THÍCH TÂM TRỌNG

THÍCH TÂM TRỌNG
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT

Thứ Sáu, 31 tháng 5, 2013

Giải tỏa sự lo âu

Giải tỏa sự lo âu Trong xã hội ngày nay, có rất nhiều điều khiến cho chúng ta phải lo âu. Và khi sự lo âu ấy kéo dài, có cường độ mạnh thì sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống của chúng ta. Lo âu là những rối loạn gây căng thẳng, sợ hãi, e ngại và lo lắng quá mức. Những rối loạn ấy ảnh hưởng đến cách thức chúng ta cảm nhận và hành xử, và chúng có thể biểu hiện qua những triệu chứng vật lý rõ ràng. Sự lo âu ở mức độ nhẹ như là trạng thái mơ hồ và không an tâm, còn sự lo âu nặng có thể là cực kỳ suy nhược, có sức ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống hàng ngày. Hầu hết mọi người đều cảm thấy lo âu khi phải đối diện với một hoàn cảnh mới, hoặc là khi cố gắng làm tốt một việc gì đó, chẳng hạn như là khi phải diễn thuyết trước công chúng. Sự lo âu sơ sơ, hay là ở mức bình thường trước những tình huống ấy là chuyện thường xảy ra và thậm chí chúng còn có lợi nữa. Vì những sự lo âu ấy có thể thúc đẩy người ta chuẩn bị tốt hơn, tập trung vào công việc của mình hơn. Tuy nhiên, nếu ai đó không hề lo lắng gì cả, hoặc là lo âu quá mức thì rất dễ dẫn đến những khó khăn trong cuộc sống. Những ai không cảm thấy lo lắng khi phải đối mặt với những tình huống quan trọng thì thường thiếu sự tập trung và thiếu cảnh giác. Mặt khác, những người lo âu thái quá thì thường cảm thấy đuối sức, không năng động, và không thể nào hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình. Những người lo âu thái quá thường chịu khổ đau bởi một trong số những chứng rối loạn lo âu, như là: - Sự rối loạn lo âu không cụ thể, là một loại rối loạn kinh niên được thể hiện qua sự lo âu quá mức, kéo dài và lo âu về những sự kiện bình thường trong cuộc sống, về những đối tượng hay những hoàn cảnh quá ư là bình thường. - Rối loạn hoảng sợ, là một loại lo âu được đặc trưng bởi những sự tấn công thình lình và chớp nhoáng của sự kinh hãi và e sợ với cường độ cao, chúng dẫn đến sự run rẩy, hoang mang, chóng mặt, buồn nôn và khó thở. - Sự ám ảnh, là những lo sợ vô lý và sự né tránh những hoàn cảnh, những con vật, hoặc là những đồ vật tiếp xúc hàng ngày, sự lo sợ ấy có thể được xem như là vô lý hoặc là không cần thiết, nhưng người bị ám ảnh vẫn không thể làm chủ được lo âu do nó tạo ra. - Rối loạn lo âu mang tính xã hội, là một loại ám ảnh xã hội được đặc trưng bởi sự lo sợ bị đánh giá một cách tiêu cực bởi người khác hay là lo sợ về sự lúng túng trước đám đông vì những hành động không lường trước, chẳng hạn như là sợ sân khấu, lo sợ sự thân cận, và sợ bị sỉ nhục. - Rối loạn xung lực ám ảnh, là một loại lo âu được đặc trưng bởi những tư tưởng hay hành động lặp đi lặp lại, đau khổ và gượng ép, người bị chứng này có thể lau chùi những đồ dùng cá nhân, rửa tay thường xuyên, hoặc là thường xuyên kiểm tra các ổ khóa, lò sấy, hay các công tắc đèn một cách ám ảnh. - Rối loạn căng thẳng hậu sang chấn, là một loại lo âu được tạo nên bởi những sang chấn tâm lý trước đó, chẳng hạn như chiến tranh vũ trang, bị hãm hiếp, những hoàn cảnh bị bắt làm con tin, hoặc là bị tai nạn nghiêm trọng. - Rối loạn lo âu về sự chia ly, là một loại rối loạn được đặc trưng bởi những mức độ cao của sự lo âu khi bị chia cách với một người, hay một địa điểm nào đem đến những cảm giác an toàn hay an ổn cho bản thân. Những rối loạn lo âu thường không có một nguyên nhân rõ ràng. Chúng có thể được sinh ra từ những yếu tố sinh học, sức khỏe của bản thân, tâm lý và xã hội, hoặc là từ sự kết hợp của những yếu tố này. Nói một cách cụ thể, những yếu tố góp phần tạo nên sự lo âu gồm có những yếu tố di truyền và sinh lý thần kinh, những yếu tố tâm lý, rồi đến những yếu tố môi trường và xã hội. Xét từ một góc độ khác, có một yếu tố tâm lý, hay nói chính xác là một thái độ, góp phần không nhỏ trong việc gây nên sự lo âu, đó là thái độ xem mình là trung tâm, mình là quan trọng nhất trong thế giới này. Không biết rằng tất cả mọi sự vật, hiện tượng đều nương nhau mà tồn tại, kể cả con người, đều phải phụ thuộc vào những thứ khác, những người khác, và mọi thứ đều luôn luôn thay đổi, không có ngừng nghỉ. Chính thái độ và nhận thức sai lầm này làm cho chúng ta cảm thấy lo âu, bất an trước mọi thứ. Chúng ta đặc biệt lưu tâm đến những gì liên quan đến bản thân. Những cái gì thuộc về ‘tôi’ và ‘của tôi’ đều trở nên vô cùng quan trọng. Chúng ta càng cho mình là quan trọng và những gì liên quan đến mình là quan trọng bao nhiêu thì chúng ta càng bị lo âu bấy nhiêu. Để giúp giải tỏa những rối loạn lo âu, các chuyên gia về sức khỏe tinh thần thường sử dụng những phương pháp khác nhau để giúp người ta giải tỏa những rối loạn lo âu. Những phương pháp này bao gồm việc sử dụng các loại thuốc tác động đến tâm lý và những liệu pháp tâm lý, cụ thể là liệu pháp hành vi nhận thức. Trong việc điều trị bằng liệu pháp hành vi nhận thức, các nhà trị liệu thường giúp cho thân chủ của họ hiểu rõ về bản chất của sự rối loạn lo âu mà họ đang mắc phải, về những nguyên nhân đã dẫn đến sự rối loạn lo âu đó. Nhà trị liệu còn hướng dẫn cho thân chủ soi rọi vào, nhìn thẳng vào những suy nghĩ vô lý, vô căn cứ đã dẫn đến sự lo âu của họ. Ngoài ra còn có những biện pháp khác cũng có thể góp phần trong việc giải tỏa sự rối loạn lo âu, chẳng hạn như tập thể dục, tọa thiền, dùng phép thôi miên, và các thủ thuật thư giãn như tập yoga, tập thể dục dưỡng sinh, tắm bằng nước ấm, học cách sắp xếp công việc hàng ngày, chia sẻ với bạn bè, người thân. Tuy nói rằng, có nhiều nguyên nhân dẫn đến sự rối loạn lo âu, nhưng mấu chốt của vấn đề là nằm ở nội tâm của chúng ta, ở nơi những gì diễn ra bên trong, cụ thể là ở nơi những suy nghĩ của chúng ta. Cách chúng ta nhìn nhận và hiểu vấn đề trong mối liên hệ với bản thân đóng vai trò quyết định đến tâm tình của chúng ta đối với hoàn cảnh hay đối tượng đó. Đức Phật đã dạy rằng, tất cả những hạnh phúc hay khổ đau của chúng ta không phải đến từ người khác hay từ những thứ khác mà là từ chính trong nội tâm của chúng ta. Vì thế điều quan trọng để giải tỏa sự lo âu là chúng ta làm sao để chuyển đổi cách tư duy và thay đổi những ý nghĩ thường dẫn đến sự lo âu của chúng ta. Đứng trên lập trường đó, chúng ta có thể vận dụng những giải pháp sau đây để giúp bản thân giải tỏa được những rối loạn lo âu trong tâm mình. Trước hết là tính hài hước đối với chính mình. Tâm chúng ta được ví như vượn chuyền cành, không lúc nào yên nghỉ, chúng ta lo nghĩ hết chuyện này đến chuyện kia. Nếu chúng ta bình tâm lại và nhìn vào những vấn đề rắc rối trong tâm thì chúng ta sẽ thấy có không ít vấn đề khá khôi hài, khá buồn cười. Vì thế, mỗi khi nhận thấy tâm mình chạy nhảy lung tung như thế, thay vì lo âu, buồn phiền vì những suy tưởng ấy thì chúng ta hãy mỉm cười với chúng, mỉm cười với cái tâm vọng động của mình. Hãy thử tưởng tượng, chúng ta có thể nín cười được không khi xem một vở kịch mà nhân vật trong vở kịch ấy có sự thay đổi liên tục trong ý nghĩ của anh ta và anh ta chạy theo sự sai sử của những ý nghĩ ấy. Có tính hài hước và có thể mỉm cười với chính mình là một giải pháp tốt để giải tỏa những mối âu lo trong lòng. Đối với những người nào không thể mỉm cười với chính mình thì mỗi khi bị lo âu, hãy nghĩ rằng, sự lo âu thái quá cũng không có ý nghĩa gì cả, không có ích lợi gì cho chúng ta cả. Nếu chúng ta gặp vấn đề khó khăn và có thể làm gì đó để giải quyết vấn đề ấy, thì không cần phải lo âu về nó vì chúng ta có thể chủ động thực hiện giải pháp để giải quyết vấn đề. Vả lại, nếu không có cách gì để giải quyết vấn đề, thì dù chúng ta có lo âu về nó cũng vô ích mà thôi, sự lo âu không giải quyết được vấn đề gì cả. Như thế là dù vấn đề có thể được giải quyết hay không cũng không có ý nghĩa gì cả khi chúng ta lo âu hay buồn phiền về nó. Hãy ngồi xuống và tìm giải pháp để giải quyết vấn đề, nếu có giải pháp nào đó có thể dùng được thì hãy tiến hành ngay, không cần phải lo âu và đứng ngồi không yên vì nó. Nếu như không tìm ra giải pháp nào để chuyển đổi tình hình thì dù có lo âu cũng vô ích. Hãy quên nó đi. Chúng ta hãy cố gắng suy nghĩ theo cách này đối với những vấn đề khó khăn trong cuộc sống nếu chúng ta thấy cách này giúp ích được phần nào. Tiếp đến là đừng quá lo lắng về việc mình làm trò cười cho thiên hạ. Đôi khi chúng ta quá lo lắng và căng thẳng trước một tình cảnh mới. Chúng ta lo sợ rằng mình sẽ làm những trò lố bịch, chúng ta nghĩ rằng, “mình có thể làm những điều sai trái, mình sẽ trông như một kẻ ngớ ngẩn, và mọi người sẽ cười nhạo mình, sẽ nghĩ xấu về mình”. Trong những trường hợp như thế, thay vì có lối suy nghĩ như trên thì chúng ta hãy nghĩ rằng, “được rồi, nếu mình có thể tránh để không bị mọi người xem như một kẻ ngớ ngẩn thì tránh. Còn nếu có điều gì đó xảy ra và mình trông như một kẻ ngở ngẩn thì cũng chẳng sao, hãy là một kẻ ngớ ngẩn”. Suy nghĩ theo cách này sẽ giúp chúng ta bớt lo âu. Chúng ta không thể nào dự đoán hết được những gì có thể diễn ra trong tương lai, cũng như không thể dự đoán được người khác sẽ nghĩ gì về mình, những gì họ sẽ nói sau lưng mình, chúng có thể tốt, cũng có thể không tốt. Đối với một vài thứ chúng ta phải buông bỏ và tự nói với chính mình rằng, “được thôi, điều đó không thành vấn đề”. Và nghĩ “nếu mình đã làm gì đó ngốc nghếch và mọi người nghĩ xấu về mình, không hề gì. Mình gây ra lỗi lầm, mình làm sai cho nên không có gì lạ khi mọi người chú ý đến những điều đó. Tuy nhiên, nếu mình có thể thừa nhận những lỗi lầm ấy và sửa đổi chúng càng nhiều càng tốt, thì mình sẽ hoàn thành tốt trách nhiệm của mình và chắc chắn rằng người khác cũng sẽ không dựa vào những lỗi lầm ấy để chống lại mình”. Lối suy nghĩ này sẽ giúp chúng ta rất nhiều khi phải đối diện với những tình huống, những hoàn cảnh mới. Một giải pháp khác để giải tỏa sự rối loạn lo âu đó là quan tâm đến người khác nhiều hơn nữa. Chúng ta hãy rèn luyện tâm mình làm sao để chúng ta có thể quan tâm đến người khác nhiều hơn đến bản thân. Điều này không có nghĩa là chúng ta không chú ý gì đến bản thân cả. Chúng ta cần quan tâm đến bản thân, nhưng quan tâm một cách lành mạnh, chứ không phải theo cách lo âu và căng thẳng. Lẽ đương nhiên là chúng ta cần giữ gìn sức khỏe và giữ cho tâm mình được an vui. Chúng ta có thể làm điều này một cách lành mạnh và dễ chịu bằng cách chúng ta luôn tỉnh giác đối với những gì chúng ta đang suy nghĩ, đang nói, và đang làm. Chú tâm đến bản thân mình theo cách này là cần thiết và nên thực tập. Đồng thời với sự quan tâm đến người khác, chúng ta hãy nghĩ đến lòng tốt của người khác, nghĩ đến lòng tốt của cha mẹ, bạn bè, người thân, của thầy cô giáo, và ngay cả lòng tốt của những người xa lạ, những người gián tiếp giúp đỡ chúng ta trong các vấn đề của cuộc sống. Khi nghĩ đến lòng tốt của người khác thì tâm trạng của chúng ta và cách chúng ta nhìn người khác sẽ được chuyển đổi rất nhiều. Thường thì chúng ta nghĩ đến lòng tốt của mình đối với người khác chứ ít khi nghĩ đến lòng tốt của người khác dành cho mình. Chúng ta thường có ý nghĩ rằng “mình quan tâm chăm sóc họ, giúp đỡ họ rất nhiều, thế mà họ lại không biết ơn mình, thậm chí có người còn ghét mình, đối xử không tốt với mình”. Thậm chí nếu có ai đó đến hỏi thăm để giúp đỡ mình thì mình lại nghĩ xấu cho người ta, lại nghĩ người ta đang có âm mưu gì đấy, hoặc là đang muốn lợi dụng gì đấy. Chính những ý nghĩ này khiến cho chúng ta lo âu và sợ hãi, muốn xa lánh mọi người. Và chính mối bận tâm về bản thân đã khiến cho chúng ta thường hay nghi ngờ và không thể nào nhìn thấy hoặc chấp nhận lòng tốt cũng như tình thương yêu mà người khác dành cho mình với tất cả chân tình. Bên cạnh những người thân quen trực tiếp giúp đỡ chúng ta trong cuộc sống, công ơn cha mẹ, tình cảm bạn bè, ân tình thầy cô,… còn có rất nhiều người trong xã hội đã góp phần không nhỏ vào cuộc sống của chúng ta. Chẳng hạn như công nhân xây dựng, bộ đội biên phòng, những người nông dân, công nhân lao động,… Rất nhiều người trong số họ chúng ta không hề biết đến, thậm chí chúng ta không biết họ là ai để nói lời cảm ơn họ. Nhờ vào lòng tốt và sự nỗ lực của họ mà chúng ta có thể sống thanh bình và đầy đủ tiện nghi hơn. Một khi chúng ta biết nghĩ đến lòng tốt của người khác, nghĩ đến công ơn và sự giúp đỡ của người khác thì chúng ta sẽ không thường oán trách và đa nghi nữa, nhờ vậy mà chúng ta ít bị lo âu, phiền muộn hơn. Chúng ta cũng có thể giải tỏa sự lo âu bằng cách suy xét đến những điều bất lợi của thái độ lấy tự ngã làm trung tâm. Thái độ lấy tự ngã làm trung tâm sẽ khiến cho chúng ta tự làm khổ mình bởi những chuyện không đáng, chỉ nghĩ đến điều lợi cho mình, không quan tâm đến người khác, do vậy mà thường hay mâu thuẫn và dễ gây bất hòa với người khác. Khi biết suy xét đến những tổn hại do thái độ lấy tự ngã làm trung tâm thì chúng ta dễ dàng từ bỏ nó, và chúng ta có thể mở rộng tấm lòng mình để quan tâm đến người khác, nghĩ đến lợi ích của người khác và sống hài hòa với mọi người. Rút ra những lợi ích từ trong sự tổn hại cũng là một cách để giải tỏa bớt lo âu, phiền muộn. Mặc dù chúng ta dường như bị người khác làm hại, nhưng chúng ta vẫn có thể nhìn nhận vấn đề ở một góc độ khác, tức là nhờ người làm hại đó mà chúng ta có được một số điều lợi ích nào đó. Chẳng hạn như chúng ta đã từng bị người khác chèn ép, gây khó khăn cho công việc của mình, đối xử khắt khe với mình. Chính từ trong hoàn cảnh đó mà chúng ta đã phấn đấu vươn lên để thể hiện tất cả những khả năng của mình, để chứng tỏ năng lực của mình nhằm thuyết phục những người gây khó khăn đó, nhằm chuyển đổi cách nhìn của họ đối với mình. Và chúng ta đã làm được điều đó. Như vậy là chính những người gây khó khăn đó đã làm tác nhân thúc đẩy sự nỗ lực, tính sáng tạo và phát huy khả năng của mình. Nếu chúng ta đã nghĩ được như thế thì liệu chúng ta còn bực tức, oán hận họ nữa không? Hoàn cảnh mà chúng ta cho là mình bị hại ấy chính là nghịch tăng thượng duyên. Cho nên chúng ta không nên buồn phiền, ngược lại còn cảm ơn nó nữa. Nếu chúng ta biết cách chuyển đổi tâm niệm và lối suy nghĩ của mình thì dù trong hoàn cảnh bi đát thế nào, chúng ta vẫn có thể nhận thấy được những lợi ích từ nó, nhờ vậy mà bớt đi ưu sầu, lo lắng. Thực tập tâm thương yêu và lòng bi mẫn đối với mọi người cũng là một biện pháp tích cực để xoa dịu nỗi lo âu, phiền muộn của mình. Khi mà chúng ta có thể suy nghĩ đến lòng tốt của người khác, nghĩ đến những ân tình của họ đã dành cho mình, những ích lợi mà họ đã đem đến cho mình thì chúng ta dễ dàng phát sinh lòng thương yêu, quý mến họ và muốn đem an vui, hạnh phúc đến cho họ, muốn giúp họ thoát khỏi những sầu khổ. Và, như là một hệ quả, khi chúng ta đã có thể trải lòng thương yêu, quan tâm đến người khác, ghi nhớ ân tình của người khác thì chúng ta không còn nặng lòng dò xét, đa nghi đối với họ nữa. Do vậy mà chúng ta có thể chia sẻ tâm tư, tình cảm của mình với họ, cộng tác với họ trong công việc, cùng họ giải quyết những khó khăn. Nhờ thế mà chúng ta không còn bị lo âu dày vò nữa. Đấy là những biện pháp tích cực có thể giúp chúng ta giải tỏa cũng như ngăn ngừa những rối loạn lo âu có thể phát sinh. Bên cạnh đó còn có một số biện pháp khác giúp chúng ta hạn chế những nguy cơ dẫn đến rối loạn lo âu, và những phương pháp giúp làm chủ hoặc là giảm bớt những triệu chứng của nó. Những biện pháp ấy là: hạn chế sử dụng cà phê, trà, sô-cô-la, và tránh dùng rượu, bia, cần sa; tham vấn ý kiến bác sĩ, dược sĩ trước khi sử dụng thuốc hay các loại dược thảo xem chúng có chứa những hóa chất gây lo âu, hồi hộp hay không; tập thể dục thường xuyên; ăn uống điều độ và lành mạnh; ngủ điều độ; và nhờ đến sự tư vấn của các chuyên gia tâm lý cũng như sự giúp đỡ của người khác trong lúc bị sang chấn tâm lý và sau khi bị sang chấn. Với những giải pháp này, hy vọng là mọi người có thể áp dụng chúng vào trong đời sống hàng ngày để ngăn ngừa và giải tỏa những mối lo âu của bản thân trước những bước thăng trầm của cuộc sống.

Giải thoát

Giải thoát Lão Bốn Nham nay bảy sáu tuổi, sống cùng vợ tại một hẻm nhỏ khu phố Bà Triệu. Vào một đêm khuya, chiếc bình thủy tinh cắm hoa trên bàn thờ Phật của lão bị ngã đổ. Vợ chồng lão giật thót. Lão nhỏm dậy bật điện, thấy miểng chai vung vãi khắp nhà. Lão bực tức gom hoa đang vung vãi ném ra ngoài. Bà vợ lui cui quét dọn miểng chai, chép miệng tiếc hùi hụi. Mím môi nhìn quanh quất như quyết tìm cho ra thủ phạm, lão giơ cao ngón tay gõ gõ vào không gian, miệng lảm nhảm: “Làm đổ được cái bình lớn như thế này, ắt con chuột phải lớn”. Bà vợ cãi: “Sao ông biết là con chuột? Con mèo thì sao?”. Lão Bốn Nham gãi gãi chót mũi, mặt trầm tư, giọng đầy vẻ phân tích: “Con mèo ít khi làm ngã đổ vật gì. Nó là giống săn đêm siêu phàm. Tốc độ nhưng cẩn trọng, nhẹ nhàng mà quyết đoán. Chỉ có con chuột. Chuột. Chỉ cái giống mắt ti hí, mỏ nhọn, phá phách, tham ăn ấy, mới chạy ào ào không ngó trước ngó sau”. Bà vợ nói, giọng gắt gỏng vì mất ngủ: “Ông gài bẫy bắt nó đi. Tôi nướng, nấu cháo cho heo”. Lão Bốn Nham nói, giọng lạnh băng: “Sáng mốt, heo của bà sẽ được thưởng thức món cháo chuột”. Quét dọn xong, vợ chồng lão tắt điện đi ngủ. Vợ chồng lão rất tiếc cái bình thủy tinh, nhưng không nói gì nữa, nuốt tiếc vào bụng. Người già thường lắm lời, nhưng vợ chồng lão lại ít lời, đôi khi cả ngày không có lấy một tiếng. Chiếc bình thủy tinh cắm hoa của lão Bốn Nham tuổi đời của nó đã gần 40 năm. Kể ra, một vật dụng thủy tinh mà được tuổi thọ như thế quả cũng hiếm. Nằm trên giường, lão suy nghĩ: Cái bình của mình bị chết vì một con chuột mình chưa biết mặt mũi. Nó là thủ phạm phải tìm ra và trừng trị. Lão lẩm nhẩm trong miệng: “Không thể gài cạm. Dính cạm, nó sẽ lôi đi mất. Phải dùng lồng sắt. Chỉ có lồng sắt mới nhốt được nó. Ngay cọp beo mà vào lồng sắt cũng bó tay, huống gì thứ chuột”. Đột ngột, câu đồng dao hồi thơ ấu hiện về trong trí lão. Câu đồng dao ấy toát lên sự ma quái, dị thường, khiến người ta phải e ngại, đề phòng... “Mũi tai diện mạo cứ tưởng là dơi/ Đến khi qua đời lại giống con ụt/ Lúc ngồi co rút trông giống con mèo/ Đến khi leo trèo lại giống con sóc/ Lúc nó bươi móc lại ngỡ con chồn...”. “Ối trời, quái quỷ. Một con vật đa hình thể như thế, ta càng không thể đùa - Lão lẩm bẩm lớn tiếng hơn - Ừ, càng không thể đùa... thì ta không đùa”. *** Sáng hôm sau, lão Bốn Nham trực chỉ đến tiệm An Toàn mua ngay cái lồng sắt, loại bẫy sập, quyết bắt con chuột ấy. Lão rất hài lòng cái lồng này. Cái lồng khá nặng, rất chắc chắn, đặc biệt nắp sập rất mạnh. Lão mua ngay cái lồng ấy. Đêm xuống. Lão gài lồng, đặt chắn đường luồn sát tường, ngay dưới bàn thờ Phật. Trong bẫy lồng sập, lão treo lơ lửng một trái chuối chín đã bóc vỏ. Đặt bẫy lồng xong, lão tắt điện, đi nằm sớm. Trong đêm đen, lão chờ đợi tiếng bẫy sập. Không gian yên tĩnh. Lạ thật, không gian lúc nào cũng yên tĩnh khi mình lắng nghe một âm thanh chờ đợi. Lão Bốn Nham đang chờ đợi... Vợ chồng lão Bốn Nham hoàn toàn không mở miệng nói đến việc đặt bẫy lồng này. Vợ lão thường bảo lão: “Loài chuột nghe được tiếng người đấy ông ạ. Mình bàn bạc việc gì, mưu định chuyện gì, chúng nó biết ráo cả”. Và, chính lão cũng thường bảo bà: “Loài chuột rất hay thù vặt. Nó sẽ trả thù theo kiểu của nó”. *** Rất khuya lão Bốn Nham mới chợp mắt. Đang ngủ chập chờn, lão đột ngột giật mình vì tiếng bẫy sập. Một tiếng “chách”, đanh và gọn, vang lên rất rõ trong đêm yên tĩnh. Lập tức, lão bật dậy, đi đến vách tường bật đèn. Căn nhà sáng trưng ánh điện. Lão tiến đến đường luồn, dòm vào cái lồng, rồi chợt giật lùi như có ai thình lình xô ngược lại. “Chính con chuột xô chớ ai xô!” - một thoáng rất nhanh, lão nghe có ai nói vào tai lão như vậy. Lão đứng xa, há hốc mồm nhìn con chuột trong lồng. Nó to còn hơn con mèo mướp. Trong cái lồng sắt, con chuột to lớn không tỏ ra sợ hãi gì cả. Nó đang bình thản ăn trái chuối. Vừa ăn chuối vừa nhìn lão. Đôi mắt tròn, hắt ánh điện của nó, toát lên sự ác độc đến ma quái. Hai chiếc răng trước của nó vẩu ra, vàng khè và to quá khổ, trông rất kinh tởm. Nó mà cắn vào da thịt người, ắt bị ung thư... “Mày làm vỡ bình hoa nhà tao, mày còn ngang nhiên xơi chuối của tao à?” - Lão lẩm bẩm - “Hừ, mày trêu cả ông nữa à?”. Dứt lời, lão giật mình, vì vừa hiểu ra rằng, những lời nói ấy là để che đậy nỗi sợ hãi. Chính là nỗi sợ hãi của lão khi trực diện với con chuột đang thản nhiên ăn chuối trong lồng. Dưới ánh điện sáng choang, trong lồng sắt con chuột vẫn ăn chuối, vẫn nhìn lão như nhìn một đồ vật, không hề nao núng. Ánh mắt của con chuột làm lão lạnh sống lưng. Con chuột này đã thành tinh rồi. Lão đột ngột cau mày. Một ý nghĩ lạ lùng nữa lại hiện ra. Giống như thể nhà này là nhà nó, không phải nhà lão. Lão mím môi, mắt long lên, cố làm ra bạo dạn: “Ăn nữa không, tao đi lấy thêm?”. Lập tức, lão lại nghe trong lỗ tai mình tiếng trả lời: “Ăn!” của con chuột. Tiếng trả lời rất đanh, nhưng lại nhỏ và lạnh đến mơ hồ. Lão Bốn Nham giật mình. Lão lấm lét nhìn con chuột. Hóa ra, sự cố tình kéo dài thời gian của lão vừa rồi, chính là để đàn áp nỗi sợ càng lúc càng tăng lên trong lão, một nỗi sợ sắp đóng băng. Con chuột đã ăn xong trái chuối. Nó đứng yên một chặp, nhìn lão, nhìn xoáy vào lão. Lão quay mặt qua chỗ khác... Rồi lão lén nhìn lại nó. Lão thấy nó bò tới, nhưng bị lồng sắt cản đường. Đột ngột, nó lùi lại và tông thẳng tới... Tông thẳng tới... Với sức mạnh những cú tông, con chuột đã kéo cái lồng sắt trườn ra giữa nhà. Lão Bốn Nham lùi lại, áp lưng vào vách tường thủ thế. Lão nhìn chăm chăm vào cái lồng, gọi lớn, giọng run run: “Bà ơi, bà ơi!... Ra đây! Lẹ lên!”. Bà Bốn Nham nghe tiếng, lật đật đi ra. Bà nhìn thấy con chuột đang tả xung hữu đột, làm cái lồng sắt trườn, quay tứ tung giữa nhà. Bà hoảng vía, hai tay ôm ngực, nói lập bập: “Cha mẹ ơi... Sống dậy mà coi ngài chuột nè. Làm sao bây giờ?... Tôi trốn vô phòng đây... Ôi, cha mẹ ơi... Sống dậy mà coi ngài chuột nè...”. Bà Bốn Nham chạy biến vào buồng, cài chặt chốt cửa. Bà quá sợ con chuột phá tung lồng, đuổi theo bà. Thấy bà vợ hốt hoảng bỏ chạy, lão Bốn Nham lập tức mở toang cửa như một phản xạ đào tẩu. Mở xong cửa, lão cứ giật lùi, giật lùi, nhìn con chuột hung hãn, lồng lộn đang tìm cách thoát ra. Lão run run thò tay tắt điện, không dám nhìn nữa. Lão phóng như bay ra sân. Nằm trên chiếc võng gai, lão không dám thõng chân xuống đất. Lão đã giao nhà cho con chuột. *** Ngoài sân vườn, lão Bốn Nham nằm trên võng lắng tai nghe ngóng. Trong nhà tối om, yên lặng như tờ. Không biết bao lâu, lão đã lịm ngủ. Khi tỉnh dậy, lão căng óc suy nghĩ cách để giết chết con chuột trong lồng. Không thể lấy que sắt đâm vào. Lão lắc đầu. Ghê khiếp lắm. Chỉ có cách dìm cái lồng xuống nước. Đúng. Dìm sâu chiếc lồng trong vại nước, chuột cũng chết ngay. Nhưng làm cách nào xách cái lồng đến vại nước? Nhìn cái lồng cũng đã thấy tởn gáy, huống chi xách nó... Nhưng... phải có cách, có cách... - Lão gật đầu trong đêm - Dùng que sắt uốn móc câu, móc cái lồng xách đi. Đúng thế. Phải can đảm lên Bốn Nham! Hãy can đảm lên nào Bốn Nham! *** Lão ra hiên sau, tìm cái que sắt, bẻ ngoặt một đầu thành hình móc câu. Xong đâu đấy, lão bước vào nhà, thò tay bật đèn. Trong nhà sáng choang. Lão dòm quanh quất, không thấy cái lồng sắt đâu cả. Người lão như bị mất trọng lượng, hụt hẫng. Lão nhìn xuống chân mình. Vẫn còn nền nhà. Lão cố định thần, rồi lại nhìn quanh quất. Cũng vẫn không thấy cái lồng sắt đâu cả. Lão lấm lét dòm khắp nơi, dòm xuống gầm đi-văng, gầm xa-lông, tuyệt nhiên không thấy cái lồng đâu cả. Quái. Chuột thần, chuột thánh chăng? Lão gọi vợ: “Bà ơi. Cái lồng sắt mất rồi. Bà ra đây xem. Không có chuột!”. “Ông nói láo” - Tiếng bà Bốn Nham từ trong buồng vọng ra. “Tôi nói láo, tôi làm con bà. Ra đây xem. Không có chuột!” - Lão Bốn Nham lại gọi. Bà Bốn mở cửa, rón rén đi ra phòng khách. Mặt bà căng thẳng, nhợt nhạt. “Nó đi đâu?” - Bà hỏi. “Không biết” - Lão trả lời, mắt vẫn lắm lét nhìn quanh - “Tôi kiếm khắp nơi không thấy”. Bà hỏi dồn: “Ông nhìn lên trần nhà chưa?”. Nghe thế, Bốn Nham lật đật nhìn lên trần nhà: “Cũng không thấy”. Đột ngột, như bởi linh tính, lão Bốn Nham vớ lấy cây đèn pin xách tay, cẩn thận bước xuống tam cấp, lia ánh pin ra ngoài vườn. Trong ánh sáng chói chang của chiếc đèn pin no điện, hiện ra một quang cảnh làm lão sững sờ, đứng bất động như tượng. Nơi cuối đường dẫn ra vò nước, một đàn chuột to đùng đang cùng nhau cắn vào chiếc lồng sắt, lôi đi. Úy trời! Không thể tưởng tượng nổi! Có đến mấy chục con chuột to khỏe đang hợp lại cắn chiếc lồng kéo đi... Bốn Nham định thần, dụi mắt, gọi nhỏ: “Bà ơi! Ra đây! Mau lên!”. Bà vợ rón rén bước ra. Nhìn quang cảnh giải thoát đồng bọn của bầy chuột, bà há hốc mồm, lắp bắp: “Cha mẹ ơi... Sống dậy mà coi nè. Sống dậy mà coi nè... Cha mẹ ơi”... *** Trong ánh sáng đèn pin, đàn chuột vẫn đang nỗ lực giải thoát chiếc lòng sắt. Chúng không hề hoảng sợ trong ánh sáng đèn pin chói chang. Chẳng biết vì lý do gì, bà Bốn Nham đột ngột chắp hai tay, khom người xuống vái lia vái lịa đàn chuột... Lão Bốn Nham cũng đã tắt pin. Lão cũng chắp tay, vái lia vái lịa. Cả hai vợ chồng như đã mất hết khả năng suy nghĩ... Trong khi bầy chuột vẫn đang ra sức lôi chiếc lồng đi càng lúc càng xa...

GIẢI THOÁT TRONG LÒNG TAY 20

GIẢI THOÁT TRONG LÒNG TAY Một bài giảng khúc chiết về con đường đạt đến giác ngộ (Liberation in the Palm of Your Hand- Aconcise discourse on the path to enlightenment) Pabongka Rinpoche Edited by Trijang Rinpoche Translated by Michael Richards Thích Nữ Trí Hải dịch --- o0o --- PHẦN NĂM PHẠM VI LỚN NGÀY HAI MƯƠI BA Kyabje Pabongka Rinpoche kể một mẫu chuyện để giúp chúng tôi khởi động lực. Ngài trích dẫn Tsongkapa vua Pháp vĩ đại: Khi hiểu đúng những điểm này Về nòng cốt của đạo lộ, Thì hãy độc cư và phát triển Sức mạnh của tinh tấn; Không bao lâu người sẽ hoàn tất hi vọng vĩnh cửu. Ngài nhắc lại các tiêu đề đã bàn hôm qua và tiếp tục. a-3. Làm thế nào để tu tập kim cang thừa Như tôi đã nói, khi đã đạt vài kinh nghiệm của sự từ bỏ Phạm Vi Nhỏ và Trung Bình, bấy giờ bạn nên cố mà kinh nghiệm về tâm bồ đề qua Phạm Vi Lớn nếu thành công, thì hãy nỗ lực đạt đến sự xác tín về tánh không, sau đó bạn phải đi vào các mật điển. Nhưng nếu khởi sự thực hành mật tông mà không có những chuẩn bị như thế, thì việc tu tập không trở thành những phương tiện cho bạn đạt giải thoát, hay dẫn đến vô thượng bồ đề. Có nguy cơ lớn là mật tông sẽ vô ích đối với bạn, và cũng nguy hiểm như việc một đứa bé cỡi một con ngựa bất kham. Nếu bạn đạt tuệ giác về ba nòng cốt của đạo lộ rồi mới đi sâu vào các mật điển thì chắc chắn bạn sẽ có lợi vì nhanh chóng phi thường của nó. Mật giáo còn hi hữu hơn cả chư Phật. Nhờ con đường này mà bạn có thể đạt cảnh giới hợp nhất của bậc Vô học trong một đời ngắn ngủi vào thời đại suy đồi. Bởi thế đương nhiên là bạn nên tu luyện trong đạo lộ này. Nhưng thật không đầy đủ nếu chỉ thọ vài pháp tiểu quán đảnh về Hayagrìva. Kim cương thủ, vân vân, chỉ để khỏi bị vài hoàn cảnh không may. Bạn phải thọ cả bốn pháp quán đảnh một cách thích đáng và thuần tịnh - đó là vào mandala của một thần bảo hộ như Heruka, Yamàntaka hay Guyasamàja, từ một bậc thầy mật tông (kim cang sư ) đủ tư cách. Bốn pháp quán đảnh này chắc chắn sẽ gieo cho bạn hột giống của bốn thân Phật về sau. Và điều thật có ý nghĩa là phải giữ những giới đã thọ trong khi quán đảnh như là giữ tròng con mắt, và thực hành những gì đã tu học trong bài giảng sâu xa về hai giai đoạn. Khi ấy sự tu tập của bạn sẽ bao quát toàn bộ giáo lý. Toàn đạo lộ kinh giáo và mật giáo phải được hiểu trọn vẹn để bạn biết rõ từng bước trên con đường. Đạo lộ khởi đầu bằng sự kính thờ một bậc thầy, lên tột đỉnh là sự hợp nhất của bậc Vô học. Tuy nhiên, khi có nhiều đệ tử chưa khai đạo vào các mật điển, thì theo tục lệ, người ta chỉ bàn sơ qua những tiêu đề về cách tu tập kim cang thừa. b. Cách huấn luyện bốn nhiếp sự để làm thuần dòng tâm thức đệ tử. Trang nghiêm kinh của Maitreya nói: Bốn nhiếp sự là: Bố thí, để chúng sẽ thọ giáo; Ái ngữ, để chúng sẽ theo ta; Lợi hành, làm lợi ích chúng; Và hãy thực hãnh những gì ta giảng. [CT của DG: Điều thứ tư trong bốn nhiếp sự này hơi khác với những gì Phật tử Việt thường học: “đồng sự” là cùng làm một việc với người để giáo hóa họ, Ba nhiếp sự trước không có gì khác] Khi chư Bồ tát muốn lợi ích hữu tình, họ sử dụng bốn cách để làm thuần dòng tâm thức của chúng. Bạn cũng phải làm lợi ích hữu tình bằng bốn cách ấy. Cách thứ nhất: Những người thông thường dễ bị lôi cuốn bằng những quà cáp vật chất; bởi thế muốn đưa họ vào các giai đoạn của đạo lộ, trước hết bạn nên tặng họ bằng những món quà. Hành vi ấy làm họ hài lòng và sẽ muốn gia nhập vào vòng của bạn. Cách thứ hai: Nói lời dễ nghe với những người đã đến với bạn. Cách nói chuyện của bạn phải đúng phép lịch sự và quan trọng hơn nữa, bạn phải nói cho họ nghe về Pháp sao cho thích hợp trình độ và ước muốn của họ. Cách thứ ba: Làm lợi cho các đệ tử bạn bằng cách dạy cho họ con đường diệu pháp hợp căn cơ để họ có thể tu hành theo các giai đoạn của đạo lộ. Cách thứ tư: Thực hành những gì bạn đã giảng dạy cho họ. Tôi sẽ kết thúc phần trình bày ở đây. Bây giờ tôi sẽ bàn đến những tiêu đề tôi đã để dành lại mấy ngày trước. b. Phát tâm bồ đề qua Nghi lễ thọ giới Có hai tiêu đề: (1) Làm thế nào để có được những giới bạn chưa thọ; (2) sau khi đã thọ, làm thế nào giữ cho khỏi thối thất. b-1. Làm thế nào để có những giới bạn chưa thọ Mặc dù ta gọi đay là “phát tâm bồ đề qua nghi lễ thọ giới,” song bạn chỉ nhận được những giới này nếu bạn đã kinh quá sự bồ đề tâm, dù sơ sài cách mấy. Chỉ lập lại những công thức thọ giới mà không có một cảm giác nào là điều vô ích. Tuy nhiên việc thọ giới không có ý thức cũng tiêm nhiễm vào trong bạn một bản năng về tâm bồ đề. Nhưng bạn phải xem trọng việc thọ giới. Những người nào mai đây sẽ cố gắng thực hiện các pháp quán, v.v… và thọ giới một cách chân thành, sẽ thọ giới bồ đề tâm với những bậc thầy có nhiều năng lực. Tâm bồ đề mà họ phát sinh càng ngày càng mạnh và sẽ rất kiên cố. Có ba loại nghi lễ thọ giới bồ đề tâm. Cách ngắn thì không có phần dẫn nhập. Cách trung bình vừa có dẫn nhập vừa có phần chính, nhưng cả hai phần đều cùng làm chung trong một ngày. Cách dài nhất là có một ngày để riêng dành cho phần chuẩn bị và một ngày nữa dành cho phần chính. Chúng ta sẽ theo cách cuối cùng này. Theo lệ, người ta phải dạy phần chung của Lam-rim một cách đầy đủ trước khi truyền bồ đề tâm giới, khi sự truyền giới này tiếp theo một lễ quán đảnh, giảng pháp hay khẩu truyền, v.v… mà trước đấy chưa giảng Lam-rim. Nhưng ở đây không thuộc trường hợp ấy, và không cần nói gì thêm nữa sau khi tôi đã giảng rộng rãi về Lam-rim. Bởi thế tôi có thể bỏ phần dẫn nhập dài dòng. Người hướng dẫn lễ trao bồ đề tâm giới phải thi hành theo những cách trên đây, tùy theo lễ thọ giới có liên kết với một thời giảng về Lam-rim hay không. [Khi ấy ngài bàn chi tiết cách sắp đặt đồ cúng trong nghi lễ chuẩn bị ngày mai. Ngài cũng giảng vắn tắt cách làm một số cúng dường mandala, khẩn cầu khi dâng mandala cúng dường, và khởi động lực trong khi chuẩn bị. Rồi ngài tiếp.] Các bạn phải dành thật nhiều thì giờ tối nay và ngày mai để ôn lại các pháp quán tưởng [để làm trong buổi lễ]. Mai chúng ta sẽ thỉnh các bậc thầy chúng ta, chư Phật và Bồ tát để chứng giám cho sự phát bồ đề tâm của chúng ta. Bởi thế chúng ta cần quét sạch và bày đồ cúng. Thật không phải cách nếu ta mời một ông vua đến căn chòi dơ dáy bụi bặm. Vậy sau thời chuẩn bị này, quý vị phải quét dọn sạch sẽ, như nhờ đừng làm tổn hại những côn trùng, vân vân. Rưới nước thơm để bớt bụi, và rắc hoa trên bục. Bạn cũng nên trang hoàng pháp tòa của bậc thày bằng hoa và những thứ quý báu. Có lần Atìsha bảo rằng người Tây Tạng cúng phẩm vật tồi nên tâm bồ đề họ không phát được. Vậy hãy dâng cúng đàng hoàng. Mặc dù người ta bảo nên bỏ ra một phần sáu gia tài để cúng, bạn hãy bày đồ cúng cách nào để người khác phải ngạc nhiên là được. Bạn phải xây dựng sự tích lũy công đức, tịnh trừ nghiệp chướng, v.v… làm sao để ngày mai trong buổi lễ chính, bạn sẽ phát được tâm bồ đề. Người ta bảo sáng mai bạn nên tụng Kinh tạng hoặc kinh Hoa Nghiêm, v.v… [CT. Kinh Tạng gồm 108 tập dày; Hoa nghiêm gồm sáu tập dày. Vì một người không sao đọc cho hết, nên người ta chia ra mỗi người đọc lớn một phần của bộ kinh và tất cả đồng thời tụng, như thế toàn bộ kinh có thể tụng xong trong buổi sáng.] Chúng ta không thể làm được chuyện này với thời gian ta có được, nhưng những vị nào tụng nhanh có thể tụng Bát nhã Bát thiên tụng hay Kinh Hiền kiếp. Khởi đầu lễ chính chúng ta nên làm một lễ dâng cúng nước và bánh lúa mạch cho ngạ quỷ và cúng đèn và bánh cho phi nhân. Người thế tục thiết lễ ăn mừng những biến cố trọng đại trong đời này; họ làm ồn náo lên vào dịp tân niên - mà chỉ có nghĩa là những hạt cát thời gian đã chạy bớt đi một ít. Vậy thì tại sao chúng ta lại không đáng mừng? Chúng ta sắp phát tâm bồ đề, vào đạo lộ đại thừa, và trở thành mọt người con của chư Phật,hãy mặc những y phục hạng nhất của bạn ngày mai. Những vị xuất gia nên dùng cả khăn quàng thêu lẫn khăn quàng thường của họ. Hãy tắm rửa, mặc y phục sạch, và mỗi người hãy đem cái gì theo làm lễ cúng dường tỏ dấu mình đã thọ giới bồ đề tâm. Đây là một điều mà bạn sẽ tìm thấy trong lịch sử cuộc đời Phật. Khi đi qua đây, đừng xem chỗ này là một cái gì tầm thường. Hãy quán nó như một cung điện với bốn cổng thành, có Tứ thiên vương đứng bốn góc cùng với hàng trăm ngàn tùy tùng đứng canh gác. Những vị này lại được vây quanh bởi chư thiên hộ trì giới; họ cũng đến để thọ giới. Có những bích họa trên bốn vách tường cung điện trình bày những hạnh Bồ tát mà đấng Đạo sư chúng ta đã làm khi Ngài còn đang trên đường tu tập. Hãy quán những việc như thế [trong bức bích họa] bây giờ đang thực xảy ra; hãy vui mừng và cầu nguyện khi bạn trông thấy được những cảnh tượng ấy. Trong khóa lễ thứ hai ngày mai, sau khi bậc thầy an tọa, bạn phải tích tập công đức và thanh lọc nghiệp chướng vì những hành vi này sẽ làm căn bản cho sự phát bồ đề tâm. Chúng ta sẽ thọ nghi lễ chuẩn bị dài. Hãy nghiêm túc quán tưởng tích lũy công đức và thanh lọc nghiệp chướng. Hãy tưởng tượng bậc thầy chính là Đức Thế tôn Thích Ca Mâu Ni. Mỗi người phải tưởng tượng một cách rõ rằng phép quán theo lời mô tả của bậc thầy. Nói chung, hình thức phát nguyện của bồ đề tâm chỉ là sự mong mỏi đạt thành Phật quả để lợi lạc hữu tình. Hình thức dấn thân của bồ đề tâm (lập bồ đề hạnh) là ước muốn làm những phận sự tiếp theo sau sự phát tâm bồ đề. Phát tâm bồ đề ví như người muốn đi Ấn Độ, lập bồ đề hạnh là như người đã thực sự khởi hành. có hai cách cử hành lễ họ bồ đề tâm giới. Một cách là thọ hai phần ấy riêng biệt; điều này theo các tác phẩm bồ tát địa của Vô Trước. Cách thứ hai là phần thọ cùng lúc, theo tác phẩm Hành Bồ Tát Hạnh của Shantideva. Bạn muốn theo cách nào cũng được, nhưng có người cho rằng một cách theo hệ thống Trung quán còn cách kia theo hệ thống Duy thức. Tuy nhiên về cách đề cập sự phát bồ đề tâm thì hai hệ thống này không trái nhau. Theo truyền thống của tôi, thì sau khi bạn đã thọ giới theo hình thức phát bồ đề nguyện, thì bạn không thể huấn luyện về những phận sự phận sự của bồ tát, mà bạn chỉ có thể phát tâm bồ đề. Khi bạn theo hình thức phát bồ đề hạnh, thì theo truyền thống, bạn có thể làm cùng lúc cả hai việc. Ngày mai tôi sẽ cho cả hai hình thức thọ bồ đề tâm. Là bồ đề nguyện và bồ đề hạnh. Khi ấy chúng tôi dâng một mandala và tụng bài nguyện Lam-rim. Rồi ngài hướng dẫn cho chúng tôi lặp lại ba lần như sau: Xin cho con phát triển được những đức tính của tâm bồ đề tôn quý tối thượng Mà con chưa phát triển Xin cho bồ đề tâm con tăng, không giảm Và càng ngày càng mạnh thêm. [Khi ấy chúng tôi tụng một lần bài “Mong cho tất cả hữu tình, những cha mẹ chúng con, được hạnh phúc…” tiếp theo tụng một bài “Xin cho thọ mạng bậc tôn sư chúng con không bị hiểm nguy…” Rồi khi kết thúc, chúng tôi tụng “Tất cả chư Phật Đấng Chiến thắng…”] --- o0o ---

GIẢI THOÁT TRONG LÒNG TAY 19

GIẢI THOÁT TRONG LÒNG TAY Một bài giảng khúc chiết về con đường đạt đến giác ngộ (Liberation in the Palm of Your Hand- Aconcise discourse on the path to enlightenment) Pabongka Rinpoche Edited by Trijang Rinpoche Translated by Michael Richards Thích Nữ Trí Hải dịch --- o0o --- PHẦN BA NỀN TẢNG CỦA ĐẠO LỘ NGÀY MƯỜI HAI (Kyabje Pabongka Rinpoche kể câu chuyện ngắn để khởi động lực cho chúng tôi, trích dẫn từ tác phẩm của đức Tsongkapa:) Tái sinh làm thân người Là điều rất khó được. Đời này không kéo dài. Tâm thường quán như vậy Và lơ chuyện thế gian… (Sau khi nhắc lại những tiêu đề đã giảng, ngài ôn lại tài liệu về nỗi khổ ở các đọa xứ, một phần của chương “Nghĩ Về Loại Vui Hay Khổ Bạn Sẽ Gặp Trong Tái Sinh Sau Ở Một Trong Hai Nẻo Luân Hồi.”) Những điều ấy làm cho bạn muốn rút tỉa tinh hoa của đời tái sinh may mắn này. Khi nghĩ đến những thống khổ ở đọa xứ, bạn sẽ kinh hoàng và mong tìm chốn nương thân, cũng như tìm cách nào để được sung sướng trong đời sau. Chỗ nương mà bạn tìm được để che chở bạn khỏi đọa, chính là bậc thầy và Tam bảo. Cách để được sung sướng đời sau là phát khởi niềm tin và luật nhân quả - lòng tin này là gốc rễ của mọi sức khỏe và hạnh phúc - và thay đổi lối hành xử cho phù hợp với luật ấy. 2.1.2. DẠY CÁCH ĐỂ ĐƯỢC HẠNH PHÚC ĐỜI SAU Có hai tiêu đề phụ: (1) quy y, cánh cửa thiêng để đi vào nền giáo lý; (2) phát khởi niềm tin vào luật nhân quả - gốc rễ của mọi sức khỏe và hạnh phúc. a. Quy y: cánh cửa thiêng để đi vào giáo lý Có năm đoạn: (1) nguyên nhân sự quy y; (2) nương tựa vào những gì; (3) tiêu chuẩn của chỗ nương đầy đủ; (4) lợi lạc của quy y; (5) lời khuyên sau khi đã quy y. a-1. Nguyên nhân quy y Sự quy y chính đáng hay không là do trong dòng tâm thức người ta có nguyên nhân chính đáng để quy y hay không. Những nguyên nhân ấy được bàn trong tác phẩm của Lozang Choekyi Gyaeltsaen nhan đề Tiếng Cười Du Dương Của Lozang Dragpa - Trả Lời Cho Những Câu Hỏi Về Lòng Vị Tha Tinh Khiết Nhất: Bản chất chân thực của quy y: Quy y vì ta rất sợ chính ta Và vì ta biết Tam bảo có năng lực che chở Đây là điều mà ta gọi Đấng Toàn Tri. Nói cách khác ta cần cả hai nguyên nhân: vì sợ khổ sinh tử và các đọa xứ; và niềm tin rằng, một khi ta đã đặt niềm tin vào Tam Bảo, thì Tam Bảo sẽ có năng lực che chở cho ta thoát khỏi những nỗi kinh hoàng ấy. Nếu chúng ta không có hai nguyên nhân ấy, thì không quy y được một cách thuần túy. Nếu chúng ta không sợ khổ thì ta không nghĩ đến chuyện tìm một chỗ nương. Nếu chúng ta không tin tưởng vào cái điều mà chúng ta đã tìm đến để nương cậy (quy y) thì ta không nhớ đến sự tin cậy của ta vào chỗ nương ấy - ta chỉ có thể nhắc lại bằng lời nói suông mà tim ta không đặt hết tin tưởng vào đấy. Mỗi phạm vi trong ba phạm vi đều chứa lý do trước nhất của nó, trong sự quy y. Với Phạm Vi Nhỏ thì đó là: Sợ nỗi khổ luân hồi trong sinh tử. Với Phạm Vi Lớn là: lòng từ bi bao la làm cho ta không thể chịu nổi thấy kẻ khác đau khổ trong sinh tử. Trong phần đặc biệt này của Lam-rim, lý do quy y là nỗi sợ hãi các đọa xứ. a-2. Nương cậy vào cái gì. Có hai phần: (1) nhận ra những chỗ đáng nương cậy; (2) lý do tại sao đấy là những nơi đáng nương cậy. a-2.1. Nhận ra những chỗ đáng nương cậy Tác phẩm Một Trăm Năm Mươi Bài Tụng nói: Hãy nương tựa vào một người Tuyệt đối không lầm lỗi, Không mù quáng, và nơi người ấy Có đủ mọi khía cạnh của thiện đức. Khi bạn nghĩ về điều này. Hãy tôn trọng người nào ca tụng Ngài Và an ttú trong giáo lý của Ngài giảng dạy. Nói cách khác, khi bạn nghĩ làm sao để phân biệt cái gì đáng nương cậy cái gì không, thì bạn sẽ muốn nương cậy Phật, người giảng dạy Pháp, nương cậy Pháp ấy, và nương cậy Tăng, những người sống theo Pháp. Phàm phu tìm chỗ nương là những sinh vật thế gian, như quỷ thần, rồng v.v… Những người không Phật tử tìm chỗ nương là Phạm Vương, Đế Thích v.v… nhưng chính những sinh vật này cũng đang ở trong sinh tử, bởi thế không phải là chỗ quy y xứng đáng. Như vậy ai là chỗ quy y xứng đáng? Tác phẩm Bảy mươi Bài Kệ Quy Y nói: Phật, Pháp và Tăng Là ba chỗ quy y cho người cầu giải thoát. Nghĩa là, chỗ nương cậy duy nhất là Tam Bảo: Phật, Pháp, Tăng. Nhưng nếu ta không nhận ra cho đúng, thì ta sẽ không quy y một cách thuần tịnh. Chúng ta không có tinh thần phê phán, bởi thế tự hào là người biết Đại thừa, mà khi gặp chuyện rắc rối,hay có việc quan trọng, ta lại đi tìm trú ẩn trong những chỗ nương thế tục, như quỷ thần, thổ thần, v.v… Chúng ta làm lễ tịnh hóa bằng khói hoặc đeo bùa, hoặc chạy bổ đến bất cứ một vị thần linh nào. Mọi hoạt động bên ngoài này chứng tỏ tình trạng nội tâm ta. Phật tử thì phải tin tưởng Tam Bảo. Chúng ta có thể đã thực thụ làm người xuất gia, được một tu viện thâu nhận, thế mà ta không đủ tư cách làm Phật tử chứ đừng nói làm một người hiểu biết Đại thừa. Trời rồng, v.v…, không có ba đức là toàn tri, tình yêu và năng lực. Những chúng sinh này cón không thể biết mình lúc nào chết. Thông thường chúng được liệt vào hạn súc sinh hay ngạ quỷ, sự tái sinh của chúng thấp hơn người. Không có cách nào tệ hơn là tìm cách nương tựa vào chúng. Hoàn toàn không thể che chở ta thoát khỏi sinh tử và nỗi khổ ở đọa xứ, hay giúp đỡ tạm thời cho chúng ta, chúng còn làm hại chúng ta là đằng khác. Có câu chuyện chứng minh như sau. Một người bị bướu cổ đi đến mọt nơi có quỷ ăn thịt sống thường lai vãng. Những quỷ này có nợ chúng sinh khác một ít thịt, nên chúng lấy cục bướu của người này. Một người khác có bướu cũng đến cầu xin quy y với hy vọng khỏi bướu, nhưng những quỷ này không phá hủy cục bướu mà lại làm cho lớn hơn. Cũng tương tự như vậy, quỷ thần ở thế gian đôi khi giúp người nhưng cũng lắm lúc hại người; nên không bao giờ có thể tin cậy được. Những người không Phật tử thường quy y cả Đế Thiên Đế Thích, thần Shiva, Thần Ca lâu la, Khẩn na la, v.v…; nhưng thần này có khá hơn nhưng cũng chưa giải thoát khỏi sinh tử và đọa xứ nên không thể che chở người khác. Nhưng đức Phật bậc thầy về giáo lý thì không như vậy. Tác phẩm Ca Tụng Những Người Đáng Ca Tụng nói: Ngài tuyên bố: “Ta là bạn Của những người không ai che chở”. Lòng bi mẫn bao la của Ngài bao trùm tất cả chúng sinh Hỡi đấng đạo sư, Ngài có lòng thương rộng lớn, Ngài có từ bi và Ngài hành động do từ bi thúc đẩy. Ngài tinh tấn không lười biếng Còn ai có thể được như Ngài? Ngài là đấng che chở khắp tất cả hữu tình; Ngài là quyến thuộc từ bi đối với tất cả. Trong một chương khác tôi sẽ bàn đến từng đức tính của Phật. Theo chương ấy Ngài có 3 đức tính vĩ đại là toàn trí, từ bi và năng lực thần thông. Những những quỷ thần, ma vương, không có dù chỉ một phần những đức tính này, mà tất cả những đức tính của những chỗ quy y trên thế gian như trời rồng v.v…, cộng lại cũng không thể sánh bằng những đức của một vị Dự Lưu thuộc Thanh Văn đạo. Đức Phật là chỗ nương tuyệt đỉnh bởi vì Ngài đã đạt được hai thứ lợi lạc là tự lợi và lợi tha đến chỗ toàn hảo. Đấng đạo sư chúng ta đã trừ khử được tất cả lỗi lầm và có được tất cả đức tính. Nói một cách giản dị thì Phật bảo tuyệt đối là hai pháp thân (thân chân lý); còn Phật bảo là tương đối là hai thân vật lý (tức là báo thân và hóa thân). Pháp bảo là như sau. Pháp bảo tuyệt đối là bất cứ gì thuộc về diệt đế và đạo đế - đây là hai sự thật có khả năng tịnh hóa (ngược lại với hai sự thật khổ và tập) trong dòng tâm thức của những bậc thánh. Một phần của diệt đế có nghĩa là thoát khỏi hay chấm dứt một vài chướng ngại đặc biệt, để cho một đạo lộ đặc biệt nào đó không bị bế tắc. Đạo đế là phương tiện của các bậc thánh để hoàn thành những diệt đế này và những thực chứng trong dòng tâm thức của họ. Những người chưa học những tác phẩm cổ điển và suy nghĩ ở tầng thấp kém có thể xem ba phạm vi của Lam-rim cũng gần như pháp bảo mật tuyệt đối. Thông thường mười hai thành phần của kinh điển được xem là Pháp Bảo. Tăng bảo là như sau: bảo châu tối thượng về tăng là những bậc thánh có bất cứ giải thoát nào trong 8 giải thoát. Một nhóm gồm 4 phàm phu đã thọ và giữ cụ túc giới được xem là tăng bảo. Nếu chúng ta giúp đỡ hay làm hại những người này ta sẽ tạo ra những quả báo thuộc phước hành hoặc phi phước hành đối với tăng. Ta không cần cả ba chỗ nương này để được che chở khỏi vài loại hiểm nguy; một trong ba ngôi báu này cũng đủ che chở. Có lần một người đàn ông ở Dokham khấn cầu đức Quan Âm khi đang bị một con cọp lôi đi. Con cọp liền thả y ra và y được giải thoát khỏi hiểm nạn. Sau khi Phú Lâu Na chứng quả A la hán có một vài người bà con và thương gia đi biển để tìm trầm, nhưng chiếc thuyền của họ khởi sự tan rã. Những người bà con cầu khẩn đức A la hán Phú Lâu Na và thoát khỏi chết chìm. Vua của loài rồng phun một cơn mưa khí giới trên vua Ba Tư Nặc, Mục Kiền Liên liền hóa chúng thành những mưa hoa. Tuy nhiên cả ba ngôi báu đều cần thiết để che chở chúng ta hoàn toàn thoát khỏi sinh tử và các đọa xứ. Muốn chữa một con bệnh khỏi chứng bệnh trầm trọng thì cần phải có 3 điều: y sĩ, thuốc và người điều dưỡng. Cũng thế muốn thoát khỏi cơn bệnh khổ sinh tử và các đọa xứ, mối nguy của Niết bàn tiểu thừa, hay thoát khỏi luân hồi, người ta đương nhiên phải cần tất cả: Đức Phật bậc thầy chỉ dạy con đường đưa đến giải thoát, như một y sĩ; Pháp con đường giải thoát thuộc ba phạm vi giống như thuốc, Tăng những người thực hành pháp giống như người điều dưỡng. Vậy ba điều này là những nơi để quy y. a-2.2. Những lý do tại sao đấy là những chỗ nương xứng đáng. Lý do chính là những đức tính của Phật bảo. Có 4 lý do. a-2.2.1. Lý do thứ nhất. Đức Phật đã giải thoát khỏi nguy hiểm. Những người chết đuối hay bị sa vào đống cát lở không thể cứu lẫn nhau. Nếu chư Phật - những đấng cứu thế mà chúng ta quy y - chưa thoát hiểm, thì các ngài không thể giải thoát kẻ khác. Đức Phật đấng đạo sư chúng ta đã giải thoát khỏi tất cả những hiểm nguy. Đề bà đạt đa có lần muốn ám sát Phật đã sử dụng một cái máy để tung đá vào Ngài nhưng không thể làm hại được Ngài. Tại thành Vương xá, A xà thế thả ra một con voi say. Tất cả các A la hán khác đều sợ hãi bay lên không nhưng Đức Phật không sợ và đã hàng phục được con voi. Một gia chủ tên là Shrìgupta đặt một kế hoạch ném Phật vào hầm lửa nhưng Phật đã không bị đốt cháy. Shrìgupta còn đầu độc thức ăn của Phật nhưng cũng không thành công. (Sau khi Pabongka Rinpoche kể chi tiết chuyện này, ngài tiếp.) Shrìgupta, vợ ông ta và những người khác đã xem đấng Đạo sư như một người thường, có thể đem hầm lửa hay độc dược mà dọa. Người ta dễ so sánh chuyện này với chương nói về Thờ Kính Bậc Thầy trong đó nói rằng ta không thể chấp tướng bề ngoài. Đức Phật đã giải thoát mọi nguy hiểm; điều ấy chứng tỏ rằng Ngài đã từ bỏ hai loại chướng ngại cùng với những bản năng của chúng. a-2.2.2. Lý do thứ hai. Ngài thiện xảo về phương tiện giải thoát chúng ta khỏi hiểm nguy. Nếu Ngài giải thoát khỏi mọi nguy hiểm riêng tư mà không đủ thiện xảo để che chở những người khác, thì Ngài sẽ không làm gì được, cũng như người mẹ cụt tay không thể cứu đứa con đang chết chìm. Nhưng đức Thế Tôn rất thiện xảo trong cách hàng phục đệ tử. Ngài giải thoát cho những kẻ trọng tội như Chuỗi Ngón tay (Angulimala) người bị đốt cháy bởi ngọn lửa thù hận; Pramudita, vua của các nhạc thần; Ưu lâu tần loa Ca Diếp người bị ngọn lửa kiêu căng thiêu đốt; những sinh vật hùng mạnh như Dạ xoa nữ Hariti và Dạ xoa Atavaca; những người có năng khiếu chậm lụt như Châu lợi bàn đà già u mê ám chướng; những người già và ít công đức như gia chủ Shrijata; những người nhiều dục vọng như Nan đà. Thế đấy là sự thiện xảo của đức Phật trong cách hàng phục đệ tử. a-2.2.3. Lý do thứ ba. Ngài đối xử với tất cả bằng tâm bi mẫn không thân sơ. Nếu không như vậy thì Ngài chỉ giúp đỡ những người thân, không giúp những kẻ thù. Nhưng Đức Phật không có thân sơ với bất cứ ai. Không có khác biệt nào trong sự giúp đỡ và thân tình của Ngài đối với Đề bà đạt đa một kẻ thù và La hầu la con ruột của Ngài. Đề bà đạt đa ăn một lượng bơ rất nhiều để cạnh tranh với Phật, nhưng ông ta không thể tiêu hóa nên bị ốm nặng. Đức Phật đã cứu Đề bà đạt đa khỏi cơn bệnh bằng cách thề rằng Ngài thương Đề bà đạt đa và La hầu la bình đẳng. a-2.2.4. Lý do thứ tư. Đức Phật làm việc vì tất cả chúng sinh, dù chúng có giúp gì Ngài hay không. Chúng ta thì không thế: chúng ta còn không thèm chuyện trò với những người đã bị chà đạp, nói vài lời từ mẫn với họ, huống hồ là giúp đỡ. Chúng ta chỉ làm việc vì những người đã giúp chúng ta chứ không vì những người không giúp chúng ta; chúng ta không che chở những người cùng quẫn. Đức Phật thì không thế; Ngài làm việc vì tất cả mọi người, dù họ có giúp Ngài hay không. Ngài săn sóc kể ốm đau. Chẳng hạn, có lần Ngài đã rửa thân thể một tỳ kheo ốm nặng đến nỗi thân thể ông đầy cả phân tiểu do chính ông bài tiết. Ngài săn sóc cho những người bà la môn xấu xí có mười tám vẻ xấu và là một kẻ bị bỏ rơi ngay cả trong đám ăn mày. Đức Phật che chở và săn sóc cho người hất hạnh như con gái xấu xí dị hình của vua Ba tư nặc (Prasenaji) tên Vajrì có mặt như mặt heo, hay con trai của gia chủ Mahàmati tên Svàgata (Không được đón chào), người quá vô phúc đến nỗi sinh ra thì gia đình mất dần hết tất cả tài sản. Ông thành một kẻ ăn xin, nhưng gia nhập vào đám ăn xin nào là đám ấy không xin được chút gì để ăn. Ông bị đặt tên lại là “Không được đón chào.” Bất kỳ đi đâu không ai cho ông thứ gì, bởi thế ngay cả trong đám ăn xin ông cũng là kẻ bị ruồng bỏ. Dù ông đi hành hương người ta cũng không cho ông trở về. (Kyabje Pabongka Rinpoche kể chi tiết đức Phật che chở ông ta như thế nào.) Vậy đức Phật có tâm đại bi thương xót tất cả, không có kẻ thân người sơ. Lại nữa, Ngài còn làm việc cho tất cả hữu tình dù có giúp đỡ Ngài hay không giúp. Nhưng Ngài đặc biệt thương những kẻ khốn cùng. Nếu Ngài không thương, không có lòng bi mẫn lớn thì dù có xin cầu Ngài cũng không che chở. Nhưng đức Phật có những thiện đức như thế, nên chắc chắn Ngài ban cho chúng sinh sự che chở dù chúng sinh không yêu cầu. (Sau khi bàn sơ qua những lý do để quy y và quy y với ai, Kyabje Pabongka Rinpoche tiếp tục). a-3. Thế nào để biết ta đã chân thật quy y. Có bốn mục nhỏ. a-3.1. Biết rõ những thiện đức của chỗ ta nương cậy. Ta phải quy y bằng cách biết rõ những thiện đức của từng ngôi trong ba ngôi báu. Vậy có ba phần: (1) những thiện đức của từng ngôi trong ba ngôi báu. Vậy có ba phần: (1) những thiện đức của Phật; (2) những thiện đức của Pháp; 93) những thiện đức của Tăng. a-3.1.1. Những thiện đức của Phật. Đức Phật có bốn loại thiện đức: (1) về thân thể; (2) về lời; (3) về ý; (4) về hành động. (i) Những thiện đức của thân Phật. Quyển Trang Hoàng Cho Thực Chứng nói: “Tay chân Ngài đều có hình những bánh xe, lòng bàn chân bằng phẳng như ngực rùa…” Nghĩa là, thân thể Ngài được trang hoàng bằng ba mươi hai tướng tốt. Kinh ấy cũng nói đến những móng tay màu đồng của đức Mâu ni…” Nghĩa là Ngài còn được trang hoàng bằng tám mươi tướng phụ. “Tướng” nghĩa là Ngài có dòng tâm thức của một bậc đại nhân. “Tướng phụ” làloại đức tính Ngài có bên trong. Thật rất ích lợi nếu ta nghĩ về những đức tự nhiên của các tướng hảo và tướng phụ, những đức của nguyên nhân các tướng ấy, vân vân. Quyển Tràng Hoa Báu của Long Thụ nói rằng nếu ta cộng lại tất cả công đức trong đời của những bậc Duyên giác và Vô học Thanh văn, Chuyển luân vương, vân vân, thì tất cả những đức ấy cũng không phát sinh được một lỗ chân lông của một vị Phật. Tất cả công đức cần có để phát sinh hết thảy lỗ chân lông Phật, nhân lên trăm lần, mới sinh được một trong ba mươi hai tướng hảo. Những công đức cần có để phát sinh ba mươi (trong số 32) tướng nhân lên ngàn lần, mới sinh được tướng bạch hào (sợi lông xoán giữa hai hàng lông mày của Phật). Công đức cần có để sinh tướng lông trắng này, nhân lên trăm lần, mới sinh được tướng Ushnisha (nhục kế). Công đức để sinh tướng hảo cuối cùng này, nhân lên gấp mười lũy thừa 14, sẽ được tiếng Phạm âm của Phật. Lại nữa, mỗi phần trên thân thể của một đức Như Lai, các tướng tốt và tướng phụ, đều là một bậc thầy dạy Pháp, và đều làm được công việc của ý giác ngộ. Ngay cả tướng nhục kế của Ngài, những lỗ chân lông của Ngài cũng đều làm công việc của ý giác ngộ và bởi thế đều nhận chân được cả hai khía cạnh tương đối và tuyệt đối của mọi cái khả tri. Tôi đã theo truyền thống của những bậc thầy thuộc hệ phái Lam-rim trong quá khứ khi giảng thiện đức của thân giác ngộ theo ba dòng của một bài kệ của Tsongkapa, đề cập thân, lời, ý: Thân thể sinh ra do mười triệu đức tính tuyệt hảo Lời nói thỏa mãn hy vọng của vô lượng hữu tình, Ý thấy được như thật tất cả pháp khả tri: Con kính lễ tối thượng trong dòng họ Thích Ca. Bất cứ gì được thân Ngài thẩm thấu thì cũng thấy được bởi lời và ý của Ngài. Do vậy, “Tất cả cõi Phật hiện thân Ngài và thân Ngài trong tất cả cõi Phật.” Đấy là những huyền bí bất khả tư nghì của thân giác ngộ. Một bản kinh nói: “Bất cứ cái gì mà trí bản giác của Ngài thấm đến, thì thân thể Ngài cũng đến.” Mỗi khi ta thấy tướng nhục kế trên đỉnh Phật thì ta chỉ thấy cao bốn tấc Anh, nhưng khi Bồ tát Vegadhàrin muốn đo, ngài phải dùng thần thông lên cao vô lượng thế giới hệ mà vẫn không trông thấy được đỉnh nhục kế của đức Như Lai, và ngài quá mệt không thể hoàn tất việc đo đạc. Việc này được nói trong Kinnh Về Những Việc Bất Khả Tư Nghì. Y phục của Phật thường cách thân thể của Ngài một khoảng cách bốn tấc, nhưng nhìn từ ngoài thì vẫn theo hình dáng của thân Ngài. Chân Ngài bước không chạm mặt đất mà vẫn để lại dấu chân Ngài đi qua cảm thấy được phúc lạc trong bảy ngày, và khi chết được sinh trên cõi trời. Tác phẩm “Xưng Tán Bằng Ẩn Dụ” nói: Thân Ngài được trang hoàng bằng tướng hảo Tuyệt đẹp, làm cam lồ cho những con mắt nhìn, Như một bầu trời không mây Được trang hoàng với những chòm tinh tú. Hỡi đấng Mâu Ni, Ngài là sắc vàng ròng Bao phủ một cách kỳ diệu trong lớp y phục Như một đỉnh núi vàng Vươn lên trên bờ những áng mây. Hởi đấng Che chở thế gian, Ngài không trang sức ngọc ngà Mà gương mặt còn hơn cả Vừng trăng rằm sáng chói Trên nền trời không mây, Như một đóa sen nở ra dưới ánh mặt trời. Những đệ tử như bầy ong dạn dĩ bay đến. Gương ánh sáng như vàng ròng của Ngài Thật đẹp với hai hàng răng trắng Như một dãy núi bằng vàng ròng Tắm dưới ánh trăng mùa thu. Ôi hỡi đấng Ứng Cúng Bàn tay phải của Ngài Được trang sức bằng dấu luân xa Đem lại can đảm cho những người Sợ hãi vì bánh xe sanh tử Hỡi đấng Mâu ni, mỗi khi Ngài cất bước Thì hai bàn chân như nở những đóa sen Để lại những đường nét trên mặt đất. Ôi đấng như Hoa Sen, Ngài thực đẹp làm sao! Hãy nhớ lại những đức ấy. Nếu cần nhiều chi tiết hơn, bạn phải tham khảo tác phẩm Trang Hoàng Cho Thực Chứng cùng các kinh khác. (ii) Những thiện dức của lời Ngài Lời Ngài có sáu mươi vẻ khác nhau; một mật điển nói đến những đặc điểm căn bản là: “Mặc dù Ngài chỉ nói một chuyện, mà trong đám đông mỗi người hiểu theo hoàn cảnh riêng của mình. “Tsongkapa, hiện thân của Văn Thù, nói trong tác phẩm Những Bài Thơ Về Con Người Chân Thật: Nếu tất cả hữu tình thế gian Đồng loạt xin giải đáp nghi ngờ Ngài có thể hiện trước tất cả chúng Đồng lúc, với cùng một lời nói Sử dụng cùng một thân thể ấy, Giải quyết tất cả quan niệm sai lầm của chúng. Nghĩa là nếu nhiều hữu tình khác nhau hỏi đức Như Lai đồng thời nhiều câu hỏi, Ngài có thể thốt một lời duy nhất mà trả lời tất cả những câu hỏi ấy bằng chính ngữ ngôn của từng người và hợp với trình độ từng người. Đức Phật dạy ba loại Bát nhã khác nhau, kinh dài, kinh trung bình, và kinh ngắn, đồng một lúc. Do đó có ba kinh Bát nhã vì các trình độ của đệ tử không đồng. Lại nữa, lời Ngài dù cách xa mấy người ta cũng nghe được. Kinh nói về Những Việc Bất Khả Tư Nghì nói rằng Mục Kiền Liên dùng thần thông đi qua nhiều cõi Phật để đo lường sức bay xa của lời Phật, nhưng dù đi xa đến đâu ngài cũng nghe được lời Phật nói. Lời Ngài còn nhiều đức nữa, như trong Một Trăm Năm Mươi Bài Tán Phật nói: Gương mặt Ngài thật đẹp; Giọng nói Ngài như cam lồ Nhỏ xuống từ mặt trăng. Lời Ngài như đám mây đem mưa xuống Để rửa sạch bụi bặm tham ái, Vứt bỏ con rắn hận thù Như thần điểu garuda; chinh phục được Những tia nắng ngu dốt Như một cái lọng; như kim cương sắc bén Chinh phục ngọn núi kiêu căng. Vì Ngài đã thấy chân lý, nên Ngài không lừa dối Vì Ngài không lầm lạc nên Ngài nói trước sau như một. Khéo lập ngôn và dễ hiểu làm sao. Lời Ngài thật hùng hồn Vượt trên tất cả, Chính phục những người nghe; Ngay cả khi nhớ lại Cũng làm tiêu tan tham ái si mê. Nó an ủi những người khốn đốn Che chở người liều lĩnh Và làm cho người bình thản phải hăng lên; Như vậy lời Ngài thích hợp cho tất cả. Đem lại niềm vui cho học giả Khai tâm cho kẻ tầm thường Và phá tan sự mù mịt của người bực hạ. Lời Ngài là lương dược cho tất cả chúng sinh. Nhưng vẫn chưa hết: lời giác ngộ có vô lượng đức tính, cũng như có thể làm công việc của thân giác ngộ và ý giác ngộ. (iii) Những thiện đức của ý Phật. Những điều này được đề cập chi tiết trong những cổ thư nói về những đức tính do 21 thành phần của sự tinh thức nguyên ủy: thập lực, mười tám bất cọng, vân vân. Những người học và quán những cổ thư cần quán giáo lý đặc biệt này để rút ra những lợi ích. Nói tóm, có hai hạng thiện đức: thiện đức do toàn trí và do từ bi. Vì chư Phật toàn tri, nên ngay cả khi Ngài đang trú trong thiền định về chân đế, Ngài cũng biết được tất cả những pháp khả tri rõ ràng như nhìn trái xoài trên bàn tay. Ta có thể biết điều này qua tác phẩm Ca Tụng Những Người Đáng Ca Tụng: Đức Thế Tôn, tất cả pháp trong ba thời gian, Tất cả những nguồn gốc của nghiệp, Đều được trí Ngài phán xét Như nhìn trái Am la trong bàn tay Tất cả hiện tượng Động hay bất động, một hay nhiều Đều mở ra trước tâm Ngài Không bị chướng ngại Như giữa bầu trời trong sáng. Một lần có một người dòng họ Thích Ca tên Nandaka chết. Những thầy tu viện thỉnh vong linh người chết khi họ cử hành tang lễ. Hình dáng người chết xuất hiện và những thầy cúng cho y thức uống ăn: y cư xử giống như Nankada thực, nhưng đấng Đạo sư cho họ biết đấy là do nhạc thần ở cõi trời tạo ra. Nhưng những thân quyến không tin lời Phật. Một quyển kinh kể rằng đấng Đạo sư mời mỗi người Sakya đem lại một hạt lúa và làm dấu trên hạt lúa của mình. Có rất nhiều người đến nỗi lúa họ đem lại có thể chất đầy một thớt voi. Đức Phật nhận ra từng hột của mỗi người không sai một hột. Việc này làm cho mọi người tin lời Ngài nói. Truyền thừa Luật tạng kể rằng người ta đưa cho đức Phật nhiều mảnh gỗ đã cháy để dưới biển rất lâu mà Ngài vẫn nhận ra đúng từng mảnh. Không cần yếu tố gì khác, Ngài có thể nhận ra mãnh gỗ này đến từng vùng nào, nó thuộc về phần ngọn cây hay gốc cây. Năng lực thần thông của thân giác ngộ là khả năng thị hiện trước bao nhiêu đệ tử cũng được, như mười triệu, một tỷ v.v… Năng lực thần thông của ngữ giác ngộ là khả năng nói vói mọi người; có thể dạy pháp đồng loạt mà mỗi hữu tình hiểu theo ngôn ngữ và ước muốn của chúng. Năng lực thần thông của ý giác ngộ là tịnh chỉ nhất tâm như sau. Khi đức Đạo sư của chúng ta có ý niệm về thế gian thì tâm của các hữu tình khác, kể cả những con kiến, cũng hiểu được đức Như Lai muốn nói gì. Nhưng khi Ngài có một ý niệm siêu thế thì ngay cả những vị Bồ tát trong thân thể cuối cùng cũng không thể hiểu được tư tưởng của Phật. Khi đức Phật giảng kinh Bát nhã ba la mật, Ngài làm cho tất cả các thế giới đều trở thành thanh tịnh. Bởi thế tâm Phật có vô lượng đức tốt lành. Nhưng đức từ bi của Ngài được vị Dalai Lama thứ bảy mô tả như sau: Một người có thể ác độc đối với Ngài, Người khác có thể giận dữ muốn giết Ngài Nhưng Ngài luôn luôn nghĩ đến chúng sinh Như con của Ngài Ngài đã tránh xa Tất cả những tư tưởng làm hại Lòng yêu mến mà ta có đối với chính bản thân Cũng không thể sánh với đức bi mẫn trong tâm Ngài. Nói cách khác, loại tình yêu mà ta có đối với bản thân không thể sánh với dù chỉ một phần của tình yêu đức Phật đối với loài hữu tình. Lại nữa tình yêu của Ngài không như lòng thương xót “có cơn” như chúng ta: chúng ta chỉ cảm thấy thương xót khi ta trông thấy một hữu tình đau khổ, và không cảm thấy thương xót khi khuất mắt. Một Đức Phật luôn luôn thấy được tất cả hữu tình đang đau khổ; bởi thế lòng từ bi bao la của Ngài đối với chúng không bao giờ gián đoạn mà luôn luôn vận hành. Lòng bi mẫn của một Đức Phật là hậu quả của năng lực quen tập luyện từ khi Ngài mới bước vào đạo lộ. Điều này là ý nghĩa của bài kệ trong quyển 150 bài tán Phật: Tất cả những chúng sinh này không khác gì nhau Chúng đều bị vọng tưởng trói buộc Ngài đã bị trói buộc từ lâu bởi lòng bi mẫn Và sẽ giải thoát những chúng sinh mê lầm Trong quyễn Những Bài Thơ Về Con Người Chân Thật: Tâm của tất cả hữu tình luôn luôn bị che phủ Bởi bóng tối vô minh Bậc đại thánh thấy được Tất cả chúng sinh trong ngục tù sinh tử và phát tâm đại bi. (iv) Những thiện đức của hành vi Ngài Dòng Tương tục Cao Cả của Đại Thừa của Di Lặc nói: Như Đế Thích, trống, Mây, Phạm Thiên, mặt trời Bảo châu, âm thanh, trái đất Đó là những ví dụ về đức Như Lai. Sự quán tưởng của bạn nên theo lời dạy của văn bản này về chín ẩn dụ: Hình ảnh phản chiếu của Đế Thích hiện ra trên mặt lưu ly trên đỉnh Tu di, không tùy thuộc vào nỗ lực hay suy nghĩ nào của Đế Thích. Khi những vị trời thấp hơn trông thấy hình ảnh phản chiếu ấy, chúng nghĩ rằng: “Ta cũng sẽ hành động để được như thế.” Rồi họ tích lũy nguyên nhân để thành một vua trời. Cũng thế khi chúng ta trông thấy thân thể của một Đức Phật, được trang hoàng bằng ba mươi hai tướng hảo và tám mươi tướng phụ, chúng ta nghĩ đến việc làm sao để được thân thể như thế, và cố tích lũy những nguyên nhân để thành Phật. Đây là những hành vi tốt đẹp của thân giác ngộ. Trong cõi trời thứ 33 có một cái trống lớn do công đức những vị trời phát sinh. Không cần ai đánh trống, nó cũng phát ra những âm thanh giảng dạy bốn dấu ấn của Phật pháp; những âm thanh này kích động cho chư thiên tám cầu giải thoát. Chư Phật cũng thế không cần nỗ lực dụng công mà vẫn làm cho lời nói của Ngài lan đến tất cả những chúng sinh, đưa chúng đến tái sinh cao cấp và sự thù thắng quyết định. Thiện hành của ngữ giác ngộ là khả năng giảng pháp cho những chúng sinh may mắn đủ trình độ. Mưa rơi xuống từ những đám mây làm cho mùa màng tăng trưởng. Thiện hành của ý giác ngộ cũng thế, là khả năng làm cho những đức hạnh phát sinh dòng tâm thức của những đệ tử. Thân giác ngộ thi triển những thần thông để hàng phục hữu tình, thiện hành của ngữ giác ngộ là giải thoát. Chư Phật làm những thiện hành của ý giác ngộ tùy thuộc vào tâm tịnh chỉ không mê lầm. Nói tóm lại chư Bồ tát từ địa vị thứ tám trở xuống phải làm những nỗ lực thô; chư Bồ tát ở trên địa vị thứ tám phải làm những nỗ lực vi tế để khởi động lực. Vì những bồ tát này còn phải nỗ lực nên thiện hành của họ không đồng thời lan đến tất cả hữu tình; những hiện hành của chư Phật thì không phụ thuộc vào những nỗ lực như thế, hoặc vào những động lực như nghĩ rằng “Ta sẽ làm việc vì tất cả hữu tình.” Một ví dụ: mặt trăng trên trời không nghĩ ta sẽ chiếu xuống, tuy thế phản ảnh của nó vẫn hiện ra trên những giọt sương đầu ngọn cỏ và trên mặt nước của hàng trăm ngàn bình chứa, miễn là nước ấy trong và lặng. Nhưng hiện hành của đức Phật có hiệu quả một cách tự nhiên không cần nỗ lực trong những giòng tâm thức của các đệ tử khi đã đến lúc họ đáng được điều phục. Cũng thế, những thiện hành của Phật tùy thuộc vào căn bản trí của pháp thân (pháp trí thân, Dharmajnànakàya) kể như một trong những nhân duyên gọi là “hoàn cảnh.” Những thiện hành này bởi thế được xem là kết quả của những thiện đức tích cực nơi Ngài. a-3.1.2. Những thiện đức của Pháp. Nếu bạn đã học những cổ thư thì hãy nghĩ về pháp là con đường diệt trừ những chướng ngại, một nhiệm vụ của những con đường không gián đoạn trong đạo lộ kiến đạo. Nếu bạn không hiểu điều này thì hãy nghĩ như sau: từ đâu chư Phật phát sinh, những vị có được những điều bất khả tư nghì như trên? Các Ngài đã phát sinh và sẽ phát sinh tùy thuộc vào pháp sở chứng nghĩa là con đường diệt khổ v.v… và tùy thuộc và pháp sở truyền. Hãy nghĩ rằng Pháp có cái đức sản xuất ra chư Phật. Người ta thường thường có thể xem Pháp bảo là mười tầng bậc, năm đạo lộ v.v… - nói cách khác, đó là chân lý về diệt, và những con đường không gián đoạn ở trong những đạo lộ về kiến và thiền (không là tri kiến và hành động). Tuy nhiên điều quan trọng nhất là điều phục chính tâm thức của mình; bởi thế nói cách giản dị và để cho bạn có được một hình ảnh cụ thể, ta cũng có thể nói Lam-rim chính là pháp bảo. Tôi đã nói điều này. a-3.1.3. Những thiện đức của Tăng. Ta hãy lấy ví dụ về một Thanh văn trên đạo lộ tích lũy, vị ấy được thúc đẩy phải từ bỏ dòng sinh tử luân hồi, rồi đi vào đạo lộ tích lũy công đức; xây dựng 13 điều kiện để đạt giác ngộ Thanh văn, thành tựu ba ngành đầu trong 37 ngành giác ngộ, hóa thân để giúp đỡ những người khác, có được thần thông sáng suốt v.v… Những bậc Thanh văn trên đạo lộ đã hiêu được 16 khía cạnh của 4 chân lý nhờ những hình ảnh trực tiếp trong tâm. Thanh Văn trên địa vị kiến đạo đã trực tiếp hiểu được tánh không không cần hình ảnh trong tâm; Trên đạo lộ thiền quán, họ bỏ được 81 đối tượng cần từ bỏ. Khi những vị Thanh văn đạt quả A la hán, họ còn có nhiều thiện đức hơn nữa: Họ có thể phối hợp nhiều vật thể lại với nhau, họ có thể phát xuất nhiều hóa thân nhờ thiền định về đất nước lửa gió và hư không; họ có thể đi đến bất cứ đâu để giáo hóa một đệ tử v.v… Quả thế thanh văn A la hán có vô lượng điều tốt lành. Sau khi đấng Đạo sư chúng ta đã vào Niết bàn, thì A nan đã hàng phục các ngoại đạo, đưa 80 ngàn người đến chân lý trong vòng 7 ngày. Còn có câu chuyyện về ngài Ưu Ba Cúc Đa, một lần ngài đang giảng pháp, vị trời cõi dục mưa xuống thực phẩm và châu ngọc, và còn hóa làm những vũ công nhảy múa. Bậc thánh Ưu Ba Cúc Đa quàng hoa cho những vũ công ấy trước khi họ bắt đầu khiêu vũ; nhưng ngài làm phép cho những tràng hoa ấy biến hành những vật hết sức ghê tởm. Người ngày nay xem Thanh văn là thấp kém, nhưng bất cứ vị nào có những thiện đức cũng được xem như là bậc hành giả vĩ đại. Những vị Duyên giác hay Độc giác Phật có nhiều thiện đức trăm ngàn lần hơn Thanh văn, và đã tích lũy công đức trên 100 kiếp. Những thiện đức của một Bồ tát thì vô biên so với Độc giác Thanh văn. Trong khi còn trên những đạo lộ tích lũy và chuẩn bị, và còn hành động vì lòng tin, những Bồ tát vẫn luôn luôn tăng trưởng về đề mục tánh không. Họ huấn luyện về đức bi mẫn, tâm bồ đề và tri kiến sâu xa, và như thế làm muội lược những thành kiến nhị nguyên rõ rệt nơi họ để hoàn tất những tích lũy vô lượng đầu tiên. Khi những Bồ tát ở trên đạo lộ kiến đạo, trước hết họ hoàn tất hình thức bố thí phi thường (ba la mật đầu tiên trong sáu ba la mật). Khi họ ở tầng thứ 9 của đạo lộ thiền quán, họ hoàn tất hình thức siêu phàm của sáu la la mật và ba vô lậu học nhờ nhận thức đúng về chân như. Bồ tát ở sơ địa hóa ra hàng trăm thân thể, mỗi thân được vây quanh với hàng trăm bồ tát khác. Những bồ tát sơ địa thấy được hàng trăm kiếp, du hành qua hàng trăm thế giới, đi sâu vào hàng trăm thứ định, thầy hàng trăm chư Phật, nhận được sự gia hộ của chư Phật này, hóa thân vào hàng trăm cõi Phật, du hành đến hàng trăm chỗ, mở cửa hàng trăm pháp, thành thục hàng trăm loại hữu tình, và sống lâu hàng trăm kiếp. Trong mỗi sát na, những Bồ tát sơ địa này làm được hàng trăm trường hợp về 12 loại công đức như thế. Người ta có thể làm một sự so sánh về 12 đức này đối với những bồ tát ở các địa vị khác. Bồ tát sơ địa thành tựu hàng ngàn đức, bồ tát tam địa hàng trăm ngàn, bồ tát tứ địa hàng tỷ, bồ tát ngũ địa hàng mười tủy; lục đại hàng ngàn tỷ; thất địa, 10 lũy thừa 23; bát địa một số lượng bằng vi trần trong một triệu tỷ thế giới và thập đại bồ tát thành tựu một khối lượng công đức bằng những vi trần trong một tỷ bất khả tư nghì vô số tỷ thế giới. Nói tóm lại bồ tát ở 7 địa không thuần tịnh đầu tiên cần phải hai vô số kiếp để tích lũy hai thức công đức trong khi bồ tát ở ba địa thuần tịnh sau cùng chỉ cần thêm một vô số kiếp nữa để hoàn tất sự tích lũy. Những cổ thư bàn những việc ấy rất chi tiết. Vậy, tăng già có vô lượng công đức. a-3.2. Biết rõ những khác nhau giữa ba ngôi báu. Có sáu loại khác nhau Sự khác nhau giữa những đặc tính giác ngộ rõ rệt: Các ngài thấy rõ hình thái hiện hữu của tất cả các pháp. Người ta nghi rằng âm jang trong danh từ jangchub, Tạng ngữ có nghĩa là “giác ngộ” có nghĩa là “huấn luyện,” như khi học thuộc lòng một bài học, bởi thế ta có thể nói rằng một đức Phật đã đạt đến sự thực chứng toàn vẹn nhất. Pháp có đặc tính là hậu quả sự xuất hiện của Phật. Khi đức Phật chuyển bánh xe Pháp Tứ Đế, thì 5 vị đệ tử đầu tiên của Ngài khai triển những thực chứng khác nhau trong dòng tâm thức của họ: địa vị kiến đạo v.v… Còn nhiều trường hợp tương tự đã xảy ra khi đức Phật chuyển pháp luân. Tăng có đặc tính là những người thực hành Pháp. Sự khác nhau giữa những thiện sự của Tăng bảo là như sau: Chư Phật giảng Pháp bằng cách cho những giáo lý truyền khẩu. Thiện sự của Pháp thì khác: Pháp khiến ta từ bỏ những gì ta cần từ bỏ. Tăng thực hành Pháp, và khi họ được những kết quả của Pháp, thì những người khác thấy được điều này và khởi sự thực hành. bởi thế những người thuộc thành phần tăng chúng và những người không thuộc, hai bên giúp đỡ lẫn nhau. Đây là thiện sự của Tăng, tăng chúng hoan hỷ trong giới đức. Có nhiều cách khác nhau để nhìn Tam bảo khi người ta quy y. Muốn cứu người chết đuối chẳng hạn, ta cần một người chèo thuyền, chiếc thuyền của ông ta và những người phụ giúp đi theo. Cũng thế, ta nên xem chư Phật như đối tượng của sự cúng dường và phụng sự, Pháp là cái cần làm hiển lộ trong dòng tâm thức; và Tăng là những người bạn chân thật. Những pháp tu khác nhau liên hệ đến Tam bảo là những phương tiện để thực hành 3 lối nhìn khác nhau đối với Tam bảo. Những cách khác nhau để nhớ đến Tam Bảo là cốt để nhớ lại những đức tính khác nhau của Tam Bảo. Điều này được giải thích trong kinh Nói về Sự Tưởng Niệm Tam Bảo trong giai đoạn mở đầu, “Như vậy, chư Phật Thế Tôn…” Những sự khác nhau trong việc 3 ngôi báu làm tăng trưởng công đức của ta thì như sau. Đối với chư Phật, công đức tăng trưởng tùy thuộc vào một người duy nhất; đối với Tăng công đức tăng trưởng tùy thuộc vào nhiều người. Bởi thế trong trường hợp Phật và Tăng, thì công đức tăng trưởng là nhờ người. Đối với Pháp thì có khác ở chỗ, công đức tăng trưởng nhờ một cái gì không phải người. Khi bạn quy y, bạn làm vậy bởi vì bạn muốn cúng dường, phụng sự Phật, và khai triển Pháp trong dòng tâm thức bạn. a-3.3. Quy y do lòng tin của mình Lòng tin của ta là: Đức Phật dạy chỗ quy y, Pháp là chỗ quy y thực sự, và Tăng giúp đỡ cho những hành giả phát tâm quy y. điều này được làm sáng tỏ bằng ví dụ con bệnh dặt hy vọng vào thầy thuốc, y dược và người điều dưỡng. Nếu qua tiến trình thực chứng và từ bỏ mà người ta phát triển được từng phần của Pháp trong dòng tâm thức, thì ta thoát khỏi mọi hiểm nguy. Bởi thế Pháp là chỗ quy y chân thực. a-3.4. Quy y Tam Bảo, không chấp nhận một tôn giáo khác. Ở xứ cổ Ấn Độ có bậc đạo sư tên là Udbhat - askddhasvamin có 2 người em lúc đầu không theo Phật. Họ đi đến núi tuyết để dâng cúng lễ vật cho thần Shìva, nhưng họ thầy thần này đang quy y Phật, bởi thế họ cũng trở thành Phật tử. Và về sau làm giáo thọ sư trong Đại thừa. Udbhata soạn tác phẩm Sự Ca Tụng Tối Thượng, nói về những đức tính vĩ đại của Phật. Như tác phẩm này nói, chúng ta đã quy y bậc đạo sư và đã trở thành những đệ tử trong giáo lý ngài. Chúng ta đã vĩnh viễn quy y Phật, không thể đổi sang một nơi khác nương tựa nào khác. Những pháp của các đạo Bon, các tà giáo, v.v… đều không phải là Phật giáo, và không được xem là chỗ nương tựa. Có sự khác nhau về hơn kém giữa những bậc thầy trong đạo Phật và ngoài; về giáo lý và đệ tử cũng vậy. Sự Ca Tụng Tối Thượng nói: Con đã từ bỏ những bậc thầy khác Và tìm chỗ nương nơi Ngài, hỡi đấng Thế tôn. Tại sao điều này dễ dàng như thế? Chính vì Ngài không lỗi lầm và có nhiều thiện đức. Con càng xem xét Những phẩm bình của ngoại đạo Thì tâm con càng thêm tin tưởng nơi Ngài, Hởi đấng che chở cho con. Và trong tác phẩm Ca Tụng Những Người Đáng Ca Tụng cũng nói như sau: Ta nên đi vào cái gì, Và cái gì ta nên từ bỏ? Hỡi bậc Anh Hùng, Ngài tịnh trừ tất cả vọng tưởng, Chỗ khác nhau chính là: Lời của Ngài, và của những người khác. Ở Tây Tạng không có những người tà giáo thật sự, nhưng có một vài người tự cho mình là hành giả và học giả mà lại không thấy gì sai quấy khi nói về đạo Bon và về các pháp ngoại đạo để mua chuộc người khác, thâu thập tín đồ, hoặc để có lợi ích cho mình khi gặp chuyện khó khăn. Họ là những người quy y hai mặt; họ đã gạt hành động quy y ra khỏi dòng tâm thức và đã tự mình bước ra khỏi hàng ngũ Phật tử. Một vài người nói: “Một ít đạo Phật, một ít đạo Bon” nhưng không có lý do gì những vị thầy đạo Bon, pháp và tín đồ của họ lại xứng đáng làm chỗ nương tựa; ba thứ này không có đủ những đức tính cần thiết. Những bậc thầy của đạo này không có những đức tính như từ bỏ mọi lỗi lầm v.v…, pháp của họ lại cũng không phải là một phương tiện để giảm trừ vô minh vọng tưởng. Họ tuyên bố tăng già của họ căn cứ trên giới biệt giải thoát, nhưng giới của họ không có hệ truyền thừa. Đạo Bon không phải là một chỗ quy y cho Phật tử; nó không xứng đáng làm chỗ nương. Tuy nhiên những người theo Phật và tín đồ đạo Bon thường nói chuyện với nhau vì thân hay thù, và điều này không đưa đến sự tranh luận thẳng thắn. Điều cốt yếu là bạn phải biết nguồn gốc của đạo Bon. Những nguồn gốc này được bàn trong những sử liệu và những tác phẩm như Tấm Gương Về Sự Hùng Biện của tác giả Tukaen Dharmavajra; sách này nói về những gì mà các bậc thầy khác nhau công nhận, và nguồn gốc những giáo điều của họ. Những pháp sư đạo Bon và giáo lý của họ cũng như những kiến chấp của họ đã làm hỏng những quan niệm và pháp hành của những người không Phật tử. Họ cũng đã ăn cắp giáo lý của Phật. Những tà pháp của họ được sáng chế rất lâu về trước, và ác pháp này hiện đang thịnh hành khắp nơi; nhưng đó không phải là chỗ nương xứng đáng cho những người khát khao giải thoát, lại cũng không phải là chỗ nương đáng tin cậy. Drigung Jigtaen Goenpo nói: “Về pháp thiền và tri kiến của đạo Bon: theo giáo lý của họ thì có vẻ rằng vũ trụ được sinh ra từ những cái trứng hoặc sáng tạo bởi những vị thần Cha, thần Shiva v.v… Đây là những vay mượn từ các tà kiến ngoại đạo.” Lịch sử Phái Kamdampas hậu kỳ nói: Ngoại đọa và những người theo đạo Bon mau đắc thần thông. Mặc dù bây giờ sung sướng Về sau họ phải sa đọa Ngoại đạo và đạo Bon giống như lửa: Bạn cảm thấy ấm áp tiện nghi khi đứng hơi xa, Nhưng nếu sờ vào bạn sẽ bị đốt cháy. Milarepa nói: Nguồn gốc của đạo Bon là tà Pháp. Một sự sáng tạo của loài rồng. Nó không đưa người ta đến con đường tối hậu. Bon là đạo thấp nhất. Sự khác nhau giữa đạo Phật và đạo khác Là ở chỗ quy y: Chỗ nương của Phật tử là 3 ngôi báu; Của người không Phật tử là Phạm Vương, Đế Thích. Đức Phật đã giác ngộ hoàn toàn Tự mình thoát khỏi sinh tử Nên cũng có thể giải thoát người khác. Những vị trời thuộc thế gian như thần Shìva Chính họ cũng bị buộc vào sinh tử Họ có thể ban cho người những thành công ngắn hạn, Nhưng làm sao họ có thể đem lại giải thoát hoàn toàn? Họ nói “mong tôi thành Phật quả Trong Mandala của 5 bộ loại rồng Được tìm thấy trong Tuyển tập về Rồng Trắng.” Những rồng được xếp vào loài súc vật. Phần đông tín đồ đạo Bon làm những tượng thần như Kunzang Và những đồ hình khác nhau; nhưng tôi nghĩ đấy là tà pháp Do đạo sư Váy Xanh sáng chế.. (Kyabje Pabongka Rinpoche nói chi tiết về việc này) Ngày nay có người nói rằng những vị thần đạo Bon như Shenrab và Oekar là một với đức Quán Thế Âm trong đạo Phật. Họ tuyên bố: “Để cho tất cả hữu tình đều thành đệ tử Phật, có nhiều hóa thân của chư Phật và Bồ tát đã xuất hiện trong hàng ngũ tín đồ đạo Bon. Bởi thế theo đạo Bon cũng không sao, có thể là điều tốt.” Họ tuyên bố ồn ào như vậy do sự mù lòa lớn lao của họ, bởi vì dòng tâm thức họ đã bị nhiễm tà kiến. Nếu những gì họ nói là đúng, thì cũng có thể nói rằng bắt chước những hành vi của chó và heo cũng không sao, có thể là điều tốt bởi vì cũng có thể rằng những hóa thân của chư Phật Bồ tát đã xuất hiện trong loài thú vật. Người nào mong muốn điều tốt nhất thì nên từ bỏ những tư tưởng tà ác nôn mửa như thế, cũng như từ bỏ những cục đá họ sử dụng để chùi đít. Chỗ nương duy nhất cho Phật tử là ba ngôi báu. Những Phật tử nên quy y một cách thuần tịnh, và điều cốt yếu là họ phải hoàn toàn quy phục chỗ mình đã quy y. Tóm lại ta không chỉ cần đọc lên những lời suông “quy y” mà thôi. Cũng như một tử tội tìm sự che chở của một quan chức, chúng ta phải sợ những đọa xứ, sinh tử v.v…, và phải tin chắc Tam Bảo có năng lực che chở cho chúng ta. Rồi ta phải nghĩ một cách chân thành, bằng tất cả tâm vương và tâm sở, rằng chúng ta đang đặt hết niềm tin vào Tam Bảo. Đây là tiêu chuẩn của sự quy y chính đáng. Chúng ta đã khai triển sự quy y trong dòng tâm thức hay chưa, điều ấy tùy thuộc vào việc ta đã phát sinh những tư tưởng như thế hay chưa trong dòng tâm thức. Bởi vậy đừng giống như những người tụng đọc công đức quy y hàng tỉ lần mà không một lần phát sinh thực chất của quy y trong dòng tâm thức. Bạn phải nỗ lực theo những kỹ thuật để khai triển những nguyên nhân quy y và chính sự quy y trong dòng tâm thức bạn. Có 2 cách quy y khác nhau: chỉ tìm sự che chở và xem Tam Bảo như là cái mà người khác đã thành tựu trong dòng tâm thức của họ, và hình thức đặc biệt của sự quy y xem Tam Bảo như một cái gì có thể được khai triển trong dòng tâm thức của mình, và quyết định rằng mình đã thành tựu được điều này. Có nhiều cách làm hai loại quy y này trong mỗi phạm vi của Lam-rim, nhưng vì chúng ta là những người đang học và quán những cổ thư, nên chúng ta phải cố làm pháp quy y đặc biệt, tuy nhiên sự học thật nhiều có thể không giúp gì bao nhiêu khi nói đến chuyện quy y; nếu chúng ta học và quán chỉ như một sự luyện tập tri thức, thì có mối nguy là sự quy y của chúng ta sẽ không khác gì sự quy y của một cư sĩ già. Tuy nhiên ngay dù ta không biết gì về những cổ thư, chúng ta cũng nên có cả 2 nguyên nhân quy y và nên hoàn toàn quy phục Ba ngôi báu. Đây là cách làm như vậy. Hãy nghĩ đến cách những người bệnh phó thác mình cho y sĩ, thuốc và người điều dưỡng. Nếu bạn có những nguyên nhân để quy y và tin tưởng ngôi Tam Bảo tận đáy lòng, thì bạn sẽ phát sinh sự quy y một cách chân chính trong dòng tâm thức của bạn. Vậy đây là điều cốt yếu nếu không, thì không ăn thua gì để đọc công thức quy y nhiều lần mà tự xưng mình là một Bồ tát v.v…, như phái Kadampa tiền kỳ đã nói: “Vị trưởng lão trước mặt bạn ở trong chánh điện có thể chưa gia nhập hàng ngũ những người Phật tử.” a-4. Những lợi lạc của sự quy y Có 8 điều lợi: Bạn trở thành một Phật tử, bạn trở thành một người có thể thọ tất cả giới, bạn sẽ tiêu trừ tất cả chướng ngại do nhiều nghiệp tích lũy từ trước, bạn sẽ dễ dàng tích lũy một lượng công đức khổng lồ, bạn sẽ không bị phiền nhiễu vì những hành vi tác hại của người hay chúng sinh khác, bạn sẽ không rơi vào các đọa xứ, bạn sẽ thành tựu không khó khăn tất cả những mục tiêu tạm thời và dài hạn của mình, và chẳng bao lâu bạn sẽ đạt giác ngộ. Bởi thế khi làm pháp quy y, đừng nên chỉ nhẩm lại những lời như người khác nói, hoặc chỉ quy y ngoài miệng, mà phải quy y từ trong tâm. Bạn trở thành một Phật tử chỉ khi nào bạn phát triển được hành vi quy y một cách chân chính trong dòng tâm thức, việc đọc tụng công thức quy y hàng trăm lần không làm cho bạn trở thành một Phật tử. Người ngày nay nói: “Bạn phải đọc công thức quy y nhiều lần” nhưng rất ít người nói “Bạn phải khai triển việc quy y ngay trong dòng tâm thức của bạn.” Ngày xưa ở Dagpo, một thầy tu tên là Atar đang nhập thất cùng với bằng hữu, họ phải tụng đọc công thức quy y một số lần. Atar suy nghĩ sâu xa về ý nghĩa đằng sau sự quy y nên đọc chậm hơn những người khác. Họ nhanh hơn nhiều bởi vì họ chỉ lặp lại công thức quy y; họ hoàn tất gần một tỉ lần. Vì sợ Atar không hoàn tất được số lần cần thiết, họ hỏi ông đã đọc được bao nhiêu lần, và Atar đã nói: “Bạn chỉ có tích lũy một số lần đọc cho nhiều hay sao?” Vậy nếu bạn tụng đọc công thức quy y mà đồng thời duy trì sự chú ý vào ý nghĩa của quy y, thì nhờ thế bạn trở nên thuần thục, và sự quy y có đầy ý nghĩa. Khi bạn phát nguyện thọ bất cứ giới nào trong 3 loại giới, trước hết bạn phải quy y. Nếu không bạn không thể thọ giới. Cũng như đất nâng đỡ nhà, mùa màng, tường vách, rừng cây v.v… hành vi quy y là căn bản để thọ tất cả giới. Bạn có thể đã phạm nhiều ác nghiệp trong quá khứ và tích lũy nhiều chướng ngại - chẳng hạn tội ngũ nghịch như A xà thế giết cha là vua Bình Sa người đã chứng quả Bất hoàn, hoặc phạm những tội nhỏ hơn - nhưng khi bạn đã quy y bạn sẽ tịnh hóa được những nghiệp như thế và những chướng ngại phát sinh từ nghiệp, vì bạn đã tìm chỗ nương nơi đức Phật. Sau đó dù đọc danh hiệu chư Phật hay đọc bộ kinh Bát Nhã Ba La Mật một lần cũng sẽ tịnh hóa nghiệp chướng nhiều kiếp. Kinh tạng nói rất nhiều về những lợi lạc này. Bản kinh Bát nhã ngắn đã nói:”Nếu công đức của sự quy y mà có hình tướng, thì 3 cõi cũng không đủ chỗ để chứa đựng.” Nói cách khác, công đức do hành vi quy y thật là vô lượng. Chư Phật là những đấng có tiềm năng thiện nghiệp mạnh đến nỗi những thiện căn phát sinh liên hệ đến các Ngài đều chắc chắn sẽ làm nhân cho người ta đạt đến toàn giác, dù cho họ không có động lực thanh tịnh. Kinh Sen Trắng Của Lòng Bi Mẫn nói: “Này A nan, việc ấy như thế này. Giả sử một gia chủ có một cánh đồng không đá, không gốc cây, sỏi, gạch vụn, mà có một thứ đất mầu mỡ. Người ấy làm đúng bằng cách gieo hạt giống trong khi đất còn mới, phì nhiêu. Nắng và gió không tác hại; hột giống không bị nẻ cũng không thối và được gieo đúng lúc trên những luống đất đã cày. Khi thì người ta tưới nước, khi thì để khô, và bảo vệ nó khỏi mọi sự. Này A nan, người gia chủ có một ngày nào sau đó lại đi đến bờ ruộng nói: “Hỡi hạt giống, xin đừng làm hạt giống nữa. Đừng nảy mầm, đừng lớn lên. Ta không muốn kết quả. Ta không muốn phần thưởng.” Này A nan, ngươi nghỉ sao? Liệu những hạt giống có vì những lời ấy mà không còn là hạt giống nữa không? - Không bạch Thế Tôn. Không bạch Thiện Thệ. Đức Phật bảo: Có phải quả sẽ không là quả nữa, có phải người ấy sẽ không gặt được phần thưởng nào? - Không, bạch Thế Tôn. Không, bạch Thiện Thệ Khi ấy đức Phật dạy: Này Ananda, khi những người ca tụng sinh tử, vui thích trong sinh tử, cúng dường chư Phật, thì dù họ có cầu nguyện, mong rằng nhờ thiện căn này tôi sẽ không bao giờ đến Niết bàn,” cũng không thể nào họ không đạt đến Niết bàn. Này A nan, những thiện căn phát sinh liên hệ chư Phật sẽ có kết quả là Niết bàn, dù chúng không muốn. Ta bảo ông, những thiện đức ấy sẽ chuyển biến cho đến khi chúng đạt Niết bàn. Bởi thế, mỗi khi người ta phát thiện căn dù chỉ là một niệm tưởng đến chư Phật Thế Tôn, thì kết quả của những thiện căn như vậy sẽ là Niết bàn. Ta bảo ông, những thiện căn ấy sẽ chuyển hóa cho đến khi người ta đạt tối hậu Niết bàn.” Người ta se không bị phiền nhiễu bởi những hành động tác hại của người hay loài khác. Đây là vài câu chuyện để chứng minh. Có lần một người ngoại đạo làm một tròng bằng khí lực và cố bắt lấy một ưu bà di của Phật với chiếc tròng ấy, nhưng không thành công. Một người Ấn bị vua kết án tử hình, phải bị quăng bỏ ở nghĩa địa. Tất cả những người bị đày đến đấy đều đã biến mất: chúng bị một loài phi nhân mang đi ăn thịt, không một ai sống sót trở về. Người Ấn này đặt trên đầu mình một mảnh vải y tỷ kheo rồi làm pháp quy y. Sau đó y không bị các phi nhân quấy nhiễu hay làm hại. Một kẻ du mục có lần bỏ lại mọt mình trong một ngày tại chỗ không người. Y bị một phi nhân yeti tấn công gần chết, còn để lại nhiều vết sẹo trên đầu. Một vị lama hỏi nguyên do những vết sẹo ấy; y kể lại và vị lama dạy nên quy y. Về sau người ấy lại gặp một yeti. Ông làm pháp quy y; yeti đánh hơi đã không nhận ra mùi thịt người nên bỏ đi. Một đêm, khi thấy mình sắp lạc vào nghĩa địa, gia chủ Cấp Cô Độc đọc bài kệ quy y nên những phi nhân ở đấy không làm hại ông. Sau đó ông lại quỳ trước một tượng thần ngoại đạo, nên đã mất sự che chở. Một tên trộm có lần trông thấy người ta cúng y cho một tỷ kheo. Anh ta trở về đêm để ăn trộm. Vị tỷ kheo làm phép trói lại đánh ba hèo, vừa đánh vừa đọc lời quy y. Tên trộm bỏ chạy trốn dưới một cây cầu phi nhân thường lai vãng. Anh nhẩm lại những lời vị sư đã đọc và nhủ thầm: “May quá, chỉ có ba quy y chứ nhiều hơn nữa chắc mình sẽ chết.” Đêm ấy những phi nhân không thể qua cầu. (Kyabje Pabongka Rinpoche còn kể thêm vài mẫu chuyện khác.) Khi gặp nguy chúng ta không nên sợ hãi, mà phải rút can đảm từ nơi Ba ngôi báu; và chỉ cần nương Tăng bảo cũng đủ thoát hiểm. Quy y còn ngăn ta khỏi tái sinh vào đọa xứ. Một vị trời biết chắc mình sẽ tái sinh làm một con heo nên xin Đế Thích cứu và thỉnh vấn đức Phật, Phật chỉ dạy ông pháp quy y. Vị trời theo lời dạy quy y rồi chết. Đế Thích tra tầm xem ông ta tái sinh chỗ nào; nhưng ông chỉ thấy được những tầng trời thấp hơn mình và không tìm thấy vị trời kia tại những nơi ấy. Ông hỏi Phật, Phật công bố rằng vị ấy đã tái sinh vào cõi trời Đâu suất. Chỉ có nhờ quy y, mà vị trời ấy không những đã khỏi tái sinh làm heo, mà còn được sinh vào một cõi trời rất thù thắng. Tuy vậy chúng ta lại không biết được tầm quan trọng như thế của sự quy y. Trong những buổi lễ, chúng ta ngồi thấp thỏm bồn chồn khi nhẩm đọc: “Cho đến ngày giác ngộ, con xin quay tựa về nương tựa Phật, Pháp, Tăng…” Khi đến đoạn “Om svabhàva shuddhah sarva dharmah svabhàva shuddho ham”,(*) chúng ta giả vờ đăm chiêu thiền định và lăn tròn đôi tròng mắt. Đây là dấu hiệu ta không biết cái cửa ngõ đi vào Phật giáo hay một phương tiện kỳ diệu để ngăn tái sinh vào các đọa xứ. Atìsha thấy chỉ có quy y và luật nhân quả là quan trọng, nên ngài chỉ dạy hai pháp ấy. Người ta mệnh danh ngài là “vị lama quy y” hoặc “lama nhân quả.” Ngài nghe được việc ấy và bảo: “Những cái tên đặt cho tôi như vậy cũng sẽ giúp cho việc giảng dạy giáo lý.” Khi ta chết, việc thiền quán các giai đoạn phát sinh và hoàn tất có thể vượt ngoài khả năng ta, nhưng nếu ta làm pháp quy y một cách chân thật thì chắc chắn một điều là ta không sa vào các đọa xứ. Sangyae Oen nói: Tóm lại, nếu tôi không phát triển Thực chứng về chết và vô thường, Thì cả đến mật điển Guhyasamàja Cũng không có gì sâu sắc. Nhưng ba bài kệ quy y Thật sâu sắc khi được phát sinh Trong dòng tâm thức tôi vào lúc chết. Cũng không có phương tiện nào tốt hơn để thỏa mãn các ước nguyện của ta hơn là quy y. Jangsem Retrenw nói: Đừng đăt hy vọng nơi con người - hãy cầu khẩn Tam Bảo! Nói cách khác, những bậc thánh trong quá khứ đã thành tựu được những mục tiêu ngắn hạn và dài hạn của mình nhờ khẩn cầu Ba ngôi báu. Có lần vị bồ tát ở Retreng này vướng vào một vụ kiện tụng; ông đã được kiện nhờ nương vào Ba ngôi báu. Bạn cũng sẽ sớm đạt giác ngộ. Sự quy y bây giờ của bạn sẽ có kết quả trong tương lai là những hành động tương ứng với nguyên nhân ấy. Trong đời này, mỗi khi gặp nghịch cảnh bạn liền quay về nương tựa Tam Bảo ngay. Và bởi vì điểm đặc biệt của tâm thức ta là đi theo gì nó đã quen thuộc, nên bạn sẽ nhờ Phật khi bạn chết. Kinh Tam Muội Vương nói: Lại nữa, hãy làm những hình tượng đấng Chiến Thắng, Và nhớ nghĩ đức Thích Ca Mâu Ni, Trí tuệ căn bản của Ngài thật vô lượng. Nếu ta luôn luôn nhớ đến Phật Thì tư tưởng ta tự nhiên quay về nơi Ngài… Với thân lời thanh tịnh Hãy luôn luôn ca tụng Phật. Làm cho dòng tâm thức quen thuộc với những ý tưởng ấy, Bạn sẽ trông thấy Phật ngày đêm. Khi nào bạn đau ốm hay bất hạnh Hay gặp thống khổ trước khi chết, Sự tưởng niệm Phật nơi bạn cũng không giảm sút; Những cảm giác đau đớn cũng không làm bạn mất chánh niệm. Chúng ta sẽ được những tái sinh tốt đẹp trong tất cả đời kiếp, sẽ gặp được chỗ nương cậy, và sẽ không bao giờ xa lìa những người có quy y. Và khi ta tu tập đạo lộ tối hậu, ta sẽ thành tựu được Ba ngôi báu trong dòng tâm thức ta, và sẽ sớm đạt giác ngộ. a-5. Lời khuyên sau khi quy y. Có hai phần: (1) lời khuyên liên hệ đến mỗi ngôi báu nói riêng; (2) lời khuyên liên hệ cả Ba ngôi nói chung. a-5.1. Lời khuyên liên hệ mỗi ngôi báu nói riêng. Có hai tiêu đề phụ: (1) khuyên cái gì không nên làm; (2) cái gì nên làm. a-5.1.1. Điều không nên làm. Đã quay về nương tựa Phật bảo, bạn không nên tìm nương tựa những vị thần thế gian. Ngày nay có một vài thầy tu khi vặp việc không may lại đến quy phục một cách hèn hạ trước tượng thần của thế gian. Họ làm một điều sỉ nhục cho những hành giả Phật giáo. Như tôi đã nói, chỉ cần ăn ở hai lòng là bạn đã tự đào thải mình ra khỏi hàng ngũ Phật tử, vì trước khi thọ giới là phải quy y. Tuy nhiên, cũng không hề gì nếu bạn cúng bánh, làm lễ sái tịnh bằng khói, đốt đồ cúng cho trời, rồng, quỷ thần… để cầu đỡ về các pháp sự. Nhưng bạn không được nương theo họ. Việc cúng bái này cũng giống như hối lộ người nào để xin giúp đỡ, nhưng ta không cần phải quy y người đó. Đã quay về nương tựa Phật bảo, bạn không nên làm hại hữu tình như giết, đánh, cướp của chúng; cũng không nên bắt súc vật chở quá nặng. Đã quay về nương tựa Tăng bảo, bạn không nên kết giáo với những người tà kiến ngoại đạo. Ở Tây Tạng không có những người thực sự là tà kiến, nhưng có những người tương tự tà kiến. Họ bảo: “Bạn có nghĩ rằng có cái gọi là Tam Bảo và luật nhân quả không? Đấy chỉ là những điều mà những ông lamas và geshes lém mồm miệng thường nhắc tới.” Không nên kết giao những người như vậy. Chúng ta chưa đạt đến một sự an trú nào trong đầu nên đã bị những người như vậy lung lạc làm ta đổi ý. Phải tránh xa họ. Có người khi đứng trước mặt Geshe Potowa đã nói rằng thật không có chuyện Đức Phật xuất hiện ở đời. Vị Geshe đã nói lại: “Vậy thì có lẽ anh cũng không có tổ tiên ông bà gì cả.” Người kia nói: “Tôi có ông bà tổ tiên chứ!” Potowa liền nói: “Vậy thì cũng có bằng chứng là đức Phật đã xuất hiện ở đời - đó là kinh điển Ngài để lại.” Khi ấy người kia mới tin chắc quả thực đức Phật đã xuất hiện. a-5.1.2. Những gì nên làm. (i) Kính trọng tất cả hình tượng dù tạc vẽ rất tồi. Khi bạn đã quy y Phật thì như Long Thụ nói trong Bức Thư: “Dù hình tượng đức Như Lai được chế tạo như thế nào, bằng gỗ cũng thế, người có học vẫn tỏ sự kính trọng.” Nói cách khác, một tượng Phật có thể được tạc rất xấu hay làm bằng vật liệu tồi tàn, hoặc có thể có những mảnh tượng trong một ngôi chùa hoang, bạn vẫn phải có thái độ như đấy là Phật thực. Chúng ta thường có niềm tin lớn đối với những tượng làm bằng đồng, vàng, đồng Ấn Độ, ta tôn trí những pho tượng như thế ở ngay chính giữa chùa. Nhưng ta lại không kính trọng những tượng Phật làm bằng đất sét, v.v… khi tượng bị vỡ, chúng ta để ngoài hàng giậu hoặc đem đến một ngôi chùa hoang. Những lamas ngày xưa bảo rằng mang những pho tượng như thế ra khỏi nhà cũng như là mang phước ra khỏi nhà. Lại nữa, một điều chứng tỏ lòng kính trọng của bạn đối với Tam Bảo đã bị thối rữa tận xương tủy khi bạn không phục hồi tình trạng những tranh tượng bị hỏng vì thời gian. (ii). Tôn trọng một chữ trong kinh như thế đấy là Pháp bảo. Khi bạn đã quy y Pháp, bạn phải tôn trọng dù chỉ là một mẫu tự trong kinh như thể đấy là Pháp bảo. Thật là điều vô cùng tai hại nếu bạn không có niềm tôn trọng ấy, bạn sẽ bị u mê ám chướng từ đời này sang đời khác. Như một vị Geshe đã nói: “Chúng ta xem Pháp như trò đùa và sự thiếu tôn trọng Pháp và những người giảng Pháp chính là nguyên nhân làm cho trí tuệ yếu kém. Chúng ta cũng đã khá vô minh. Vậy không nên tích lũy thêm những nguyên nhân để vô minh hơn nữa. Chúng ta sẽ làm thế nào nếu ta còn vô minh hơn bây giờ!” Chúng ta quý tiền hơn là quý một trang kinh. Nếu chúng ta trông thấy tiền rơi trên một cống nước, chúng ta sẽ cố móc lên bằng cách dùng một cây gậy dài. Nhưng chúng ta không bận tâm khi đó là một trang kinh. Chúng ta nên làm như câu chuyện sau đây: một lần, khi Gyaelwang Choeje làm viên chức nhà nước, ông được chính phủ trung ương ra lệnh phải nộp một bản phúc trình về tài chính cho năm con cọp sắt (năm Dần thuộc hành kim). Trong khi ông đang làm việc này, có nhiều tài liệu của nhiều vùng trong xứ đang trải ra giữa nhà. Mỗi khi đi ra ngoài, ông lại dọn dẹp các hồ sơ ấy trước để khỏi dẫm lên trên. (iii) Tôn trọng cả những mảnh y của Tăng già như thể bạn tôn trọng những người mang chúng. Khi đã quy y Tăng bảo, bạn cần nên tỏ sự kính trọng như Geshe Dromtoepa Rinpoche và Mahàyogi (hành giả vĩ đại). Họ thường không bước lên miếng giẻ rách màu vàng, dù nó nằm trên đường đi, họ sẽ rũ sạch mảnh giẻ ấy và mang đến nơi sạch sẽ. Bạn nên tỏ sự kính trọng đối với những mảnh y của tăng, cả đến những mảnh vải vàng rơi trên đất như bạn kính trọng những người mang chúng. Kinh Bánh Xe Thứ Mười của Địa Tạng nói: Ngay cả một đóa hao champaka đã khô héo Cũng còn tốt hơn những hoa khác nhiều Một tỳ kheo có thể đã phạm giới Và có thể là một người tội lỗi, Nhưng vẫn còn hơn những người tà đạo. Nếu thế thì, không kính trọng một người như vậy thuộc vào loại ác hạnh nào? Kinh Khuyên Hành Hạnh Vị Tha nói: Những người tìm công đức cư trú trong rừng? Không đưa ra những lỗi lầm cho người khác thấy Không có một ý niệm gì như: “Ta là thù thắng, ta tốt hơn.” Những hành vi ấy thật táo bạo từ căn bản; đừng khinh bỉ những vị sư thấp kém: Trong nhiều kiếp bạn sẽ không được giải thoát. Đây là những lời giáo huấn được truyền thừa. a-5.2. Lời khuyên liên hệ đến cả ba ngôi báu nói chung Có sáu lời khuyên: Bạn nên luôn luôn quy y và nhớ lại những công đức của 3 ngôi báu. Như tôi đã nói, hãy nhớ lại sự khác nhau giữa những bậc thầy Phật giáo và phi Phật giáo, và giữa giáo lý của họ. Lại còn nhớ đến những gì mà cả Ba ngôi báu đều có, rồi quy y nhiều lần. Hãy nhớ lại lòng từ bi của ba ngôi báu. Mỗi khi ăn uống, trước hết bạn nên dành cúng một phần cho Phật, Pháp, Tăng để đừng quên 3 ngôi. Những sự cúng dưòng như thế hết sức lợi lạc vì không thể có ruộng phước nào thù thắng hơn là 3 ngôi báu. Nhưng bạn không nên làm hỏng sự cúng dường ấy vì ác cảm bất tận, lười biếng v.v… ngay cả khi bạn cũng dâng cúng những chén nước, thì tất cả chư Phật đều biết việc này nên bạn cần phải hành xử như một người đầu bếp mới rót trà cho ông chủ. Hãy hướng dẫn những người khác quy y. Bạn nên ngăn người khác tích lũy ác nghiệp chẳng hạn khi họ tin theo tà sư, tà pháp và đi theo những bạn xấu. Lại nữa bạn nên hướng dẫn những người không tin tưởng kính trọng Tam Bảo nhưng có thể dẫn dắt bằng luận lý, làm cho họ quy y bằng cách vô tình nói đến những đức tính của ba ngôi báu trong câu chuyện. Bạn nên nhớ lại những lợi ích của sự quy y; và hãy quy y ngày ba lần, đêm ba lần. Nghĩa là hãy nắm chắc Tam Bảo là nơi nương tựa toàn bích, phát triển đức tin vào Tam Bảo và quy y mỗi ngày 6 lần. Bất cứ việc gì làm, hãy đặt tin tưởng vào Tam Bảo bất cứ việc lớn hay nhỏ, hãy đặt niềm tin vào ba ngôi báu và cúng dường thì công việc sẽ được thành tựu. Đừng có những tư tưởng tà ác, nuôi dưỡng sự lừa bịp hay tin theo những thổ thần ma vương v.v… Đừng bao giờ từ bỏ ba ngôi báu dù bạn có phải mất mạng, hoặc dù chỉ nói chơi. Nếu bạn từ bỏ sự quy y mà bạn đã làm, tức là bạn đã tự ra khỏi hàng ngũ Phật tử. Và khi bạn không còn là Phật tử thì bạn không còn là một chú tiểu, một tỳ kheo, một người trong gia đình các bồ tát hay một người hành trì mật tông. Từ bỏ lời nguyện quy y có vẻ như không quan trọng, nhưng kỳ thật nó cũng có nghĩa là bạn từ bỏ tất cả những lời nguyện khác. Bởi thế như tôi đã nói, đừng bao giờ bỏ sự liên lạc với ba ngôi báu cho dù bạn phải mất mạng hoặc ngay cả khi nói đùa. Tsongkapa viết trong tác phẩm Những Giai Đoạn Lớn Của Đạo Lộ: “Đừng từ bỏ ba ngôi, dù bạn phải mất mạng. Nếu bạn vi phạm điều này thì bạn thực sự từ bỏ chỗ quy y. Cũng thế bạn có thể chưa từ bỏ ba ngôi báu nhưng đồng lúc lại tin theo những thầy tà, những người chống lại ba ngôi báu. Như vậy là bạn đã vi phạm lời chỉ giáo rằng, bạn không nên tin theo một tôn giáo khác hoặc từ bỏ niềm tin vào chỗ quy y.” Sau đây là một ví dụ về một người không bỏ Tam Bảo dù phải mất mạng. Một lần có người tà đạo bảo một tu sĩ Phật tử hãy bỏ Tam Bảo thì sẽ được tha mạng. Người cư sĩ này không chịu bỏ nên đã bị giết và được tái sinh vào các cõi trời. (Khi ấy Kyabje Pabongka Rinpoche tóm tắt phần tài liệu này). ________________________________________ (*) CT. Câu thần chú này được đọc lên trong lúc quán khoảng không bao la không có tâm điểm trước khi phát sinh hình ảnh một vị thần. Câu ấy có nghĩa “Tự bản chất tôi là thanh tịnh, như sự thanh tịnh nơi tự tánh của tất cả pháp.” --- o0o ---

GIẢI THOÁT TRONG LÒNG TAY 18

GIẢI THOÁT TRONG LÒNG TAY Một bài giảng khúc chiết về con đường đạt đến giác ngộ (Liberation in the Palm of Your Hand- Aconcise discourse on the path to enlightenment) Pabongka Rinpoche Edited by Trijang Rinpoche Translated by Michael Richards Thích Nữ Trí Hải dịch MỤC LỤC - Lời giới thiệu Pabongka Rinpoche Lam-rim Lời dẫn nhập của Trijang Ripoche - Phần một: Những chuẩn bị sơ khởi 01. Ngày thứ nhất 02. Ngày thứ hai I. Tính cách vĩ đại của những tác giả nói lên để chứng tỏ nền giáo lý này có một nguồn gốc trong sạch. 03. Ngày thứ ba II. Tính cách vĩ đại của pháp được nói để tăng niềm kính pháp. III. Cách thích đáng để giảng dạy và lắng nghe nền giáo lý có hai vĩ đại ấy. - Phần hai: Những nghi thức chuẩn bị 04. Ngày thứ tư IV. Thứ tự những chỉ giáo thực thụ 05. Ngày thứ năm a. Thành phần thứ nhất: Kính lễ b. Thành phần thứ hai: Cúng dường 06. Ngày thứ sáu c. Thành phần thứ ba: Sám hối tội lỗi d. Thành phần thứ tư: Hoan hỉ e. Thành phần thứ năm: Thỉnh chuyển pháp luân f. Thành phần thứ sáu: Thỉnh cầu ruộng phước đừng nhập Niết bàn - Phần ba: Nền tảng của Ðạo lộ 07. Ngày thứ bảy 08. Ngày thứ tám 09. Ngày thứ chín 10. Ngày thứ mười 11. Ngày mười một 12. Ngày mười hai 13. Ngày mười ba - Phần thứ tư: Phạm vi trung bình 14. Ngày mười bốn 15. Ngày mười lăm - Phần thứ năm: Phạm vi lớn 16. Ngày mười sáu 17. Ngày mười bảy 18. Ngày mười tám 19. Ngày mười chín 20. Ngày hai mươi 21. Ngày hai mươi mốt 22. Ngày hai mươi hai 23. Ngày hai mươi ba 24. Ngày hai mươi bốn - Lời cuối sách của Trijang Rinpoche - Phụ lục 3 Ba nòng cốt của Ðạo lộ - Phụ lục 4 Trang hoàng yết hầu những người may mắn - Phụ lục 5 Pháp luyện tâm bảy điểm Lời giới thiệu Năm 1921, khoảng bẩy trăm tăng ni cư sĩ tụ họp tại am thất Chuzang gần Lhasa để nghe pháp tu Lam-rim do bậc thầy Kyabie Pabongka Rinpoche giảng. Suốt ba tuần lễ kế tiếp họ được hấp thụ những thời pháp nổi tiếng nhất đã từng được giảng ở Tây Tạng. Từ ngữ “Lam-rim” có nghĩa là những bước tiến đến giác ngộ. Nó ám chỉ một số giáo lý đã được phát huy tại Tây Tạng trong một ngàn năm qua, dựa trên tác phẩm cô đọng khúc chiết của bậc thầy Atisha người Ấn, nhan đề Dipankàra Shrijnàna (Ngọn Ðèn Soi Ðường) soạn vào khoảng năm 982-1054. Tác phẩm Giải Thoát Thoát Trong Lòng Tay này là tinh túy truyền thống Lam-rim Tây Tạng. Ðối với người Tây phương, sách này đã thành một trong những giáo lý ý nghĩa nhất về Lam-rim. Trên hai ngàn năm trăm năm trước, Phật Thích Ca đã trải qua bốn mươi lăm năm giảng dạy giáo lý một cách rộng rãi cho vô số người thuộc nhiều hạng khác nhau. Ngài không thiết kế sẵn những bài giảng, mà tùy theo nhu cầu tâm linh của thính giả. Bởi thế, bất cứ ai khảo cứu toàn bộ tác phẩm của Ðức Phật cũng thấy thực khó tìm cho ra một con đường rõ rệt để áp dụng thực hành. Tầm quan trọng của pháp Lam-rim do Atisha kết tập là, ngài đã sắp xếp lại những lời giảng dạy của đức Phật theo một trât tự hợp lý, vẽ ra một đường lối từng bước một để bất cứ ai muốn theo cũng có thể hiểu và thực hành được, dù người ấy thuộc trình độ nào. Không những luận sư Atisha y cứ vào những gì Phật thuyết, mà ngài còn mang theo đến Tây Tạng những giáo lý truyền khẩu còn lưu hành qua một hệ truyền thừa không gián đoạn, cả về lý thuyết (tuệ giác) lẫn thực hành (pháp tu để đạt tuệ giác ấy), truyền từ đức Phật đến hai ngài Di Lặc (Maitreya) và Văn Thù (Manjusri) xuống đến Vô Trước và Long Thụ (Nagarjuna) và nhiều luận sư vĩ đại khác của xứ Ấn cho đến những bậc thầy của luận sư Atisha. Như vậy, không những Atisha đã viết những van bản Lam-rim đầu tiên, mà ngài còn thu thập những giáo lý khẩu truyền vô cùng quan trọng tồn tại đến ngày nay, được giảng dạy cho người tây phương nhờ những vị tu sĩ vĩ đại đương thời như đức Dalai Lama thứ mười bốn. Ðồ đệ của Atisha lập thành một tông phái lấy tên là Kadam, phần lớn những truyền thống của phái này được phái Gelug (mũ vàng hay Hoàng mạo) của Phật giáo Tây Tạng hấp thụ. Phái Gelug do Tsongkapa (1357-1419) sáng lập. Nhiều tu sĩ phái Kadam và Gelug viết những luận giải Lam-rim, nổi tiếng là kiệt tác của Tsongkapa nhan đề Những giai đoạn chính của Con đường tu tập (Lam-rim Chen-mo): năm 1921 Pabongka Rinpoche đã giảng dạy dựa trên cơ cấu của tác phẩm này, những bài pháp mà về sau đã được tập hợp thành tác phẩm GIẢI THOÁT TRONG LÒNG TAY. Tuy nhiên, trong khi tác phẩm của Tsongkapa có tính bác học thì tác phẩm của Pabongka lại tập trung nhiều hơn vào việc đáp ứng nhu cầu thực hành cho những hành giả. Tác phẩm này đi vào chi tiết khi bàn các vấn đề như làm thế nào để chuẩn bị cho thiền, pháp Ðạo sư Du già và sự phát bồ đề tâm. Bởi thế sách Giải thoát này là một tác phẩm đặt trọng tâm ở thực hành, phù hợp với những hành giả phương tây trong thời đại này cũng như với Phật tử Tây Tạng sống ở tây phương. Trong số những người có mặt tại pháp hội vào năm 1921 là Kyabje Trijang Dorje Chang (1901-1981) một trong những đệ tử thân cận Pabongka Rinpoche, về sau là thầy giáo đạo cho đức Dalai Lama thứ 14 và là bổn sư của nhiều lạt ma thuộc phái mũ vàng (Gelug) đào thoát khỏi Tây Tạng vào năm 1959. Trijang Rinpoche ghi chú những lời giảng dạy của thầy mình, và suốt 37 năm sau đó đã khổ công duyệt lại những ghi chú ấy cho đến khi tác phẩm sẵn sàng để được ấn loát thành tác phẩm Giải thoát trong lòng tay, bằng Tạng ngữ. Pabongka Rinpoche có lẽ là vị lạt ma mũ vàng có nhiều ảnh hưởng nhất của thế kỷ này. Ngài nắm giữ tất cả những trường phái quan trọng về kinh giáo và mật điển, và truyền lại cho hầu hết những tu sĩ xuất sắc nhất của Hoàng mạo phái trong hai thế hệ kế tiếp. Bảng kê những bài thuyết giảng khẩu truyền của ngài thật vĩ đại cả về chiều sâu lẫn chiều rộng. Ngài cũng là bổn sư của Kyabje ling Rinpoche (1903-1983), vị phó đạo của đức Dalai Lama thứ 14, và của nhiều bậc tôn sư khác rất được kính nể. Toàn bộ tác phẩm của ngài chiếm mười lăm pho sách lớn, bao gồm mọi khía cạnh giáo lý Phật. Ai đã từng thụ giáo với một vị tu sĩ thuộc Hoàng mạo phái, đều chịu ảnh hưởng của Pabongka Rinpoche. Một tác phẩm tương tự quyển sách này có lẽ sẽ không bao giờ được viết trở lại, vì lẽ đó mà tôi nói sách này là cao điểm của giáo lý thuộc truyền thống Lam-rim. Có bốn trường phái chính trong Phật giáo Tây Tạng, trường phái nào cũng có giáo lý Lam-rim riêng, nhưng phái Nyingma, Sakya và Kagyn không nhấn mạnh nhiều đến Lam-rim như phái Gelug. Mặc dù thông thường, trong chương giảng dạy ở các tu viện Hoàng mạo pháp, pháp Lam-rim chỉ được giảng dạy cho các tu sĩ vào giai đoạn thuần thục của họ trên đường tu tập, song với người tây phương, pháp này lại thường được giảng dạy trước tiên. Và đấy là giáo lý mà những bậc thầy thuộc Hoàng mạo phải thường giảng dạy nhiều nhất; nó là sở trường của đức Dalai Lama, của hai vị giáo đạo ngài Serkong Rinpoche, Song Rinpoche, và những vị pháp sư uyên bác như geshe Ngawang Dhargyey, geshe Rabten, geshe Sopa, Lama Thubten Teshe và Lama Thubten Zopa Rinpoche. Trong lời Dẫn nhập ngắn gọn của ngài, Kyabje Trijang Rinpoche cho độc giả thấy thực diễm phúc như thế nào để được dự pháp hội năm ấy. Quả thế, sách này là tác phẩm rất hiếm có trong số những kinh sách Tây Tạng, ở chỗ nó là bút ký của một nền giáo lý khẩu truyền chứ không phải là một luận văn. Do vậy, không những chúng ta nhận được một số lời dạy rất quý báu, nghĩa là tinh yếu của tám Lam-rim nòng cốt, mà chúng ta còn thấy được bằng cách nào những lời giảng ấy đã được giảng dạy ở Tây Tạng. Những điểm chi tiết về những nét đặc sắc của giáo lý này có thể tìm thấy trong phần giới thiệu của Trijang Rinpoche vào cuối Ngày thứ Nhất. Mỗi chương tương ứng với một ngày giảng dạy, thường khởi đầu bằng một mẫu chuyện ngắn để khơi dậy nơi người nghe một động lực tốt. (Muốn biết qua chi tiết toàn thể tiến trình đưa đến giác ngộ theo cách trình bày trong sách này, xin xem dàn bài trang 5). Trong đây, phần động lực tu tập đã được giản lược, những chương đầu, Ngày thứ Nhất, nói đầy đủ về động cơ và trình bày một cách tuyệt hảo toàn thể pháp Lam-rim. Có thể nói toàn bộ tác phẩm chỉ là một bình giảng về chương này. Pabongka Rinpoche luôn luôn khai thị sự phát bồ đề tâm là cách ý nghĩa nhất để lèo lái cuộc đời ta, và những nhận thức tuần tự được đúc kết trong Ngày thứ Nhất đưa ta đến mục đích ấy. Ở phần cuối sách, ngài nói, “Hãy làm bất cứ gì bạn có thể làm, để chứng tỏ sự giảng dạy của tôi không là công uổng... Nhưng trên hết, hãy làm sao để việc phát bồ đề tâm là pháp tu chính yếu của bạn. Những giáo lý này chứa đựng nhiều điều mới mẻ xa lạ, nhất là đối với người tây phương, nhưng nếu kiên trì học hỏi và tư duy, hành giả sẽ được sáng tỏ. Ghi chú về bản dịch Anh ngữ: Tôi (Michael Richards) đã cố làm cho bản dịch càng dễ đọc càng hay, mà không mất sự chính xác. Tuy nhiên, vì tác giả Trijang Rinpoche vốn là một thi sĩ nổi tiếng, chắc chắn bản dịch này đã mất đi một phần vẻ đẹp của bản văn Tạng ngữ. Dù sao tôi nghĩ tôi cũng đã duy trì được bản chất bình dị tự nhiên của những bài giảng của Pabongka Rinpoche, và đem lại cho bản dịch tính chất trực chỉ đầy năng lực của nguyên tác. Ðể giúp độc giả tây phương dễ hiểu, tôi đã trình bày tài liệu này theo một cơ cấu có hệ thống mà bản Tạng ngữ không có. Có tất cả mười một phân đoạn mà nguyên bản không phân chia. Những tiêu đề tóm tắt đại ý được trình bày trong phần Phụ lục 1, có thể xem như một bảng mục lục chi tiết. Tôi không dịch tất cả những tiếng Phạn, mà để nguyên từ nào không có tương đương Anh ngữ. Chẳng thà như vậy còn hơn là đặt ra một từ Anh mà có lẽ đối với độc giả còn xa lạ hơn danh từ tiếng Phạn. Vả lại càng ngày càng có nhiều từ Phạn ngữ về Phật học trong các từ điển Anh ngữ. Xin chân thành tri ân Bổn sư Gen Rinpoche Geshe Ngawang Dhargyey người đã giảng dạy bản văn này tại Thư viện tàng trữ những tác phẩm và văn khố của Tây Tạng, và đã khẩu truyền cho tôi toàn bộ tác phẩm vào năm 1979. Tôi cũng rất tri ân Amchok Rinpoche, người đã nổ lực làm việc suốt năm năm để duyệt lại toàn bộ tác phẩm, cải thiện bản dịch này với những đề nghị tuyệt hảo. Gala Rinpoche cũng đã giúp tôi khi dịch Ngày thứ 11 và 12 tại Úc vào năm 1980-1981, và Rilbur Rinpoche, một trong số ít những đệ tử còn sống sót của Pabongka Rinpoche, đã cho tôi những hồi ức về bậc thầy của mình; đối với cả hai vị, tôi đều chân thành ghi ân. Tôi cũng cảm ơn nhiều bằng hữu và cọng sự ở Dharamsala về sự trợ giúp, khuyến khích và nâng đỡ của họ: Losang Gyatso, lúc bấy giờ là người thông dịch cho Geshe Dhargyey, đã đề nghị tôi dịch sách này; Gyatsho Tshering và các cọng sự tại thư viện Tây Tạng; Jean Pierre Urolixes, Mervyn Stringer cùng tất cả mọi người ở bệnh viện Delek về sự giúp đỡ của họ trong thời gian tôi bị tai nạn giao thông vào năm 1983; cám ơn David Stuart đã lấy lại bản dịch thảo Ngày Chín và Mười từ Jammu, ở đấy bản dịch được hoàn tất sau tại nạn; cảm ơn Cathy Graham và Jeremy Russell đã có những gợi ý quý giá để cải thiện bản thảo; cảm ơn mẹ tôi và cha đã quá cố, những người luôn nâng đỡ tôi: cảm ơn Alan Hanlay, Lisa Heatdh và Michael Perrott; cảm ơn các bạn Keith Kevan và Andy Brennand; và Angela người vợ thân yêu đã san sẻ tất cả những khó nhọc mà công việc lâu dài đem lại. Nàng luôn luôn kiên nhẫn và hy vọng; sự khuyến khích và hy sinh của nàng là vô bờ bến. Cuối cùng, tôi xin ghi ơn Eva Van Dam và Robert Beer về những minh họa tuyệt hảo của họ, Gareth Sparham và Trisha Donnelly về cuộc phỏng vấn Rilbur Rinpoche, ghi ơn thầy Sonam Jampa đã viết chỉ mục (Index) và những vị trong nhà xuất bản Widom về ian ấn sách này: Nick Ribush, Robina Courtin, Sarah Thresher, Lydia Muellbaauer và Maurice Walshe. Đôi nét về Ngài Pabongka Rinpoche Do Rilbur Rinpoche ghi lại Pabongka Rinpoche Thầy tôi, người tử tế trong ba cách, người đã giáp mặt thần Heruka, người mà tôi cảm thấy khó nỗi thốt lên danh hiệu Lord Pabongka Vajradhra Dechen Nyingpa Pael Zango, sinh ở miền Bắc Lhasa vào năm 1878. Thân phụ ngài là một quan chức nhỏ nhưng gia đình ngài không giàu lắm. Lúc ngài ra chào đời, có ánh sáng chiếu khắp phòng, mặc dù đang đêm tối mịt, và bên ngoài, người ta trông thấy một vị thần hộ mạng đứng trên mái nhà. Pabongka Rinpoche là một hóa thân của học gia vĩ đại Jangkya Rolpao Dorje (1717-1786), trong khi trước đấy ngài là tái sinh của một vị geshe uyên bác ở tu viện Sera-mae. Ngài nhập viện vào năm lên bảy, theo học chương trình thông thường của tu sĩ, lấy bằng geshe (tiến sĩ Phật học) và theo học hai năm ở Ðại học Mật giáo Gyutoe. Bổn sư của ngài là Dagpo Lama Rinpoche Jampeal Lhuendrub Gyatso, ở Lhoka. Ngài hẳn là một vị bồ tát hóa thân, và Pabongka Rinpoche là đệ tử đầu của ngài. Ngài sống trong một hang động ở Pasang và việc hành trì chính yếu của ngài là bồ đề tâm; thần hộ mạng của ngài là Quán Tự Tại (Avalokitesvara). Ngài thường niệm câu thần chú OM MANI PADME HUM mỗi đêm năm vạn lần. Khi lần đầu gặp Dagpo Rinpoche tại một lễ tsog ở Lhasa, Kyabje Pabongka đã xúc động đến rơi lụy vì niềm kính ngưỡng. Xong khóa học, Pabongka Rinpoche viếng thăm Dagpo Lama Rinpoche trong động của ngài, và được đưa đến một nơi nhập thất tu Lam-rim gần đấy. Dagpo Lama Rinpoche cho một đề mục Lam-rim để Pabongka Rinpoche về thiền quán, rồi sau đó trở lại trình bày chỗ mình đã ngộ. Dagpo lại dạy một pháp khác để thiền quán, cứ thế tiếp tục trong mười hai năm (hỏi còn chuyện gì lạ lùng hơn thế!) Pabongka có bốn đại đệ tử là Kyabje Ling Rinpoche, Kyabje Trijang Rinpoche, Khangsar Rinpoche và Tathag Ringpoche, một vị nhiếp chính của Tây Tạng. Vị này là thấy giáo đạo chính của đức Dalai Lama khi ngài còn thơ ấu và là người đã thế phát quy y cho ngài Tôi sinh ở tỉnh Kham về phía đông Tây Tạng, trong số những vị thầy đầu tiên của tôi có hai vị là đệ tử của Pabongka Rinpoche. Bởi thế tôi lớn lên trong bầu không khí tin tưởng tuyệt đối vào Pabonka như là tin chính đức Phật. Một trong hai vị thầy của tôi có một tấm ảnh của Pabongka Rinpoche đang nhỏ những giọt cam lộ từ giữa hai lông mày. Chính mắt tôi trông thấy chúng, bởi thế, các bạn có thể tưởng tượng tôi sung sướng xiết bao khi cuối cùng tôi được diện kiến ngài. Nhưng còn lý do riêng tư khiến tôi đặt hết tin tưởng vào Pabongka Rinpoche. Tôi là con trai duy nhất trong một gia đình khá giả, và mặc dù đức Dalai Lama thứ 13 đã công nhận tôi là một vị lama tái sinh, và Pabongka Rinpoche bảo tôi nên vào tu viện Sera ở Lhasa, cha mẹ tôi không mấy hoan nghênh việc này. Nhưng không bao lâu thì ông chết, và tôi có thể khởi hành đi Lhasa. Bạn không thể nào tưởng tượng nổi sự sung sướng của tôi khi khởi sự cuộc du hành suốt hai tháng trường trên lưng ngựa ấy. Lúc ấy tôi mới mười bốn tuổi, và đi tu quả là chuyện mà một bé trai ở tuổi ấy nên làm. Tôi có cảm tưởng rằng cơ hội đi Lhasa để thụ giới và sống cuộc đời của một bậc chân tu như lời đức Dalai Lama phán dạy, tất cả chuyện đó đều là một phép lạ của Pabongka Rinpoche. Khi tôi mới đến Lhasa, Pabongka Rinpoche đang ở Tashi Choeling, một hang động phía trên tu viện Sera. Tôi xin một buổi gặp và ít hôm sau, tôi cùng mẹ tôi và người gia nhân cưỡi ngựa lên núi. Chúng tôi không định trước giờ gặp, nhưng khi chúng tôi vừa lên đến, thì Pabongka đã cho người hầu dọn thức ăn và trà bánh mới làm xong. Ðiều này làm tôi tin chắc Pabongka có thiên nhãn thông, vì ngài cũng là một hiện thân của đấng Kim cương trí (Vajradhara). Sau khi ăn xong, tôi đến ra mắt Rinpoche. Tôi nhớ rõ việc này như mới hôm qua. Một cầu thang hẹp dẫn lên căn phòng nhỏ của ngài, ở đấy ngài đang ngồi trên giường. Ngài trông giống như bức ảnh của ngài - mập, thấp người. Ngài bảo, “Ta biết con sẽ đến, và bây giờ chúng ta đã gặp nhau.”Ngài vuốt hai bên má tôi. Khi tôi đang ngồi đấy, thì có một vị tân tiến sĩ (geshe) từ tu viện Sera đi vào dâng cho Rinpoche một đĩa tsampa đặc biệt vốn chỉ làm vào dịp có người lãnh bằng tiến sĩ. Rinpoche nhận xét thật là một điềm lành, khi vị tân tiến sĩ này đến mà có tôi hiện diện ở đấy, và ngài bảo ông ta hãy đổ đầy bát của tôi như đã đổ cho ngài... Bạn cũng có thể tưởng tượng điều ấy làm tôi xúc động đến mức nào. Căn phòng hầu như trống trơn. Cái vật lạ lùng nhất là một pho tượng hai tấc Anh bằng vàng ròng của Dagpo Lama Rinpoche, bổn sư Pabongka Rinpoche. Pho tượng được vây quanh bằng nhiều vật cúng dường nhỏ bé. Sau lưng tượng là năm bức tranh (thangka) trình bày linh kiến của Khaedrubje về Tsongkapa sau khi vị này đã viên tịch. Ngoài ra trong phòng chỉ có một chỗ để ngồi uống trà. Tôi cũng có thể nhìn thấy trong góc có một gian phòng nhỏ để thiền, và tôi không ngừng trộm nhìn về phía ấy (tôi chỉ mới là bé trai 14 tuổi, rất tò mò) Rinpoche bảo tôi cứ việc vào nhà xem cho biết. Nó chỉ gồm một tọa cụ và một bàn thờ nhỏ. Rinpoche gọi tên tất cả những tượng trên bàn thờ: từ trái sang phải có thầy Tsongkapa, Heruka, Yamantaka và Paelgon Dramze, một vị hóa thân của thần Mahakala. Dưới những pho tượng ấy bày những đồ cúng. Tôi chưa thành tu sĩ, nên Jamyang, người thị giả lâu năm của Rinpoche được sai đi lấy một quyển lịch để định ngày cho tôi xuống tóc, mặc dù tôi chưa mở miệng xin xuất gia gì cả. Rinpoche quả đang cho tôi mọi sự tôi hằng khao khát, và tôi cảm thấy ngài thật quá từ bi. Khi từ giả ngài, lòng tôi sung sướng như bay bổng tận mây xanh. Người hầu của Rinpoche là một người có vẻ hung hãn, người ta bảo ông ấy là hóa thân của một vị thần hộ pháp. Một lần, vào dịp Rinpoche du hành xa, ông ta đã phá cái nhà cũ kỹ của thầy mình để xây lại một tư dinh rộng lớn gần bằng tư dinh của đức Dalai Lama. Khi Rinpoche trở về ngài hoàn toàn không hài lòng, bảo: “Tôi chỉ là một ẩn sĩ quèn, đáng lẽ ông không nên xây cho tôi một ngôi nhà như thế này. Tôi không có tiếng tăm, và cốt tủy những gì tôi dạy là sự từ bỏ đời sống xa hoa thế tục. Bởi thế tôi rất lúng túng vì những căn phòng sang trọng này.” Tôi thụ giáo Lam-rim với Pabongka Rinpoche nhiều lần. Những người Trung Quốc đã tịch thu hết mọi sổ ghi chú của tôi, nhưng kết quả của lời dạy ấy tôi vẫn còn đeo mang trong mình, một cái gì rất đặc biệt. Mỗi khi nghe ngài dạy tôi lại mong muốn trở thành một thiền sư thực thụ, rút vào một am ẩn cư, bôi tro đầy mặt mà ngồi thiền. Càng lớn cảm giác này càng phai dần trong tôi, và bây giờ thì tôi hoàn toàn không nghĩ gì tới chuyện ấy, nhưng tôi thực tình muốn trở thành một thiền gia chân chính như thầy tôi. Thầy làm nhiều pháp quán đảnh như pháp quán đảnh Yamantaka, Heruka và Guhyasamàja. Chính tôi cũng nhận những pháp ấy từ nơi thầy. Tôi thường vào tư thất của thầy để làm những lễ khai đạo quan trọng trong mật giáo, còn thầy thì thường xuống tu viện để giảng dạy cho tất cả mọi người. Thỉnh thoảng thầy lại đi chiêm bái các tu viện. Viếng thăm Pabongka Rinpoche có lẽ cũng giống như thăm viếng Lama Tsongkapa lúc sinh tiền. Mỗi khi dạy, ngài thường ngồi suốt tám tiếng đồng hồ không cử động. Khoảng chừng hai ngàn con người tới đó nghe pháp và nhận lễ quán đảnh, với những giáo lý đặc biệt thì số người theo học ít hơn, nhưng khi ngài truyền bồ đề tâm giới thì có tới mười ngàn người hiện diện. Khi ngài làm phép quán đảnh của thần Heruka ngài thường có một vẻ rất lạ lùng. Ðôi mắt ngài mở lớn, long lanh, khiến tôi tưởng như ngài là thần Heruka, một chân dạng ra một chân co lại. Tôi bị kích động mãnh liệt tới nỗi òa khóc như thể đã thấy chính vị thàn Heruka. Thật là chuyện đặc biệt lạ lùng. Với tôi, ngài là vị lạt ma quan trọng nhất của Tây Tạng. Ai cũng biết bốn đệ tử chính của ngài vĩ đại tới mức nào. Thế mà ngài lại là thầy của họ. Ngài bỏ nhiều thì giờ nghĩ về ý nghĩa thực tiễn của giáo lý, và thực chứng những giáo lý ấy bằng tim của ngài. Ngài đã thực hành tất cả những gì ngài học gần đến mức dộ viên mãn. Ngài không chỉ nói suông mà cố thực chứng mọi sự. Lại nữa, không bao giờ ngài nổi giận; bất cứ sự giận dữ nào cũng hoàn toàn bị dập tắt bởi bồ đề tâm nơi ngài. Nhiều khi có những hàng dài người đứng chờ ngài ban phép lanh, thế mà Rinpoche vẫn hỏi thăm từng người một, vỗ đầu họ. Ðôi khi ngài cho thuốc. Ngài luôn luôn từ hòa. Tất cả điều này làm cho ngài thật đặc biệt. Theo tôi, ngài có hai đức chính yếu; về phương diện mật tông, ngài đã thực chứng và có khả năng hóa hiện là thần Heruka, còn về phương diện kinh điển thì ngài có khả năng giảng Lam-rim. Ngay trước khi viên tịch, ngài được mời giảng vắn tắt về Lam-rim ở ngôi chùa của bổn sư ngài, tu viện Dagpo Shidag Ling ở Lhoka. Ngài đã chọn một bản văn ngắn nhan đề “Con đường nhanh” của Panchen Lama thứ hai. Ðấy là bài Lam-rim đầu tiên mà Dagpo Lama Rinpoche đã dạy cho ngài, và ngài nói nó sẽ là bài pháp cuối cùng ngài giảng dạy. Mỗi khi viếng thăm tu viện của bổn sư, Pabongka Rinpoche thường xuống ngựa mỗi khi vừa thấy tòa nhà xuất hiện. Và từ chỗ xuống ngựa, ngài lạy dài cho đến khi tới cổng. Khi rời tu viện thì ngài đi lùi cho tới khi không còn trông thấy bóng. Lần này khi rời tu viện, ngài lạy thêm lần nữa khi ngôi chùa đã khuất dạng, và đến ở lại trong một ngôi nhà lân cận. Hơi đau bụng, ngài lui vào nghỉ đêm. Ngài bảo thị giả đi ra trong khi ngài tụng kinh cầu nguyện, và ngài tụng lớn tiếng hơn lệ thường. Lúc ấy nghe dường như ngài đang giảng về Lam-rim. Khi ngài tụng xong, các người hầu đi vào phòng thì thấy ngài đã chết. Mặc dù rất đỗi bối rối. Thatag Rinpoche cũng sao bảo được chúng tôi phải làm gì. Tất cả chúng tôi đều đau buồn. Di hài của Pabongka Rinpoche được bọc trong lụa thêu và hỏa táng theo nghi thức cổ truyền. Có một bảo tháp thực đẹp được xây lên nhưng người Trung Quốc đã phá hủy. Tuy thế tôi cũng lấy lại được vài xá lợi của ngài, và đã hiến tặng cho tu viện Sera-mae. Ngày nay các bạn có thể đến đấy chiêm ngưỡng xá lợi. Ngày nay tôi có thành công phần nào về phương diện học giả, và về phương diện hành giả, tôi cũng là một lama có hạng, song những điều ấy không có gì là quan trọng. Ðiều duy nhất có ý nghĩa đối với tôi, ấy là được làm đệ tử của Pabongka Rinpoche. Rilbur Rinpoche (Rilbur Rinpoche, người ghi lại tiểu sử trên đây, sinh tại miền đông Tây Tạng vào năm 1923. Lúc lên năm, ông được đức Dalai Lama 13 nhận ra là hóa thân thứ sáu của Ser-mae Rilbur Rinpoche. Ông vào Ðại học tu viện Sera ở Lhasa năm 14 tuổi, đỗ tiến sĩ Phật học năm 24 tuổi. Ông thiền định, giảng dạy cho đến năm 1959, sau đó chịu áp bức tàn khốc của Trung Quốc trong 21 năm. Năm 1980 ông được phép làm vài hoạt động tôn giáo, và ông đã giúp xây một tháp mới để thờ Pabongka Rinpoche tại Sera, vì Trung Quốc đã phá hủy cái tháp đầu tiên. Sau đó ông sang Ấn sống ở tu viện Namgyal tại Dharamsala.) Lam Rim Một Chỉ dẫn Sâu sắc, Hoàn toàn Chính xác để Trao truyền Pháp Giải thoát vào Lòng Tay của Bạn, Tinh hoa Tư Tưởng của Tsongkapa, bậc Tướng quân Chánh Pháp Vô song Văn tự ghi lại Một Bài Giảng Khúc Chiết về các Giai Ðoạn Trên Con Ðường đến Giác Ngộ. Tinh túy của mọi Kinh điển Cô đọng Pháp vũ Cam lồ Lời dẫn nhập của Trijang Rinpoche Hỡi Lama Lozang Dragpa Ngài là một với Thích ca mâu ni và Kim cương trí, Tổng thể của mọi nơi nương tựa tuyệt hảo, Một mandala toàn vẹn với ba đức nhiệm mầu của Giác ngộ Hãy mưa xuống cho chúng con mười triệu điều lành Ôi hỡi đấng đạo sư của con, Người che chở cho con. Người với Cỗ xe tối thượng, đã chiến thắng cực đoan tìm bình an vị kỷ, Người không màng tiện nghi thế tục Ðã đề cao Ba vô lậu học Và giáo lý của Ðấng Chiến Thắng Người mà những thiện sư cao cả không bị hoen ố vì tám chuyện bận tâm của thế gian (lợi, hại, khen, chê, vinh, nhục, được, thua) Ngài chính là suối nguồn của mọi điều lành. Mọi lời Thầy nói ra đều là thuốc hay Ðể xua tan hàng trăm chứng bệnh; Tâm non dại của chúng con thật là những bình chứa nhỏ nhoi Ðối với giáo lý bao la của Thầy Một nguồn suối diệu pháp ngọt ngào như thế Giáo lý vi diệu này mà bị quên lãng Thì thực đáng buồn xiết bao Ở đây con chỉ ghi lại được một phần nhỏ. Trijang Rinpoche Trong quá khứ có vô lượng vi Phật đã xuất hiện, nhưng những chúng sinh vô phúc như tôi đã không đủ xứng đáng để làm đệ tử trực tiếp của đức Thích ca mâu ni, người Che chở tốt nhất, Người nổi bật như một đóa sen trắng muốt trong số ngàn đức Phật vĩ đại những bậc cứu tinh của thời kiếp may mắn này. Trước hết trong quá khứ chúng ta đã phải cố gắng phát khởi thiện tâm dù trong một giây lát, nhờ thế mà ta mới được tái sinh làm một con người. Rồi chúng ta lại được chỉ dạy con đường chân chính không chút lỗi lầm này, con đường sẽ dẫn ta đến trình độ toàn trí, lúc đó ta sẽ đạt giải thoát. Nhưng nói tóm lại, tôi đã được cứu vớt nhiều lần thoát khỏi vô số điều xấu ác đủ loại khác nhau, và được đưa tiến đến càng ngày càng vần vô lượng điều vi diệu. Chính bậc đạo sư thánh thiện quang vinh của tôi đã làm việc này. Lòng từ bi của ngài thật là vô bờ bến. Danh hiệu của ngài tôi xin trân trọng nhắc lại vì một mục đích tốt lành - là JetsunJampa Taenzin Trinlae Gyatso Paelzangpo. Mặc dù những người như tôi rất thiếu trưởng thành, thiếu văn hóa và thiếu tính sáng tạo, có một thời tại nơi ẩn cư Chuzang, tôi đã được thưởng thức những giáo lý khẩu truyền của ngài khai thị vào diệu pháp Tối thượng thừa. Ðấy là một thánh địa đã trở nên thiêng liêng nhờ sự hiện diện của nhiều thiền gia vĩ đại. Ngài đã khai giảng khóa học khẩu truyền này vào ngày ba mươi tháng bảy năm Con Chim Sắt, 1921 (tức năm Dậu, thuộc hành Kim, theo âm lịch), và kéo dài trong 24 ngày. Mọi người đã phải vất vả lắm mới đến được đấy. Họ đến từ ba tu viện chính ở Lhasa, từ miền Trung Tây Tạng, từ tỉnh Tsang, Amdo và Kham, để thưởng thức vị cam lồ của giáo lý khẩu truyền từ nơi ngài, như những người khát cháy cổ khá khao được nước uống. Có khoảng ba mươi vị lamas và tái sinh lamas, và nhiều vị tinh thông ba tạng giáo điển, tất cả gồm trên bảy trăm người. Giáo lý ngài giảng dạy phối hơp nhiều truyền thống Lam-rim khác nhau - những chặng đường đến giác ngộ. Có hai truyền thống khẩu quyết liên hệ đến bản kinh Ngôn thuyết của đức Văn Thù. Một trong những truyền thống này rất chi li, đã phát triển ở tỉnh miền Trung Tây Tạng; một truyền thống khác thịnh hành ở miền nam. Ngài còn giảng dạy một giáo lý cô đọng, Lam-rim Con Ðường Nhanh; và trong phần Phạm Vi Rộng Lớn nói đến sự đổi địa vị mình với người, ngài dạy cách luyện tâm gồm bảy điểm. Mỗi phần của giáo lý được làm cho phong phú thêm bằng những lời chỉ dạy rút từ những giáo lý khẩu truyền bí mật. Mỗi phần đều được minh họa bằng những ẩn dụ, luận lý hình thức, những mẫu chuyện, và những trích dẫn đáng tin cậy. Sự giảng dạy này người sơ học cũng có thể hiểu được một cách dễ dàng, nhưng sự thực hành thì lại dành cho mọi tình độ trí thức và tâm linh. Giáo lý này thật bổ ích vì nó gợi nhiều cảm hứng tốt. Ðôi khi chúng ta phải phì cười đâm ra tỉnh táo hẳn lên, và bừng sống dậy. Ðôi lúc chúng ta phải rơi lụy, khóc ròng. Lại có những lúc ta đâm ra hãi sợ, và cảm thấy muốn hăng hái từ nỏ mọi sự để hoàn toàn dấn mình vào việc thực hành giáo lý. Cái cảm giác muốn từ bỏ này trào dâng mãnh liệt. Ðấy những lời giảng dạy của ngài kỳ diệu như thế đấy, phát sinh những cảm xúc tương tự như trên. Làm sao tôi có thể ghi hết lại giấy được! Tuy nhiên thật đáng tiếc biết bao nếu những điểm then chốt trong những lời giảng dạy đầy cảm hứng này phải bị mai một. Ý nghĩ ấy khiến tôi mạnh dạn viết ra quyển sách này. Bậc tôn sư đã khuyên tôi: “Một số những người hiện diện không thể theo dõi hết những lời giảng. Tôi e rằng tôi không tin cậy nổi những lời ghi chú mà mọi người ghi trong lúc nghe. Bởi thế yêu cầu ông hãy ấn hành một quyển sách, để vào trong ấy bất cứ gì ông cảm thấy chắc chắn.” Trong tác phẩm này tôi đã ghi lại một cách chân xác những lời dạy của thầy tôi, với hi vọng làm lợi lạc cho những ai muốn tu tập thành công. --- o0o ---