THÍCH TÂM TRỌNG
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT
Thứ Tư, 31 tháng 10, 2012
niết bàn
Phật-giáo chia ra có hai thứ Niết-Bàn: Hữu dư y Niết-Bàn và Vô dư y Niết-Bàn. Nhập Hữu dư y Niết-Bàn là đã đoạn hết cái nhân đưa đến sinh tử luân hồi, nhưng còn dư cái quả khổ sinh tử biến dịch là cái xác thân; nội tâm đã thanh tịnh giải thoát hoàn toàn, không còn triền phược tham sân si, nhưng còn cái thân tứ đại, vẫn phải sống phải ăn uống ngủ nghỉ, phải chịu đau già bệnh chết. Nhập Vô dư y Niết-Bàn là đoạn được cái nhân sinh tử rồi, nay đoạn nốt cái quả biến dịch, cứu cánh không còn luân hồi nữa, nghĩa là người tu hành hoàn toàn giác ngộ và giải-thoát, lìa bỏ xác phàm, được tự tại vô ngại. chứng được 4 đức: Thường, Lạc, Ngã, Tịnh.
Tứ Chủng Niết Bàn gồm có:
1. Bản lai tự tính thanh tịnh niết bàn
2. Hữu dý y niết bàn
3. Vô dý y niết bàn
4. Vô trụ xứ niết bàn
1. Hữu Dư Y Niết Bàn gọi tắt là Hữu Dư Niết Bàn: Niết Bàn còn chỗ nương tựa, tức là các bậc Thánh A La Hán khi còn sống, phiền não chướng tuy đã diệt, nhưng thân ngũ uẩn trong cõi Dục vẫn còn làm chỗ nương tựa.
2. Vô Dư Y Niết Bàn gọi tắt là Vô Dư Niết Bàn: Niết Bàn dành cho các bậc Thánh A La Hán sau khi nhập Niết Bàn. Tức là phiền não đã đoạn trừ hết, thân ngũ uẩn của các bậc A La Hán còn lại cũng diệt, loại bỏ chỗ nương tựa của các pháp hữu vi, của sự sự vật trong thế giới hiện tượng, các khổ vắng lặng, trở về với diệt tận, giải thoát khỏi sinh tử luân hồi trong ba cõi, sáu đường.
3. Vô Trụ Xứ Niết Bàn là Niết Bàn không trụ trong sinh tử, cũng không trụ nơi Niết Bàn. Bồ Tát vì lòng Đại Từ Đại Bi thương xót chúng sinh nên không trụ nơi Niết Bàn lại dùng Bát Nhã cứu độ chúng sinh nên không trụ trong sinh tử, tức chỉ cho Niết Bàn của các bậc Bồ Tát. Tuy ứng dụng mà thường tịch lặng, cho nên gọi là Niết Bàn. Đó là Vô Trụ Xứ Niết Bàn.
4. Bản Lai Tự Tánh Thanh Tịnh Niết Bàn: Cũng gọi là Bản Lai Thanh Tịnh Niết Bàn, Tính tịnh Niết Bàn: Thực tính của các pháp là lý Chân Như. Tất cả các pháp tuy bị khách trần phiền não ngăn che, nhưng tự tính xưa nay vốn thanh tịnh, có đầy đủ công đức vi diệu không thể nghĩ bàn, không sinh, không diệt, suy nghĩ đều dứt bặt, chúng sinh và các bậc Thánh đều có, nhưng chỉ có các bậc Thánh mới chứng được. Vì tánh vốn tịnh lặng cho nên gọi là Niết ban
Niết Bàn nguyên nghĩa chỉ cho sự thổi tắt, hay biểu thị trạng thái thổi tắt, chỉ cho lửa phiền não đã bị thổi tắt. Đây là cảnh giới hoàn toàn giác ngộ. Cảnh giới này vượt ngoài sinh tử, vượt ngoài ba cõi (Dục Giới, Sắc Giới và Vô Sắc Giới) sáu đường (Trời, người, A Tu La, Bàng Sinh, Quỷ đói, Địa Ngục), hay còn gọi là vượt ra ngoài mê giới. Niết Bàn là vượt ra ngoài sinh tử. Chữ nghĩa của thế gian không thể diễn tả đầy đủ về Niết Bàn. Niết Bàn là mục đích cuối cùng của Phật Giáo, còn gọi là Niết Bàn tịch tĩnh.
Theo Nguyên Thủy:
Niết Bàn là trạng thái diệt hết phiền não. Trong đó chia ra Hữu Dư Y Niết Bàn và Vô Dư Y Niết Bàn. Hữu Dư Y Niết Bàn nghĩa là phiền não tuy đã bị diệt hết, nhưng nhục thể (tức là y thân) tàn dư còn lại, tức là để chỉ cho các bậc Thánh A La Hán còn sống. Vô Dư Y Niết Bàn nghĩa là phiền não đã hết mà y thân cũng không còn, tức là để chỉ cho các bậc Thánh A La Hán đã nhập Niết Bàn.
2. Theo Phật Thừa (Đại Thừa):
- Kinh Niết Bàn, quyển 3, (Bản Nam) cho rằng Niết Bàn có 8 vị: Thường, hằng, an, thanh tịnh, bất lão, bất tử, vô cấu và an lạc hạnh phúc. Nếu đem 8 vị này phối hợp với 4 đức: Thường, Lạc, Ngã, Tịnh của Niết Bàn thì thường và hằng là Thường, an và an lạc hạnh phúc là Lạc, bất lão và bất tử là Ngã, thanh tịnh và vô cấu là Tịnh.
Này các Tỷ-kheo, thế nào là Niết-bàn giới có dư y? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo là bậc A-la-hán, các lậu hoặc đã tận, Phạm hạnh đã thành, việc nên làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã đạt được mục đích, hữu kiết sử đã diệt, đã giải thoát nhờ chánh trí. Trong vị ấy, năm căn còn tồn tại, ngang qua các căn ấy, vị ấy hưởng thọ khả ý, không khả ý vì rằng tự ngã không có thương hại cảm giác lạc khổ. Với vị ấy, tham diệt, sân diệt, si diệt. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là Niết-bàn có dư y.
Này các Tỷ-kheo, thế nào là Niết-bàn giới không có dư y? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo là bậc A-la-hán, các lậu hoặc đã tận, Phạm hạnh đã thành, việc nên làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã đạt được mục đích, hữu kiết sử đã diệt, đã giải thoát nhờ chánh trí. Ở đây, đối vị ấy, mọi cảm thọ đều không có hoan hỷ ưa thích, sẽ được lắng dịu. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là Niết-bàn không có dư y. Này các Tỷ-kheo có hai Niết-bàn giới này.
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét