THÍCH TÂM TRỌNG

THÍCH TÂM TRỌNG
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT

Thứ Sáu, 30 tháng 11, 2012

Nguồn gốc, ý nghĩa tháp thờ trong Phật Giáo

Nguồn gốc, ý nghĩa tháp thờ trong Phật Giáo Tại Ấn Độ, trong thời Phật Giáo hưng thịnh, vua A Dục (Asoka) đã cho dựng trên 4,800 toà phù đồ; những công trình nầy để ghi dấu tích đức Phật Thích Ca rải rác khắp lãnh thổ của ngài; thời đó, vật kiến trúc này trở thành yếu tố căn bản cho mỗi tu viện, mỗcảnh chùa. Kiểu thức như những toà phù đồ Ấn Độ, có nơi biến dạng đôi chút, nhưng căn bản kiến trúc vẫn không đổi. Thành thử, phù đồ hay bảo tháp dựng lên, nếu không là nơi chứa những vật kỷ niệm, cũng là nơi tàng chứa xá lợi Phật hay những di vật của những cao tăng, thiền đức viên tịch. Theo Từ Hải Từ Điển của Trung Hoa có viết như sau: sách "Từ Vực" nói: Tháp là phù đồ, nơi chôn xương Phật, cũng gọi là Tháp bà, Phù đồ (hay Phù tề); còn có một tên nữa là Phù họa hay Phật Đồ đều là tiếng Phật; nó do chữ "Hãn Đổ ba" (Stupa) hoặc "Xuất đô bà" (Dagoba) nói chếch ra. Theo nghĩa đạo Phật, nó là mồ mả, là linh miếu. Về tầng tháp thì nhiều ít không nhất định, Phật tháp thì 13 tầng, Bích chi Phật tháp thì 11 tầng. A la hán tháp thì 4 tầng... Nhưng theo Từ Nguyên Từ Điển giải thích rằng: Tháp bà tức là tháp, trong Thích Thị Yếu lãm nghĩa là Phù đồ, tiếng Phạn là Tháp bà, có nghĩa toà cao và rõ, hay gọi là tháp.- Trong Phật Học Từ điển của Đoàn Trung Còn viết: Tháp (stupa),Dagoba, Tháp, Tháp bà, Đâu bà, Du bà, Tuỵ đổ ba, Tụy đô bà, Phù đồ, Dagoba đều là những tiếng âm theo Phạn. Thường đọc Tháp. Cũng đọc: Bảo tháp, Thất bảo tháp, Dịch nghĩa: Miếu, linh miếu. Ấy là những toà cao, nhiều tầng, dưới lớn trên nhỏ, để thờ xá lỵ (tro tàn) của chư Phật hoặc của các nhà thành Đạo: Bồ tát, Duyên Giác, La Hán, hoăc để chôn di cốt của các vị thượng toạ các ngôi chùa. Có cảnh Tháp cất riêng một mình. Song phần nhiều cất trong vòng rào nhà chùa. Tháp lại là những ngôi đền, dựng ra để thờ di tích, tro tàn, hài cốt của các nhà vua, hiểu theo nghĩa thế gian.Trong những tài liệu lịch sử Phật Giáo, có 4 ngôi tháp, mà các nhà tu hành nào đến đến hành hương chiêm ngưỡng, "thì được phước đức to". đó là: - Tháp kỷ niện chỗ Phật đản sanh. - Tháp kỷ niệm chỗ Phật thành đạo nơi gốc cây bồ đề. - Tháp kỷ niệm chỗ Phật chuyển Pháp luân, bắt đầu thuyết pháp. Như đức Thích Ca chuyển pháp luân trong vườn Lộc (Lộc uyển), độ cho 5 vị Tỳ Kheo. - Tháp kỷ niệm chỗ Phật nhập diệt, nơi hai cây sa la, gần thành Câu Thi Na. Ngài Huyền Trang đời Đường trong khi đi Thiên Trúc, có viếng và chiêm bái bốn ngôi tháp nầy. Trong Niết Bàn Kinh,quyển 41, Phật có chỉ cách xây tháp: Tháp để thờ xá lỵ của Phậ tthì cất 13 tầng, Tháp để thờ Bích chi Phật thì có 11 tầng. Tháp của vị A La Hán thì xây 4 tầng. Còn Tháp của vị Chuyển Luân Vương thì chẳng nên xây tầng; là vì vị Chuyển Pháp Luân chưa thoát khỏi các mối khổ trong Tam giới....Căn cứ theo những tài liệu dẫn trên, thì sự biến đổi của Tháp bát úp như loại tháp Sanchi (Ấn Độ) để trở thành thành nhiều tầng chính là một hiện tượng phản ảnh về ý nghĩa của Phật Giáo khi truyền sang các nước phương Đông, trong một môi trường xã hội khác. Những tháp Phật Giáo tại Việt Nam về việc quy định các tầng đã không theo những ý nghĩa nêu trên. Tính chất và thể loại của những loại tháp được phân chia ra: Phù đồ (stupa) và bảo tháp (pagoda). Cả hai được kiến tạo để ghi dấu tích Phật. Tuy nhiên, nếu xét về hình dạng kiến trúc thì hoàn toàn khác, mặc dù bảo tháp bắt nguồn và là biến thể của phù đồ. Những nhà khảo cổ cho rằng: Phù đồ được hình dung từ thời tiền sử; đó là những nấm mồ của các vị tù trưởng hay vua chúa. Phù đồ đắp kiểu hình vòm cầu, rồi sau nầy phát triển thêm thành đài kỷ niệm. Trong kiến trúc Phật Giáo, phù đồ dược sử dụng như là vật tiêu biểu chính, đồng thời là trung tâm của những chốn thờ tự.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét