THÍCH TÂM TRỌNG

THÍCH TÂM TRỌNG
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT

Thứ Sáu, 2 tháng 11, 2012

TRIẾT HỌC ẤN ĐỌ

Tư tưởng Triết Học Ấn Ðộ tiền Phật giáo Ở vào thời đức Phật, nền tư tưởng văn hóa triết học Ấn Ðộ đã phát triển đến điểm cực thịnh. Ðiều này ai cũng rõ và chính đức Phật là người đã chỉnh đốn lại và làm kim chỉ nam cho mọi khuynh hướng phát triển tư tưởng triết học về sau này. Nhưng trước thời đức Phật, đạo lý, triết học Ấn Ðộ cũng đã rất đa dạng và phong phú. Ðối với những ai có óc tìm hiểu không thể bỏ qua giai đoạn biến chuyển này. Như ta đã biết, lịch sử dân tộc Aryan bắt đầu từ thế ký thứ 15 trước Tây-lịch. Nền văn minh Aryan nằm trong vùng tam giác Bắc bộ, từ Dacca trở lên phía Bắc đại lục. Ở thế kỷ thứ tám, thứ chín trước Tây lịch, căn cứ của nền văn minh này nằm trong khu vực thượng lưu sông Hằng, gồm các nước như Kurukseina, Pancala, Matsya và Suracena. Người Bà-la-môn gọi khu vực này là trung quốc. Các chủng tộc (hay quốc gia) ở phía Nam và phía Ðông như Kosala (Câu Tát La), Kase (Ca thi), Videba (Vi Ðề Ba), v.v... tuy có tiếp xúc với nền văn minh trung quốc nhưng không học hỏi được gì từ sự tiếp xúc đó. Họ vẫn bị người trung quốc xem là mọi rợ, bán khai. Nhưng tình thế đổi thay, nhờ vào sự gia tăng tiếp xúc với nền văn minh trung quốc, các dân tộc vùng Ðông nam biết ứng dụng kiến thức học hỏi được hầu cải thiện đời sống và tạo dựng cho mình một nền văn minh vượt khỏi nền văn minh trung quốc. Cứ thế mà phát triển, khoảng 200 năm sau đó, vào thời của đức Phật, có 16 nước lớn, mỗi nước đều có đặc sắc và thế lực riêng. Ví dụ như thành Xá Vệ (Savatthi) thuộc nước Câu Tát La, thành Vương Xá (Rajagaha) thuộc nước Ma Kiệt Ðà, thành Kiều Thường Di (Kosambi) thuộc nước Vam Di (Vamsa), và thành Phệ Xá Li (Vasali) thuộc nước Bạt Kỳ. Ðây là những đô thị mới, và trở thành trung tâm điểm của mọi vận động văn hóa. Khác với vùng trung quốc, chủng tốc ở những tân quốc gia này phần lớn thuộc hỗn huyết, huyết thống của họ đã pha trộn nhiều, không còn thuần chủng nữa. Nền văn hóa của các tân quốc gia này tuy bị ảnh hưởng của văn hóa Bà-la-môn nhưng không sâu xa như vùng trung quốc, họ đã tạo được cho mình một thứ văn hóa riêng, đặc biệt là sự bộc khởi của Ma Kiệt Ðà. Ðến thời đức Phật, thì trong 16 tân quốc gia, Ma Kiệt Ðà và Câu Tát La trở thành hai cường quốc trong vùng. Ở vào thời vua Tần Bà Sa La, nước Ma Kiệt Ðà đã có lịch riêng. Ma Kiệt Ðà còn là trung tâm của các trào lưu tư tưởng mới ; phái Lục Sư là một, đức Phật khi mới xuất gia cũng đã tìm đến Ma Kiệt Ðà, và sự hưng khởi của Phật giáo cũng từ đây. Hai trăm năm sau khi Phật nhập diệt, Ma Kiệt Ðà trở thành một thế lực lớn mạnh, chủ động trong việc thống nhất toàn cõi Ấn Ðộ. Có thể nói Ma Kiệt Ðà trở thành vùng trung quốc vào thời điểm trước và sau kỷ nguyên Phật giáo. Các Nền Tư tưởng Ðương Thời ________________________________________ Sau bao năm bị khống chế, bao vây bởi tư tưởng Bà-la-môn, khi chủ quyền được phục hồi bởi sự thành lập các tân quốc gia, người dân vùng ’bán khai, mọi rợ’ mới được tự do phát kiến, vì vậy mà phong trào tư tưởng mới chống lại tư tưởng Bà-la-môn bộc khởi. Ðương thời, đại khái có bốn trào lưu tư tưởng như sau : 1. 1. Trào lưu Bà-la-môn chính thống : Ðến thời này, đạo Bà-la-môn ít nhất cũng đã có mặt trên đất nước Ấn Ðộ cả ngàn năm. Vì vậy người ta có chủ trương duy trì cái chính thống của ba giềng mối cổ xưa là chủ nghĩa Thiên Khải Vệ Ðà, chủ nghĩa Bà-la-môn Chi Tôn Chí Thượng và chủ nghĩa tế thần vạn năng. 2. 2. Thần giáo : Không chấp chặt vào chủ nghĩa Bà-la-môn mà sùng bái nhiều loại nhân cách thần, như Phạm Thiên (Brahma), thần Visnu và thần Sva. Kinh chính của trào lưu này là Mahabharata (Ðại Tự Sử thi). Ðây là sự cố gắng thông tục của đạo Bà-la-môn. 3. 3. Trào lưu triết học : Lấy Phạm thư và Áo nghĩa Thư làm chủ yếu. Các tu trào sau này như Số Luận, Du Gìa và một phần của sáu học phái triết học đều cũng có cơ bản từ thời đại này. 4. 4. Trào lưu phản Vệ Ðà : Ba trào lưu kể trên, ít nhiều cũng có quan hệ với Vệ Ðà. Ðến trào lưu thứ tư này thì hoàn toàn phủ nhận cái uy quyền của Vệ-đa mà đứng trên lập trường tự do độc lập để nghiên cứu ; như phái Lục Sự, Phật giáo. Bà-la-môn Giáo. Thế lực của Bà-la-môn vào thời này tuy có suy giảm, nhưng vẫn có mặt khắp nơi. Một ngàn năm lịch sử đâu thể một sớm một chiều tàn phai. Các nhà bác học Bà-la-môn thường được cho rằng đã thông suốt ba tạng Vệ Ðà, Tự Vận học, Ngữ Nguyên học, năm Sử truyện, Văn Pháp học, Thế học, Ðại Nhân Tướng học. Sự học tập tất cả các bộ môn này thường được coi là tiêu chuẩn của Bà-la-môn chính thống Bà-la-môn giáo chuyên về tế tự. Họ đã dùng tế tự nhằm củng cố địa vị mình trong xã hội. Nghi thức và văn tụng trong các buổi lễ thật là phức tạp, chỉ những đạo sĩ Bà-la-môn mới thì hành được mà thôi. Hiện tại, có thể nói những nghi thức tế tự ấy vẫn còn thịnh hành ; nghi thức lớn như Mã từ (Asvamadha), và nghi thức nhỏ như tế thần lửa (Agnỉatra). Chính người Bà-la-môn đặt ra các vị thần như vị trời Ðế Thích làm chủ ba mươi ba tầng trời ; dưới đó có Tha Hóa thiên, Ðâu Suất thiên, Tứ thiên coi giữ bốn phương, v.v...Trong các vị thần, Phạm Thiên được họ coi trọng nhất, vì là đấng sáng tạo vu trụ, thế giới. Ðặc biệt, họ cho rằng giới Bà-la-môn được sanh từ miệng Phạm thiên và sau khi chết được về cõi Phạm Thiên. Trong cuộc đời truyền pháp, đức Phật đã nhiều lần đả phá lập luận này. Người Bà-la-môn dùng nó để phân biệt giai cấp, họ cho rằng giai cấp Bà-la-môn là tối thượng vì được sinh từ miệng Phạm thiên. Tuy nhiên, quan niệm về Phạm Thiên thì Phật không chống đối. Ðức Phật thường khuyên Phật tử nào giữ gìn mưới giới sẽ được sinh về cõi Phạm thiên. Muốn biết rõ về cách hành trì của đạo Bà-la-môn, các sử liệu như Mahabharata (Ðại Tự Sử thi), và kinh Phật có ghi lại rất nhiều sử kiện. Theo kinh Phật , có thuật lại hành vi lý tưởng của một đạo sĩ Bà-la-môn như là chân thật, khổ hạnh, phạm hạnh, độc tụng, ly dục, v.v... Bà-la-môn giáo cũng có đưa ra mười đức tính mà một ông vua phải giữ. Ðạo Bà-la-môn đến thời đức Phật, thời đại mà các tôn giáo đưa nhau bộc phát, đã không còn đủ sức lãnh đạo lòng người trong thời đại mới. Ðể chống lại đã suy sụp của tôn giáo mình và sự chống phá của các tôn giáo khác, những người Bà-la-môn mới đã khai nghén một Tân Bà-la-môn. Ðó là tư tưởng Áo Nghĩa Thư. Tư tưởng Áo Nghĩa Thư : Trong lịch sử tôn giáo Ấn Ðộ, tôn giáo đầu tiên là thời đại Rig Vệ Ðà (1500-1000 b.c). Tín ngưỡng Rig Vệ Ðà, như đã nói ở trên, họ sùng bái các hiện tượng thiên nhiên và thần thánh hóa các hiện tượng. Thời kỳ thứ hai là Gia Như Vệ Ðà (1000-800 b.c), là thời đại của Phạn ngữ và bốn giai cấp với những lễ nghi tôn giáo phức tạp. Ðây là thời đại thịnh hành của Bà-la-môn giáo. Thời kỳ thứ ba là thời đại Upanishad, thời kỳ của tư tưởng Áo Nghĩa Thư (800-500 b.c). Thời đại này lấy con người làm trung tâm để giải quyết tất cả. Nhờ có quan niệm mới này mà tư tưởng Ấn Ðộ được phát triển, đưa đến sự xuất hiện của nhiều tư tưởng mới, tiến bộ cũng như nguy hiểm. Tuy là ba thời kỳ khác nhau, nhưng đều bắt nguồn từ tư tưởng Vệ Ðà. Tư tưởng Áo Nghĩa Thư vẫn không cởi bỏ được lớp vỏ bên ngoài. Tuy biết rằng giáo lý Phật giáo do chính đức Phật tìm ra. Giáo lý Duyên sinh, Duyên khởi rất đặc thù của Phật giáo mà không một tôn giao nào có. Nhưng vì tư tưởng triết học Ấn Ðộ đã rất trưởng thành trước khi đạo Phật xuất hiện, nhất là tư tưởng Áo Nghĩa Thư, nên nhiều lúc đức Phật đã dùng giáo lý ngoại đạo để giảng dạy cho đệ tử mình. Ví dụ như chuyện người mù rờ voi, đây là truyện tích của Bà-la-môn giáo. Do đó, muốn tìm hiểu đạo Phật, thiết nghi nên tìm hiểu tư tưởng Áo Nghĩa Thư. Nói một cách đại thể, thì Phật giáo, về nhiều phương diện đã từng chịu ảnh hưởng của Áo Nghĩa Thư. Lấy ví dụ về nghiệp có đề cập trong Áo Nghĩa Thư, nhưng thuyết này là mật giáo, không được công khai thừa nhận. Ðến thời đại đức Phật thì tư tưởng này được tất cả các phái công nhận. Về thuyết tứ đại (đất, nước, gió, lửa), trong Áo Nghĩa Thư cổ, chỉ có thuyết Tam Yếu Tố. Phái Số Luận và Du Già xuất phát từ Áo Nghĩa Thư (Phái Du Già Patanjali xuất hiện sau này, sau cả thời đức Phật). Trong kinh, Phật thường đề cập đến bốn thiền, bốn định. Các pháp môn bốn thiền, bốn định mà trong Phật giáo thường được gọi là Tam Muội (samadi) lại thuộc trào lưu Du Già. Chính đức Phật đã học pháp môn "vô sở hữu định" và "phi tưởng phi phi tưởng định" từ hai vị thầy Ca-lặc-ca-lan (Arada Kalam) và Uất-đầu-lam-phất (Uddaka Ramaputta). Các đoàn sa môn : Chán nản đạo Bà-la-môn, các tổ chức giáo đoàn đưa nhau thành lập, với quan niệm và chủ trương hoạt bát, đầy sáng tạo. Các giáo đoàn này được gọi là Sa Môn, để phân biệt với Bà-la-môn. Giáo đoàn Sa Môn không bị gò bó bởi những giáo điều hay quy định truyền thống Bà-la-môn mà được tự do xuất gia (đạo Bà-la-môn quy định chỉ được xuất gia ở đoạn cuối của cuộc đời), tự do tôn thờ chủ nghĩa theo ý muốn. Ðây cũng là nơi dung chứa những kẻ bất mãn với truyền thống, với tôn phái mình, họ tự đứng ra thành lập riêng mình một giáo đoàn mới. Hai vị đạo sĩ mà đức Phật theo học đạo lúc ban đầu là những trường hợp điển hình của thời đại này. Cả hai đều là những người lãnh đạo các đoàn sa môn khoảng 500 vị. Ðoàn sa môn thờ lửa của ba anh em Ca Diếp cũng vậy. Trong Ngu Phần Luật có thuật lại câu truyện vua Tần Bà Sa La mời chín mươi sáu ngoại đạo đến để cúng dường bữa đại trai. Các đoàn Sa Môn kế tiếp nhau hình thành và lấy các tân quốc gia ở phương Ðông làm căn cứ địa hoạt động. Họ có tín ngưỡng và tư tưởng khác nhau vì vậy mà thời này còn gọi là thời kỳ ban so của các học phái. Ở vào thời này, người ta thường khảo sát về các vấn đề như nguồn gốc của thế giới ; con người chết đi về đâu ; thế giới hữu biên hay vô biên v.v... Họ thích thú nghiên cứu một cách tự do chứ không chịu sự ràng buộc nào của truyền thống. Do đó mà có nhiều xu hướng ; tốt có, xấu có. Trong kinh Phạm Ðộng , đức Phật có đề cập đến tám chủ trương và sáu mươi hai kiến giải của các học phái. Rải rác trong bộ A hàm, đức Phật thường đề cập đến phái Lục Sư ngoại đạo. Ngoài Kỳ Na giáo (Jaina) ra, không một phái nào có thể sánh bằng Phật giáo. Phái Lục Sư cũng lấy Ma Kiệt Ðà làm trung tâm hoạt động. Như tên gọi, phái này thật ra gồm sáu môn phái do sáu vị giảng sự lãnh đạo. Căn cứ vào kinh Sa Môn Quả , chúng ta có thể giới thiệu đơn giản chủ trương của sáu phái như sau : 1. 1. Phú Lan Na Ca Diếp (purana kassapa) : Ông theo chủ nghĩa hoài nghi luân lý, cho rằng thiện, ác là do tập quán, tức làm thiện hay làm ác là do thói quen chứ không có một nghiệp căn tương ứng nào. 2. 2. Mạt Gia Lê Câu Xá La (Makkoli Gosala) : Ông là thủy tổ của Sinh Mệnh phái. Phái này chủ trương Tất Nhiên luận cực đoan, đại ý cho rằng hành vi cũng như vận mệnh của con người, tất cả đều được quyết định bởi quy luật tự nhiên, con người không thể làm gì trái lại được, do đó, người ta chẳng cần phải nỗ lực mà rồi tự nhiên sự giải thoát cũng đến. Chủ trương này có cái giống giống với chủ nghĩa vô vi. Phái này gần với phái Kỳ Na. Ở thời đại Phật, phái này rất có thế lực, trừ Kỳ Na ra, phái này lớn nhất trong nhóm lục su. 3. 3. A Di Ðà Kê Sa Khâm Bà La (Ajita Kesakambali) : Ông là nhà Duy-vật luận thưần túy. Ông cho rằng con người chẳng qua do tứ đại hợp thành, chết là hết, mục đích của đời người là tận hưởng mọi khoái lạc ; họ bác bỏ những gì có tính cách luân lý, nghiêm túc. 4. 4. Phù Ðà Ca Chiên Diên ( Pukudha Kaccayana) : Phái này chủ trương trái ngược hẳn với phái duy vật ở trên, tức là thuyết cho tâm, vật là bất diệt. Nhưng phương pháp luận của họ rất máy móc. Họ cho rằng con người do bảy yếu tố tạo thành : đất, nước, gió, lửa, khổ, vui và sinh mệnh hợp thành, do sự tụ, tán, ly, hợp của những yếu tố đó mà có hiện tượng sống chết, nhưng bảy yếu tố đó thì không bao giờ tiêu diệt. Ví dụ như lấy dao đâm người thì chỉ xuyên qua cái điểm phân, hợp của bảy yếu tố mà thôi chứ sinh mệnh tự nó vẫn chưa mất. 5. 5. Tán Nặc D Tỳ La Lê Tử (Sanyaya Bellathipu) : Chủ trương thuần túy cảm hứng, nghĩa là tùy thời, tùy nơi, hễ cảm hứng thế nào thì cứ theo thế mà đoán định chân lý. Ví dụ như có ai hỏi "có vị lai không ?", nếu lúc đó hứng thì nói có, còn buồn thì nói không, như thế là đúng chân lý. 6. 6. Ni Kiền Tử Nhã Ðề Tử (Nigandha Netaputta) : tức là thủy tổ Kỳ Na giáo. Ðã có lúc thế lực của Kỳ Na giáo gần như tương đương với Phật giáo. Chủ trương của phái này là vận mệnh luận. Họ lấy khổ hạnh cực đoan làm phương châm tu hành, và nghiêm trì giới bất sát. Di Chúc Theo các sách Thiền tông, ngài Maha Ca-diếp thường được công nhận là vị tổ thiền đầu tiên. Và theo lịch sử kết tập kinh điển, thì cũng là ngài Ca-diếp đứng ra triệu tập, điều này mạc nhiên đưa địa vị ngài Ca-diếp lên hàng đầu và được xem là lãnh đạo chúng tỳ kheo. Có thể vì để xiển dương Thiền tông mà chư tổ bên Trung Hoa cần phải lập nên lịch sử 33 vị tổ sư thiền, và đương nhiên Ca-diếp là sơ tổ. Nếu chỉ sáu vị tổ bên Trung Hoa thôi thì địa vị của Thiền tông không có gốc rễ vững chắc, nhất là cội gốc của Thiền không phải từ Ấn Ðộ. Rất may, kinh điển A Hàm không phải chỉ là những bài kinh do Phật nói ra, mà còn có kinh của các đại đệ tử ngài, như kinh Cù Mặc Mục Kiền Liên dưới đây cho ta chút ánh sáng về di chúc của Phật. Ðức Phật có đề cử ai lãnh đạo giáo đoàn không ? Một thời, sau khi Đức Phật Bát-niết-bàn chưa bao lâu, Tôn giả A-nan du hóa tại thành Vương xá. Lúc bấy giờ đại thần Vu Thế, nước Ma-kiệt-đa, đang chỉnh trị thành Vương xá để phòng ngừa dân Bạt-kỳ. Rồi đại thần Vu Thế sai Cù mặc Mục-kiền-liên, một người làm ruộng, đi đến Trúc lâm, vườn Ca-lan-đa. Bấy giờ Tôn giả A-nan vào lúc sáng sớm khoác y ôm bát vào thành Vương xá để khất thực, rồi Tôn giả A-nan nghi rằng : “Hãy gác việc khất thực trong thành Vương xá lại đa. Ta hãy đến chỗ Cù-mặc Mục-kiền-liên, người làm ruộng.” Phạm chí Cù-mặc Mục-kiền-liên từ xa trông thấy Tôn giả A-nan đi đến, bèn rời chỗ ngồi đứng dậy, trịch vai áo đang mặc, chắp tay hướng về Tôn giả A-nan, bạch rằng : “Kính chào A-nan, lâu nay không thấy đến. Xin mời ngồi trên chỗ này.” Tôn giả A-nan liền ngồi trên chỗ ngồi đó. Phạm chí Cù-mặc Mục-kiền-liên sau khi chào hỏi Tôn giả A-nan, rồi ngồi xuống một bên mà bạch rằng : “Bạch A-nan, tôi có điều muốn hỏi, mong nghe cho chăng ?” Tôn giả A-nan trả lời rằng : “Mục-kiền-liên, ông cứ hỏi đi. Tôi nghe xong sẽ suy nghi .” Bèn hỏi rằng : “Bạch A-nan, có Tỳ-kheo nào sánh ngang với Sa-môn Cù-đam chăng ?” Trong khi Tôn giả A-nan và Phạm chí Cù-mặc Mục-kiền-liên đang thảo luận vấn đề này thì đại thần Vu Thế nước Ma-kiệt-đa đang đi ủy lạo những người làm ruộng, đến chỗ của Phạm chí Cù-mặc Mục-kiền-liên, người làm ruộng. Đại thần Vu Thế từ xa trông thấy Tôn giả A-nan ở trong chỗ Phạm chí Cù-mặc Mục-kiền-liên, người làm ruộng, bèn đi đến chỗ Tôn giả A-nan. Sau khi chào hỏi xong, ngồi xuống một bên, hỏi rằng : “Bạch A-nan, vừa rồi cùng với Phạm chí Cù-mặc Mục-kiền-liên thảo luận vấn đề gì vậy ? Vì việc gì mà cùng hội họp ở đây ?” Tôn giả A-nan đáp : “Vu Thế, Phạm chí Cù-mặc Mục-kiền-liên hỏi tôi rằng ‘A-nan, có Tỳ-kheo nào sánh ngang với Sa-môn Cù-đam chăng ?” Đại thần Vu Thế, nước Ma-kiệt-đa lại hỏi : “A-nan, ngài trả lời ông ấy như thế nào ?” Tôn giả A-nan đáp : “Này Vu Thế, hoàn toàn không một Tỳ-kheo nào sánh ngang với Thế Tôn được.” Đại thần Vu Thế, nước Ma-kiệt-đa lại hỏi : “Vâng, A-nan, không một Tỳ-kheo nào sánh ngang với Thế Tôn được. Nhưng có Tỳ-kheo nào được Sa-môn Cù-đam trong lúc tại thế lập nên và nói rằng ‘Tỳ-kheo này sau khi Ta Niết-bàn sẽ là nơi nương tựa của các Tỳ-kheo’, và vị ấy nay là nơi nương tựa của các người ?” Tôn giả A-nan đáp : “Này Vu Thế, hoàn toàn không một Tỳ-kheo nào được Thế Tôn, Bậc Tri Kiến, được Như Lai, Bậc Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác trong lúc tại thế lập lên và nói rằng ‘Tỳ-kheo này sau khi Ta Niết-bànsẽ là nơi nương tựa cho các Tỳ-kheo’ và ngày nay đang là chỗ nương tựa cho chúng tôi.” Đại thần Vu Thế, nước Ma-kiệt-đa lại hỏi : “Vâng, A-nan, không một Tỳ-kheo nào sánh ngang với Sa-môn Cù-đam, cũng không một Tỳ-kheo nào được Sa-môn Cù-đam trong lúc tại thế lập lên rằng ‘Tỳ-kheo này sau khi Ta Niết-bàn sẽ là nơi nương tựa cho các Tỳ-kheo và ngày nay đang là chỗ nương tựa cho các Tỳ-kheo’ và vị ấy nay là nơi nương tựa cho các người. Nhưng có Tỳ-kheo nào được chúng Tăng hòa hiệp và bái lập lên rằng ‘Tỳ-kheo này sau khi Thế Tôn Niết-bàn là nơi nương tựa cho các Tỳ-kheo’, và vị ấy nay đang là nơi nương tựa của các người ?” Tôn giả A-nan đáp : “Này Vu Thế, cũng không có Tỳ-kheo nào được chúng Tăng hòa hiệp bái lập lên rằng ‘Tỳ-kheo này sau khi Thế Tôn Niết-bàn sẽ là nơi nương tựa cho các Tỳ-kheo’ và vị ấy nay đang là chỗ nương tựa cho chúng tôi.” Đại thần Vu Thế nước Ma-kiệt-đa lại hỏi : “Vâng, A-nan, không một Tỳ-kheo nào sánh ngang với Sa-môn Cù-đam, cũng không một Tỳ-kheo nào được Sa-môn Cù-đam trong lúc tại thế lập lên rằng ‘Tỳ-kheo này sau khi Ta Niết-bàn sẽ là nơi nương tựa cho các Tỳ-kheo’ để vị ấy nay đang là nơi nương tựa cho các người. Cũng không Tỳ-kheo nào được Tăng chúng hòa hiệp bái lập lên rằng ‘Tỳ-kheo này sau khi Thế Tôn Niết-bàn sẽ là nơi nương tựa cho các Tỳ-kheo’ để vị ấy nay đang là nơi nương tựa cho các người. Này A-nan, nếu vậy các người hiện tại không có ai để nương tựa, nhưng cùng sống hòa hiệp, không tranh chấp, an ổn, đồng nhất một giáo pháp, cùng hiệp nhất như nước với sữa, khoái lạc du hành như trong lúc Sa-môn Cù-đam tại thế chăng ?” Tôn giả A-nan đáp : “Này Vu Thế, ông đừng nói rằng chúng tôi không có ai để nương tựa. Vì sao vậy ? Thật sự chúng tôi có nơi nương tựa.” Đại thần Vu Thế nước Ma-kiệt-đa đáp rằng : “Bạch A-nan, những điều được nói trước và sau sao lại không phù hợp nhau ? A-nan vừa nói như vầy ‘Không một Tỳ-kheo nào sánh ngang Thế Tôn, cũng không một Tỳ-kheo nào được Thế Tôn, Bậc Tri Kiến, là Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác trong lúc tại thế lập lên rằng ‘Tỳ-kheo này sau khi Ta Niết-bàn sẽ là nơi nương tựa cho các Tỳ-kheo’ để vị ấy nay đang là nơi nương tựa cho chúng tôi. Cũng không có Tỳ-kheo nào được chúng Tăng hòa hiệp bái lập lên rằng ‘Tỳ-kheo này sau khi Thế Tôn Niết-bàn sẽ là nơi nương tựa cho các Tỳ-kheo’ để vị ấy nay là nơi nương tựa cho chúng tôi’. Nhưng này A-nan, do nhân gì, duyên gì, nay lại nói rằng ‘Thật sự chúng tôi có nơi nương tựa’ ?” Tôn giả A-nan đáp : “Này Vu Thế, chúng tôi không nương tựa nơi người, nhưng nương tựa nơi pháp. Này Vu Thế, nếu chúng tôi nương tựa nơi thôn ấp mà sống, vào ngày mười lăm là ngày thuyết Tùng giải thoát, cùng tập họp ngồi tại một chỗ. Nếu có Tỳ-kheo nào hiểu biết pháp, chúng tôi thỉnh vị ấy thuyết pháp cho chúng tôi. Nếu chúng Tăng ấy được thanh tịnh, chúng tôi hoan hỷ phụng hành pháp mà Tỳ-kheo ấy đã nói. Nếu chúng Tăng ấy không thanh tịnh, tùy theo pháp được nói, chúng tôi khuyên dạy làm cho đúng.” Đại thần Vu Thế nước Ma-kiệt-đa bạch rằng : “Bạch A-nan, không phải các ngài khuyên dạy làm cho đúng, nhưng chính là pháp khuyên dạy làm cho đúng. Như vậy, A-nan, một ít pháp hay có nhiều pháp thảy đều có thể được tồn tại lâu dài, và như vậy A-nan, các ngài sống hòa hiệp không tranh chấp, an ổn, đồng nhất một giáo pháp, cùng hiệp nhất như nước với sữa, khoái lạc du hành như lúc Sa-môn Cù-đam tại thế.” Đại thần Vu Thế nước Ma-kiệt-đa lại hỏi : “Này A-nan, có vị nào đáng tôn kính chăng ?” Tôn giả A-nan đáp : “Này Vu Thế, có vị xứng đáng được tôn kính.” Vu Thế bạch rằng : “Bạch A-nan, những điều được nói sao lại trước sau không phù hợp nhau ? A-nan vừa nói như vầy ‘Không một Tỳ-kheo nào sánh ngang Thế Tôn, cũng không một Tỳ-kheo nào được Thế Tôn trong lúc tại thế lập lên rằng ‘Tỳ-kheo này sau khi Ta Niết-bàn sẽ là nơi nương tựa cho các Tỳ-kheo” để vị ấy nay đang là nơi nương tựa cho chúng tôi. Cũng không có một Tỳ-kheo nào được chúng Tăng hòa hiệp bái lập lên rằng ‘Tỳ-kheo này sau khi Thế Tôn Niết-bàn sẽ là nơi nương tựa cho các Tỳ-kheo’ để nay vị ấy đang là nơi nương tựa cho chúng tôi. Nhưng này A-nan, do nhân gì, duyên gì nay lại nói rằng ‘Có vị xứng đáng được tôn kính’ ?” Tôn giả A-nan đáp : “Này Vu Thế, Thế Tôn, bậc Tri kiến, là Như Lai, Bậc Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, đã có dạy về mười pháp đáng tôn kính. Nếu chúng tôi thấy Tỳ-kheo nào có mười pháp này, chúng tôi cùng ái kính, tôn trọng, cúng dường, lễ sự Tỳ-kheo ấy.” Như vầy, theo lời thầy Anan, thì Phật đã không di chúc lại cho ai đứng ra lãnh đạo giáo đoàn cả, vì vậy thầy Ca Diếp không phải là vị tổ đầu tiên của thiền tông. (còn tiếp)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét