THÍCH TÂM TRỌNG
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT
Chủ Nhật, 2 tháng 12, 2012
Bốn hạng người cần phải tôn kính
Bốn hạng người cần phải tôn kính
Một thời, Thế Tôn trú ở Sàvatthi. Bấy giờ, Bà la môn Mànatthada là người không cung kính mẹ, cha, thầy và huynh trưởng
Khi Thế Tôn đang thuyết pháp với đại chúng đoanh vây, Bà la môn Mànatthada suy nghĩ rằng: Sa môn Gotama đang thuyết pháp, vậy ta hãy đi đến. Nếu Sa môn Gotama nói chuyện với ta thì ta sẽ nói chuyện. Nếu Sa môn Gotama không nói chuyện thì ta sẽ im lặng.
Rồi Bà la môn Mànatthada đi đến Thế Tôn và im lặng. Thế Tôn không nói chuyện với Bà la môn ấy. Nghĩ rằng Thế Tôn không biết gì nên Bà la môn Mànatthada định trở về. Thấy vậy Thế Tôn liền khuyên bằng một bài kệ hàm ý “kiêu mạn là không tốt”. Bà la môn Mànatthada suy nghĩ: Sa môn Gotama biết được tâm tư của ta, nên cúi đầu đảnh lễ, hôn chân Thế Tôn.
Rồi Bà la môn Mànatthada nói lên bài kệ với Thế Tôn: Đối với ai không nên kiêu/Đối với ai nên kính trọng/Đối với ai nên tôn kính/Cúng dường ai, tốt lành?
Thế Tôn đáp: Với mẹ và với cha/Với anh nhiều tuổi hơn/Với thầy là thứ tư/Không nên sanh kiêu mạn/Nên kính trọng chư vị/Nên tôn kính chư vị/Cúng dường họ, tốt lành/Các bậc A la hán/Thanh lương, lậu hoặc đoạn/Việc nên làm đã làm/Hãy nhiếp phục kiêu mạn/Bậc Vô thượng tôn ấy/Ông thật nên đảnh lễ…
(ĐTKVN, Tương Ưng Bộ I, chương 7, phẩm Cư sĩ, phần Mànatthada [lược], VNCPHVN ấn hành, 1993, tr.390)
LỜI BÀN:
Trong cuộc sống, tất yếu cần phải có sự cung kính và tôn trọng với mọi người. Vì đó là cách hay nhất để mình được người khác tôn trọng. Đây được xem như một ứng xử văn hóa và văn minh. Trong đó mẹ, cha, thầy và những bậc đàn anh phải luôn là những đối tượng quan trọng, hằng lưu tâm để cung kính và phụng dưỡng.
Mỗi người có mặt trên đời đều nhờ cha mẹ sanh dưỡng, lớn lên nhờ thầy chỉ dạy và các bậc đàn anh đã trưởng thành dìu dắt mới có thể thành danh, vẻ vang sự nghiệp. Thiếu vắng một trong bốn yếu tố quan trọng này thì khó có thể bước đến thành công.
Mặt khác mẹ, cha, thầy và những bậc huynh trưởng là những người đi trước nên trải nghiệm nhiều, quan trọng hơn, họ là những người yêu thương ta nhất nên sẵn lòng sẻ chia tất cả. Do đó mọi sự biểu lộ như kiêu mạn, khinh chê và bất cần đối với bốn hạng người này là một sự tự đánh mất và chịu thiệt thòi.
Theo tuệ giác Thế Tôn, một người được xem là chuẩn mực về phương diện đạo đức biểu hiện qua sự kính trọng và phụng dưỡng mẹ, cha, thầy và những bậc đàn anh của họ. Các bậc tiền nhân luôn mong muốn làm nền tảng cho hàng hậu thế vươn lên. Như một tòa nhà, tầng trên có được là nhờ sự nâng đỡ của nền móng và các tầng dưới. Đây là điều mà mỗi người con Phật cần phải biết để tránh lỗi kiêu mạn với người đi trước và tận lực hiếu thảo, đáp đền.
Phước báu hiếu dưỡng
14/08/2008 09:49 (GMT+7)
Kích cỡ chữ:
Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi. Rồi Bà la môn Màtaposaka đi đến đảnh lễ và bạch Thế Tôn: Thưa Tôn giả Gotama, tôi tìm món ăn thiết thực theo thường pháp, sau đó tôi nuôi dưỡng mẹ cha. Thưa Tôn giả Gotama, tôi làm như vậy có đúng trách nhiệm không?
Này Bà la môn, ông làm như vậy là đúng trách nhiệm. Này Bà la môn, ai tìm đồ ăn thiết thực theo thường pháp, sau đó nuôi dưỡng mẹ cha thì người ấy được nhiều công đức.
Thế Tôn nói kệ:
Người nào theo thường pháp/Nuôi dưỡng mẹ và cha/Chính do công hạnh này/Đối với cha với mẹ/Nhờ vậy bậc Hiền Thánh/Trong đời này tán thán/Sau khi chết được sanh/Hưởng an lạc chư Thiên.
Khi được nghe như vậy, Bà la môn Màtaposaka bạch Thế Tôn:
Thật vi diệu thay Tôn giả Gotama! Mong Tôn giả nhận con làm đệ tử, từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng.
(ĐTKVN, Tương Ưng Bộ I, chương 7, phẩm Cư sĩ, phần Màtaposaka, VNCPHVN ấn hành, 1993, tr.398)
LỜI BÀN:
Phụng dưỡng cha mẹ là một trong những bổn phận quan trọng của con cái. Không chỉ phụng dưỡng, người con hiếu còn phải thuận thảo, thương yêu và kính trọng cha mẹ với tất cả chân thành. Phước báo phụng dưỡng cha mẹ, theo tuệ giác Thế Tôn, hiện tại được người đời tôn vinh ca ngợi và tương lai được sanh về Thiên giới hạnh phúc an vui.
Tuy nhiên, điều quan trọng mà Thế Tôn muốn nhấn mạnh ở đây là những phẩm vật phụng dưỡng, kính thờ cha mẹ phải trong sạch, là thành quả của sự lao động chân chính (theo thường pháp). Ngay đây, tinh thần hiếu đạo được nhìn nhận qua một lăng kính khác sâu sắc hơn là truy tìm nguyên nhân của tất cả những thành quả mà người con đạt được đem phụng dưỡng cha mẹ có thật sự trong sáng, đúng pháp hay không.
Nếu những thành tựu vật chất trong hiện tại là kết quả của việc làm ăn phi pháp như tranh đoạt, trộm cướp, lừa gạt, trốn thuế, hối lộ, tham nhũng v.v… rồi đem phụng dưỡng cha mẹ thì chẳng những không được phước mà cha mẹ có thể bị liên lụy theo. Quán chiếu sâu vào vấn đề này để chúng ta tự định hình, điều chỉnh đạo đức cho chính mình. Thương kính, hiếu thảo với cha mẹ đích thực chính là sự hoàn thiện nhân cách, làm ăn chân chính và sống hướng thiện.
Trong bối cảnh mưu sinh đầy cạnh tranh khốc liệt như hiện nay, thiết nghĩ cần suy ngẫm thật sâu sắc về lời dạy của Thế Tôn để sống thiện lành và hiếu thảo trọn vẹn với những bậc sanh thành. Bởi những bậc cha mẹ chẳng bao giờ mong con làm ác và lại càng không mong muốn con cái làm ác vì mình.
Nhiếp tâm chánh niệm an cư Thăng hoa tuệ giác tiêu trừ nghịch duyên
08/08/2008 22:07 (GMT+7)
Kích cỡ chữ:
Truyện kể rằng sau ba tháng an cư mùa mưa tại vương quốc Kô-xa-la (Kosala), 500 Sa môn trở về Kỳ Viên hầu thăm Thế Tôn. Tất cả đều cung kính đảnh lễ Đức Bổn Sư, rồi ngồi sang một bên. Thế Tôn hỏi:
- Thế nào?... Sau ba tháng rèn luyện thân tâm, nghiên tầm giáo điển, các thầy có được kinh nghiệm quý báu nào thì hãy truyền đạt cho đại chúng cùng nhau học tập.
- Kính bạch Thế Tôn, Thượng tọa quản chúng thưa, lẽ ra để quý huynh đệ tự do trình bày sở kiến của mình, nhưng thấy thầy nào cũng đưa mắt nhìn con, nên con xin phát biểu trước. Điều mà con tâm đắc nhất trong mùa an cư là bầu không khí thanh tịnh, hòa hợp và an lạc tuyệt đối của đại chúng. Con thường chiêm nghiệm và nhận thấy rằng ảnh hưởng của Tăng thân cũng vô lượng vô biên như thể tướng và diệu dụng của Pháp thân va Hóa thân vậy. Ngoài ân đức dưỡng dục của Thế Tôn, Tăng thân chính là động lực thúc đẩy đạo nghiệp của chúng con mỗi ngày một thêm vững bền, rạng rỡ. Tăng thân là năng lực tiềm tàng, là tinh thần vô úy, giúp chúng con vượt qua gian nan thử thách, và có được nếp sống an lành. Nghiệm lại mà xem, sống giữa núi rừng u tịnh, xa cách làng xóm thường dân, khất thực đạm bạc qua ngày, vậy mà công phu tu tập của chúng con thăng tiến vững chãi, hòa điệu nhịp nhàng. Nếu không có Tăng thân hộ trì che chở, khích lệ tương lân thì chúng con khó có được ngày Thầy trò đoàn tụ hạnh phúc như hôm nay. Kính lạy Đức Thế Tôn, người đã cho chúng con một Tăng thân kỳ diệu.
Thượng tọa quan chúng vừa dứt lời thì, không ai bảo ai, tất cả đều rạp người đảnh lễ Đức Bổn Sư với lòng tôn vinh vô hạn.
Kính bạch Thế Tôn, kính thưa đại chúng, thầy Định Trí góp ý, trong mùa an cư vừa qua, bản thân con cũng có được một vài cảm nghiệm như sau:
- Con đã chuyên tâm thực tập hai pháp môn: quán chiếu và quán niệm. Quán, con xin mạn phép triển khai đôi chút, là xem xét tỉ mỉ; chiếu, là soi rọi cùng tận; niệm là tưởng nhớ miên mật. Trong một đêm mưa bay lất phất, con định tâm theo dõi những giọt mưa tí tách bên thềm, tự hỏi chúng từ đâu sinh ra, và rồi sẽ đi về đâu. Bỗng dưng con sáng ý, thấy rằng những giọt mưa kia không phải ngẫu nhiên rơi xuống, mà chính là do những đám mây kết tụ từ hơi nước bốc lên, rồi khi hội đủ nhân duyên thì chúng lại biến thành nước mưa trút xuống. Đây là quá trình luân lưu biến dạng chứ không phải hiện tượng sinh tử. Chúng đến đây, một số trôi ra sông biển, một sô thấm xuống lòng đất. Dù đi đâu, chúng vẫn mang theo sứ mạng cao cả là trưởng dưỡng sinh linh, tẩy sạch cấu uế. Cho nên, con quán chiếu và thấy rõ rằng những hạt mưa kia chính là các dòng huyết mạch đang vận hành trong hình hài con, và trong tất cả các loài hữu tình, vô tình trên trái đất này. Hôm nay là những hạt mưa, ngày mai chúng có thể trở thành một áng mây, một nụ hoa, một chồi lá, hay một sinh vật đang tượng hình v.v... Vậy thì, trong môt giọt mưa hẳn đã hàm chứa thiên hình vạn trạng và muôn màu muôn vẻ của pháp giới chúng sanh. Đúng là: “Càn khôn tận thị mao đầu thượng, nhật nguyệt bao hàm giới tử trung” (Càn khôn gói trọn đầu sợi tóc, nhật nguyệt nằm trong hạt cải mòng). Kính bạch Thế Tôn và đại chúng, lý tương tức, tương nhập: cái này là cái kia, cái kia nằm trong cái này, và một là tất cả, tất cả là một, giờ đây không còn mường tượng, hay vướng kẹt trong tâm trí con nưa. Khi nhận ra yếu chỉ này, thân thể con nhẹ nhàng, khinh khoái như bay giữa hư không. Khái niệm về tướng ngã, tướng nhơn, tướng chúng sanh, và tướng thọ mạng tự nhiên biến mất, trần lao phiền não đích thị là Vô thượng Bồ đề. Sau ba tháng an cư, con có được chút công phu như vậy. Xin Thế Tôn và đại chúng thùy từ chứng giám.
- Kính bạch Thế Tôn và đại chúng, con tên là An Nhiên. Trong mùa an cư vừa qua, con chỉ thực tập pháp môn Chánh niệm, phần đầu trong loạt pháp số Thất giác chi, còn gọi là Thất giác ý, Thất giác phần, hay Thất bồ đề phần. Trong bốn tư thế đi đứng ngồi nằm, con đều nhiếp tâm chánh niệm. Ví dụ như khi đi, đặc biệt là lúc thiền hành khất thực, con chỉ nghĩ:
Cảm ơn trái đất nhiệm mầu
Cho ta đi lại trước sau vững vàng
Đường dài nối nhịp thời gian
Bước chân vô ngại đạo tràng ngát hương.
Khi đứng thì niệm:
Sa môn đứng giữa nhân gian
Như bao tảng đá hiên ngang giữa trời
Cho dù lộng gió trùng khơi
Thì non nước vẫn ngàn đời thuận duyên.
Khi ngồi thì nhớ:
Thẳng thân ngồi cội bồ đề
Bao nhiêu tạp niệm đi về nhất tâm
Chướng duyên, tập khí, lỗi lầm
Hằng sa vọng tưởng trong ngần tuyết băng.
Khi nằm thì quán:
Pháp thân bàng bạc thường hằng
Hóa thân như cánh sao giăng lưng trời
Báo thân trang trải cho đời
Xua tan mộng mị thảnh thơi giấc nồng.
Hay quá!... Sư Tâm Đắc tán thán với hai tay vỗ bốp một cái. Đại chúng quay nhìn và vui cười đồng cảm.
Im lặng trong giây lát, không thấy thầy nào phát biểu nữa, Thế Tôn đưa mắt nhìn đại chúng một lượt, rồi mỉm cười nói:
- Này các thầy Tỳ kheo, ta rất vui là có được những đệ tử xuất sắc về hai mặt tâm linh và trí tuệ như các thầy.
Ngài đọc kệ:
Người trí bỏ pháp đen,
Tu tập pháp trắng cả,
Từ giã nhà, xuất gia
Vui viễn ly, tịch tịnh.
Từ bỏ mọi dục lạc,
Giải thoát hết chướng phiền
Người trí nên trước tiên,
Thanh lọc tâm ô nhiêm.
Ai chánh tâm tu tập,
Hành pháp thất giác chi,
Từ bỏ tâm ái nhiễm,
Vui đoạn tánh chấp trì,
Sẽ thanh tịnh sáng chói,
Đạt Niết bàn đời nay.
(PC. 87, 88, 89)
THƯ VIệN
Tịnh lạc
08/08/2008 21:16 (GMT+7)
Kích cỡ chữ:
Một thời Thế Tôn trú giữa dân chúng Kosala, tại một khu rừng. Lúc bấy giờ Bà la môn Navakammika đang làm việc tại khu rừng ấy, thấy Thế Tôn ngồi kiết già dưới gốc cây, lưng thẳng và để niệm trước mặt.
Thấy vậy Bà la môn suy nghĩ: Ta thích làm việc về củi gỗ tại khu rừng này. Còn Sa môn Gotama thì thích làm việc gì ở đây?
Nghĩ vậy rồi Bà la môn Navakammika liền đi đến Thế Tôn nói lên bài kệ: Nay ông làm việc gì/Trong rừng cây sa la/Khiến ông sống một mình/Vui gì ông tìm được/Sa môn Gotama?
Thế Tôn đáp: Ta không phải làm gì/Trong khu rừng sa la/Với Ta, rễ đã cắt/Cả khu rừng rậm rạp/Như vậy Ta được thoát/Mọi rừng rú chông gai/Tâm Ta không bị đâm/Một mình sống an lạc/Đoạn trừ mọi bất mãn/Sống thích thú hoan hỷ.
Được nghe nói vậy, Bà la môn Navakammika bạch Thế Tôn:
Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama. Mong Tôn giả nhận con làm đệ tử, từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng.
(ĐTKVN, Tương Ưng Bô I, chương 7, phẩm Cư sĩ, phần Navakammika, VNCPHVN ấn hành, 1993, tr.394)
LỜI BÀN:
Có những niềm vui, hạnh phúc biểu hiện ra bên ngoài, chìm ngập trong đèn hoa rực rỡ cùng vô số những tràng pháo tay, chúc tụng ồn ào. Nhưng cũng có những niềm an vui, hạnh phúc rất sâu lắng, thuộc về nội tâm mà người ngoài khó có thể biết được. Và những ai chưa từng trở về với chính mình, chưa một lần trải nghiệm thiền định thì không thể ngờ rằng có những người dù sống cô độc, khắc khổ trong rừng nhưng lại ân hưởng một niềm hạnh phúc, an vui lặng lẽ và trọn vẹn (tịnh lạc).
Thời Thế Tôn, Bà la môn Navakammika đã nhiều lần tự hỏi không biết Sa môn Gotama sống một mình trong rừng vì mục đích gì? Hay là vị Sa môn này đã tìm được niềm vui nào đó trong lối sống độc cư ở nơi hoang vu rừng núi? Và những thao thức đó ngày nay vẫn hiện hữu nơi rất nhiều người khi họ quan tâm tìm hiểu đời sống tu tập của người xuất gia.
Thực ra, mỗi người sống ở trên đời đều mưu cầu hạnh phúc. Người xuất gia chối bỏ những niềm vui và hạnh phúc của thế thường vì nó mong manh, dễ vỡ và thực chất chúng là vỏ bọc của những khổ đau trá hình. Hạnh phúc đích thực của đời sống con người không phải là sự sung mãn về vật chất, thỏa mãn tham vọng quyền lực và danh vọng… mà chính là thiết lập được bình an nội tại. Chính sự an tịnh nôi tâm, hỷ lạc do thiền định mang lại là hạnh phúc đích thực, là chất liệu nuôi dưỡng đời sống xuất gia.
Một khi đã dọn dẹp vườn tâm an tịnh, tẩy sạch cấu uế tham ái, phiền não thì người ấy, dù ở đâu và trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng hạnh phúc, an vui. Tâm thanh tịnh thì thế giới thanh tịnh. Do đó, người xuất gia không hướng ngoại để cầu toàn mà luôn trở về tự tâm an trú trong hiện tại với chánh niệm. Không vướng bận quá khứ, không bị chi phối bởi tương lai, sống thảnh thơi, hạnh phúc ngay trong hiện tại, bây giờ và ở đây…
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)


Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét