THÍCH TÂM TRỌNG
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT
Thứ Sáu, 2 tháng 11, 2012
TÔN GIÁO VÀ LÝ LUẬN
2- Tôn giáo và Luân lý
Luân lý là một khía cạnh quan trọng khác của tôn giáo. Hiển nhiên là người ta có thể đạo dức mà không theo tôn giáo nào, nhưng cũng hiển nhiên là tôn giáo cổ vũ điều thiện, làm cho người ta nên tốt. Thực tế cho thấy con người biểu lộ hành vi đạo đức vượt xa điều mà một xã hội đòi hỏi nơi các thành viên. Không thể giải thích sự kiện đó nếu chỉ dựa trên sự cố kết xã hội. Sheiman trưng dẫn những nghiên cứu chứng minh hoạt động tôn giáo liên kết với một sự tương tác xã hội lớn hơn. Tôn giáo làm nên cộng đồng như thế nào thì nó cũng cổ vũ luân lý đạo đức nhu vậy. Nó cổ vũ cho luân lý bằng cách chủ trương rằng hành động luân lý là con đường đưa tới kết hiệp với Thiên Chúa.
Mọi tôn giáo (chân chính) đều tin vào tính thiện nơi Thượng Đế và nơi con người ta. Sheiman cho rằng các nhà vô thần thường thiếu hiểu biết về nền đạo đức tôn giáo. Đó không phải đơn giản chỉ là một hệ thống thưởng công hay phạt tội mà thôi. Ông viết: "Những kẻ hoài nghi nhất nhìn thấy trong tôn giáo một sự vâng lời tối mặt đối với uy quyền đạo đức và một hệ thống giám sát áp bức đối với hành vi con người."
Đành rằng một số người tôn giáo có khuynh hướng độc đoán, nhưng điều đó cũng có thể thấy nơi nhiều người ngoài tôn giáo. Đối với đa số người có đức tin, Thiên Chúa là một người cha yêu thương, và là nền tảng tinh thần mà con người hướng tới. Quan niệm Kitô giáo về "con người-hình ảnh của Thiên Chúa" là một đóng góp đặc biệt của tôn giáo cho xã hội, mà Sheiman nhấn mạnh. Vì con người được coi là tham dự vào bản tính thần linh như thế nên họ phải được tôn trọng như là con cái của Thiên Chúa.
Quan niệm đó đưa tới vô số những hành vi hy sinh và thương xót hằng ngày. Quả thực, nghiên cứu xã hội học cho thấy rằng người có tôn giáo tỏ ra biết quan tâm và có lòng trắc ẩn đối với tha nhân hơn những người khác và chi nhiều tiền hơn cho việc từ thiện. Điều này không riêng cho một tôn giáo nào, Sheiman nói thêm.
Tôn giáo cũng cung cấp một nền tảng vững chắc hơn cho hành vi luân lý nhờ gắn liền với những giá trị tuyệt đối. Tác giả ghi nhận: không có tôn giáo, người ta vẫn có một đời sống luân lý, nhưng khi các quy tắc đạo đức là do con người đề ra thì chúng có thể sai lầm và thiếu vững chắc, chúng có thể chỉ là những ý kiến cá nhân, thậm chí là một toan tính cho lợi ích riêng tư. Điều này đưa Sheiman đến chỗ lý luận rằng trí khôn con người nhắm tới một cái gì khác hơn là một chân lý tương đối. Trong tư cách là người, chúng ta nỗ lực tìm kiếm nguyên nhân đầu tiên (đệ nhất), và nếu các mệnh lệnh luân lý không lệ thuộc vào Thiên Chúa, chúng không thể là tuyệt đối và mãi mãi vẫn là tương đối. Khoa học tự bản thân nó không thể đưa tới luân lý đạo đức. Sheiman viết: "Phải trái, tốt xấu không phát sinh từ khoa vật lý học hay sinh vật học được (...) Như thế, tôn giáo xét về mặt văn hóa và cơ chế, trở thành nguồn quan trọng nhất làm phát sinh những nguyên tắc luân lý, chính bởi vì người ta cảm nhận rằng nó ở bên trên sự tùy tiện của con người".
3- Tôn giáo và Tiến bộ
Trong một chương khác của cuốn sách, Sheiman cho thấy tôn giáo đứng đàng sau tiến bộ của thế giới Tây phương trong những lãnh vực như dân chủ và tự do, khoa học và công nghệ.
Theo tác giả, qua dòng lịch sử, nếu như chúng ta đã phát triển thành một nền văn hóa, điều đó là nhờ tôn giáo ít nhất là một phần nào. Tuy sự kiện này không miễn tội cho các nhà lãnh đạo tôn giáo về những hành động phá hoại của họ, nhưng nó vẫn đưa ta tới kết luận rằng nhìn tổng thể, tôn giáo đã có một tác động tích cực bao trùm nhiều mặt.
Một số người lại rút ra một kết luận khác là: chúng ta sẽ vẫn tiếp tục đi xa hơn trong tiến trình của mình mà không có tôn giáo. Sheiman cho rằng điều này không thuyết phục bởi lẽ các sử gia không thể nhận ra một sức mạnh văn hóa nào khác trong quá khứ đủ mạnh mẽ như tôn giáo để có khả năng mang theo nền văn minh nhân loại.
Ông cũng phê bình cách đọc lịch sử mang tính chọn lọc của một vài nhà vô thần, họ chỉ mau mắn gán cho tôn giáo những khía cạnh tiêu cực nhất của lịch sử, nhưng hiếm khi họ chịu nhìn nhận món nợ mà nền văn minh mắc đối với tôn giáo (như Nietzsche mà tôi đã nhắc tới trong phần đầu).
Một người có đức tin có thể trả lời cho tác giả rằng niềm tin của họ vào Thiên Chúa không tùy thuộc vào một thứ tính toán hơn thiệt nào của lịch sử hay của đời sống cá nhân mình. Tuy nhiên, vào một thời mà nhiều nhà vô thần chê bai các giáo hội và đức tin, coi đó là những thứ hoàn toàn phi lý (totally irrational) và tiêu cực, thì cuốn sách của Sheiman có công dụng như một phương thuốc đối lại một sự tấn công hời hợt và phi lý như thế chống niềm tin tôn giáo.
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét