THÍCH TÂM TRỌNG
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT
Thứ Tư, 31 tháng 10, 2012
KINH BÁO HIẾU PHỤ MẪU
KINH BÁO HIẾU PHỤ MẪU
Một thuở nọ, Thế Tôn an trụ
Xá Vệ thành Kỳ Thụ viên trung
Chư Tăng câu hội rất đông
Tính ra đến số hai muôn tám ngàn
Lại cũng có các hàng Bồ Tát
Hội tại đây đủ mặt thường thường.
Bây giờ, Phật lại lên đường
Cùng hàng đại chúng Nam Phương tiến hành
Ðến giữa đường, rành rành mắt thấy
Núi xương khô bỏ đấy lâu đời
Thế Tôn bèn vội đến nơi
Lạy liền ba lạy rồi rơi giọt hồng.
Ðức A Nan tủi lòng ái ngại
Chẳng hiểu sao Phật lạy đống xương?
Vội vàng xin Phật dạy tường
Thầy là Từ Phụ ba phương, bốn loài
Ai ai cũng kính Thầy dường ấy
Cớ sao Thầy lại lạy xương khô?
Phật rằng: trong các môn đồ
Ngươi là đệ tử đứng đầu dày công Bởi chưa biết đục trong cho rõ Nên vì ngươi ta tỏ đuôi đầu: Ðống xương dồn dập bấy lâu Cho nên trong đó biết bao cốt hài Chắc cũng có ông bà cha mẹ Hoặc thân ta hoặc kẻ ta sinh Luân hồi sanh tử, tử sinh Lục thân đời trước thi hài còn đây Ta lễ bái kính người tiền bối Và ngậm ngùi nhớ tới kiếp xưa Ðống xương hỗn tạp chẳng vừa Không phân trai gái bỏ bừa khó coi Ngươi chịu khó xét soi cho kỹ Phân làm hai, bên nữ bên nam Ðể cho phân biệt cốt phàm Không còn lộn lạo nữ nam chất chồng. Ðức A Nan trong lòng tha thiết Biết làm sao phân biệt khỏi sai Ngài bèn xin Phật chỉ bày Khó lòng chọn lựa gái trai lúc này Còn sinh tiền dễ bề sắp đặt Cách đứng đi ăn mặc phân minh Ðến khi rã xác tiêu hình Xương ai như nấy khó nhìn khó phân Phật mới bảo A Nan nên biết: Xương nữ nam phân biệt rõ ràng Ðàn ông xương trắng nặng hoằng Ðàn bà xương nhẹ đen thâm dễ nhìn. Ngươi có biết cớ chi đen nhẹ? Bởi đàn bà sinh đẻ mà ra Sanh con ba đấu huyết ra Tám hộc, bốn đấu sữa hòa nuôi con Vì cớ ấy hao mòn thân thể Xương đàn bà đen nhẹ hơn trai. A Nan nghe vậy bi ai Xót thương cha mẹ công dày dưỡng sanh Bèn cầu Phật thi ân dạy bảo Phương pháp nào báo hiếu song thân? Thế Tôn mới giảng ân cần: Vì ngươi ta sẽ phân trần, lóng nghe Thân đàn bà nhiều bề cực nhọc Sanh đặng con mười tháng cưu mang Tháng đầu thai đậu tợ sương Mai chiều gìn giữ sợ tan bất thường Tháng thứ nhì dường như sữa đặc Tháng thứ ba như cục huyết ngưng Bốn tháng đã tượng ra hình Năm tháng ngũ thể hiện sinh rõ ràng Tháng thứ sáu lục căn đều đủ Bảy tháng thì đủ bộ cốt xương Lại thêm đủ lỗ chơn lông Cộng chung đến số tám muôn bốn ngàn Tháng thứ tám hoàn toàn tạng phủ Chín tháng thì đầu đủ vóc hình Mười tháng thì đến kỳ sinh Nếu con hiếu thuận xuôi mình ra luôn. Bằng ngỗ nghịch làm buồn thân mẫu Nó vẫy vùng, đạp quấu lung tung Làm cho cha mẹ hãi hùng Sự đau, sự khổ không cùng tỏ phân Khi sinh sản muôn phần an lạc Cũng ví như được bạc, được vàng. Thế Tôn lại bảo A Nan: Ơn cha nghĩa mẹ mười phần phải tin Ðiều thứ nhứt-giữ gìn thai giáo Mười tháng trường châu đáo mọi bề. Thứ hai-sinh sản gớm ghê Chịu đau chịu khổ mỏi mê trăm phần. Ðiều thứ ba-thâm ân nuôi dưỡng Cực đến đâu bền vững chẳng lay. Thứ tư-ăn đắng nuốt cay Ðể dành bùi ngọt đủ đầy cho con. Ðiều thứ năm-lại còn khi ngủ Ướt mẹ nằm, khô ráo phần con. Thứ sáu-sú nước nhai cơm Miễn con no ấm chẳng nhờm chẳng ghê. Ðiều thứ bảy-không chê ô uế Giặt đồ dơ của trẻ không phiền. Thứ tám-chẳng nở chia riêng Nếu con đi vắng cha phiền, mẹ lo. Ðiều thứ chín-miễn cho con sướng Dầu phải mang nghiệp chướng cũng cam Tính sao có lợi thì làm Chẳng màng tội lỗi, bị giam, bị cầm. Ðiều thứ mười-chẳng ham trau chuốt Dành cho con các cuộc thanh nhàn Thương con như ngọc như vàng Ơn cha nghĩa mẹ sánh bằng Thái Sơn. Phật lại bảo, A Nan nên biết: Trong chúng sanh tuy thiệt phẩm người Mười phần mê muội cả mười Không tường ơn trọng đức dày song thân Chẳng kính mến quên ơn trái đức Không xót thương dưỡng dục cù lao Ấy là bất hiếu mặc giao Những hạng người ấy đời nào nên thân. Mẹ sanh con cưu mang mười tháng Cực khổ dường gánh nặng trên vai Uống ăn chẳng đặng vì thai Cho nên thân thể hình hài kém suy. Khi sinh sản hiểm nguy chi xiết Sanh đặng rồi tinh huyết dầm dề Ví như thọc huyết trâu dê Nhất sinh thập tử nhiều bề gian nan. Con còn nhỏ lo toan săn sóc Ăn đắng, cay, bùi ngọt phần con Phải tắm phải giặt rửa trôn Biết rằng dơ dáy mẹ không ngại gì. Nằm phía ướt con nằm phía ráo Sợ cho con ướt áo, ướt chăn Hoặc khi ghẻ chóc khắp thân Ắt con phải chịu trăm phần thảm thương. Trọn ba năm bú nương sữa mẹ Thân gầy mòn nào nệ với con Khi con vừa được lớn khôn Cha mẹ dạy bảo cho con vỡ lòng Con đi học mở thông trí tuệ Dựng vợ chồng cho dễ làm ăn Ước mong con được nên thân Dầu cho cha mẹ cơ bần quản chi. Con ốm đau tức thì lo chạy Dầu tốn hao đến mấy cũng đành Khi con căn bệnh đặng lành Thì cha mẹ mới an thần định tâm. Công dưỡng dục sánh bằng non biển Cớ sao con chẳng biết ơn này Hoặc khi lầm lỗi bị rầy Chẳng tuân thì chớ, lại bày ngỗ ngang. Hỗn cha mẹ phùng mang trợn mắt Khinh trưởng huynh, nộ nạt thê nhi Bà con chẳng kể ra chi Không tuân sư phụ lễ nghi chẳng tường. Lời dạy bảo song đường không kể Tiếng khuyên răn anh chị chẳng màng Trái ngang chóng báng mọi đàng Ra vào lui tới mắng càn người trên. Vì lỗ mãng tánh quen làm bướng Chẳng kể lời trưởng thượng dạy răn Lớn lên theo thói hung hăng Ðã không nhẫn nhịn, lại càng làm hung. Bỏ bạn lành, theo cùng chúng dữ Nết tập quen, làm sự trái ngang Nghe lời dụ dỗ huyênh hoang Bỏ cha bỏ mẹ trốn sang quê người. Trước còn tập theo thời theo thế Thân lập thân, tìm kế sinh nhai Hoặc đi buôn bán kiếm lời Hoặc vào quân lính với đời lập công. Vì ràng buộc đồng công mối nợ Hoặc trở ngăn vì vợ, vì con Quên cha, quên mẹ tình thâm Quên hương xứ sở lâu năm không về. Ấy là nói những người có chí Chớ phần nhiều du hí mà thôi Sau khi phá hết của rồi Phải tìm phương kế kiếm đôi đồng xài. Theo trộm cướp, hoặc là bài bạc Phạm tội hình, tù rạc phải vương Hoặc khi mang bệnh giữa đường Không người nuôi dưỡng, bỏ thân ngoài đồng. Hay tin dữ bà con cô bác Cùng mẹ cha xao xác buồn rầu Thương con than khóc ưu sầu Có khi mang bịnh đui mù vấn vương Hoặc bịnh nặng vì thương quá lẽ Phải bỏ mình làm quỉ giữ hồn Hoặc nghe con chẳng lo lường Trà đình tửu điếm phố phường ngao du Cứ mải miết con đường bất chính Chẳng mấy khi thần tỉnh mộ khan Làm cho cha mẹ than van Sinh con bất hiếu phải mang tiếng đời. Hoặc cha mẹ đến hồi già yếu Không ai nuôi thốn thiếu mọi điều Ốm đau đói rách kêu rêu Con không cấp dưỡng, bỏ liều chẳng thương. Phận con gái khi nương cha mẹ Còn có lòng hiếu để thuận hòa Cần lao phục dịch trong nhà Dễ sai, dễ khiến hơn là nam nhi. Song đến lúc, tùng phu xuất giá Lo bên chồng chẳng sá bên mình Trước còn lai vãng đến thăm Lần lần nguội lạnh biệt tăm biệt nhà. Quên dưỡng dục song thân ân trọng Không nhớ công mang nặng đẻ đau Chẳng lo báo bổ cù lao Làm cho cha mẹ tuôn trào lệ rơi. Nếu mẹ cha la rầy quở mắng Trở sanh lòng hờn giận chẳng kiên Ðến khi chồng đánh liên miên Thì cam lòng chịu chẳng phiền chẳng than. Tội bất hiếu lưỡng ban nam nữ Nói không cùng nghiệp dữ phải mang Nghe Phật chỉ rõ mọi đàng Tất cả đại chúng lòng càng thảm thay. Gieo xuống đất, lấy cây lấy củi Ðập vào mình, vào mũi, vào hông Làm cho các lỗ chân lông Thảy đều rướm máu ướt dầm cảm thân Ðến hôn mê tâm thần bất định Một giây lâu mới tỉnh than rằng: Bọn ta quả thật tội nhân Xưa nay chẳng rõ, không hơn người mù. Nay tỏ ngộ biết bao lầm lạc Ruột gan dường như nát như tan Tội tình khó nỗi than van Làm sao trả đặng muôn ngàn ân sâu. Trước Phật tiền ai cầu trần tố Xin Thế Tôn mẫn cố bi lân Làm sao báo đáp thâm ân Tỏ lòng hiếu thuận song thân của mình? Phật bèn dùng phạm thinh sáu món Phân tỏ cùng đại chúng lóng nghe Ân cha, nghĩa mẹ nặng nề Không phương báo đáp cho vừa sức đâu. Ví có người ân sâu dốc trả Cõng mẹ cha tất cả hai vai Giáp vòng hòn núi Tu Di Ðến trăm ngàn kiếp ân kia chưa vừa. Ví có người gặp cơn đói rét Nuôi song thân dâng hết thân này Xương nghiền thịt nát phân thây Trải trăm ngàn kiếp ân đây chưa đồng. Ví có người vì công sanh dưỡng Tự tay mình khoét thủng song ngươi Chịu thân mù tối như vầy Ðến trăm ngàn kiếp ơn này thấm đâu. Ví có người cầm dao thiệt bén Mổ bụng ra rút hết tâm can Huyết ra khắp đất chẳng than Ðến trăm ngàn kiếp thâm ân đâu bằng. Ví có người dùng ngàn mũi nhọn Ðâm vào mình bất luận chỗ nào Tuy là sự khó biết bao Trải trăm ngàn kiếp không sao đáp đền. Ví có người vì ân dưỡng dục Tự treo mình, cúng Phật thế đèn Cứ treo như vậy trọn năm Trải trăm ngàn kiếp ân thâm chưa đền. Ví có người xương nghiền ra mỡ Hoặc dùng dao chặt bửa thân mình Xương tan, thịt nát chẳng phiền Ðến trăm ngàn kiếp ơn trên chưa đồng. Ví có người vì công dưỡng dục Nuốt sắt nóng thấu ruột thấu gan Làm cho thân thể tiêu tan Ðến trăm ngàn kiếp chưa ngang ơn này. Nghe Phật nói thảy đều kinh khủng Giọt lệ tràn khó nỗi cầm ngăn Ðồng thanh bạch với Phật rằng Làm sao trả đặng thâm ân song đường? Phật mới bảo các hàng Phật tử: Phải lắng nghe ta chỉ sau này Chúng ngươi muốn đáp ơn dày Phải nên biên chép kinh đây lưu truyền. Vì cha mẹ trì chuyên phúng tụng Cùng ăn năn những tội lỗi xưa Cúng dường Tam Bảo sớm trưa Cùng là tu phước, chẳng chừa món chi. Rằm tháng Bảy là ngày Tự Tứ Mười phương Tăng đều dự lễ này Sắm sanh lễ vật đủ đầy Chờ giờ câu hội đặt bày cúng dâng Ðặng cầu nguyện song đường trường thọ Hoặc sanh về Tịnh Ðộ an nhàn Ấy là báo đáp thù ân Sanh thành dưỡng dục song thân của mình. Phật tử phải cần chuyên trì giới Pháp Tam Quy, ngủ giới giữ gìn Những lời ta dạy đinh ninh Phải nên vâng giữ thi hành đừng sai. Ðược như vậy mới là khỏi tội Bằng chẳng thì ngục tối phải sa Trong năm đại tội kể ra Bất hiếu thứ nhứt, thật là trọng thay. Sau khi chết, bị đày vào ngục Ngũ Vô Gián cũng gọi A Tỳ Ngục này trong núi Thiết Vi Vách phên bằng sắt vây quanh bốn bề. Trong ngục này hằng ngày lửa cháy Ðốt tội nhân hết thảy thành than Có lò nấu sắt cho tan Rót vào trong miệng tội nhân hành hình. Một vá đủ cho người thọ khổ Lột thịt da đau thấu tâm can Lại còn chó sắt cắn gang Phun ra khói lửa đốt đoàn tội nhân. Ở trong ngục có giường bằng sắt Bắt tội nhơn nằm khắp đó xong Rồi cho một ngọn lửa hồng Nướng quay chúng nó da phồng thịt thau. Móc bằng sắt thương đao gươm giáo Trên không trung đổ xuống như mưa Gặp ai chém nấy chẳng chừa Làm cho thân thể như dưa chín muồi. Những hình phạt vô phương kể hết Mỗi ngục đều có cách trị riêng Như là xe sắt phân thây Chim ưng mổ bụng trâu cày lưỡi le. Nếu chết được, chết liền cho đỡ Vì nghiệp duyên không nỡ hành thân Ngày đêm sống chết muôn lần Ðến trăm ngàn kiếp không ngừng một giây. Sự hành phạt tại A Tỳ ngục Rất nặng nề ngỗ nghịch song thân Chúng ngươi đều phải ân cần Thừa hành lời dạy, phân trần ở trên. Nhứt là phải kinh nầy biên chép Truyền bá ra cho khắp Ðông Tây Như ai chép quyển kinh nầy Cũng bằng đặng thấy một vì Thế Tôn. Nếu in đặng nghìn muôn quyển ấy Thì cũng bằng thấy Phật vạn thiên Tùy theo phước báo lưu truyền Chư Phật ủng hộ sở nguyền viên dung. Cha mẹ đặng xa miền khốc lãnh Lại hóa sanh về cảnh thiên cung Nghe lời Phật giảng vừa xong Khắp trong tứ chúng một lòng kính vâng. Lại phát nguyện dù thân này nát Ra bụi tro muôn kiếp chẳng nài Dầu cho kéo lưỡi trâu cày Ðến trăm ngàn kiếp lời thầy không quên. Ví như bị trăm ngàn dao mác Khắp thân này bằm nát như tương Trải trăm ngàn kiếp khôn lường Chúng con gìn giữ như phương thuốc mầu. Ðức A Nan âu sầu đảnh lễ Cầu Thế Tôn đặt để hiệu kinh Dễ bề truyền bá chúng sanh Chuyên trì phúng tụng tu hành mai sau. Phật mới bảo A Nan nên biết: Quyển kinh này quả thiệt cao xa Ðặt tên "BÁO HIẾU MẸ CHA" Cùng là "ÂN TRỌNG" thật là chơn kinh. Các ngươi phải giữ gìn châu đáo Ðể đời sau, y giáo phụng hành. Sau khi, Phật dạy đành rành Bốn hàng Phật tử tâm thành vui theo. Cùng một lòng vâng lời Phật dạy Và kính thành tin chắc vẹn truyền Ðồng nhau tựu lại Phật tiền Nhất tâm đảnh lễ, rồi liền lui ra. Nam Mô Ðại Hiếu Mục Kiền Liên Bồ Tát Ma Ha Tát. (3 lần)
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét