THÍCH TÂM TRỌNG

THÍCH TÂM TRỌNG
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT

Thứ Ba, 30 tháng 10, 2012

BỐ THÍ ĐỘ

BỐ THÍ VƯỢT BỜ Nghe như vầy. Một thời đức Phật ở nước Vương Xá, trong núi Diều. Bấy giờ Ngài cùng ngồi với năm trăm La hán và một ngàn Bồ tát. Trong đó có Bồ tát tên A Nê Sát, khi Phật nói pháp, thường tĩnh tâm lắng nghe, yên lặng không vọng niệm, ý để nơi kinh. Đức Phậtbiết vậy, nên giảng hạnh cao khó bì về sáu độ vô bờ của Bồ tát. Thế nào là sáu? Một là bố thí, hai là trì giới, ba là nhẫn nhục, bốn là tinh tấn, năm là thiền định, sáu là hạnh cao của trí sáng vượt bờ. Bố thí vượt bờ ấy là sao? Là yêu nuôi người vật, thương xót lũ tà, vui hiền, giúp người thành đạt, cứu giúp chúng sinh, vượt cả đất trời, thấm khắp biển sông, bố thí chúng sinh, người đói cho ăn, kẻ khát cho uống, lạnh cho mặc, nóng cho mát, người bệnh cho thuốc, xe ngựa thuyền bè, các vật trân báu, vợ con, đất nước... ai xin liền cho. Như thái tử Tu Đại Noa, bố thí người nghèo thiếu, như cha mẹ nuôi con, vua cha đuổi đi, vẫn thương không oán. 1 Xưa có Bồ tát, lòng rõ lẽ chân, thấy đời vô thường, mạng sang khó giữ, đem hết của cải bố thí. Trời Đế Thích thấy Bồ tát thương nuôi quần sinh, bố thí cứu người, công cao vòi vọi, đức cảm mười phương, sợ đoạt ngôi mình, nên hóa địa ngục hiện ở trước mặt, nói rằng: “Bố thí cứu người khi chết hồn linh đọa vào địa ngục núi Thái, muôn độc nấu đốt. Bố thí chịu hại, Ngài còn bố thí làm gì?” Bồ tát đáp: “Há có chuyện làm phước mà vào địa ngục núi Thái sao?” Đế Thích đáp: “Nếu Ngài không tin, có thể hỏi tội nhân xem”. Bồ tát hỏi: “Ngươi vì cớ gì mà ở địa ngục?” Tội nhân đáp: “Tôi xưa ở đời, đem hết cửa nhà, ra giúp người nghèo, cứu vớt người nạn, nên nay tội nặng, ở ngục núi Thái”. Bồ tát hỏi: “Nếu người nhân từ bố thí mà bị tai ương, thì người nhận thí thế nào?”. Đế Thích đáp: “Người nhận của thí, khi chết lên trời”. Bồ tát đáp: “Việc ta cứu giúp, chỉ vì chúng sinh. Nếu đúng lời ngươi thì đó chính là chí nguyện của ta. Vì thương giúp mà chịu tội, ta cũng quyết làm, nguy thân cứu người, đó là chí nguyện cao cả của Bồ tát.” - Đế Thích hỏi: “Ngài có chí nguyện gì mà chuộng cao hạnh này?” - Bồ tát đáp: “Ta muốn cầu Phật cứu giúp chúng sinh, khiến được niết bàn, không còn sinh tử”. Đế Thích nghe nói mục đích thánh thiện, nhân thế cúi đầu nói: “Thật không có việc người bố thí thương giúp chúng sinh mà lìa phúc chịu họa, vào địa ngục núi Thái. Nhưng vì đức Ngài động đến đất trời, sợ đoạt ngôi tôi nên mới hiện địa ngục để mê hoặc ý chí Ngài. Kẻ ngu lừa dối bậc thánh, xin Ngài tha tội nặng ấy”. Khi đã hối lỗi xong, cúi đầu lui ra. Hạnh thương cho vượt bờ của Bồ tát, bố thí như vậy. 2 Xưa có Bồ tát là vua nước lớn, hiệu Tát Ba Đạt, bố thí chúng sinh, xin gì đều cho, thương giúp người nạn, lòng thương xót xa. Trời Đế Thích thấy vua thương cho, đức trùm mười phương. Trời, rồng, quỷ, thần đều nói: "Ngôi cao Thiên đế xưa nay thường không phải của một người. Ai giới đủ hạnh cao, thương cho phúc lớn, khi chết hồn lên thì làm Thiên đế. Sợ đoạt ngôi mình, Đế Thích muốn đến thử để rõ chân ngụy, bèn sai Biên Vương rằng: “Nay vua người kia, lòng từ rộng lớn, phúc đức vòi vọi, e có chí muốn đoạt đế vị của ta. Vậy ngươi hãy hóa làm chim bồ câu, mau bay đến chỗ vua, giả vờ sợ hãi, xin vua kia thương. Vua ấy nhân từ, ắt cho ngươi ở. Ta sẽ đến sau, theo vua đòi ngươi. Vua hẳn không trả, phải ra chợ mua thịt đền cho bằng chỗ ấy. Ta không ngừng dối, còn lòng vua thì chân chất trong sạch, chứ chẳng bao giờ sai, cuối cùng tự cắt thịt mình cho bằng với trọng lượng chim kia. Nếu thịt cân cứ theo đó mà nặng dần, khi thịt hết, thân đau, vua ắt hối tiếc. Lòng đã hối tiếc thì chí nguyện không thành”. Đế Thích liền hóa diều hâu, còn Biên Vương hóa làm bồ câu. Bồ câu bay vụt đến dưới chân vua, sợ hãi nói rằng: “Xin đại vương thương tôi, mạng tôi cùng rồi”. Vua nói: “Chớ sợ, chớ sợ, ta nay cứu ngươi”. Diều hâu theo sau tìm đến, hướng về vua nói: “Bồ câu tôi vừa đến, bồ câu là món ăn của tôi, xin vua trả lại”. Vua nói: “Bồ câu đem mạng đến nương ta, ta đã nhận cho nó nương nhờ rồi, ta nói ra phải giữ chữ tín, trước sau không sai. Nếu ngươi muốn thịt thì ta tự nạp đủ nặng hơn trăm lần”. Diều hâu nói: “Tôi chỉ muốn thịt bồ câu thôi, chứ không dùng các thịt khác, mong vua cho lại, chứ sao cướp món ăn của tôi?”. Vua nói: “Ta đã nhận cho nó nương nhờ, chữ tín nặng như đất trời, thì lòng nào làm trái được. Vậy ta phải lấy món gì để ngươi vui vẻ cho bồ câu ở lại mà ra đi?”. Diều hâu nói: “Nếu lòng vua thương cho, ắt là người cứu chúng sinh, vậy hãy cắt thịt vua cho bằng thịt chim bồ câu thì tôi vui lòng mà nhận”. Vua nói: “Tốt lắm”. Liền tự cắt thịt bắp vế để cân cho bằng thịt chim câu. Chim câu nặng dần, vua tự cắt mình như vậy, cho đến khi thịt mình đã hết, mà cân vẫn chưa bằng. Vết thương trên thân đau đớn vô cùng. Vua vì lòng thương mà chịu đựng, mong cho bồ câu được sống, nên bảo cận thần: “Ngươi mau giết ta, lấy tủy để cân cho nặng bằng thịt chim câu đi. Ta vâng lời chư Phật, nhận trọng giới chân chính để cứu nguy ách cho chúng sinh, tuy có bị lũ tà não loạn, nhưng cũng như làn gió nhẹ, làm sao có thể lay được núi Thái?” Diều hâu thấy chí vua, giữ đạo không đổi, hạnh thương cho khó sánh, nên hiện lại thân trước. Đế Thích và Biên Vương đều cúi đầu xuống đất nói: “Đại vương mong muốn điều gì, mà chịu khổ não như vậy?”. Vua người đáp: “Chí ta không muốn ngôi trời Đế Thích hay Phi hành hoàng đế. Ta thấy chúng sinh đắm chìm trong mờ tối, không thấy ba ngôi báu, không nghe lời Phật dạy, buông lòng nơi việc làm hung ác, quăng thân vào ngục Vô trạch, thấy họ ngu hoặc như vậy mà lòng đau xót, nên ta thệ nguyện được quả Phật để cứu vớt chúng sinh khỏi khốn ách, khiến chứng Niết bàn”. Trời Đế Thích kinh sợ nói: “Kẻ ngu này vì cho Đại vương muốn cướp ngôi mình nên mới quấy nhiễu Ngài. Vậy Ngài có điều gì để dạy bảo tôi?” Vua nói: “Hãy khiến vết thương thân ta bình phục như cũ, để lòng ta yêu chuộng các hạnh bố thí cao hơn nay”. Trời Đế Thích liền sai thiên y thần dược truyền thuốc vào người vua, vết thương liền lành, sắc mặt và sức lực còn đẹp mạnh hơn trước. Những vết thương đầy mình như vậy bỗng chốc lành lặn. Đế Thích cúi đầu rồi đi quanh vua ba vòng, vui vẻ ra đi. Từ đó về sau, vua lại bố thí hơn xưa. Hạnh thương cho vượt bờ của Bồ tát, bố thí như vậy. 3 Xưa có vị Bồ tát rất đỗi nghèo khổ, cùng các lái buôn đi đến nước khác. Họ đều có chí tin Phật, bố thí kẻ nghèo thiếu, cứu giúp chúng sinh. Mọi người đều nói: "Bọn ta đều thương cho, còn ngươi định lấy gì để cho?". Bồ tát đáp: "Thân này là thứ tạm mượn, không gì là không thể bỏ đi. Tôi thấy cá biển, lớn bé ăn nhau, nên lòng đau xót. Vậy tôi sẽ đem thân mình, thay cho bọn cá nhỏ, để chúng nó được toàn mạng trong chốc lát". Bèn liền tự nhảy xuống biển, cá lớn nhờ vậy được no, cá nhỏ được sống. Hồn linh Bồ tát hóa làm vua cá chiên, thân dài mấy dặm. Bên bờ biển có một nước nọ, nước ấy bị hạn, dân chúng đói khát, ăn thịt lẫn nhau. Cá thấy vậy rơi lệ nói rằng: "Chúng sinh rối loạn, nỗi khổ đau thay! Thân ta có thịt mấy dặm, có thể cung cấp cho dân thiếu thốn mươi tháng ". Bèn tự phơi mình lên bãi biển nước ấy. Cả nước ăn thịt cá, mà được toàn sinh mạng. Lấy thịt mấy tháng mà cá vẫn sống. Thiên thần hiện xuống nói: "Ngươi có thể chịu nổi đau không? Sao không chết đi, để giải thoát cái đau đớn ấy". Cá nói: "Nếu tôi chết đi, hồn lìa thân nát; sau này dân chúng đói khát, lại ăn thịt nhau, tôi không nỡ nhìn, vì lòng thương họ". Thiên thần nói:"Bồ tát ôm lòng từ khó sánh! ". Thiên thần vì vậy đau lòng nói: "Ngài ắt thành Phật, độ cho chúng tôi". Có người đem búa chặt lấy đầu cá. Lúc cá chết rồi, hồn linh liền hóa làm thái tử con vua. Vừa sinh ra đã có trí sáng bậc thượng thánh, rộng thương bốn ân, thấm khắp đất trời, thương dân nghèo khó, nghẹn ngào lời nói. Nước ấy vẫn hạn. Thái tử sạch lòng chay lạt, bỏ ăn nhịn hiến, cúi đầu hối lỗi nói: "Dân chúng không lành, lỗi ở nơi ta. Xin bỏ thân này, cho dân được mưa móc". Ngày ngày than khóc như con chí hiếu gặp tang cha lành. Do lòng chí thành cảm đến nơi xa, nên có 500 vị Phật đến cõi nước ấy. Vua nghe lòng vui vẻ, quên cả thân mình, cúi đầu nghênh đón, mời về chính điện. Hoàng hậu, thái tử không ai không thành khẩn. Vua đem món ngon, áo đẹp cúng đủ các vật thiết, năm vóc gieo xuống đất, cúi đầu lễ bái, khóc lóc thưa rằng: "Con lòng nhơ, hạnh xấu, không vâng lời dạy đối với bốn ân tam bảo, làm khổ hại nhân dân, tội đáng chặt thân đày nơi hèn kém. Khô hạn đã lâu, lê dân đói khát, oán giận đau khổ thấy thương tình. Xin trừ tai ách cho dân, hành tội các lỗi của con". Đức Phật bảo: "Ngươi là ông vua nhân từ, có lòng thương xót nhân huệ, đức bằng trời Đế Thích, chư Phật đều biết. Nay ban cho ngươi phúc này, hãy yên lòng chớ lo âu, mau dạy dân đều trồng lúa". Vua liền y lệnh, trai gái có nghề, nhà nhà đều làm. Khi lúa trổ bông, nông quan đem báo. Vua nói: "Hãy đợi lúa chín". Lúa trổ bông khắp nước, đều chứa hạt lớn, có đến mấy hộc, mùi vị ngọt ngon, thơm lừng cả nước. Toàn cõi đều vui ca ngợi đức vua. Nước thù bốn phía đều đến xưng thần. Dân chúng thêm đông, cõi bờ ngày một mở rộng, khắp nước giữ giới, quy y tam bảo. Vua cùng thần dân sau khi chết rồi, đều sinh lên trời. Phật dạy: "Người nghèo lúc ấy là thân ta. Vì nhiều đời nhân từ bố thí cứu vớt chúng sinh, công đức không hoại diệt nên nay đắc quả làm Phật hiệu là Thiên Trung Thiên làm bậc Đại hùng trong ba cõi." Hạnh thương cho vượt bờ của Bồ tát, bố thí như vậy. 4 Xưa có Bồ tát, khi làm tu sĩ, thường ở núi đầm, chuyên cần giữ đạo, không phạm các ác, ăn trái rừng, uống nước suối không giữ món gì, nghĩ thương chúng sinh ngu si tự khốn, thấy ai nguy ách, liều mình cứu giúp. Trên đường đi tìm trái, gặp con cọp mẹ. Sau khi cho con bú, cọp mẹ mệt đuối vì thiếu ăn, đói khát tâm cuồng, muốn quay lại ăn con nó. Bồ tát thấy vậy, bỗng động lòng thương, buồn nghĩ chúng sinh ở đời ưu khổ không lường, mẹ ăn thịt con, nỗi đau khó nói, nghẹn ngào rơi lệ. Liền quay mình nhìn bốn phía tìm xem có gì cho cọp mẹ ăn, để cứu mạng cọp con, nhưng đều không thấy, trong lòng tự nghĩ: "Cọp là loài ăn thịt". Lại nghĩ: "Ta lập chí học đạo chỉ vì chúng sinh đắm chìm trong khổ đau nặng nề, lòng muốn cứu vớt, khiến xa tai họa, thân mạng vĩnh viễn an vui. Sau này ta rồi cũng già chết, thân này rốt cuộc cũng bỏ đi, chi bằng đem lòng bố thí cứu chúng sinh để đạt thành công đức". Bèn tự đưa đầu mình vào miệng cọp. Đem đầu cho cọp là muốn mau chết để không cảm thấy đau. Cọp mẹ cọp con đều được toàn mạng. Chư Phật ca ngợi công đức ấy bằng công đức bậc thượng thánh, trời rồng thiện thần và người có đạo đức không ai không tiếc thương. Ai tinh tấn cần hành hoặc đắc được quả Nhập lưu, Thất lai, Bất lai, La hán, Duyên giác, có người phát lòng vô thượng chánh giác, đem mãnh chí ấy, vượt trước hơn các Bồ tát được chín kiếp, thể ở đời năm dơ làm thầy trời người, độ kẻ nghịch ác, khiến tà theo chánh đạo. Hạnh thương cho vượt bờ của Bồ tát, bố thí như vậy. 5 Xưa có Bồ Tát làm đại quốc vương, nước tên Càn Di, vua hiệu Thiên Duyệt, trong sáng ngoài nhân, nét mặt hiền hòa ngay thẳng công bình, dân theo đức hóa, ngục không nhốt tù, lê dân nghèo thiếu, mặc lòng cầu xin, vua thương cho khắp, ân sánh Đế Thích, đạo sĩ nước khác phục vua nhân từ, bố thí theo lòng chúng muốn. Lũ tà ghen ghét, lấy ngụy hủy chân, bèn đến cửa cung nói: "Ta nghe vua sáng, cứu dân nghèo thiếu, như ơn trời phủ khắp". Rồi hỏi vệ sĩ: "Ngươi có thể tâu vua chăng?" Cận thần tâu lên, vua liền đi ra, đạo sĩ xuất hiện nói: "Đức vua sáng suốt, lòng nhân thấm đến bốn phương, các loại hữu thức, không ai không tha. Dám xin chấp nhận nguyện vọng mà tôi muốn tâu lên". Vua nói: "Tốt lắm!". Đạo sĩ nói: "Vua trời ưa bố thí, nếu xin chắc không trái ý. Bây giờ tôi cần đầu người để làm một việc. Nguyện xin đầu vua, để thỏa mong ước". Vua nói: "Đầu ta đẹp gì, mà ngươi muốn xin? Ta có các báu, cho ngươi lợi hơn". Đạo sĩ không nhận, vua lại sai thợ làm đầu bảy báu, mỗi thứ mấy trăm để cho đạo sĩ. Đạo sĩ nói: "Tôi chỉ muốn đầu vua thôi". Vua chưa từng trái ý, liền tự bước xuống điện, lấy tóc cột vào cây nói: "Ta lấy đầu cho ngươi đây". Đạo sĩ rút dao đi nhanh đến. Thần cây thấy vậy, giận người vô đạo, giơ tay tát vào má nó, mình liền vặn tréo, mặt bị méo xẹo, buông tay rơi dao. Vua được bình an, thần dân chúc thọ, buồn vui lẫn lộn. Chư thiên ca ngợi đức vua: "Đáng gọi là nội thí sao?". Bốn vua trời ủng hộ, các độc tiêu hết, trong nước không bệnh, lúa đậu trúng mùa, lao ngục phá tan, vua tôi vui vẻ. Đức Phật bảo các Sa môn: "Vua nước Càn Di bấy giờ là thân ta, đạo sĩ là Điều Đạt vậy". Hạnh thương cho vượt bờ của Bồ tát, bố thí như vậy. 6 Xư a có Bồ tát làm đại quốc vương, lấy lòng nhân trị dân quên mình giúp người. Tháng tháng đi tuần để cứu giúp kẻ nghèo thiếu. Người cô quả bệnh tật thì cho thuốc men cơm cháo. Mỗi khi đi tuần thú, bảo hậu xa chở đủ các vật báu, áo mền thuốc men... người chết cho chôn. Khi thấy dân nghèo, vua tự trách lỗi mình: "Vua nghèo đức, dân mới mghèo; Vua giàu đức thì nhà dân đủ. Nay dân nghèo tức ta nghèo". Vua nhân từ như vậy nên tiếng đồn khắp mười phương. Đế Thích thứ hai ngồi lo nóng nảy. Lòng Đế Thích sợ nghĩ: “Đức kia vòi vọi, ắt đoạt ngôi ta. Ta phá chí nó thì hạnh ấy mới hết”. Bèn tự hóa làm một lão phạm chí, theo vua xin một nghìn đồng bạc. Vua liền lấy cho. Lão nói: "Tôi tuổi già xế bóng, sợ người trộm mất, vậy xin gởi vua". Vua nói: "Nước ta không có trộm cắp." Lão lại nói: "Xin gửi vua." Vua liền nhận giữ. Đế Thích lại hóa làm phạm chí, đến cửa cung. Cận thần tâu vua, vua liền đi ra, phạm chi ấy than rằng: "Công huân và tiếng tăm của Đại vương, bủa khắp tám phương, đức hạnh hiếm có, vì vậy nay tôi từ xa đến có điều muốn xin". Vua nói: "Tốt lắm!" Phạm chí nói: "Tôi xưa bạc phước, sinh nhà hèn hạ, nhưng thích sang quý, nên muốn xin nước này". Vua nói: "Rất tốt". Bèn cùng vợ con lên chiếc xe nhỏ ra đi. Vua trời lại hóa làm phạm chí, theo vua xin chiếc xe. Vua lấy xe ngựa cho rồi cùng vợ con lên đường, tựa núi nghỉ đêm. Có vị đạo sĩ chứng năm thần thông, là bạn của vua, bỗng nhớ đức vua, ngước xem sao trời, biết vua mất nước, bèn tĩnh tâm thiền định, thấy trời Đế Thích tham lam tật đố, chiếm đoạt đất nước, khiến vua suy yếu mệt mõi. Đạo sĩ dùng bước chân thần, bỗng đến chỗ vua, hỏi: "Ngài mong cầu chi, mà chịu lao chi đến vầy?" Vua đáp: "Chí ta muốn gì, Ngài đã biết rồi!". Đạo sĩ liền hóa ra cái xe có càng, để đưa vua về, khi sao sớm đã mờ. Trời Đế Thích hóa làm vị phạm chí, lại theo xin xe, vua lại lấy cho. Dần dần đi về nước ấy chưa tới vài mươi dặm, trời lại hóa ra vị phạm chí đầu tiên đến đòi tiền bạc. Vua nói: "Ta đã đem nước cho người, mà quên mất tiền của ngươi". Phạm chí nói: "Hẹn vua ba ngày trả tiền lại cho tôi". Vua liền đem vợ con đến cầm ở một nhà nọ được một ngàn đồng bạc để trả cho phạm chí. Vợ vua hầu cô con gái nhà ấy. Cô gái đi tắm, cởi vòng ngọc châu và các món báu trong mình ra treo ở cái giá, trời lại hóa làm chim ó, cắp lấy áo và châu báu bay đi. Cô gái đổ cho tỳ nữ trộm lấy, liền bắt giam vào ngục. Đứa con vua nằm ngủ chung với con chủ nhà, ban đêm trời đến giết đứa con chủ nhà. Nhà có con chết ấy, bắt con vua giam vào ngục. Mẹ con đều bị nhốt, đói khát tiều tụy, kêu than không ai cứu. Cả ngày khóc than. Khi đã định tội, đem bỏ ngoài chợ. Vua làm thuê được một ngàn đồng bạc, đến chuộc vợ con về. Đi ngang qua chợ thấy vợ con như vậy liền tưởng nhớ mười phương chư Phật, tự hối lỗi rằng: "Kiếp trước thân ta độc ác đến thế sao?" Rồi tĩnh tâm nhập định, nhờ ánh sáng của thần thông thấy được việc của Đế Thích làm. Lúc ấy giữa trời có tiếng nói rằng: "Sao không mau giết đi" Vua nói: "Ta nghe Đế Thích cứu khắp chúng sinh, lòng son thương xót, nuôi nấng hơn mẹ hiền, dẫu loài ngậm máu phun người không ai không chịu ơn giúp đỡ. Ngươi cũng vì không có ác duyên mà được ngôi vị Đế Thích đấy sao? Đế Thích vì ôm lòng độc dữ, khi độc ác chín mùi thì thành tội, còn sống mà đã đọa vào ngục núi Thái sơn". Trời người, rồng, quỉ không ai không khen ngợi vua. Vua chúa đất liền giải tội cho vợ con vua. Hai vua gặp nhau tìm hỏi căn nguyên, và kể rõ đầu đuôi, lớn bé cả nước ai cũng rơi lệ. Vua chúa đất liền chia nước ra cho vua cai trị. Thần dân nước cũ, tìm đến chỗ vua, cả nước nghênh đón. Vua tôi hai nước, bên vui, bên buồn. Vua khi ấy là thân ta, người vợ nay là Câu Di, đứa con nay là La Vân, thiên đế nay là Điều Đạt, phạm chí trong núi là Xá Lợi Phất, vua nước kia là Di Lặc vậy. Hạnh thương cho vượt bờ của Bồ tát, bố thí như vậy. 7 Xưa có Bồ tát làm đại quốc vương, lấy điều ngay thẳng trị dân, lòng không thiên lệch, nhưng không đi xem xét dân tình. Vị tướng quốc tâu: "Xin vua đi xem một lần". Vua nói: "Tốt lắm". Hôm sau liền đi. Dân chúng vui vẻ, đều được như ý, vua thấy nhà giàu trong nước ở nhà đẹp đẽ, lợp ngói vàng bạc, ăn mặc rực đường. Bèn nói: "Nước ta giàu thay!" Lòng rất vui mừng, về cung nhớ lại nghĩ rằng: "Các nhà giàu này có ích gì cho nước đâu?" Liền sai kiểm kê của cải, lấy để nuôi quân. Có một nhà giàu, của riêng có ba nghìn vạn, viết sớ dâng vua. Vua giận nói: "Sao dám dối mặt ta ư?". Người ấy trả lời: "Tôi từ nhỏ làm ăn, đại khái có ít của riêng, còn châu báu trong nhà đều là phần của năm nhà, chứ không phải của riêng tôi". Vua nói:" Sao gọi là của riêng?". Người ấy đáp: "Lòng nhớ sự nghiệp Phật. Miệng nói lời Phật dạy. Thân làm việc Phật, bỏ phần của năm nhà ra dựng chùa Phật, thờ kính bậc hiền thánh, cúng dường áo cơm, thương nuôi các loài bò bay máy cựa. Việc gì lòng không ưa thì không đem đến cho kẻ khác. Cái phúc đức này theo ta như bóng theo hình, nên gọi là của riêng. Còn phần của năm nhà, một là nước, hai là lửa, ba là giặc, bốn là quan, năm là mạng chết. Thân đi, của quí trong nhà bỏ lại cho đời, một mình ra đi, của họa phước chưa biết tới đâu. Thấy đời như huyễn, nên không dám có. Nếu kể phần của năm nhà thì có đến cả mười ức. Đây là sào huyệt của tai họa, thường sợ nguy mình, há dám có của sao? Xin quân sĩ hãy chở đi, để trừ mối lo cho tôi.". Vua nói: "Thành thật thay lời nói ấy!" Bèn cho phép người ấy ra đi. Vua trở về thư phòng, lắng tâm tinh tấn suy nghĩa liền tỉnh ngộ rằng: "Thân này còn không giữ được, huống gì đất nước, vợ con, những thứ ấy có thể được lâu dài sao?" Bèn soạn chép kinh Phật, đọc văn giải nghĩa, lòng dơ theo đó gột sạch, tiến quan trung trinh, nhận lời can gián, đại xá cả nước, trả của báu lại cho dân, đối xử tốt với quần thần, bàn luận việc khoan chính. Vua gọi quần thần bảo: “Phàm người không thấy nghĩa mầu và giới trọng của kinh Phật thì kẻ ấy là đui điếc. Người nhà giàu kia thì giàu, chỉ có ta là nghèo”. Bèn truyền phân chia của báu cho người trong nước, cấp đỡ người nghèo, cho dân những gì họ muốn, lập chùa miếu Phật, giăng lụa đốt hương, dâng cơm cho các sa môn, tự thân giữ sáu ngày trai. Cứ như vậy ba năm, bốn cõi yên tĩnh, giặc cướp đều hết, ngũ cốc được mùa, dân hết đói lạnh. Sau khi chết vua sinh lên cõi trời thứ hai. Đức Phật bảo các sa môn: “Ông vua bấy giờ là thân ta, người nhà giàu là Thu Lộ Tử (Xá Lợi Phất), người khuyên vua đi xem xét dân tình là A Nan”. Hạnh thương cho vượt bờ của Bồ tát, bố thí như vậy. 8 Xưa Bồ tát là một nhà giàu lớn tên Tiên Thán, của giàu vô số, thấy giáo pháp sáng suốt của Phật, biết đời vô thường, mạng sống khó giữ, của cải chẳng phải mình có, chỉ có công đức bố thí là không hư mất, liền báo cho dân rằng: “Nếu ai nghèo thiếu thì cứ theo ý muốn mà đến lấy đi”. Như vậy trải qua vài tháng. Bấy giờ chính sách khoan hồng nên dân chúng giàu có không ai thiếu của. Tiên Thán nghĩ rằng: “Chỉ nên mua thuốc, giúp người đau yếu”. Liền mua thuốc hay, cứu mạng chúng sinh, thương nuôi đến khắp, ơn cho không đâu không tới. Bố thí nhiều năm, đức thơm tỏa xa, người bệnh bốn phương kéo về, từ đầu đến cuối đều khen đức rộng thấm sánh ngang với trời. Tiền của hết sạch, bèn tự mình đi tìm châu báu. Cách nhà hơn trăm dặm, ở trên một bờ sông, gặp vài xe chở những người bệnh nặng đến. Tiên Thán hỏi: “Quí vị đi đâu vậy?” những người ấy đáp: “Đến chỗ Tiên Thán, hầu được sống trọn mạng thừa”. Tiên Thán liền quay về, mượn vua 500 lượng vàng, mua thuốc chữa trị, những người bệnh đều được khỏi. Rồi tự mình cùng những người buôn vào biển tìm của báu, kiếm được rất nhiều. Khi trở về nước, bèn để trên thuyền rồi đi bộ về. Trên đường đi thiếu nước Tiên Thán gặp một cái giếng bèn kêu mọi người đến múc, rồi tự lấy nước mà uống. Các người buôn thấy Tiên Thán kiếm được bạch châu lóng lánh tuyệt vời, lòng tham càng dữ, muốn hủy bậc thánh, hại người nhân, bèn cùng nhau xô Tiên Thán xuống cái giếng ấy. Nhưng vì Bồ tát nhân đức nên cảm động đến thần kỳ, thiên thần rước lấy, khiến không bị thương tích. Con buôn về nước. Vua hỏi: “Tiên Thán đi đâu rồi?”. Bọn ấy đáp: “Ra khỏi nước liền biệt dạng, không biết đi nơi nào”. Vua hỏi: “Bọn bây đã giết rồi sao?”. Bọn ấy đáp: “Dạ, không phải”. Tiên Thán ở dưới giếng, thấy bên giếng có cái lỗ trống liền men theo đó mà ra khỏi cái giếng của nhà kia. Chỉ bảy ngày là đi về đến nước mình. Vua hỏi: “Vì sao mà về tay không vậy?”. Thán đáp: “Không kiếm được của”. Vua yên lặng suy nghĩ rằng: “Đây ắt có nguyên do gì”. Liền vời các con buôn lại hỏi: “Nếu các ngươi thành thật thú tội thì được sống, còn nếu dối lừa ta thì phải chết”. Cả bọn liền thú nhận, nên bị giao cho ngục quan định tội. Tiên Thán khóc lóc, chạy đến cửa cung, dập đầu xin tội. Vua nói: “Điều ấy trái với chính sách”. Tiên Thán lại xin: “ Kẻ ngu thấy sai, chưa rõ trách nhiệm, xin tha cho sự không hiểu biết của họ”. Vua khen lòng nhân bao trùm của Tiên Thán, tha tội dữ cho bọn lái buôn rồi ra chiếu chỉ khiến trả lại báu vật. Các lái buôn đều nói: “Nếu Tiên Thán là người không thờ Phật, há có lòng nhân như vậy sao?” Mỗi người đều chọn của báu để trả Tiên Thán. Tiên Thán nhận mỗi người một nửa. Các con buôn đều cúi đầu nói: “Nhờ ơn Ngài được toàn mạng, xin đem nạp hết”. Khi nhận của ấy, Tiên Thán đem vàng trả lại cho vua, rồi bố thí hơn nữa. Vua cùng thần dân đem nhau đi thọ giới. Con hiếu, tôi trung, trời thần vệ hộ, nước giàu dân mạnh, bốn cõi chịu đức, không ai không khen hay. Đức Phậtdạy: “Tiên Thán lúc ấy là thân ta”. Hạnh thương cho vượt bờ của Bồ tát, bố thí như vậy. 9 Xưa có Bồ tát sinh vào nhà giàu, mới rơi xuống đất, liền nói: “Chúng sinh muôn họa, ta phải cứu giúp, họ không thấy bóng Phật, không nghe pháp sáng, ta phải mở tai mắt, để trừ đui điếc cho họ, khiến họ thấy nghe đạo chính chân vô thượng, làm vua các thánh, làm nguồn cho phép tắc rõ ràng, dụ dẫn tinh tấn bố thí, không ai là không phục tùng”. Họ hàng sợ hãi nói: “Từ xưa đến giờ, chưa nghe trẻ con làm vậy. Hay là hồn linh của trời rồng quỉ thần ư? Phải bói xem sao?” Đức bé liền trả lời với cha mẹ rằng: “Tôi từ chỗ thượng thánh hóa về, tự nhiên mang trí sáng biết khắp, chứ không phải các loài yêu quỉ, hãy yên lòng, đừng ngờ vực”. Nói xong liền im lặng. Cha mẹ nói: “Bé có chí lớn rộng khắp đất trời, sẽ là bậc phi phàm ư?”. Bèn đặt tên có là Phổ Thí. Tuổi mới lên mười mà các kinh điển Phật giáo và học thuật thế gian không gì là không thông suốt, liền từ giả cha mẹ đi giúp mọi người, bố thí những kẻ nghèo thiếu. Cha mẹ, nói: “Nhà ta có tiếng rất giàu, vậy con mặc lòng bố thí người nghèo”. Phổ Thí đáp: “Không đủ đâu! Xin cho con làm sa môn, cho con y bát cùng tích trượng, để đem cứu người thì đó làm ý nguyện cuộc đời con”. Cha mẹ nhớ lại lời thề, lúc con mới sinh, nên không từ chối cản trở. Liền theo ý nguyện, cho con làm Sa môn, đi khắp nơi giáo hóa. Qua một nước lớn, nước ấy có một nhà giàu, cũng hiểu các sách, thấy Phổ Thí cung cách đường hoàng, mặt mày đẹp đẽ, tính tình đằm thắm, sạch như vàng trời, có nét của bậc thượng thánh, sẽ làm bậc anh hùng ở đời. Bèn gọi Phổ Thí hỏi: “Có muốn gì xin cứ bảo, ta sẽ làm vừa lòng thánh nhân. Ta có người con gái hèn, xin đem cho Ngài sai sử”. Phổ Thí đáp: “Rất tốt! Hãy đợi tôi về”. Liền lên đường đi đến bờ biển, xuống thuyền qua biển, khi lên bờ, bèn đi vào núi, đến chỗ không người ở. Từ xa trông thấy một thành bằng bạc, cung điện sáng đẹp. Bấy giờ có con rắn độc quấn quanh thành bảy vòng, mình lớn trăm khoanh, thấy Phổ Thí đến ngóc đầu lên. Phổ Thí nghĩ rằng: “Đây loài ngậm độc, ắt có lòng hại, ta phải khởi lòng từ không ngăn trở để diệt độc nó. Hung dữ là lửa, nhân từ là nước, lấy nước diệt lửa, khi nào chẳng tắt”. Liền ngồi thiền dấy lòng từ, nguyện cho chúng sinh sớm lìa tám nạn, lòng bỏ niệm ác, gặp Phật nghe Pháp, gặp sa môn được nghe đạo sáng vô thượng chính chân, lòng mở, uế diệt, như sự thấy biết của ta. Dấy được định từ, độc rắn liền diệt, nó cúi đầu nằm ngủ. Phổ Thí bước lên đầu nó vào thành. Trong thành có thiên thần, thấy Phổ Thí đến mừng rỡ nói: “Từ lâu cảm phục thánh đức, nay Ngài ung dung đến đây, thật đúng với bản tâm của tôi. Xin ở lại đây một thời gian chín mươi ngày”. Phổ Thí nhận lời. Thiên vương liền đem việc triều chính giao phó cho cận thần, tự mình dâng thức ăn uống, sáng tối tinh cần vâng giữ hạnh cao của chư Phật về vô thường, khổ, không, vô ngã, là pháp sáng cứu giúp chúng sanh. Khi ngày cúng dường đã mãn, Phổ Thí lên đường, thiên vương đem một viên chân châu minh nguyệt tặng rồi tiễn chân nói: “Đem viên châu này theo mình thì sáng đến 40 dặm, lòng vừa ước gì, thì các báu đầy đủ. Nếu sau được làm Phật, tôi xin làm đệ tử, hầu hạ một bên bậc Thánh”. Phổ Thí nói: “Được”. Rồi lại đi về phía trước, thấy thành bằng vàng, trang hoàng đẹp hơn thành bạc. Lại có rắn độc bao thành 14 vòng, thân lớn gấp bội con trước, ngóc đầu mấy trượng. Phổ Thí lại khởi định từ, độc rắn liền tiêu, nó cúi đầu nằm ngủ, Phổ Thí bước lên đầu nó, đi vào. Trong thành có thiên nhân, thấy Phổ Thí đến vui mừng nói: “Từ lâu mến phục thánh linh, nay Ngài đến đây thật là tốt lành. Xin ở lại đây hai thời 180 ngày, tôi xin hết lòng cúng dường, chỉ xin lưu lại uy thần”. Phổ Thí liền nhận lời, lưu lại thuyết pháp về hạnh sáng vô thượng. Khi đã hết hạn, từ giã lui chân. Thiên nhân lại lấy một hạt châu thần ra tiễn, ánh sáng nó chiếu xa 80 dặm, lòng vừa ước gì, các báu liền đầy cả dặm. Thiên nhân nói: “Nếu Ngài đắc đạo, tôi xin làm đệ tử có thần túc vô thượng”. Nhận thần châu rồi, Phổ Thí lại lên đường đi, thấy thành lưu ly, rực rỡ hơn thành trước, lại có rắn độc, thân to rất lớn, vòng quanh thành 21 khoanh, ngóc đầu trợn mắt giữ cửa thành ấy. Phổ Thí lại ngồi, nghĩ sâu về định phổ từ, thề cứu chúng sinh, rắn tự tiêu độc, cúi đầu. Phổ Thí bước lên mà vào. Trong thành có thiên nhân vui vẻ, nói lời như trước, thỉnh ở lại ba thời, nguyện cúng dường những gì Phổ Thí muốn. Hết hạn, từ giã lên đường. Thiên lại lấy một hạt thần châu tiễn biệt, ánh sáng nó chiếu xa đến 160 dặm, châu đến chỗ nào thì các báu vật tìm theo đầy trong khoảng ánh sáng ấy, tùy ý mình muốn, không có gì cầu mà chẳng được. Thiên nhân nói: “Nếu Ngài đắc đạo vô thượng chính chân, tôi nguyện làm đệ tử, có trí tuệ rất sáng suốt”. Phổ Thí nói: “Chắc được như ý ngươi muốn”. Phổ Thí được châu rồi nói: “Của này đủ cứu giúp chúng sinh thiếu thốn”. Thế rồi trở về chỗ cũ của mình, các thần rồng biển đều bàn với nhau rằng: “Biển lớn chúng ta chỉ cần ba viên thần châu ấy sẽ làm chúng ta vinh hoa, nay vị đạo sĩ này được cả thì làm sao chúng ta sang giàu được? Thà mất các báu khác, chứ không chịu mất những hạt châu ấy”. Thần biển hóa làm người phàm hiện ra trước mặt Phổ Thí nói: “Tôi nghe nhân giả có được của báu nhất thế gian, có thể cho tôi xem được không?” Phổ Thí lấy đưa ra, thần biển liền đập đầu Phổ Thí để lấy hạt châu. Phổ Thí nghĩ: “Ta trải bao hiểm trở, vượt qua biển lớn mới được báu vật ấy, muốn đem cứu giúp chúng sinh nghèo thiếu, ngờ đâu bị thần biển này xem thấy mà đoạt mất ư?” Liền nói: “Ngươi trả châu lại cho ta! Nếu không, ta làm khô biển ngươi hết bây giờ”. Thần biển đáp: “Lời ngươi sao láo thế? Biển lớn này sâu rộng khó lường ai có thể làm khô hết được? Mặt trời có thể rơi, gió to có thể ngưng lại, chứ biển này không thể khô cạn được, cũng như hư không, khó có thể hủy diệt được”. Phổ Thí nói: “Xưa ta trước Phật Định Quang, nguyện được đạo lực, lập úp các biển, tay nâng Tu Di, lay động đất trời, lại dời các cõi. Đức Phật theo ý muốn mà cho ta được như nguyện. Ta nay đã được phép ấy, còn ngươi có cái sức tà chỉ bằng tơ tóc của loài quỷ yêu, làm sao có thể lấn át cái thế mạnh chân chính của ta được”. Liền nói kinh rằng: “Ta từ vô số kiếp nay, uống dòng sữa mẹ, nước mắt khóc than, máu chảy thân chết, biển chẳng có nhận, ái ân khó dứt, sinh tử khôn dừng. Ta vẫn muốn dứt gốc ái ân, dừng hồn sống chết, đời này gỡ ra không hết, thì đời đời xin gỡ ra”. Liền đứng hai chân bằng lại, tháo bầu nước biển quăng ra ngoài núi Thiết Vi. Lúc ấy có vị trời tên Biến Tịnh, ở xa nghe thấy, tự mình suy nghĩ: “Xưa ta trước Phật Định Quang, nghe người này có được chí nguyện như vậy, ắt sẽ làm Thế Tôn độ chúng sinh ta”. Vị trời ấy xuống giúp tháo bầu nước, mười phần hết tám. Thần biển hối hận sợ hãi nói: “Người này là ai mà linh thiêng vô bờ như thế? Nước biển hết rồi, chỗ ta sẽ hư”. Liền đem các báu, trống hết các kho, ra đưa cho Phổ Thí. Phổ Thí không nhận nói: “Ta chỉ muốn hạt châu thôi”, các thần trả lại hạt châu, còn Phổ Thí cũng trả lại nước, rồi đi khắp đất mình, tìm đường bố thí. Nước nào Phổ Thí đi qua, nước ấy dân không còn nghèo. Các nước không ai là không thay đổi tính nết, lấy năm giới và mười lành, làm chính sách quốc gia, mở ngục đại xá, ơn thấm khắp chúng sinh. Bèn đạt đến quả Phật. Đức Phật bảo các sa môn: “Phổ Thí là thân ta, người cha là Bạch Tịnh, mẹ nay là Xá Diệu mẹ ta, nữ đạo sĩ nay là Câu Di, vị thiên thần trong thành bạc khi ấy nay là A Nan, vị thiên thần trong thành vàng nay là Mục Liên, vị thiên thần trong thành Lưu ly là Xá Lợi Phất. Bồ Tát nhiều kiếp siêng năng thực hành bốn ân, thệ nguyện cầu Phật cứu vớt chúng sinh”. Hạnh thương cho vượt bờ của Bồ Tát, bố thí như vậy. 10 Xưa Bồ Tát làm đại quốc vương tên là Trường Thọ, thái tử tên Trường Sinh, vua ấy nhân từ, thường mang lòng từ thương xót chúng sanh, thệ nguyện cứu giúp siêng năng không mệt mỏi, không dùng dao gậy, dân chúng không oán, mưa gió đúng thời, lúa quí đầy tràn. Tiểu vương nước bên tính nết bạo ngược, luật pháp tham tàn nên dân nghèo, nước trống. Bèn bảo quần thần: "Ta nghe Trường Thọ, nước nó rất giàu, cách đây không xa, nó giữ lòng từ không giết quân, không phòng bị, ta muốn chiếm nước nó, có thể được chăng?" Quần thần trả lời: "Được". Bèn liền khởi binh đến biên giới nước ấy. Quan giữ cửa ải, đem biểu về tâu tình trạng, xin tìm cách phòng bị. Trường Thọ liền họp quần thần lại bàn: "Vua kia đến đây chỉ tham nước ta đông dân, nhiều báu. Nếu đánh với nó chắc tổn mạng dân, Lợi mình, hại dân, tham lam bất nhân, việc ấy ta không làm". Quần thần đều nói: "Chúng thần từ lâu, luyện tập binh sĩ, bày mưu binh pháp, xin được tự đánh diệt bọn ấy, không nhọc Thánh quân lo nghĩ". Vua nói: "Ta thắng thì nó chết, ta yếu thì ta chết, binh nó và dân ta đều do trời sinh dưỡng, việc trọng thân tiếc mạng ai chẳng như thế. Nhưng để toàn thân mình mà hại dân chúng thì bậc hiền không làm". Quần thần đều đứng ra nói: "Vua này nhân từ như trời, không thể mất được, phải tự mình kiểm đốc đem binh chống giặc". Trường Thọ biết được, gọi Thái tử bảo: "Vua kia tham nước ta, đem lòng độc dữ đến đây, quần thần vì một thân ta mà muốn hại mạng dân chúng. Nay ta giao nước để dân trời được toàn mạng, nghĩa ấy có được không?" Thái tử nói: "Dạ được". Thế rồi cha con vượt thành, bèn đổi họ tên, trốn nơi núi đồng. Do vậy vua tham mới vào được nước ấy. Quần thần, dân chúng mất vua cũ mình như con hiếu mất cha mẹ, khóc lóc vật vã, không nhà nào là không như thế. Vua tham tìm bắt, treo giải một nghìn cân vàng và nghìn vạn quan tiền. Trường Thọ ra đi ngồi dười gốc cây bên vệ đường Thiền Định, thương xót chúng sinh sống chết cần khổ, không thấy khổ, không, vô thường, vô ngã, vì bị dục mê hoặc, khổ thật vô số. Có người phạm chí nước xa, nghe vua ưa chuộng bố thí, cứu mạng chúng sinh, từ xa đến cũng dừng lại dưới gốc cây, hỏi han lẫn nhau. Mỗi người kể rõ đầu đuôi việc của mình. Phạm chí kinh hãi hỏi: "Thiên Vương vì sao đến nỗi này?". Rồi rơi lệ tự kể lể: "Năm tàn của tôi không còn mấy chốc, nên đến xin chút gì hầu mạng thừa, nay Đại vương mất nước thì mạng tôi cũng cùng rồi". Nói liền than khóc. Vua nói: "Ông nghèo khổ, từ xa đến, gặp lúc ta mất nước, không biết lấy gì để giúp ông, không đau xót sao?" Vua gạt nước mắt nói: "Ta nghe vua mới treo giải nhiều lắm, vậy ông hãy lấy đầu ta, có thể được trọng thưởng". Phạm chí đáp: "Không phải vậy, tôi từ xa cảm phục đức nhân của Vua cứu giúp chúng sinh nhuần thấm như đất trời. Thế nên bỏ đất nước đến đây mong được cứu mạng, nay Vua bảo tôi chém đầu Ngài, tôi chẳng dám vâng lời ấy được". Vua nói: "Thân này là đồ mục nát, há dám giữ đươc ư? Phàm sống ắt có chết, ai có thể còn hoài? Nếu ông không lấy, rốt cuộc nó cũng là tro bụi mà thôi!" Phạm chí nói: "Thiên vương vung vải ơn huệ, nhân đức như trời, ắt muốn giết mình để cứu kẻ thấp hèn, xin Ngài buông tay cho tôi dắt đi". Vua liền đưa tay đi theo. Đến cửa thành cũ, Vua ra lệnh trói mình lại đem tâu. Người trong nước thấy vua, khóc than vang cả nước. Phạm chí được thưởng. Vua tham sai đem vua đến ngã tư đường thiêu sống rồi giết đi. Quần thần đều tâu: "Vua cũ chúng thần cuối cùng phải chết. Vậy xin cho làm bữa tiệc nhỏ để tiễn đưa linh hồn người". Vua tham nói: "Được". Trăm quan lê dân kêu khóc nghẹt đường. Vật vã lăn lóc, không ai là không kêu trời. Thái tử Trường Sinh cũng giả làm người bán củi, đứng trước mặt cha. Vua thấy con, ngửa mặt lên trời nói: "Nếu trái lời trăn trối của cha, ngậm hung ôm dữ, chất chứa oán giận chập chồng, để tai vạ đến muôn đời. Đấy không phải là người con hiếu. Chư Phật lòng từ bốn bậc rộng thấm, đức trùm trời đất, ta theo đạo ấy, giết mình để cứu chúng, còn sợ không một chút của hạnh hiếu đạo, huống làm chuyện ngỗ ngược báo thù sao? Nếu không trái bỏ lời ta mới có thể gọi là hiếu". Người con không nỡ nhìn cha mình chết, bèn trở vào núi sâu. Vua chết rồi, thái tử kêu khóc, máu chảy cả miệng, nói: "Vua ta tuy lúc lâm chung, có lời răn hết sức nhân từ, nhưng ta ắt trái lời, phải giết kẻ độc ác kia". Bèn ra làm thuê trồng rau cho một ông quan. Một hôm, quan tình cờ dạo vườn, thấy rau xanh tốt, bèn hỏi nguyên do. Người giữ vườn đáp: "Tôi có mướn một người làm thuê rất giỏi việc trồng vườn". Người ấy kêu đến hỏi: " Ngươi còn có khả năng gì?" Người ấy đáp: "Trăm nghề tuyệt hảo, tôi đều đứng đầu". Quan xin lệnh vua cho vào nấu ăn cho vua. Người ấy còn giỏi hơn cả thái quan (quan nấu ăn cho vua). Vua hỏi: "Món này do ai làm vậy? "Quan đem sự thực ra đáp. Vua liền lấy người ấy làm quan coi bếp, mỗi việc đều vừa lòng. Vua cất nhắc lên làm cận thần, bảo rằng: "Con của Trường Thọ là trọng thù của ta, nay ta dùng ngươi làm cận vệ" Người ấy liền đáp: "Thưa vâng". Vua hỏi: "Người thích đi săn không?" Đáp: "Thần rất thích". Vua liền ra ngoài đi săn, rong ngựa đuổi mồi bị thất lạc với mọi người, chỉ với Trường Sinh cùng ở trong núi ba ngày, đến lúc đói khốn vua bèn tháo kiếm trao cho Trường Sinh, rồi gối đầu đùi Trường Sinh mà ngủ. Trường Sinh nghĩ: "Nay ta đã được ngươi rồi ư?" Bèn rút kiếm muốn chém đầu, bỗng nhớ lại lời cha dặn: "Trái lời cha dạy là bất hiếu đấy!" Lại tra kiếm dừng lại. Vua tỉnh giấc nói: "Ta mộng thấy Trường Sinh muốn chém đầu ta. Việc gì như thế"? Trường Sinh đáp: "Núi có quỷ dữ, thích việc nung nấu. Thần tự chầu hầu, còn gì mà sợ?" Vua lại ngủ nữa. Cứ vậy ba lần, Trường Sinh bèn quăng kiếm nói: "Ta vì cha ta nhân từ mà tha mạng cho ngươi đó!" Vua tỉnh dậy nói: "Ta mộng thấy Trường Sinh tha mạng cho ta rồi". Thái tử nói: "Trường Sinh chính là tôi đây! Cũng vì thương nhớ cha mà theo đuổi kẻ thù đến nay. Cha tôi khi chết, miệng còn để lại lời răn nhân từ, bảo tôi tuân theo đạo nhẫn nhục, ác đến lành đi của chư Phật. Nhưng tôi giữ tính cực ngu, muốn đem hai cái hung dữ luyện vào nhau. Nhưng ba lần nhớ lại lời cha dạy, ba lần buông kiếm. Vậy xin Đại vương mau giết tôi để trừ hoạn dữ. Khi thân chết hồn lìa, thì ý ác không còn sinh nữa". Vua hối lỗi nói: "Ta làm chuyện bạo ngược, không biết phải trái. Tiên Vương của ngươi hạnh cao thuần đủ, mất nước chứ không mất hạnh. Có thể gọi là bậc thượng thánh. Ngươi giữ tròn hạnh cha, có thể gọi là hiếu. Còn ta là giống sài lang, giết hại sanh linh để được no ấm. Nay mạng sống trong tay ngươi mà ngươi tha không giết, thì sau này ta há làm trái được sao. Giờ ta muốn về nước mình, vậy phải đi đường nào?" Trường Sinh đáp: "Đây là đường mê do tôi làm ra. Tôi sẽ đem vua ra khỏi rừng này". Khi gặp quần thần, vua hỏi: "Quí vị có ai biết Trường Sinh không?" Mọi người đều nói: "Không biết". Vua nói: "Người này là Trường Sinh đó, nay trở lại nước. Còn ta sẽ về nơi cũ của mình. Từ đây trở đi kết làm anh em, họa phước cùng nhau". Ngày lập Thái tử làm vua, cả nước buồn vui lẫn lộn. Mọi người không ai là không chúc thọ. Vua tham trở về nước mình, lại đến triều cống, trở nên giàu mạnh thái bình. Đức Phật bảo các sa môn: "Vua Trường Thọ bấy giờ là thân ta. Thái tử là A Nan. Vua tham là Điều Đạt. Điều Đạt đời đời có ý ác đối với ta, ta vẫn cứu cho. A Nan và Điều Đạt vốn không có oán thù nhau, nên không hại lẫn nhau. Ta đời đời nhẫn những điều không thể nhẫn, giữ ý lập hạnh, cho nên nay được thành Phật, đấng Thế Tôn trong ba cõi". Hạnh thương vượt bờ của Bồ Tát, bố thí như vậy! QUYỂN BA 15 KINH BỐ THÍ VƯỢT BỜ Nghe như vầy, Một thời đức Phật ở nước Xá Vệ, vườn ông Cấp Cô Độc, cây của thái tử Kỳ Đà. Phật dạy các tỳ kheo: Xưa có quốc vương hiệu Hòa Mặc. Hạnh vua nhân đạo công bình, thương dân như con, dùng chính trị nước, nên dân không có lòng oán. Nước ấy rộng lớn, quận huyện rất nhiều, quốc cảnh giàu thịnh, ngũ cốc được mùa, nước không có thiên tai độc hại, người sống đến tám vạn tuổi. Hòa Mặc là vua thánh, mệnh lệnh rõ ràng. Hoàng hậu, quí nhân, bá quan kẻ hầu đều giữ bổn phận, dùng chính pháp dạy họ, mỗi người quản lý bộ mình. Vua thường từ tâm, thương chúng sinh, buồn họ ngu mê điên đảo, để tự đọa lạc, nên tìm giữ nguồn đạo, không niềm vui nào là không chia xẻ, thương giúp chúng sinh như trời Đế Thích. Sát sinh, trộm cắp, dâm dật, nói hai lưỡi, nói lời dữ, nói dối, nói thêu dệt, ghen ghét sân si, những điều hung ác như thế không còn trong lòng. Hiếu thuận cha mẹ, kính yêu họ hàng, tìm theo người hiền, tôn kính bậc thánh, tin Phật, tin Pháp, tôn lời dạy của bậc sa môn, tin làm lành được phúc, làm ác chịu họa, lấy mười điều lành trung chính này làm pháp sáng suốt, tự mình chấp hành, lại dạy hoàng hậu cung phi đến tiện thiếp đều khiến tuân theo cùng nhau làm lành. Bo áo cho thần dân bốn trấn, lớn nhỏ đều phải mang đọc, lòng nhớ để tu hành. Nước có người nghèo quá chịu không nổi, không còn kể gì, bèn đi ăn trộm. Người chủ bắt được đem đến tâu vua. Vua nói: "Ngươi ăn trộm sao?" Kẻ trộm nói: "Tôi thật ăn trộm". Vua hỏi: "Ngươi vì sao ăn trộm?" Kẻ trộm nói: "Tôi thật nghèo khốn, không có gì để nuôi thân, nên trái phép sáng của bậc thánh, đạp lửa mà đi ăn trộm". Vua buồn thương cho nó, khen nó thành thật, nhưng lòng nao nao hổ thẹn, thở dài mà rằng: "Dân đói tức ta đói, dân lạnh tức ta trần truồng, lại nói: "Thế ta có thể khiến nước không có người nghèo. Dân khổ hay vui chỉ tại ta mà thôi". Liền đại xá cho cả nước, lấy trân bảo trong kho ra bố thí cho người nghèo khốn. Người đói khát liền được ăn uống, kẻ lạnh được áo, người bệnh được thuốc, nhà cửa ruộng vườn, vàng bạc châu báu, xe ngựa trâu tiền, mặc ý mà xin. Chim bay thú chạy cho đến côn trùng, ngũ cốc cỏ cây cũng theo ý thích của chúng. Từ khi vua bố thí về sau, nước mạnh dân giàu, đem đạo giúp nhau. Dân chúng không ai giết người, ăn trộm của cải người, gian dâm vợ con người, nói hai lưỡi, nói lời dữ, nói dối, nói thêu dệt, ganh ghét, sân giận, si mê. Lòng hung ác ngu si lặng lẽ tiêu mất. Tất cả đều tin Phật tin Pháp, tin Sa môn, tin làm lành có phúc, làm ác có họa, cả nước hòa vui, roi gậy không dùng, kẻ thù địch đến xưng làm bầy tôi, chiến cụ mục nát trong kho, lao ngục không còn nhốt tù, nhân dân khen hay rằng: "Ta sinh gặp thời!" Trời, rồng, quỷ thần không ai là không giúp cho nước ấy, độc hại tiêu hết, ngũ cốc được mùa, nhà có dư của. Lòng vua riêng mừng, liền được năm điều phước. Một là trường thọ, hai là nhan sắc ngày một đẹp tươi, ba là đức độ vang đến tám phương trên dưới, bốn là không bệnh, khí lực ngày một tăng, năm là bốn cõi an ổn, lòng thường vui vẻ. Vua khi chết, vẫn như người cường tráng, ăn no nằm khỏe chốc lát sinh lên cõi trời Đao lợi. Nước ấy dân chúng theo lời vua, giữ mười lành, nên không sa vào địa ngục, ngạ quỉ, súc sinh. Sau khi chết hồn linh đều được lên trời. Phật bảo các sa môn: "Vua Hòa Mặc bấy giờ là Ta". Các sa môn nghe kinh xong đều rất vui vẻ, lạy Phật mà lui. 16 PHẬT NÓI KINH TỨ TÍNH (CÔ ĐỘC) Nghe như vầy, Một thời Đức Phậtở nước Xá Vệ, vườn ông Cấp Cô Độc, cây thái tử Kỳ Đà. Lúc ấy nhà Cô Độc gặp phải tai ương kiếp trước, nghèo khốn càng riết, mặc áo cỏ, nằm chiếu rơm, rau cháo nuôi thân. Tuy bị cực khổ, nhưng chân không hề bước đến nhà vô đạo, tay không cầm của người vô đạo cho, chí hạnh trong sạch, các tà vạy không thể nhuốm lòng. Sáng học tối dạy, giới và kinh không rời miệng, được đức Thế Tôn khen ngợi, các bậc trí kính trọng. Tuy cơm áo không đủ nuôi thân miệng, nhưng phụng dưỡng thánh chúng, tùy cảnh nhà có cháo rau giường cỏ, chẳng quên một bữa. Các sa môn nói: "Cô Độc nghèo khốn, thường có vẻ đói, chúng ta không thể nhận thức ăn thường của ông". Kinh dạy: "Sa môn một lòng giữ điều chân chính, giới đủ hạnh cao, chí như thiên kim, không trọng tài sắc, chỉ kinh là quí, diệt hết sáu đói, nên thề xuất gia, xấu gì xin ăn mà chẳng đi ư?" Liền cùng nhau đến chỗ Phật, thuật rõ đầu đuôi. Đức Thế Tôn yên lặng. Hôm sau, Cô Độc tự thân đến Tịnh xá, cúi đầu lạy xong, ngồi sang một bên. Đức Phậtnhớ lại việc của các sa môn thưa hôm trước, bèn hỏi Cô Độc: "Hằng ngày ông đem lòng từ bố thí cúng dường các tỳ kheo phải không?" Cô Độc đáp: "Thưa vâng! Cả nhà con hằng ngày cúng dường. Chỉ hận nhà nghèo, cháo rau giường cỏ, uổng nhọc thánh hiền". Đức Thế Tôn nói: "Hạnh bố thí, cốt ở bốn ý: lòng từ đối người, lòng bi thương xót, vui người thành đạt, cứu giúp chúng sinh, thì tuy cho vật mọn nhưng sau thường sinh lên hai đường Trời và Người, được theo ý nguyện, mắt thấy sắc, tai nghe tiếng, mũi ngửi hương, miệng nếm vị, thân mặc áo quần tốt đẹp nhất, tâm thường vui vẻ không sự thiếu thốn. Còn như bố thí ít oi, mà tâm lại không vui, sau đó được phước, phước ấy cũng mỏng, ngôi quan bảy báu, có được cũng không đủ sang. Ở trong phước mỏng ấy, lòng lại xan tham, không dám ăn mặc, lo lo sợ sợ, chưa từng vui vẻ, bụng đói thân lạnh, như kẻ ăn mày, luống sống luống chết, không có chút lành để tự giúp mình. Nếu bố thí mà lòng tốt không thành khẩn, kiêu ngạo tự thị, thân chẳng cung kính, nhằm cầu tiếng tăm, muốn xa khoe mình, sau cũng có chút của mà người đời khen suông, cho là ức triệu, lòng sợ cướp đoạt, mặc thường thô mỏng, ăn chưa từng nếm món ngon, cũng là sống uổng chết không. Tỳ kheo chưa từng bước đến nhà, người ấy xa lìa ngôi báu, thường gần đạo ác. Nếu ai đem vật tốt cho mà dùng tứ đẳng tâm kính dâng, tự tay san sớt, lòng nhớ tam bảo, cầu cho chúng sinh gặp Phật, sinh Thiên, độc khổ tiêu hết, đời sau sinh ra không cầu gì mà không được, gặp Phật sinh Thiên, tất cả đều như chí nguyện. (Chương này bản khác ở sau kinh Tát Hòa Đàn). 17 Xưa có phạm chí tên Duy Lam, sang quí ngôi cao, làm Phi hành hoàng đế, của cải khôn kể, tánh hay bố thí, đem cả gái đẹp nổi tiếng, phục sức rực rỡ để thí cho người, bát vàng đầy lúa bạc, bát bạc đầy lúa vàng, chậu giặt thau rửa làm bằng bốn báu lẫn lộn, vạc ăn bằng vàng bạc, trong đó có cả trăm món, trâu nổi tiếng sông Tần, đều lấy vàng ròng bọc lấy, sừng mỗi con một ngày chảy ra bốn thăng sữa, nghé con theo sau. Áo báu dệt thành đính thêm minh châu, giường ghế mùng màn, chuỗi báu chóa mắt, voi giỏi ngựa hay với yên cương bằng vàng bằng bạc treo các thứ báu. Các xe có tàng hoa che, có da cọp phủ ghế ngồi, chạm trổ vẽ vời, không có món nào mà không có. Từ cô gái đẹp nổi tiếng xuống đến xe báu, mỗi thứ đều có một ngàn không trăm tám mươi bốn cái, đem bố thí cho người. Duy Lam thương cho tám phương trên dưới, trời rồng thiện thần không ai là không vui giúp. Như Duy Lam bố thí để cứu dân nghèo, cho đến khi chết, không một ngày lười mỏi, cũng không bằng một ngày dâng cơm cho một người nữ đủ giới thanh tín. Phúc này hơn phúc kia không thể tính kể. Lại bố thí cho một trăm người nữ thanh tín trước, không bằng dâng một bữa cơm cho một người nam đủ giới thanh tín giữ giới. Bố thí cho một trăm người nam đủ giới, không bằng dâng một bữa cơm cho một vị tỳ kheo ni đủ giới. Bố thí cho một trăm vị tỳ kheo ni đủ giới, không bằng dâng một bữa cho vị sa di cao hạnh. Bố thí cho một trăm vị sa di cao hạnh, không bằng bố thí cho một vị sa môn đủ giới hạnh, tâm không uế trược, trong ngoài trong sạch. Người phàm như gạch đá, còn người đủ hạnh giới cao như châu minh nguyệt. Ngói đá đầy bốn châu thiên hạ, chẳng bằng một viên trân châu. Lại như Duy Lam, bố thí rất nhiều cho các vị đủ giới, chẳng bằng một vị Nhất lai, một trăm vị Nhất lai không bằng một vị Bất lai, một trăm vị Bất lai không bằng dâng cơm cho một vị La Hán. Lại như Duy Lam, trước bố thí và dâng cơm cho các hiền thánh, không bằng hiếu thờ mẹ cha. Con hiếu hết lòng mình không gì riêng ngoài. Trăm đời hiếu thuận với cha mẹ, không bằng dâng cơm cho một vị Bích Chi Phật. Dâng cơm một trăm vị Bích Chi Phật không bằng dâng một bữa cơm cho Đức Phật. Dâng cơm một trăm vị Phật không bằng lập một ngôi chùa, giữ tam quy là quy Phật, quy Pháp, quy Tỳ kheo tăng. Hết lòng nhân không giết, giữ trong sạch không trộm, giữ trinh tiết không dâm với vợ người, vâng tin không dối, hiếu thuận không sai, giữ năm giới, tháng sáu ngày trai thì phúc ấy vòi vọi, còn hơn Duy Lam bố thí muôn thứ vật quí và cúng cơm cho các vị hiền thánh, rất khó tính kể. Giữ giới không bằng dùng lòng tứ đẳng, thương nuôi chúng sanh, phúc ấy vô tận. Duy chỉ cháo rau giường cỏ mà giữ tam quy, mang lòng tứ đẳng, giữ đủ năm giới, thì núi sông còn có thể cân lường, chứ phúc ấy khó tính kể. Phật bảo Cô Độc: "Nên biết Duy Lam đó là thân ta". Cô Độc nghe kinh xong lòng rất vui vẻ, làm lễ mà lui ra. 18 Xưa Bồ tát làm thân nai chúa, mình mẩy cao lớn, lông có năm màu, móng sừng đẹp lạ, các nai mấy nghìn, đi theo thành đàn. Khi vua đi săn, đàn nai phân tán, sa hầm rớt hố, cây cản gai đâm, rách da gẫy xương, tử thương và bị giết không ít. Nai chúa thấy thế nghẹn ngào nói rằng: "Ta là trưởng đàn, lẽ ra phải sáng suốt, chọn chỗ mà đi. Cũng vì cỏ ngon mà đến chỗ này, làm điêu tàn lũ nhỏ, tội ở nơi ta". Rồi theo đường tắt vào thành. Quốc nhân thấy vậy đều nói: "vua ta có đức chí nhân, nai thần đến ở", đó là điềm lành của nước, không ai dám động đến. Nai bèn đi đến trước điện quỳ xuống tâu: "Thú nhỏ tham sống nương mình quý quốc. Khi gặp thợ săn, loài thú chạy trốn, hoặc sống thì lạc nhau, hoặc chết thì bừa bãi. Lòng trời thương vật, thật là đáng buồn mong được tự chọn mỗi ngày đem nạp thái quan. Xin cho biết số, tôi chẳng dám dối". Vua rất lấy làm lạ: "Thái quan dùng một ngày không quá một con, ta không biết các ngươi tử thương rất nhiều. Nếu thật như thế, ta thề không đi săn nữa". Nai chúa trở về, ra lệnh bầy nai, nói hết ý ấy, chỉ cho họa phúc, bầy nai cúi nghe, tự xếp thứ tự, con nào phải đi trước. Mỗi khi con nào sắp đi chịu chết, đều đến từ biệt nai chúa. Nai chúa thấy vậy rơi lệ dặn dò: "Thấy đời ai rồi cũng chết, ai thoát được đâu! Tìm đường niệm Phật, nhân hiếu từ tâm, đối với vua kia, cẩn thận chớ có oán hận". Ngày ngày như vậy, trong đó có con phải đi, nhưng mình mang thai nặng, nói: "Chết không dám tránh, xin đợi sinh xong". Bèn đem con kế, muốn lấy thế vào. Con kế cúi đầu khóc lóc thưa: "Tôi tất phải đi chết, nhưng còn sống một ngày một đêm, mạng sống chờ này, giờ đến mới không ân hận". Nai chúa không nỡ để uổng những sinh mạng ấy. Sáng mai, trốn bầy, tự mình đi đến thái quan. Người bếp biết được liền tâu vua. Vua hỏi nguyên do, nai đáp như trên. Vua buồn bã rơi lệ nói: "Há có loài thú mà ôm lòng nhân từ như trời đất, giết thân mình để cứu cả đàn, đi theo hạnh từ bi rộng lớn của người xưa?! Còn ta làm vua mọi người, hằng ngày giết mạng chúng sinh để béo tốt thân mình, ta ưa hung ngược, chuộng nết sài lang sao? Loài thú làm điều nhân này là có lòng vâng theo đức Trời". Vua bảo nai về chỗ cũ, rồi ra lệnh cả nước rằng: "Nếu người nào phạm giết nai, thì phạt tội như giết người". Từ đó về sau, Vua và quần thần cải hóa, dân chúng theo lòng nhân không giết, thấm đến cỏ cây, nước bèn thái bình. Bồ tát đời đời nguy thân cứu vật, công thành đức lớn, bèn thành bậc đại hùng đáng kính. Phật bảo các tỳ kheo: "Nai chúa bấy giờ là thân ta, quốc vương là Xá Lợi Phất". Hạnh thương cho vô bờ của Bồ tát, bố thí như vậy. 19 Xưa Bồ tát thân làm thiên nga, sinh được ba con. Bấy giờ trong nước đại hạn không có gì để cho con ăn, bèn rỉa thịt dưới nách để cứu mạng con. Ba con nghĩ: "Thịt này mùi vị nó giống với mùi người mẹ ta không khác. Phải chăng mẹ ta đã lấy thịt mình để nuôi chúng ta?" Ba đứa con rầu rĩ có tình cảm buồn thương, lại nói: "Thà chết mạng ta, chứ không hại thân mẹ". Thế rồi ngậm miệng không ăn. Mẹ thấy không ăn, lại rỉa lấy thêm. Thiên thần than rằng: "Mẹ hiền thương cho, khó ai vượt nổi, còn con hiếu hạnh thật là hiếm có". Chư Thiên giúp cho, muốn gì được nấy. Phật bảo các tỳ kheo: "Thiên nga mẹ là thân ta, ba đứa con là Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên và A Nan vậy". Hạnh thương cho vô bờ của Bồ tát, bố thí như vậy. (Chương này bản khác ở sau chương Duy Lam) 20 Xưa Bồ tát làm vua công, vợ theo năm trăm, nhưng bỏ vợ cũ mà ham cô vợ công xanh. Công xanh chỉ uống nước ngọt, ăn trái ngon. Công vì yêu vợ, ngày ngày đi kiếm. Vợ vua nước ấy bị bệnh, nằm mộng thấy công nói: "Thịt nó có thể làm thuốc". Tỉnh dậy đem tâu. Vua sai thợ săn mau đi tìm công. Vợ vua nói: "Ai bắt được nó, ta đem gái út gả cho và biếu một trăm cân vàng. Thợ săn cả nước chia nhau đi tìm. Thấy vua công theo công xanh ở chỗ thường ăn. Họ liền lấy mật trộn cơm khô, bôi lên cây ở mọi nơi. Công bèn lấy về cho vợ. Một thợ săn lấy cốm thoa vào mình rồi ngồi đợi. Công đến lấy cốm, người ấy bắt được. Công nói: "Ông chịu khổ thân, ắt là vì lợi. Tôi chỉ cho ông núi vàng, có thể là của báu vô tận. Ông hãy tha mạng cho tôi". Người ấy đáp: "Đại vương cho ta một trăm cân vàng, lại gả gái út, há tin được lời ngươi ư?" liền đem dâng vua. Công nói: "Đại vương giữ lòng nhân thấm khắp mọi nơi, xin nghe lời mọn, cho tôi chút nước, tôi đem lòng từ chú nguyện, uống vào bệnh liền khỏi. Nếu không công hiệu, chịu tội không muộn". Vua thuận theo ý, phu nhân uống vào, các bệnh đều lành, mặt đẹp rực rỡ. Cung nhân cũng thế. Cả nước khen vua lòng từ rộng lớn, xin tha mạng công, để cả nước đươc thêm tuổi thọ. Công nói: "Xin được ném thân vào hồ lớn kia, để chú nguyện nước đó, cho dân khắp nước, các bệnh đều lành. Nếu có nghi ngờ, xin lấy gậy đập vào chân tôi". Vua nói: "Được"! Công liền chú nguyện, dân chúng uống nước, người điếc được nghe, kẻ mù được thấy, người câm nói tiếng, kẻ gù thẳng lưng, các bệnh cũng thế. Phu nhân khỏi bệnh, cả nước cũng được hết bệnh, không ai có lòng hại công. Công biết rõ điều đó, đến vua trình bày: "Chịu ơn vua cứu mạng, tôi báo đáp lại bằng cách cứu mạng cả nước, báo đáp xong, xin cho trở về". Vua nói: "Được" công liền bay lượn, rồi đậu lên cây, lại nói: "Thiên hạ có ba người ngu. Vua hỏi: "Sao gọi là ba?" Công nói: "Một là tôi ngu, hai là thợ săn ngu, ba là đại vương ngu." Vua nói: "Xin giải thích cho", công nói: "Giới trọng chư Phật coi sắc đẹp là lửa dữ, là nguồn đốt thân nguy mạng. Ta bỏ năm trăm người vợ hầu hạ, đi ham công xanh, tìm thức ăn nuôi nó như kẻ đầy tớ, để bị lưới săn bắt, suýt nguy thân mạng. Đó là ta ngu. Còn thợ săn ngu là ta đã nói lời chí thành, mà nó bỏ cả một núi vàng, vứt đi của báu vô tận, đi tin lời dối tà ngụy của phu nhân, mong được gái út làm vợ. Thấy đời cuồng ngu đều như loại này cả. Bỏ lời răn chí thành của Phật mà tin lời gạt của quỉ mị, rượu nhạc dâm loạn đến nỗi hoặc mắc họa mất nhà, hoặc chết đọa vào ngục núi Thái, khổ ấy vô số. Nghĩ lại làm người như chim không cánh, muốn bay lên trời, há chẳng khó sao? Dâm phụ yêu tinh dụ dỗ mê hoặc mất nước hại thân không gì là không do nó, mà kẻ ngu si lại quí trọng nó. Muôn lời nói không một câu thành thật mà thợ săn lại tin. Đây gọi là cái ngu của thợ săn. Còn vua được thuốc trời, chữa lành bệnh cho cả nước, các độc đều diệt, mặt như hoa tươi, lớn nhỏ vui nhờ, mà vua lại thả đi. Đây gọi là cái ngu của vua". Phật bảo Xá Lợi Phất: "Vua công từ ấy về sau, đi khắp tám phương, đem thuốc thần với lòng từ bố thí, chữa bệnh chúng sinh. Vua công đó chính là thân ta, quốc vương ấy là Xá Lợi Phất, người thợ săn là Điều Đạt, phu nhân nay là vợ Điều Đạt. Hạnh thương cho vô bờ của Bồ tát, bố thí như vậy. 21 Xưa có phạm chí tuổi đã một trăm hai mươi, giữ trinh không vợ, dứt tuyệt dâm dục, lặng ở núi đầm, không thích đời sang. Lấy tranh làm nhà, dùng lác làm chiếu, nước suối quả rừng, lấy để nuôi mạng, chí rộng hạnh cao, thiên hạ khen ngợi đức độ. Vua mời làm tể tướng, chí vẫn học đạo không ra làm quan. Ở núi đầm hơn mấy mươi năm, nhân từ với cả chúng sinh, cầm thú cũng đến nương nhờ. Bấy giờ có bốn con thú là cáo, rái, khỉ, thỏ. Bốn con thú này ngày ngày cúng dường đạo sĩ, lắng lòng nghe kinh. Trải qua nhiều năm, quả rừng đã hết. Đạo sĩ muốn dời để tìm chỗ nhiều quả. Bốn thú lo âu nói: "Tuy có kẻ sĩ vinh hoa đầy nước cũng như nước dơ đầy biển, không bằng một đấu cam lồ. Đạo sĩ đi rồi, không nghe thánh điển, chúng ta sẽ suy. Vậy mỗi con tùy sức, tìm thức uống ăn, cúng dường đạo sĩ, thỉnh ở núi này, hầu nghe Đại pháp". Cả bọn đều nói: "Được!" Khỉ đi tìm quả, cáo hóa làm người, được 1 túi cốm, rái bắt cá to. Mỗi con đều nói: "Lương này có thể cúng được một tháng." Thỏ tự suy nghĩ: "Ta biết lấy gì để cúng đạo sĩ?" Nó nghĩ: "Hễ sống phải có chết. Thân này là đồ thối nát, phải nên bỏ đi, cho muôn kẻ phàm ăn, không bằng cúng đạo sĩ một bữa", liền đi lấy củi nhóm lửa thành than, hướng về đạo sĩ nói: "Thân tôi tuy nhỏ, đủ ăn thức ăn một ngày" nói rồi liền nhảy vào lửa. Lửa ấy không cháy. Đạo sĩ thấy thế, cảm khiến như vậy. Chư Phật đều khen. thiên thần thương nuôi. Đạo sĩ ở lại, ngày giảng kinh mầu. Bốn thú vâng lời dạy. Phật bảo các sa môn: "Phạm chí ấy là đức PhậtĐịnh Quang, thỏ là thân ta, khỉ nay là Thu Lộ Tử, cáo là A Nan và rái là Mục Kiền Liên. Hạnh thương cho vô bờ của Bồ tát, bố thí như vậy. 22 (Số 4 Bổn sanh Cullakasetthi (Jat. 114) B 21 Xưa có Bồ tát là một nhà giàu, chứa của báu bằng cả nước, thường ưa cứu nghèo, cho khắp chúng sinh, nhận mọi người đến nương như biển nhận sông. Bấy giờ có con người bạn, vì tính ăn chơi, của nhà tiêu sạch. Người nhà giàu thương xót, dạy nó: "Hãy theo đường làm ăn thì phúc lợi vô tận. Ta lấy một ngàn lượng vàng cho con làm vốn". Nó đáp: "Xin vâng! Con chẳng dám trái lời dạy sáng suốt." Rồi đem tiền đi buôn, nhưng nết tà hạnh vạy, ưa chuộng yêu quỉ, dâm đãng, rượu nhạc, của hết lại nghèo. Năm nết như vậy nên tiền của hết sạch, lại lâm cảnh nghèo. Bấy giờ ngoài cổng nhà giàu, có con chuột chết quăng trên đống phân người. Nhà giàu chỉ chuột nói: "Kẻ sĩ thông minh, có thể lấy con chuột chết kia làm ăn, lập nên nhà cửa, còn con có cả một ngàn lượng vàng mà nghèo khốn sao? Nay ta lại lấy một ngàn lượng vàng cấp cho con". Lúc ấy có đứa ăn mày, đứng xa nghe lời dạy ấy tự nhiên hiểu được, đi đến giống như xin ăn, lại lượm con chuột rồi ra đi. Theo lời dạy hay ấy, nó xin đủ món gia vị, ướp vào đem nướng, bán được hai tiền, chuyển qua mua rau. Đến lúc có hơn trăm tiền, từ nhỏ thành to, bèn thành người giàu. Lúc rảnh nhớ lại: "Ta vốn ăn mày, sao nên giàu vậy? Bèn hiểu ra: Do người nhà giàu hiền dạy đứa con nghịch kia, ta mới được của báu này. Chịu ơn không đáp gọi là trái với điều sáng." Bèn làm một cái án bạc, lại làm một con chuột vàng, lấy các của báu nổi tiếng bỏ đầy vào bụng, lấy lụa phủ lên án. Lại lấy các báu anh lạc treo bốn bên, đem đủ món ngon đến lễ nhà giàu kia, thuật rõ nguyên do, nay xin đền ơn trời biển. Người nhà giàu nói: "Hiền thay bậc trượng phu, đã làm theo lời giáo huấn ấy", liền đem con gái gả cho làm vợ, nhà cửa của cải đều đem giao hết, nói: "Con là con cháu của ta, phải thờ ba ngôi báu, đem lòng tứ đẳng, cứu giúp chúng sinh". Nó đáp: "Con quyết tu theo lời Phật dạy". Sau nối dõi nhà giàu ấy, cả nước khen là có hiếu. Phật bảo các sa môn: "Người nhà giàu là thân ta, kẻ đãng tử kia là Điều Đạt, người nhờ chuột mà giàu là tỳ kheo Đàn Đặc. Điều Đạt nhớ sáu ức phẩm kinh của ta, nói thuận làm nghịch, khi chết đọa vào địa ngục núi Thái. Tỳ kheo Đàn Đặc nhớ 1 câu của ta cho đến độ đời. Có nói không làm, như dầu vì thắp mà hết. Đó là trí của tiểu nhân. Nói làm hợp nhau thì sáng như trời trăng, thương hết chúng sinh, giúp thành muôn vật. Đấy là trí sáng của bậc đại nhân. Người làm là đất, muôn vật do đó sinh ra. Hạnh thương cho vô bờ của Bồ tát, bố thí như vậy. 23 Xưa có mẹ góa, làm thuê cho một nhà giàu, trông coi vườn ruộng. Người chủ có việc, cho ăn quá giờ. Đến lúc định ăn, sa môn tới xin. Lòng nghĩ: "Người này dứt dục bỏ tà, nết hạnh thanh chân. Cứu người đói bốn biển không bằng cúng một chút cho bậc chân hiền giới hạnh thanh tịnh". Bèn đem phần ăn để hết vào và một cành hoa sen để lên bát mà dâng. Đạo nhân hiện thần thông, phóng ra ánh sáng. Người mẹ vui vẻ khen: "Đây đúng là bậc thần thánh sao? Nguyện tôi sau này sinh được một trăm người con như vậy". Mẹ goá chết, hồn đi, muốn làm con nối dõi người phạm chí, nên hồn tụ lại chỗ tiểu tiện của phạm chí. Con nai liếm tiểu tiện, liền cảm thụ thai. Mãn ngày, sinh một bé gái. Phạm chí nuôi nấng, lúc hơn mười tuổi, mặt mày sáng rỡ, dáng vẻ yêu kiều, ở nhà giữ lửa. Cô chơi với nai, không ngờ lửa tắt. Cha về giận dữ, sai đi xin lửa. Cô đến xóm người, mỗi bước mọc một hoa sen. Người chủ có lửa nói: "Cô đi ba vòng nhà ta, ta sẽ lấy lửa cho cô. Cô đi theo lời, hoa mọc trên đất quanh nhà ba vòng. Hành giả nghỉ chân, không ai không lấy làm lạ. Phút chốc tiếng đồn đến tai quốc vương. Vua sai thầy tướng xem tướng sang hèn. Thầy nói: "Ắt có con nối giòng thánh truyền ngôi vô cùng. Vua sai hiền thần đủ lễ rước về. Mặt hoa đẹp đẽ, cung nhân không ai bằng. Mang thai đủ ngày, sinh ra một trăm cái trứng, hoàng hậu cung phi cho đến tì thiếp không ai là không ghét. Bèn chặt cây chuối khắc hình tượng quỉ, đợi khi sinh, lấy tóc phủ lên mặt, bôi nước bùn dơ lên cây chuối rồi đem trình vua. Bọn yêu che sáng, vua lầm tin theo. Lũ tà lấy hũ đựng trứng, bịt kín miệng lại, quăng xuống giòng sông. Trời Đế Thích xuống lấy ấn đóng miệng lại, chư thiên theo giữ, xuôi dòng dừng lại như trụ cắm đất. Vua nước hạ lưu đang ở trên đài, xa thấy giữa dòng có hũ trôi xuống, ánh sáng rực rỡ, như có oai trời. Bèn vớt lên xem, thấy dấu ấn Đế Thích, mở có trăm trứng, ra lệnh trăm người đàn bà ấp nuôi ấm nóng. Đủ ngày thành hình, nở ra trăm người con trai, sinh ra đã có trí thượng thánh, không dạy mà vẫn tự biết, nhan sắc hơn đời, tướng tốt hiếm có, tài cán thế lực hơn người trăm lần, tiếng nói vang như sư tử rống. Vua liền sắm đủ một trăm voi trắng, yên cương bảy báu, để cho con thánh nối dòng, khiến đi chinh phạt lân quốc. Bốn phương hàng phục, đều đến xưng thần. Lại đi đánh nước mình sinh ra. Cả nước lớn bé không ai là không run sợ. Vua hỏi: "Ai có khả năng chống lại lũ địch này?". Phu nhân nói: "Đại vương đừng sợ, hãy xem quân địch từ đâu, công thành hướng nào thì đến đó dựng đài quan sát. Tôi sẽ vì vua mà hàng phục chúng. Vua liền ra xem quân địch từ đâu, rồi cho dựng đài. Người mẹ lên đài, cất tiếng nói: "Tội lớn phản nghịch có ba. Không xa bọn tà, đời sau chịu tội, đó là một. Sống không biết cha mẹ, làm ngược hiếu hạnh, đó là hai. Ỷ thế giết cha mẹ, độc ác với ba ngôi báu, đó là ba. Ôm giữ ba nghịch, ác ấy không gì che nổi, các ngươi há miệng, chứng cớ hiện ngay". Người mẹ nắm vú mình, trời khiến sữa bắn, khắp miệng trăm con. Cảm sự tinh thành, uống sữa lòng buồn. Tất cả đều nói: "Đây chắc mẹ ta". Nước mắt ràn rụa, chắp tay bước lên, cúi đầu hối lỗi. Mẹ con mới gặp, không ai là không khóc lóc. Hai nước hòa thuận, tình hơn anh em, tám phương vui mừng, không ai là không khen hay. Các con thấy đời vô thường như huyễn, giã từ cha mẹ học đạo, xa đời dơ bẩn. Chín mươi chín người con đều chứng Duyên giác. Một người trị nước. Vua cha băng hà, bèn lên làm vua, đại xá các tội, phá bỏ lao ngục, san bằng hào ải, miễn tha tôi tớ, an ủi người hiếu đễ, nuôi dưỡng kẻ cô độc, mở kho tàng bố thí lớn, tùy ý dân muốn mà cho, lấy mười điều thiện làm phép nước, mọi người đều vâng đọc, nhà có con hiếu, dựng chùa lập tháp, cúng dường sa môn, đọc kinh luận đạo, miệng không bốn ác, độc dữ tiêu hết, thọ mệnh càng dài. Thiên đế nuôi giúp như cha mẹ nuôi con. Phật bảo các sa môn: "Người ở lại làm vua là thân ta. Vua cha nay là Bạch Tịnh, mẹ là Xá Diệu". Hạnh thương cho vô bờ của Bồ tát, bố thí như vậy. 24 Xưa Bồ tát lúc làm phạm chí, hiểu rõ kinh luật, người trong nước tôn làm thầy. Năm trăm học trò đều có đức Nho, mình ưa bố thí như tự hộ thân. Bấy giờ ở đời có Đức Phật hiệu là Tiệp Như Lai Vô Sở Trước Chính Chân Tối Chính Giác, chỉ đường ba cõi, thân về vốn không. Bồ tát thấy Phật, vui vẻ qui y, thỉnh Phật và Tăng ở lại nhà mình bảy ngày cúng dường trọn lễ. Học trò phạm chí tranh nhau đảm trách. Một người tuổi trẻ, thầy bảo nó về, nó lại xin làm việc. Thầy bảo: "Có việc nào không có người làm, người làm đi". Đồng tử đáp: "Chỉ có đèn là không có thắp". Thầy bảo: "Lành thay đệ tử, hãy lấy bình đựng đầy dầu mè, tự tắm rửa sạch, dùng khăn trắng quấn đầu rồi tự tay thắp lên". Trời, người, rồng, quỷ thấy sức mạnh của người ấy, không ai là không vỗ tay kinh ngạc mà khen: "Đời chưa từng có, đó chắc là Phật". Đức Phậtkhen người ấy, khiến đèn sáng suốt đêm mà đầu không hề gì. Lòng để nơi Kinh, hoát nhiên vô tưởng. Bảy ngày như thế, đều không lười mỏi. Đức Phậtthọ ký: "Trải vô số kiếp, con sẽ thành Phật hiệu là Định Quang, đỉnh đầu, trên vai đều có ánh sáng, dạy dỗ, cứu vớt chúng sinh, giúp độ số ấy vô lượng". Trời, người, rồng, quỷ nghe sẽ thành Phật, không ai là không vui vẻ, cúi đầu vái chúc. Phạm chí nghĩ: "Người kia thành Phật, ta chắc cũng thành". Bèn đợi Phật thọ ký, nhưng Phật lại đi. Bèn đến trước Phật, cúi đầu bạch: "Nay thiết lễ mọn cúng dường, thật con hết lòng xin Phật thọ ký". Phật bảo phạm chí: "Khi đồng tử này thành Phật, sẽ thọ ký cho ông". Phạm chí nghe sẽ thành Phật, vui quên cả thân mình. Từ đấy về sau, bèn bố thí lớn, kẻ đói cho ăn, người lạnh cho mặc, người bệnh cấp thuốc, các loài bò bay máy cựa, tùy chúng ăn gì, giúp cho đúng lúc, tám phương các nước đều khen là cha lành. Phật bảo Xá Lợi Phất: "Đồng Tử là Đức PhậtĐịnh Quang, còn phạm chí là thân ta". Hạnh thương cho vô bờ của Bồ tát, bố thí như vậy. 25 Xưa có Bồ tát là người nhà giàu, chứa của muôn ức, thường thờ tam bảo, thương tới chúng sinh. Ra chợ xem thấy bán ba ba, đem lòng thương xót, hỏi giá đắt rẻ? Chủ biết Bồ tát có đức thương khắp, ưa cứu chúng sinh, của giàu không xiết, đắt rẻ không thành vấn đề nên đáp: "Giá một trăm vạn, có mua thì tốt, không mua thì tôi sẽ đem làm thịt". Bồ tát đáp: "Hay lắm". Liền trả đúng giá, đem ba ba về nhà, rửa ráy, chăm sóc vết thương. rồi đem ra sông thả. Trông nó bơi đi Bồ tát vừa buồn vừa vui, thề rằng: "Mong loài chúng sinh, quỷ đói núi Thái, và lao ngục vua đời sớm được thoát nạn, thân an mạng toàn, như ngươi hiện nay". Rồi cúi đầu lạy mười phương, chắp tay nguyện tiếp: "Chúng sanh bồn chồn, thật khổ vô lượng. Ta xin làm trời, làm đất, vì hạn làm mưa, vì trôi làm bè, kẻ đói cho ăn, khát cho uống, lạnh cho áo, nóng cho mát, vì bệnh cho thuốc, vì tối cho sáng... Nếu có đời ô trọc, điên đảo, ta sẽ ở trong ấy thành Phật, độ chúng sinh kia". Mười phương chư Phật khen lời thề, ca ngợi: "Lành thay! Ngươi tất được như chí nguyện". Đêm sau ba ba đến cắn vào cửa nhà Bồ tát. Lạ lùng vì ngoài cửa có tiếng, người tớ ra thấy ba ba, trở vào nói lại sự việc. Bồ tát ra xem, ba ba nói tiếng người rằng: "Tôi nhận ân lớn, thân được vẹn toàn, không biết lấy gì báo đáp ân sâu. Tôi là loài thủy trùng, biết nước lên xuống, lụt lớn sắp đến, chắc là hại lớn, xin mau đóng thuyền, đến lúc đó sẽ đón nhau". Bồ tát đáp: "Rất tốt!" Sáng sớm hôm sau, bèn đến cửa cung như việc tâu vua. Vua cho Bồ tát từng có tiếng tốt, nên tin dùng lời ấy, bèn dời chỗ thấp lên cao. Giờ lụt sắp đến, ba ba tới nói: "Nạn lụt đã đến, khá mau xuống thuyền, theo tôi mà đi thì có thể không bị nạn". Thuyền theo sau ba ba, có rắn đến thuyền, Bồ tát nói: "Vớt nó lên", ba ba nói: "Rất tốt!" lại thấy con cáo bị trôi, Bồ tát bảo vớt lên, ba ba cũng nói "tốt" lại thấy có người đang trôi, vỗ mặt kêu trời: "Thương cứu mạng tôi". Bồ tát nói: "vớt lên", ba ba nói: "Cẩn thận, đừng vớt, vì lòng người dối trá, ít có thủy chung, quên ân mà chạy theo thế lực, ưa làm điều hung ngược". Bồ tát nói: "Loài vật, ngươi cứu, còn loài người, ta khinh rẻ, há là nhân sao? Ta không nỡ vậy". Thế rồi Bồ tát vớt lên, ba ba nói: "Sẽ hối hận đấy". Khi đến đất lành, ba ba giã từ: "Đền ơn xong xin về". Bồ tát nói: "Khi ta được thành Như Lai Vô Sở Trước Chí Chân Chính Giác tất sẽ độ ngươi". Ba ba nói: "Rất tốt!" Ba ba lui về. Rắn, Cáo mỗi con ra đi. Cáo đào hang ở, được một trăm cân vàng tử ma nổi tiếng của người xưa giấu cất. Vui mừng nghĩ: "Ta sẽ đem đền ơn kia". Cáo đem lại nói: "Thú mọn nhân ơn, được cứu mạng hèn. Thú là vật ở hang, nên tìm hang để ở, thì được một trăm cân vàng. Hang ấy không phải của mả, chẳng phải của nhà, chẳng phải cướp, chẳng phải trộm. Vì tôi tinh thành nên được. Nay xin đem dâng bậc hiền". Bồ tát nghĩ sâu: "Không lấy thì luống mất, không ích gì cho dân nghèo, lấy để bố thí, chúng sinh được cứu, như vậy không tốt sao?" Bèn theo nó đến lấy. Người bị trôi thấy vậy nói: Chia cho tôi một nửa. Bồ tát liền lấy mười cân cho nó. Người bị trôi nói: Ông đào mả cướp tiền vàng, tội ấy phải thế nào? Nếu không chia phân nửa, tôi tất báo quan. Bồ tát đáp: "Dân nghèo thiếu thốn, ta muốn cho đều, ngươi muốn chiếm riêng, không là bất công sao?, người bị trôi bèn đi báo quan. Bồ tát bị bắt, không có chỗ kêu xin, chỉ biết qui mệnh tam bảo, hối lỗi tự trách thương nguyện chúng sinh sớm thoát tám nạn, đừng có kết oán như ta hiện nay. Cáo, rắn gặp nhau bàn: "Việc này làm sao đây?" Rắn nói: "Tôi sẽ cứu cho" bèn ngậm thuốc hay, mở khóa vào ngục, thấy tình trạng Bồ tát nhan sắc suy tổn, lòng thương bùi ngùi, gọi Bồ tát nói: "Ngài đem thuốc này theo mình, tôi sẽ cắn thái tử, nọc đọc rất ghê, không ai có thể cứu được, hiền giả hãy đem thuốc ấy tâu vua, rịt vào sẽ khỏi". Bồ tát yên lặng, còn rắn làm y theo lời. Thái tử gần chết, vua ra lệnh: "Ai có khả năng cứu được, sẽ phong làm tướng quốc, cùng ta tham dự việc nước". Bồ tát tâu lên, thuốc rịt vào liền khỏi. Vua vui mừng hỏi nguyên do, người tù tâu rõ đầu đuôi, vua buồn bã tự trách: "Ta thật ám muội quá chừng", liền giết kẻ bị trôi, đại xá cả nước, phong Bồ tát làm tướng quốc, nắm tay dẫn vào cung cùng ngồi mà nói: "Hiền giả đọc sách nào, theo đạo gì mà làm việc nhân như đất trời, bố thí đến chúng sinh như thế?" Bồ tát đáp: "Tôi đọc kinh Phật, theo đạo Phật". Vua hỏi: "Phật có yếu quyết gì?" Bồ tát đáp: "Có chứ, Phật dạy bốn vô thường, ai giữ đươc thì dứt các họa, phước lớn thịnh". Vua nói: "Lành thay! Xin được điều báu ấy", Bồ tát nói: "Khi trời đất kết cuộc, bảy mặt trời cùng thiêu, biển lớn khô cạn, trời đất cháy rực, núi Tu di lở sụp, trời, người, rồng, quỉ, thân mạng chúng sinh, bỗng cháy tiêu hết. Trước thịnh nay suy, đó gọi là Vô thường. Kẻ sĩ sáng suốt giữ niệm vô thường nói rằng trời đất còn như thế, huống chi quan tước đất nước nào có trường tồn. Người đươc niệm đó mới có chí thương rộng lớn". Vua nói: "Trời đất còn vậy, huống gì đất nước, Phật dạy vô thường, lòng ta tin rồi". Bồ tát lại nói: "Cái khổ càng khổ, vua nên biết điều ấy". Vua đáp: "Xin nghe lời dạy sáng suốt". Bồ tát nói: "Linh thức chúng sinh, vi diệu khó biết, thấy không hình, nghe không tiếng, rộng khắp thiên hạ, cao không gì che, mênh mông không bờ, xoay vần không mé, nhưng đói khát trong sáu dục, như biển không, đủ nơi các sông, vì thế thay đổi nhiều lần. Các thứ độc khổ, thiêu đốt ở ngục núi Thái hoặc làm súc sinh, bị mổ cắt róc xé, chết lại bị bằm đau đớn khôn lượng, hoặc được làm người, ở thai mười tháng, đến sinh hẹp, như dây xiết thân, vừa lọt xuống đất, đau như từ trên cao rơi xuống, bị gió thổi như lửa đốt thân, tắm rửa nước ấm, quá hơn nước đồng, tự rót vào thân, tay thô rờ người như dao tự róc. Các điều đau đớn như vậy rất khổ khó nói. Sau khi tuổi lớn, các căn chín muồi, đầu bạc răng rụng, trong ngoài hư hao, chỉ còn lòng sầu chuyển thành bệnh nặng, bốn đại muốn lìa, đốt đốt đều đau, nằm ngồi đợi người, thuốc đến thêm buồn. Khi mạng sắp hết, các gió đều nổi, cắt gân giã xương, các lỗ đều nghẹt, hết thở lìa hồn, theo nghiệp mà đi. Nếu sinh lên trời, trời cũng có giàu nghèo sang hèn, tuổi thọ dài ngắn. Khi phước hết tội đến, đọa xuống núi Thái, ngạ quỉ, súc sinh, đây gọi là khổ". Vua nói: "Lành thay! Phật dạy yếu quyết sự khổ, lòng ta tin rồi". Nhà giàu lại nói: "Phàm cái gì có ắt phải không, cũng như hai cây cọ nhau sinh lửa, lửa lại đốt cây, rốt cuộc lửa cây đều mất, hai vật đều không. Xưa các tiên vương, cung điện, thần dân, nay đã tiêu diệt, không thấy đâu hết, đó cũng là không". Vua nói: "Lành thay! Phật dạy yếu lý của không, lòng ta tin rồi". Nhà giàu lại nói: "Phàm thân là đất, nước, gió, lửa. Cứng là đất, mềm là nước, nóng là lửa, hơi là gió. Khi mạng hết hồn đi, bốn đại đều lìa, không thể bảo toàn nên gọi vô ngã". Vua nói: "Lành thay! Phật dạy về vô ngã, lòng ta đã tin rồi. Thân này còn không thể giữ được huống gì là đất nước. Đau đớn thay cho tiên vương ta, không nghe được lời dạy về vô thường, khổ, không, vô ngã của bậc Vô Thượng Chính Chân Tối Chính Giác". Nhà giàu nói: "Trời đất còn vô thường, thì ai có thể giữ được đất nước này. Tại sao không đem hết của kho ra bố thí cho người nghèo đói đi. Vua nói: "Lành thay! Lời dạy của minh sư rất thích thú". Liền lấy hết của kho mà bố thí cho người nghèo thiếu. Kẻ góa vợ người góa chồng, trẻ mồ côi đều khiến họ làm cha mẹ làm con cái. Dân chúng áo quần rực rỡ, giàu nghèo giống nhau, cả nước hớn hở, vừa cười vừa đi, ngửa mặt lên trời khen: "Bồ tát thân hóa đến như thế ư?" Bốn phương khen ngợi đức, nước bèn thái bình. Phật bảo các sa môn: "Người nhà giàu đó là thân ta. Quốc vương ấy là Di Lặc, ba ba ấy là A Nan, cáo là Thu Lộ Tử, rắn là Mục Kiền Liên, người bị trôi là Điều Đạt!". Hạnh thương cho vô bờ của Bồ tát, bố thí như vậy. 26 Xưa có Bồ tát làm hạnh sa môn, thường ở núi rừng, lòng từ thương xót nghĩ: "Chúng sinh chịu khổ lâu dài, xoay vần ba cõi, lấy gì cứu họ?" Đang tỉnh tâm suy nghĩ, tìm nguồn đạo rộng, đáng để cứu họ, thì áo có rận làm thân ngứa ngáy, lòng bực bội, chí đạo không định. Bèn lấy tay mò tìm, bắt được con rận, trong lòng thấy thương, muốn tìm cái gì để nó được yên, thấy có xương thú liền nhẹ nhàng để vào. Con rận ăn được bảy ngày, hết rồi bỏ đi, lần lữa sống chết, còn Bồ tát thành Phật, xuôi ngược giáo hóa. Bấy giờ trời tuyết nhiều, đường ngập, không người đi lại. Nước có nhà giàu, thỉnh Phật cùng vài nghìn tỳ kheo, cúng dường bảy ngày, hết lòng nghiêm cẩn, giòng họ đều thế. Tuyết vẫn chưa tan, Phật bảo A Nan, khiến các sa môn đều về tinh xá. A Nan nói: "Chủ nhân kính cẩn, lòng vẫn chưa sờn, mà tuyết nhiều chưa dứt, không có chỗ nào đi khất thực được". Thế Tôn nói: "Ý chủ đã xong, không muốn cúng nữa", Đức Phậtdẫn đi, sa môn đi theo trở về tinh xá. Sáng ngày Thế Tôn bảo A Nan: "Ông hãy đến chủ nhà khất thực". A Nan vâng lời, đến cửa nhà chủ. Người nhà giữ cửa thấy không hỏi nguyên do. Một chốc A Nan trở về quì xuống cúi đầu như việc thưa lên, lại hỏi lý do vì sao ý chủ bất thường, thay đổi mau vậy?" Đức Phậtliền nói rõ như trên, rồi nói: "A Nan! Ta vì lòng từ, cứu mạng rận hèn, cho ăn xương hư bảy ngày, nên nay được cúng các món ngon nhất đời. Kiếp trước thi ân, ơn bằng bảy ngày, nên lòng người ấy dừng lại không còn như trước. Huống có lòng từ với Phật và chúng sa môn trì giới thanh tịnh hạnh cao vô dục, trong ngay tâm mình, ngoài dùng từ hóa, cung kính cúng dường cho một vị tỳ kheo hạnh cao, hơn là nhiều kiếp hết lòng bố thí kẻ phàm. Sở dĩ như thế, nên các tỳ kheo phải nhớ giữ. Kinh Phật, có giới, có định, có tuệ, có giải thoát và giải thoát tri kiến. Đem năm đức này thương dẫn chúng sinh, khiến họ xa lìa cái họa vạn khổ trong ba cõi". A Nan nói: "Hay thay người nhà giàu kia! Được tận mặt thương nuôi đức Như Lai Vô Sở Trước Chính Chân Đạo Tối Chính Giác Đạo Pháp Ngự Thiên Nhân Sư cùng các sa môn, hoặc có bậc đắc Câu hạng, Tần lai, Bất hoàn, Ứng chân (Tu đà hoàn, Tư đà hàm, A na hàm, A la hán), hoặc có vị là khai sĩ, mở lòng từ rộng lớn, dẫn đường chúng sinh, phúc ấy khó lường, như biển, khó sánh như đất. Đức Phật bảo: "Lành thay! A Nan! Thật đúng như ngươi nói! Thời Phật khó gặp, kinh pháp khó nghe, tỳ kheo tăng khó được cúng dường, như hoa ưu đàm chỉ một lần nở". Đức Phật nói như vậy, tỳ kheo vui vẻ cúi đầu vâng làm. Hạnh thương cho vô bờ của Bồ tát, bố thí như vậy.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét