THÍCH TÂM TRỌNG

THÍCH TÂM TRỌNG
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT

Thứ Sáu, 30 tháng 11, 2012

NIỆM PHẬT THẬP YẾU 6

NIỆM PHẬT THẬP YẾU ________________________________________ Chương 1. Niệm Phật Phải Vì Thoát Sanh Tử Mục A. Môn Tịnh Độ, Một Pháp Hợp Thời Cơ 3 Tiết 1 Bắc Phương Phật Giáo Với Nhân Duyên Tịnh Độ 3 Tiết 2 Những Huyền Ký Về Tịnh Độ 4 Tiết 3 Sự Chuyển Hướng Từ Thiền Sang Tịnh 6 Mục B. Môn Tịnh Độ Với Vấn Đề Sanh Tử 10 Tiết 4 Niệm Phật Thế Nào Mới Hợp Với Bản Ý Của Phật? 10 Tiết 5 Tám Mối Khổ Lớn 14 Mục C. Biết Khổ Phải Ý Thức Đến Sự Giải Thoát 20 Tiết 6 Quán Về Sự Khổ Luân Hồi 20 Tiết 7 Muốn Sớm Thoát Khổ, Nên Tu Tịnh Độ 23 Chương 2. Niệm Phật Phải Phát Lòng Bồ Đề Mục A. Luận Về Bồ Đề Tâm 33 Tiết 8 Ý Nghĩa Của Bồ Đề Tâm 33 Tiết 9 Bồ Đề Tâm Với Môn Tịnh Độ 36 Mục B. Những Công Hạnh Của Bồ Đề Tâm 39 Tiết 10 Làm Thế Nào Để Phát Lòng Bồ Đề 39 Tiết 11 Những Huấn Thị Về Bồ Đề Tâm 48 Mục C. Ba Sự Kiện Thiết Yếu Đối Với Bồ Đề Tâm 55 Tiết 12 Đường Sanh Tử Nhiều Nguy Hiểm 55 Tiết 13 Cần Giải Thoát Ngay Trong Hiện Kiếp 58 Tiết 14 Làm Thế Nào Để Thành Mãn Bồ Đề Tâm 64 Chương 3. Niệm Phật Phải Dứt Trừ Lòng Nghi Mục A. Lòng Tin, Cửa Vào Tịnh Độ 71 Tiết 15 Sự Trọng Yếu Của Lòng Tin 71 Tiết 16 Những Điều Làm Giảm Phá Niềm Tin 76 Mục B. Giải Thích Các Điều Nghi 82 Tiết 17 Những Mối Nghi Thông Thường Về Tịnh Độ 82 Tiết 18 Những Mối Nghi Thiệp Lý 87 Tiết 19 Những Mối Nghi Căn Cứ Theo Kinh Điển 102 Tiết 20 Cần Phá Lối Chấp Nhị Biên 109 Chương 4. Niệm Phật Phải Quyết Định Nguyện Vãng Sanh Mục A. Nguyện Thiết, Động Lực Chánh của Sự Vãng Sanh 117 Tiết 21 Tánh Cách Trọng Yếu Của Sự Phát Nguyện 117 Tiết 22 Kinh Văn Khuyên Phát Nguyện 120 Tiết 23 Thử Xét Qua Những Tâm Nguyện Cầu Vãng Sanh 122 Mục B. Giới Thiệu Lời Văn Phát Nguyện Của Tiền Nhơn 129 Tiết 24 Văn Phát Nguyện Của Ngài Liên Trì Và Từ Vân 129 Tiết 25 Phát Nguyện Cần Phải Khẩn Thiết 134 Chương 5. Niệm Phật Phải Hành Trì Cho Thiết Thật Mục A. Môn Niệm Phật Với Tứ Đoạt Và Tứ Hạnh 141 Tiết 26 Hạnh Tinh Chuyên Cũng Là Điểm Không Thể Thiếu 141 Tiết 27 Niệm Phật Với Tứ Đoạt 143 Tiết 28 Niệm Phật Với Tứ Hạnh 146 Mục B. Khái Luận Về Các Phương Pháp Niệm Phật 149 Tiết 29 Bốn Môn Niệm Phật 149 Tiết 30 Mười Phương Thức Trì Danh 153 Mục C. Đi Vào Đường Lối Thật Hành 163 Tiết 31 Bốn Môn Tam Muội 163 Tiết 32 Ba Phần Hành Trì 167 Tiết 33 Cách Đối Trị Hôn Trầm Tán Loạn 175 Chương 6. Niệm Phật Phải Đoạn Tuyệt Phiền Não Mục A. Lược Đàm Về Tham Phiền Não 183 Tiết 34 Phương Diện Khai Tâm 183 Tiết 35 Đối Trị Dục Nhiễm 186 Tiết 36 Đối Trị Tham Vi Tế 190 Mục B. Lược Đàm Về Sân Phiền Não 194 Tiết 37 Phương Pháp Đối Trị Sân 194 Tiết 38 Cách Đoạn Tuyệt Thị Phi 196 Tiết 39 Những Lời Khuyên Răn Về Việc Thị Phi 199 Mục C. Lược Đàm Về Si Phiền Não 207 Tiết 40 Nói Chung Về Nghiệp Si 207 Tiết 41 Phải Diệt Niệm Buồn Chán 210 Tiết 42 Cách Đối Trị Tổng Quát 215 Chương 7. Niệm Phật Phải Khắc Kỳ Cầu Chứng Nghiệm Mục A. Nên Định Kỳ Kiết Thất 221 Tiết 43 Sự Sống Chết Lớn Lao 221 Tiết 44 Ý Nghĩa Kiết Thất 223 Tiết 45 Cách Đả Thất 226 Mục B. Quyết Định Cầu Nghiệm 230 Tiết 46 Sự Và Lý 230 Tiết 47 Sự Trì, Lý Trì 233 Tiết 48 Sự Nhứt Tâm, Lý Nhứt Tâm 243 Mục C. Cảnh Giới Phát Hiện 247 Tiết 49 Nội Cảnh Giới 247 Tiết 50 Ngoại Cảnh Giới 253 Tiết 51 Biện Ma Cảnh 257 Tiết 52 Các Loại Ma 263 Chương 8. Niệm Phật Phải Bền Lâu Không Gián Đoạn Mục A. Yếu Điểm Của Môn Tịnh Độ 281 Tiết 53 Phải Nhớ Chí Nguyện Để Tinh Tấn 281 Tiết 54 Pháp Môn Thoát Sanh Tử Trong Một Đời 283 Tiết 55 Niệm Phật Chớ Sợ Cười, Đừng Chờ Hẹn 287 Mục B. Làm Thế Nào Niệm Được Bền Lâu? 292 Tiết 56 Phải Tuần Tự Tiến Tu 292 Tiết 57 Nên Cầu Tinh Thuần, Đừng Tham Nhiều 295 Tiết 58 Chớ Để Mất Phần Nhập Phẩm 298 Mục C. Tịnh Độ, Môn Giải Thoát Đăc Biệt 302 Tiết 59 Niệm Phật, Phương Pháp Dễ Tu 302 Tiết 60 Từ Tán Tâm Sẽ Đi Đến Định Tâm 304 Tiết 61 Mười Phương Tịnh Độ Và Đâu Suất Tịnh Độ 309 Chương 9. Niệm Phật Phải An Nhẫn Các Chướng Duyên Mục A. Nói Lược Về Các Duyên Khảo 317 Tiết 62 Vài Nguyên Nhân Của Các Chướng Duyên 317 Tiết 63 Các Duyên Ma Khảo 321 Mục B. Phương Thức Hóa Giải Chướng Duyên 333 Tiết 64 Lời Khuyên Dạy Của Cổ Đức 333 Tiết 65 Cách Giữ Vững Tâm Không Thối Chuyển 341 Mục C. Những Gương Về Sự An Nhẫn 349 Tiết 66 Sự An Nhẫn Của Cư Sĩ Tiền Vạn Dật 349 Chương 10. Niệm Phật Phải Dự Bị Lúc Lâm Chung Mục A. Những Dự Bị Cần Thiết Cho Lúc Lâm Chung 359 Tiết 67 Dự Bị Về Ngoại Duyên 359 Tiết 68 Dự Bị Về Tinh Thần 361 Mục B. Sự Khẩn Yếu Lúc Lâm Chung 369 Tiết 69 Thỉnh Bậc Tri Thức Khai Thị 369 Tiết 70 Cách Thức Trợ Niệm 372 Mục C. Điều Khẩn Yếu Sau Khi Mãn Phần 378 Tiết 71 Khi Tắt Hơi Cho Đến Lúc Truy Tiến 378 Tiết 72 Những Gương Đắc Thất Về Sự Trợ Niệm 382 Lời Sau Cùng Lời Phi Lộ Bản thảo quyển này vừa viết xong, có vài ba đại đức hỏi mượn luân phiên nhau xem, rồi cật vấn: - Chúng tôi thấy chư vị hoằng dương về Thiền Tông, dường như có ý bài xích Tịnh Độ. Chẳng hạn như trong quyển Sáu Cửa Vào Động Thiếu Thất có câu: Niệm Phật tụng kinh đều là vọng tưởng. Còn trong đây lại bảo: Môn Tịnh Độ hợp thời cơ, gồm nhiếp ba căn, kiêm thông cả Thiền, Giáo, Luật, Mật. Xem ra cũng dường như có ý cho Tịnh Độ là độc thắng, sự việc ấy như thế nào? Đáp: Không phải thế đâu? Mỗi môn đều có tông chỉ riêng. Các bậc hoằng dương tùy theo chỗ lập pháp của mình, bao nhiêu phương tiện thuyết giáo đều đi về những tông chỉ ấy. Như bên Thiền lấy: Chỉ thẳng lòng người, thấy tánh thành Phật làm tông chỉ. Tịnh Độ môn lấy: Một đời vãng sanh, được bất thối chuyển làm tông. Bên Hoa Nghiêm lấy: Lìa thế gian nhập pháp giới làm tông. Thiên Thai giáo lấy: Mở, bày, ngộ vào tri kiến Phật làm tông. Bên Tam Luận lấy: Lìa hai bên, vào trung đạo làm tông. Pháp Tướng môn lấy: Nhiếp muôn pháp về Chân Duy Thức làm tông. Mật giáo lấy: Tam mật tương ưng, tức thân thành Phật làm tông. Và Luật môn lấy: Nhiếp thân ngữ ý vào Thi La Tánh làm tông. Cho nên, lời nói bên Thiền ở trên, không phải bác Tịnh Độ, hay bác niệm Phật tụng kinh, mà chính là phá sự chấp kiến về Phật và Pháp của người tu. Nếu niệm Phật và tụng kinh là thấp kém sai lầm, tại sao từ Đức Thích Tôn cho đến chư Bồ Tát, Tổ Sư đều ngợi khen khuyên dạy tụng kinh niệm Phật? Nên biết, Vĩnh Minh thiền sư, tương truyền là hóa thân của Phật A Di Đà, mỗi ngày đều tụng một bộ Pháp Hoa. Lại, Phổ Am đại sư cũng nhân tụng kinh Hoa Nghiêm mà được ngộ đạo. Sự thuyết giáo bên Tịnh Độ cũng thế, không phải bác phá Thiền Tông, chỉ nói lên chỗ đặc sắc thiết yếu của bản môn, để cho học giả suy xét tìm hiểu sâu rộng thêm, mà tùy thích tùy cơ, chọn đường thú nhập. Lại, mỗi môn tuy tông chỉ không đồng, nhưng đều là phương tiện dẫn chung về Phật Tánh. Như một đô thành lớn có tám ngõ đi vào, mà nẻo nào cũng tập trung về đô thị ấy. Các tông đại khái chia ra làm hai, là Không môn và Hữu môn. Không môn từ phương tiện lý tánh đi vào. Hữu môn từ phương tiện sự tướng đi vào. Nhưng đi đến chỗ tận cùng thì dung hội tất cả, sự tức lý, lý tức sự, tánh tức tướng, tướng tức tánh, nói cách khác: sắc tức là không, không tức là sắc, không và sắc chẳng khác nhau. Cho nên khi xưa có một vị đại sư tham thiền ngộ đạo, nhưng lại mật tu về Tịnh Độ. Lúc lâm chung ngài lưu kệ phó chúc cho đại chúng, rồi niệm Phật sắp vãng sanh. Một vị thiền giả bỗng lên tiếng hỏi: Cực Lạc là cõi hữu vi, sao tôn đức lại cầu về làm chi? Đại sư quát bảo: Ngươi nói vô vi ngoài hữu vi mà có hay sao? Thiền giả nghe xong chợt tỉnh ngộ. Thế nên Thiền và Tịnh đồng về một mục tiêu. Hữu môn cùng Không môn tuy dường tương hoại mà thật ra tương thành cho nhau vậy. Đến như nói: Tịnh Độ hợp thời cơ, gồm nhiếp ba căn, kiêm thông cả Thiền, Giáo, Luật, Mật, chính là lời khai thị của chư cổ đức như: Liên Trì, Triệt Ngộ, Ngẫu Ích, Kiên Mật. Các đại sư này là những bậc long tượng trong một thời, sau khi tham thiền ngộ đạo, lại xương minh về lý mầu của Tịnh Độ pháp môn. Như Triệt Ngộ đại sư, trong tập Ngữ Lục, đã bảo: Một câu A Di Đà, tâm yếu của Phật ta. dọc quán suốt năm thời, ngang gồm thâu tám giáo. Và Kiên Mật đại sư sau khi quán sát thời cơ, trong Tam Đại Yếu, cũng bảo: Đời nay tham thiền chẳng nên không kiêm Tịnh Độ, phòng khi chưa chứng đạo bị thối chuyển, há chẳng kinh sợ lạnh lòng? Một câu A Di Đà, nếu không phải là bậc thượng căn, đại triệt, đại ngộ, tất không thể hoàn toàn đề khởi. Nhưng với câu này, kẻ hạ căn tối ngu vẫn chẳng chút chi kém thiếu! Thế nên, thuốc không quí tiện, lành bệnh là thuốc hay; pháp chẳng thấp cao, hợp cơ là pháp diệu. Tịnh Độ với Thiền Tông thật ra chẳng thấp cao hơn kém. Nhưng luận về căn cơ, thì Thiền Tông duy bậc thượng căn mới có thể được lợi ích; còn môn Tịnh Độ thì gồm nhiếp cả ba căn, hạng nào nếu tu cũng đều dễ thành kết quả. Luận về thời tiết thì thời mạt pháp này, người trung, hạ căn nhiều, bậc thượng căn rất ít nếu muốn đi đến thành quả giải thoát một cách chắc chắn, tất phải chú tâm về Tịnh Độ pháp môn. Đây do bởi lòng đại bi của Phật, Tổ, vì quán thấy rõ thời cơ, muốn cho chúng sanh sớm thoát nỗi khổ luân hồi, nên trong các kinh luận đã nhiều phen nhắc nhở. Điều này là một sự kiện rất quan yếu và hết sức xác thật! Tuy nhiên, như trong kinh nói: chúng sanh sở thích và tánh dục có muôn ngàn sai biệt không đồng, nên chư Phật phải mở vô lượng pháp môn mới có thể thâu nhiếp hết được. Vì vậy Tịnh Độ tuy hợp thời cơ, song chỉ thích ứng một phần, không thể hợp với sở thích của tất cả mọi người, nên cần phải có Thiền Tông và các môn khác, để cho chúng sanh đều nhờ lợi ích, và Phật Pháp được đầy đủ sâu rộng. Cho nên dù đã tùy căn cơ, sở thích của mình mà chọn môn Tịnh Độ, thâm ý bút giả vẫn mong cho Thiền Tông và các môn khác được lan truyền rộng trên đất nước này. Và các môn khác, nếu đem lại cho chúng sanh dù một điểm lợi ích nhỏ nhen nào, bút giả cũng xin hết lòng tùy hỷ. Tóm lại, Hữu môn và Không môn nói chung, Thiền Tông và Tịnh Độ nói riêng, đồng cùng đi về chân tánh, tuy hai mà một, đều nương tựa để hiển tỏ thành tựu lẫn nhau, và cũng đều rất cần có mặt trên xứ Việt Nam, cho đến cả thế giới. Mấy vị đại đức sau khi nghe xong đều tỏ ý tán đồng. Nhân tiện, bút giả lại trần thuật bài kệ của Tây Trai lão nhơn để kết luận, và chứng tỏ người xưa cũng đã từng đồng quan điểm ấy: Tức tâm là độ lý không ngoa Tịnh khác Thiền đâu, vẫn một nhà Sắc hiển trang nghiêm miền diệu hữu Không kiêm vô ngại cõi hằng sa Trời Tây sáng đẹp màu châu ngọc Nguyện Phật bao la đức hải hà Ngoảnh lại đường tu, ai sớm tỉnh? Nỗi thương ác đạo mãi vào ra! Thích Thiền Tâm cẩn chí Thứ Đệ và Chương Yếu Thứ đệ trong quyển này, chia thành Chương, Mục, Tiết, Đoạn khác nhau, mỗi Chương có nhiều Mục, mỗi Mục có nhiều Tiết, và mỗi Tiết có nhiều Đoạn. Về Chương chỉ có mười, ghi số thứ tự La Mã (I-II-III) từ Đệ Nhất Yếu đến Đệ Thập Yếu. Về Mục, ghi số thứ tự theo A-B-C. Về Tiết, ghi số thứ tự 1-2-3, nhưng lại tiếp tục quán thông từ đầu đến cuối quyển, diễn thành từ số 1 cho đến số 72. Tuy sắp thành Chương, Mục, Tiết, Đoạn, nhưng Tiết mới chính là đơn vị, và thành phần cốt cán của toàn quyển. Và quyển này là sự kết hợp hay thành phần của 72 Tiết chung góp lại. Về Đoạn, không nêu chữ Đoạn, bởi nó chỉ có tánh cách gây niệm chú ý hoặc sự phân biệt trong mỗi Tiết, nên bút giả đánh dấu bằng ngôi sao ((), đôi khi cũng ghi theo số thứ tự 1-2-3. Nhưng đây chỉ là số ít, không có tánh cách quán xuyến thành số nhiều như thứ tự của Tiết. Và đó là điểm khác biệt. Niệm Phật Thập Yếu, theo nhan đề là mười điều thiết yếu của môn Niệm Phật hay của người tu pháp Niệm Phật. Mười điều này sẽ diễn thành mười chương theo như trên đã nói. Mười chương ấy như sau: • Niệm Phật phải vì thoát sanh tử. • Niệm Phật phải phát lòng Bồ Đề. • Niệm Phật phải dứt trừ lòng nghi. • Niệm Phật phải quyết định nguyện vãng sanh. • Niệm Phật phải hành trì cho thiết thật. • Niệm Phật phải đoạn tuyệt phiền não. • Niệm Phật phải khắc kỳ cầu chứng nghiệm. • Niệm Phật phải bền lâu không gián đoạn. • Niệm Phật phải an nhẫn các chướng duyên. • Niệm Phật phải dự bị lúc lâm chung. Xin xem tiếp Niệm Phật Thập Yếu 1 (NPTY 1)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét