Tịnh Độ Bồ-tát ma-ha-tát. 16. NGÀY 19-09 QUÁN ÂM THỊ KÍNH QUÁN ÂM: Quan sát âm thanh kêu khổ để cứu vớt. THỊ KÍNH: Thời xưa, đặt tên đàn ông dùng chữ Văn, đàn bà dùng chữ Thị để phân biệt. KÍNH: Nghiêm cẩn không buông lung. Hễ sống đúng với chữ kính là đã xong được nửa đường đạo. Kinh Phổ Môn dạy: Bất luận nội chướng hay ngoại chướng, thường niệm cung kính Quán Thế Âm Bồ-tát đều được giải thoát. BẢN HẠNH: Công hạnh từ lúc tu nhân. Như Quán Âm Thị Kính đặc biệt tu hành nhẫn nhục. Quán Âm Nam Hải đặc biệt tu 2 hạnh tinh tấn và từ bi. TỰA 1.CHỈ ĐƯỜNG CHÁNH GIÁC PHẬT: Tự giác, giác tha, giác hành viên mãn. - Tự giác: Thândo đất, nước, gió, lửa giả hợp thành hình. Lầm chấp ta người, mở ra ba độc tham, sân, si. Tạo những nghiệp sát đạo dâm vọng để tự chiêu vời quả báo luân hồi sanh tử. Giải thoát vô minh, trở về sống với chân tâm bản tánh gọi là Giác. - Giác Tha: Đem chỗ đã tự giác, dạy người chưa biết. - Giác hành viên mãn: Trọn vẹn 2 điều trên. 2.MỘT NIỆM VÔ MINH Kinh dạy: “ Vạn pháp duy tâm:. Luận Khởi Tín giải thích: Muôn sự muôn vật ở thế gian cho đến cả Phật pháp cũng đều do tâm tạo. Chữ Tâm đây nói là vọng tâm. Giữ tâm chân chánh thì thành Phật. Một niệm sằng bậy là ươm một nhân xấu, sẽ kết trăm ngàn quả khổ. Cũng như một hạt đa nẩy mầm phát triển thành một cây đa. Mỗi năm sẽ có bao nhiêu quả. Nhân quả sinh sôi nảy nở như thế nên người tu cần chánh niệm mới mong thoát trầm luân. Đức Thích Ca hiện thân một mỹ nữ để thử một tu sĩ. Thay vì từ chối thẳng, tu sĩ đáp:” Có chăng kiếp khác hoạ là. Kiếp này sợi chỉ chót đà buộc tay”. Thế là hứa hẹn một kiếp sau. Vọng tâm chưa dứt tuyệt nên phải tái sanh làm thân con gái. Kinh Lăng nghiêm dạy: Nếu còn tơ hào tâm dâm dục không thể hy vọng giải thoát. 3.NHÂN DUYÊN HỘI NGỘ: Thị Kính sắc đẹp nết ngoan, Thiện Sĩ tài học hơn người. Đôi bên cha mẹ vun vào nên thành gia thất. Để biết tài và sắc là 2 thứ thế gian mê say hám chuộng thật chẳng phải là gốc hạnh phúc. CHÁNH TÔNG 1.GIẢ HỢP GIẢ LY: Nhân duyên đã thuận thì làm sao tránh quả báo ràng buộc. Phật dạy: Tâm làm chủ, tâm dẫn đường, tâm đưa lên thiên đường, tâm đưa vào địa ngục. Các Tổ đinh linh dặn dò: Cẩn thận chớ buông lung ba nghiệp. Với thế gian thì không gì sung sướng bằng vợ chồng hoà hợp. Ai thấy cảnh bà Thị Kính chẳng khen ngợi thèm thuồng, chẳng reo hò nhảy nhót đổ xô nhau vào. Con mắt Phật thấy là tấn tuồng ảo hoá, một giấc chiêm bao. Canh khuya Thiện Sĩ đọc sách mỏi mệt, ngả lưng bên cạnh thị kính. Thấy hàng râu của chồng cạo chẳng được đều, cô cầm dao con cúi xuống định sửa. Chợt Thiện Sĩ mở mắt hô hoán:” Cắt cổ giết người”. Bà mẹ chồng bước vào ấn định ngay: “ Cô này đã mắc vào người nào khác nên muốn hại chồng”. Vội vàng trả cô về nhà cha mẹ ruột. Ngán thay chữa dép vườn dưa, Dù ngay cho mấy cũng ngờ là gian. Thế là tan hạnh phúc! Bậc trí tuệ chẳng ham sung sướng, chẳng sợ khổ đau, cứ thuận theo lẽ phải. Như vậy mới có thể sống ung dung tự tại, chết giải thoát siêu thăng. 2.DỨT NỢ TRẦN DUYÊN: Thị Kính gặp cảnh éo le, chợt tỉnh mộng đời, quyết chí đi tu. Biết cha mẹ không chấp thuận. Cô đành giả trai, trốn nhà đi xa, tìm vào Vân Tự, được Sư cụ đặt tên là tiểu Kính Tâm. Đây là cốt tuỷ bộ bản Hạnh này. Tâm Lý con người, hễ chán thì ruỗng rẫy ghét bỏ, hễ thích thì gần gũi vơ vào. Cả hai cực đoan này đều có sức mạnh. Người trí tuệ biết thích cái hay, kết quả đi đến thanh cao tự tại. Kẻ ngu thích bậy, kết quả tạo ác đoạ lạc. Trí tuệ trạch pháp thật là quan hệ. Người biết bản tánh là Phật, tu Phật hạnh sẽ về cảnh Phật. Tin được như thế sẽ chán dục lạc thế gian, rửa sạch tham sân si. Tự mình giác tỉnh, lại đem đạo lý soi tỏ cho người. Cùng nhau bỏ lối gai rậm, lên đường quang minh. 3.THIÊN ĐƯỜNG, ĐỊA NGỤC: Vâng lời nâng cảnh thượng phương Khêu đèn Bát Nhã, dóng chuông tham thiền. Bà Thị Kính thảnh thơi vui cùng Phật Pháp. Kinh dạy: Ái là gốc sanh tử luân hồi. Mắc vào nó thì khốn khổ ê chề. Ra khỏi nanh vuốt nó thì an vui vô cùng. Trong làng có cô Thị Mầu, thấy tiểu Kính Tâm: Đã lồng ba tấm cà sa Nhưng người tiên vẫn trông ra khác phàm. Đăm đăm tưởng nguyệt mơ hoa, lại bị người dụ dỗ nên thất tiết mang thai, bị làng bắt vạ. Cô đổ cho kính tâm là cha đứa bé. làng tra hỏi, Kính Tâm biết nếu nói thật là gái thì đâu được ở chùa ( ngày ấy chưa có chùa sư nữ). Kính Tâm đành chịu đòn đánh mà không chịu thổ lộ cái lý do duy nhất có thể giải oan. Thầy Mạnh Tử nói: Người ta chết vì an vui mà sống vì hoạn nạn. trời định giao việc lớn cho ai, tất làm cho lao khổ điêu linh. Người tu hiểu chân lý nên hằng ngâm câu: Xá chi một đứa dại khờ, Nước tuỳ duyên rửa đi cho kẻo mà. Chữ rằng nhẫn nhục nhiệm hoà. Nhẫn điều khó nhẫn mới là chân tu. 4.VÌ ĐỨC HIẾU SINH: Thị Màu bị cha mẹ bức bách bắt đem con vứt trả cho Kính Tâm. Thấy đứa hài nhi nằm trơ trong vườn như cá cạn nước, Kính Tâm đành ẵm vào làng xin sữa. Thấm thoát thằng bé lên 3 thì Kính Tâm hết tuổi thọ: Gọi con từ giã mọi đường, Bút hoa để lại đôi hàng biệt ly. Bút thư Kính Tâm xin tạ lỗi cùng cha mẹ, được Sư Phụ cho người đưa về quê hương. 5.HOA ĐỐM TRONG HƯ KHÔNG Làng bắt cha con Thị Mầu lo việc tang ma. Phần thì hổ với xóm làng, phần thì cha mẹ đay nghiến, cô nhục nhã tự tử. Cha mẹ Thị Kính được thư vội vã đến chùa Vân. Ngẩng trông ba thước hồng la, Lệ tuôn như suối, lòng sầu như mây. Sáu năm không được tin tức, nay gặp mặt lại là một xác chết. Đám tang xong, chùa làm chay cầu siêu độ. 6.VĂN KẾT Ai hay pháp Phật nhiệm mầu, Có khi Thiên Trúc ở đâu cũng gần. Giữa trời một đoá tường vân Đức Thế Tôn hiện toàn thân xuống đàn. Truyền cho nào tiểu Kính Tâm Phi thăng làm Phật Quán Âm tức thì. Độ cho cha mẹ hai thân, Đài sen đã sẵn đợi ngày bước lên. Siêu thăng thoát cả một nhà Từ đây phước đẳng hà sa vô cùng. Liên miền Cực Lạc hội đồng, Cả làng khi ấy mắt trông rành rành. Rõ ràng lành ắt được lành, Nam mô đức Phật, tu hành thành công. HAI BỨC TRANH Sự tích trên đã vẽ song song hai bức ảnh: Thị Kính và Thị Mầu. Cùng là con gái mới lớn lên, cùng xuất thân nơi gia đình đài các danh giá giàu có, cùng theo đạo Phật, cùng khốn khổ vì tình ái. Chỉ vì tri kiến khác nhau mà cuộc đời trở thành khác hẳn. Cho tới kiếp sau, một lên toà sen một vào địa ngục. Thật đáng ngậm ngùi sót thương. I Vì đâu thị Mầu đem ô nhục cho cha mẹ, để xấu hổ cho họ hàng? Vì đâu cô phải tự tử, mở ra kiếp kiếp đoạ đày? Phật dạy: Một phen mất thân người, muôn kiếp khó trở lại. Như rùa mù tìm bọng cây trong biển cả, thật khó lắm thay! Cổ nhân nói:” Cái sẩy nẩy cái ung”. Một vọng tưởng không đâu, nếu biết là hư vọng thì nó tự tan. Nếu lầm nhận là mình, lồng mình vào, thì thành kết sử. Mắt cô chạm vào sắc tiểu Kính Tâm, khởi lòng luyến ái. Nếu biết là vọng tưởng thì nó tan ngay. Vì cô nhận là mình, cho là mình ưa thích nên bị sai sử, đưa vào tội lỗi. Đã tà dâm lại dối cha mẹ. Tới khi làng xét xử, vẫn còn hy vọng làng bắt Kính Tâm thành gia thất với mình nên một mực vu oan. Kính Tâm chịu đòn tan da nát thịt, đau thấu tới xương. Nếu không có lời từ bi xin nộp vạ của Sư Phụ thì đã mất mạng. Phú ông bắt đem con trả cho bố nó, cô cũng đem con bỏ ngoài hiên chùa, mặc cho Kính Tâm muốn nuôi hay bỏ tuỳ ý. Suốt ba năm trời Kính Tâm chịu oan tình, cả làng sỉ vả, Thị Mầu tổn đức biết bao nhiêu. Quanh co dối trá đến cùng vẫn không thoát quả báo nhãn tiền, cô phải tự tử. Cô mới đôi tám xuân xanh, tức là mới có 16 tuổi. Kinh Pháp Cú có câu:” Phàm phu không giác ngộ, đi chung với cừu địch một đường”. Thị Mầu nhận vọng tưởng tham dục là mình, cùng với ngã ái đi chung một đường nên bản thân khốn khổ, gia đình đắng cay, xóm làng phiền nhọc. Kiếp này khổ, kiếp sau khổ, khổ sở lâu dài. Đáng thương biết ngần nào. II Bà Thị Kính bị cha mẹ chồng trả về gia đình. Đối với phụ nữ Á Đông, đây là một tủi nhục nặng nề đã khiến bao người tự tử. Nhưng đối với tầm mắt bà thì: Nực cười cái chuyện cỏn con, Bỗng không mà nổi lên cồn thái sơn. Vì có trí tuệ Bát Nhã, bà thấy rõ thị phi của thế gian như sáu con rồng mú rối, chẳng đáng bận lòng. Bà tìm giải thoát nơi cửa Phật. Tới khi Thị Mầu vu oan, dân làng đánh đập. Sư cụ không cho ở trong chùa, đuổi ra ngoài cổng tam quan, cha mẹ xa xôi không hy vọng tái ngộ. Một thân cô đơn sống dưới con mắt khinh bỉ của thôn xã. Bổn đạo trong ngoài đều trỏ ngón tay: Tiểu kia tu có trót đời được đâu. Trong hoàn cảnh rất mực khó khăn, bà chỉ kết luận: Xá chi một đứa dại khờ Nước tuỳ duyên rửa đi cho kẻo mà. Chữ rằng nhẫn nhục nhiệm hoà, Nhẫn đều khó nhẫn mới là chân tu. Rồi bà quay về: Bạn cùng thanh phong minh nguyệt, Lấy hoa đàm đuốc tuệ làm vui. Con mắt giác tỉnh, không oán thù mà tha thứ xót thương. Bởi thấy rõ xấu ác là dại khờ. Kẻ mê để cho hoàn cảnh chi phối, sống như cái máy, biết gì mà ta oán chấp. Bậc tu hành tuỳ duyên nhẫn cảnh. Thế giới không hoa, thân người mộng huyễn. Vạn pháp vô thường đâu có thể cậy trông. Chỉ quay về bổn phận mình, nhẫn nhục nhu hoà, noi gương Phật tổ. Kinh Kim Cương nói: Nhẫn nhục chẳng phải nhẫn nhục. Ấy mới thật là nhẫn nhục. Nếu còn thấy có nhục để phải nhẫn thì khó mà nhẫn được lâu dài. Nên mới biết tới đây Bát Nhã của bà Thị Kính đã ba la mật đa. Những tưởng an thân nơi mái tam quan, vui với thiền tư kinh kệ, thì cơ duyên khe khắt lại khéo xui Thị Mầu đem con để ở hiên chùa rồi bỏ đi. Nghĩ rằng: Mạng người khôn lấy làm chơi mà liều. Cho nên: Xót tình măng sữa nâng vào trong tay. Sư Cụ Bổn sư thấy thế ấn thêm cho một câu: Như vậy thời Thầy cũng nghi. Hàng ngày bế con đi xin sữa khắp làng. Mẹ vò nuôi con nhện, đã bao cực nhọc khó khăn. Lại thêm tiếng bấc tiếng chì đằng đẵng 3 năm. Thiền sinh mà nuôi con mọn, bám víu bế ẵm ngày đêm. Những người chuyên tu mới hiểu nỗi khó khăn này. Thật là hy sinh tới chỗ cùng tột, hy sinh cả sự giải thoát. Nhưng ngài tin Phật, thực hành đức hiếu sinh, lấy vâng lời Phật làm vui. Kinh Pháp Hoa nói:” Muốn nhập Phật tri kiến phải ở nhà từ bi, mặc giáp nhẫn nhục, ngồi toà pháp không”. Nay nuôi con oan gia mà đầm ấm tình máu đào, chứng quả Vô-thượng Bồ-đề. Lời bình của cụ Thiền Chửu Cha mẹ nuôi con, công lao khó nhọc như trời biển. Nhưng giọt máu của mình, mình thương yêu nâng niu, dù vất vả nhọc nhằn mà vẫn có mối tình đầm ấm, khiến cho vui vẻ. Còn tiểu Kính Tâm mẹ gà con vịt, tiếng nọ điều kia, mỉa mai nhục nhã. Thế mà bà vâng theo Phật Tổ, thực hành chủ nghĩa xả thân cứu thế, chẳng quản vất vả, chẳng ngại chê cười. Nước lã coi như huyết nhục. Công quả này trời bể khôn tầy, chỉ Bồ-tát hiểu Phật pháp mới làm nổi. Đức Thích Ca thiền định trong rừng. Vua Ca Lợi chặt cả tay chân. Không những không giận ngài còn an ủi:” Bao giờ đắc đạo, ta sẽ độ vua trước nhất”. Ôi Rộng rãi bao la, từ bi vô ngại! Lời nói ai nghe mà không mủi lòng cảm động. Nhẫn nhục của bà Thị Kính tới đây thật đã thuần tuý. Không đợi Phật thọ ký, chúng ta cũng biết bà sẽ chứng quả Vô-thượng Bồ-đề. 16. DƯỢC SƯ LƯU LY QUANG NHƯ LAI 30-09 ( Kinh Dược Sư cùng các giải nghĩa đã in riêng) Phương đông là nơi bình minh loé sáng phá tan đêm dài. Từ phương Đông ánh hồng quang tia chiếu khắp làn mây , khiến cho trời đen trở thành trong xanh, sương lạnh biến thành hạt trai, lóng lánh trang điểm khắp lùm cây bụi cỏ. Từ phương Đông luồng điện sinh khí truyền khắp người vật, kiến sâu, hoa lá, núi sông...nên phương Đông đứng chủ sự sinh hoạt. Hải hội Dược Sư Phât Bồ-tát từ phương Đông toả từ bi lực về cõi Ta Bà. Thật ra tất cả mười phương đều có hằng sa Tịnh-độ, mà Phật nào chẳng cứu tử độ sanh. Nhưng cổ lệ Á Đông từ hồi nào vẫn đặc biệt giao trách nhiệm tiêu tai diên thọ cho đức Dược Sư ở phương Đông. Còn tiếp dẫn người mất thì đặc biệt gửi đức A Di Đà về phương Tây. Đó là cốt cho kẻ sơ tâm có nơi y cứ và người giản dị dễ hiểu mà thành tựu định tâm. Đức Dược Sư tên là Lưu Ly Quang. Hai vị Bồ-tát hầu cận tên là Nhật Quang và Nguyệt Quang. Cúng dường quý ngài phải 49 ngọn đèn. Bởi vì cần ánh sáng trí tuệ mới có thể cứu bệnh tận gốc. Bát Nhã Kim Cang từ tâm địa lưu ly phát ra mới có thể thanh trừ vô minh cố tật. Kinh dạy: “ Bảy ngày thọ bát quan trai giới, thân sạch sẽ, miệng ăn chay, tâm không tham dục, không giận hại ai, đối với hết thảy hữu tình khởi tâm lợi ích an vui, từ bi hỷ xả, bình đẳng hoà nhã, tụng kinh Bổn Nguyện Dược Sư, suy nghĩ nghĩa kinh rồi đem diễn thuyết khai thị cho người. Thế thì tuỳ ý cầu gì cũng được, cầu sống lâu được sống lâu, cầu giàu có được giàu có, cho tới cầu đại Niết-bàn được đại Niết-bàn. Bất luận sự gì không hợp lý đều gọi là vô minh. Phật là giác sát phiền não, giác ngộ giải thoát vô minh. Hễ thanh trừ vô minh thì cầu gì cũng được. Tám vạn bốn ngàn trần lao đều từ vô minh khởi. Nên Giới Định Tuệ có thể giải tất cả oan, gỡ tất cả kết. Nam mô tiêu tai diên thọ Dược Sư Phật. Nam mô tuỳ tâm mãn nguyện Dược Sư Phật. 17. VÔ NGÃ “ Những bất hoà thường do thói quen dành phần phải về mình, có bao nhiêu sai quấy đổ cho người”. Chị em đọc sách, thấy đúng như vậy, cùng nhau quyết định từ nay bất cứ vấn đề gì, trách nhiệm hàng đầu của mỗi người là tự giác lỗi mình và khám phá cho ra những khía cạnh tốt của đối phương. Thế là yên chí hoà bình bảo đảm. Nhưng lần lượt việc này việc khác xảy ra, Họ tranh nhau nhận lỗi và rốt cuộc một cơn bão cấp 10 xuất hiện. Họ kết luận:” Quỷ tha ma bắt tất cả những phương thức đạo đức đi! Cứ đừng làm bậy là hơn cả”. Không tìm được gốc của lỗi lầm thì chẳng thể thành công trong việc sửa mình. Không kết quả hẳn trở lại báng các pháp môn tu là vô ích. Hạ mình xin lỗi, nhường cái phải cho người là biểu tượng thánh hiền. Nhưng nếu không biết gốc của thánh hiền là giác tỉnh, không tập quan sát vô thường vô ngã. Cứ mải lo dán mấy câu của sách vở vào đầu, đến nỗi bị ngay những chữ nghĩa này nó bịt mắt. Đổi tranh chấp thế gian thành tranh chấp đạo đức. Hai tướng ngã nhân còn đối lập thì vẫn nuôi dưỡng tham sân si. Tư tưởng thánh hiền bị tra hình, người bị lừa chính là mình. Kết quả là những cơn bão cấp mười đâu có lạ! Trở lại tuyên bố:” Không cần biết có lỗi hay không lỗi, chỉ một việc là đừng làm bậy nữa”. Lập trường này e nguy hiểm. Con người mấy ai sáng suốt. Phàm phu giơ tay cất bước tội đã ngang mày( kinh địa tạng). Cho nên cần thấy lỗi, cần sửa lỗi để dần dần trở thành không lỗi. Như thân nhơ bẩn nên đi tắm. Cứ như thế trọn đời, người này được coi là sạch sẽ. Tâm chúng ta cũng thế! Hôm nay lỡ lầm một câu nói sai, một hành động quấy, chúng ta tự giác xin sám hối. Thời gian sau lại tham lại sân, chúng ta lại sám hối. Cứ như thế trọn đời, tu sĩ này được Phật chấp nhận là thanh tịnh. Sám là rửa sạch việc đã qua. Hối là tiếc đã trót lỡ, nay cố gắng không tái phạm. Phiền não kết tập từ vô thuỷ, như cây đa cổ thụ đâu phải một nhát búa đã hạ được ngay. Phải tỉa dần dần. Nhưng đã có công mài sắt hẳn đã có ngày nên kim. Chúng ta vâng lời Phật, một mặt tự giác thấy lỗi lo sám hối. Đó là đẽo chặt cành lớn cành nhỏ. Một mặt quán vô thường, vô ngã để nhổ tận gốc vô minh. Các kết sử theo đây mà bật rễ. Trong không chấp ngã, ngoài không chấp pháp, bảo đảm bình an. Nguyện cầu đại chúng thành công trong sự nghiệp Quán Tự Tại. 18. HỮU DỤNG, VÔ DỤNG TUỲ CHỖ BIẾT DÙNG Ngày 02-05 âm lịch( 1983), được tin chính xác vào năm 1984 quyết định các chùa phải giải tán số đông. Phân vân không biết cho các em tiếp tục chương trình cũ hay nên dùng nửa năm vàng ngọc này để tu học một môn cần thiết. Nhìn ra thấy cuốn Triết Học Phương Đông, thử bói một quẻ. Vào bài này, ghi tạm để suy ngẫm: Phạm lãi bỏ nước Sở, vượt biển sang làm giàu ở đất Đào, đổi tên là Đào Du Công. Người con trai thứ còn lại ở nước Sở, bị bắt cầm tù. Chu Công lấy 1000 nén vàng sai con út đi lo. Con cả đòi đi, Chu Công không nghe. Cậu con cả nói:” Việc quan trọng mà cha sai con út, thế ra con cả vô dụng”. Cậu toan tự sát. Bố bất đắc dĩ cho đi, bảo cậu đem vàng và thư đến người bạn cũ là Trang Sinh, dặn dò:” Mặc ông ta xếp đặt. Cẩn thận đừng tranh khôn với ông ta”. Trang Sinh, nhà ở ngoại thành, vườn rau đơn giản. Cậu cả làm theo lời cha. Tranh Sinh nhận vật rồi đáp:” Anh nên về ngay. Em sẽ được ra. Anh đừng ở lại đây”. Cậu cả ngầm ở lại, tìm đến một nhà quyền quý ở Sở để nghe ngóng. Tranh Sinh thong thả vào cung, tâu vua Sở: Sao Mỗ đóng chỗ Mỗ có hại cho Sở. -Làm thế nào? -Chỉ dùng Đức mới trừ được. -Xin thầy về nghỉ, quả nhân sẽ làm theo. Liền sai sứ giả niêm phong ba kho tiền. Thường lệ nước Sở, mỗi khi đại xá tù nhân, thường dùng ba kho tiền để phát cho tù nhân có lương thực đi về quê. Tin xắp có âm xá đồn vang. Cậu cả cho rằng nếu có lệnh đại xá thì thế nào em mình cũng được tha. Ngàn vàng cho lão trang sinh phí uổng. Cậu trở lại gặp Trang Sinh. Trang Sinh giật mình: Anh chưa về à? -Thưa chưa, con tới đây vì việc thằng em. Nay nó sắp được lệnh ân xá nên con đến chào cụ để về. Trang Sinh biết ý cậu muốn lấy lại vàng, liền trả lại. Hôm sau Trang Sinh lại thong thả vào tâu vua Sở: -Tôi trước có nói về ngôi sao Mỗ. Vua hứa sẽ sửa đức để lợi dân. Nay tôi nghe đồn rằng: Vua không phải vì thương nước Sở mà ra lệnh đại xá đâu. Chỉ vì thằng con Chu Công đem vàng đút lót các quan hầu vua đó thôi. Vua Sở cả giận gia lệnh xử tử con Chu Công rồi mới đại ân xá. Cậu cả đưa xác em về. Chu Công nói: Ta đã biết, từ nhỏ nó chịu khổ nhọc làm ăn nên không thể dửng dưng với ngàn vàng. Còn thằng út đẻ ra đã giàu. Cưỡi xe rong ngựa, theo đuổi cầy cáo, phung phí tiền bạc, nào có biết từ đâu mà có. Vì thế hôm trước ta quyết định sai thằng út, chỉ vì nó biết coi thường ngàn vàng. Thằng cả thì không thế nên đã vô tình giết em. Dùng vào việc làm giàu thì thằng cả hữu dụng. Dùng vào việc cứu đứa con thứ thì thằng út hữu dụng. Gỗ tốt thì làm cột kèo, gỗ xấu thì làm củi. Bậc trí tuệ biết sử dụng hợp tình hợp cảnh nên hằng được lợi ích. 1. ĐỨC PHẬT A DI ĐÀ 1.DANH NGHĨA: Đức Phật A Di Đà làm giáo chủ cõi Tây Phương Cực Lạc. Tên ngài có ba nghĩa: 1-Vô Lượng Thọ: Thọ mạng vô lượng ( tánh giác thường trụ). 2- Vô Lượng Quang: Trí tuệ vô lượng ( tánh giác ở khắp mười phương). 3- Vô Lượng Công Đức: Hằng sa tánh đức diệu dụng. 2.KINH VÔ LƯỢNG THỌ: Thời Phật Thế Tự Tại Vương, vua Kiều Thi Ca nghe Phật thuyết Pháp, liền xuất gia làm Tỳ-kheo tên Pháp Tạng, phát 48 nguyện. Y nguyện tu hành sau thành Phật hiệu A Di Đà. Kinh bi hoa: Quan đại thần Bảo Hải có con là Bảo Tạng, tướng tốt dị thường, xuất gia thành Phật, hiệu là Bảo Tạng Như Lai. Vua Vô Tránh Niệm nghe Pháp, phát tâm cúng dường Phật và đại chúng 3 tháng. Bảo Hải khuyên vua nên phát tâm Bồ-đề, cầu đạo Vô-thượng. Vua nguyện thành tựu một cảnh giới cực kỳ trang nghiêm, đầy đủ phương tiện để giáo hoá chúng sanh. Bảo Tạng Như Lai thọ ký vua sẽ thành Phật hiệu A Di Đà, thế giới tên An Lạc. Bảo Hải sau này cũng thành Phật hiệu Thích Ca Mâu Ni. ( Kinh A Di Đà Yếu Giải đã in riêng) 2.NGÀY 11-11 BIỆT KHOA CÚNG TỔ QUẢNG BÁ ( Xem trong cuốn Pháp Bảo) 3.NGÀY 17-11 ĐẠI ĐÀN PHỔ TẾ Lễ Phật- Lễ Tổ-Khai Kinh-Tán Phật A Di Đà. Toàn chúng luân phiên ngày đêm cứ mỗi loài sau đây niệm Phật 10 tràng. ĐỊA NGỤC NHỊ KHOÁ HIỆP GIẢI A. ĐỊA NGỤC VÔ GIÁN: Thống khổ không ngừng, triền miên luỹ kiếp. B. TÁM ĐỊA NGỤC NÓNG: Sức lửa mạnh, hòn đá vuông 3m3 bỏ vào tức thời tiêu tan, hết hạn lại vào các địa ngục phụ. 1)Đẳng hoạt: Chúng sanh móng tay sắt cào nhau rớt thịt. 2)Hắc thằng: Dây sắt chói, búa sắt chặt. 3)Chúng hợp: Hai núi ép cho thịt nát xương tan. 4)Khiếu hoán: Nấu trong vạc dầu, kêu la inh ỏi. 5)Đại hô: Nấu trong chảo sắt, liệng lên tấm sắt quay rán. 6)Viêm nhiệt: Lò sắt rực đỏ. 7)Chúng nhiệt: Ngục tốt cầm cây thiết xoa đâm tội nhân rồi để dựng đứng trong hầm lửa đỏ. 8)Xe lửa: Lột da rồi để dưới xe lửa, bánh xe nghiền nát. 16 NGỤC PHỤ: 1)Rìu búa 2)Chó sói 3)Cây kiếm 4)Rừng dao 5)Cát đen( cháy da thấu xương) 6)Phân tiểu ( sôi nóng đổ vào miệng) 7)Đinh sắt (đóng khắp thân) 8)Nước đồng sôi ( rót vào miệng) 9)Hòn sắt nóng( bắt ăn) 10) Vạc đồng ( nấu sôi) 11) Nhiều vạc đồng 12) Cối đá( xay thân) 13) Mủ máu ( nấu sôi mình ở trong) 14) Đấu sắt nóng ( phải cầm đong lửa) 15) Sông tro nóng ( phải gieo thân vào) 16) Hòn sắt nóng( tay nắm sức lửa cháy khắp thân). C. TÁM ĐỊA NGỤC LẠNH Cũng như địa ngục nóng, tuổi thọ như 20 hộc mè 100 năm lấy ra 1 hột. Lấy hết là hết tuổi thọ. 1)Án phù đà ( rét ngặt thịt nát nhừ). 2)Vi lại phù đà ( gió lạnh thổi tới, thân thành bọt nước). 3)A tra tra ( lưỡi khua ra tiếng a tra tra). 4)A ba ba ( môi đập thành tiếng a ba ba) 5)Ẩu hầu hầu ( từ cuống họng phát ra) 6)Uất ba la ( thịt như ướp đá thành mầu tái xanh). 7)Ba đầu ma ( thịt đỏ tươi). 8)Phân đà lợi ( lạnh chẻ xương trắng). D. Ngoài ra trong nhân gian có các địa ngục rải giác ở các núi, trong lòng nước, ngoài cánh đồng. KINH LƯƠNG HOÀNG SÁM Các địa ngục:Võng sắt, tối tăm, hang sắt, xe đao, đá nhọn, máy sắt, hầm than, rừng gai, rừng cháy, nước sôi, đá mài, than nóng, trâu cày, hổ lang, phun lửa. KINH ĐỊA TẠNG Thông thường ( phóng đâm), sông lửa, dao bay, tên lửa, đao binh, núi dao, bùn lầy, trâu sắt, chó sắt, lừa sắt, ôm cột đồng nung đỏ, kéo lưỡi cho trâu cày, đốt tay, đốt chân, ăn mắt, tranh cãi, nhiều sân, voi lửa, chó lửa, ngựa lửa, trâu lửa, núi lửa, đá lửa, cưa răng, giường lửa, lột da, uống máu, treo ngược, nhà lửa, nhà sắt, thành lửa, rút lưỡi, chém chặt, mổ xẻ, ngu si, khóc lóc, mỏ sắt nhọn, giếng lửa, sỏi bay, gió nóng. QUỶ LOẠI Ngài Anan một mình trong rừng thiền định. Chợt thấy một ngạ quỷ miệng phực ra lửa, đầu toả khói, tay chân lóng đốt lửa cháy nổ tanh tách. Nanh và móng dài như gươm, xưng tên là Diệm Nhiên Vương, nói rằng: Nếu ông đem thức ăn bố thí cho trăm ngàn ức hằng sa ngạ quỷ. Và cúng dường Tam-bảo cầu cho chúng tôi siêu thoát thì ông được tăng tuổi thọ và tu chứng quả Thánh. Ngài Anan kinh sợ sớm mai bạch Phật. Phật dạy phương pháp xuất sanh, trì chú biến thực. Quỷ có bậc thần thông dời núi lấp sông. Có vị ẩn hiện biến hoá kém hơn. Có vị không oai đức chủng loại vô lượng. Các chánh thần có phước đức ở núi cao sông lớn, hưởng nhân gian cúng dường. Quỷ có phước không đức như Dạ-xoa, La-sát, lị mị hưởng cúng máu huyết. - Quỷ chịu 2 chướng: a) Nội chướng: Cổ như cây kim, miệng như ngọn đuốc, bụng rộng toàn lửa. Rất khó uống ăn. b) Ngoại chướng: Ở trong cảnh lửa hoặc mủ máu, dao đâm gậy đánh. - Quỷ có 3 phẩm chia thành 9 loài: 1- Có phước: Được ăn uống nhiều. a) Trông mong thờ cúng, đi trên hư không hoặc ở nhà xưa của mình, hoặc ở mộ địa được bà con cúng tế ( vì trước có bá thí). b) Ăn đờm dãi, phân uế, các thứ thiu thối. c) Thế lực lớn, cúng điện trang nghiêm. 2- Ít phước: Được chút ít ăn uống. a) Lông kim: Tự đâm, đâm người, đau đớn cuồng chạy, lâu lắm mới được ăn chút nhơ bẩn. b) Lông thối: Cào vóc nhổ lông, rách da xé thịt, đau đớn ngày đêm, lâu lâu được ăn chút nhơ bẩn. c) Bướu lớn: Nhức nhối chảy mủ máu hôi thối, lấy ăn cho đỡ đói. 3- Không phước: Chẳng được ăn uống, đói khát cuồng chạy. a) Miệng thối. b) Toàn thân là lửa như cây đuốc. c) Họng kim, bụng lớn như cái núi. 36 BỘ QUỶ THẦN 1.Vạc nước sôi nung nấu( làm nghề sát sanh hoặc có nợ không trả còn chống cự). 2.Miệng nhỏ như trôn kim. 3.Ăn đồ mửa. 4.Ăn phân. 5.Ăn lửa 6.Ăn hơi. 7.Ăn pháp ( xưa kia nói pháp cầu lợi nay đói khát chỉ nhờ nghe pháp mạng được tồn tại). 8.Khô khát thèm uống nước. 9.Hy vọng: Trông mong bà con cúng vái ( buôn bán dối trá lấy vật của người) 10. Ăn khạc nhổ (đã đem đồ bất tịnh cúng Tăng) 11. Ăn tràng hoa (đã ăn trộm hoa của Tam-bảo). 12. Ăn máu (hay sát sanh) 13. Ăn thịt 14. Ăn nhang. 15. Đi nhanh, lửa đốt cháy thân. 16. Mỗi lông trong mình đều tuôn lửa. 17. Hắc ám: Ở chỗ tối tăm có rắn cắn mổ ( xưa kia vì mưu cầu tiền bạc mà vu oan) 18. Đại lực thần thông nhưng chịu nhiều khổ não (Ăn trộm của người này đem cho người khác). 19. Phừng cháy ( giết người cướp của) 20. Rình con nít đại tiện để ăn hơi khí bất tịnh. 21. Dâm dục ( quyến rũ người làm việc này lấy tiền) 22. Ở cồn biển ( lừa dối người bệnh) 23. Cầm gậy hầu ( làm quan nịnh vua tạo ác). 24. Ăn thịt con nít. 25. Ăn tinh khí người. 26. La-sát ( sát sanh). 27. Ăn lửa (ăn vật của Tăng). 28. Ở các đường hẻm ăn đồ bất tịnh. 29. Ăn gió (ưa hứa suông) 30. Ăn than( hành hạ tội nhân không cho ăn uống). 31. Ăn chất độc. 32. Ở cánh đồng. 33. Ăn tro nóng chỗ thiêu thây người chết. 34. Ở dưới gốc cây ( người trồng cây bá thí mình ác tâm chặt đi) 35. Ở các nẻo đường giao thông ( bóc lột khách đi đường). 36. Ma ra: Ma phá hoại người tu hành. 4. THIÊN VƯƠNG THỐNG LÃNH 8 BỘ QUỶ THẦN 1.Càn-thát-bà ( nhạc thần). 2.Cưu-bàn-trà (hung dữ) 3.Tỳ-xá-dà (ăn tinh khí). 4.Tiết-lệ-đa (quỷ đói) 5.Phú-đơn-na (hôi thối). 6.Dạ-xoa. 7.Quỷ truyền tống 8.La-sát (Ăn thịt người). KINH ĐỊA TẠNG QUỶ VƯƠNG: Mắt ác, ăn thai trứng, hành bệnh, ác độc, đa ác, đại tránh, huyết hổ, xích hổ, tán vương, phi thân, điện quang, lang nha, ăn thú vật, đội đá, chủ hao, chủ hoạ, chủ phước, chủ tài, chủ súc, chủ cầm, chủ mị. chủ sản, chủ tật, chủ mạng, chủ hiểm, ba mắt, 4 mắt, năm mắt, kỳ lợi thất, đại kỳ lợi thất, kỳ lợi xoa, đại kỳ lợi xoa, a na tra, đại a na tra. KINH PETTAKKATHA 1. Atthíankhalika: Chỉ có bộ xương bay trong hư không, khóc la thảm thiết, chim đuổi theo mổ kẽ xương (đồ tể). 2. Mainsapesi: Khối thịt bị chim mổ xé( sát sanh làm kế sinh nhai). 3. Mainsapinđa: Cục thịt ( thợ săn). 4. Vicchavi: Thịt đỏ, trùng rúc rỉa. 5. Asloma: Lông như lưỡi dao nhọn bay lên bay xuống đâm vào thân. 6. Sattiloma: Lưỡi kiếm bay lên bay xuống đâm vào thân. 7. Usuloma: Mũi tên lên xuống. 8. Suciloma: Kim lên xuống (đã dùng sắt nhọn đâm thúc ngựa trâu chạy nhanh). 9. Cumbhanda: Ngọc hành thật to không ngồi được, cứ phải đi chim mổ rỉa ( xử oan người để đòi hối lộ). 10. Gidhakhađi: Ăn ở trong phân (đem đồ bất tịnh cúng dường Tăng Ni). 11. Okilini : Than nóng xối thân. 12. Ansakabandha: Không có đầu. Mắt mũi miệng ở giữa ngực ( làm nghề đao phủ). 13. Pabbazila: Thân lửa ( xuất gia phá giới). Những quỷ kể trên đã trả quả trong địa ngục, nay chịu dư báo từ 10 đến 500 kiếp. Trai tăng hồi hướng phước báo có thể siêu thoát. 14. Vantãsã : Lông tóc xồm xoàm, chân tay cong queo, bụng to phềnh, răng lởm chởm, thân hôi thối, ghẻ lở, ăn khạc nhổ, ở chỗ nhơ bẩn( xả rác, nhổ bẩn trên đất chùa) 15. Xunapà: Bụng phệ, mắt to bằng cái chén, răng bằng lưỡi cuốc, tóc phết gót, đầu to hơn thân, hôi thối tanh nồng, ăn ròng máu mủ và tử thi, nhưng càng ăn càng đói( cúng dường những thứ cấm cho người tu). 16. Gùtha: Ở gần cầu tiêu, ăn phân máu ( xấc xược với người tu, bỏn sẻn với cha mẹ). 17. Aggisala: Thân lửa bốc khói, đói khát mà không thể chết ( khinh báng Tăng Ni). 18. Sucimlbkha: Miệng nhỏ, dài, nhọn như cây kim, thân to lớn, trọn đời đói khát ở rừng sâu ( keo rít để cha mẹ đói). 19. Xanhại: Uống thì nước hoá lửa, ăn thì món ăn thành lửa (đã phá hoại vườn ruộng chùa). 20. Nijha: Miệng mọc đuôi dài hôi thối chẳng bao giờ được ăn uống (ác khẩu với Tăng Ni, chế giễu người tàn tật, ly dán người giới hạnh). 21. Sabbanka: Mình đầy ghẻ lở, ruồi nhặng bu khắp. Đói quá, lấy móng tay nhọn như dao, tự móc thịt ăn. Vừa ăn vừa khóc, càng ăn càng đói. Loại quỷ này rất nhiều ở các thung lũng, núi non và cồn bãi ( bất hiếu cha mẹ, phản bội ân nhân). 22. Pabbanka: Thịt cứng như đất, lửa cháy đỏ, đói khát cả triệu năm ở trên núi ( chửi oan người đức hạnh). 23. Ajagara: Thân dài như con trăn, mình lớn bằng con voi, nhiều đầu cọp chó mèo gà khỉ v.v...Khắp mình lửa cháy, đói khát trường kỳ, ngày đêm kêu khóc. Ở núi rừng cồn bãi có rất nhiều loạ này( hung dữ mẳng chửi cha mẹ và những bậc đức hạnh). 24. Vemanika: Nửa tháng thọ vui như ở cõi trời, nửa tháng thọ khổ ở địa ngục tra khảo chúng sanh. Đói khát đau khổ vô cùng( si mê ai rủ làm tội thì làm tội, ai rủ làm phước thì làm phước). 25. Mahiddhika: Thân đẹp như thiên tử, thần thông bay trong hư không, y phục toàn ngọc báu, nhưng thân thể hôi thối. Món ăn cứ đặt vào miệng liền biến thành sắt nóng nung đỏ, cháy xém mồm miệng ruột gan( xuất gia tà mạng, cầu danh lợi phá giới). 26. Ahi: Mình rắn đầu người. Lớn như trái núi, giãy rụa khóc la, sống lâu trong rừng núi( sân giận phá chùa am). 27. Nimygga: Cứ phải cắm đầu xuống hầm phân, ăn đầy bụng mới trồi lên được, rồi lại cắm đầu xuống cứ thế trọn đời (tà dâm để thống khổ cho vợ con). Tội ở địa ngục, nay là dư báo. 28. Sukara: Đầu heo miệng lở thối, trôi nổi trong hư không, diều hâu mổ cắn ( mưu mô bóc lột người). 29. Chataka: Không quần áo, không ăn uống, sống lâu 90 kiếp, giống quỷ này rất đông ( không kính Tam-bảo). 30. Surruta: Ban ngày cầm búa đập nhau bể sọ, sưng nát mình mẩy. Ban đêm lửa cháy toàn thân. Đến sáng lửa tắt, lại cầm búa đập nhau ( buông lung uống rượu, chơi chọi trâu, chọi gà v.v...) TỪ BI SÁM PHÁP 1. Mỗi bên nách đều có sắt nóng đốt thân cháy rực ( Sadi chia bánh cúng chúng, ăn trộm 2 chiếc, kẹp nách) 2. Trên vai có bình nước sôi, tự tay lấy gáo múc sối lên đầu, đau đớn than khóc( Duy na nấu sữa, đợi khách Tăng đi rồi mới chia cho chúng trong chùa). Tất cả những tội trên đây đều là hoa báo, quả ở địa ngục. Chúng con cũng đã từng phạm những tội như thế. Vô minh che chướng không tự nhớ biết. Nay đầu thành niệm phật cầu xin sám hối cho bản thân, xin sám hối cho cha mẹ, Sư trưởng, đồng đàn tôn chúng thượng tôn hạ toà, xin sám hối thay thế tất cả bốn sanh sáu đạo mà quy y thế gian đại từ bi phụ. BÀNG SANH Loài rồng, chim cánh vàng. A/ LOÀI CÓ XƯƠNG SỐNG: 1.Bốn chân: Bò, trâu, sư tử, gấu, voi, hươu, nai, bò tót một sừng, lừa, lạc đà, khỉ, vượn, ròng rọc, đười ươi, cọp, beo,báo, sói, thỏ, mang ( con đỏ), nhím, chồn, cáo , ngựa, heo, dê, mèo, chó, chột, tắc kè, thằn lằn, kỳ nhông,thạc sùng, rắn mối, kỳ đà, hoẵng, rái nước, heo rừng, tê giác, trâu nước, nhái, cóc, ếch, chàng hiu. 2.Hai chân: Gà, vịt, ngỗng, ngan, chim 3.Không chân: Rắn, trăn. B/ LOÀI KHÔNG SƯƠNG SỐNG: Cuốn chiếu, bọ chét, rết, nhện, sâu, bọ nẹt, kiến, dán, mỗi, sùng, bọ cạp, chấy rận, ve chó, tằm, run, nhộng, ong, tò vò, phù du, mạt, sán, rệp. Không sương sống có cánh: Bướm, chuồn chuồn, đom đóm, bù xoè, châu chấu, cào cào, muỗm, bọ ngựa, ong, mối, nắc nẻ, dế, ve sầu, muỗi, ruồi, rầy,thiêu thân, cánh cam. Bọ hung. C/ LOÀI DƯỚI NƯỚC: Cá, sứa, mực, cua, vọp, sò, tôm. LOÀI NGƯỜI Châu Á, Châu Âu, Châu Phi, Châu Mỹ, Châu Úc, Nam Cực, Bắc Cực. CÕI TRỜI Vô sắc giới, Sắc Giới, Dục Giới. KẾT NGUYỆN (mỗi nguyện 10 tràng) 1. Nguyện hết thảy chúng sanh giải thoát phiền não chướng ( tham sân si) 2. Nguyện hết thảy chúng sanh giải thoát nghiệp chướng( sát, đạo, dâm, vọng). 3. Nguyện hết thảy chúng sanh giải thoát báo chướng sáu căn, năm ấm oan gia đối đầu. 4. Nguyện hết thảy chúng sanh không vì miếng ăn mà tạo ác. 5. Nguyện hết thảy tà đạo trở về chánh kiến. 6. Nguyện hết thảy chúng sanh đã hiểu đạo tiểu thừa tiến lên đại thừa. 7. Nguyện những ai tu phạm hạnh đều được đầy đủ tam tụ giới. 8. Nguyện những ai trót đã phạm giới không đoạ ác thú, biết sám hối trở về tịnh giới. 9. Nguyện tất cả tật bệnh tiêu trừ. 10. Nguyện tất cả tai nạn giải thoát. 11. Nguyện những cảnh giam cầm lao ngục chuyển thành an lạc tự do. 12. Nguyện mười phương chúng sanh thoát khỏi lưới ma cùng nhau quy y Tam-bảo. Bát nhã-Hồi hướng-Tam quy 4. NGÀY 01-12 NI TỔ MA HA BA XÀ BA ĐỀ KIỀU ĐÀM DI MẪU Ma-ha: Đại: Lớn. Ba Xà Ba Đề: Sanh chủ. Ấn Độ thời xưa, những nhà quyền quý sanh con, thường mời Thầy tướng xem tương lai đứa trẻ. Rồi tuỳ đó mà đặt tên. Sanh chủ là chủ sự sinh sống. Bà nuôi thái tử Tất Đạt Đa từ lọt lòng đến khôn lớn. Bà là người gây dựng ni chúng trong nhân loại. Bà cùng Ma Gia phu nhân là hai chị em ruột, con vua nước Kô Sa La. Ma Gia : Ma Ra: Huyễn hoá. Ma Gia phu nhân sanh thái tử Tất Đạt Đa được 7 ngày thì mất. Một người thọ mạng non yểu, chỉ thấp thoáng hiện thân nên được tên là Ma Ra.Bà Ma-ha Ba Xà Ba Đề vừa là dì ruột vừa là mẹ kế của thái tử. Kiều Đàm Di Mẫu. Kiều Đàm đúng chữ là Cù Đàm. Di Mẫu là mẹ kế. Đức Phật họ Cù Đàm, tên Tất Đạt Đa. Sau khi vua Tịnh Phạn chứng Tu-đà-hoàn rồi mất, bà Ma-ha Ba Xà Ba Đề cũng chứng Tu-đà-hoàn rồi xuất gia, được pháp hiệu là Đại Ái Đạo Tỳ-kheo-ni. Thuở ấy đức Thế Tôn ở nước Thích Xí Xấu, vườn Ni Câu Luật, bà cùng 500 quận chúa tới đảnh lễ xin xuất gia. - Này Cù Đàm Di! Người nữ xuất gia hành đạo thì Phật pháp chẳng thể trụ lâu. Thế Tôn du hành tới nước Câu Tát La, thẳng đường đến nước Xá Vệ, về ở Kỳ Hoàn tinh xá. Bà cùng 500 quận chúa, cạo tóc, mặc cà sa, từ nước Ca Tỳ La Vệ đến nước Xá Vệ, đi bộ tét chân, bụi đất đầy mình, đứng khóc ở cửa tinh xá. Ngài Anan thương xót vào bạch Phật xin cho nữ nhân xuất gia. - Này Anan! Nhà nào con trai ít, con gái nhiều thì biết nhà ấy suy vi. Ruộng lúa đang tốt, gặp mưa đá sẽ bị hư hoại. Nữ nhân xuất gia thọ đại giới, Phật Pháp sẽ chẳng trụ lâu. - Bạch Thế Tôn! Bà Ma-ha Ba Xà Ba Đề có ân lớn, đã thay mẫu hậu nuôi đức Thế Tôn đến ngày nay. -Thật thế, song ta cũng đã đền ân, đã khiến bà biến đến Tam-bảo. Ân này thế gian không chi sánh bằng. -Bạch Thế Tôn! Nữ nhân xuất gia thọ đại giới có thể được quả Tu-đà-hoàn đến A-la-hán không? - Được!- nếu thế thì xin cho họ xuất gia.. - Phải chịu phụng hành Bát Kinh Pháp trọn đời mới được. Bà ma-ha Ba xà ba Đề thưa với ngài Anan rằng: “ Trọn đời đỉnh thọ phụng trì Bát Kinh Pháp mà được giới thẩm Tỳ-kheo-ni thì có khác chi được tắm gội sạch sẽ rồi đặt tràng hoa lên đầu, Thật là bội phần trang nghiêm.” Như thế Bà Ma-ha Ba Xà Ba Đề cùng 500 quận chúa được xuất gia thọ giới. Phật dạy: “ Chánh pháp đáng lẽ trụ thế 1000 năm. Nay vì cho người nữ vào đạo, chánh pháp chỉ còn 500 năm”. Ngài Anan chảy nước mắt, lễ chân Phật, nhiễu quanh Phật 3 vòng rồi lui. TRUY MÔN CẢNH HUẤN QUYỂN 3, BÀI ĐỘ NI GIÁO Ý: Di Mẫu của Phật thâm chán sanh tử, cầu xuất gia. Phật không cho vì nữ tánh hèn kém. Người đời coi thường, khiến chánh pháp bị giảm mất một nửa. Sau ngài Anan xin hộ mới được. Lời Sớ nói: Nữ báo hoặc sâu chí cạn, ưa lười biếng kiêu mạn nên cần Tăng Ni mỗi bộ mười vị giới sự mới phát được thắng tâm. Theo như các luật thì chỉ có bà Đại Ái đạo được nương 8 Kính Pháp mà thành thọ giới. Còn 500 Ni kia phải nương chúng 11 vị( Tăng 10 vị và bà Đại Ái Đạo làm Hoà-thượng). Về sau, từ khi nước Sư Tử có Tỳ-kheo-ni học thông kinh luật mới đặt ra nghi thức hai chúng cho thọ giới. Vì phải có Yết ma của Đại Tăng mới đắc giới( y 8 Kinh Pháp). Cho nên Cầu Na Bạt Ma Thánh giả nói: Nếu không đủ 2 chúng thì chúng 11 vị như việc bà Đại Ái Đạo cũng được. Đại Ái Đạo Tỳ-kheo-ni thường trụ ở Ca Tỳ La Vệ vì Ni Luật không cho phép du phương tham học, cũng không được đi cá nơi giáo hoá ( người nữ có cái luỵ về hình hài mà thời xưa đường giao thông rất thiếu phương tiện). Bà chứng quả A-la-hán. Trong hội Pháp Hoa, bà được thọ ký sẽ thành Phật, hiệu là Nhất Thiết Chúng Sanh Hỷ Kiến Như Lai. Chùa ta lấy ngày an vị thánh tượng ở Linh Quang làm ngày cúng giỗ hàng năm. 5.NGÀY 08-12 ĐỨC THÍCH CA THÀNH ĐẠO Hôm nay mùng 8 tháng chạp, dưới gốc Bồ-đề, giờ sao mai mọc, chúng ta làm lễ kỉ niệm ngày đức Bổn Sư thành đạo. Theo con mắt thế gian thì Phật thành đạo rồi, ngồi im lặng hưởng pháp lạc. hai mươi mốt ngày sau mới qua vườn Lộc Uyển, giảng pháp Tứ Đế cho 5 anh em ông Kiều Trần Như, gọi đây là lần chuyển pháp luân đầu tiên. Theo kinh sách đại thừa thì đức bổn sư là hoá thân của đức Lư Xá Na. Đức Lư Xá Na thành Phật đã lâu lắm rồi. Cõi Phật Lư Xá Na, Hoa Tạng thế giới, hình giống như bông sen 1000 cánh. Đức Lư Xá Na ứng hiện 1000 thân. Mỗi ứng thân giáo hoá một cánh sen. Mỗi cánh sen có ngàn trăm ức hoá thân. Đức Bổn Sư của chúng ta là một hoá thân. Trong khi người thế gian thấy ngài một mình ở dưới gốc Bồ-đề thì các bồ-tát thấy ngài đang cùng vô lượng đại chúng, gồm đủ cả bốn thánh sáu phàm, giảng về 10 tín. Đồng thời ở Đao Lợi thiên cung, vua Đế Thích cùng quyến thuộc dự Pháp hội dạy về 10 trụ; ở Dạ Ma thiên có pháp hội dạy về 10 hạnh; cõi trời Đâu Suất có pháp hội thập hồi hướng; Tha Hoá Tự Tại thiên cung có Pháp hội Thập Địa v.v...như thế khắp không gian, khắp thời gian lúc nào con đường thành Phật cũng đang được vạch bày, tuỳ theo căn cơ và duyên phước chúng sanh. Pháp môn Vô-thượng Bồ-đề đang được vang vang truyền bá, không một sát na rảnh hở. Thật là diệu thuyết thường hằng. Kinh Hoa Nghiêm là phương pháp tu hành thông cho cả mười phương cõi. Chẳng phải là một giáo hoá tuỳ cơ nghi. Lời dạy cùng cực xứng tánh. Đây là then chốt của nhất thừa. Vì thế sau 600 năm Phật Niết-bàn, Long Thọ Bồ-tát vào long cung, được xem bộ kinh huyền áo này, vội học thuộc đem về nhân gian truyền bá ở Ấn Độ. Chỉ cần một bài kệ cũng đủ phá địa ngục cho chúng sinh. Cất tiếng xưng 7 chữ Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh tức là đã có tổng danh của vô tận kinh tạng. Từ đó các sư đại thừa, trọn mạng sống hoằng truyền, khiến chánh Pháp mãi mãi thạnh huy. Sau khi Phật thị tịch 500 năm, đạo Pháp ở Ấn Độ còn là thời chánh Pháp, thì kinh này vì chưa cần đến nên vẫn ẩn tại long cung. Hết thời chánh pháp, các Bồ-tát mới lưu thông kinh này, để vẽ đường thành Phật cho những khách còn đoạ đày trong tám nạn. Trước hết kinh trình bày chánh báo và y bào không thể nghĩ bàn của đức Lư Xá Na cho chúng ta vui mừng phát tâm mong cầu. Kế là con đường tu học thập Tín, quan sát pháp giới trùng trùng duyên khởi, vô ngã, vô thường, khổ và không. Tất cả đều duy tâm tạo. Luân hồi đã do tâm tạo mà hiện có thì giải thoát cho đến Vô-thượng Bồ-đề cũng do tâm mà hành biện. Được thập tín rồi tiến lên học thập trụ( 10 trùng lý Bát Nhã từ cạn đến sâu). Có thật hiểu đệ nhất nghĩa đế mới chịu an trụ vào chân lý. Trăng sáng, sông lặng, 3 con thuyền, 1 đình trụ, 1 về Nam, 1 về Bắc. Nam thấy trăng kia ngàn rặm theo về Nam. Bắc kia thấy trăng kia ngàn rặm theo về Bắc. Người đình trụ thấy trăng không xê dịch. Thế là vầng trăng bất động mà ở cả ba nơi. Như Lai ứng hiện cũng thế. Tức thể là dụng, không đâu chẳng cùng khắp. Đi hay ở tại chỗ là tuỳ duyên. Phật không động tĩnh mà vẫn khắp phó quần cơ. Như trăng kia thật vẫn ở trên trời mà chúng sanh tự thấy có trăng Nam trăng Bắc. Vì chuyên về Bát Nhã nên tịnh hạnh là thông tu của thập Trụ. Dùng 10 cảnh làm duyên để tác ý quan sát: Thân, thân nghiệp; ngữ, ngữ nghiệp; ý, ý nghiệp; cùng Phật Pháp Tăng và giới. Sơ Phát Tâm trụ, công đức đã ngang với hư không. Trụ nơi chân tâm bản tánh rồi, thập Hạnh dùng 10 ba la mật để phát huy công dụng. Tiếp đến đại bi khắp trùm là hồi hướng chúng sanh. mong cầu đại trí là hồi hướng Bồ-đề. Tin, Hiểu, Hạnh, nguyện đã chu viên, thân chứng chân như, tròn đủ thập địa, gọi là đẳng giác. Rồi lên Diệu giác tức là thành Phật. Cuối cùng phẩm Nhập Pháp Giới mượn một điển hình là Thiện Tài, để trình bày thứ lớp tu chứng, tất cả ngôi vị từ sơ phát tâm đến vô thượng quả. Thỉnh đại chúng đọc qua vài trang chánh văn để tự thân nếm pháp vị ( chúng đọc Hoa Nghiêm kinh, phẩm Nhập Pháp Giới). Văn thù nên biểu thập tín, cũng là căn bản trí, Bát Nhã trí. Tri này ai cũng sẵn đủ, chỉ cần vẹt hết vô minh thì tự hiển lộ. Văn thù cùng đi với cô lượng Bồ-tát, nêu bát Nhã dẫn đường vạn hạnh. Văn thù từ lầu gác Thiện trụ mà ra. ý nói y vào tự lợi mà lợi tha, trước tự giác tỉnh sau giác tỉnh cho người. Xá Lợi phất đem 6.000 Tỳ-kheo đến yết kiến Văn thù. Xá Lợi Phất nêu biểu trí tiểu thừa trợ giúp đại thừa. Con số 6 nêu biểu 6 căn thanh tịnh có thể nhập pháp giới. Nghĩa là có căn khí đại thừa, có thể trở về chân tâm bản tánh. Văn thù dạy 10 hạnh xu hướng đại thừa. Mười câu, mỗi câu đều nhắc “hông chán mỏi”. Vì chúng sanh vô biên, pháp môn vô tận, nếu chấp tướng mà tu hay sanh mỏi nhọc, thành thoái đoạ. Nếu không chán mỏi thì Phật quả nắm chắc trong tay. Thiện tài nói 34 bài tụng, đại ý thương thân trầm nịnh, thỉnh Văn Thù cứu vớt, dạy Bồ-đề đạo. Văn thù đáp toàn vẹn 10 câu hỏi: Nếu thấy nhiều Phật, nghe pháp ( 10 tín) tức có thể học, hiểu ( 10 trụ), tu trì ( 10 hạnh), thành tựu đại nguyên ( 10 hồi hướng), sẽ chứng nhập chân không chẳng ngại diệu hữu ( 10 địa) vào biển phương tiện mà an truh Bồ-đề. Lời đáp đại thành tổng giáo các pháp, hiển trong 10 tín ở văn kinh. Khuyên cầu thiện tri thức không được do dự. Bảo tìm cõi Thắng Lạc, núi Diệu Phong, Tỳ-kheo Đức Vân. Thắng là siêu vượt. Lạc là an vui. Bởi vì tiến lên Sơ Trụ, sự an vui thắng vượt 10 tín. Núi tiêu biểu sự tịch tĩnh không động. Phải lên cao mới có thể thấy khắp. Sơ Trụ tâm mới hiểu giải, y định phát tuệ, tịch nhiên không động, trí giám không sót, thấu triệt nhân quả, quan sát vạn loài. Tên núi Diệu Phong vì ai lên đỉnh tâm này liền thành chánh giác. Tỳ-kheo nêu biểu đã ra khỏi phàm phu và ngoai đạo. Tên Đức Vân nghĩa là đức như mây. Mây có bốn ý: 1) Phổ khắp. 2) Nhuận trạch. 3) Che chùm. 4) Rót mưa, nêu biểu 4 đức định, Phước, Bi và Tuệ. Vì Đức Vân là Bồ-tát Tỳ-kheo. Bồ-tát tâm lớn thường làm phước. Định và Tuệ là chỗ tu thiết yếu của Tỳ-kheo. Bắt phải cầu thiện bạn để làm quỹ tắc cho tất cả hậu lai tu hành, cầu pháp không lười mỏi. Bạn lành nói pháp không xẻn tiếc. Thiện bạn là toàn phạm hạnh như vua A Xà Thế được gặp Kỳ Bà, như vua Diệu Trang Nghiêm được gặp Tịnh Đức và Tịnh Tạng. Tự phá ngu chấp kiêu mạn, hạ mình học hỏi, khắp kính phụng sư. trong vô cầu vẫn thỉnh cầu. phá chấp thiên không, khiến tức sự thức hành, thà học ít mà chứng nhập. Thiên Tài thấy Đức Vân kinh hành chậm rãi ở một ngọn núi khác, sau 7 ngày tìm kiếm ( 7 ngày nêu biểu 7 giác chi trợ đạo. Kinh hành là quán, đi chậm rãi là chỉ). Đây là ngôi Sơ Phát Tâm Trụ. Vì trí tuệ Trụ ở tánh Bát Nhã đã được bất thoái. Đức Vân dạy:” Ta được tự tại quyết định giải lực, tín nhãn thanh tịnh trí quang chiếu diệu”. Đây chính bày pháp giới tức là niệm phật Tam Muội. Tự tại: Quán cảnh tự tại, tác dụng tự tại. Quyết định: Trí quyết đoán, đã được lòng tin không do dự. Giải: Hiểu rõ.Lòng tin và trí tuệ giúp nhau. Cảnh ngoài không thể động lay gọi là lực, nghĩa là tam muội. Tín nhãn thanh tịnh: Con mắt thấy rõ nên lòng tin chân chánh. Tu niệm phật tam muội trước phải chánh tín, kế dùng trí mà quyết liễu, rõ thấy phân minh. Kinh Văn Thù Bát Nhã dạy niệm Phật nhất hạnh tam muội, trước nói về chân pháp giới bất động. Biết chân pháp giới không động dao là nghĩa hiểu giải quyết định trong đây. Cho nên Niệm Phật việc đầu tiên phải học Bát Nhã. Nhất Hạnh: Hệ duyên pháp giới một tướng tức là hệ duyên pháp giới bất động. Hoà-thượng Cao Tề Đại Hạnh nói rằng:” Hai chữ TIN NHỚ không lìa tâm, kinh xưng danh hiệu Phật không lìa miệng”. Phật không lìa miệng, không lìa tâm. Phật tức cứu hộ. Tâm thường nhớ Phật, miệng thường xưng danh, thân hành lễ kính, mới gọi là tin sâu. Cứ thế sớm chiều, trọn không tạm trụ ở các Pháp sanh tử. Thanh Lương quốc sư đem việc này sách tấn kẻ sơ tâm, cho đây là việc rất quan trọng. Tin nhỡn khắp quan sát không gì chẳng phải là Phật. Đây là bậc thượng căn. Còn thông thường, người tu niệm Phật tam muội trước quán Hoá-thân, kế quán Báo-thân, sau mới quán pháp-thân. Đây đức vân quán cả 3 một lúc. Mắt tin thanh tịnh là đã lìa tất cả chướng ( ngũ cái và chấp thủ dù chìm dù nổi) để chứng tam muội. Kinh dạy:” Không thấy vạn pháp như huyễn thì thấy mà không thấy, đó là kẻ loá mắt”. Nếu còn phân biệt, còn chấp tướng chẳng thể thấy phật. Phải rốt ráo hoàn toàn lìa đắm trước mới thấy Phật. Tín nhỡn khắp quán vạn pháp, tánh thể đều là chân như, gọi là trí quang chiếu diệu. Thấy lìa tướng như thế tức là đầy đủ thanh tịnh nhất hạnh tam muội. Vì nhất hạnh là nhất pháp giới hạnh. Trên đây là nội dụng. Còn sau là ngoại dụng:” Đi khắp mười phương tất cả cuốc độ. Cung kính cúng dường tất cả chư Phật”. Đã cùng cực nguần tịch chiếu thì bất động mà đi, công dụng hẳn vô cùng. Thường niệm tất cả chư Phật, tổng trì tất cả chánh pháp. Thường thấy tất cả mười phương chư Phật, tổng trì tất cả chánh pháp. Thường thấy tất cả mười phương chư phật nghĩa là thường đến nên thấy tại chỗ. Thấy rõ từng sự việc như là sắc tướng quang minh, đạo tràng trang nghiêm, thần thông du hí, tuỳ tâm chúng sanh tin ưa mà thị hiện các thứ giáo hoá v.v... Thiện bạn đầu tiên dạy niệm phật, vì đây là đầu vạn hạnh. Trí Độ Luận dạy rằng:” Bồ-tát lấy Bát Nhã ba la mật làm mẹ, niệm phật tam muội làm cha. Vì có y Phật mới thành các thắng hạnh”. Lại là ngôi sơ trụ duyên Phật phát tâm, vui thích cúng dường. Vì niệm Phật công cao mà dễ tiến. Vì quán Phật thông cả cạn sâu nên có thể khắp nhiếp chúng sanh. Niệm Phật tiêu diệt trọng chướng. Niệm Phật là kiêm cả niệm người và niệm pháp nên dễ gia hộ. Luôn một lúc Đức Vân nêu ra 21 môn niệm Phật. Trước nói tên sau hiển tướng. Cả 21 môn đều là niệm thể và dụng vô ngại của Phật. Quán pháp-thân, Báo-thân, Hoá-thân. Mỗi thứ đều có y báo chánh báo thành 6 pháp quán. Pháp-thân thì có pháp tánh độ. Báo-thân thì Hoa Tạng các cõi là y báo, 10 thân tướng hải là chánh báo. Còn Hoá-thân thì 32 tướng hảo là chánh báo, quốc độ đang thị hiện là y báo. Cảnh trùng trùng đế võng là nhập Phổ Hiền niệm Phật tam muội. Môn cuối cùng này là thông tướng. 20 môn trên là biệt tướng. Môn số 18 là tổng tướng duy tâm, thị tâm thị phật vì thị tâm tác phật. Số 19 tuỳ ngã tuỳ tâm, vì tâm có nhiều thứ nên thấy Phật có khác nhau. Tông Tịnh-độ ở Việt nam giản dị theo kinh A Di Đà, chuyên niệm danh hiệu Phật để cầu vãng sanh, thuộc về sự lý vô ngại, do Hoá Thân Phật Thích Ca Mâu Ni đề xướng. Ngày 08-12, cách đây 2500 năm, là ngày đức Thích Ca thị hiện thành đạo, ở dưới gốc cây Bồ-đề, hứa hẹn giải thoát vô minh cho nhân loại. Ngày Tết Bô-đê! Kể từ ngày ấy, cây bồ-đề được làm tiêu biểu cho chánh giác thế gian. Kể từ ngày ấy, trí tuệ loài người trên trái đất này chợt le lói như sao mai lấp lánh trong màn đêm. Từ ánh sáng của sao mai, một tia hy vọng mát mẻ, báo trước thế gian tối tăm sẽ biến thành rực rỡ quang minh, tắm trong huy hoàng chiếu diệu của mặt trời trí tuệ. Cung thỉnh đại chúng ngửa lên ngắm sao mai mọc mà vui mừng. Tánh của chúng ta không phải là tối đặc, là si mê. Chúng ta là ánh sáng. Kinh Hoa Nghiêm, Phật tuyên bố câu nói lịch sử:” Lạ lắm thay! Hết thảy chúng sanh đều đầy đủ đức tướng, trí tuệ của Như Lai”. Ngôi thập Tín là ánh sáng của sao mai. Thập trụ là minh tướng xuất hiện. Thập hạnh, thập Hồi Hướng là bình minh. Thập địa là thật rõ ban ngày. Đẳng Giác Diệu giác là mặt trời tới đỉnh. Ai chưa đi học cho rằng mặt trời mọc để rồi lặn. Người có học biết mặt trời không hề có mọc có lặn. Ngày 08-12 tuyên bố cho thế gian biết trí tuệ chánh giác vẫn thường trụ ở khắp mười phương. Muôn loài ai cũng có tánh Phật và sẽ thành Phật. Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật ( 3 lần) 6.CHƯƠNG TRÌNH XẢ Y CÔNG ĐỨC (16-12) - Lễ Phật - Lễ Y - Lễ 18 A-la-hán. - Đại chúng tạ Thầy. - Đáp từ. - Tặng quà thưởng Tỳ-kheo-ni trì y. - Bát Nhã - Hồi Hướng – Tam quy. - Chúng nhỏ giải tán. - Chúng Tỳ-kheo-ni lưu lại yết ma xả y công đức, - Vị trì y ở giữa chúng bạch: “ Con Tỳ-kheo-ni...vì Tăng trì y công đức đã xong”. 7. ĐẠI CHÚNG BẠCH TẠ SƯ CÔ BAN THỦ Kính thưa Sư cô Giám Thiền! Mùa y công đức năm nay chúng Liên Hoa thực hiện khẩu hiệu “ Im lặng – chăn trâu - xả ngã “. Rất may mắn cho chúng con được Sư cô hướng dẫn tận tình. Tuy thời gian không bao nhiêu, nhưng chúng con được nếm chút thiền vị, tập làm quen với pháp môn Tứ Niệm Xứ. Thưa Sư cô! Những ngày đầu tiên chắc Sư cô phải vất vả nhiều, vì chị em chúng con bỡ ngỡ. Sư cô phải hướng dẫn, sửa chữa từng tư thế, cách ngồi, tay, chân, vai, lưng, mắt, điều hoà hơi thở ra vào, sao cho đúng pháp khỏi sanh bệnh. Những buổi trình pháp, chúng con được học thêm nhiều kinh nghiệm trong sự tu hành. Sư cô ân cần nhắc nhở chúng con: - Phải ghi niệm không được lười mỏi. - Phải giữ miệng im lặng, để tâm vào đề mục thiền. - Phải theo dõi hơi thở, không cho vọng tưởng sanh. - Phải cố gắng hàng phục hôn trầm. - Luôn luôn thắp sáng trí tuệ, soi chiếu từng hơi thở, soi chiếu tiểu oai nghi v.v... Thật quý báu thay những giờ tu tập, chúng con đã tiến bộ dần. Nhờ để ý hơi thở, chúng con hàng phục được vọng tâm, khắc chế miệng đỡ nói tạp, vui vẻ hoà nhã với chị em. Nhờ để ý hơi thở chúng con thấy rõ sự sanh diệt, thấy rõ thân mạng vô thường, xây dựng trên hơi thở ra vào mong manh. Mỗi khi xúc sự, tâm muốn nổi sân, thoáng thấy Sư cô, chúng con vội nhớ lại bổn phận. Liền khởi trí quán:” Sân à! Sân à!”, “ vọng tưởng a! vọng tưởng a!?” Nhận rõ bộ mặt của chúng thì chúng khắc tan. Tuy chỉ trọn vẹn có năm tháng, mà chúng con cũng đã thâm nhập được một phần nào hương vị giải thoát. Chúng con ao ước sau khi mãn khoá lại được phước duyên tiếp tục công phu, sâu vào hành pháp Tứ Niệm Xứ, để tiến dần đến Bát Nhã Trí, chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ hết thảy khổ ách. Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. BAN THỦ ĐÁP TỪ Đang khoá chuyên tu, chị em chỉ có một việc theo dõi tâm mình. Quan sát cảm giác và tư tưởng đến rồi đi, không để tâm dính mắc bất cứ một chuyện gì. Chú tâm tỉnh thức trước những sự đang xảy ra dù ngoại cảnh hay trong tâm. Hình thức tu hành tương đối khắt khe gò bó. Năm tháng vừa qua đã đưa chị em vào khuân khổ oai nghi thánh hiền. Nay mãn khoá, tạm nghỉ, chị em trở về nếp sống bình thường. Chớ quên mọi việc làm, mọi tác động đều là cơ hội thực tập thiền quán. Bất cứ công việc gì, quét dọn, phị bếp, rửa chén, v.v...phải chú tâm tỉnh thức, giữ chánh niệm. Đừng nghĩ rửa nhà cầu, đổ ống nhổ chỉ ích cho người khác. Nên biết tất cả đều là giáo pháp. Đừng nghĩ chỉ mong thời khoá mới hành thiền. Không lẽ ngoài các khoá tu ta không thở sao? Ta có thể đọc sách, tìm hiểu thêm giáo lý nhưng không dính mắc vào sách vở cũng như không nên dính mắc vào định tâm. Đó là trí tuệ. Định lực là dụng cụ tiến xa nhưng ngồi nhiều hay ít không thành vấn đề. Thận trọng, chớ cho tu hành mục đích là đạt đến định tâm an ổn khoái lạc. Thế là phí thời giờ. Thiền Minh Sát là phương pháp giúp ta giải thoát, do quan sát bản chất của vọng thân và vọng tâm vô thường, vô ngã. Hiểu rõ bản chất khổ vui thì Phật pháp ở ngay đấy. Nếu ta hoàn toàn mở rộng tầm mắt trước mọi diễn biến thế gian mà không yêu ghét thì ta với Phật là một. Thấy được thật tướng của vạn hữu là cốt tuỷ của học và dạy học. Mở cửa tịnh thất, trở ra tiếp tục với đời sống trong chúng, chị em cần lưu tâm tránh hai điểm: nói lời vô ích và thói tụm năm túm ba. Đôi khi thấy ai có hành động không tốt, ta bất bình phán đoán, kể lể. Thế là ta đã ra ngoài giáo Pháp của Phật. Ta tự mua phiền não vô ích. Đừng bắt mọi người phải theo đúng như ý muốn của mình. Hãy quay về xem xét những cảm giác của mình. Đó là phương pháp giúp ta khai tuệ. Đang lái xe trên một con đường nhiều khúc cong. Bổn phận ta là chăm chú chớ để xe đi lệch đường. Tai nạn nguy hiểm đợi chờ. Luật sadi kể chuyện: Một tam tạng Pháp sư lên chánh diện, thấy một lão tăng tụng kinh giọng ồ ề liền nói đùa: Ngài tụng kinh như chó sủa. Chỉ vì ngứa lười một lời mà 500 đời sau đoạ thân chó. Thân cuối cùng ăn vụng thịt, chủ nhân giận quá chặt bốn chân, quảng vào đống giác. Chó quàn quại đói khát mấy ngày. Ngài Xá Lợi Phất đi qua sót thương, cho ăn và vì nói Pháp. Tới khi chó chết sanh vào nhà trưởng giả, được đặt tên Quân Đề. Sau theo ngài Xá Lợi Phất xuất gia chứng quả. Vị Tam Tạng pháp sư đã đi lệch đường nên dĩ nhiên phải gặp tai nạn. Cuộc đời muôn màu muôn vẻ nhưng toàn hư vọng. Phật dạy: Không nên có tâm phân biệt, đừng phán đoán. Nên giản dị quay trí sáng về theo dõi tâm mình. Phát triển lòng lành, loại bỏ thói châm chọc khinh mạn, đừng gây đau khổ cho ai. Đây là con đường bình an mãi mãi. 8. PHÁP TƯỚNG PHÁP TÁNH Đạo Phật có 2 tông phái tựa hồ trái nhau. Pháp tướng tông thờ đức Di Lặc, chủ chương vạn pháp duy thức biến. Pháp tánh tông nhờ đức Văn Thù, chủ chương vạn pháp duy tâm tạo. Vậy thế nào là tâm thức? Thế nào là tâm tánh? Kinh sách gọi tâm thức là vọng tâm, tâm tánh là chân tâm. Tâm tánh là tánh của tâm, bản chất linh tri, vô phân biệt mà diệu minh, diệu giác không thể nghĩ bàn. Tâm thức là phân biệt theo thức tình vọng động, phan duyên cảnh trần mà tính toán lợi hại. Tánh là thể, Thức là dụng sai lầm. Thật ra hai tông không trái nhau mà còn làm sáng tỏ cho nhau. Phàm tình chúng ta chấp tướng nặng, nên thường phải học Duy Thức trước, rồi vào Bát Nhã chân tâm mới dễ dàng Pháp tướng tông nghiên cứu đường đi sai lầm của tâm thức, chuyển thức thành trí, đưa người tu trở về chân tâm bản tánh. Nghĩa là đánh giặc vô minh từ ngoài đánh vào. Pháp tánh tông y tánh tông y tánh Viên giác lọc bỏ năm ấm sanh tử, đánh giặc vô minh từ trong ra. Từ xăn phát sanh ra thức. hạt giống cây Long Hoa ( pháp tướng tông) ở ngay sáu căn của chúng ta. Lăng nghiêm ( pháp tánh tông) gọi là mật nhân Bồ-đề. Đức Văn Thù khuyên quan sát kĩ vạn Pháp duyên khởi không thật, để trở về tánh của tâm thức, chính là chân tâm. Phong tục thỉnh đức Di Lặc xông đất ngày đầu năm, có ý mong 365 ngày sắp tới, chúng ta sẽ được bình an vui vẻ như ngài. Muốn được như ngài phải tu theo ngài. “ Mặc ai báng, mặc ai chê, đem lửa đốt trời luống tự nhọc. Ta nghe vui như uống nước cam lồ, tiêu dung đốn nhập khó nghĩ bàn”. Hoà-thượng Thanh Từ giảng rằng: “ Cầm lửa đốt hư không, bao giờ hư không cháy?” Trái lại, nếu tâm chúng ta làm bùi nhùi bốc cháy theo lửa sân của họ thì chúng ta bị cháy ra tro. Người tu đâu cần hơn thua. Chẳng những bình tĩnh thản nhiên, mà còn coi như được uống cam lồ. Chê khen là thử thách để đo lường trí tuệ vô sanh, lòng từ bi, hạnh nhẫn nhục. Nghĩa là đo lường đạo lực của chúng ta. Để kết luận Hoà-thượng cho bài phú: Sãi tôi một dạ tu hành, Buông xả vạn duyên. Chí mong siêu thăng làm Phật Tổ, Lòng nguyện độ tận chúng sanh. Đêm đông trì chú, dóng chuông boong boong. Ngày hạ tụng kinh, lên mõ cốc cốc. Vì chuộng đạo đức, Miệng chẳng nề ăn đắng ăn cay. Bởi yêu hai chữ “TỪ BI” Thân nào quản áo lành áo rách. Đây là lời nhắc nhở. Đi tu quyết thành Phật thành Tổ để làm gì? Để cứu vớt chúng sanh đang trầm luân trong bể khổ. Với tinh thần ấy, sáu căn quản gì trái tai, gai mắt. Đức Di Lặc tươi cười trong ngũ trược ác thế, nhờ trí tuệ biết rõ sáu căn huyễn hoá, sáu trần ảo ảnh, sáu thức mê lầm. Cổ nhân xưa hằng tự nhắc:” Tỉnh tỉnh chớ bị lừa!” Xả thức xanh diệt trở về chân tánh vô sanh là Niết-bàn, là mùa xuân vĩnh cửu. 9. PHỐ CÁO ĐÓN XUÂN Kính bạch đại chúng! Nhập gia tuỳ tục! Mỗi năm Tết đến, chùa chúng ta tuy bổn phận là chiếu kiến ngũ uẩn giai không, nhưng vẫn cùng toàn quốc Việt Nam đón xuân mừng tuổi. Vui hoà với nhịp sống thế gian như vậy đã không trái đạo lại còn là chính ý Phật Tổ. Kinh dạy: Nhất thiết chư pháp vô phi Phật Pháp. Xuất thế gian ở ngay trong thế gian là diệu dụng của Bồ-đề. Thầy chắp tay tuỳ hỷ tán thán những ngày vui đầu năm của đại chúng. Nhưng tuy vẫn thở chung một bầu không khí nhộn nhịp vui tươi của ngày năm mới, chúng ta nên mở con mắt đạo nhìn một sự thật. Ngày Tết là ngày “ bánh chưng xanh, thịt mỡ, dưa hành, câu đối đỏ”. Cái vui của thế gian là như thế. Muốn cho loài người vui thì trâu bò, heo dê, gà vit, cua cá phải chết. Nhà nhà bếp bếp thi nhau chặt cổ, mổ bụng chúng sanh. Vậy thì ngày tết là ngày vui hay ngày khổ? Theo Phật Giáo, đó là ngày loài người gieo ác nhân. Ngày chúng sanh trả nợ máu. Đại Thừa Phật giáo có mặt ở Việt Nam đã ngót ba ngàn năm mà vẫn chưa có thể chuyển hoá một phong tục rõ ràng không hợp lý. Chẳng phải là lỗi của Tăng Ni chúng ta hay sao? Tổ dạy có ba cách giải thoát: 1) Thượng căn tự lực giác ngộ. Đây là giải thoát bằng Tuệ. 2) Trung căn đọc tụng kinh sách, học và hiểu. Đây là giải thoát bằng Trí. 3) Hạ căn một lòng cầu nguyện. Đây là giải thoát bằng lòng Tin. Chưa có thể giác tỉnh quần chúng, ta chỉ có cách đền tội bằng cầu nguyện. Nên ngày 28,29,30 Tết chúng ta đổi việc sắm tết làm một đàn chay, giải oan gỡ kết cho ta và người. Hương sen chuyên niệm đức A Di Đà, Dược Sư chuyên niệm đức Lưu Ly Quang, Lăng Nghiêm chuyên niệm đức Quán Thế Âm, Linh Quang chuyên sám Lương Hoàng lạy đức Bổn Sư, Liên Hoa chuyên tụng Pháp Hoa, Viên Thông chuyên lạy Thuỷ Sám, Bát Nhã chuyên tụng Bát Nhã, Ni Liên chuyên lễ đức Địa Tạng. Chương trình tụng niệm lễ bái tuỳ mỗi trụ xứ soạn thảo. Ai muốn dâng lễ phẩm chúc tết Thầy, ít nhiều xin cứ gửi cúng vào đàn chay, trên cúng dường Tam-bảo, dưới đảnh lễ tạ ơn đại chúng. Nguyện cầu âm siêu dương thái, pháp giới chúng sanh đồng thành Phật đạo. Nam mô Công Đức Lâm Bồ-tát ma-ha-tát. Linh Quang 21-12 ÂL(1994) Thầy Hải Triều Âm Phổ cáo 9.TIỀN THÂN ĐỨC DI LẶC Chuyện cổ Phật giáo kể rằng: Ngày xửa ngày xưa, có ông Tiên tên là Nhất Thiết Trí Quang Minh tu ở trong rừng. Gặp năm mưa gió trái thời, cây cỏ héo khô không ra hoa kết quả, dân gian mất mùa, khắp nơi đói kém. Một con thỏ thấy tiên ông nhịn đói, thương quá, bèn ra trước mặt ngài để hiến thân cho ngài. Nhưng tiên ông chỉ vuốt ve thỏ mà không nghĩ gì đến chuyện hại thỏ. Thỏ nghĩ “ Tối nay Tiên Ông đốt lửa sưởi, ta sẽ nhảy vào tự quay nướng thơm ngon, chắc ông tiên sẽ dùng”. Sương chiều lạnh buốt, ngọn lửa hồng vừa cháy đỏ thì con thỏ nhảy phốc vào, ý mừng rằng” Đằng nào cũng chết, nay lại được chết để cúng dường một vị đại đức”. Ngọn lửa xèo xèo reo vui, thui nướng thân hình Bồ-tát. Riêng tiên ông không vui tí nào. Cảm động ngậm ngùi trước sự hy sinh của con vật, ngài phát nguyện:” Đời đời dù chết, quyết không nỡ lòng ăn thịt chúng sanh”. Từ đấy ngài có tên là Di Lặc ( từ thị), luôn luôn mẫn từ thương xót muôn loài. Thỏ là tiền thân của Thích Ca Mâu Ni Phật. HOÁ THÂN ĐỨC DI LẶC Cách đây hơn ngàn năm, ở bên Tàu bỗng nhiên xuất hiện một vị Hoà-thượng béo tròn, bụng phệ, miệng cười tươi như hoa, tay sách túi vải. Nên được tên là Bố-Đại Hoà-thượng ( Bố đại là túi vải). Có ai thỉnh pháp, ngài buông tay nải xuống chắp tay đứng im. Nếu gạn hỏi” Chỉ có thế thôi à?” thì ngài vác đãy vải lên vai đi thẳng. Một ngày kia, Bố Đại Hòa-thượng ngồi trên mỏm đá, cười mà hoá sau khi đọc bài kệ: Di Lặc! Thật Di Lặc! Hoá thân nghìn trăm ức, Luôn luôn nhắc người đời, Mà người đời chẳng biết. Ngài giáng sanh, độ thế chỉ một nụ cười. Vậy mà cái cười ấy được truyền bá khắp tầng lớp trong dân gian nhiều hơn các thứ kinh luận khác. Người Tàu ham ưa nền triết lý tươi vui của nụ cười nên khắp nơi nơi, thường thấy bóng hình Bố Đại Hoà-thượng hoặc khắc, hoặc vẽ, hoặc nặn, hoặc chạm trổ. Lại sợ những ai không tinh ý, không hiểu được nghĩa sâu xa của nụ cười, người ta nặn thêm hình sáu chú bé bò bám quanh ông bụng phệ, đặt tên là lục tặc( 6 tên giặc). vì các chú ngây thơ dại dột lắm, tinh nghịch dối trá khiến cha mẹ thất điên bát đảo. - Chú thứ nhất tên nhãn thức (cái biết của mắt) - Chú thứ hai tên nhĩ thức ( cái biết của tai) - Chú thứ ba tên tỵ thức ( cái biết của mũi) - Chú thứ tư tên thiệt thức ( cái biết của lưỡi) - Chú thứ năm tên thân thức ( cái biết của thân) - Chú thứ sáu tên ý thức ( cái biết của ý) Chú thứ 6 bé nhất, suốt ngày ở trong nhà tối. Chú không tiếp xúc với đời nhưng năm chú kia luôn luôn thì thọt mách lẻo khiến chú cứ mừng vui, hờn giận, ham thích, uất ức... đủ các thứ tâm sở phiền não kết thành màn vô minh. Chú đâm ra mù quáng. Tuy mù nhưng lanh lẹ lắm. Tội nghiệp cho cái thân, cái lưỡi, chúng nó thật là những đầy tớ trung thành, chú bảo sao nghe vậy. Chú sai chúng đủ thứ: sát, đạo, dâm, vọng.v.v...Hết 365 ngày đi, lại 365 ngày khác tới, 6 anh em nhà này cứ loạn xạ, cho đến bao giờ cái nhà mấy chú ở xụp đổ tiêu tan. Câu chuyện có thế, thật là trẻ con. Chỉ là những tấn tuồng hết vui lại buồn, hết buồn lại vui của một đàn trẻ. Bậc thức giả đâu có bị lừa mà chẳng ngồi cười. Khốn nỗi chúng ta ai cũng tin 6 chú bé của ta thông minh, sáng suốt nhất đời. Tin đến nỗi có 6 chú ấy thì ta sống, không có thì ta chết. Ít người tự hỏi vậy: Ta là ai? Nhân loại mỗi người nuôi sáu chú giặc làm con, hèn chi mà quả địa cầu này chẳng ướp mùi khói đạn máu xương, hèn chi mà thần hạnh phúc chẳng lánh xa cõi Ta Bà. Bồ-tát Di Lặc cười vì ngài đã thắng trận giặc rất khó khăn, xưa nay không mấy ai thắng nổi. Ngài đã nắm được chủ quyền. Ngài đã điều phục được giặc, chuyển bọn giặc thành những bầy tôi trung nghĩa hiền lương. Nhà ngài ở vốn Thường Tịnh Quang, không hề vẩn đục chút phiền não. Bởi thế, ngài còn có tên là A Dật Đa. Tàu dịch là Vô Năng Thắng, vô địch tướng quân. Ngài đã toàn thắng vô minh. Bồ-tát ngồi cười vì đã thấy rõ thế gian ân ân oán oán, duyên nợ báo đền chỉ là trò huyễn hoá, do sáu chú “lục tặc” xoá xoá bầy bầy. Chúng ta có đại phước duyên được thờ đức Di Lặc làm Thầy, được học pháp môn Duy Thức nên trong chùa, kẻ trên người dưới vui hoà, cùng nhau đầm ấm sửa soạn đón xuân. 10. KINH DI LẶC HẠ SANH THÀNH PHẬT Tôi nghe thế này: Một thời đức Phật ngự ở núi Linh Thứu, thành Vương Xá, cùng đông đủ các đại Tỳ-kheo. Đại chí Xá lợi Phất cung thỉnh Thế Tôn nói lại bài tụng thọ ký Từ Thị, bậc đại thần thông oai đức, sẽ hạ sanh làm Phật. Xá Lợi Phất định tâm lắng nghe! Hết kiếp giảm đến thời kiếp Tăng, con người thọ 8 vạn tuổi, không tật bệnh, không phiền não, thân tướng đoan nghiêm, sức lực viên mãn, biết trước giờ lâm chung, tự đến rừng Thi Lâm. Châu Nam Thiệm, nhân dân từ nghiệp lành sanh về, sống không hình phạt tai ách. Mặt đất không gai góc, trải cỏ xanh mềm dịu, êm chân như vải bông mịn. Nếp thơm mọc tự nhiên, thức ăn ngon lành tự có. Cây rừng trĩu những hoa trái, y phục và vật dụng để trang sức. Kinh đô Diệu Tràng Tướng lâu đài 7 báu, hào rãnh thân châu, hoa thơm chim quý. Chuông vàng, khánh bạc v.v...nghiêm sức tuyệt diệu, cùng gió vang diễn diệu âm. Nơi nơi ao hồ, tạp sắc hoa nở thơm ngát. Thánh vương Hướng Khư phước đức hùng mạnh, bốn biển thái bình, kho đầy châu ngọc, chánh pháp thạnh trị. Đại thần Thiện Tịnh thông thạo bốn minh. Vợ là hiền nữ Tịnh Diệu, dạo vườn xem hoa, bỗng sanh con trai thân vàng sáng chói, khuôn mặt trăng tròn, mắt biếc xuân sơn. Đây là Bồ-tát ở cõi trời Hỷ túc giáng sinh, thanh tịnh như sen nở, hào quang khắp rực rỡ. Bồ-tát đi 7 bước, 7 bông hoa đỡ gót. Giọng như đại phạm vương, tuyên bố nội trong đời này sẽ chứng Niết-bàn. Chín rồng phun nước tắm. Hoa trời giải như mưa. Thiên tử che lọng báu. Hư không vang hoà nhạc. Thiện tịnh biết 32 quý tướng này, xuất gia thành chánh giác, ở tại gia làm Chuyển Luân Thánh Vương. Ngày Từ Tôn giáng đản, nữ nào mang thai đều sanh con an ổn. Vua hướng Khư kiến lập 7 bảo tràng cao 70 tầm, rộng 60 tầm, bá thí cho các bà-la-môn, phạm chí. Họ vui mừng hớn hở nhưng chẳng bao lâu các tràng báu hư nát. Bồ-tát thấy vậy, tỉnh ngộ thế gian vô thường, tìm cách thoát ly ngục tù sinh tử. Ngày Bồ-tát xuất gia, 84.000 người phát tâm theo ngài tu phạm hạnh. Ngay đêm ấy, ngài thành chánh giác dưới gốc cây Long Hoa. Quần chúng như mấy, nhóm đông đầy vườn Diệu Hoa. Vua Hướng Khư nghe pháp, cùng 84.000 quyến thuộc xuất gia. 84.000 đồng tử bà-la-môn, Thiện Tài trưởng giả cùng 1000 quyến thuộc, bảo nữ Tỳ-Xá Khư cùng 4000 thị nữ, vô số thiện nam tín nữ đồng thời xuất gia. Đại Từ Thế Tôn phán rằng: Những ai đã thân tâm chịu chánh đạo của Thích Ca Mâu Ni Phật, nay đều sanh trong Pháp ta. Cúng dường Phật Thích Ca, quy y Tam-bảo, tứ sự phụng thờ Tăng chúng, trai giới thanh tịnh, giáo hoá chúng sanh khiến được sạch trừ phiền não v.v... Những người như thế nay đều đã sanh trong pháp của ta. Hội đầu 96 ức Thanh-văn giải thoát. Hội hai 94 ức Thanh-văn giải thoát. Hội ba 92 ức thanh-văn giải thoát Mỗi khi Phật từ Thị cùng đệ tử vào thành khất thực, thiên chúng tán hương cúng dường. Hoa thơm trải đất, nhạc âm vang trời Bên đường phất phới tràng phan các mầu. Vua Đế Thích xưng tán” Nam mô Thiên Thượng Tôn! Nam mô Sĩ Trung Thắng! Lành thay Bạc-già-phạm! Đại bi cứu thế gian! Ma vương cõi trời đảnh lễ quy y Đại Đạo Sư, Nhân dân phần nhiều là A-la-hán. Trời, rồng, a-tu-la, La-sát, dược-xoa thảy đều hoan hỷ cúng dường. Tất cả đại chúng đều thành tựu phạm hạnh. Người thì sạch chướng trừ nghi, siêu vượt sanh tử. Người thì lìa nhiễm xả báu, dứt ngã, ngã sở. Người thì huỷ lưới thân ái, viên mãn tịch diệt. Từ Thị Thiên Nhân Tôn thọ 6 vạn tuổi. Chánh pháp trụ thế 6 vạn năm. Người thông tuệ nghe pháp như trên, vui mừng phát nguyện, mong gặp đức Từ Tôn. Ai cầu giải thoát trên hội Long Hoa, hãy chăm cúng dường Tam-bảo, siêng năng tu hành. Ai đọc tụng thọ trì giảng nói kinh này, như pháp tu hành, hương hoa cúng dường, hoặc viết chép lưu bố, sẽ được gặp Từ Thị hạ sanh, sẽ có phần giải thoát trong ba hội. Phật nói pháp xong, ngài Xá Lợi Phất cùng đại chúng vui mừng tin chịu vâng làm. Nam mô Long Hoa giáo chủ, đương lai hạ sanh, Di Lặc Tôn Phật ( 3 lần) 11. LONG HOA TAM HỘI Long Hoa là một thứ cây lớn sum suê, cành uấn khúc như rồng múa. Hoa màu hồng tươi nở rực rỡ khắp cành nên gọi là cây Long Hoa. Đức Di Lặc ngồi dưới gốc cây này thành đạo. Đức Thích Ca nói kinh Di Lặc Hạ Sanh Thành Phật: Nhất tâm nghe cho rõ Lửa tam muội sáng soi, Người công đức thứ nhất Đang sắp sửa ra đời. Người ấy nói pháp mầu Ai nghe đều vui thoả, Như khát uống cam lồ Tới ngay đường giải thoát. Đất nước ấy bằng phẳng một làn như tấm gương lưu ly. Có bao thứ hoa, cánh hoa mềm mại như lụa trên trời, kết quả cát tường, mùi thơm vị ngọt. Nhân dân sống 84.000 tuổi, người cao 16 trượng. Con gái 500 tuổi mới đi lấy chồng. Đến lúc già suy, cứ tới rừng kia niệm Phật mà vãng sanh, hoặc đi các cõi trời, hoặc đi các cõi Phật. Nhân dân chỉ có 3 bệnh: ăn uống, đại tiểu tiện và già chết. Đại tiểu tiện xong, đất tự nứt chôn đi, tại nơi ấy nẩy bông sen đỏ. Không có giặc cướp, đao binh, đói khát, chết non. Ai nấy giữ gìn 6 căn, cung kính hoà thuận nhau như con yêu cha, bà thương cháu. Người không sát sanh, không ăn thịt, được sanh về đấy. Gạo lúa thơm ngon, cấy một lần, ngặt 7 lần. Chúng nhân coi vàng ngọc như gạch ngói. Vì chúng sanh căn khí khác nhau, đức Di Lặc mở ba hội: 1.Gồm những đại thừa Bồ-tát đã tu tròn 6 ba la mật. 2.Những vị giữ tròn năm giới trở nên lòng tin quyết định: - Quy y Phật mở lòng rộng rãi, độ mình độ người. - Quy y Pháp, nghiên cứu kinh điển, phân biệt chánh tà - Quy y Tăng, tu đức lập hạnh. 3.Để vớt những mầm thiện còn kém duyên lành, chậm kết quả. Đức Thích Ca vì bi nguyện, không nỡ bỏ sót một chúng sanh nào đã có duyên với ngài. Nên nhất nhất giao phó cho đệ tử là đức Di Lặc sau này phải làm nốt nhiệm vụ giáo hoá và thọ ký cho tất cả đều được thành Phật. Từ người lễ một lễ, tới đứa trẻ trong lúc chơi đùa, nhác trông thấy thánh tượng. Hình ảnh in vào thức thứ 8. Ngày mai gặp duyên, hạt giống nảy mầm cũng thànhchánh qủ. Cả những kẻ chê bai đạo thích Ca, cũng đã kết duyên với Phật, đều được Từ thệ nhiếp về tới hội này. Nhưng khi nào đức Di Lặc mở 3 hội Long Hoa? Trong kinh Di Lặc Thượng Sanh, Phật bảo ông ưu Ba Ly rằng:” Người ấy từ đây 12 năm nữa sẽ sanh lên trời Đâu Suốt, 50 Ức vạn năm nữa xuống cõi Diêm-phù-đề, ngồi dưới gốc cây Long Hoa thành Phật qủa, khua trống lớn, quay bánh xe Pháp lớn”. Rõ ràng là đức Di Lặc tuy còn ở cung trời Đâu Suất, nhưng cây Long Hoa hiện đang nẩy mầm ở ngay nhân gian này. Chị em chúng ta hãy gánh nước đại bi tưới khắp cõi, cho dễ cây ăn sâu suốt nơi nơi, bắt đàu từ trái tim trong trắng của đàn em bé. Cha chúng ta đã có lời nguyện đại bi, đại dũng như vậy, chúng ta há chẳng nên ra công kết duyên lành cho muôn loài. Nỡ nào còn để sót những sinh linh phiêu bạt trầm luân. Còn ai muốn theo đức Di Lặc lên cung trời Đâu Suất, để sẽ cùng ngài xuống trần mở hội Long Hoa, hãy nghe lời đại sư Thái Hư: Ngay từ bây giờ chuyên học chuyên tu Duy Thức, giữ giới sát sanh thật tinh nghiêm, đoạn trừ phiền não, tỏ ngộ lý ngã-không pháp-không, hàng ngày niệm “ Nam mô Di Lặc Như Lai”. Như thế hiện tại thân tâm trong sạch, không tai nạn bệnh tật. Lâm chung, các thiên tử sẽ xuống đón lên cung trời Đâu Suất. 13 HÁI LỘC ĐẦU NĂM ( Tại Cây Bồ-đề Linh Quang sáng 1-1 Nhâm Thân 1992) Sông ái ngàn thước sóng, Khổ hải vạn trùng ba. Muốn thoát luân hồi khổ Mau sớm niệm Di Đà. Giải nghĩa: Xuất gia cắt ái từ thân. Công cha như núi thái sơn. Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra. Cắt đứt tình thâm vào chùa cầu giải thoát. những mong có đạo xuất thế để báo hiếu đền ơn. Nhưng nếu không tu học Tứ Niệm Xứ để xả ngã ái. Cái ta cứ sừng sững đối lập với mọi người. Lại còn riêng tư bè đảng. Người này tôi hợp, người kia không ưa. Khiến cho hai chữ Tăng Già trở thành vô nghĩa. Thánh nhân thường nhắc:” Hãy nhớ thân ta chỉ là nắm bụi”. Xuất gia là chuyển thế giới của cái tôi thành thế giới của chúng ta. Nhà chùa gọi là chuyển cô tâm thành lục hoà tâm. Ai nấy quên quyền lợi riêng để cùng nhau xây dựng Tam-bảo. Đức phật thường nhắc:” Trùng trong thân sư tử mới giết nổi sư tử”. Nghĩa là chỉ những người xuất gia, cạo tóc, đắp y, mà không sống giống như luật, như lời Phật dạy, mới khiến cho đạo Phật suy vi. Phật Pháp tăng là cửa ải giải thoát độc nhất của chúng ta. Mong rằng mỗi người con Phật cố gắng tròn bổn phận. 14. MÃN KHOÁ ABHIDHARMA Abhidharma: Tàu phiên âm là A Tỳ Đàm. dịc nghĩa là luận tạng. Abhi là mổ sẻ để bàn rộng, phân tách để nói rõ, phát triển cả chiều cao lẫn chiều sâu. Dharma: giáo pháp, Abhidharma là một kho luận lý. Riêng tiểu thừa( nguyên thuỷ) cũng có tới 7 bộ, gồm nhiều ngàn Pháp môn do Phật nói ở cung trời Đao Lợi. ngài A La Luật Đà đã khéo kết tập, các Tổ sư đã phân khoa và giải nghĩa. Chúng ta học hôm nay chỉ là một phần nhỏ xíu ở quyển đầu bộ thứ nhất. Tuy đã rút đi rút lại chỉ còn một lõi chất thật đơn giản nhưng vẫn đủ ba phần chánh yếu của toàn thể giáo lý, một đời thuyết pháp của đức Bổn Sư: 1- Cảnh, 2- Hành, 3- Quả. 1.Tâm thức chúng ta trình bày 3 cảnh: a)Tâm thiện, tâm ác của dục giới. b)Tâm sắc giới và vô sắc giới c)Tâm siêu thế. 2.Pháp môn tu hành có 40 đề mục thiền. 3.Quả là bốn ngôi thánh. Tới A La Hán là tròn phận sự, là ttó nghiệp trường tiểu học Phật Giáo, bằng cấp là trí tuệ Niết-bàn. Chỉ có một việc là chuyển phiền não thành Bồ-đề. vinh hoa là dự hành thánh chúng, hưởng phước vĩnh viễn an vui. Các em đã học kĩ nhưng chưa tập chưa tu. Nhớ nhiều chữ, viết nhiều chữ, kể ra cũng quý lắm. Trong cõi Ta Bà mù loà này mà biết chữ Phật, đã là châu báu vô giá rồi. Nhưng ý Phật không muốn chúng ta đếm châu báu vô giá của Phật mà chỉ ao ước chúng ta thật sự thi đỗ làm quan A La Hán, thoát hẳn cái khổ làm dân luân hồi. Thầy thưởng đồng đều cho mỗi em một cuốn Duy Thức. Cô Giáo Thọ sẽ đưa các em vào rừng Luận tạng đại thừa. Đây là lời Phật rải rác trong khi thuyết pháp ở Ấn Độ thời xưa. Đức Di Lặc soạn tập và biện tác các nguyên lý. Ngài Vô Trước và em là ngài Thế Thân diễn đạt rộng ra. Các đệ tử truyền nối thịnh hành. Nước tàu có Huyền Trang đại sư sang Ấn Độ học, phiên dịch rất nhiều kinh, đặc biệt chú trọng môn này. Khi về nước, ngài đem tài uyên bác thành lập pháp tướng duy thức tông. Các đệ tử nổi danh của ngài đã khiến cho tông phái này cực kỳ hưng thịnh, truyền bá qua Nhật Bản, Cao Ly, Việt Nam... Các em sẽ thấy Luận học nguyên thuỷ hay đại thừa đều cao không cùng, sâu không đáy, rộng không bờ nhưng chung quy chỉ nghiên cứu về cái tâm của chúng ta. Nói về một cái tâm của chúng ta mà Phật Tổ đã dùng cả biển mực viết mãi vẫn chưa xong. Nương ánh sáng trí tuệ của Phật Tổ, các em sẽ có nhiều Phát minh lý thú. Cả một chân trời mới lạ hé mở Đặc biệt Luận nguyên thuỷ và Luận đại thừa đồng thanh nhắc chúng ta rằng ai ai cũng có ba thứ hữu dư: 1) Tập khí, 2) Báo chướng, 3) Phiền não. Từ lịch kiếp chúng ta đã tạo vô biên tội ác. Những tội nặng đã trả qủa ở địa ngục, ngã quỷ rồi. Tham ái nhẹ làm bồ câu chim sẻ, cá chép, cá bống, v.v...rồi. Sân nhẹ đã làm rắn, mèo, hổ, báo v.v...rồi. ngu si nhẹ đã làm voi, heo, ruồi, kiến v.v...rồi. Nay còn dư báo phải trả đền: 1.Vì tập khí nên xuất gia dễ phạm sát, đạo, dâm, vọng. 2.Vì dư báo nên câm điếc hoặc gặp nhiều hẩm hiu, các thứ chướng nạn. 3.Vì phiền não nên dễ vun bồi thêm nhân ác tham sân si, để đời đời đi lại trong tam đồ. Nhưng nguy nhất là thứ phiền não kiêu mạn. Mười người hết chín bị nó sai sử. Còn một người kia bất quá là chỉ vì biết dùng trí tuệ tự kiềm chế. Nhưng nó vẫn thầm thầm ở trong. Nuôi dưỡng kiêu mạn cống cao thì quả ở đường dưới. Nếu được làm người cũng chịu dư báo, làm thân hèn hạ quyền người sai sử. Tài giỏi sang giàu mà ít kiêu mạn là đã tu nhiều kiếp. Bới thế đối với kẻ ăn xin, ta nên cảm thông nỗi khổ nhục phải kêu nài. Gặp ai cũng nên vui vẻ chào hỏi. Đối với các vị mới xuất gia lớn tuổi nên cung kính để các ngài hoan hỷ mừng tu... Cho nên khiêm tốn nhún nhường là tướng mạo của trí tuệ. Đức Phổ Hiền trong kinh Hoa Nghiêm dạy các đại Bồ-tát: Muốn an trụ nơi Pháp giới thanh tịnh, đầy đủ công đức lành, phải ba nghiệp thân ý niệm niệm hằng sám hối, không bao giờ chán mỏi. 15.THƯ THĂM BỆNH (Kinh Duy Ma Cật) Văn Thù hỏi: An ủi Bồ-tát bệnh thế nào? Duy Ma Cật đáp: Thân vô thường nhưng nó là cái bè đưa người tu lên cảnh thường trụ. Thân là gốc khổ, nhưng bản chất là tánh Niết-bàn. Thân không thật nhưng Bồ-tát cần dùng nó để giáo hoá chúng sanh. Thân tuy rốt cuộc là không, nhưng chân diệu pháp thân, thật không dời nó mà chứng. Biết khổ của bệnh thì thương chúng sanh đã bao đời đeo hết thân này sang thân khác, chịu hết bệnh này sang bệnh khác. Biết gốc của bệnh là do nghiệp báo nên hằng nhớ nghĩ tịnh thân miệng ý, dạy người tu phước ở lành. Bồ-tát thân mang bệnh khổ nên lòng dạ chỉ ước mong làm sao chữa hết bệnh và tâm bệnh cho chúng sanh. Vì thế Bồ-tát bệnh mà vẫn phấn khởi tinh thần, vui vẻ sống với tâm Bồ-đề. Bồ-tát bệnh, điều phục tâm mình thế nào? -Thưa, nên nghĩ thế này: Thân do đất, nước, gió, lửa giả mượn. Vì cố chấp làm ta cho nên bốn đại không hoà mới tự nhận là mình bệnh. Việc trước hết phải suy xét cho ra, thân này không phải của ta. Không ta không người, không chúng sanh, không thọ mạng. Trở về sống với tánh thể bình đẳng, tánh thể này không hề có bệnh. Thân ta đang khổ còn chúng sanh giờ này đang thế nào? Ta tuy khổ nhưng đã tự biết điều phục vọng tâm để giải thoát gốc khổ. Nay ta cần cố gắng dạy chúng sanh dứt trừ gốc khổ, đừng để đến nỗi hết thống khổ này lại thống khổ khác. Từ tối vào tối, đêm dài rên rỉ, từ lịch kiếp tới nay, hỏi đến bao giờ mới cùng tận. Thế nào là gốc bệnh? -Tâm vọng tưởng phiền não trần lao, dính níu sáu trần trong ba cõi là gốc bệnh( vì đó là gốc luân hồi sanh tử, nhân đây có thân. Từ thân phát sanh ra tất cả sanh, lão, bệnh, tử, ưu, bi, khổ, não). Làm sao dứt được? -Quán vạn pháp vô sở đắc ( 6 căn huyễn hoá, 6 trần ảo ảnh, 6 thức mê lầm). Thưa ngài Văn Thù, Bồ-tát điêu phục tâm mình như vậy, dứt các thống khổ sanh già bệnh chết là dõng mãnh của Bồ-tát. Nếu Bồ-tát còn thấy có ta, có người bệnh. Rồi vì ta bệnh nên thương người bệnh, đó là ái kiến đại bi. Đã thấy có ta thì làm lâu sẽ mỏi. Đã thấy có người thì khi người khổ mình thương, khi người xấu mình ghét. Tâm không bình đẳng sẽ có oán thân. Lòng đại bi quyết định bị thương tổn. Nên trong khi cứu giúp mọi người. Bồ-tát luôn luôn giác tỉnh vô ngã vô pháp. Lòng từ bi luôn luôn sẵn sàng với bất cứ ai ai, bất luận trường hợp nào, hoàn cảnh dù nghịch dù thuận, không cần đủ duyên nên gọi là vô duyên từ. -Có tuệ phương tiện thì giải thoát, Không tuệ phương tiện thì chói buộc -Có phương tiện tuệ thì giải thoát, Không phương tiện tuệ thì chói buộc. Thưa Ngài Văn Thù, thường quán thân vô thường vô ngã, khổ và không gọi là có tuệ. Đủ duyên vẫn không quản khổ nhọc để độ chúng sanh gọi là phương tiện. Có tuệ phương tiện là phương tiện có trí tuệ soi sáng. Như trên đã nói, cứu độ chúng sanh mà vẫn giác tỉnh vô ngã, vô nhân, gọi người bội bạc vẫn làm ân, bị hiểu lầm không nản chí. Do đó mà ở hoàn cảnh nào việc lành cũng vẫn tiến hành. Còn phương tiện tuệ là trí tuệ trong khi đủ duyên cứu giúp chúng sanh. Đem tâm ham muốn, nóng giận, tà kiến để vun trồng công đức là không có phương tiện tuệ. Vì có trí tuệ nên Bồ-tát ở trong sanh tử mà không nhơ xấu, ở Niết-bàn vẫn nguyện độ chúng sanh. Tuy cứu độ chúng sanh tận tình mà chẳng yêu thương dính líu. Tuy xa lìa tất cả ràng buộc mà không diệt tận thị tưởng. Tuy thân tâm diệt mà vẫn hiện thân vào tuỳ chỗ ứng thân. Có năng lực như vậy mới có thể phát đại hùng nguyện: Địa ngục chưa không, thề chư thành Phật. Chúng sanh độ tận, mới chứng Bồ-đề. 16. THƯ GỬI NI CHÚNG VIÊN THÔNG Thầy đọc sách: “ Tự giác, giác tha, giác hành viên mãn. Sự nghiệp vĩ đại này, chỉ dành riêng cho những ai giản dị, khiêm tốn nhún nhường, hạ mình đảnh lễ đại chúng. Coi lời chê bai như nước cam lồ. Coi quở trách như món quà sách tấn”. Bao nhiêu tội ác, tham sân si là gốc. Cho nên Sadini mà không có Tứ Niệm Xứ, Tổ gọi là cán cờ gỗ. Tấm y nêu biểu Giới Định Tuệ còn cái cán gỗ thì giá trị gì? Chiến sĩ trước hết phải biết giặc ở chỗ nào. Tham ngon giận dở, cứ mống ra ở cái lưỡi trong mỗi nuốt. Anh hùng dùng gươm tuệ chém luôn. Bé Huệ Hương nhắc thêm:” Chẳng những khi ăn mà khi cãi lộn cũng cái lưỡi này sân si”. Thật ra đâu chỉ một cái lưỡi này xó tội. Đi đứng nằm ngồi, nói nín, mắt nhìn, tai nghe, mũi ngửi, thân xúc. Lúc nào tu sĩ chẳng phải canh gác sáu căn. Đêm khuya giặc vẫn lởn vởn trong tâm. Không đề phòng kỹ, làm sao an hưởng thái bình. Đang đêm Tổ ngồi dậy la lớn:” Có giặc! Có giặc!” Trong chúng ta ai là con Phật? Ai phá Tam-bảo?- Chỉ ở nơi phòng giữ sáu căn. Hai đức thẹn hổ vừa rời tâm liền có nạn. Cẩn thân, trong khi đang chê bai người khác, có khi mình đang là giặc sân. Có người chưa đến nỗi thế. Chỉ hôm nay bất mãn một tý. Mai bất mãn một tý. Tập quen thành giặc lúc nào không hay. Trong khi ấy, cứ tự đánh lừa mình là chiến sĩ của đấng pháp-vương. Luật Sadini các con thuộc nhừ hơn cháo. Những điều mà trẻ thơ mấy con biết rõ, già móm hết răng như thầy vẫn chưa làm xong. Các con thật đã được ướp kỹ Phật pháp. Con nhà giàu đâu có sợ nạn đói. Thân gởi các con thêm một chuyện: Cây mít sum suê vươn cao, Hôm nay ngày cuối tháng 2 mưa rào. Những chiếc là vui sướng mừng reo: Chào chào mưa hạ! Chào nước trong veo! Mát quá! Mát quá! Cám ơn! Cám ơn gió đưa mây về đây! Nhưng cũng có tiếng rên: “ Khổ quá! Lạnh quá! Vừa nắng cháy da nay lại sắp sửa lạnh buốt thấu xương. Khổ quá! Khổ quá!” Các bạn an ủi: Chị hãy dũng cảm đón mưa to gió lớn. Mưa càng giữ dội bao nhiêu chúng ta, chúng ta càng mạnh khoẻ chóng lớn bấy nhiêu. Chị đừng phiền trách mặt trời. Chính ông ta đã cho cả họ nhà mít những múi ngọt ngào thơm ngon. Nếu không có bốn mùa mưa nắng gió sương thay nhau đan dệt, thì làm sao có những trái mít kếch sù, khiến cho nhân loại nể vì họ mít? Chiến sĩ Bồ-đề cũng vậy: Thích Ca nguyện độ chúng sanh, Đem thân đến ở rừng xanh quản gì. Sáu năm khổ hạnh một mình, Trải bao sương tuyết mà không ngã lòng. Quyết thành pháp ngã hai không, Trời cao đất rộng, biển nào sánh công. Nhờ đây đạo Phật sáng ngời! Ngàn năn mãi mãi cho đời làm gương. Chúc cầu Phật pháp miên trường! 17. CHUYỆN CỔ PHẬT GIÁO Dưới cội Bồ-đề hùng vĩ, đức Thích Ca kết già an định. Một thanh niên tuấn tú quỳ bạch: Con là đông cung Thái Tử nước Cambáa. tên là Djêta, về đây xin làm đệ tử. - Bảy trăng sáu mùa mưa này ngươi hãy trở lại. Tới kỳ hẹn, đức Phật dạy: Này hoàng tử cao quý! Kiếp trước con đã gây nghiệp. Nay trả quả thì con đã sa ngã như tất cả ai ai. Thế là con không đủ khả năng vào đạo. - Xin đức Thế Tôn từ bi chỉ rõ để con biết đường ăn năn. - Vừa rồi, có người mưu đoạt ngôi vị của con nên đã vu cáo cho con một chuyện giữa triều đình. Thay vì bình tĩnh đợi chờ ánh sáng chân lý hoặc nhẫn chịu lời vu khống để trả nợ kiếp xưa, con đã phẫn nộ quyết minh oan cho bằng được. Người tu hành làm thinh lãnh những bất công, vì với họ thế sự không còn nữa: danh giá, lợi dưỡng, oai quyền, tự ái v.v...không còn giá trị. Họ tin chắc lý nhân quả. Trên đời không có sự ngẫu nhiên. Khổ vui, vinh nhục đều do đã gieo nhân. Điều thứ hai là con đã ích kỷ. Tên Batica muốn làm thân với bạn con là Dasa . Lửa ghanh ghét đã bật lên trong lọng con. - Bạch đức Thế Tôn! Đó là vì con biết Dasa bị lợi dụng. - Hoàng tử cao quý ơi! Cái biết trong lưới thất tình lục dục, cái biết của mắt thịt tai phàm, cái biết của ngũ quan vô minh, cái biết của ngã ái ghanh ghét. Người học đạo cần tìm chỗ sai của mình hơn là thấy cái xấu của kẻ khác, không than vãn phiền muộn sự phản bội bất trung, quý bạn không vị kỷ mà vị tha. Rộng lòng bác ái chớ không nắm lấy một người, đó là gốc của trí tuệ. Điều thứ ba là con đã thiếu lòng nhân từ, tàn nhẫn xua đuổi thứ phi Nan Đà dù cô đã thiết tha xin chừa. - Bạch Thế Tôn! Cô đã nhơ danh xú tiết. Con làm sao được phép để cho cô bôi nhọ cả hoàng gia. Điềm nhiên trước những sai quấy như thế là khuyến khích những bại hoại luân thường đạo lý. - Này Hoàng Tử cao quý! Bậc cầm quyền cần thưởng phạt. Người cầu đạo tìm hiểu để cứu vớt không phải sự thanh tịnh mà tách mình ra khỏi nhân loại. Con là một phần tử trong thế gian. Nghiệp quả của con vốn vẫn dệt chặt với nghiệp quả của muôn loài. Cần tìm lý do để tha thứ hơn là kết án. Thanh tịnh không đi đôi với từ bi dễ nhuộm độc kiêu căng tự phụ và đưa đến lãnh đạm trước những đau khổ của kẻ kém hèn. Djêta ơi! Hy Mã Lạp Sơn đầy tuyết trắng thật oai nghiêm hùng vĩ nhưng bốn mùa lạnh ngắt. Lòng nhân ái như tia nắng ấm áp. Chúng sanh cần sự tha thứ và nâng giấc và phấn khởi đi lên. - Lạy đức Thế Tôn! Con se x ráng sửa mình cho hợp lý đạo. Xin cho con đặc ân được yết kiến ngài một lần nữa. Thái Tử hồi triều giúp vua sửa sang việc nước, luôn luôn muốn rằng muốn có đức phảo có công. Mỗi mũi gai làm rướm máu là một bước vào đạo. Gốc dễ của tật xấu ăn sâu vào thâm tâm. Nhổ nó ắt nhiều đau xót. Ta phải tập trung tất cả lực lượng của tâm hồn mới hy vọng. 18.LÀNG ANH NHI VIỆT NAM Nửa thế kỷ chiến tranh vừa qua, đã đem vành khăn tang cho bao nhiêu gia đình Việt Nam. Bao nhiêu cô nhi vất vưởng, bao nhiêu phị nữ không gia đình, bao nhiêu già lão bơ vơ. Sư cụ Ngộ Chân Tử chùa Hoằng Pháp khai khẩn 42 mẫu đất ở gia định để thành lập làng Anh Nhi Việt Nam. Nơi đây đã xây cất nào chánh diện, giảng đường, nào trường trung tiểu học, bệnh xá, viện dục anh, viện dưỡng não cho đến nghĩa trang, cơ sở công kỹ nghệ cho các em học nghề và từng dãy nhà cho những nhân viên nông trại của làng. Sư cụ kêu gọi Tăng ni về hợp tác để xây dựng ở Làng Anh Nhi một nền đạo đức thuần tuý hiếu thiện. Vì theo ý Sư Cụ, con người dù tài cao học rộng đến đâu mà thiếu lễ nghĩa tàm quý cũng là thiếu tất cả, không thể ích lợi gì cho nhân quần xã hội. Làng Anh Nhi Việt Nam có nguyện vọng bảo vệ những tâm hồn thanh khiết, những khối óc trong trắng khỏi bị ô nhiễm vì những thói hư tật xấu của đường đoạ lạc. Nhân dịp đầu năm Ất Mão ( 1975) Sư cụ in một triệu tờ Pháp Môn Niệm Phật, khuyên các Phật Tử xa gần, thuộc nằm lòng 6 tiếng “ Nam mô A Di Đà Phật”. Đường về cõi tịnh ngắn nhất, giản dị, dễ dàng nhưng không nên coi thường. Miệng niệm, tâm nghe, hợp nhau mới ích lợi. nhiều người tu mà ít ai đắc quả, chỉ vì quá phụ sự tướng bên ngoài, không lo tu tâm bên trong. Có người rất thành kính, sớm tối đèn nhang chuông mõ. Nhưng ngoài giờ công phu, lại buông lụng thân miệng ý nên không tránh khỏi vay tạo thêm nghiệp mới. Ngoài các khoá lễ, đi đứng nằm ngồi, quét nhà thổi cơm.v.v...tâm nhớ miên mật sáu chữ hồng danh. Như dùng phèn lắng nước đục, ta tập lắng dịu lòng trần. Định thần thì tuệ sáng. Thất tình lục dục tiêu trừ, ba độc tham sân si mòn mỏng, bao nhiêu phiền não diệt sạch. Được thế thì Cực Lạc hiện tiền, lo gì tâm chung không đến Tây Phương. Vẫn hoà mình với đời, tận lực đọ sanh mà không nhiễm trần vọng. tư tưởng giải thoát từ bi, lại được hào quang Phật tiếp dẫn, thì con đường thánh thiện đâu có nhọc nhằn khó đi. Niệm Phật chẳng cứ sớm chiều, giàu nghèo sang hèn, kẻ bận rộn, kẻ thanh nhàn, ai ai cũng cần niệm Phật. Bởi vì mỗi niệm, mỗi phút giây, nương oai thần Phật, nương nguyện Lực Phật, bao nhiêu tiền oán chướng được băng tiêu, do đây giải thoát các tai nạn. Gia quyến bình an khang thái, cửu huyền thất tổ siêu thăng. Niệm Phật dủ tín nguyện hạnh, thiện căn vững chắc, dõng mãnh đoạn trừ phiền não, một lòng cứu khổ ban vui, gieo giống Bồ-đề, viên thành phước tuệ, thì thiên long quỷ thần ủng hộ, A Di Đà Phật cùng Thánh chúng đón mừng. Mau chân nhẹ gót lên thuyền, rời bến sanh tử Ta Bà ô trược, tới bờ Lạc bang vĩnh viễn an vui. Ai ơi! Niệm Phật quý báu vô vàn! 19. TỊNH ĐỘ Chiêm bao thấy một vị sư dạy ba pháp tối thắng: Danh hiệu phật A Súc, Thích Ca Mâu Ni và A Di Đà. -Con đã niệm vài ức danh hiệu phật A Di Đà -Tuy cô niệm mà không có tướng niệm trong tâm. Tỉnh dậy không hiểu sao. Nhân kỳ nhập thất này có chút công phu nên biết được. Bèn hành công phu lại quả nhiên an lạc. Nên viết thành bài mong giúp kinh nghiệm cho chị em. I. NIỆM PHẬT THẬT TƯỚNG Niệm Phật có 2 nghia quyết định: 1. Đánh thức tánh. 2. Nương đại nguyện lực Phật A Di Đà. Từ vô thuỷ chúng ta mải sống với thân tâm sanh diệt, chưa từng một niệm phản chiếu tự tánh. đâu ngờ gốc của sanh là vô sanh. Niệm Phật là nhớ đến tánh Vô Lượng Quang, Vô Lượng Thọ, Phật và ta đồng thể. Chỉ vì ta sống với tâm thức sanh diệt nên Niết-bàn ẩn mà lục đạo hiện. - Tánh chân là thể( chủ) - Vọng tâm là tướng dụng ( khách) Tánh và tướng hiển bày lẫn nhau. Bội trần hợp giác đến trình độ nhập lưu, sẽ thấy Phật A Di Đà, vì đã vào được nhà vô sanh. Chân tâm như cái gương thường trụ bất động. Ánh sáng của gương( minh) chiếu ra vọng cảnh sanh diệt, tướng phần của 6 thức. Chúng ta lầm nhận bóng là thật và ở ngoài, quên chân tâm thường tịnh ( gương). Người khéo niệm Phật cũng thế, dùng mà chẳng chấp có, tịnh mà chẳng chấp không. Tướng niệm và tánh vô niệm đã chẳng trái nhau lại còn sáng tỏ cho nhau. Tâm an ổn Thái Bình. II. PHƯƠNG PHÁP TU HÀNH Phật và chúng sanh chỉ cách nhau một cái vọng tưởng. Hữu niệm là chúng sanh, ly niệm là Phật. Muốn được ly niệm phải tập vô niệm: Cổ đức thường nói:” Vô tâm, đạo dễ tìm”. Vô tâm chẳng phải không thể chất mà chit hết vọng tưởng. Như nói “ cái bình không”, là muốn nói trong bình không vật chớ chẳng phải không có cái bình. Có ba phương pháp: 1.Cảnh hết tâm còn như chuyên phản văn. Áp dụng vào Tịnh-độ thì dũ sạch vạn duyên, nhất tâm niệm Phật. 2. Còn cảnh còn tâm. Đức Quán Tự Tại tu hành tinh thâm pháp Bát Nhã ba la mật đa, chủ chương hư không đâu bị keo dính. Trong pháp môn Tịnh-độ, chuyên giữ một danh hiệu Phật làm cảnh từ tâm ra tiếng. Tiếng lại rành rẽ nghe vào tâm. 3.Nhiếp cảnh vào tâm( tướng tánh nhất như). Lăng Nghiêm nói:” Cái cây không phải tánh thấy, làm sao thấy được cây?” Vạn pháp quy về Như Lai Tạng. Người niệm phật đã tin chắc vạn pháp duy tâm, nghĩa là pháp giới duy vật. Pháp-thân Phật ở mười phương, ngay quanh ta, tại thân ta, không lìa ta. Kinh dạy: “ Năng niệm sở tánh không tịch. Cảm ứng đạo dao khó nghĩ bàn”. Đức Đại Thế Chí dạy: Thâu nhiếp sáu căn chuyên một tịnh niệm. Không cần phương tiện nào khác mà cùng khai ngộ được tâm mình. III.NHÂN TÁNH VÔ SANH TRONG SÁU CĂN -A Di Đà : Vô Lượng Quang, Vô Lượng Thọ Vô Lượng Thọ: Vô sanh, thường trụ. Vô Lượng Quang: tánh bản giác ở khắp mười phương. -Kinh Lăng Nghiêm đích chỉ tánh thấy là tâm linh giác và nói rõ tánh bản giác của chúng ta hiện đang lưu lộ ở sáu căn. Mười phương Phật đồng nói:” Luân chuyển sanh tử cùng từ sáu căn, mà tu chứng thanh tịnh diệu thường cũng từ sáu căn”. Đây là chỗ cổ đức bảo: Chính nơi vọng tưởng hiện là chỗ hành của thánh trí. Chân lý cùng cực ở ngay con người mà con người không biết, thật là đáng thương. Đức Lục Tổ dạy:” Quên tánh mà thấy nghe hay biết, càng thấy nghe hay biết càng mê”. Vì căn trần thức chẳng lìa nhất tâm. Chỉ có mê ngộ thành ra xa cách. Câu Niệm Phật được coi là vừa song hành vừa song khiển. Song hành là chân tục song song: a)Vì khế cơ nên dùng pháp hữu vi khởi niệm. b) Vẫn khế lý vì mỗi niệm khiến nhớ tới bổn thể tự tánh quang minh vô sanh diệt. Song khiển là buông xả cả hai: Ngài Đại Thế Chí nói: Thâu nhiếp 6 căn chuyên một tịnh niệm vào Tam-ma-địa a)Thâu nhiếp 6 căn: Buông xả hẳn cuộc đời thế tục. b)Vào Tam-ma-địa: Vào chánh định thì không còn phàm thánh, năng sở. Niệm đã tới chỗ vô niệm thì cảnh tịch diệt hiện tiền. Ngài Trung Phong viết:” Sum la vạn tượng hiện trong đại viên kính trí như mây qua lại trong hư không. Không phân biệt gọi là nhất tâm không loạn. Đến đây quên cả thân tâm”. Đây là pháp như như đang tu nhân mà không nhiễm. IV. PHÁ NGÃ ĐỂ SÁNG TỎ TÁNH VÔ SANH Long Thọ dạy: “ Có bệnh phải dùng đúng thuốc mới lành. Thuốc của tiểu thừa là toạ thiền quán khổ. Thuốc của Bồ-tát là quán các pháp không buộc không cởi”. Buộc là phàm phu vướng mắc tốt xấu. Cởi là nhị thừa quán duyên sanh để giải ba độc tham sân si. Bồ-tát sống với tự tánh nên không buộc không cởi. Nay người niệm phật, sống với tự tánh A Di Đà không buộc không cởi. Nhưng phải uống thuốc đúng bệnh. Nếu tự xét còn nặng nghiệp thế gian thì phải kiêm tu các pháp tiểu thừa để thanh lọc tâm tánh. Lục Hạnh Tập viết: 1)phàm phu bố thí khởi tâm kiêu mạn thành tội 2)Khởi tâm cung kính thành phước 3)Nhị thừa bố thí quán pháp vô thường. 4)Sơ tâm Bồ-tát bố thí quán pháp vô ngã. 5)Đại Bồ-tát bố thí quán tam luân không tịch. 6)Phật đã chứng duy tâm, bố thí ly niệm thường tịch. Một hạnh bố thí có 6 tướng khác nhau. Niệm Phật thật dễ nhưng pháp môn này lại rất khó hiểu khó tin. Căn cơ chúng sanh lược nói có 3 nhưng thật ra vô lượng nên hành tướng cũng vô cùng. Đau khổ sanh tử đều do chấp ngã mà ra. Vô-thượng Bồ-đề phước tuệ trang nghiêm, bắt đầu phải từ xả ngã. Chấp ngã mở ra các thứ chấp, chôn vùi Pháp thân. Không phá được năm ấm tức là không ra khỏi sanh tử. Nên thường quán thân bất tịnh, thọ thị khổ, tâm vô thường, pháp vô ngã. Có trí tuệ Tứ Niệm Xứ thì niệm phật sẽ tinh tấn và sớm kết quả. V.THỊ TÂM THỊ PHẬT, THỊ TÂM TÁC PHẬT ( Kinh Quán Vô Lượng Thọ) Nắm đến chuỗi tràng, trần niệm dứt. Nghiễm nhiên thành Phật đã từ lâu. Hễ cứ bỏ được trần tâm, liền sống ngay với Phật tánh, biết sắc tâm không, thành Phật chẳng khó. Người mê tu nhân đợi quả . Người trí ngay chỗ dùng hàng ngày được vô sanh. Có người cho rằng mình nhiều vọng niệm rất khó tu, đâu biết rằng đây là tại duyên nhiều cảnh. Gương vì có tánh sáng mới chiếu soi. Vật bóng tuy nhiều nhưng sát chiếu có một. Thế gian có trăm ngàn đường nguy hiểm từ tâm niệm chúng ta đưa tới. Trí Tuệ Phật dạy chúng ta lọc bỏ hết đi, vạch bày một con đường thẳng tắt đưa về cõi An Lạc. Đặt chân cất bước là phàm phu, tới cuối đường bảo đảm sẽ thành Bồ-tát vô sanh bất thoái, để tiến lên nhất sanh bổ sứ. Chỉ cần ở chúng ta quyết tin và quyết đi. Quyết tin ngũ dục thế gian là đám bùn chôn người không có ngày ngóc đầu ra. Ngài Đức Sơn bảo: “ Mảy may hệ niệm là nghiệp nhân tam đồ, chớp mắt tình sanh là gông xiềng muôn kiếp”. Há cho tu hành là việc trì hoãn được ư? Cổ nhân nói: “ Một câu niệm Phật mà dựa không vững, nắm không chắc, thường ngày không chuyên, thì làm sao được tương ứng lúc trở về?” Bởi vì dù đã ngộ, vẫn còn ở bên này bờ sanh tử. Lâm chung, chỉ có tâm tịnh biến thành cảnh tịnh, tâm nhiễm biến thành cảnh nhiễm. Giờ phút gió phong đao xẻ thân, mấy ai còn tự chủ? Nên ngay bây giờ cần phải sớm chiều niệm Phật. TÍN NGUYỆN HẠNH Thầy soạn hoạt cảnh Tín Nguyện Hạnh để đại chúng vừa giải trí, vừa ôn bài, vừa điểm một nét vui vào ngày lễ tạ khoá học kinh A Di Đà cuối đông mỗi năm. Kính chào liệt vị chúng trung tôn, các đại sĩ cao cấp của nền triết lý Á Đông! Chúng con là ba mãnh tướng của chùa Hương Sen, trung tâm văn hoá đại đạo Thích Ca. Hôm nay, giờ này,xin đảnh lễ ra mắt. ( cúi đầu ba xá) Mỗi năm có bốn mùa: Xuân, Hạ , Thu, Đông. Con người có bốn khổ: Sanh già, bệnh, chết. Đức Thích Ca nói kinh A Di Đà, khai sinh ra mấy con từ 3000 năm ở xứ Ấn Độ. Các Tổ như Tổ Huệ Viễn đã nuôi nấng cả ngàn năm ở xứ trung hoa nên chúng con mới được phình lớn thế này. Ngẫu Ích Dại sư đặt tên chúng con minh bạch là TÍN< NGUYỆN và HẠNH. Rồi Nam Quốc Sơn Hà, Nam Đế truyền nối cho đến ngày nay. Thôn Phú An, xã Phú Hội, huyện Đức Trọng, Tỉnh Lâm Đồng, cứ mỗi tiết Đông lạnh lẽo, các chùa khai khoá học kinh A Di Đà, quý sư cô lại gọi mấy con về để hăm đuổi lũ giặc phiền não xâm lăng, củng cố nền độc lập Vô Lượng Quang Thọ. Con là TÍN đại sĩ, đã gây dựng được sự nghiệp là toà Bulding 10 tầng 5 căn, 5 lực, toàn nhờ công mẫn cán của sáu đệ tử. Thưa, đệ tử số 1, Con tên là TIN MÌNH. Con tin chắc chắn thế giới An Lạc vốn sẵn đang ở ngay trong tâm tánh mình. Chỉ cần tận lực tỉnh ra, đừng để kiến-hoặc tư-hoặc rối loạn bưng bít ngày đêm chấp ngã chấp pháp, đến nỗi tâm chân thật của mình bị che kín như vầng trăng ở trong đám mây đen. Tìm hiểu tánh Phật của mình là sự nghiệp Tịnh-độ hoá thế gian 5 ấm ngũ trược của 7 thú. Sự nghiệp này phật tử phải làm ngay. Trước là vâng giới luật không dám áp bức một loài nào dù là con sâu cái kiến. Sau là khai trí bình đẳng, tôn trọng muôn loài hàm thức, tận tình cứu giúp lẫn nhau. Thưa đệ tử số2 con tin là TIN NGƯỜI. Con tin Phật Thích Ca không nói dối. Tin Phật A Di Đà không nguyện suông. Tin 6 phương Phật tướng lưỡi rộng dài quyết không hai lời. Tin lịch đại Tổ sư đã hoằng truyền tông Tịnh-độ là những bậc chân thật ngữ. Thưa, đệ tử số 3, con tên là TIN NHÂN. Con tin quyết định rằng: Nếu đem ba nghiệp thanh tịnh mà niệm phật, thì mỗi niệm là một bước về cõi An Lạc của Phật A Di Đà. Thưa, đệ tử số 4, con tên là TIN QUẢ. Con tin rằng các bậc thượng thiện đang tụ hội ở cõi An Lạc đều do tâm thanh tịnh niệm Phật mà đã kết quả. Con tin rằng: Cõi Cực Lạc hiện nay hoàn toàn do chí nguyện và hạnh tu của Phật A Di Đà cùng các Bồ-tát tạo thành. Thưa đệ tử số 5, con tên là TIN SỰ. Con tin chắc chắn cõi An Lạc có thật ở phương Tây. Con tin chắc chắn Phật A Di Đà đang thật sư phóng hào quang khắp mười phương để tiếp dẫn chúng sanh niệm Phật về cõi Phật. Thưa, đệ tử số 6 con tin là TIN LÝ. Con tin rằng bao nhiêu hoa đốm xanh đỏ, quay cuồng đều do thần kinh mỏi nhọc tự thấy ra. Cảnh giới Ta Bà đã có 6 căn tuần nghiệp xấu ác mà xuất hiện. Thì nay sáu căn thanh tịnh làm nhân, theo duyên thanh tịnh của Đức Phật, hẳn về Tịnh-độ trang nghiêm còn nghi ngờ gì nữa. Tánh Vô Lượng Quang Thọ là căn bản trí, đang lưu lộ ở sáu căn của chúng ta. Lấy đây làm nhân Bồ-đề là tu liễu nghĩa, để cầu thành Phật là chứng liễu nghĩa. Kinh A Di Đà là pháp môn tối cực viên đốn. Trì danh là nghe rõ danh hiệu Phật. Ai cũng biết tánh nghe và viên pháp. Mỗi niệm Phật là một nhớ đến Phật tánh. Nhât tâm bất loạn là hoàn toàn sống với Phật tánh, là đốn thành Phật quả. ( TÍN đại sĩ đứng giữa các đệ tử nói) Đức Phật dạy: Cửa ải sanh tử rất khó giải thoát. Chẳng nói những kẻ tu hành lơ mơ, trí tuệ ngông cuồng, buồn tủi không kết quả. Ngay những thiền gia đốn ngộ, lúc lâm chung, nếu tập khí còn sót một mảy tơ, cùng thừa sức mạnh lôi đi truỵ lạc. Vĩnh minh thiền sư bảo rằng:” Ấm cảnh hiện ra, chỉ chớp mắt là theo nó”. Nghe lời này, người trí tuệ rùng mình, lạnh buốt trái tim. Người được đạo quả thứ nhất là Tu-đà-hoàn rồi mà còn mê muội trong bào thai. Bồ-tát cách ấm còn hôn ám. Chỉ nhờ sức Phật mới thoát được hiểm nguy đầu thai. Từ bi lực của Phật và Thánh chúng mới đủ sức mạnh tiếp dẫn vãng sanh. Vì thế đức Thích Ca khuyên đi khuyên lại chúng ta phải tin sâu rằng: Chỉ có niệm Phật mới bảo đảm giải thoát. Vui cầu cõi tịnh là phát khởi cái tâm làm thiện. Chán bỏ Ta-bà là quyết định cái tâm phá ác. Chỗ thủ xả này mà chưa có, thì mong gì liễu ngộ lý Phật. Kinh nói: “ Ta thấy lợi thế, cho nên nói thế”. Rõ ràng mắt Phật thấy, tiếng Phật nói để ấn định sự thật này. Chúng ta nên một lòng tin Phật, vâng lời Phật mà niệm Phật cầu về cõi Phật đi. Kính thưa, con là NGUYỆN đại sĩ. Ai nấy đã tin chắc cõi Ta-bà nhơ uế là do công nghiệp những tâm tánh nhơ uế hiện ra. Đúng lý nên chán bỏ. Cõi An Lạc thanh tịnh là do công nghiệp những người thanh tịnh tạo ra. Đúng lý, ta nên vui cầu. Đã thấy đáng chán bỏ thì quyết định buông xả. Đã thấy nên vui cầu thì nhất định hướng về. Nếu sự đã làm chẳng xong thì biết lý hẳn chưa thấu triệt. Chuyển phiền não thành Bồ-đề. Chuyển pháp giới phàm mê thành pháp giới thanh lương. Chí nguyện này phải minh bạch rõ ràng. Ở cõi Ta-bà, được nghe được thấy thánh nhân đã quá hiếm, huống chi thân cận. Ngày nay, chỉ cần chuyên niệm phật liền được về Tịnh-độ, được Thánh nhân làm Thầy làm bạn, cùng diệt vô minh, cùng lên Diệu Giác. Bởi vì niệm Phật có nhiều thiện căn phước đức nhân duyên nên cảm quả báo được chung sống với các Thánh Hiền. Ta-bà là một cửa ải khó lòng ra thoát. Trong sáu đạo luân hồi, loài người độc nhất có điều kiện thoát ly. Cõi trời bị căn trần đêm ngày gây mê, khó khăn tỉnh thức. Các cõi dưới phiền não chướng, chướng nghiệp, báo chướng bức bách, làm sao mống được một niệm trí tuệ. Chỉ có loài người hiểu nổi tin nổi công đức và sức mạnh của chí nguyện. Nguyện lực không thể nghĩ bàn đã khiến Pháp Tạng Tỳ-kheo thành Phật A Di Đà. Thì nay đại thệ nguyện lực cũng phá tan được lùm mây 5 ấm vô minh đưa chúng ta trở về chân tâm bản tánh. Tinh sâu, nguyện thiết là cất bước trên đường Bồ-đề, là kim chỉ nam là vượt biển sanh tử. Kinh Hoa Nghiêm dùng 100 thí dụ vẫn chưa nói hết thịnh đức thiết yếu của Bồ-đề nguyện. Kính thưa đại chúng, con là HẠNH đại sĩ. Chấp trì danh hiệu Phật A Di Đà, lấy nhất tâm bất loạn làm hẹn kỳ, lấy vãng sanh làm mục đích. Tâm ta có cảm thì tâm Phật tất ứng. Như thế cứ mỗi niệm là đức Phật thật sự đang tiếp dẫn chúng ta vãng sanh. Cứ mỗi niệm là chúng ta đang đem thể chất gởi vào trong hoa sen báu. Luôn luôn niệm danh hiệu Phật là Tự Tuệ A.CÓ 2 LỐI CHẤP TRÌ 1-Sự trì: là một lòng niệm Phật cầu về Tịnh-độ như con thơ nhớ mẹ không quên. 2-Lý trì: Tin Phật A Di Đà và cõi tây phương ở ngay trong tâm mình. An định tinh thần vào danh hiệu Phật khiến tuệ hằng sáng chiếu nghe rõ. B.NHẤT TÂM CŨNG CÓ 2 1-Bất luận sự trì hay lý trì, hễ phục trừ được phiền não, diệt xong kiến-hoặc và tư-hoặc là được Sự nhât tâm. 2-Bất luận sự trí hay lý trí, hễ minh tâm kiến tánh là được Lý nhất tâm là Tu Tuệ. Danh hiệu Phật A Di Đà là danh hiệu của chân tâm bản tánh Phật. Cái tâm mình đang niệm Phật đây cũng chân thật lắm. Mỗi tiếng niệm Phật là một hạt giống Bồ-đề. Công đức quả tình chẳng thể nghĩ bàn. KẾT KHUYẾN ( Tất cả 9 người vừa đi vừa nói) Loài người chúng ta: 1-Hiện đang ở trong kiếp trược, quyết định đang bị vô lượng khổ áp bức. 2-Hiện đang ở trong kiến trược, quyết định đang bị cái trí xảo trá chỉ huy. 3-Hiện đang ở trong phiền não trược quyết định bị tham dục sân giận, các thứ tâm độc kích thích. 4.Hiện đang ở trong chúng sanh trược, quyết định cứ cam phận sống đắng cay chết đoạ đày, không bao giờ ngờ rằng mình có thoát ly. 5-Hiện đang ở trong mạng trược, quyết định bị ma lực vô thường như lửa cháy bốn bên mà cứ rong chơi nô đùa, đâu có tỉnh ngộ được. 6-nay nghe được pháp môn niệm Phật này chúng con vui mừng tin chịu, quy mệnh đảnh lễ thực hành. 7-Cứ một chiều tiến mãi không thôi, đem kinh lưu thông truyền bá khắp nơi, đền đáp ơn sâu của Phật Tổ. 8-Chúng con sẽ đi, đi mãi xuất đời vị lai, giáo hoá không cùng không tận. 9-Nam mô A Di Đà Phật, Nam mô A Di Đà Phật, Nam mô A Di Đà Phật... V MÙA XUÂN TỪ 16-01 ĐẾN 14-04 1. NGÀY 16-01 THỈNH PHÁP Kính thưa sư cô Pháp sư! Mùa đông, mai vàng rực rỡ mừng hải hội Di Đà vừa tàn thì hôm nay mùa xuân Lăng Nghiêm đã trở về trên miền cao nguyên với thông xanh trúc biếc. Chúng con nỗ nực phấn khởi đón mừng xuân Lăng Nghiêm, đem ánh sáng trí tuệ tăng trưởng Bồ-đề cho hàng hậu học. Chúng con vô cùng cảm động khi thấy ngay trên giường bệnh, Thầy vẫn hết sức cố gắng soạn thảo ghi chép. Quý Sư cô phụ Thầy thâu đêm suốt sáng làm việc, những mong bộ Lăng Nghiêm hoàn hảo để truyền tói lớp trẻ chúng con. Hôm nay trong khung cảnh trang nghiêm của bảo điện. Chúng con đảnh lễ cung thỉnh Sư cô Pháp sư thay Thầy khi giảng bộ Lăng Nghiêm, chúng con nguyện cố gắng giúp đỡ lẫn nhau, kiên trì tinh tấn tu học để khỏi phụ lòng trên Thầy và Sư cô trong muôn một. Từ bàn tay trăm phước trang nghiêm, Thầy đã bao năm nuôi nấng, ân cần đùm bọc để măng non thành cứng cáp, những mong sau này vận chuyển guồng máy Tăng già, bảo tồn mang mạch Phật Pháp. Chúng con nhất tâm đảnh lễ mười phương chư Phật, chư đại Bồ-tát, thiên long bát bộ, Hộ Pháp tôn thần ngày đêm ủng hộ cho lớp học Lăng Nghiêm được vuông tròn, chúng con đủ sức trí tuệ thâm nhập pháp môn đại thừa, hoa Bồ-tát tươi nở, quả Bồ-đề sớm viên mãn. Nguyện cầu Thầy vô lượng thọ. Sư cô Pháp Sư vô lượng quang và toàn chúng vô biên công đức. Nam mô Lăng nghiêm hội thượng Phật Bồ-tát. Nam mô Nhĩ căn viên thông đại bi Quán Thế Âm Bồ-tát. Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật Nam mô Phật Đảnh Thủ Lăng Nghiêm Tôn Pháp. Nam mô Khải Giáo Ananđà tôn giả. Một nén chiên đàn hương Khói toả khắp mười phương, Thỉnh sư lên bảo toạ Phật pháp rộng tuyên dương. Hàng phục ma lực oán Trừ kết tận không dư, Đàn tràng dung chuông khánh Thỉnh Pháp Sư an toạ. Chúng con cầu nghe Pháp Mong qua biển sanh tử, Ngày nay đủ duyên lành Khấu đầu cung kính thỉnh. Kính Bạch Sư cô pháp sư! Ai cũng biết từ xưa Mật tông vẫn cấm nghiệt không cho truyền bá bừa bãi giáo pháp của mình. Các vua Ấn Độ hộ pháp, phạt tử hình những ai không tuân lệnh. Nên bộ Lăng Nghiêm không được tự do truyền bá ra nước ngoài. Mãi đến đời Đường mới có Samôn Bát Lặc Mật Đế lấy một thứ mực không chi làm phai được, viết trọn bộ Lăng Nghiêm vào một thứ lụa thật mỏng, rạch vế đùi nhét vào rồi khâu lại, giả làm vết thương, theo các lái buôn đi đường biển, vào Trung Quốc. Do đây Phật giáo châu á mới có kinh Lăng Nghiêm để ngày nay truyền bá đến chúng con. Như vậy các bậc tiền bối đã vì đạo xả thân, chịu đau chịu khổ bao nhiêu để có Pháp bảo lưu truyền hậu thế. Cũng bởi vì Kinh Lăng Nghiêm là chìa khoá mở kho tàng giáo lý đại thừa. lại có lời huyền ký rằng:” Thời mạt pháp kinh Lăng nghiêm sẽ mất đầu tiên, Kinh A Di Đà còn lại đến cuối cùng”. Như vậy có nghĩa là nơi nào còn kinh Lăng nghiêm nơi ấy còn chánh pháp. Kính thưa Sư cô! Khế kinh còn dạy:” Bị thiêu đốt trong địa ngục chưa gọi là khổ. Chỉ ngu si chưa biết hướng đi mới thật là khổ. Vì ngu si là gốc nguồn tội”. Lại dạy: Thân người khó được, Phât pháp khó gặp, thời khắc dễ qua, đạo nghiệp khó thành. Nay chúng con đã có đại phước được sanh vào một gia đình Giàu Phật pháp. lại tới thời tiết nhân duyên được quỳ trước Tổ đường thỉnh pháp. Cầu mong sư cô khai kinh Thủ Lăng Nghiêm, chỉ mở đường Bồ-đề cho chúng con phân biệt được cái giả và cái thật ở ngay thân tâm mình, để chúng con sống hợp với lẽ phải, ngõ hầu vĩnh viễn thoát khổ, hưởng vui Thánh Hiền. Ngưỡng nguyện thiên long bát bộ Hộ Pháp tôn thần thuỳ từ gia hộ Sư cô Pháp sư của chúng con Pháp thể khinh an, lớp học thành tựu viên mãn. Nam mô Độ Nhân Sư Bồ-tát ( 3 lần). 2. NGÀY 08-02 ĐỨC BỔN SƯ XUẤT GIA (Xem Kinh BẢN HẠNH TẬP) 3. NGÀY 15-02 PHẬT NHẬP NIẾT BÀN Hôm nay ngày trăng tròn tháng 2, chúng ta làm lễ kỷ niệm đức Phật nhập Niết-bàn. Lắng nghe lời di giáo: “Này Anan, sau khi ta Niết-bàn, ông phải siêng năng đem diệu pháp dạy răn hậu lai. Ai còn thống khổ trong ba cõi, phải mau cầu giải thoát. Ngũ trược ái dục rất đáng chán. Không có cách nào giải thoát được móng vuốt quỷ vô thường. Một khi mất thân người, vạn kiếp chưa được trở lại. Phải điều phục, đưa tâm vào đạo quả. Ba nghiệp thanh tịnh mới hy vọng sanh về cảnh giới tốt đẹp. Chớ để đời này luống qua, về sau ăn năn không kịp”. Ngài Anan té xỉu. Ngài A Na Luật Đà an ủi:” Hôm nay dầu còn được nghe Phật nói, sáng mai đã thành không. Ta chớ để mất chút thời gian vàng ngọc này, mau mau thưa Phật. Mai đây vắng bòng Phật 1.Chúng con thờ ai làm Thầy? 2.Các Tỳ-kheo ác tánh, làm sao chuyển hoá? 3.Chúng con làm sao cùng họ ở chung?” Ngài Anan bạch Phật. Đức Phật dạy: Sau này giới Ba la đề mộc xoa là đại sư của các ông, nương đây tu hành sẽ được định tuệ xuất thế. Này Anan, dùng thiện phương tiện có thể cải hoá những ác tánh. Hành khổ đầy tràn ba cõi. Cỗi gốc là vô minh. Nếu được trí tuệ Bát Nhã huân ướp thì vô minh dứt. Sanh, lão, bệnh, tử, ưu bi khổ não sẽ không còn. Giáo pháp chánh quán 12 nhân duyên đưa các Tỳ-kheo đến thanh tịnh thượng quả. Như Lai là đấng chân ngữ. Đây là nơi phó chúc tối hậu, các ông phải vâng theo. Này các Tỳ-kheo, sau khi Phật nhập Niết-bàn, các ông phải nương Tứ Niệm Xứ mà an trụ. Quán, thân, thọ, tâm pháp vô thường, vô ngã, khổ và không, sẽ diệt hết ưu lo, viên mãn giới định tuệ, 3 vô lậu học. Anan lại bạch:” Sau này tín tâm đàn việt cúng dường Như Lai thời phải xử trí thế nào?” Tạo tượng Phật, sắm các thứ hương đèn phan lọng. Ai lạm dụng phạm tội ăn trộm của Phật. Anan lại hỏi: Cúng dường Như Lai hiện tiền và cúng dường tượng Phật. Phước đức nào hơn? -Đáp: như mau không khác. Trên trời, cõi người, ai cung kính lễ bái tán thán cúng dường Như Lai công đức vô lượng vô biên. Anan nên biết Tam-bảo vẫn thường trụ, làm chỗ nương tựa vĩnh viễn cho tất cả chúng sanh. Lúc đó đức Thế Tôn vạch y Tăng-già-lê để lộ ngực hoàng kim bảo đại chúng:” Hãy chí tâm nhìn kỹ thân vàng Như Lai! Ai thấy hình Phật, gặp ánh sáng Phật đều sẽ được giải thoát”. Ba phen ân cần khuyên bảo như vậy rồi bay lên hư không, bảo đại chúng:” Hãy chí tâm nhìn kỹ thân vàng của Như Lai”. Từ hư không xuống lại bay lên, tất cả 24 lần ân cần bảo đại chúng:” Hãy chí tâm nhìn sắc thân vàng Như Lai. Người khát nước phải uống đến no. Sau này biết bao giờ mới lại được thấy thân Như Lai. Thấy thân Như Lai thì bao nhiêu tội ác, bát nạn, tam đồ đều được tiêu trừ”. Giữa đêm ấy đức Như Lai nhập trí thiền, yên lặng Niết-bàn trong rừng Ta La. Mười phương thế giới chấn động. Mười phương biển cả cuộn sóng. Đêm tối mịt mù, gió gào khắp rừng sâu:” Thương thay, từ nay thế gian không còn con mắt Tuệ”. Ngài Anan lại té xỉu. Ngài A La Luật Đà an ủi:” Phật dù đã Niết-bàn nhưng còn xá lợi và Pháp bảo. Ông và tôi có bổn phận phải thay Phật hoằng dương đạo giải thoát. Đưa chúng sanh ra khỏi biển khổ là báo đền ơn Phật trong muôn một”. Xá lợi Phật được chia làm tám phần. Tám vua thỉnh về nước mình xây tháp cúng dường. Thế là cõi Diêm-phù-đề có tám tháp thờ xá lợi. Khi ấy chư Bồ-tát, Thanh-văn, trời rồng, 8 bộ quỷ thần, ai nấy cúi đầu đảnh lễ phụng trì. ỨNG TẬN HOÀN NGUYÊN Ứng thân đức Bổn sư đã viên mãn sự nghiệp độ sanh. Nay nhập Niết-bàn là trở về thể tánh chân thật, trở về Pháp-thân. Đức Thế Tôn phổ cáo đại chúng:” Ta dùng mắt Phật xem khắp ba cõi sáu đạo chúng sanh, chánh báo y báo, tướng đều hư vọng như hoa đốm. Nhưng thể táng vẫn thường trụ thanh tịnh bất động như hư không”. Phàm phu không giác biết nghĩa này, cho rằng Phật nhập Niết-bàn là mất hẳn. Sự thật Phật nhập Niết-bàn là trở thành bổn tánh vô lượng quang, vô lượng thọ. Chúng sanh quen sống với sự tướng, khó tin được những gì gì mắt không thấy, tai không nghe nên Đức Phật giáng thần về xứ Ấn Độ, hiện thân tu hành chứng quả. Phật giáo dạy các đệ tử phải quan sát tánh chất thế gian vô thường, vô ngã, khổ và không. Phàm có hình tướng đều hư vọng. Ai lấy âm thanh, sắc tướng cầu Phật đều là tà đạo, không thể thấy Như Lai. Cho nên đích thị Phật cũng hiển thị vô thường. Đúng pháp lý thế gian, Phật nhập Niết-bàn. Thật ra vạn pháp chẳng chỗ nào, chẳng thời gian nào không phải là Phật. Phật bảo thươngf trụ ở khắp mười phương suất quá khứ, hiện tại, vị lai. Chỉ vì không hình không tướng nên thế gian không ngờ là Phật vẫn ngày đêm ở trước mặt mình, ở ngay trong tâm mình, ở khắp quanh mình. Vì thế những ai cung kính, tán dường, lễ bái tán thán hình tượng Phật, được phước như cúng dường Phật tại thế không khác. Ngài A Na Luật Đà hiểu rõ ý chỉ này nên đã vững tâm an ủi Anan. Thân ứng hoá dù có đổi thay nhưng Pháp-thân vẫn thường trụ. Trí thân Phật vẫn thấy rõ chúng ta, hộ trì chúng ta. Bổn phận chúng ta phải thờ phụng xá lợi để bảo tồn phước điền cho thế gian. Chúng ta phải thay Phật hoằng dương chánh pháp, làm chỗ quy y cho chúng sanh. Chúng sanh nương pháp bảo tu hành, sẽ được thấy Pháp-thân Phật. Như thế mới là chân thật báo ơn Như Lai. Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Nam mô đại thánh A La Luật Đà tôn giả. Nam mô đại thánh Ananđà tôn giả. Nam mô Hộ Pháp chư tôn Bồ-tát ma-ha-tát, thiên long bát bộ Hộ Pháp tôn thần thuỳ từ minh chứng. 4. NGÀY 19-02 QUÁN ÂM QUẢNG TRẦN (Đọc bài giải nghĩa trong kinh Lăng Nghiêm) 5. NGÀY 21-02 LỄ ĐỨC PHỔ HIỀN -Kinh Hoa Nghiêm nói về nhân Hạnh Phổ Hiền. -Kinh Pháp Hoa nói về quả đức Phổ Hiền. Nhân hạnh thể hiện rõ nét trong Phẩm Nhập Pháp Giới. Thiện Tài diện kiến người thừa kế đức Thích Ca là Di Lặc Bồ Tát. Di Lặc giữ bảo tạng Như Lai mới đủ tư cách mở cửa Tỳ Lư Giá Na cho Thiện Tài vào đảnh lễ đức Pháp-thân thường trụ. Thâm nhập Tỳ Lư Giá Na tánh rồi, hành giả chấm dứt giai đoạn 1, hiểu giáo lý qua kinh nghiệm sống trên 52 chặng đường học đạo. Qua giai đoạn 2, hành giả tự phát triển thực hiện những việc của đức Phật đã thành tựu. Việc này không đơn giản nên Di Lặc khuyên Thiện Tài phải tìm Văn Thù. Ở giai đoạn một, hành giả gặp Văn Thù, để trang bị cho mình trí tuệ vô lậu, thấy biết diễn tiến sự vật bằng trực giác của bản tâm thanh tịnh. Bấy giờ Văn Thù đứng cách 110 do tuần, vươn tay xoa đỉnh đầu Thiện Tài, nêu biểu dù cách xa Thầy muôn dặm hành giả vẫn nghe và nhận được pháp âm vi diệu của Thầy truyền qua bản tâm thanh tịnh. Còn giai đoạn 1 cần có Thầy ở bên cạnh để dìu dắt. Văn Thù đưa Thiện Tài nhập pháp giới để gặp Phổ Hiền. Thiện Tài không thấy Phổ Hiền bằng mắt. Phải quan sát Phổ Hiền hạnh mới thấy. Nhờ thiện căn phúc đức nhiều đời, Thiện Tài thấy thân Phổ Hiền trùm khắp pháp giới. Ba đời chư Phật đều nằm trong một chân lông của Phổ Hiền. Phổ Hiền có khả năng phân thân mười phương và thu gọn tất cả vào một chân lông ( trí phàm chỉ đứng ngoài lề, không thể nào giải thích được cảnh giới Phổ Hiền). Phổ Hiền có khả năng chẻ các thế giới thành bụi, uống cạn nước bốn biển mà chúng sanh trong đó không hề biết là mình đã vào trong bụng Phổ Hiền. Phổ Hiền Bồ-tát tuyên bố chỉ duy nhất có một việc ngài không làm nổi là nói được hết công đức của Như Lai. Phải vào Phổ Hiền hạnh môn, tu Phổ Hiền hạnh nguyện mới hiểu được thế nào công đức Như Lai. Trước hết phải ngộ Tỳ Lư Na tánh. Phổ Hiền hạnh mênh mông bát ngát trùm khắp pháp giới, thu gọn lại mười điều. Thành tựu 10 hạnh nguyện Phổ Hiền, chúng ta sẽ đạt quả vị Như Lai. Thực tế ta không thấy Phổ Hiền nhưng hiện hữu tác động của ngài vô cùng, không đâu ngài không đến, tuỳ yêu cầu của chúng sanh. Yêu cầu hình gì ngài hiện thân đó. Nếu cố chấp Phổ Hiền với một loại hình cố định, chúng ta sẽ không có Phổ Hiền. Người ta thờ đức Phổ Hiền cưỡi voi sáu ngà. Theo lời Hoà-thượng Trí Quảng trong Pháp Hoa Lược Giải:” Sáu căn tiếp xúc với sáu trần tạo vô biên tội. Nay tu theo lời Phật dạy, sáu căn chuyển thành sáu ngà giúp ngài tạo muôn vàn công đức. Sáu ngà là sáu thần thông. Voi là loài có khả năng chở nặng đi ngược dốc không gì chướng ngại. Sức mạnh của voi nêu biểu bất tư nghị lực, hàng phục được tất cả ác thế gian, làm được tất cả những việc khó làm”. KINH HOA NGHIÊM PHẨM 40-Phổ Hiền Hạnh Nguyện Phổ: đức trùm pháp giới. Hiền: thuận theo hạnh lành. Hạnh: xứng tánh tu hành. Phổ có mười nghĩa: 1.Cầu chứng tất cả chỗ chứng của Như Lai. 2.Giáo hoá tất cả chúng sanh trong Pháp Giới. 3.Đoạn trừ tất cả phiền não, không để sót một vi trần. 4.Không một hạnh lành nào, dù nhỏ như mảy lông, dù lớn như hư không, mà không làm với tất cả tận tình. 5.Tất cả sự hạnh trên đều triệt nguồn lý. 6.Hạnh vô ngại: Lý sự giao triệt. 7.Hạnh dung thông: Mỗi hạnh dung nhiếp vô tận. 8.Chỗ khởi dụng: Không dụng nào không biến khắp pháp giới. 9.Chỗ hành xứ: Tám môn trên như đế võng thiệp nhập trùng trùng. 10. Thời gian hành: Cùng tận ba đời, không hạn kỳ. CHÁNH VĂN KINH Phổ Hiền Đại Bồ-tát khen ngợi công đức thù thắng của Như Lai rồi bảo Thiện tài rằng: Này thiện nam tử! Mười phương Phật nói công đức của Như Lai trải số kiếp nhiều như cực vi trần trong bất khả thuyết bất khả thuyết cõi Phật, cũng không nói hết được. Ai muốn trọn đủ công đức ấy pahỉ tu 10 đại hạnh nguyện. 1-LỄ KÍNH CÁC CHƯ PHẬT Mười phương ba đời tận pháp giới có bao nhiêu đức Phật, tôi nương hạnh nguyện Phổ Hiền, thâm tâm tín giải như đối trước mặt, đều dùng ba nghiệp thân, miệng, ý thanh tịnh mà lễ kính. Tôi hoá hiện thân nhiều như số cực vi trần trong bất khả thuyết cõi. Mỗi thân khắp lễ các đức Phật nhiều như số cực vi trần trong bất khả thuyết, bất khả thuyết cõi. Hư không kia hết, cõi chúng sanh hết, phiền não chúng sanh hết thì sự lễ kính của tôi mới hết. Nhưng cõi hư không cho đến phiền não chúng sanh không hết thì sự lễ kính của tôi cũng không cùng tận. ba nghiệp thân, miệng, ý, thanh tịnh, niệm niệm hằng lễ kính, không bao giờ chán mỏi. 2-KHEN NGỢI NHƯ LAI Mười phương ba đời tận pháp giới có bao nhiêu đức Phật. Vị nào cũng có rất đông Bồ-tát vây quanh. Tôi nương hạnh nguyện Phổ Hiền, thâm tâm tín giải như đối trước mặt, đều dùng lưỡi vi diệu hơn Biện tài thiên nữ. Mỗi lưỡi phát xuất biển âm thanh vô tận. Mỗi âm thanh diễn xuất biển lời nói, để ca ngợi công đức Như Lai. Như thế, hư không giới, chúng sanh giới, chúng sanh nghiệp, chúng sanh phiền não hết thời sự khen ngợi của tôi mới hết. Nhưng cõi hư không cho đến phiền não chúng sanh không hết thì sự khen ngợi của tôi cũng không cùng tận. ba nghiệp thân, miệng, ý, thanh tịnh, niệm niệm hằng khen ngợi, không bao giờ chán mỏi. 3-RỘNG TU CÚNG DƯỜNG Mười phương ba đời tận pháp giới có bao nhiêu đức Phật, vị nào cũng có rất đông Bồ-tát vây quanh. Tôi nương hạnh nguyện Phổ Hiền, thâm tâm tín giải như đối trước mặt, đều kính dâng cúng dường thượng diệu mây hoa, mây hương, mây âm nhạc, mây tàn lọng.v.v...Lại dâng cúng các thứ đèn, đèn dầu thơm, đèn tô lạc.v.v...Tim đèn lớn như núi Tu-di, dầu nhiều như nước biển cả. Này thiện nam tử! Trong các thứ cúng dường, pháp cúng dường là hơn hết. Pháp cúng dường là: Tu hành đúng như lời Phật dạy, làm lợi ích chúng sanh, chịu khổ thay cho chúng sanh, nhiếp thọ chúng sanh, siêng năng tu tập căn lành, không bỏ hạnh bồ-tát, không rời tâm Bồ-đề. Vô lượng tài cúng dường như trên sánh với một niệm pháp cúng dường, thời công đức không bằng một phần trăm, không bằng một phần ngàn, một phần toán, một phần số, một phần ưu ba ni sa đà. Vì sao? Vì Như Lai tôn trọng chánh pháp. Vì tu hành đúng lời Phật dạy mới thành Phật. Bồ-tát pháp cúng dường mới trọn vẹn sự cúng dường. Pháp cúng dường mới là đại cúng dường. Như thế, hư không giới, chúng sanh giới, chúng sanh nghiệp, chúng sanh phiền não hết thời sự cúng dường của tôi mới hết. Nhưng cõi hư không cho đến phiền não chúng sanh không hết, thì sự cúng dường của tôi cũng tận. Ba nghiệp thân miệng ý thanh tịnh, niệm niệm hằng cúng dường, không bao giờ chán mỏi. 4-SÁM HỐI NGHIỆP CHƯỚNG Từ vô thuỷ, thân miệng ý đã tạo bao nhiệp ác, vì ba độc tham sân si. Những tội ác này nếu có hình tướng thì khắp hư không chẳng đủ chỗ chứa đựng. nay xin đem ba nghiệp trong sạch, đối trước mười phương tận pháp giới chư phật, thành tâm sám hối, không dám tái phạm. Nguyện hằng an trụ nơi pháp giới tanh tịnh đầy đủ công đức lành. Như thế, hư không giới, chúng sanh giới, chúng sanh nghiệp, chúng sanh phiền não hết, thời sự sám hỗi của tôi mới hết. Những cõi hư không cho đến phiền não chúng sanh không hết thì sự sám hối của tôi không cùng tận. Ba nghiệp thân miệng ý thanh tịnh, niệm niệm hằng sám hối, không bao giờ chán mỏi. 5-TUỲ HỶ CÔNG ĐỨC Mười phương ba đời tận Pháp giới bao nhiêu đức Phật từ sơ phát tâm cầu nhất thiết trí, siêng tu cội phước không tiếc thân mạng, trải qua số kiếp như cực vi trần trong bất khả thuyết, bất khả thuyết cõi. Mỗi kiếp đều thí xả đầu mắt tay chân nhiều như số cực vi trong bất khả thuyết bất khả thuyết cõi Phật, làm tất cả những hạnh khó làm, đầy đủ các môn ba la mật, chứng nhập các trí địa, viên mãn Vô-thượng Bồ-đề, cho đến nhập Niết-bàn, phân chia xá lợi. bao nhiêu căn lành tôi đều xin tuỳ hỷ. Sáu thú bốn sanh mười phương có bao nhiêu công đức, dù nhỏ như mảy bụi, tôi cũng đều xin tuỳ hỷ. Tất cả các Bồ-tát tu hạnh cần khổ khó làm, chí cầu quả Vô-thượng chánh đẳng Bồ-đề, bao nhiêu công đức rộng lớn, tôi đều xin tuỳ hỷ. Như thế, hư không giới, chúng sanh giới, chúng sanh nghiệp, chúng sanh phiền não hết, thời sự tuỳ hỷ của tôi mới hết. Nhưng cõi hư không cho đến phiền não chúng sanh không hết thì sự tuỳ hỷ của tôi không cùng tận. ba nghiệp thân miệng ý thanh tịnh, niệm niệm hằng tuỳ hỷ, không bao giờ chán mỏi. 6-THỈNH PHẬT THUYẾT PHÁP Mười phương ba đời tận pháp giới có bao nhiêu vị thành đẳng chánh giác, chúng Bồ-tát vây quanh, tôi đều đem ba nghiệp thân miệng ý thanh tịnh, dùng đủ phương tiện ân cần cung thỉnh nói pháp nhiệm mầu. Như thế, hư không giới, chúng sanh giới, chúng sanh nghiệp, chúng sanh phiền não hết, thời sự cung thỉnh của tôi mới hết. Nhưng cõi hư không cho đến phiền não chúng sanh không hết thì sự cung thỉnh của tôi không cùng tận. ba nghiệp thân miệng ý thanh tịnh, niệm niệm hằng cung thỉnh chuyển diệu pháp luân, không bao giờ chán mỏi. 7-THỈNH PHẬT TRỤ THẾ Mười phương ba đời tận pháp giới các đức Phật, Bồ-tát, Thanh-văn, Duyên-giác, hữu học, vô học cho đến tất cả các thiện tri thức, tôi đều cung thỉnh đừng nhập Niết-bàn. Xin Phật trụ thế trải vi trần kiếp lợi ích chúng sanh. Như thế, hư không giới, chúng sanh giới, chúng sanh nghiệp, chúng sanh phiền não hết, thì sự cung thỉnh của tôi mới hết. Nhưng cõi hư không cho đến phiền não chúng sanh không hết thì sự cung thỉnh của tôi cũng không cùng tận. ba nghiệp thân miệng ý thanh tịnh, niệm niệm cung thỉnh, không bao giờ chán mỏi. 8-THƯỜNG THEO HỌC PHẬT Đức Tỳ Lư Giá Na Phật ở cõi Ta Bà, từ sơ phát tâm tinh tấn bá thì bất khả thuyết bất khả thuyết thân mạng, lột da làm giấy, chẻ xương làm bút, lấy máu làm mực, biên chép kinh điển chất cao như núi Tu-di. Tôn trọng chánh pháp, thân mạng không tiếc, huống là ngôi vua thành ấp cung điện vườn rừng. Bao nhiêu việc khó làm cho đến thành đại Bồ-đề, các thứ thần thông biến hoá, hiện thân trong các chúng hội đạo tràng, Bồ-tát, Thanh-văn, Duyên-Giác, Chuyển Luân Thánh Vương, tiểu vương, cư sĩ, trưởng giả, bà-la-môn, sát-đế-lợi, hoặc các đạo tràng của thiên long tám bộ, tuỳ cơ giáo hoá. Dùng viên âm thành thục chúng sanh, như đại lôi chấn. Tất cả hạnh đức như vậy cho đến thị hiện Niết-bàn, tôi đều học tập theo. Như hiện nay học theo Thế Tôn Tỳ Lư Giá Na, tôi học theo mười phương ba đời các đức Phật cũng vậy. Như thế, hư không giới, chúng sanh giới, chúng sanh nghiệp, chúng sanh phiền não hết, thời sự theo học của tôi mới hết. Nhưng cõi hư không cho đến phiền não chúng sanh không hết thì sự theo học của tôi cũng không cùng tận. Ba nghiệp thân miệng ý thanh tịnh, niệm niệm theo học, không bao giờ chán mỏi. 9-HẰNG THUẬN CHÚNG SANH Mười phương ba đời tất cả chúng sanh trong pháp giới, loài sanh thai, sanh trứng, ẩm thấp, hoá sanh, các thứ sắc thân, hình trạng, tướng mạo, các thứ tộc loại tâm tánh tri kiến, các thứ dục lạc ý hành oai nghi, các thứ ăn uống y phục cư ngụ. Cho đến thiên long tám bộ, loài không chân, 2 chân, 4 chân, nhiều chân, loài có tâm tưởng, không tâm tưởng, phi phi tưởng...Tôi đều vâng thờ cúng dường như kính cha mẹ, như trong sư trưởng, phụng sự như đức Thế Tôn. Làm thầy thuốc với bệnh nhân, chỉ đường cho kẻ lạc lối, đem đuốc sáng cho đêm tối, đem của báu cho người nghèo. Bồ-tát bình đẳng lợi ích chúng sanh. Bởi vì tuỳ thuận chúng sanh chính là cúng dường Như Lai. Làm cho chúng sanh vui mừng chính là làm cho tất cả Như Lai vui mừng. Bởi vì nhân chúng sanh mà khởi lòng đại bi. Nhân đại bi mà phát tâm Bồ-đề. Do đây thành Vô-thượng chánh đẳng chánh giác. Trong cõi sa mạc sanh tử mênh mông này có cây Bồ-đề thọ vương. Dùng nước đại bi tưới gốc rễ chúng sanh thì sẽ trổ bông trí tuệ Bồ-tát mà kết quả Phật toàn giác. Cho nên Bồ-đề thuộc về chúng sanh, không có chúng sanh tất cả Bồ-đề không thể thành đạo Vô-thượng chánh đẳng chánh giác. Này thiện nam tử, nơi nghĩa này phải hiểu rõ: Có bình đẳng đối với chúng sanh mới viên mãn lòng đại bi. Đem tâm đại bi tuỳ thuận chúng sanh mới thành tựu pháp cúng dường Như Lai. Như thế, hư không giới, chúng sanh giới, chúng sanh nghiệp, chúng sanh phiền não hết, thời sự tuỳ nhuận của tôi mới hết. Nhưng cõi hư không cho đến phiền não chúng sanh không hết, thì sự tuỳ thuận của tôi cũng không cùng tận. Ba nghiệp thân miệng ý thanh tịnh niệm niệm tuỳ thuận, không bao giờ chán mỏi. 10.KHẮP ĐỀU HỒI HƯỚNG Từ sự kính lễ kính ban đầu đến tuỳ thuận chúng sanh, có bao nhiêu công đức thảy đều hồi hướng tất cả pháp giới chúng sanh. Nguyện đều an vui không bệnh khổ. Pháp ác đều không thành. Pháp lành mau thành tựu. Đóng chặt cửa ác thú, mở rộng lối nhân thiên Niết-bàn. Chúng sanh nào lỡ tạo nghiệp ác, phải chịu quả khổ. Tôi xin chịu thay, khiến được giải thoát, cho đến chứng quả Vô-thượng Bồ-đề. Như thế, hư không giới, chúng sanh giới, chúng sanh nghiệp, chúng sanh phiền não hết, thời sự hồi hướng của tôi mới hết. Nhưng cõi hư không cho đến phiền não chúng sanh không hết thì sự hồi hướng của tôi cũng không cùng tận. Ba nghiệp thân, miệng y thanh tịnh, niệm niệm hồi hướng, không bao giờ chán mỏi. Này thiện nam tử! Bồ-tát tu hành 10 năm đại nguyện như trên, có thể thuần thục tất cả chúng sanh, có thể chon đủ biển hạnh, nguyện của Phổ Hiền Bồ-tát. Thiện nam, thiện nữ, là dùng 7 báu thượng diệu và các thứ vui đẹp của cõi trời cõi người đầy khắp mười phương, trên cúng dường tất cả chư Phật, dưới bá thí tất cả chúng sanh, trải vi trần kiếp liên tiếp không ngừng. So với người một phen nghe mười đièu nguyện vương, công đức không bằng một phần trăm, không bằng một phần ngàn, cho đến không bằng một phần ưu ba ni sa đà. Nếu đem lòng tin sâu biên chép đọc thọ trì, dù chỉ một bài kệ bốn câu, sẽ trừ năm nghiệp vô gián. Tất cả thân bệnh, tâm bệnh, khổ não ác nghiệp đều được tiêu tan. Dạ-xoa, La-sát, Cưu- bàn- trà, tỳ-xá-xà, bộ-đa...các ác quỷ thần đều lánh xa. Nếu có tới gần là để ủng hộ. Người trì tụng, mười nguyện vương này đi trong thế gian không bị chướng ngại, như mặt trăng ra khỏi mây mù. Các đức Phật Bồ-tát khen ngợi, trời người kính lễ. Tất cả chúng sanh đều nên cúng dường. Thiện nam tử này trọn đủ công đức Phổ Hiền. Chẳng bao lâu sẽ thành tựu sắc thân vi diệu, dủ32 tướng đại trượng phu, sanh về cõi trời, dù có ở cõi người cũng sanh trong dòng cao quý. Phá hoại tất cả đường ác, xa lìa bạn xấu, chế phục tà ma ngoại đạo, giải thoát tất cả phiền não. Như sư tử vương dẹp phục bầy thú, kham lãnh thọ sự cúng dường của tất cả chúng sanh. Lâm chung, căn thân hư hoại, quyến thuộc xa lìa, oai thế tiêu tan, tiền của ngựa xe, không một thứ nào đem theo được, chỉ có mười đại nguyện vương này dẫn đường về cực lạc, thấy Phật A Di Đà cùng các Bồ-tát Văn Thù, Phổ Hiền, Quán Tự Tại, Di Lặc ...sắc tướng đoan nghiêm. Người này tự thấy gá sanh nơi ao sen báu, được Phật thọ ký. từ đó trải vô số trăm ngàn muôn ức na do tha kiếp, đi khắp mười phương. Dùng sức trí tuệ tuỳ thuận lợi ích tất cả chúng sanh, chẳng bao lâu sẽ ngồi đạo tràng hàng phục quân ma, thành đẳng chánh giác, giáo hoá chúng sanh trong vi trần cõi Phật cùng tận vị lai. Này thiện nam tử, công đức người thọ trì đọc tụng giảng nói 10 nguyện vương này chỉ có đức Phật mới biết rõ, ngoài ra không ai hiểu thấu. Thế nên ai đã được nghe, chớ có nghi ngờ. Phải nên thọ trì biên chép giảng nói. Tất cả ước mong đều sẽ được như nguyện, có thể ở trong biển khổ cứu vớt chúng sanh, đưa về cõi cực lạc của đức Phật A Di Đà. 6.NGÀY 16-03 THẦN CHÚ CHUẨN ĐỀ YẾU NGHĨA Kinh chuẩn đề chép: Đức Phật ở thành Vương Xá, tinh xá Kỳ Hoàn, vườn Cấp Cô Độc, 4 chúng và tám bộ vây quanh. thương xót chúng sanh đời mạt pháp phước mỏng nghiệp dày, đức Thế Tôn nhập dịnh Chuẩn Đề tam muội rồi nói thần chú :” Nam mô tát đa nẫm, tam miểu tam bồ đề câu chi nẫm, đát điệt tha. Ám chiết lệ chủ lệ chuẩn đề sa bà ha”. Phật dạy: trì tụng đủ 90 vạn biến có thể diệt được những tội 10 ác, 4 trọng và năm nghịch. Bất luận tịnh hay uế, tăng hay tục, chỉ cần chí thành trì tụng thần chú sẽ được tiêu tai giải nạn, hết bệnh, sống lâu, tụng đủ 49 ngày thì đi, đứng, nằm ngồi đều được Tam-bảo ủng hộ. Muốn cầu thần thông trí tuệ cho đến Vô-thượng Bồ-đề, chỉ cần đúng pháp thiết lập đàn tràng, tụng 100 vạn biến. Những người này sẽ được về Tịnh-độ, hầu hạ chư Phật, nghe pháp, trọn sẽ chứng quả Bồ-đề. Cúi đầu quy y Tô Tất Đế, Đầu mặt đảnh lễ thất câu chi, Con nay xưng tán Đại Chuẩn Đề, Duy nguyện từ bi thuỳ gia hộ. Trên đây là bài kệ của Long Thọ Bồ-tát, mở đầu tụng thần chú Chuẩn Đề. Tô Tấ Đế: Bộ kinh lớn của mật tông. Tàu dịch là Diệu Viên Thành ( khéo thoả mãn tất cả ước nguyện thế gian và xuất thế gian). Khể thủ quy y Tô Tất Đế: Đem lòng chí thành quy y pháp bảo. Thất câu chi: 700 ức. Đầu diện đảnh lễ thất câu chi: Thân chí thành lễ 700 ức đức Phật đã nói bài thần chú này. Tức là đem thân nghiệp chí thành đảnh lễ Phật bảo. Chuẩn đề: Tiếng Phạn gọi là Căng-đi, nghĩa là đúng với chân lý, dùng đại trí để dứt vọng hoặc ( thật trí). Vì vậy mới có đủ các nhân hạnh để thành thục chúng sanh ( quyền trí). Ngã kim xưng tán Đại Chuẩn Đề: Con nay đem khẩu nghiệp chí thành ca ngợi thần chú Chuẩn Đề. Những ai trì tụng thần chú Chuẩn Đề là Tăng Bảo. Có nơi gọi là chuẩn đề Phật mẫu bởi vì 700 ức đức Phật do pháp Chuẩn Đề tam muội đã chứng quả. Chúng sanh nào thọ trì thần chú này sẽ được chứng quả Phật. (Rút trong NHỊ KHOÁ HIỆP GIẢI) 7. NGÀY 16-03 PHÓ PHÁP TÔN SƯ GIỖ SƯ CỤ TUỆ NHUẬN ( Văn Quang Thuỳ) Hồi ấy Thầy chưa xuất gia, không nhớ năm tháng nào, cùng bà Dì đi qua chùa Quán Sứ. Bỗng bà nói:” Ta vào kia xem ông cụ nói gì mà đông người ngồi nghe thế”. Miệng nói chân bước, bà vào chùa. Thầy đi theo. Nghe lạ lạ, hay hay, sẵn có giấy bít, Thầy ghi tất cả, về chép lại thành một bài giảng chương Đại Thế Chí Bồ-tát niệm Phật. Ngày hôm sau, Thầy lại tới, được nghe bài Quán Âm Quảng Trần. Thầy cũng viết thành bài. Các Sư nữ mượn xem rất hoan hỷ. Bởi vì còn ở thế gian, chưa ai học hai chữ vô thường. Nên thầy đâu dám nghỉ học trường đời. Vì là học sinh nội trú nên phải đợi một ngày lễ lớn mới được ra. Tới Quán Sứ hỏi lớp Lăng Nghiêm thì cụ giáo đã về quê, không ai biết ở đâu. Từ đó gặp ai theo đạo Phật, Thầy cũng hỏi Kinh Lăng Nghiêm nhưng ai cũng lắc đầu. Sau khi gặp cụ Tú vừa có kinh vừa giỏi chữ Nho, đọc âm cho Thầy viết sang tiếng Việt. Tình cờ một bà mời Thầy chơi họ, mỗi tháng đóng 25$. Ngày hai buổi đi làm ở sở. Buổi trưa, cơm xong, Thầy mải miết chép, có khi mệt quá ngủ gục. Ngày qua tháng lại lần hồi cũng xong trọn bộ. Nhờ thư kí trong sở đánh máy. Bà cái họ cũng đem dốc ống cho Thầy một số tiền hồi đó gọi là lớn. Thì vừa hay có người mách cụ giáo từ quê lên Hà Nội. Thầy đem sách và tiền đến dâng cụ, xin cho in và khi nào có kinh chữ Việt, xin mở lớp giảng học. Tiếc rằng khi lớp Lăng Nghiêm khai giảng ở chùa Hoè Nhai Hà Nội thì thầy đã phải đổi đi hải Phòng. Hồi ấy Thầy thưa: Thời giờ con eo hẹp lắm, xin cụ cho một bài kinh nào ngắn nhất để con thọ trì. Cụ cho bản Bát Đại Nhân Giác. Thầy đọc thấy hay nhưng công hạnh mênh mông làm sao vào nổi? Thầy xin cụ cho học một điều thứ nhất thôi: “ Thế gian vô thường, quốc độ nguy biến, bốn đại khổ không, năm ấm vô ngã. Tâm là nguồn ác. Thân là rừng tội. Như vậy quan sát, thoát dần sanh tử”. Tuổi trẻ ham làm việc từ thiện xã hội, ngoài giờ ở sở cứ chiếc xe đạp chạy rong trong thành phố, chỉ có hai bữa cơm là Thầy có thời giờ suy ngẫm đệ nhất giác ngộ. Riết thành thói quen. Đến khi xuất gia, luật day hai bữa cơm phải quán 5 pháp. Thầy ngày nào cũng kiếm một giờ khác để suy tư bài này, Thầy cảm thấy rõ ràng 3 ngày không suy tư thì trong tâm hai thứ tham sân bắt đầu ngọ nguậy. Nên không ngày nào Thầy dám thiếu. Về sau vào sâu kinh điển mới biết là hàng ngày mình vẫn quán Tứ Niệm Xứ. Thế là vô tình Sư cụ đã trao cho Thầy một pháp môn quan trọng. Người ta bảo rằng: Ai theo đạo Phật, tối nào cũng phải tụng kinh. Thầy lên quán sứ thỉnh được một cuốn kinh A Di Đà chữ nho đối chiếu tiếng Việt. Ngày nào cũng đọc một lần suốt từ đầu đến hết. Nhờ cụ Tú giảng. Cụ dạy đúng nghĩa đúng chữ. Nghe xong, Thầy chán quá, thốt ra miệng nhiều lần:” Thế gian này bao nhiêu trẻ mồ côi, bao nhiêu cụ già, bao nhiêu bệnh nhân cần người chăm sóc. Bao nhiêu tù nhân trong các trại giam cần đồng quà tấm bánh, kèm theo đôi lời chân thành khuyến thiện. Ngay đến đạo Phật cũng có bao nhiêu người còn bỡ ngỡ cần sự chỉ dẫn. Tín ngưỡng là món thuốc an thần đệ nhất cho thế gian, đang cần người truyền bá v.v...thế mà kinh lại dạy buông hết bổn phận làm người. Cả ngày chỉ niệm phật. Còn phải nhất tâm không loạn. Mục đích để về Cực Lạc có bờ ao 7 báu, cung điện bằng vàng. Tôi thích ở cõi này, tự thấy mình có ích, còn hơn về cõi ấy để thấy mình vô dụng”. Thế là Thầy ghét cay ghét đắng kinh A Di Đà. Bỗng cụ được mời về Hải Phòng giảng kinh Kim Cương, hàng ngày Thầy tới nghe. Đến câu:” Quá khứ tâm bất khả đắc”. Thầy bật nói:” À! con hiểu kinh A Di Đà rồi” Ông Cao Bá Sâm liền đứng dậy xin phép cụ hỏi:” Cô học sinh vì sao nghe kinh Kim Cương lại hiểu kinh A Di Đà?” -Thưa vì cái tâm hàng ngày đã hư vọng, sao không buông nó đi để sống với tâm kim cương chân thật. Nhất tâm bất loạn nghĩa là không còn một niệm lạc về hư vọng nữa. Từ đấy Thầy trở lại tin kinh A Di Đà và được cụ dẫn dắt dần vào tông Tịnh-độ. Như vậy chỉ có giới luật là Thầy mới học sau khi xuất gia. Còn cả ba môn ngày nay có pháp trao cho các con, đều là từ cụ truyền dạy. Kinh Dược Sư các con hiện đương tụng, kinh A Di Đà Yếu Giải hiện các con đương học, đều do cụ dịch sang Việt văn. Cho nên Chùa chúng ta thờ ngài là Phó Pháp Tôn sư. Và hàng năm vào ngày này chúng ta đảnh lễ nhớ ơn. Tiểu sử và hành ảnh ngài có in ở đầu kinh A Di Đà Yếu giải. 8. ĐỨC VĂN THÙ (04-04) Nguyên chữ Ấn Độ là Manjusri. Phiên âm là Mạn Thù Thất Lợi. Mạn Thù( Manju): Diệu. Thất lợi(Sri): Cát tường Ngài thuộc dòng bà-la-môn, người nước Xá Vệ, theo đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, xuất gia học đạo. Nên ở Trung Hoa, các nơi tăng đường, trai đường, giới đàn, đều có thờ ngài hình tướng xuất gia. Bởi vì ngài chuyên về đại thừa nên thông thường người ta thờ ngài hình tướng thế tục, để hiển tâm từ bi, hoà quang đồng trần, lấy sự giúp ích chúng sanh, giáo hoá muôn loài làm trọng. Tượng ngài cầm gươm cưỡi sư tử. Gươm nêu biểu trí tuệ phá Phiền não. Sư tử nêu biểu trí tuệ là chúa muôn hạnh. Bồ-tát Văn Thù hầu bên trái đức Thích Ca, chủ về căn bản trí ( tự lợi). Bồ-tát Phổ Hiền hầu bên phải đức Thích Ca, chủ về hậu đắc trí( lợi tha). KINH VĂN THÙ SƯ LỢI Như vậy tôi nghe: Một thời Phật ở nước Xá Vệ, rừng Kỳ Đà, vườn Cấp Cô Độc, cùng tám nghìn đại Tỳ-kheo, trưởng lão Xá Lợi Phất, đại mục Kiền Liên.v.v...Làm thượng thủ. Bồ-tát Hiền kiếp 1000 vị, đức Di Lặc làm thượng thủ. Lại có mười phương Bồ-tát đến dự, đức Quán Thế Âm làm thượng thủ. Cuối đêm, Phật nhập định, hào quang rực rỡ chói khắp rừng Kỳ Đà, xoay quanh vận chuyển, chiếu ngay phòng Văn Thù Sư Lợi Bồ-tát, hoá thành 7 cái đài bằng vàng. Mỗi đài có 500 hoá Phật đi kinh hành. Bồ-tát Bạt đà Bà La kính lễ tịnh xá Phật, đến liêu ngài Anan giục báo hiệu cho đại chúng biết. - Kính Thưa Thánh giả, Thế Tôn chưa ban sắc lệnh, tôi làm sao dám đánh kiền chuỳ họp chúng. Tôn giả Xá Lợi Phất cũng vừa đến, bảo Anan: “ Pháp đệ! Nên tuỳ nghi nhóm chúng”. Anan liền đánh kiền chuỳ tập chúng. Tiếng vang dội khắp cả nước đều nghe. Trên cõi trời Hữu Đỉnh, Thích Phạm Hộ Thế Tứ Thiên Vương cùng các thiên tử vội hoa hương đến vườn Kỳ Đà. Bấy giờ đức Thế Tôn xuất định, mỉm cười, hào quang 5 sắc từ miệng Phật hiện ra. Rừng Kỳ Đà biến thành ngọc lưu ly. Thánh giả Văn Thù vào trong tịnh xá lễ Phật, dưới mỗi đầu gối bỗng có năm bông sen. Từ trên đầu mười ngón tay chắp lại, hiện ra 10.000 hoa sen vàng. Ngài Văn Thù dùng hoa này tung lên cúng dường đức Phật. Xong ngài nhiễu Phật 3 vòng rồi lui về chỗ ngồi. Bồ-tát bạt Đà Bà La đảnh lễ thỉnh Phật nói về Thánh giả Văn Thù. Phật dạy: Ngài đã từng gần gũi trăm ngàn chư Phật, nay ở cõi Ta-bà làm Phật sự. Ngài thường biến hiện tự tại khắp mười phương thế giới, về sau lâu xa mới nhập Niết-bàn. Phật bảo: Bạt Đà Bà La và đại chúng, thánh giả Văn Thù vô lượng thần thông. Chúng sanh nào được nghe tên ngài, liền dứt trừ 12 ức kiếp sanh tử tội nặng. Ai lễ bái cúng dường, đời đời thường sanh trong nhà Phật. Cho nên chúng sanh phải ân cần nhớ niệm hình tượng Ngài. Nếu quán không được tỏ rõ (bởi vì đời trước đã gây nghiệp chướng nặng nề) thì phải tụng kinh Thủ Lăng Nghiêm xưng niệm danh hiệu Thánh giả từ một đến 7 ngày, cầu nguyện thì sẽ thấy hình tượng ngài trong mộng. Muốn cầu chứng quả, lễ bái Thánh tượng 1 ngày 1 đêm, quán tưởng thấy được hình ngài, sẽ chứng A-la-hán. Ai thâm tín kinh Phương Đẳng, tu pháp thiền định, tâm còn tán loạn, thành kính niệm danh hiệu ngài, thì trong chiêm bao được nghe nghĩa chân thật viên diệu. Tâm người này được kiên cố, bất thoái nơi đạo Vô-thượng. Này Bạt Đà Bà La! Ai muốn tu phước nghiệp Bồ-tát, mà thường nghĩ nhớ đến Thánh giả Văn Thù thì ngài hiện thân bần cùng cô độc đến trước hành giả. Các bậc trí tuệ phải nhìn xét cho kỹ Văn Thù đủ 32 tướng quí, tám mươi vẻ đẹp. Hằng quán tưởng như vậy. Lại nhờ oai lực chánh định Thủ Lăng Nghiêm, sẽ mau chóng được thấy thánh giả Văn Thù. Sau khi Phật diệt độ, ai được nghe danh hiệu Văn Thù, Thấy hình tượng văn Thù thì trăm ngàn kiếp chẳng xa ác đạo. Ai thọ trì danh hiệu Thánh giả, thường sanh về các quốc độ thanh tịnh, gặp Phật nghe pháp, chúng vô sanh nhẫn. Này Bạt Đà Bà La! Thánh giả Văn Thù chứng được thân bất hoại. Ông đã nghe những lời ta nói, phải khéo thọ trì, vì chúng sanh rộng bày. Bạt Đà Bà La cùng các đại Bồ-tát, tôn giả Xá Lợi Phất cùng Thanh-văn Tăng, Thiên Long Bát Bộ, tất cả đại chúng hoan hỷ phụng hành. Phật nói kinh Văn Thù Sư Lợi đã xong. Đại Tạng Kinh. Quyển 463. KINH VĂN THÙ SƯ LỢI TUẦN HÀNH (Đời Nguyên Nguỵ, Tam tạng Pháp Sư Bô-đề lưu chi dịch từ chữ Phạn ra chữ Hán. Ni trưởng Huê Lâm việt dịch). Như vậy tôi nghe, một thời đức Bạc-già-phạm ở thành Vương Xá, núi Kỳ Xà Quật, cùng 500 đại Tỳ-kheo. Mặt trời vừa mọc, đức Văn Thù cùng 500 Tỳ-kheo thứ lớp tuần hành. Trước hết đến trưởng lão Xá Lợi Phất, thấy ngài đang đoan nghiêm an toạ. -Thưa ngài Xá Lợi Phất, tâm tịnh tịnh sẵn đủ sao còn nhập thiền để cầu tịnh tịnh? Đại đức Xá Lợi Phất y pháp thiền nào? Y quá khứ, hiện tại hay y vị lai? Y nội thân hay y ngoại cảnh? Y tâm hay y thân mà nhập thiền? Ngài đã thông suốt Pháp này chưa? Ngài có hành trì pháp lạc chưa? -Nếu chưa nắm được pháp ấy làm sao tôi biết tu? Nếu không có pháp lạc làm sao tôi hành trì? Đây là pháp ly dục, Như Lai vì hàng Thanh-văn giảng dạy. Tôi y lời mà hành thiền. Y theo quá khứ, y theo hiện tại, y theo vị lai cho đến y theo thân tâm mà hành trì. Thiền của tôi tu chánh niệm, gồm cả định và tuệ. -Thưa đại đức Xá Lợi Phất! a/Nếu y theo các Pháp quá khứ, Như Lai không có. Hiện tại, Như Lai không có. Vị Lai, Như Lai không có. Pháp này như thế là không, đã không có pháp thì không có chỗ y. b/Quá khứ Như Lai, hiện tại Như Lai, vị lai Như Lai không có người an trụ cũng không có sứ sở để an trụ. Đã không có chỗ an trụ thì nương nơi đâu có chỗ sở y? c/Nếu nói quá khứ, hiện tại, vị lai Như Lai là chỗ y hay chẳng là y, đều là phỉ báng Như Lai. Bởi vì Như Lai vô niệm vô sở niệm. Chân như bất thoái, chân như vô tướng. d/Qú khứ chân như bất khả đắc, hiện tại chân như bất khả đắc, vị lai chân như bất khả đắc cho đến tâm chân như cũng bất khả đắc. đ,Không có pháp ngoài chân như để có thể nói. -Thưa Thánh giả Văn Thù, Như Lai an trụ chân như mà nói pháp. -Chân như chẳng phải có, pháp ấy cũng không có. Như Lai cũng không có.” Có thể được chánh pháp hay chẳng thể được chánh pháp”. Cả hai lời nói này chẳng thể được. -Thưa Thánh giả, sau này ai thọ lãnh được đúng nghĩa như ngài dạy? -Không chấp thủ pháp hữu vi, cũng chẳng trông mong nhập Niết-bàn, sẽ thọ được pháp này. Không được các pháp quá khứ, hiện tại, vị lai. Không biết các pháp ấy, sẽ được pháp này. Chẳng thấy ô nhiễm thanh tịnh, không tâm thủ xả, sẽ lãnh được pháp này. Chẳng ngã hành trì cũng chẳng vô ngã mà hành trì, sẽ lãnh thọ được pháp này. -Thưa Thánh giả Văn Thù, pháp này còn chẳng phải cảnh giới của A-la-hán, huống chi phàm phu ngu si làm sao lãnh hội? -Bạch đại đức! Không trụ, không xứ, gọi là A-la-hán. Vậy A-la-hán ở cảnh giới nào? Đối với danh sắc không phân biệt gọi là A-la-hán. Phàm ngu bất khả đắc, pháp của phàm ngu cũng bất khả đắc. A-la-hán bất khả đắc, pháp A-la-hán cũng bất khả đắc. Đã bất khả đắc thì chẳng phân biệt. Chẳng phân biệt thì không có chỗ sở hành, không sở hành thì không có hý luận, không có hý luận thì mới thật là tịnh tịnh. Người tịnh tịnh không chấp có, không chấp không, không chấp chẳng phải không. Không chấp thủ là chứng vô sở đắc, nghĩa là xa lìa tất cả sở đắc, vô tâm, ly tâm. Trụ pháp Thanh-văn phải biết rõ như thế. Năm trăm Tỳ-kheo vội bỏ pháp hội ra đi, nói rằng:” Chúng ta chẳng muốn thấy mặt Văn Thù, chẳng muốn nghe đến tên Văn Thù. Nơi nào có Văn Thù chúng ta cũng bỏ đi. Vì ông ấy nói những lời khác với phạm hạnh của chúng ta”. Trưởng lão Xá Lợi Phất trách Thánh giả Văn Thù đã nói pháp nghĩa quá cao, khiến các Tỳ-kheo phạm tội phỉ báng. -Thưa đại đức Xá Lợi Phất! Các Tỳ-kheo đã nói những lời thật hay, thật quý hoá, thật khéo đúng với Phật pháp. Bởi vì Văn-thù bất khả đắc thì làm sao thấy? Làm sao nghe? Nơi nào còn có chấp văn thù thì dĩ nhiên chúng Tỳ-kheo bỏ đi. Nhưng nếu thật không có Văn Thù thì còn cần gì đến những chuyện gần gũi hay bỏ đi? Nghe nói như thế 500 Tỳ-kheo quay trở lại. Thánh giả Văn Thù nói tiếp: Thưa các Tỳ-kheo, pháp này chẳng do nhận thức mà biết được, chẳng do trí tuệ suy tư mà biết được mà chẳng phải chỗ sở niệm. Hàng Thanh-văn đệ tử của đức Như Lai nếu học được như thế, đức Thế Tôn sẽ khen là bậc tối thắng phước điền của thế gian, xứng đáng thọ sự cúng dường của trời người. Bốn trăm Tỳ-kheo lãnh đại pháp, sạch hết các kết sử hữu lậu, liền được giải thoát. Còn 100 Tỳ-kheo vì ác tâm đoạ địa ngục. Trưởng lão Xá Lợi Phất lại trách Thánh giả Văn Thù không chịu hộ niệm chúng sanh. Đức Phật can rằng: “ Này Xá Lợi Phất! Một trăm Tỳ-kheo vì tội phỉ báng, đáng lẽ phải chịu khổ địa ngục trọn một kiếp. Nhưng vì được nghe đại pháp vô lậu thượng diệu của Văn Thù ( dù là nghe qua tai) nên chỉ thọ nghiệp rất ít rồi liền sanh lên cõi trời Đâu Suất, ở chung một chỗ. Một trăm Tỳ-kheo này, Long Hoa đệ nhất hội của đức Di Lặc, sẽ chứng A-la-hán. Như thế Xá Lợi Phất! Nghe được pháp môn tối thắng này, sẽ chẳng còn phải tu tứ thiền, tứ vô lượng tâm v.v...mà vẫn giải thoát hết thảy sanh, già, bệnh, chết, ưu, bi, khổ, não. Trưởng lão Xá Lợi Phất tán thán Thánh giả Văn Thù khéo nói pháp lợi ích chúng sanh. Thánh giả văn Thù đáp: Thưa đại đức Xá Lợi Phất! Chân như chẳng giảm bớt, chẳng tăng thêm. Pháp giới chẳng giảm bớt, chẳng tăng thêm. Chúng sanh giới chẳng giảm bớt, chẳng tăng thêm. Bởi vì việc này chỉ có lời nói, không có người y cứ, không có chỗ y cứ. Chẳng phải y hay không y. Thưa đại đức Xá Lợi Phất! Chỗ chẳng y như thế tức là Bồ-đề, Bồ-đề tức là giải thoát. Nếu y nơi pháp là còn phân biệt. Biết chẳng phải hữu vi ( có tạo tác) chẳng phải vô vi ( không tạo tác), tức là Niết-bàn. Đức Thế Tôn ấn chứng: Đúng vậy! Đúng vậy! Và muốn cho nghĩa này tỏ rõ kệ rằng: Nếu phân biệt quá khứ, Cùng hiện tại vị lai, Các pháp, tướng, vô tướng, Hữu vi hay Niết-bàn, Phân biệt khiến tạo nghiệp, Chấp thủ tức chói buộc. Nếu dùng trí quan sát Ấm, nhập, giới giả danh Vô tướng không sanh diệt, Được trí tuệ xuất thế. Dùng trí vô phân biệt Không chấp thủ giải thoát, Cảnh giới của hạnh này Nhàn tịnh như hư không. Của báu đầy ba ngàn Bố thí được hưởng phước. Nếu người nghe pháp này Phước hơn người bố thí. Bố thí, trì giới, nhẫn, Thần thông đại tự tại, Ức kiếp thường tu hành Chẳng bằng nghe kinh này. Nên biết thắng pháp đây Đức chánh biến tri nói Những ai vui nghe kinh Quyết sẽ chứng quả Phật Phật nói kinh xong, 10.000 chúng sanh xa trần lìa cấu, được pháp nhãn tịnh. Các Tỳ-kheo đều phát tâm Vô-thượng chánh đẳng giác. Thế Tôn thọ ký 500 Tỳ-kheo sẽ thành Phật, đồng một hiệu là Pháp Hoa Như Lai, chánh biến tri...Thánh giả Văn Thù, trưởng lão Xá Lợi Phất, thiên long bát bộ...nghe Phật giảng thuyết, đều tín thọ phụng hành. Đại Tạng Kinh Quyển 14. Bộ 4. Số 471 9. MÙNG 08-04 CHƯƠNG TRÌNH LỄ KHÁNH ĐẢN 1.Lễ Tổ- Lễ Phật 2.Đọc bài ý nghĩa đản sanh. 3.Tắm Phật- Nhiễu Phật. 4.Mừng khánh đản. 5.Lễ đức Bổn Sư. 6.Hồi hướng – Tam quy 7.Nếu có thời giờ giảng bài tắm Phật Ý NGHĨA NGÀY ĐẢN SANH Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Cũng ngày này, 2538 năm về trước, vào một buổi bình minh, khu vườn Lâm Tỳ-ni ngạt ngào hương hoa, tiếng chim ríu rít tưng bừng, đón chào vị cứu tinh muôn loại xuất thế, đón chào Thái Tử Tất Đạt Đa, con vua Tịnh Phạn và hoàng hậu Ma Gia. Thái Tử hạ sanh dưới cây Vô ưu. Ngài đi 7 bước, mỗi bước hoa nở dưới chân. Tay trái chỉ xuống đất, tay phải chỉ lên trời, miệng nói :” Thiên thượng thiên hạ duy ngã độc tôn”( trên trời dưới đất chỉ có chân tâm bản tánh thường lạc ngã tịnh mới đáng tôn quý). Đây là toát yếu toàn thể giáo lý Phật đà. Ngài trưởng thành nơi cung vàng điện ngọc. Nhưng vợ đẹp con khôn, phú quý vinh hoa trở thành nhạt nhẽo, khi ngài thấy rõ ngoài cổng thành 4 cảnh sanh già bệnh chết. Vạn hữu thành hoại phù hư. Ngài dõng mãnh thoát ly triền phược, quyết tìm ánh sáng chân như. Trải 6 năm phấn đấu với muôn ngàn gian khó, nắng mưa sương tuyết cùng cám dỗ của ma vương. Một buổi sáng, sao mai vừa ló dạng, ngài đắc quả chánh đẳng chánh giác. Đắc quả Vô-thượng chánh đẳng chánh giác. Nghĩa là chứng được pháp thân chân ngã mà ngay lúc vừa giáng sanh, ngài đã tuyên bố là độc tôn. Con người từ vô thuỷ vẫn sống vô minh, suốt ngày chỉ lo cho ta mà chưa từng để ý xem thật ta là gì? Ta ở đâu? Ta là thân đất nước gió lửa, hay ta là vọng tâm, bóng ảnh của sáu trần triền miên sanh diệt? Chỉ vì quên mất chân tánh độc nhất tôn quý, lầm sống theo vọng thức nên mới lưu chuyển trong 6 đạo luân hồi, chịu đủ khổ sở. Nay Phật từ bi giáng trần cứu khổ, chỉ có một cách mở đường giải thoát cho chúng sanh, là vạch rõ chỗ mê lầm và chỉ rõ chỗ chân thật. Ngài vạch rõ sáu căn thật huyễn hoá, 6 trần thật ảo ảnh, 6 thức thật mê lầm. Không phải ta, không pahỉ của ta mà là huyễn vọng vô minh. Ngài chỉ rõ Pháp-thân thường lạc ngã tịnh là tánh Phật, bản lai ta vẫn có mà vẫn thường quên, nay quay trở về liền tới. Một đời giáo hoá, đức Bổn Sư dù nói ngàn kinh vạn quyển, dù đặt ra tám vạn bốn ngàn pháp môn, chung quy cũng không ngoài mục đích trên. “ Thiên thượng thiên hạ, duy ngã độc tôn” đây là bài tựa mở đầu tam tạng kinh điển. Tới khi sắp nhập Niết-bàn, trong thời Pháp Hoa, ngài tỏ lộ bản hoài:” Mười phương tam thế chư Phật chỉ ra đời với một mụch đích vì chúng sanh khai thị Phật tri kiến”. Phật tri kiến tức là thấy biết “ chân tánh độc tôn”. Đây là văn kết của một đời đức Bổn Sư thị hiển giáo hoá. Cho nên biết câu nói lịch sử này, chính là cửa giải thoát vô thượng. Tất cả những ai đã tự xưng là Phật tử, không thể không suy ngẫm kỹ càng và đỉnh đới thọ trì. Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. TẮM PHẬT Con nay dội tắm thân Như Lai, Tịnh khí trang nghiêm công đức tụ. Ngũ trược chúng sanh lìa trần cấu, Đồng chứng Như Lai tịnh Pháp Thân. Thành Tỳ Gia thật chưa từng sanh. Rừng Ta La thật chưa từng diệt. Không sanh, không diệt, đức Cù Đàm! Con mắt xem nhìn càng thêm vọng. Sáng nay chính là ngày sinh nhật, Tịnh Phạn Vương cung sanh Tất Đạt. Chín rồng khắp tưới, mưa nước tắm. Bảy bông nâng gót, đỡ chân đi. Ám mâu ni. mâu ni, tam mâu ni, sa bà ha.( 3 lần) MỪNG KHÁNH ĐẢN Ngày 08-04, xưa cũng như nay, là mùa hoa nở. 2500 năm về trước, ngày 08-04 trong vườn Lâm Tỳ Ni, hoa Ưu đàm bừng nở, hương thơm toả khắp. Hoàng Hậu Ma Gia ra vườn xem hoa đã đản sanh ra Thái tử, một bông hoa Ưu đàm trong loài người. Thái tử vừa sanh, liền đi 7 bước, một tay chỉ trời, một tay chỉ xuống đất, cất tiếng viên âm vang khắp mười phương:” Thiên thượng thiên hạ duy ngã độc tôn” nghĩa là trên trời dưới đất chỉ có một sự nghiệp cao quý là sống đúng thật với chân tâm bản tánh của mình. Cho nên” khai nhân tánh”, mở bày tánh chất thật của con người, là mục đích của việc Như Lai ứng thế. Vấn đề này đề cập ở khắp các kinh luận đại thừa. Chúng ta hãy nghe Tổ Thanh Lương giảng đề kinh Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm. ĐẠI là lớn. Tâm chúng ta là bản thể hết thảy vạn vật. Vũ trụ núi sông muôn loài đều là những pháp hiện trong tâm ta. PHƯƠNG là vuông. Ta nói “ mẹ tròn con vuông” là cả hai đều đầy đủ sức khoẻ, vạn sự như ý. Tâm chúng ta”phương” vì đủ hình tướng vạn pháp, 4 pháp giới Thánh và 6 pháp giới Phàm. QUẢNG là công dụng vô cùng rộng rãi. Bồ-tát cứu khổ địa ngục, ngã quỷ. Phàm phu bổ củi, gánh nước, đều là thần thông của tâm. PHẬT là giác, đặc tánh linh diệu. Chữ HOA có nhiều nghĩa: 1.Vì Đại Phương Quảng nên mới phát ra được những công hạnh rực rỡ tốt tươi như hoa, từ bi hỷ xả, ái ngữ lợi hành, tuỳ thuộc các căn cơ. 2.Như hoa báo điềm kết quả, hạnh tu là duyên nhân để mai sau thành Phật 3.Giác tâm khai hoa, thì hương thơm khắp gần xa, huân thấm lòng người. 4.Hoa quang tịnh dụ cho căn bản trí minh hiển. 5.Biết bao khôn khéo của thiên nhiên mới có một bông hồng. Bao nhiêu phước đức nhân duyên, chúng ta mới có được một tâm sở tốt. 6.Nước đang nhè nhẹ chảy trong gân mạch của hoa, vốn đồng một thể với thuỷ đại ở khắp pháp giới. Những công hạnh vi diệu của con người, chính từ Phật trí hiện đang có ở thân tâm khắp vạn loài. NGHIÊM: Trong danh đề Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh thì Đại Phương Quảng Phật là tâm, là cảnh được nghiêm sức. Còn Hoa là những công hạnh đẹp đã trang nghiêm tâm mình. Đức Thích Ca thành công cùng cực trong sự nghiệp Hoa Nghiêm này. Dĩ nhiên là nếu không có bản chất vàng ngọc, thì mài rũa bao nhiêu cũng chẳng thành quý giá. Bởi vì bản chất của tâm là Đại Phương Quảng Phật nên mới có hoa để tự trang nghiêm. Đại Phương Quảng Phật là chánh nhân. Hoa là duyên nhân, để thành Vô-thượng Bồ-đề là liễu nhân, vạn đức oai hùng lợi ích tận vị lai. Ngày 08-04, lễ phẩm quý giá nhất là giác chiếu. Giác tỉnh bừng ngộ trong đêm dày mê nặng, chiếu soi tan khoả những u tượng vọng tình. Tổ Thanh Lương nhắc nhở rằng:” Tăng Ni đem tâm ra ngoài lo học lo nghe. Thiền sinh chuyên trọng nội tâm, một bề chiếu soi nội cảnh đều là thiên chấp. Muốn đạt chân tánh cần học đức viên dung”. Muốn noi theo, trước hết lễ kính. Mười hạnh Phổ Hiền, lễ kính đứng đầu. Xưa vua A Dục hằng ngày lễ Phật. Một đại thần can rằng như thế rất trái với ngôi vị một đấng quân vương. Một hôm vua sai các quan mỗi người đem bán một cái đầu thú vật. Riêng ông đại thần, vua giao cho đầu một tử tù. Tất cả đầu thú vật đều bán được ngay, chỉ có cái đầu người cho không cũng không ai chịu lấy. Vua quở trách, ông quan tâu rằng:” Lúc sống thì đầu người quý hơn đầu súc vật một trời một vực. Nhưng đã chết, thì đầu súc vật còn dùng được chứ đầu người chỉ để thối nát, bẩn mắt thiên hạ, hôi sình lừng đất lừng trời, ai dại gì mà thọ nhận”. Vua hỏi:” Thế đầu ta là đầu đấng quân vương thì mai sau cũng thế ư?” Vua bắt buộc ông đại thần phải nói thật. Thấy ông khổ sở không dám nói. Vua bật cười, kết luận rằng:” Ngươi đã biết đầu người là đáng chán như vậy. Sao ngươi còn can ta, khi ta đổi cái vật vô giá trị này đổi lấy vô biên công đức”. ( Thỉnh đại chúng đứng tán) Đệ tử hôm nay Gặp ngày khánh đản. Một dạ vui mừng Cúi đầu đảnh lễ. Thập phương tam thế Điều ngự Như Lai, Bồ-tát Thánh Hiền, Liệt vị Tổ Sư. Pháp giới chúng sanh Bởi thiếu nhân lành, Nên còn sa đoạ Tham sân chấp ngã, Quên hẳn đường về. Tình ái si mê, Tù trong lục đạo Trăm dây phiền não, Nghiệp báo không cùng. Nặng kiếp luân hồi, Đêm dày tăm tối. Phật Tổ năng nhân Rủ lòng lân mẫn Thương xót sinh linh, Đuốc tuệ rạng soi Nguyện cứu muôn loài, Dùng pháp phương tiện. Ta bà thị hiện, Thích chủng thọ sanh. Thánh Ma Gia mộng ứng điềm lành, Vua Tịnh Phạn phước sanh con thảo, Thái tử đủ 32 tướng hảo, Bảy hoa sen đỡ gót chân đi. Cất viên âm, tay chỉ đất trời. “Duy ngã độc tôn” lời lịch sử, Năm thái tử vừa 19 tuổi. Xin vua cha dạo bốn cửa thành, Chứng kiến cảnh sanh già bệnh chết. Nên phát tâm lập chí xuất trần. Sáu năm khổ hạnh ẩn rừng già. Bốn mươi chín ngày tinh nghiêm thiền toạ, Hàng phục ma quân, thành đạo quả. Quang minh soi chiếu khắp Ta Bà. CHÍ TÂM ĐẢNH LỄ 1) A-Tỳ ngục tốt, phát khởi thiện tâm. Chúng hoà: Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật ( Về sau mỗi số là một lễ như đây) 2) A-tăng-kỳ kiếp, quả mãn nhân tròn. 3) Nhất sanh bổ xứ, trên trời Đâu Suất. 4) Ta Bà hoá độ, ứng hiện sanh thân. 5) Đâu Suất giáng thần, ứng mộng Ma Gia. 6) Hoàng cung thác chất, thị hiện đầu thai. 7) Dưới cây Vô Ưu, khánh đản giáng sanh. 8) Giả hưởng năm dục, chán cảnh vô thường. 9) Dạo chơi bốn cửa, rõ già bệnh chết. 10) Nửa đêm vượt thành, tìm đường xuất thế. 11) Non xanh cắt tóc, tìm Thầy hỏi đạo. 12) Núi tuyết tu hành, sáu năm khổ hạnh. 13) Dưới cây Bồ-đề, hàng phục ma quân. 14) Sao Mai vừa mọc, đạo quả viên thành. 15) 49 năm tròn, thuyết pháp độ sanh. 16) Tam thừa đã đủ, hoá độ vừa xong. 17) Ta La song thọ, thị hiện Niết-bàn. 18) Lưu bố xá lợi, phước ích trời người. 19) Ta Bà giáo chủ, đại từ bi phụ. 20) Đương hội đạo tràng thiên bách ức hoá thân. 10. TRỊ TÂM I Tỳ-kheo-ni Đan Ti Ka nhân lúc đi núi chứng A-la-hán, ngâm kệ: Trên non voi tắm vừa xong, Bỗng nhiên quản tượng ở đâu tới gần. Tay quơ chĩa, miệng la rân, Thét voi bắt phải quỳ chân co giò. Voi nghe vội vã mọp bò, Thuận tòng sai khiến, voi ngoan ngoãn về. Voi kia vốn chúa rừng xanh Chủ khôn khéo dạy, hoá ra hiền lành À ra la thét dỗ dành, Vật dù cứng mấy, do đây cũng mềm. Tâm ra từ kiếp tăng-kỳ Trần lao đắm trói, dễ gì luyện tu. Song nhờ chí tuệ quản chu, Dứt tình ham muốn ngăn ngừa sân si. Từ đây an tịnh Niết-bàn. An nhàn suối hát vui ngàn thông reo. II Ngài Budha Ghosa, một đại Tổ sư, đã làm sáng rỡ Phật giáo Tích Lan, khi bàn về tâm giận hờn, ngài luận rằng: Anh ơi! Anh đã xuất gia lánh tục mà còn giận hờn. Đó là anh còn ôm việc thế tục trong lòng. Xin anh cho biết cái giận đứng chỗ nào mà gọi anh là giận? Tim giận? Phổi giận? Ruột giận hay gan giận? Thật anh là thứ nào để giận hờn người kia? Còn kẻ kia là thứ nào đang lãnh anh giận hờn? - Tóc lông móng răng da? Anh giận xương chăng? Anh giận chất đất hay chất nước? Hay anh giận hơi thở? Trong năm ấm anh giận sắc hay thọ? Tưởng, hành, thức anh phiền thứ nào? Anh giận cả sáu giác quan hay chỉ giận riêng con mắt, cái tai? Nhỡn thức của người kia đã làm anh giận đến thế ư? Anh ơi! Anh thấy cái giận của anh đứng chỗ nào? Một tu sĩ phân tích toàn thân để tìm chỗ chứa sự giận hờn, sẽ thấy không thể thấy mũi kim mà ghim hạt cải. Sân giận là một thứ chưa hề có chỗ đứng ở trên trái đất này. 11. ĐẠO TỪ Của Sư Bà Thiên Phước, tỉnh Long An Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật! Kính thưa Ni sư viện chủ, quí sư cô và đại chúng! Hôm nay là ngày tạm kết thúc khoá tu A Na Luật. viên mãn y công đức. Lời nói đầu tiên của chúng tôi là lời chân thành cảm niệm công đức Ni sư, đã tận tâm dạy bảo nâng đỡ ni chúng. Cùng chúng tôi chung sức trong những cố gắng giáo dục đào luyện đàn hậu tấn. Việc ni sư tổ chức khoá tu học này thật phù hợp với ý nguyện của tôi. từ lâu tôi chỉ mong cho con em có căn bản, có thứ lớp, có đường lối vững vàng. Đối với sự xây dựng tương lai cho Ni chúng cũng như đạo pháp, chúng tôi xin ghi nhận và tán thán công đức của Ni sư. Trong các giờ giảng dạy kinh và luật, Ni sư không quản lao nhọc, bố thí sức khoẻ và thời giờ cho ni chúng. Mỗi ngày ba thời. Khi bệnh cũng như khi mạnh, lúc nào cũng tận tâm, ân cần nhắc đi nhắc lại những lời dạy khế cơ khế lý. Giác tỉnh con em nhận rõ vạn pháp duyên sanh tức vô thường và tiến lên bước nữa là toàn giả tức chân, ngộ lý chân thường. Nhận thức sáng suốt 6 căn, sáu trần và sáu thức đều không thật, để hàng ngày lúc nào cũng y ly. Hướng về nội tâm phản tỉnh, mới có thể đảm bảo sự giải thoát sau này. Việc tu hành khó hay dễ đều do tâm mình có dõng mãnh quả quyết hay không. Người thế gian như ông Phạm Quỳnh đã nói:” Đường đi khó không khó vì ngăn sông cách núi, mà khó vì lòng ngại núi e sông”. Việc thé gian còn thế, huống chi việc xuất thế gian vô cùng quan trọng. Tín tâm là chìa khoá mở tan cửa đạo nhiệm mầu. Hy vọng đại chúng từ nay phấn phát tâm thành, cần cầu giác ngộ, nghĩ đáp bốn ân để khỏi phụ công lao chỉ giáo của Ni sư. Tưởng niệm nỗi đau khổ của sáu đường mà dốc chí tu hành không biếng trễ. Thưa Ni sư! Đem đôi mắt thực tế nhìn xem tình trạng chung quanh chúng ta, tôi tưởng chừng khó khăn lắm mới thực hiện được ý nguyện toàn vẹn. Vậy mà chúng ta tuy chịu ít nhiều thử thách chướng ngại nhưng nhờ Hồng ân Tam-bảo thầm gia hộ nên đã vượt qua. Cổ đức nói rằng: “ Trần lao muốn gánh việc phi thường Nắm chặt đầu giây giữ lập trường, Ví chẳng một phen sương thấm lạnh Hoa mai đâu dẽ ngửi mùi hương” Tu đạo đòi hỏi nhiều nghị lực và nhẫn nại mới thành tựu mỹ mãn. Ngày 29-01 Canh Thân (1980) 12. THƯ GỬI LIÊN HOA I Xã hội nào cũng có các nhân viên trính trị soi xét toàn dân, bắt buộc từng cá nhân vào quy luật. Quốc gia do đây bình an thịnh vượng. Một bà mẹ có nhiều con. Nếu quá cưng chiều, muốn chi được nấy, tha hồ phóng túng buông lung, những đứa con trở thành vô dụng. Bà mẹ về già sẽ khốn khổ vì con. Ngược lại nếu mẹ cứng rắn nghiêm minh. con sẽ lên người. Kết quả mẹ con hạnh phúc. Mỗi người chúng ta đều có nhiều tâm sở mừng giận, thương lo, yêu ghét, buồn tủi v.v...Nếu để những tâm này tha hồ rông rỡ thì tâm sở thiện ít khi đủ duyên hiện hành, còn các thứ cuống siểm hại kiêu v.v...sẽ mọc um tùm như cỏ dại. Từ vô thuỷ chúng ta đã có biết bao phiền não chướng, nghiệp chướng, báo chướng. Nếu không có trí tuệ nghiêm minh hằng tự soi chiếu, bắt tâm viên ý mã này vào khuôn khổ thì như người ta vẫn nói:” Ngọc kia không giũa không mài, cũng thành vô dụng cũng hoài ngọc đi”. Tâm nếu được trí rèn luyện thì ngôi Phật, ngôi Tổ còn nắm chắc trong tay, huống chi các quả vị khác. Điểm chánh yếu là tự hiểu biết mình, luôn luôn tự quán chiếu, luôn luôn thức tỉnh, nhìn thẳng vào thân tâm mình, theo dõi sinh hoạt của nó. Tu theo đạo Phật, không phải để thành tựu một điều gì mà là để xả bỏ đi tất cả. Bởi vì chân tâm bản tánh chúng ta bản lai đầy đủ hằng sa tánh đức. Nguyện cầu chị em thân miệng ý hằng thanh tịnh. Nam mô A Di Đà Phật. II Con tằm nhả tơ kéo kén cố gắng vất vả một thời. Những mong mai đây kén êm dày kín. Nằm ở trong thật an ổn chắc chắn, chẳng còn lo cái kiến con sâu nào quấy rầy. mặc ai mưa gió bão bùng sương sa gió lạnh, kén ta vẫn bền vẫn ấm. Dè đâu chính sợi tơ óng ả bền chắc ấy, đã xui con người bỏ tằm vào vạc dầu sôi. Cứ như thế từ ngàn xưa là kiếp sống của Tằm. Hiện tại vẫn thế, loài tằm không thay đổi tri kiến, không thay đổi lối sống. Loài người cũng vậy, cháu đưa đám ông, con đưa đám cha. Cứ như thế nối dòng đào hố vô thường. Kiếp kiếp đời đời không thay đổi tri kiến, không thay đổi lối sống. Sách kể chuyện: Con chồn đi ăn vụng, quá no căng bụng, lăn kềnh ra ngủ. Sáng sớm chị bếp la lớn:” Ồ! con chồn chết, ta chặt lấy cái đuôi phơi làm chổi”. Chồn đành giả chết, chịu chặt đuôi. Ai dè bà chủ lên tiếng:” Áo lông cừu đã rách, lột da chồn thuộc đi, vá cũng đẹp”. Chồn liều mạng vùng dậy, chạy biến vào rừng. Người anh dũng nên như chồn, vùng một cái, chạy thẳng về Cực lạc mới hi vọng an thân vĩnh viễn. 1.TRUNG ĐẠO GIẢN DỊ Tâm linh tất cả hữu tình hoạt động ở sáu căn: Mắt tai mũi lưỡi thân ý. Con đường chúng ta đi là vứt bỏ yêu ghét. Bình tĩnh trước mọi cảnh, thoát ra ngoài chiến trường thế sự. Đường giải thoát là trung đạo giữa hai thái cực buông lung và khổ hạnh. Chỉ cần đặt tất cả khổ vui hay dở xuống. Tin chắc thế gian này chẳng có gì hấp dẫn, chẳng có gì cần nắm giữ. Biết lạc thú hay đau khổ chẳng phải ta và của ta, chúng sẽ biến dần. Thực tập xả bỏ tất cả thủ chấp. Được thuần thục, tâm sẽ quân bình. Quân bình này là chánh đạo giải thoát. Hãy học cách nhìn tiến trình của tâm. Khi bị khuấy động, tâm giấy khởi các ảo giác, các tư tưởng. Mặc cho chúng tan đi. Kiểm soát tâm là một việc làm thích thú, bảo đảm không bao giờ chán. Đức Thế Tôn dạy các Tỳ-kheo: Sáu căn gặp sáu trần không phân biệt đẹp xấu thơm hôi ngon dở nên không cảm động. Tinh tấn gìn giữ sáu căn, không để ác pháp làm chủ. Một bề an định trong tánh thấy nghe. Cảm giác thuận nghịch phát sanh, thương ghét nhiễu loạn, không nhận là mình. Đừng hững hờ để tâm duyên cảnh. Tinh tấn chế ngự tham sân si. bảo hộ thiện pháp như phòng giặc không cho vào nhà cướp của. Có 5 pháp để thành biện việc hộ 6 căn là giới, nhẫn, trí nhớ, trí tuệ, tinh tấn. Ngược lại: buông lung, hay quên, me muội, nông nổi, lười biếng không hộ được sáu căn. Lộ trình tâm trong nhãn căn khi xúc trần: 1- Tâm bình thường (Bhavanga) rung động một sát na, dừng lại một sát na. 2- Tâm tìm kiếm cảnh trần ở năm căn phát sanh rồi diệt. 3- Nhãn thức một sát na. 4- Thọ một sát na. 5- Suy đạt một sát na. 6- Xác định một sát na. 7- Tốc hành tâm luôn 7 sát na. Những sát na đầu, tỳ-kheo chưa ý thức được. Mãi đến số 7 mới có hộ, nghĩa là tham sân không áp lực chi phối. Thân như cái nhà, 6 căn như cửa mở. Trí nhớ như người gác cửa. Năm pháp hộ như cửa cái. Một trong sáu trần dắt đường. Tham sân là kẻ cướp. Người gác quên phận sự, không lưu tâm đến cửa cái, kẻ dắt đường dẫn cướp vào phá các thiện pháp. Thành quách an toàn nhờ quan quân canh giữ. Tỳ-kheo hộ sáu căn mới bảo tồn được giới phẩm. 2. HỌC VÀ HÀNH Muốn được chân lý phải học căn bản: 1) Giới luật 2) Tứ Niệm Xứ. Lời nói có giới hạn nên kinh điển không diễn tả được hết. Kinh nghiệm của chính mình mới đem lại đức tin thật sự. Lấy lời Phật làm căn bản để nghiên cứu tâm mình. Học rồi thực hành sẽ thấy giáo pháp. Nếu không, ta chỉ biết Phật pháp qua ngôn ngữ. Việc cần học là tìm được một con đườn thoát khổ được an cho mình và cho người. Tâm di động thì tư tưởng hình thành tham ái hay bực bội. Vì không hiểu rõ sự chuyển động này, cứ theo thói quen, hình thành maĩ tư tưởng, trở nên nạn nhân của nó. Theo dõi sự di chuyển của vọng tâm, sẽ thấy đặc tính của nó là vô thường, vô ngã và không biết chán đủ. Khi các pháp sanh, hãy chánh niệm, biết chúng. Tâm thực hiện được sự ghi nhận, giác tỉnh này mới là tâm được huấn luyện đúng cách. Nhiều loại tâm hình thành, nẩy nở liên lục. Cứ mặc chúng, tốt cũng như xấu. Phật dạy: Vất bỏ hết. Nhưng làm thế nào vất bỏ? -Quan sát tâm, chỉ thấy các yếu tố khác nhau kết hợp mà không tự ngã. Cảm giác, ký ức, cả năm uẩn đang rời chỗ như lá cuốn theo gió. Ai quan sát tâm sẽ khám phá ra điều này. Còn dính mắc vào an tịnh vẫn là còn dính mắc. An tịnh chấm dứt, dao động bắt đầu ta sẽ bị dính mắc nhiều hơn. Cho nên dù an tịnh hay động tâm, ta không nên nhận là tôi hay của tôi. Vì có chấp thủ nên con người hết hân hoan đến thoái chí, không ngừng bước lên thiên đường, vào địa ngục. Rõ ràng chân tâm chủ nhân ông đang chiếu soi không sanh không diệt. Trí chiếu sáng, không gì làm bận rộn được nó cả. Ta bận rộn vì bị những hiện tượng nhận lầm là tự ngã đánh lừa. Khi chứa đựng đồ tốt, chân tâm không trở nên tốt. Khi tiếp xúc việc xấu, chân tâm không trở nên xấu. Tâm trong sạch biết những đối tượng này rõ ràng không bản chất. Trí tuệ nhìn chúng với tâm xả. Đây là bình an, vô sanh, vô ngã, vượt ra ngoài thiện ác. Hãy phát triển tâm định, an tịnh và minh sát, hãy thật sự dùng nó. Gặp việc ưa thích hay bực mình, ta để nó ra đi được chưa? Bài này không phải để nghe xuông, phải quyết liệt thực hành liên tục mới được. Đáng tiếc là rất ít người nghiên cứu Phật giáo chịu thực tập. Tôi khẩn khoản khuyên họ nên có sự tu để lý học được sáng tỏ. 3.XẢ LÀ BÍ QUYẾT GIẢI THOÁT. Nhà khoa học đưa sự vật ra xét nghiệm để rõ thực chất. tỳ-kheo quan sát con chim sinh đẹp, thấy thân nó bất tịnh, vô thường, một dúm lông chất chứa đau khổ. Thế gian si mê, ngã quỵ trong phiền não, chịu quả báo sáu đạo, gia tăng thói xấu, tạo thêm nghiệp ác. Vòng luân hồi cứ thế xoay vần không cùng tận. Phật đã đích chỉ tham, sân , si là ba độc, dạy chấm dứt thủ chấp. Gió giác quan, nếu không theo dõi sẽ gây bão tố tham sân, khiến miệng thói thân làm sai quấy. Si mê thấy thiện ra ác, ác ra thiện. ba thứ căn bản phiền não này, vừa như lủa nung nấu, vừa như nước nhấn chìm. Đức Phật đã thành đạo, vẫn có thân( sắc), vẫn có cảm giác khổ vui( thọ), có tư tưởng, có suy nghĩ ( hành), có tâm thức phân biệt, nhưng không nhận chúng là ta, là của ta. Ngài tách rời năm uẩn ra khỏi các phiền não, như người phá rừng phát quang những bụi cây nhỏ mà không làm hại đến những cây lớn. Phiền não không còn chỗ đứng để sanh diệt, tồn tại, nối tiếp. Còn năm uẩn thì đến và đi, sanh và diệt, theo bản chất tự nhiên của chúng. Bị nguyền rủa, Tỳ-kheo vì không có cảm giác về tự ngã nên câu chuyện theo âm thanh mà thành không. Tỳ-kheo cẩn thận buông xả hết kiêu và mạn. Thong thả đi trong đời không bị dính mắc là con đường Niết-bàn. Tất cả giáo huấn của Phật chỉ có một mục tiêu: Giải thoát tâm khỏi mọi ràng buộc. Nguồn từ bi và trí tuệ sẽ từ đây chảy ra. 4. BÌNH AN Nhìn mọi vật dưới ánh sáng vô thường, vô ngã, khổ và không, sẽ không luyến ái sẽ chẳng ghét bỏ. Chúng ta không tìm khoái lạc, chỉ cầu bình an. Bình an không có ở rừng sâu núi thẳm. Một bậc Thầy đạo đức tối thượng cũng không thể ban cho chúng ta bình an. Bình an chỉ có ở ngay trong chúng ta, cùng một chỗ với giao động. Theo dõi tâm, thấy nguyên nhân của khổ đau thì chấm dứt ngay. Ta sẽ không phải đương đầu với những kết quả. Nguyên nhân của đau khổ là phiền não. Quan hệ nhất là biến phiền não không bản chất. Không lẩn tránh phiền não. Không dằn ép phiền não mà đối diện với phiền não. Không nuôi dưỡng những thứ độc ở trong tâm. Tâm ích kỷ là mẹ đẻ của tham, sân , si ggốc dễ của tất cả đau khổ. Ta phải chế ngự chúng, chiến thắng từng giờ phút để thoát sự kiềm chế và điều khiển của chúng. Cuộc chiến đấu tranh quyền làm chủ này thật khó khăn. Khó khăn vì những người bạn thân này, chẳng những sống với chúng ta từ thủa còn thơ mà đã từ vô thuỷ. Vì chúng ta chỉ đắp thuốc bên ngoài, bên trong vẫn nuôi dưỡng phiền não, cho đến nhận chúng là mình nên đâu có gì mệt nhọc. Nay mổ sẻ để trị tận gốc tránh sao khỏi khó khăn, một khi từ thâm tâm chúng ta là ruột thịt của mình. Muốn đề kháng phiền não trước hết bớt ăn bớt ngủ. Đây không phải là tự hành hạ mà là điều cần thiết để có sức mạnh ở bên trong. Chúng ta chịu luân hồi sanh tử vì đã dính mắc vào thọ, tưởng, hành,thức. Mỗi mỗi nhận là ta. ta khổ ta vui, ta yêu ta ghét, ta làm thiện ta làm ác, ta thấy ta nghe, chỉ những ta là ta. Nhà thiền coi tâm như một con trâu rừng, đăm đăm trông không cho nó dẫm vào lúa mạ. Huấn luyện cho nó thuần thục. như thế chẳng những chúng ta chấm dứt phiền não ,mà còn thấy được chân lý. Việc này không phức tạp lắm đâu, chỉ có điều là không thể trông cậy sách vở và thầy bạn, mà phải tu tập. Chính mình kinh nghiệm, chính mình giác tỉnh, lòng tin đạo pháp mới vững bền. Dần dần tầm tri kiến sẽ thay đổi và theo đó các thói quen chấp ngã sẽ chuyển gỡ. Có 2 loại khổ: Khổ đưa đến khổ và khổ để dứt khổ. Nếu ta sợ loại 2, nhất định ta phải gặp loại 1. Nghiên cứu điểm này sẽ được bình an. 5. TÂM PHÂN BIỆT Mật ong ngon ngọt, ăn cơm không, thấy nhạt nhẽo. Các thực phẩm mỗi thứ một vị nhưng bài tiết ra, chúng chẳng khác nhau. Cái tô so với cái tách là lớn nhưng so với cái chậu lại là bé. Tâm phân biệt theo nghiệp mà nhuộm màu vạn vật. Thế giới 6 trần chính nó tạo ra, toàn những bất đồng. Đường ngọt, muối mặn, khổ vui, động tĩnh, chung quy cũng chỉ là nhân duyên sanh nên vô ngã, vô thường, khổ và không. Chỉ cần chúng ta tự chủ và luôn luôn sáng suốt. Những cảm giác khởi lên, chúng ta ghi, biết rồi để mặc cho chúng tan đi với tính cách vô thường của chúng. Vọng tâm như con khỉ nhảy nhót, ưa thích rồi chán bỏ để ưa thích rồi chán bỏ....Giác quan tiếp xúc sự vật. Yêu và ghét phát sanh. Dĩ nhiên vì có si mê đứng đấy. Nhưng với chánh niệm thì đây là lúc trí tuệ phát sanh. bắt buộc phải có mặt ở một nơi mà các giác quan bị quấy rầy. Đừng ngại, giác ngộ không có nghĩa là điếc hay mù. Chỉ cần chánh niệm không dính mắc. Bản chất là ảo ảnh nên sáu trần tự trôi qua. Diều cần yếu là phải học cách kiểm soát và làm chủ con khỉ. Cần thì xích nó lại. Mặc cho nó chết. Nhưng bạn ơi, bạn vẫn có con khỉ chết. Xác nó có thối hết đi nữa, bạn vẫn còn bộ xương khỉ. Theo Kinh Lăng Nghiêm, dù có nhắm mắt bịt tai, nội thủ u nhàn, vẫn là pháp trần phân biệt ảnh sự( con khỉ chết). Dù có chứng A-la-hán, như Tổ Ca Diếp, nghe tiếng đàn của Càn-thát-bà-vương, bất giác đứng dậy múa. ngài Tất Lăng Già Bà Ta cứ gọi nữ thần sông Hằng là Tiểu Tỳ. Phật day: Tổ ca Diếp xưa kia, 500 đời làm nghề ca múa. Ngài Tất Lăng Già Bà Ta thật tình không còn kiêu mạn. Đây là tập khí nhiều đời còn lại. Phải tu Bồ-tát hạnh mới đoạn hết ( xương khỉ). 6.CHÁNH KIẾN Đức Phật khi thành đạo xem loài người như một ao sen: Một số còn nằm trong bùn. Một số vượt khỏi bùn nhưng còn nằm ở trong nước. Một số vươn được lên mặt nước. Một số vượt mặt nước đứng trong hư không, nở hoa, toả hương. Bạn hãy xem xét mình là loại nào? Nếu còn ở dưới nước thì coi chừng, chẳng thoát được lũ cá và rùa nó rúc rỉa, còn ở luân hồi, dù cõi trời người vẫn không thể làm chỗ bình an. Cần học kỹ Phật pháp để tự có một tầm nhìn đúng. Việc này vô cùng quan trọng. Suốt đời trau dồi tâm từ ái và tôn kính mọi người. Thận trọng lời nói và việc làm. Đấy là tài sản của chúng ta. Sống đúng với giới luật, tâm sẽ an hoà trong sáng, giải thoát dễ dàng phát triển trên mảnh đất này. Suốt đời trau dồi tâm từ ái và tôn kính mọi người. Thận trọng lời nói và việc làm. Đấy là tài sản của chúng ta. Sống đúng với giới luật, tâm sẽ an hoà trong sáng, giải thoát dễ dàng phát triển trên mảnh đất này. Nhà cửa phải quét dọn sạch sẽ, y phục tề chỉnh. Tâm chúng ta phải xả ác tu lành. Xả ác tu lành tới cùng cực. Có nhiều hiểu biết sai lầm về sự tập chung tâm ý. Có nhiều hiện tượng bất thường xảy ra trong lúc tu hành, nên cần các bậc thầy điều chỉnh và hướng dẫn. Chánh tinh tấn không phải là lo việc bên ngoài mà là bền tâm giác tỉnh và ngự chế bên trong. Có đức hạnh mà bố thí thì từ thiện được trong sáng. Người không hiểu giáo pháp mong che giấu lỗi lầm, dâu có biết nghiệp luôn luôn theo dõi họ. Giới luật và chánh kiến là hai bước đầu tiên phải hoàn thành. Phiền não sẽ tự tan biến. Cũng như đèn thắp lên, chúng ta cũng chẳng cần hỏi bóng tối đã đi đâu. Muốn có chánh kiến phải học và tu Tứ Niệm Xứ. Giới Định Tuệ là đạo, là con đường phải đi chớ chưa phải là chân lý mục tiêu. Như từ Sài Gòn đến Hương Sen, đường đi là đạo, chỗ đến là Hương Sen. Trong tất cả lúc, tất cả nơi, Đạo lo huỷ diệt Tập và KHổ. Kiên trì không ngơi nghỉ, chịu đựng mọi khó khăn, tranh đấu với phiền não cho tới cùng. Giới Định Tuệ đem lại sự bình an kỳ diệu, không phải dựa vào một ai khác. Có trí tuệ là tự mình thấy rõ lẽ phải. Khen chê không quấy rầy được. Hãy tự xét. Nếu họ nói sai, ta bỏ qua. Nếu họ nói đúng, ta sửa mình. Cần gì phải giận dữ. Tự tin và nỗ lực giác tỉnh, sẽ được thật sự bình an, ta chỉ cần tỉnh thức và chánh niệm. Đừng tìm lỗi người. Nếu họ sai, ta tự khổ làm chi. Đã chỉ chỗ sai mà họ không sửa, đây là đường đi của họ, chớ có giận dữ mà tự mua sai quấy vào mình. Bất cứ việc gì cũng làm với tâm xả bỏ, không mong cầu tiếng khen hay sự đền đáp. Xả bỏ ít sẽ có bình an ít. Xả bỏ nhiều, bình an nhiều. Xả bỏ hoàn toàn bình an hoàn toàn. Tâm ta luôn luôn hoạt động. Quét nhà hay ăn uống ta hãy thận trọng chánh niệm. Trong những chấp tác hàng ngày, ta tự biết có còn lạc lõng theo các phiền não không? Nhiều vấn đề ta đương đầu chính là nguồn gốc của trí tuệ, để cuộc tranh đấu với thế gian này sớm chấm dứt. Đạo, Quả, Niết-bàn đòi hỏi một đối kháng với chính tâm mình. trong giai đoạn đầu tìm hiểu giáo pháp, thân ẩn cư rất cần. Nghiêm chỉnh tu hành, ta sẽ trưởng thành trong giáo pháp. Ai tìm sẽ thấy. Ai ăn sẽ no. Chỉ người ăn mới no. Bạn có thể bảo thân bạn đừng già được không? Dạ dày có xin phép bạn khi nó đau không? Chúng ta chỉ là người thuê nhà. Tại sao không chịu tìm cho ra thật sự chủ nhân thân này là ai? 7.TIẾT CHẾ BA NGHIỆP Chỉ khi nói cần hoặc có ai hỏi. Xuất gia kiêng nói nhiều và thói quần tụ. Không cần hoàn toàn tịnh khẩu, chỉ nói lời hữu ích. Chớ lo tạo chùa mà chẳng nghĩ đến luyện tâm. Muốn dạy người khác, chính mình phải kiểm soát được mình. Hằng kiểm điểm tâm mình, xem ta thực hành đúng hay còn khuyết điểm? Nhiều vị tu hành hay nhập thất là để dẽ thanh lọc tâm, chứ không phải để tách rời mọi người. Nếu đời sống thế tục thuận lợi cho sự tu hành thì đức Phật đâu có khuyên chúng ta xuất gia? Thân và tâm là hang ổ của kẻ cướp, luôn luôn nổi lửa tham sân si, ngũ dục lôi cuốn. Ta đối trị tham ái bằng pháp đầu đà và quan sát tử thi. Tập thấy mình là một xác chết, một bộ xương. Các cô gái trẻ đẹp đi qua kia chỉ là một bộ xương bọc thịt, phủ một lớp da. Cả ba thứ đều tanh hôi, sửa soạn để hoá dòi mủn nát. Niệm thân để đối kháng lại chỗ thấy biết rất sai của mình. Đạo giải thoát bảo ta phải nhìn cho thấy cơ thể ta và người chỉ là những tập hợp vô thường đầy khốn khổ. Do đây giải thoát những hiểm nguy của tham ái. Nghĩ đến cái chết, đến sự huỷ diệt, ta sẽ không quyến luyến cuộc đời. Do đó ta được hoan hỷ và định tâm. Biết sự vật đúng chân tướng của nó, ta không bị ràng buộc. Tu hành có 3 căn bản: 1. Nghiêm hộ sáu căn: Miên mật sớm chiều như người vào rừng sâu đề phòng rắn độc và thú dữ, cẩn thận không để gai nhọn đâm chích. Như người có vết thương thận trọng không cho ruồi muỗi xúc chạm. ba nghiệp điều hoà mới có bình an. 2. Ăn uống tiết độ: ăn chay thì dễ, hạn chế miếng ăn rất khó. hãy học ăn trong chánh niệm. Nên phân biệt muốn ăn và cần ăn. Bớt ăn bớt ngủ rất cần trong mặt trận chống biếng nhác và tham ái. Có thiếu thốn, phiền não mới lộ diện để cho ta thấy mà hàng phục. 3. Chánh niệm tỉnh thức liên tục: Niệm Phật cả đêm để cả ngày hôm sau nghỉ hay vứt bỏ tất cả bổn phận để chuyên niệm Phật, bạn sẽ mất bình an. Nên nhớ ta phải tiếp tục thở bất kể hoàn cảnh nào, không thể quá gấp hoặc quá hoãn. Điều hoà là cha sức khoẻ. Tu hành cũng thế, luôn luôn theo dõi tâm như cha mẹ bảo vệ con cái, không cho chúng làm bậy. 8. AN VUI Ở ĐÂU Vất bỏ hết đời sống thế tục, đắp y mang bát làm một người xuất gia, hoàn toàn tự do, không còn một chút tư hữu nào. Thế mà nhộm y sẫm nhạt một chút cũng không chịu. Đội mũ không được, phải đội khăn v.v...Bận tâm đến vài ba cái sở hữu, trong khi chỉ cần giác tỉnh. Đời sống an phận thúc liễm trong tu viện, nhiều người cho rằng tù túng áp chế. Dù là đã đụng tâm quyết chí tu hành, họ vẫn thấy không thoải mái. Tư hữu và tham luyến hoàn toàn không do hoàn cảnh sanh ra. Gốc dễ của chúng ở tim con người. bất luận nơi đâu, lúc nào, với một vật bé nhỏ không đáng, chúng cũng khởi dậy. Chỉ khi nào ta biết rõ chúng là gốc dễ của tất cả phiền toái thì ta mới được hưởng cái thảnh thơi của dứt bỏ. Luyện tâm là điều tối yếu. Phật giáo là đạo của tâm. Người nào đào luyện tâm mình, người ấy tu theo Phật giáo. Tin chắc lý nhân quả, quan sát kỹ sự sanh diệt của sáu trần, làm chủ mọi hoạt động của tâm ý, chắc chắn sẽ giải thoát. Như thế ta tự lo khai mở trí tuệ. Trí tuệ cẩi thịên nhân tâm. Hãy tỉnh dậy! Cố gắng tìm vui ở sự tu hành. Giữ gìn giới phẩm căn bản. Kiểm soát thân miệng ý. Đừng chán nản trong khó khăn, tập chung tâm ý. Đạo sở dĩ quý vì có thể huấn luyện được tâm. Với nỗ lực đúng, chúng ta đạt được trí tuệ. Thực hành chánh pháp là bậc xuốt thể gian. Giới luật là cha mẹ của mọi sự tốt đẹp. Nhìn thẳng tham sân khởi dậy ở các giác quan, đừng dính mắc vào chúng. Cứ thế tập, đừng bận tâm đến kết quả. Bao giờ thành cũng được, miễn là tinh tấn. Biết rõ thân già bệnh chết chỉ là đất nước gió lửa, kết hợp tạm thời, thì khi bắt buộc rời bỏ nó, ta đỡ đau khổ. Hiểu rõ vô ngã tức khắc buông gánh nặng. Không chấp ngã, tầm nhìn sẽ mở rộng, mọi việc trở nên dễ dàng. Sống với giáo pháp, an vui tự đến. VII. ĐÀN GIỚI TỲ-KHEO-NI (Tình Lâm Đồng, huyện Đơn Dương, chùa Giác Nguyên) 9h sáng ngày 24-08 Canh Ngọ ( 1990) Hòa-thượng Giải Nghiêm chùa Hương Sơn chứng minh. Hoà-thượng Pháp Chiếu Yết Ma Sư Hoà-thượng Huyền Đăng Tôn chứng sư Thượng-toạ Như Tấn Tôn chứng sư. Thượng-toạ Minh Chiếu Tôn chứng sư. Thượng-toạ Chân Hướng Tôn chứng sư. Đàn giới vừa xong,Hoà-thượng Chứng Minh huấn từ: Phước đức nhân duyên vun trồng nhiều kiếp, nay mới được dự đàn giới Tỳ-kheo-ni. Cây Bồ-đề bắt đầu nẩy mầm. Đắc pháp rồi phải hết lòng vâng giữ. nay đã là thời mạt pháp. Mạt là ngọn. Đạo Phật tuyên dạy trải mấy ngàn năm, nay đã phai nhòa, chỉ còn chút ngọn. Hết ngọn là đến hư không. Chẳng còn gì nữa. Phật huyền ký:” Sau này các kinh mất hết, chỉ lưu lại bốn chữ Nam mô A Di Đà Phật làm chuyến đò cuối cùng vớt kẻ có duyên. Đò này cũng sắp rời bến”. Mau mau lên gấp, chậm chân là tuyệt phận, không còn chuyển nào nữa. Khuyên chớ buông lung. Phải miên mật niệm phật. Niệm cho tới bao giờ nhìn đâu đâu cũng chỉ thấy toàn tánh A Di Đà, mới thể nhận được tâm chân thật của mình. Kinh dạy:” Ba nghiệp thanh tịnh là Phật tại thế. Ba nghiệp không thanh tịnh là Phật đã nhập diệt”. Tánh Phật của chúng ta bị phiền não chướng, nghiệp chướng, báo chướng che khuất như trăng bị mây phủ. Nay cầu giới phẩm để tiêu ba chướng, giải thoát tâm thức. Sanh tử luân hồi, tuy là hoa đốm ở hư không, nhưng còn sức thiện ác lôi kéo lên xuống thì chưa thể hết. Bao giờ học Bát Nhã Tâm Kinh, rõ nghĩa sắc tức thị không, không tức thị sắc. Thể nhận được chân tâm thì vọng tâm liền xoá sạch. Chiếu thấy năm uẩn đều không thì cả phận đoạn và biến dịch, 2 sanh tử đều thoát. Hoà-thượng Yết ma nhấn mạnh: Trọn đời nhớ kỹ Tứ Y là 4 điều phải nương tựa để sống: 1. Người đánh mình, mình không được đánh lại. 2. Người mắng mình, mình không được mắng lại. 3. Người giận mình, mình không được giận lại. 4. Người giỡn cợt mình, mình không được giỡn cợt lại. Vì ngày bố tát không được nhắc đến điểm này nên học chúng dễ quên. Tứ Y vô cùng quan trọng trong sự nghiệp thanh tịnh thân miệng ý. Có diệt ba độc tham sân si, tỳ-kheo-ni mới như pháp, như luật, như lời Phật dạy. Song bốn pháp này chỉ là sự tu biểu lộ hình tướng bên ngoài. Cần học kinh để tỏ rõ lý tánh bên trong, giải thoát thật sạch những phiền não mới hy vọng thánh quả. Sự nghiệp này đòi hỏi công phu tỉ mỉ. Chủng tử hiện hành lại huân tập thành chủng tử, khiến nghiệp thức nặng nề mê ám. giác tỉnh được chỉ có những bậc siêu quần. lắng lòng niệm Phật như người lọc bột. Gạn lấy bột nhất, bỏ nước chua đi. Các con nay như hoa còn trong nụ. Phải cố gắng thuận theo thánh duyên hiện tại để mai đây tới thời tiết, toả đủ năm phần hương Pháp-thân. Khi trao phần thưởng học vấn, Hoà thượng Pháp Chiếu Răn dạy: Biển học bao la, chớ lấy đây làm thoả mãn. Phần thưởng chỉ là phương tiện khích lệ, để sách tấn. Hiện nay văn hoá loài người đã tiến triển. Khắp 5 châu Âu, Á đều đã biết tôn sùng tín nhiệm đạo phật. Song đó là phần rộng, công đức của đông tây kim cổ liệt vị pháp sư đã khiến cho lợi ích lan xa. Riêng chúng ta, muốn thành cho người, trước phải tự thành. Trong Phật học phải dùng trí quan sát. Sự vật hiện tại đang sống, mỗi mỗi đều là đối tượng tu quán. Tuệ như mắt thấy đường đi. Hạnh như chân tiến bước. Phước trí nhị nghiêm mới kết quả bồ-đề. Khi trao phần thưởng đức hạnh, hoà-thượng Giác Nguyên Huấn từ” Hạnh đứng đầu trong Tăng là pháp lục hoà. Nhất là bên Ni lại càng cần lắm. Lục hoà là sức mạnh của đoàn thể. Có lục hoà không ai phá được Đạo Phật. Hạnh cần xuất phát từ tâm. Nếu do đè nén thì sáng hiền chiều ác. Nếu xuất phát từ tâm thì trong mọi đối tượng, mọi thời khắc, hạnh đều có mặt. Không phải gò ép hình tướng bên ngoài, khúm núm trước mặt, sau lưng lại khác. hạnh xuất phát từ tâm thì hoàn cảnh càng khó xử, ngã ái càng bị châm chích nặng, thật hạnh càng được phô bày. Sống trong chúng, gặp trái ý nghịch lòng nên kiên nhẫn để tình huynh đệ đỡ tổn thương, guồng máy Tăng già không bị suy sụp. Một người ở địa vị thấp nhưng có trí tuệ biết tiền và vật là thứ giả tạm, không tham không giận. Người này ai cũng kính nể vì tư cách cao thượng. Còn ở địa vị cao mà gặp cảnh cũng phùng mang trợn mắt như những kẻ tầm thường, thì chỉ được sự cung kính bên ngoài. Người ta không thật lòng trọng phục. Cần tu sửa tâm niệm. Tâm niệm hay thì hành động đẹp. Ở cảnh não cũng an vui. Thí dụ: Hẹn bạn 2 giờ chiều cùng đi nghe pháp. Đợi đến 2 giờ rưỡi, bạn vẫn không đến. Thế là nhỡ việc. Ta phiền tức, định gặp bạn quở trách. Tình bạn sẽ tan vỡ. Nếu ta nghĩ bạn mình đang khổ sở lê chiếc xe đạp nổ nốp đi tìm tiệm chữa xe. Ta sẽ thương bạn. Trong cuộc đời trùng trùng duyên khởi, tâm vẫn làm chủ. Hễ tâm niệm lành thì hành động lành. Hành động lành quả báo sẽ lành. Việc này ai cũng biết. Nhưng tỉ mỉ soi xét nội tâm để sáng suất hành động thì ai hết để ý. Năng lực tự trị đã hiếm, tự giác lại càng khó. Thứ trí tuệ này phải tập hàng ngày hàng giờ từng niệm, đức hạnh không phải phút chốc thành được. Đây là tài sản của chúng ta, không châu báu nào sánh kịp. Giáo Thọ Ni bê 22 quyển Luật Tứ Phần Lược Ghi tới trước đại Tăng, cung kính quỳ bạch: Nam mô A Di Đà Phật! Đức Thích Tôn dạy đệ tử phải thờ Ba la đề mộc xoa làm thầy. Mười phương Phật lấy đây làm đệ nhất minh hối. tỳ Ni tạng trụ thì Phật Pháp còn. Nơi nào tỳ-ni không được hoằng dương thì Phật Pháp tuỳ diệt. Phật đã diệt độ hơn 2500 năm. Ngôi Tam-bảo vẫn còn hư long ở thế gian. Chính nhờ liệt vị Tăng Ni nghiêm trì giới luật, thanh trừng ba độc tham, sân , si. Biển khổ luân hồi, thuyền từ cứu vớt, Phật trao chèo lái về ngôi Tam-bảo. Ngưỡng mong chư tôn Hoà-thượng giới sư, từ bàn tay trăm phước trang nghiêm, bá thí luật điển, mở cửa cho chúng con vào Thánh đạo. Các giới sư lần lượt phát sách. Mỗi giới tử lại được thêm một huấn tù. Thí dụ: Phổ minh được câu:” Phật dạy lấy giới luật làm Thầy nhưng phải nhớ sách chỉ là phương tiện. Lời Phật ý tổ phải thấm nhuần vào tạng thức, hình dung trong ba nghiệp khi động khi tĩnh, chớ khư khư ôm suông chữ nghĩa”. Thanh An được câu:” Thanh-văn giới tuy gọi là cụ túc nhưng muốn thật đầy đủ, phải tiến lên đại thừa, cầu Bồ-tát giới”. Hương Quang mừng rỡ cầm cuốn Luật xá. Hoà-thượng nghiêm sắc mặt:” Khoan, đứng dậy! Đặt cuốn sách lên bàn, chắp tay xá. Luật Sadi có dạy rõ ràng không được cầm kinh xá người”. Hương Qung vội vàng y giáo phụng hành. Phát Luật xong, Hò-thượng Huyền Đăng ngâm kệ: Khi xưa Phật nhập Niết-bàn Để lời di chúc rõ ràng chẳng sai. Ai là đệ tử Như Lai, Phải lấy giới luật làm Thầy chớ quên. Giới tử sửa soạn ra xe về, một Lão Tăng trong chùa tiễn chân một câu chuyện, dăn bỏ túi đem về làm quà cho chị em:” hai lái buôn chung vốn chung sức. Đến khi chia lãi, A dành phần hơn, B vui vẻ. C đứng ngoài tức hộ:” Tội gì mình cũng công cũng của mà chịu thiệt”. -Vì anh tôi có mẹ già nên cần tiêu nhiều Lời nói cắt đứt soi mói của C, khiến A cảm động, bội phần quí B. Thế là một câu nói đem lợi ích cho cả 3. Thế gian buôn bán, chuyên tâm tính toán hơn thua mà chẳng còn ăn ở với nhau như vậy. Đạo tình phải làm sao cho chị em đối với mình, di thì nhớ ở thì thương”. Dọc đường xe chạy từ Đơn Dương về Phú An, đại chúng thi nhau Niệm Phật vang trời. Lại thêm chú Thiện và chú Tiến, 2 thị giả của đại lão Hoà-thượng tiếp sức. Tới bến sang Thiện Chí để về Hương Sơn, Hoà-thượng lên đò:” Chúc quý cô thường lạc ngã tịnh”. SỐNG TỈNH THỨC Tối rồi sáng! Tối rồi sáng! Vui mừng ta đón ngắm ánh bình minh Trên cành cây chim hót lá rung rinh. Trời trong mát thanh bình trong nắng mới, Thương yêu muôn vật chúng ta vun xới. Mầm từ bi cầu chí sáng vô biên. Không ngã nhân ảo tưởng với não phiền. Muôn tướng trạng thảy đều vô sở đắc. Nương Bát Nhã thuyền, không không sắc sắc. Thôi từ nay một dạ quyết chuyên tu. Tánh chân như nào đâu có trí ngu, Bớt phân biệt, tâm đỡ bao chướng ngại. Tự tại rồi nào còn khôn với dại. Ngày tháng qua đâu quản ngại thời gian Đi trong đời an ổn thật Niết-bàn. (Ưu-bà-di Viên Không) III. NỒI CƠM NHAN HỒI Đức Khổng Tử dẫn học trò đi du thuyết từ Lỗ sang Tề. Thời Đông Chu, chiến tranh liên miên, chư hầu loạn lạc, dân chúng đói khổ. Thầy trò Khổng Tử rau cháo cầm hơi. Nhưng không một ai kêu than thoái chí. Tất cả quyết tâm theo Thầy đến cùng. Ngày đầu tiên đến đất Tề, một nhà hào phú từ lâu đã nghe danh Khổng Tử, đem biếu ít gạo. Khổng Tử phân công : Tử lộ dẫn các môn sinh vào rừng kiếm rau. Nhan Hồi đảm nhận việc thổi cơm. Nhà trên cách bếp một cái sân nhỏ. Khổng tử đang đọc sách, bỗng nghe tiếng động mạnh từ bếp vọng lên. Khổng Tử nhìn xuống bếp, thấy Nhan Hồi dùng đũa xới cơm cho vào tay, nắm từng nắm nhỏ, đưa lên miệng ăn. Khổng Tử thở dài, ngửa mặt lên trời than rằng: Chao ôi! Học trò nhất của Khổng Tử mà đi ăn vụng! Chao ôi! bao nhiêu hy vọng ta đặt vào nhan hồi này thành mây khói! Mọi người mang rau về, luộc rau, dọn cơm ở nhà trên, cùng chắp tay mời Khổng Tử. Khổng Tử nói: Trong cảnh hoạn lạc, từ Lỗ sang Tề, đường xa vạn dặm, nắng mưa đói khổ, các Thầy vẫn một dạ theo ta. Hôm nay, bữa cơm đầu tiên trên đất Tề, các Thầy hãy cùng ta hướng về quê hương xứ Lỗ, tưởng niệm cúng dường cha mẹ. Nhan Hồi chắp tay thưa: Cơm đã ăn trước rồi không nên cúng. Bởi vì khi con mở vung ra xem thử cơm đã chín chưa? Chẳng may một cơn gió tràn vào, bồ hóng và bụi trên mái rơi xuống. Con nhanh tay vội đậy nắp vung lại, nhưng không kịp. Con xới lớp cơm bẩn ra định vứt đi. Nhưng cơm thì ít mà anh em lại đông. Chúng sẽ mất một suất ăn. Con đã mạn phép Thầy và anh em, ăn trước phần cơm bẩn ấy. Như vậy là hôm nay con đã ăn cơm rồi. Bây giờ con xin phép chỉ ăn phần rau. Khổng Tủ lại ngửa mặt lên trời, than rằng: Chao ôi! Thế ra trên đời này có những việc chính mắt mình nhìn thấy trông thấy rành rành mà vẫn không phải là sự thật. Chao ôi! Suýt tý nữa, Khổng Tử này đã là một kẻ hồ đồ. TÂM TA LÀM PHẬT-TÂM TA LÀ PHẬT Cương lãnh của Quán Kinh, câu này gọi là tông yếu của một đời Bổn Sư thuyết pháp. Chân pháp nhiễm tịnh tuỳ duyên, hiện thành 10 pháp giới. Mười pháp giới toàn thể là chân. Cho nên kẻ tin sâu lý nhân quả, chính là người sẽ đem đại minh tâm tánh. Chúng sanh và Phật vốn ở khắp nơi, tuyệt đãi, viên dung, không thể nghĩ bàn. Hành giả nên tin đây mà vào. Tự tánh hiện tiền của một tâm niệm tức là cái bổn hữu chân tâm. Vô minh hiện hành của chúng sanh tức là cái thể bất động trí của Phật. Trì danh hiệu Phật là lấy duy tâm tức là duy Phật làm tông. Hiểu như trên thì rõ ràng tất cả chúng sanh đều có Phật tánh. Việc trước hết của người niệm Phật là tinh nghiêm giới sát sanh. Phóng tâm sát hại, kết oán thâm sâu. Sát tâm mãnh liệt, sát nghiệp nặng nề, chưa góp thành quả báo đại kiếp đao binh. Tin lý nhân quả là hiểu rõ lẽ cảm ứng. ta ác tâm cảm, người sẽ ác tâm ứng. Cảm ứng chẳng những hiện đời mà thông cả quá khứ vị lai. Cảm ứng chẳng những trong loài người mà thông cả sáu đạo. Trong 3 đời 6 đạo này, tất cả chúng sanh đã từng làm cha me anh em lẫn nhau. Pháp môn niệm Phật như trời khắp che, đất khắp chở. Kinh Hoa Nghiêm lấy hai chữ nhân quả gồm suất 54 ngôi thánh. Vạn hạnh trang nghiêm nhất thừa Phật quả thì vạn hạnh há không phải là hạnh niệm Phật hay sao? Kinh Pháp Hoa từ đầu đến cuối, một bề khai thị Phật tri kiến cho chúng sanh ngộ nhập, há không phải là một pháp môn niệm Phật sao? Kinh Lăng nghiêm chỉ cái mật nhân để thành Phật. Nếu hướng về thì giải thoát năm ấm ma, trải 55 thánh vị mà viên mãn Vô-thượng bồ-đề. Nếu không thì trầm luân bảy thú. Kết kinh, Phật minh bạch nói:” Phạm bốn trọng, mười baladi, quả báo đáng đoạ A-tỳ địa ngục. Kiếp hoại, trái đất tan, còn phải đi chịu tội ở các địa ngục vô gián khắp mười phương. Nếu phát tâm đem kinh Lăng Nghiêm khai thị cho thời mạt pháp kẻ chưa học, ứng niệm trọng tội liền tiêu diệt, được sanh về tịnh-độ của Chư Phật”. Như vậy, một đời thuyết pháp, Phật chỉ hiển thị duy tâm tự tánh viên thành vô thượng diệu giác, quy tất cả về một đại pháp môn niệm phật. Tu tịnh nghiệp cần 7 điều: 1.Thật vì sanh tử, phát tâm Bồ-đề( gieo trồng) 2.Tin sâu nguyện thiết trì danh ( chánh tông) 3.Nhiếp tâm chuyên niệm ( phương tiện). 4.Chiết phục các phiền não ( yếu vụ). 5.Nghiêm trì luật nghi ( căn bản) 6.Nhẫn khổ, thiểu dục tri túc ( trợ đạo). 7.Nhất tâm bất loạn ( mục đích). KHẢI HOÀN CA kỷ yếu của Sư bà Diệu Ấn Sống hiền thiện, thác bình an. Thỉnh Thầy về cõi Tây phương hưởng nhàn. Ở cõi ấy Niết bàn tự tánh Toàn nhân dân nhập thánh siêu phàm. Đường đi cây báu thẳng hàng, Chư thiên chổi nhạc nhịp nhàng khúc ca. Ca thân Phật bao la rộng rãi, Ca trời quang, đất trải gấm hoa, Ca mừng hải hội Phật đà, Ca hoa sen báu là cha mẹ mình. Trên đài vàng hoá sanh thác chất, Nghiệp duyên dù chồng chất cũng tiêu. Vãng sanh đới nghiệp rất nhiều, Pháp âm thức tỉnh, sớm chiều nhắc răn. Thân tứ đại trả về tứ đại, Tánh thông minh nhập thể linh minh. Sang bờ giác chứng vô sanh, Lên thuyền Bát Nhã, tâm tình nhẹ không. Thể linh minh muôn hồng ngàn tía Tuỳ chân như ứng hoá hiện bày. Đức càng rộng, đạo càng cao. Thỉnh thầy nhẹ gót về ao sen vàng. Diện kiến Phật, tâm quy y, Oai nghi quang chiếu từ nay sạch trần. Rửa sạch hết chướng duyên sanh tử Nghe Phật âm, thanh tịnh lâng lâng. Gió gieo chim hót, chuông ngân, Ngày đêm diễn xướng pháp phần chánh y. Chánh báo Phật thân vàng sáng rỡ, Phóng từ quang tiếp đón quần sanh. Y báo cõi nước nghiêm mình, Cơm thiền, sữa pháp, chúng sanh đức nhuần. Bạn Bồ-tát hằng sa vô số, Bạn Thanh-văn thơm ngát hạnh lành. Ngũ căn ngũ lực viên thành, Thần thông quảng đại dụng hành trang nghiêm. Mười phương Phật đồng thuỳ tiếp độ, Đồng gia trì khế ngộ tánh chân. Bấy giờ Thầy sẽ trở về Việt Nam dìu dắt sinh linh vạn loài. Chú thích: 1.Chim quốc: Sách Tàu hay gọi là Đỗ Vũ hoặc Đỗ Quyên. Tương truyền loài chim này là hậu thân vua nhà Thục bị mất nước nên cứ khắc khoải gọi kêu: quốc quốc. 2.Mộng bướm: Trang tử tu đạo Lão( Tiên), một hôm nằm mộng thấy mình là bướm. Tỉnh dậy phân vân không biết mình là Trang Chu mộng thấy hoa bướm hay chính mình là bướm mộng thấy hoá làm Trang Chu. Ý nói sự hư ảo của thế gian. Thân bướm là chiêm bao ban đêm nhắm mắt. Thân Trang Chu là chiêm bao mở mắt ban ngày. Tản Đà gọi là giấc mộng nhỏ, giấc mộng lớn. 3.Thuần Vu phần ngủ trưa dưới gốc cây hoè, mộng thấy được vua nước Hoè An gả con gái và phong làm quan Thái thú ở quận Nam Kha. Đang lúc cực kỳ vinh hiển thì công chúa chết. Nịnh thần gièm pha, vua sắc lịnh cách chức. Phần sợ hãi tỉnh dậy, nhìn thấy cảnh Hoè về phía nam có một tổ kiến. Phần lấy giấy bút ghi lại giấc mộng Nam Kha, ý muốn nhắc người đời công danh phú quý chỉ là giấc mộng( kha: là cây, nam kha: là cành cây phía nam). 4.Nấm là loài cây ký sinh màu sắc rực rỡ nhưng chóng tàn, ví với mạng sống ngắn ngủi của con người. 5.Mặt trời sắp nặn, ánh sáng vương trên ngọn cây dâu nhắc con người nhớ đến tuổ già đang sắp tới. Cây dâu gợi sự tích : ngày xưa, bên bờ biển có một bãi phù sa đã bị nước cuốn đem đi nơi khác. Tại chỗ trở thành vũng biển, nên có câu: khách tang hải giật mình trong giấc mộng. Tang: cây dâu. hải: biển. hai chữ Tang hải nghĩa là nay biển mai cồn, cuộc đời chìm nổi vô thường không thể cậy trông. 6.Thiềm: Con cóc. Cung thiềm: Mặt trăng. Hằng Nga uống trộm thuốc bất tử của Hậu Nghệ, hóa làm con cóc sống trên cung trăng. 7.Chính văn là: Lần tràng hạt niệm Nam mô Phật. Cửa từ bi công đức biết bao. Càng trông phong cảnh càng yêu. Vì thấy lời kết không cân xứng với toàn văn nên xin phép đổi lại

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét