THÍCH TÂM TRỌNG
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT
Thứ Tư, 31 tháng 10, 2012
an cư thời hiện đại
An cư thời hiện tại
Kinh mô tả, mùa an cư đầu tiên, đức Phật đã có mặt tại vườn Nai, còn gọi là vườn Lộc Uyển. Như vậy lịch sử an cư có từ năm đầu tiên sau khi đức Phật chứng đắc vô thượng Bồ Đề chứ không phải năm thứ 12 theo giả thuyết của các trường phái Luật học.
Truyền thống an cư thời đức Phật
Kinh mô tả, mùa an cư đầu tiên, đức Phật đã có mặt tại vườn Nai, còn gọi là vườn Lộc Uyển. Như vậy lịch sử an cư có từ năm đầu tiên sau khi đức Phật chứng đắc vô thượng Bồ Đề chứ không phải năm thứ 12 theo giả thuyết của các trường phái Luật học. Từ năm thứ hai đến năm thứ tư, đức Phật an cư ở thành Vương Xá. Mùa thứ năm ở thành Vệ Xá Li, thứ sáu ở Kosambi. Đến năm thứ bảy, đức Phật ở cõi trời Đao Lợi. Có rất nhiều tranh luận về giả thuyết năm này. Truyền thống Phật giáo Bắc tông phân tích thêm, đây là thời điểm đức Phật nói kinh Địa Tạng cho thánh mẫu Ma Ya. Còn trong truyền thống của Nam tông cho rằng mối liên hệ giữa chư thiên, tức là người ngoài hành tinh với con người chúng ta thông qua việc học hỏi giáo pháp đức Phật là điều không thể phủ định về phương diện lịch sử, đặc biệt trong mùa an cư thứ bảy. Mùa thứ tám, đức Phật nhập hạ tại rừng Bagaha, một khu rừng xinh đẹp, khí hậu ôn hòa thuận lợi cho việc phát triển tâm linh, không quá xa thành thị nhưng cũng không quá gần, để mỗi sáng khi vào kinh thành khất thực, người tại gia có cơ hội học hỏi dựa trên sự an lạc, tĩnh tại từng bước chân đi hành hóa của những vị xuất gia. Ngược lại, người xuất gia cũng có cơ hội giảng kinh thuyết pháp cho những người hữu duyên. Mùa an cư thứ chín, đức Phật có mặt ở tại Kosambi.
Chín mùa an cư đầu, chúng ta thấy địa điểm đóng vai trò khá quan trọng. Trong các nơi này không nơi nào không có cảnh trí an lành thuận lợi cho việc phát triển đời sống thiền quán. Khoảng ba mươi sáu mùa an cư còn lại, đức Phật dành hai mươi bốn mùa an cư tại Kỳ Thọ Cấp Cô Độc viên. Ai đã từng có cơ hội chiêm bái Phật tích tại Ấn Độ và NePal sẽ thấy rất rõ khu vườn tuy bây giờ chỉ còn khoảng trên dưới 40 mẫu, trong quá khứ nó có thể rộng trên 100 mẫu.
Hiện nay, mặt sau của khu vườn Kỳ Viên này có một ngôi đại tự của một nữ cư sĩ Phật tử Thái Lan xây dựng trên lô đất 100 mẫu. Công trình xây tháp đang gần hoàn tất với chiều cao trên 50m và nhiều công trình vĩ đại khác. Nó sẽ trở thành không gian hỗ trợ cho khu vực Kỳ Thọ Cấp Cô Độc viên.
Lý do tại sao đức Phật lại dành gần một nửa thời gian hoằng hóa của ngài ở tại Kỳ Viên mà không phải một nơi nào khác? Kỳ Viên thuộc về miền Bắc Ấn Độ, khí hậu từ tháng năm đến tháng chín thường nóng và ẩm thấp rất cao. Tuy nhiên cảnh trí tại đây rất đặc biệt. Hiện nay cảnh đẹp ở đây không còn như xưa nhưng nếu tham quan, chúng ta vẫn có thể có tầm nhìn bao quát rằng nó hẳn là một nơi lý tưởng để đức Phật chọn lựa suốt một nửa thời gian hoằng hóa của ngài.
Từ đó, chúng ta đặt vấn đề về tính chất hỗ trợ của không gian tâm linh đối với nội dung tâm linh mà các hành giả cần phải trải qua suốt ba tháng. Không gian đó là gì?
Tiêu chí không gian tâm linh
Trong các kinh điển Nam tông, đức Phật nêu ra ba tiêu chí để tất cả hành giả cần phải tự suy xét chọn lựa.
Tiêu chí một, những không gian giúp hành giả được nhiều tặng phẩm cúng dường của đàn na tín thí nhưng nếu nội dung tâm linh, sự tu tập, và những giá trị an lạc hạnh phúc không có mặt thì đức Phật vẫn khuyên các vị tỳ kheo không nên lưu trú tại đây. Vì như thế sẽ dẫn đến tình trạng rơi vào chủ nghĩa lợi dưỡng, nghĩa là hưởng thụ trên nền tảng niềm tin và sự phát tâm cúng kính của người tại gia. Từ lời chỉ dạy rất ngắn của đức Phật, chúng ta thấy người tại gia khi phát tâm cúng dường cho người xuất gia cũng phải hiểu rõ nên cúng cái gì, cúng như thế nào để người tiếp nhận đạt những giá trị hỗ trợ cần thiết, nhờ đó mà tinh tấn phát triển đời sống tâm linh tu tập một cách có kết quả. Chứ không phải hễ có phát tâm, có tấm lòng đem tới cúng là tốt. Đời sống tâm linh thường đi ngược với đời sống vật chất hưởng thụ. Trong thời hiện đại, cám dỗ của đời sống vật chất cao hơn rất nhiều so với thời đại ngày xưa của đức Phật.
Chẳng hạn, mỗi một thầy hay một sư cô sử dụng ba tháng mới hết một ống kem đánh răng. Nếu ngày nào cũng có người phát tâm cúng một ống kem loại lớn thì 89 ống kem của 89 ngày hạ sẽ dùng vào việc gì? Tương tự, nếu mỗi ngày, các Phật tử phát tâm cúng dường mỗi thầy hay mỗi sư cô một bộ y hậu bằng những loại vải xịn nhất thì số lượng y hậu sẽ rất nhiều. Trong khi đó, đức Phật khuyên mỗi người xuất gia không mặc quá ba bộ gồm y thượng (áo choàng toàn thân bên ngoài), y trung (áo ngắn bên trong), và y hạ (quần sà rong). Hiện nay, hiểu theo nghĩa thoáng rộng hơn, ba y tức là ba bộ y, ba cái hậu, chưa kể ba cái áo tràng đi đường, ba cái áo để tiếp khách đến chùa… Người ta có thể tạm chấp nhận vì nhu cầu xã hội ngày nay cộng với sự hâm nóng toàn cầu nên việc thay đổi y phục xuất gia là cần thiết. Nhưng liệu trong 90 ngày hạ với 90 bộ vải để chuẩn bị may cho 90 bộ y có cần thiết đối với người xuất gia hay không?
Trong cách thức đặt câu hỏi đã hàm ý câu trả lời. Tương tự, nếu ngày nào cũng có người phát tâm cúng mỗi thầy một bao thư giá trị từ 100 ngàn đến 500 ngàn thì sau ba tháng an cư, quý thầy sẽ có một khoản tiền khá lớn. Liệu số tiền khá lớn đó có hỗ trợ tích cực cho việc tu học của các vị xuất gia trong thời hiện đại hay không? Câu trả lời có thể là hai: Có hoặc không. Có, nếu quý thầy tận dụng số tiền đó để mua kinh sách và các phương tiện phục vụ cho sự tu học. Không, nếu quý thầy nghĩ rằng đây là cơ hội để có thêm nhiều tặng phẩm cúng dường của đàn na tín thí. Dĩ nhiên không mấy người có suy nghĩ tầm thường như thế nhưng đôi khi vẫn có. Vì có nhiều người khi vào đạo không phát khởi được lý tưởng chân chính nên theo, nên dễ dàng rơi vào các thói quen hưởng thụ như khi còn ở tại gia.
Tiêu chí hai, những nơi chốn mà sự có mặt của người xuất gia tu tập, đặc biệt trong ba tháng an cư, vừa mang lại giá trị lợi dưỡng tức là sự phát tâm cúng dường của đàn na tín thí và vừa được học kinh điển, luật luận từ những bậc tâm linh đi trước. Trong tình huống này, đức Phật vẫn khuyên người xuất gia nên đặt nặng vế thứ hai. Vế đầu không có cũng chẳng quan trọng, còn vế thứ hai nếu đạt được thì sau ba tháng an cư, người xuất gia sẽ tích tụ được rất nhiều kinh nghiệm tu học cho bản thân, hoằng pháp cho tha nhân. Đây chính là mối quan tâm hàng đầu của nhiều vị xuất gia.
Nhiều vị Tăng Ni ở tỉnh lẻ cứ ba tháng an cư lại phát nguyện đến các thành phố lớn để nhập hạ. Mùa an cư kiết hạ năm 2009 tại chùa Phổ Quang đón nhận vài trăm thầy vì phương tiện tại đây đầy đủ, hội trường lớn, các vị giảng sư giỏi, các bậc tôn đức có kinh nghiệm tu học và có thời gian chuyển hóa tâm linh lâu dài. Đến đây nhập hạ thì cơ hội lắng nghe sẽ nhiều hơn các trường hạ thuộc tỉnh lẻ. Điều đó tạo ra sự lưu động, và lưu lượng người xuất gia có mặt tại các trường hạ trong nước di chuyển tùy theo các địa điểm an cư. Tuy nhiên như thế có cung ứng được các nhu cầu trong mối quan tâm vế thứ hai mà đức Phật đã đặt ra hay không?
Nơi nào có giảng sư giỏi, có tôn đức tu tập tốt thì nơi đó sẽ quy tụ nhiều hành giả hơn. Và trên phương diện nào đó, một cách rất tự nhiên như một sự hỗ trợ, nơi nào có nhiều người phát tâm cúng kính như thành phố Hồ Chí Minh thì trường hạ nơi đó luôn luôn đón nhận hành giả xuất gia tham dự nhiều hơn. Tuy nhiên mục tiêu vẫn nằm ở vế thứ hai, bằng không, nếu rơi vào vế đầu thì toàn bộ mùa gian an cư đó chỉ phục vụ cho mục đích lợi dưỡng như tiêu chí thứ nhất mà đức Phật đã răn nhắc.
Tiêu chí ba, những không gian, tùng lâm mà việc nhập hạ của người xuất gia chân chính dù không có bất kỳ một tín chủ nào phát tâm cúng dường nhưng nếu tại đó tâm của hành giả được an tịnh, đời sống đạo đức được tăng trưởng, những giá trị phụng sự xã hội trở thành đại nguyện lực và sau ba tháng an cư, hành giả trở nên tích cực hơn, năng động hơn, hiệu quả hơn trong hoằng hoá thì đức Phật khuyên các hành giả phải cố gắng vượt qua những khó khăn để trở thành con người xứng đáng sau ba tháng an cư.
Nói như thế không có nghĩa đức Phật khích lệ chủ nghĩa lý tưởng mà bỏ rơi thế giới hiện thực. Ở đây đức Phật muốn nhấn mạnh tầm quan trọng và mục đích của an cư không phải đơn thuần là tránh mưa và tránh cơ hội dẫm đạp các loài côn trùng vi tế như một số học giả Kỳ Na giáo đã cố tình lý giải. Họ cho rằng truyền thống an cư của đạo Phật có nguồn gốc và chịu ảnh hưởng trực tiếp từ truyền thống an cư của họ.
Sao phải an cư mùa mưa?
Một trong các giả thuyết đã đặt ra trong tình huống này là vào khoảng năm thứ sáu, có nơi nói rằng năm thứ mười hai sau khi đức Phật thành đạo, tôn giả A-nan nhìn thấy cứ ba tháng mùa mưa, trung bình từ tháng 6 đến tháng 9 dương lịch, thì các tu sĩ của đạo Kỳ Na do sáng tổ Mahavira sáng lập, đều cấm túc một chỗ để tu hành. Điều đó đã trở thành thói quen văn hoá tâm linh tại đất nước Ấn Độ và được quan niệm như điểm tựa tinh thần cho những người tại gia cúng dường. Lúc đó ngài A Nan nghĩ rằng, sẽ rất hay nếu Như lai đồng thuận và quy định bằng luật hẳn hòi rằng ba tháng mùa mưa, các tu sĩ Phật giáo cần phải ở yên một chỗ như truyền thống Kỳ Na giáo.
Lý giải đó xem ra có logic về lịch sử nhưng lại phi logic trong những giá trị chân lý. Đức Phật được gọi là bậc Vô Sư Trí tức là toàn bộ giá trị tâm linh ngài đạt được không phải do học từ các vị thầy ở trường lớp mà là do ngài phát minh. Hay nói cách khác, chân lý có giá trị muôn đời, quá khứ cũng thế, hiện tại không có gì thay đổi và tương lai vẫn là những chỉ số bất di bất dịch. Do đó, cách tiếp cận từ góc độ lịch sử này sẽ cho chúng ta thấy được tầm nhìn xa trông rộng về những giá trị tâm linh mà đức Phật quy định cho những vị xuất gia chân chính.
Trong một mùa an cư, đức Phật đã tuyên bố “Phụng sự chúng sinh tức là cúng dường chư Phật”, như vậy chúng ta không có lý do gì để hiểu một cách vật chất hóa rằng việc cấm túc an cư của người xuất gia nhằm tạo cơ hội cho đàn na tín chủ cúng dường. Mỗi ngày, những vị xuất gia vẫn đi thiền hành vào các ngõ ngách của xã hội, không đi hai ngày cùng một hướng, không dừng lại một cách cố ý để các tín chủ phát tâm và để có cơ hội tiếp nhận nhiều hơn mà chỉ phát xuất từ một tâm niệm rằng, mỗi bước chân đi an lạc, tĩnh tại, nhẹ nhàng và thảnh thơi của người xuất gia sẽ là bài học thiết thực về đời sống chuyển hoá tâm thức mà cốt lõi của nó là thiền quán. Trong sự bôn ba với sức ép của đời sống kinh tế vật chất, người tại gia có thể nương tựa vào những bóng dáng tu tập này để xử lý được cảm xúc thăng trầm, vinh nhục xuất hiện trong cuộc đời như là những thách đố. Rõ ràng trong sự tương tác như thế thì người xuất gia bỗng dưng trở thành một ruộng phước cho người tại gia gieo trồng và người tại gia xem đó là cơ hội hỗ trợ đời sống tâm linh cho người xuất gia, chứ không phải vì mục đích tiếp nhận cúng dường mà người xuất gia đi hành khất như đã nói trên.
Lại càng sai lầm hơn nếu chúng ta hiểu rằng ba tháng mùa mưa không đi ra khỏi chùa là để tránh đạp côn trùng nhỏ nhít phát sinh do ẩm thấp. Không ngôi chùa nào ở thời đại của đức Phật lại không có cây, cũng hiếm có ngôi chùa có diện tích quá nhỏ. Nơi đâu cũng là rừng cây, và đã là rừng cây thì chỗ nào cũng có côn trùng vi tế. Tránh dẫm đạp côn trùng vi tế ở bên ngoài chùa thì đồng thời chúng ta cũng phải dẫm đạp côn trùng vi tế ở trong chùa, điều đó có gì khác nhau? Cho nên lý giải “nhập hạ lè để tránh đạp côn trùng” là hạ thấp tầm nhìn tâm linh của đức Phật và cũng là cách biến học thuyết nhập hạ Phật giáo như một bản photocopy của Kỳ Na giáo, mà vốn các nhà truyền đạo Kỳ Na giáo luôn cổ suý tầm ảnh hưởng của Mahavira lớn hơn nhiều so với đức Phật. Bên cạnh đó, cách lý giải này cũng có thể rơi hoàn toàn vào cái bẫy của những người theo Bà La Môn giáo rằng, học thuyết của sa môn Cồ Đàm (tức đức Phật) chỉ là sự tích hợp tâm linh của Ấn Độ giáo chứ không có gì hay hơn, đặc biệt hơn như người ta đã tán dương ngài.
Dĩ nhiên những người con Phật không tranh luận với cuộc đời, không nhất thiết phải chứng minh rằng đức Phật hơn các vị lãnh tụ tôn giáo khác, ở đây nó thuộc về vấn đề lịch sử mà chúng ta cần tôn trọng, để thấy rất rõ những đóng góp về giá trị tâm linh mà đức Phật đã khai sáng cho con người.
Ai dám khẳng định rằng ngoài ba tháng mùa mưa, những tháng còn lại không có côn trùng vi tế? Mùa nắng có côn trùng vi tế của mùa nắng, mùa xuân, mùa thu cũng có côn trùng vi tế của mùa xuân, mùa thu. Mỗi mùa có mỗi loại chủng vật với những sự sống khác nhau và mỗi bước chân đi của chúng ta đều phải dẫm đạp lên chúng, làm cho chúng chết. Đây chính là lý do mà phẩm Tịnh Hạnh của kinh Hoa Nghiêm đã khuyên rằng mỗi buổi sáng, các vị xuất gia khi đặt chân xuống giường là phải phát nguyện chuyển năng lượng của lòng từ bi đến tất cả mọi loài chúng sanh. Hãy quán tưởng rằng mình hoàn toàn vô tình tạo ra cái chết không toàn thây của các loài côn trùng vi tế và mong cho chúng được siêu sinh thoát hoá.
Mùa mưa, mùa nắng, sáng hay ngày, bất cứ nơi đâu, tất cả người xuất gia đều làm như thế cả. Do đó, không nên giới hạn giá trị của an cư mùa mưa vào mục đích hạn chế nghiệp sát đối với các côn trùng mà chủng loại chúng thường được sinh trưởng vào mùa mưa ẩm thấp này. Từ đó, khắp nơi trên thế giới ngày nay đã chọn tháng an cư không nhất thiết là mùa hè. Ví dụ ở Úc, các thầy chọn mùa đông làm mùa an cư, tức là tháng sáu, tháng bảy, tháng tám vì rất lạnh giá, mọi hoạt động Phật sự khó có thể được thực hiện. Các Phật tử đến chùa cũng khó khăn do lái xe trên đường tuyết phủ sẽ không an toàn và gặp nhiều trở ngại. Năng lượng xăng dầu tiêu phí vào mùa đó cũng rất cao, cho nên nếu đến chùa tu học thì khá tổn thất về kinh tế. Ba tháng đó, ở chùa phần lớn chỉ có tu sĩ, còn người tại gia đến chẳng là bao. Đối với những vùng như Bắc Mỹ thì tháng mười một, mười hai và tháng giêng dương lịch là mùa cực lạnh, có nơi âm đến 30 độ, nên việc nhập hạ vào ba tháng đó trở thành nhập đông chứ không còn là nhập hạ nữa. Do đó giá trị của nó sẽ được lý giải khác hoàn toàn với việc tránh dẫm đạp các côn trùng.
Nói cách khác, dưới tầm nhìn và kinh nghiệm tâm linh của đức Phật, dù chư tăng có phụng sự xã hội cỡ nào đi chăng nữa cũng đừng bao giờ trải nghiẹm những giá trị an lạc, tĩnh tại của bản thân, như kinh Pháp Cú đã nói:
“Lợi người bao nhiêu,
Đừng quên phần tự lợi,
Người trí tự chuyên chế,
Hạnh phúc sẽ lâu dài”.
Ở đây, đức Phật nói rất rõ về tính khả thể trong vấn đề đóng góp của mỗi con người là có giới hạn và đừng lao theo tính khả thể đó đến độ quên mất bản thân trong thất niệm. Phụng sự cho tha nhân mà bản thân mình bệnh tật rồi khổ đau, không an lạc hạnh phúc thì giá trị phụng sự đó có giới hạn và không bền. Cho nên cần phải bồi dưỡng đời sống nội tâm để dấu ấn đóng góp trở thành cái gì đó khó quên ở mọi người, và sự tiếp nhận chắc chắn phải an lạc, hạnh phúc một cách lâu dài, chứ không chỉ đơn thuần là kinh nghiệm chứng đắc hay trải nghiệm. Người xuất gia chân chính dưới sự hướng dẫn của đức Phật và thực tập một cách có hiệu quả sẽ đạt được cùng lúc cả hai nội dung: kiến thức Phật pháp và kinh nghiệm tâm linh. Hai nội dung này truyền đạt lại cho thế gian thì người tiếp nhận sẽ cảm nhận một cách rất sống động và thực hiện theo dễ dàng.
An cư bao nhiêu là đủ?
Truyền thống Phật giáo Nam tông có nơi khích lệ đến bốn tháng và thời điểm bắt đầu cũng có phần khác nhau, chia ra làm hai: an cư sớm và an cư muộn.
An cư sớm là nhập hạ từ nửa tháng đến một tháng trước mùa an cư chính thức mà các chùa thường tiến hành. Trong truyền thống Nam tông, an cư sớm được hiểu là ngày mùng 01 tháng 06, trong khi ngày 15 tháng 06 mới là thời điểm chính thức an cư. Còn an cư muộn thì thay vì bắt đầu từ ngày 15 tháng 06, có nơi lại bắt đầu từ ngày 15 tháng 07 hoặc mùng 01 tháng 07. Tuỳ theo điều kiện không gian, thời gian và phương tiện thuận lợi hay không mà việc an cư sớm hay muộn vẫn được cho phép.
Điều đó cho phép chúng ta thêm một lần nữa lý giải rằng, truyền thống an cư của đức Phật không phải vì mục đích tránh mưa. Nếu tránh mùa mưa thì phải diễn ra ngay đúng thời điểm mùa mưa chứ không được trước cũng không được sau.
Đối với truyền thống Bắc tông, thời điểm bắt đầu an cư từ ngày Rằm tháng 04 và kết thúc vào ngày 14 tháng 07 âm lịch để chuẩn bị lễ Tự Tứ lớn nhất trong năm. An cư sớm có thể trước mười lăm ngày, và an cư muộn có thể kết thúc vào mùng 01 tháng 08.
Trong thời hiện đại, khoảng thời gian từ chín mươi đến một trăm hai mươi ngày an cư rất khó có thể thực hiện được, đặc biệt các chùa ở phương Tây. Khi các cộng đồng châu Á sang truyền đạo và giới thiệu những hình thái tâm linh cho người phương Tây chọn lựa một cách phong phú và có lợi lạc thì mùa an cư phần lớn ở hải ngoại chỉ mười ngày, có nơi chỉ bảy ngày. Bỏ ngôi chùa đi nhập hạ mười ngày là một thách đố lớn mà những người xuất gia thời hiện đại khó có thể vượt qua. Phật tử chỉ đến chùa vào ngày thứ bảy, chủ nhật, nếu cả ba tháng tức mười hai tuần lễ không có thầy/ sư cô trụ trì thì có lẽ Phật tử sẽ không đến chùa nữa. Tình trạng này đồng nghĩa ngôi chùa sẽ bị đóng cửa vì hiếm có ngôi chùa nào ở hải ngoại sau khi cất xong có thể trả hết nợ như các ngôi chùa tại Việt Nam. Có chùa thiếu nợ đến 90% tiền xây dựng, chùa nhẹ nhất cũng 20%, và phải trả từ năm năm đến hai mươi năm mới dứt. Do đó các thầy trụ trì buộc phải ở ngay chùa của mình để sinh hoạt đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng quần chúng, nhờ đó quần chúng bá tánh mới phát tâm.
Nhiều người phát tâm có điều kiện, nghĩa là khi các dịch vụ yêu cầu về đời sống tâm linh như khoá lễ cầu an, cầu siêu, cầu phước, cầu thọ, cầu tài được thực hiện thì họ mới phát tâm cúng dường. Còn nếu không có những điều đó thì hiếm ai phát tâm cúng dường mặc dù dư thừa về tài sản và tiền bạc. Là Phật tử chân chính, chúng ta nên phát tâm vô điều kiện vì thấy rất rõ việc phát tâm cúng kính là nhu cầu cần thiết cho sự tiến triển đời sống tâm linh của những người xuất gia.
Thử hình dung nếu một nhà sư hay sư cô cứ mười tiếng trong một ngày lo kinh tế hay đồng áng thì cái đầu của vị thầy hay sư cô này sẽ bị bê tông hoá, tài chính hoá hay thế tục hoá. Đó là chuyện hiển nhiên phải diễn ra. Còn nếu các thầy, các sư cô không phải bận tâm về những chuyện kinh tế thì toàn bộ thời gian còn lại sẽ dành cho việc tu tập, giá trị tâm linh cũng theo đó mà phát triển.
Thấy được như thế, người tại gia nên phát tâm cúng dường, không cần chờ đến khi có nhu cầu nào đó cần đáp ứng thì mới đền tạ công đức. Việc đền tạ công đức trong tình huống này cũng giống như “tiền trao cháo múc”, hết việc Phật sự thì vẫy tay chào với ngôi chùa luôn.
Do đó, chúng ta phải thông cảm đồng thời có cái nhìn thấu rõ bản chất văn hoá và đời sống tự do kinh tế ở hải ngoại để không lấy những quy định truyền thống để bắt nạt các vị xuất gia trong thời cận hiện đại rằng “Tại sao không thể nhập hạ hơn mười ngày?” Vấn đề đặt ra là trong thời gian dù bảy hay mười ngày, thậm chí ba tháng hay bốn tháng, tất cả những vị xuất gia có mặt trong giới trường cần phải làm gì?
An cư là để truyền trao kinh nghiệm hoá độ
Nhiều bản kinh thuộc truyền thống Pali đặc biệt là kinh Trường Bộ và Trung Bộ cho thấy các giả thuyết của Kỳ Na giáo và Bà La Môn giáo về mục đích tránh mùa mưa là không đứng vững. Đối với rất nhiều vị xuất gia trẻ với tâm nguyện lớn muốn đóng góp tài mọn của mình nhưng không đủ năng lực thuyết phục và hướng dẫn cặn kẽ cho những người đang thắc mắc hay có nhu cầu tìm đến đạo Phật, thì mùa an cư kiết hạ là cơ hội quý báu để tăng chúng khắp nơi hội tụ về nhằm chia sẻ những khó khăn trong vấn đề truyền bá, vấn đề đối thoại liên tôn giáo, liên triết học và muốn lắng nghe kinh nghiệm giải quyết vấn đề của những bậc cao túc.
Chẳng hạn thời đức Phật, có lần một vị tỳ kheo với năng lực lý luận rất vững, nhưng khi bị một người Bà La Môn đặt vấn đề rằng: “Nhân quả mà sa môn Cồ Đàm thuyết giảng là bản sao của học thuyết Bà La Môn chúng tôi. Nếu không phải như vậy thì xin ông hãy trình bày một đặc điểm gì trong học thuyết nhân quả là của đức Phật. Còn không trình bày được thì đức Phật của ông cũng chỉ là người ăn cắp học thuyết của chúng tôi thôi.” Vị tỳ kheo này nghe cảm thấy khó chịu nhưng không đủ sức biện minh. Sau đó ông về tường trình lại với đức Phật và được ngài giải thích. Ba nội dung khác biệt mà đức Phật nêu ra như sau.
Thứ nhất, nhân quả của đạo Phật không dựa hoàn toàn trên nền tảng quá khứ. Đức Phật nói: “Ai lý giải mọi sự diễn ra trong hiện tại có dây mơ rễ má với quá khứ thì người đó sẽ đánh mất cơ hội làm mới cuộc đời và cơ hội an vui hạnh phúc ngay trong hiện tại”. Mặc dù không giải thích thêm nhưng chúng ta phải hiểu đức Phật ngầm ám chỉ rằng, người như thế dễ dàng chấp nhận có một định mệnh an bày như một số phận và mọi nỗ lực thay đổi nó chỉ là trò đùa đành hanh trước thượng đế quyền uy tối thượng. Nếu nói theo Nho giáo: “Lưới trời lồng lộng, thưa mà không lọt”, ai có nỗ lực cỡ nào chăng nữa cũng bị dính trong lưới trời đã được phủ trùm mà thôi. Cho nên đức Phật nói, hãy phân tích mọi thứ chính yếu trên nền tảng nhân quả hiện tại. Dĩ nhiên việc liên hệ nó với quá khứ không hoàn toàn bị tước bỏ.
Thứ hai, nghiệp đã được gieo trồng sẽ không nhất thiết trở thành cái quả cố định. Từ lúc nghiệp được gieo cho tới lúc nó trổ quả, nó vẫn có thể thay đổi tùy theo tình huống và hoàn cảnh khác nhau.
Thứ ba, có những loại hành động được gọi là vô hiệu nghiệp với hai nguyên nhân. Trước là, năng lực của hành động đó mạnh hơn gấp nhiều lần so với năng lực nghiệp đã được gieo trồng trước đó. Tự thân của hai loại nghiệp đối lập này sẽ diễn ra theo cách thế loại trừ lẫn nhau. Cái nào mạnh sẽ khống chế, do vậy những nghiệp trước đó yếu hơn sẽ bị hòa tan và mất đi hiệu lực trổ quả. Kế tiếp là, có rất nhiều các loại nghiệp hay hành động của con người không có cơ hội trổ quả vì hoàn toàn không có điều kiện thuận lợi về môi trường. Cũng như một hạt đậu bỏ trên nền xi măng thì sau một trăm năm nó vẫn là hạt đậu khô thậm chí bị mối mọt ăn nếu dưới nhiệt độ ẩm thấp. Sẽ không bao giờ có cây vì hạt đậu không có ngòi nảy mầm.
Trong khi đó, học thuyết nghiệp của Bà La Môn giáo là chủ nghĩa an bày. Nói theo Nguyễn Du là:
“Bắt phong trần, phải phong trần.
Cho thanh cao mới đặng phần thanh cao”.
Nếu chịu khó phân tích thêm, nghiên cứu thêm những bài kinh khác mà đức Phật dạy về nghiệp trong Pali, A Hàm và đại thừa, chúng ta sẽ thấy còn hàng trăm vấn đề rất khác so với truyền thống nghiệp của các tôn giáo bạn.
Cho nên, ba tháng an cư là cơ hội rất quý để những người xuất gia trẻ học được độ sâu trong học thuyết mà đức Phật đã khám phá và truyền bá; học sâu được những cách thức giải quyết vấn đề trong các cuộc đối thoại liên tôn giáo, đối thoại liên triết học mà không phải hễ ai hiểu đạo Phật là có thể làm công việc đó thành công.
Có rất nhiều cuộc đối thoại lắt léo mà chỉ cần một mẹo vặt nhỏ là có thể khai thông, hoặc điểm tâm được người đang bị bế tắc, hoài nghi, khống chế và có thái độ ngang tàng nghĩ rằng mình là số một trên cuộc đời. Do đó nó đòi hỏi chủ nghĩa kinh nghiệm và nghệ thuật phân tích vấn đề mà đức Phật và các bậc thánh tăng xưa đã từng làm.
An cư để trưởng dưỡng đạo tâm
An cư dẫn đến trạng thái an tâm khi chúng ta bớt tiếp xúc với thế giới tại ngoại, hạn chế giao tiếp với xã hội xung quanh khi không thật sự cần thiết. Các hành giả có điều kiện tăng trưởng đời sống nội tâm của mình lớn hơn mức bình thường. Vì khi dấn thân ra xã hội, thời gian dành cho sự tu tập sẽ ít hơn thời gian chúng ta ẩn tu một mình, đó là điều hiển nhiên. Tuy nhiên việc các tu sĩ Phật giáo phải đóng cốc trên núi rừng và tu một mình là điều không được Phật khích lệ. Vì tu như thế, dù một trăm năm cũng không lợi ích gì cho ai ngoài lợi ích cho bản thân. Cùng lắm là được thiên hạ cung kính và phát tâm vì nghĩ rằng đây là bậc chân tu thật học. Chỉ chừng đó thôi. Cho nên, trong ba tháng an cư, đức Phật vẫn cho phép người xuất gia đi giảng kinh, thuyết pháp, làm Phật sự, thăm viếng người thân bị bệnh tật hoặc những nhu cầu xã hội vốn không thể thiếu vắng sự đóng góp của họ.
Có sáu truyền thống Luật học, mỗi truyền thống có những quy định khác nhau về tính gia giảm thời gian cho phép đi ra ngoài trong ba tháng an cư. Theo truyền thống Nam tông ở một số nước hiện nay, thời gian tối đa vắng chùa về ban đêm là bảy ngày, có nơi cho phép mười bốn ngày. Còn đối với truyền thống luật học Bắc tông, có nơi cho phép đến một tháng, do công tác Phật sự giúp người cứu đời. Trong cuộc đối thoại đặc biệt với một hòa thượng Thích Trí Quảng, cố hòa thượng Thích Trí Thủ đã nói rằng: “Nếu không đi thuyết giảng trong ba tháng an cư, nơi tất cả chư tăng ở nhiều tỉnh thành hội tụ thì sau này có muốn thuyết giảng để chia sẻ và truyền đạt cũng khó có cơ hội”.
Ngày xưa, đức Phật cho phép thời gian trung bình là nửa tháng, còn một số tình huống đặc biệt thì có thể vượt hơn nửa tháng. Như vậy, tính bắt buộc người xuất gia phải ở một chỗ không phải là tiêu chí tiên quyết. Chúng ta thấy rõ việc ở yên một chỗ nhằm tạo cơ hội phát triển nội tâm chứ đâu phải là phương tiện duy nhất của vấn đề. Khi nhận ra được điều đó thì chúng ta vẫn có thể tu trong lúc đang ở trên xe.
Mỗi khi hòa thượng Thích Trí Quảng đi đâu, có quần chúng Phật tử đi cùng trên chuyến xe thì trên xe thường tụng kinh chứ không ngồi nói chuyện hay ngủ gật. Hòa thượng rất khích lệ việc cùng tụng kinh trên xe. Đó là tâm niệm an cư mặc dù không phải mùa an cư nhưng toàn bộ chiếc xe vẫn được xem là đang an cư trong lúc nó di chuyển với tốc độ 60Km/giờ. Thậm chí nếu sau này chúng ta cùng đi trên một chuyên cơ, toàn bộ hành giả có mặt trên đó cũng tụng niệm, hành trì như thế thì dù tốc độ bay là 1000Km/giờ, chúng ta vẫn được gọi là đang an cư, tức là ngồi yên một chỗ về phương diện tâm.
Như vậy, an cư nằm ở chuyển hóa tâm, làm cho tâm an lạc, hạnh phúc, bình an, nỗi khổ niềm đau được giải phóng ở cách thức trọn vẹn nhất chứ không đơn thuần ở yên một chỗ. Trạo cử là khái niệm tâm lý học Phật giáo cho thấy sự dao động của tâm chứ không đơn thuần là sự lóc chóc của thân, như đi đánh đòng đưa, ngồi rung đùi, vừa cười vừa nói, dáng dấp thiếu sự đĩnh đạt trang nghiêm. Trạo cử thực chất chỉ sự dao động trong tâm, đang ngồi chỗ này mà tâm nghĩ chỗ khác, không có hiện tại lạc trú, không có chánh niệm tỉnh thức, không có nhất tâm bất loạn, không có thân, khẩu, ý nghiệp giao cảm nhau trong sự giao cảm tâm linh với đức Phật. Tất cả những người như thế đều được gọi là đang bấn loạn tâm. Lúc đó, dù có mặt trong ba tháng an cư, ở một nơi lý tưởng cỡ nào đi nữa, người đó vẫn được xem là thất bại vì tâm an chưa được thiết lập.
Ngày 20 tháng 5 năm 2009 vừa qua, được sự chỉ dạy của HT. Thích Trí Quảng, chúng tôi đã cùng phái đoàn Thượng Đỉnh Phật giáo thế giới và Ban tôn giáo của chính phủ đến tham quan hai địa điểm Quảng Ninh và Ninh Bình nhằm khảo sát chuẩn bị tổ chức Hội nghị Thượng Đỉnh Phật giáo thế giới lần thứ 6 từ ngày 20 đến 25 tháng 11 năm 2010, kết hợp sự kiện chào mừng 1000 năm Thăng Long. Tại đây, chúng tôi đã gặp ban giám đốc công ty xây dựng Xuân Trường tại chùa Bái Đính. Ban giám đốc có sở nguyện lớn mong rằng sau khi hoàn tất ngôi chùa ở giai đoạn hai, tức khoảng tháng 11 năm 2010 trở đi thì nơi đây sẽ là nơi tu học lớn nhất dành cho chư tăng vì ở tại tỉnh này, số lượng tăng chúng không nhiều.
Lúc đó có thầy tổng thư ký Ban trị sự tỉnh, chúng tôi đã đề xuất như sau: Còn đến mấy tuần nữa thì mùa an cư mới bắt đầu. Nếu chúng ta biết cách tổ chức và vận động thì đây là địa điểm vô cùng lý tưởng để mời gọi chư tăng ở năm mươi lăm tỉnh thành đang có Ban trị sự Phật giáo hoạt động Phật sự, về an cư. Nếu mỗi tỉnh mời từ hai đến bốn vị thì chúng ta có được trên dưới hai trăm vị về an cư. Làm được điều đó thì chùa Bái Đính sẽ là nơi có số lượng chư tăng toàn quốc an cư nhiều nhất. Dĩ nhiên chúng ta không nhắm tới mục đích đạt kỷ lục nhưng đó là dấu ấn lịch sử rất quan trọng.
Tại sao cần có nhiều thành phần khác nhau cùng đến an cư? Vì nội dung an cư là điều chúng ta phải quan tâm. Nếu mỗi thầy, mỗi sư cô an cư tại các tỉnh thành hoặc các huyện của mình, không có sự giao lưu giữa nhiều vùng khác nhau thì sự thông cảm về phương diện Phật sự sẽ gặp khó khăn. Nhờ ba tháng sống chung, chư tăng ở vùng A, vùng B có điều kiện hiểu rõ thêm phong tục tập quán, có thể truyền giao những kinh nghiệm giảng kinh, thuyết pháp và làm Phật sự. Miền Bắc hiện nay đã được nhà nước ủng hộ bằng tâm chân thành. Đây là thời điểm chưa từng có trong lịch sử Phật giáo Việt Nam ngoài triều đại nhà Trần và nhà Lý.
Chẳng hạn cuộc triển lãm Phật ngọc tại chùa Phật Tích vừa qua, chủ tịch nước, thủ tướng, phó thủ tướng, các uỷ viên bộ chính trị v.v... gần như toàn bộ các bộ trưởng, toàn bộ lãnh đạo tỉnh Bắc Ninh và rất nhiều Phật tử miền Bắc đã trở về chiêm bái. Trung bình mỗi ngày đón khoảng hơn hai trăm ngàn lượt khách. Như vậy, việc triển lãm Phật ngọc không chỉ đơn thuần mang giá trị văn hoá mà đó là đại hoằng pháp. Đại lễ Phật đản Liên Hiệp Quốc năm 2008 vẫn chưa có cơ hội mời toàn bộ lãnh đạo cao cấp nhất của Đảng, nhưng những vị chủ tịch nước, nguyên tổng bí thư Đảng và nhiều lãnh đạo cao cấp khác cũng đã về tham dự.
Nếu trong mùa an cư, nếu ta có cơ hội triển lãm tương tự như thế thì đại an cư trong trường hợp này sẽ rất mầu nhiệm. Do đó, tổ chức tốt không chỉ có lợi trong nội bộ Phật giáo mà còn là cơ hội để mọi thành phần khác nhau trong xã hội biết đến đạo Phật một cách khéo léo và tinh vi hơn. Từ đó họ sẽ tự động trở thành Phật tử. Đến chiêm bái Phật thì phải thắp hương, thắp hương xong phải lễ bái. Kinh Diệu Pháp Liên Hoa nêu rõ: bất cứ người nào, dù không mang tâm trạng tôn kính thật sự mà chỉ như một sự xã giao, thậm chí có thể phỉ nhổ, phê phán, nhưng nếu chỉ cần viết một chữ Phật trên cát, người đó cũng đã gieo hạt giống Phật và có thể trở thành Phật trong tương lai. Huống hồ những vị lãnh đạo này đến với một tấm lòng. Triển lãm vừa qua tại Phật tích cũng trùng ngày với cuộc họp Quốc Hội. Ấy thế mà, họ còn tranh thủ được thời gian vào buổi tối để đến dự thì chắc hẳn không vì lý do ngoại giao hay những lý do thông thường mà vì tôn kính Phật thật sự. Như vậy hạt giống Phật đã bắt đầu nảy nở trong rất nhiều tâm và trong ngôi nhà của các vị lãnh đạo quốc gia hiện nay.
Do đó, khi nhập hạ chung, chúng ta có thể chia sẻ những kinh nghiệm như thế. Tại miền Bắc, số lượng nhân sự làm Phật sự giảng kinh, thuyết pháp, giáo dục và lĩnh vực văn hoá từ thiện hầu như là nắng hạn. Trong khi đó, tại Sài Gòn và nhiều tỉnh thành khác lại dư thừa nguồn nhân sự cho các Phật sự này. Nếu trong lúc nhập hạ, chúng ta có thể chia sẻ và thiết lập được mối cộng thông với nhau, kết hợp việc thỉnh mời chư tăng ở miền Nam ra miền Bắc và thỉnh mời chư tăng ở miền Bắc vào miền Nam để giao lưu, thì chúng tôi tin chắc rằng lợi lạc của nó rất cao. Không có những mùa an cư như thế, chúng ta khó có thể thiết lập nhịp cầu cảm thông về Phật sự và hỗ trợ lẫn nhau.
Giáo Hội Phật giáo Việt Nam hiện nay có một ưu điểm lớn mà các giáo hội quốc tế không thể so bì kịp, tuy một số người cho rằng đây là giáo hội chỉ thống nhất trên phương diện hình thức nhưng dù sao nó vẫn có cái hay. Phật giáo ở Thái Lan là quốc giáo nhưng có hai giáo hội. Tích Lan có Phật giáo Nam tông truyền thống được xem gần như quốc giáo lại có đến bốn giáo hội. Miến Điện cũng có nhiều giáo hội. Lào có một tổ chức thống nhất nhưng sự thống nhất đó không mạnh bằng chúng ta về phương diện hoạt động Phật sự. Campuchia cũng có hai giáo hội khác nhau.
Khi có một giáo hội thống nhất, ít nhất chủ trương chung của giáo hội được các vị lãnh đạo giáo hội tiếp nhận và truyền bá. Lúc đó, tiếng nói ở phương diện hành chính và tính thống nhất ở mức độ toàn quốc sẽ đạt hiệu quả hơn. Nơi nào có tính thống nhất về phương diện hành chính thì một chủ trương hay, một chính sách giỏi sẽ làm cho mọi nơi cùng hưởng được những giá trị lớn, dù nhân sự ở các tỉnh thành này có thể kém phần hơn những tỉnh thành phát triển như Sài Gòn, Huế, Hàet Nội, Đà Nẵng vv… Chính sách phổ cập giúp mỗi người nâng tầm nhìn và hoạt động Phật sự của mình ở mức độ tiên tiến trở lên, đó là những lợi ích và giá trị. Thông qua các mùa an cư tập thể, thay đổi các địa vực khác nhau trong toàn nước, chúng ta sẽ có được rất nhiều bài học lịch sử to lớn.
Về các trường hạ hiện nay
Thứ nhất, an cư là cơ hội để tăng, ni có sáu thời tịnh niệm tu học giá trị. Sáu thời tu học trong mùa an cư chủ yếu bao gồm: buổi sáng đối với truyền thống Tịnh độ tông là thời kinh Thủ Lăng Nghiêm; giữa sáng và trưa có thời tụng kinh sám hối như lễ Vạn Phật, Ngũ Bách Danh, Tam Thiên… hoặc thời học Phật pháp. Chiều lúc hai giờ, học Phật pháp, hoặc thực tập diễn giảng, có nơi tiếp tục thực hiện các khoá lạy sám hối. Bốn giờ công phu chiều, bảy giờ tối là khóa kinh Tịnh độ và chín giờ tối là khóa thiền.
Nếu chúng ta chịu khó phân tích nội dung của những nghi thức được sử dụng trong phần lớn các trường hạ thì sẽ thấy chủ tâm của nó vẫn là “tu rục, tu rị” để giải thoát. Trong khi đó rất nhiều tín đồ Phật tử cùng tháp tùng ăn ké nội dung tâm linh, và do vậy họ cũng trở thành những người “tu rục, tu rị” toát mồ hôi. Chúng tôi cũng đã kính kiến nghị đến chư tôn đức lãnh đạo các cấp giáo hội rằng, các khoá lễ mà chúng ta tụng niệm nên mang tính thời sự nhằm đáp ứng nhu cầu toàn bộ thế giới đang quan tâm.
Những khoá lễ hành trì thường ngày dành cho người xuất gia như bữa khuya và bữa tối hiện nay ở một số nơi đã bắt đầu có người tại gia tham dự. Chẳng hạn chùa Ấn Quang, bữa sáng có đến năm trăm người, bữa tối cũng khoảng năm bảy trăm người. Như vậy, những thời kinh đó đừng nên là gu tâm linh dành riêng cho người xuất gia nữa, mà phải chọn những bài kinh để người tại gia cũng có thể cảm nhận được chất liệu lợi lạc cho bản thân mình. Sau những ngày tham dự an cư, người tại gia có thể cảm thấy đạo Phật đáp ứng xã hội, là đạo nhập thế chứ không xuất thế chỉ dành riêng cho người xuất gia.
Truyền thống mùa an cư ở Trung Hoa đã ảnh hưởng rất nhiều đến Việt Nam và Thủ Lăng Nghiêm được xem là bài kinh bắt buộc. Nếu chúng ta thay đổi thời kinh Thủ Lăng Nghiêm bằng bài kinh Di Giáo thì chúng tôi tin chắc giá trị lợi lạc về phương diện nhập thế sẽ cao hơn rất nhiều. Trọng tâm của kinh Thủ Lăng Nghiêm là những câu thần chú giúp hành giả thiết lập sự tĩnh tại của tâm về phương diện thiền quán, đi sâu vào định ở mức độ nhanh chóng hơn. Như vậy nó dành cho gu tâm linh của người xuất gia. Rất nhiều người tại gia đã sử dụng nghi thức này tại tư gia của mình, đôi lúc không cần thiết. Tại sao người xuất gia cần phải thiết lập định tâm hằng ngày, là vì nếu thiếu nó thì sự giao tiếp với xã hội sẽ khiến người đó rơi rớt vào thế tục, tuy nhiên nó không phải là phương tiện duy nhất.
Các truyền thống tâm linh khác đâu sử dụng thần chú mà vẫn có thể thiết lập được sự an tịnh và an định của tâm. Cũng có rất nhiều người tu trong chùa mấy chục năm, cũng tụng thành kính thần chú Thủ Lăng Nghiêm nhưng đến lúc hết duyên vẫn ra đời như thường. Cho nên thần chú chỉ là một trong các phương tiện thiết lập an định của tâm chứ không phải là tất cả. Câu danh hiệu “Nam mô A Di Đà Phật” cũng là một phương tiện; chánh niệm tỉnh thức, pháp hoa tâm, tam luận tông và nhiều pháp môn khác cũng là phương tiện. Cho nên nếu chúng ta thay kinh Di Giáo vào thời kinh buổi sáng thì giá trị lợi lạc sẽ cao gấp nhiều lần, vì đây là những tinh hoa đối với người tu mà đức Phật đã đúc kết và di chúc trước lúc qua đời. Rất tiếc lịch sử Phật giáo Việt Nam chưa từng đọc tụng kinh Di Giáo trong các thời kinh chính. Kinh này chỉ được giảng dạy trong các trường lớp Phật học dành cho tu sĩ.
Buổi chiều, chúng ta có một thời khóa công phu chiều để thể hiện lòng từ bi cứu độ hộ trì cho các hương linh trong thế giới của ngạ quỷ chưa siêu sinh thoát hóa. Nếu thay thế bằng bài kinh Sám Hối Sáu Căn thì bên cạnh việc giữ nguyên giá trị thể hiện lòng từ bi hộ trì cho các hương linh, chúng ta còn có thể gột bỏ những tội lỗi do mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý tạo ra mà trọng tâm nhất vẫn ở ý. Nội dung bài Sám hối sáu căn của Việt Nam sâu sắc hơn nhiều so với nghi thức Sám hối Hồng danh, Ngũ bách danh, Tam Thiên hay Vạn Phật của Trung Quốc. Mặc dù chúng ta không cố tình so sánh độ cao thấp giữa mình và người để tạo niềm hãnh diện tự hào cho Phật giáo Việt Nam nhưng chúng tôi tin chắc nội dung tâm linh ở từng bài kinh chúng ta đọc tụng có giá trị trị liệu rất lớn mà việc chọn lựa đúng sẽ mang lại kết quả cao.
Còn các khóa kinh buổi tối, thay vì chỉ đơn thuần tụng kinh Di đà, Phổ môn, Địa tạng như đã tụng quanh năm thì ba tháng an cư, chúng ta nên tạo cơ hội cho người xuất gia đọc những bài kinh xã hội để người tại gia cùng được hưởng ứng. Khi đọc những bài kinh đức Phật dạy cho xã hội, thanh niên, hay mọi thành phần, lúc đó chủ nghĩa nhập thế của Phật giáo sẽ trở thành tông chỉ của tất cả tầng lớp những người xuất gia chân chính. Sau ba tháng an cư, việc dấn thân sẽ mạnh hơn, lợi lạc sẽ đạt được nhiều, hơn là chỉ đơn thuần đặt nặng vào các nghi thức sám hối của người Trung Hoa biên soạn.
Các trường hạ tại Việt Nam có nghi thức ngồi thiền sau thời kinh, trung bình thời lượng từ mười lăm đến ba mươi phút và hầu như không có sự hướng dẫn cặn kẽ ngồi thiền như thế nào. Phần lớn chỉ xướng lên một bài xướng về thế giới vô thường, khổ não và do đó việc chữa trị nỗi khổ niềm đau này giống như chữa lửa cháy đầu. Cho nên, cần phải tu niệm thật tốt, lúc đó hãy nghe tiếng chuông, thư lắng tâm, nhập vào thiền quán để phiền não rơi rụng. Thế nhưng việc thực tập và kỹ năng thực tập như thế nào thì phần lớn các trường hạ không hề giải thích. Hành giả cứ hiểu mặc nhiên vào nơi đó ta có thể niệm Phật cũng được, trì chú cũng được, hít thở hay thực hiện ngũ định tâm quán cũng được và việc hướng dẫn cặn kẽ chưa phải là mối quan tâm hàng đầu. Do đó, cần phải cân bằng thời gian giữa tụng niệm và thiền quán.
Cách nhìn nhận về thiền quán
Thiền quán là cốt lõi của Phật giáo. Dù theo Tịnh độ tông hay Mật tông thì thiền quán vẫn là yếu tố không thể thiếu. “Niệm Phật nhất tâm bất loạn” cũng là thiền quán. Đức Phật đã nói rất rõ: “Nếu tâm chưa bất loạn, ái dục vẫn chưa được chuyển hóa thì không thể vãng sanh Tây Phương”. Mặc dù không dùng ngôn ngữ thiền, thuật ngữ thiền nhưng cốt lõi của thiền là cốt lõi của Tịnh độ tông. Trong Mật tông thì thân mật, khẩu mật, và ý mật cũng là thiền. Thân mật là khi thân tâm mình không làm việc xấu, thân tâm không bị dao động, lúc nào cũng giao cảm với các tần sóng tâm linh, thể hiện được sự an tịnh thì lúc đó phiền não, nghiệp chướng, tham, sân, si bị rơi rụng hết, đó cũng là cốt lõi của thiền.
Đừng hiểu thiền là sản phẩm của thiền tông Trung Hoa. Thiền chính là trọng tâm của đạo Phật. Ngồi tụng kinh mà không có sự an tĩnh của thiền, nghĩa là tâm còn lang thang du lịch, miệng “Nam mô A Di Đà Phật” trở thành “Nam mô A Di Đà Lạt”. Do đó, cốt lõi vẫn phải là thiền. Đức Phật chứng đắc đạo quả giác ngộ giải thoát từ thiền, các vị A la hán, Bồ tát chứng đắc đạo quả giác ngộ cũng từ thiền. Khái niệm “thiền” chúng tôi nói ở đây không phải là thiền tông của Trung Hoa, Nhật Bản, Triều Tiên, Việt Nam mà là thiền như con đường chuyển hóa tâm thức.
Do đó, chúng ta nên lấy Tứ Niệm Xứ làm nền tảng. Không có phương pháp thiền nào hơn được thiền Tứ Niệm Xứ. Dù có ca ngợi thiền chỉ và thiền quán cỡ nào thì đó cũng từ Tứ Niệm Xứ mà ra. Cũng không có một pháp môn tu tập nào của Đại thừa mà không có sẵn trong kinh tạng Nikaya và A Hàm tương đương. Vấn đề ở chỗ, ngôn ngữ kinh điển đại thừa là ngôn ngữ phân tích có chiều sâu để chúng ta hiểu cặn kẽ hơn. Trong khi đó, ngôn ngữ kinh điển A Hàm và Nikaya là ngôn ngữ mô tả ngắn gọn để chúng ta đi vào sự thực tập và hành trì. Một bên là hỗ trợ kiến thức, một bên là đi sâu vào nội dung hành trì, hai bên bổ sung cho nhau. Do đó không nên kháng cự và cho rằng bên này đại, bên kia tiểu.
Thi thuyết pháp trong giới trường
Ở một số trường hạ, cơ hội thực tập diễn giảng được xem là mối quan tâm hàng đầu. Ngoài sáu thời tụng niệm để “Trú dạ lục thời hằng kiết tường”, hồi hướng cho thế giới hòa bình, quốc gia an lạc, phát triển, thịnh vượng và mọi gia đình được cơm no, áo ấm, bình an thì việc thực tập diễn giảng trở thành một cuộc thi. Các trường hạ thường tổ chức thi một cách rất bài bản. Chẳng hạn vòng loại với những đề tài tâm đắc tự chọn, thời lượng từ mười lăm đến hai mươi phút, chấm trên bốn phương diện: phong thái diễn giảng, nội dung diễn đạt có phù hợp với đạo Phật hay không, ngữ điệu lên xuống, và thái độ tâm lý trong vấn đề triển khai ứng dụng. Ai đạt cả bốn phương diện này được xem là một vị giảng sư có triển vọng và được chấm đậu thủ khoa, á khoa. Cuộc thi như một chất xúc tác khích lệ cho giới trẻ, những vị mới bắt đầu tham gia vào các trường hạ nhận thấy tầm quan trọng của hoằng pháp, để sau ba tháng an cư, họ phải dấn thân phục vụ nhiều hơn.
Nhưng rất tiếc lại có nhiều người học tủ. Một bài giảng nào đó được xào nấu từ ba bốn quyển sách khác nhau để trở thành văn chương hết sức phong phú. Sau đó họ học thuộc lòng, học khoảng sáu bài để vượt qua vòng loại, vòng một, vòng hai cho đến vòng cuối cùng và trở thành thủ khoa, nhưng nếu bỏ sáu bài đó ra thì nói không được lưu loát. Trong khi đó, giảng kinh thuyết pháp phải đặt trên nền tảng hiểu tới nơi, tới chốn mà không cần sử dụng ngôn ngữ của những quyển sách hay ngôn ngữ của các băng giảng có sẵn. Chúng ta phải sử dụng kinh nghiệm và sự tiêu hóa của bản thân mặc dù thời gian đầu, nó có thể khô khan, chưa hấp dẫn.
Một điều mà các vị giảng sư trẻ cần quan tâm trong quá trình thực tập diễn giảng ở các trường hạ, như lời của hòa tượng Thích Huệ Hưng từng dạy: “Một vị giảng sư được quyền giảng không hay nhưng không được quyền giảng sai tinh thần của đức Phật”. Vì giảng sai, dù có hay và hấp dẫn thì tác hại của nó lại càng nguy hiểm hơn. Do hấp dẫn quá nên người ta tưởng đó là chân lý, nghe theo và hành trì theo, rốt cuộc biết bao nhiêu người mất đi sự lợi lạc. Cho nên, tiêu chí quan trọng đầu tiên, cũng được xem như điều kiện cần và đủ là “giảng đúng với chánh pháp”. Ai giảng đúng với chánh pháp mới được gọi là giảng hay.
Giảng đường không phải là gala cười, và pháp sư không phải là người chọc cười. Chính yếu là làm sao giúp người khác chuyển hóa được thân tâm để đạt an vui hạnh phúc. Trên nền tảng đó, quý Phật tử cũng phải đặt mục đích đến nghe thuyết giảng là cái gì. Có những người khi đang buồn ngủ, bỗng được phá lên cười, hết buồn ngủ là cảm thấy thích vị pháp sư đó. Chúng ta đang mang những mối quan hoài về đời sống tâm linh, đọc các sách mà vẫn chưa tìm ra được, nghe giảng cũng chưa thể khai tâm thì hãy đặt những câu hỏi cho các vị pháp sư giúp mình phá vỡ nó. Hoặc có những nỗi đau không dám tâm sự, giải bày với ai, chúng ta đặt câu hỏi để các vị pháp sư mổ xẻ vấn đề, giúp chúng ta vượt qua gút mắc.
Nếu mục đích an vui, hạnh phúc là mối quan tâm của những người đi nghe pháp thì quá trình thực tập diễn giảng, chấm điểm diễn giảng cũng phải làm sao đặt vào mục tiêu hoằng pháp là chính chứ không chỉ ở ngữ điệu, phong thái thuyết giảng, ngoại hình, hoặc những cái gì thuộc về hình thức mà vị pháp sư đó có thể có. Người chấm diễn giảng phải có kinh nghiệm đời sống tâm linh, có những mục tiêu hoằng pháp thì mới có thể chọn lựa được những vị giảng sư giỏi.
Nhiều vị đỗ thủ khoa từ các trường trung cấp, cao cấp giảng sư nhưng khi ra thuyết giảng lại không ăn khách. Bởi vì trong lúc học, có người chỉ học tủ hoặc có thể rất giỏi nhưng giảng lại không đi vào những vấn đề xã hội đang quan tâm. Hoặc chúng ta bị chi phối bởi quan niệm truyền thống rằng: pháp lỏi là pháp nói nguyên văn lời kinh, không thêm, không bớt; còn pháp giác cây là pháp đưa những chuyện thế tục vào. Giảng kinh thuyết pháp nếu không gắn liền với đời thường thì làm sao người ta chịu lắng nghe. Tuy nhiên cũng có rất nhiều người vì quá nhiệt tình nên đem gu giải thoát của người xuất gia tặng cho người tại gia. Người tại gia có quý thì cũng chỉ đặt lên bàn thờ là hết, đâu thể sống được. Do đó chúng ta phải hiểu, giảng kinh thuyết pháp cho người tại gia cần đặt nặng vấn đề nhân thừa chứ đừng quá đặt nặng vấn đề giải thoát thừa từ Thanh văn, A la hán, Bồ Tát, Phật quả. Việc đó, tu sĩ thực hành nhiều chục kiếp còn chưa xong làm sao rốt ráo hướng dẫn tất cả người tại gia đều được giải thoát.
Người tại gia cần nhân thừa
Rất nhiều thế kỷ trôi qua, có lúc đạo Phật đại thừa lên đến đỉnh cao như quốc giáo nhưng có lúc rơi xuống vực thẳm tưởng chừng không ai biết đạo Phật là gì nữa. Đó là bởi vì chúng ta đưa toàn những bài kinh cao siêu còn những bài kinh gần gũi với đời sống thì không ai quan tâm. Nếu làm một thống kê xã hội học nhỏ những bài thuyết giảng của chùa Hoằng Pháp với đề tài khoá tu Một ngày an lạc, qua hàng loạt băng giảng đã được phổ cập rộng rãi trong xã hội, trên các phương tiện truyền thông thì chúng ta thấy những đề tài bình dân gần gũi với đời sống vẫn là những đề tài phát hành số lượng nhiều nhất, có khi lên đến vài trăm ngàn bản. Ví dụ “Tình người” của thầy Viên Trí, “Bến yêu thương” của thầy Trí Chơn, “Bóng mây” của thầy Thiện Thuận hay “Ngoại cảm” của Phan Thị Bích Hằng. Những đề tài đó thuộc về nhân thừa nên số lượng người nghe rất đáng kể.
Trong ba tháng trở lại đây, trang web tusachphathoc.com, chúng tôi có mục thống kê lượt nghe cho từng bài giảng. Có những đề tài chúng tôi đầu tư đến ba tháng, tham khảo, đọc sách, tư duy, không lúc nào quên, chẳng hạn bài “Chân dung tâm linh” nhưng lượt nghe chỉ vài trăm người. Trong khi đó, những đề tài nhân thừa như “Trị vết thương lòng” hay “Ngoại cảm cõi âm”, chúng tôi không chuẩn bị gì cả, chỉ cần đến giờ là lên giảng, ấy thế mà có đến mười mấy hai chục ngàn lượt nghe. Từ đó, chúng tôi rút ra một bài học rằng: gu tâm linh cao chỉ dành cho người tu giải thoát chứ hiếm khi dành cho người tại gia. Người tại gia có những nỗi khổ niềm đau của làm ăn kinh tế, tình yêu, đời sống gia đình, và những sức ép trong cộng đồng. Chúng ta phải cung ứng cho họ cái gu tương ứng thì họ mới cảm thấy lợi lạc. Số lượng bài kinh đức Phật giảng về các đề tài bình dân trong đời sống rất nhiều, đủ để đáp ứng. Còn những đề tài giảng quá cao không đáp ứng được nhu cầu thực tế, người ta có bái vọng cỡ nào đi nữa cũng khó thực tiễn được.
Cho nên, thực tập diễn giảng trong trường hạ là làm sao gắn liền với nhân thừa nhiều hơn giải thoát thừa. Đây là suy nghĩ riêng của chúng tôi, có thể đúng hoặc có thể sai nhưng nó cho thấy, chúng ta đáp ứng được nhu cầu thì quần chúng mới đến với đạo Phật, bằng không thì cho dù đạo Phật có cao siêu, huyền diệu, quần chúng vẫn chỉ đứng trước cổng chùa ngắm nhìn như ngắm nhìn các báu vật triển lãm trong viện bảo tàng, và rồi báu vật đó là của viện bảo tàng chứ không phải của những người đi chiêm bái,
Làm sao khi nghe một thời giảng kinh, người ta biến chất liệu của bài giảng đó trở thành phương diện sống trong thực tế thì việc diễn giảng mới có lợi ích. Đó là lý do trong các khoá tu Một ngày an lạc tại chùa Phổ Quang, HT. Thích Trí Quảng luôn chỉ đạo những đề tài hướng đến người tại gia. Nhiều Phật tử than vãn: “Đi đến khoá tu ở chùa Phổ Quang, tưởng được học kinh điển Đại thừa cao siêu huyền diệu, không ngờ tới đây, nghe toàn nói chuyện nhân thừa, tôi biết hết rồi, cần gì học nữa”. Biết là một lẽ mà hành được lại là chuyện khác. Có những vấn đề chúng ta nghe một lần chưa thẩm thấu, nghe lần thứ hai, thứ ba, nghe tới, nghe lui, mới vỡ lẽ và hành trì được.
***
Tóm lại, mùa an cư kiết hạ là một phương tiện cộng tu, là không gian tâm linh để các hành giả cộng tu được an lạc hạnh phúc. Đó cũng là nơi trao đổi kinh nghiệm hoằng pháp, và là phương tiện rất tốt để người tại gia được phát tâm cúng dường vào ruộng phước, người xuất gia tiếp nhận nó, nêu cao tâm nguyện tu tập và truyền bá.
Các tổ Trung Hoa trong phương diện này đã dạy người xuất gia những câu tâm niệm rất sâu sắc: “Kiếp này tu tập không đạt kết quả thì kiếp sau phải mang lông đội sừng để đền trả nợ của đàn na”. Tức là người xuất gia khi tiếp nhận phẩm vật cúng dường của người tại gia không nên hãnh diện tự hào mà lúc nào cũng phải nghĩ mình có đủ công đức, phước báu để tiếp nhận nó hay không. Tiếp nhận như việc vay nợ ngân hàng, người tại gia rộng lượng cho vay nợ mà không lấy lãi, người xuất gia khi tiếp nhận nó phải có Phật sự xứng đáng hơn để đền bù. Tài thí, pháp thí lưỡng toàn mới là các Phật sự tốt đẹp. Khi tiếp nhận, người xuất gia phải làm sao ban bố những bài pháp thiết thực, lợi ích cho người tại gia để đền trả sự vay nợ này.
Một vị tổ khác cũng đã khuyên những người xuất gia chúng tôi là, mỗi lần tiếp nhận phẩm vật cúng dường thì phải quan niệm rằng: người xuất gia giống như viên đá mài, người tại gia như là cây kéo, con dao, cái búa… Cứ sau mỗi khi cúng, con dao, cái kéo, cái rựa của người tại gia bén hơn, đồng thời viên đá mài của người xuất gia chúng tôi mòn đi chút ít.
Nếu không tinh tấn tu hành thì viên đá mài này, sau mấy mươi năm nhận cúng dường sẽ chỉ còn con số 0. Nếu tu tốt thì từ một viên đá mài sẽ sinh sôi thành hàng trăm, hàng ngàn viên đá, có mài thoải mái, mài vô cùng cũng không bao giờ tận hết. Đó là ý nghĩa vô tận tạng trong đạo Phật. Như vậy, việc tu tập trong mùa an cư là cơ hội cho tất cả chúng ta cùng thăng tiến, nhờ đó xã hội được an vui và hạnh phúc.
ai là phật tử
Ai là Phật tử ?
Phật tử có nghĩa là con của Phật, có đủ tứ chúng, xuất gia cũng như tại gia. Bậc xuất gia thì thể hiện Đạo Phật rõ ràng quá, nên khi nói đến Phật tử, tôi chỉ đề cập người tại gia.
Câu hỏi: “Ai là Phật tử?” khiến tôi liên tưởng câu hỏi: “Thế nào là người Thiên Chúa giáo?” do tờ báo Le Monde des religions, tháng 1-2 năm 2007 đặt ra trong một cuộc thăm dò về tôn giáo tại Pháp . Không dễ trả lời câu hỏi, vì tình trạng mập mờ của việc theo Thiên Chúa giáo. Ngoại trừ những người ngoan đạo, có làm lễ rửa tội, ít nhất hàng tuần đi lễ nhà thờ, có thuộc kinh,… những người khác không biết có nên cho vào tập hợp con Chúa hay không, vì gia đình thì có truyền thống theo nhưng những người này không mấy khi đi nhà thờ, kinh thì không thuộc, con cái thì không rửa tội, không tuyệt đối tin Thượng Đế,… Cuối cùng, tờ báo xác định tính chất đặc trưng duy nhất để xếp một người theo Thiên Chúa giáo là “người đó cho rằng mình là người theo Thiên Chúa giáo”.
Phật giáo hoàn toàn khác với Thiên Chúa giáo, nhưng có điểm này có thể đối chiếu với nhau: Mỗi tôn giáo là tôn giáo đa số ở mỗi nước (Phật giáo ở Việt Nam, Thiên Chúa giáo ở Pháp), lại là tôn giáo truyền thống, gắn bó với dân tộc qua lịch sử lâu đời. Tính chất này là thế mạnh gắn kết cá nhân với cộng đồng dân tộc, nhưng đồng thời về lâu dài tính thuần thành bị loãng đi. Ở Pháp, cũng như nhiều quốc gia phát triển ở phương Tây khác, khoa học tiến bộ đặt lại vấn đề niềm tin thần quyền, tự do cá nhân phát triển, lại có nhiều trào lưu tư tưởng khác, nên niềm tin và tập quán tôn giáo bị lơ là. Việt Nam thì không có vấn đề niềm tin như thế, nhưng tính cách lơ lửng của việc theo Phật là khá phổ biến.
Phật giáo tuyệt đối tôn trọng tự do của mỗi người. Dầu cho bạn đã nương tựa Tam Bảo, chính bạn phải “tự thắp đuốc mà đi”. Cùng là Phật tử, nhiều người đi theo cách khác nhau, nhiều người tu tập tích cực, nhiều người bằng lòng trong nếp sống tâm linh truyền thống của gia đình, có người gọi là theo Phật, nhưng cũng nghĩ đến Thượng Đế quyền năng, có người gọi là theo Phật, nhưng vẫn cho rằng đạo nào cũng như nhau, cũng dạy làm lành tránh dữ. Vì tính chất tự do này mà khó nói tính chất đặc trưng của “Phật tử” để giải đáp câu hỏi “Ai là Phật tử?”. Vậy thì, là Phật tử thì có gì khác không là Phật tử?
Là Phật tử, bạn phải biết giáo lý Đức Phật và các vị Bồ Tát, bạn có biết kinh, dù nhiều hay ít. Bạn cần biết lễ nghi Phật giáo. Tuy nhiên, giáo lý thì mênh mông, tam tạng kinh điển thì đồ sộ, các bậc chân tu học cả đời không hết, vậy Phật tử học bao nhiêu, học những thứ gì thì … đạt trình độ? Thật khó trả lời câu hỏi đó. Thôi thì thử lấy điển hình một Phật tử có học vấn, hoàn cảnh gia đình bình thường, sống lương thiện trong xã hội, người ấy hiểu giáo lý và tu đến mức tối thiểu nào thì xứng là Phật tử?
Trước tiên, bạn phải tin Đức Phật là Đấng Giác Ngộ, nguyện theo con đường của Ngài. Tin và hiểu con đường đi theo Phật của mình đem đến an lạc và giải thoát, như lời Đức Phật dạy: “Hiểu ta rồi hãy tin ta. Nếu tin ta mà chẳng hiểu ta, ấy là phỉ báng ta vậy”. Nếu lòng tin của bạn mập mờ, nếu bạn còn bị những tư tưởng thần quyền chi phối con tim và khối óc của bạn, thì bạn sẽ bị “trơ” trước giáo pháp giải thoát của Phật. Bạn sẽ giống như cái vá (môi) tiếp xúc với thức ăn mà chẳng biết hương vị, trong khi người có lòng tin chánh pháp giống như cái lưỡi, dù chỉ một giây tiếp xúc với thức ăn vẫn thưởng thức cái ngon .
Tin và hiểu, cái nào có trước, cái nào có sau? Tin rồi mới thích tìm hiểu, hay hiểu rồi từ đó mới tin? Thật ra, một người đến với đạo Phật đều có một hoàn cảnh, một cơ duyên: hoặc thừa hưởng nếp sống đạo Phật truyền thống của gia đình, hoặc do kinh nghiệm tâm linh trong cuộc sống có nhiều ngang trái, hoặc do gần gũi với không khí chùa hay người có đạo tâm, hoặc hứng thú khi bắt đầu đọc sách Phật,… Từ đó, con người có cảm tình với Phật giáo, hay sâu sắc hơn, có niềm tin nơi Phật giáo. Nhưng đó chỉ là bước đầu, một chất xúc tác. Niềm tin chỉ có ý nghĩa khi kết hợp học hỏi với thực hành giáo lý, vì vậy rất cần yếu tố bên ngoài: có thầy hướng dẫn, có bạn đồng học, có môi trường đạo hạnh, tiếp tục nghiên cứu sách Phật,…
Muốn là một Phật tử theo đúng danh nghĩa, thì người đó phải quy y Tam Bảo. Phật tử là người tu theo con đường giải thoát của Đức Phật, dầu căn cơ nào đi nữa, dầu điều kiện nào đi nữa, thì phải tự nguyện tìm về nương tựa nơi Tam Bảo. Sau lễ quy y, thầy bổn sư đặt cho bạn một pháp danh; khi đó bạn chính thức là Phật tử. Tuy nhiên, đó chỉ là mức khởi đầu, và nếu ước nguyện chưa đủ chín muồi thì đó là hình thức, dầu là thiêng liêng.
Đạo sư Dzongsar Jamyang Khyentse Rinpoche, người có trọng trách giáo dục cho 1.600 tăng ni sinh trong 6 tu viện và học viện tại Châu Á, trong bài: “What makes you a Buddhist?” (Điều gì làm cho bạn trở thành một Phật tử?) trong tạp chí Phật giáo Shambhala Sun, tháng 1/2007, lại cho rằng: Một người là Phật tử nếu người đó chấp nhận bốn chân lý sau đây:
- All compound things are impermanent (Mọi sự vật phức hợp đều vô thường)
- All emotions are pain (Mọi cảm xúc đều khổ đau)
- All things have no inherent existence (Mọi sự vật đều không có hiện hữu tự tính)
- Nirvana is beyond concepts (Niết Bàn ở bên kia mọi khái niệm)
Một Phật tử bình thường, mới ở ngưỡng cửa đạo, khó tiếp nhận ngay từ đầu những chân lý ấy, tuy rằng đó là căn bản của người tu Phật. Ở đây, người viết muốn lưu ý người đọc là đạo sư Dzongsar Rinpoche muốn nói đến Phật tử ở Mỹ, nơi không có truyền thống đạo Phật dân tộc và gia đình như ở Việt Nam, và người Mỹ cũng như phương Tây đến với đạo Phật bằng kinh nghiệm tâm linh, tự nguyện nghiên cứu kinh điển và học hỏi các vị cao tăng; vì thế, họ tiếp nhận đầu tiên những chân lý đó thì không có gì lạ.
Người Phật tử tất nhiên phải giữ giới. Đức Phật, trước khi nhập Niết Bàn đã dạy chư Tăng Ni lấy giới luật làm thầy. Đối với Phật tử, giới phải đi vào cuộc sống. Trước hết, bạn phải biết năm giới, và phải tu theo năm giới đó: không sát sinh; không trộm cắp; không tà dâm; không uống rượu và dùng các chất kích thích; không nói dối, không bịa đặt, nói hai lưỡi, nói ác ý. Bạn là một người sống bình thường trong xã hội, có nghề nghiệp, có gia đình, có ham thích cá nhân, bạn giữ được năm giới là quá phúc đức. Thật ra, giữ cho được hoàn toàn năm giới không phải là dễ. Một cái giới rất dễ phạm là do… cái miệng: Miệng ăn thì chưa ăn chay hoàn toàn (bạn không sát sinh, nhưng ăn thịt thì cũng gián tiếp tạo ra sát sinh), miệng nói thì có thể thiếu tự chủ vì nóng giận hoặc vì đặt nặng cái ta. Giữ giới là chuyện thường xuyên và càng ngày bạn sẽ cảm thấy tự nhiên và thoải mái.
Tu học là do mình lựa chọn con đường giác ngộ, làm cho cuộc sống có ý nghĩa, an lạc, giải thoát. Đi trên con đường đó thì không có điểm dừng, nếu dừng lại hoặc rẻ ngang thì tự mình đánh mất con người Phật tử. Có pháp danh là quan trọng, biết giáo lý là quan trọng nhưng thực hành giáo lý đó trong cuộc sống mới là quan trọng hơn. Tu tập là quá trình thanh lọc tâm và hành động theo lý tưởng của đạo Phật: vô ngã vị tha, từ bi trí tuệ. Tu tập là chuyện hàng ngày, vì vậy khái niệm: “là Phật tử” đồng nhất với “đang là Phật tử”, và có thể có điều kiện cần cho một người trở thành Phật tử mà chẳng có điều kiện đủ. Vì vậy, bất cứ ai có niềm tin Phật và theo Phật thì họ đang là Phật tử. Họ tự biết phải tu học và sống như thế nào cho đúng người Phật tử, phù hợp với căn cơ và điều kiện của mình.
Tính cách Phật tử thể hiện rõ trong đời sống bình thường, điều này là trả lời gián tiếp cho câu hỏi: “Ai là Phật tử?”. Rất dễ nhận biết một người Phật tử chân chính trong xã hội: sống từ ái, chân thật, không đua chen danh lợi, không xu nịnh bè phái, có nếp sống giản dị, hài hòa lợi ích chung và lợi ích riêng; cũng như rất dễ nhận biết một người như thế nào thì không thể là người Phật tử: lợi ích cá nhân, cục bộ, nịnh trên nạt dưới, thủ đoạn dối trá, ăn nói chua cay, ngụy biện tráo trở ...
Khi bạn đã quy y Tam Bảo, bạn dễ gần gũi với môi trường đạo hạnh, bạn sẽ cảm nhận nếp sống an lạc và từ bi không chỉ ở các bậc tăng ni chúng, mà còn ở những bác, những anh chị làm công quả cho chùa (không phải chỉ ở các chùa Việt Nam đâu, bên Mỹ cũng thế, nhiều thanh niên nam nữ làm công quả, rất dễ thương!), những anh chị giáo viên dạy các lớp học tình thương, nhưng vị y bác sĩ và nhân viên làm từ thiện tại các Tuệ Tĩnh Đường, …, dần dần bạn sẽ nhận ra rất nhiều Phật tử sống cuộc đời an nhiên, tự tại giữa xã hội, có thể họ là những người trí thức, là người lao động vất vả, là người lớn tuổi đã cống hiến sức mình cho xã hội, có thể họ là người có điều kiện sinh hoạt ở chùa, thanh thiếu niên trong Gia đình Phật tử, có thể họ là bà mẹ tảo tần, đêm đêm thắp hương trên bàn thờ, cầu nguyện chư Phật, rằm, mồng một đi chùa…; và vẫn có thể là những người ở vùng sâu vùng xa, nơi mà những người có đạo tâm lo lắng làm sao ánh từ bi trí tuệ tỏa sáng, làm tan đi những thế lực đen tối. Thật cảm động khi có người như thế:
Đó là Phật tử Mai Thị Sinh , pháp danh Nguyên Bình, dân tộc Vân Kiều, sống tại xã Krong Klang, huyện Dakrông, tỉnh Quảng Trị, đã biến nhà mình thành Niệm Phật Đường, từ đó có vài chục người, đa số là đồng bào Vân Kiều đến tu tập. Cô được thiện duyên do một người hàng xóm mới đến ở, tụng kinh niệm Phật mỗi buổi chiều làm cô thích và từ đó tin Phật; sau này dù chồng mất, phải nuôi 6 con, cô vẫn quyết tâm theo Phật. Ý nguyện tạo dựng Niệm Phật Đường trang nghiêm được nhiều người ủng hộ, cúng dường tượng Phật, hào quang, pháp khí,… Cô còn mong làm sao ở địa phương có ngôi Tam Bảo để khỏi tu…mù! Cô mừng vì từ khi có Niệm Phật Đường, nhiều người đã biết Đạo Phật và sống hạnh phúc hơn.
Người Phật tử an lạc biết bao nhiêu và góp phần tạo hạnh phúc cho xã hội biết bao nhiêu nếu sống theo lời nguyện:
“Không làm mọi điều ác,
Thành tựu các hạnh lành,
Tâm giữ ý trong sạch,
Chính lời chư Phật dạy”
(Kinh Pháp Cú)
ai cũng biết yêu
Ai cũng biết thương yêu
Trong mỗi giây phút an lạc là bồ đề tâm có mặt. Và nếu ta biết nhận diện và trân quý những giây phút ấy, cho dù nó có ngắn ngủi hoặc mỏng manh đến đâu, tâm thương yêu cũng sẽ từ từ nới rộng ra theo thời gian. Khả năng thương yêu của ta có một năng lượng rất lớn, nếu biết nuôi dưỡng và tưới tẩm, nó sẽ lớn rộng ra đến vô cùng tận.
Bodhicitta, bồ đề tâm, trong đạo Phật cũng còn có nghĩa là một tâm hoàn toàn rộng mở. "Citta" có nghĩa là tâm, và "bodhi" có nghĩa là giác ngộ.
Con đường phát triển bồ đề tâm là một hành trình cá nhân của mỗi chúng ta. Con đường ấy cũng chính là cuộc đời mà ta đang có đây, một hành trình trên con đường giác ngộ. Nhưng giác ngộ không phải là những gì ta đạt được sau khi đã nghe những lời hướng dẫn, và rồi thực hành cho đúng. Thật ra, trong vấn đề giác ngộ ta không thể nào "thực hành đúng" được hết!
Trên hành trình ấy, ta đi về một hướng mà mình không biết rõ, và nơi đó ta cũng không thể nào xác định chắc chắn được. Chúng ta chỉ biết tập cho mình có một cái nhìn mới, biết cảm nhận thực tại một cách cởi mở và uyển chuyển hơn. Phát triển tâm bồ đề là một phương cách giúp ta thực hiện được điều ấy. Và chúng ta có thể bắt đầu bằng cách tiếp xúc trực tiếp với những gì đang có mặt, bằng cách nhận diện những cảm xúc của mình.
Bồ đề tâm thường có mặt những khi ta cảm thấy an tĩnh và hạnh phúc, khi ta biết thương yêu, dù bất cứ dưới một hình thái nào. Trong mỗi giây phút an lạc là bồ đề tâm có mặt. Và nếu ta biết nhận diện và trân quý những giây phút ấy, cho dù nó có ngắn ngủi hoặc mỏng manh đến đâu, tâm thương yêu cũng sẽ từ từ nới rộng ra theo thời gian. Khả năng thương yêu của ta có một năng lượng rất lớn, nếu biết nuôi dưỡng và tưới tẩm, nó sẽ lớn rộng ra đến vô cùng tận.
Và tâm bồ đề không phải chỉ hiện hữu khi ta cảm thấy an tĩnh mà thôi, thật ra nó cũng có mặt trong những lúc ta cảm thấy tức giận, ghen ghét, ganh tỵ hoặc trong những bất mãn sâu xa. Ngay giữa những cảm xúc tiêu cực và đau đớn nhất, ta cũng vẫn có thể tiếp xúc được với bồ đề tâm của mình, nếu ta biết tiếp nhận chúng với một con tim rộng mở, và ý thức rằng đó là một khổ đau chung.
Chúng ta đều cùng chia sẻ với nhau một nỗi khó khăn ấy, khổ đau này không phải là của riêng ai. Ngay giữa một hoàn cảnh khốn khó nhất, ta vẫn có thể nghĩ đến những người đang có cùng một cảnh ngộ như mình, và cầu mong cho tất cả được an vui, được thoát ra khỏi khổ đau. Và mỗi khi ta tiếp xúc lại với cảm xúc ấy của mình, những bức tường chia cách giữa ta và người chung quanh sẽ tự động tan biến mất.
Trên đảo Cape Breton, nơi tôi ở tại Nova Scotia, vào mùa đông những mặt hồ đều bị đông cứng. Nó cứng chắc đến nỗi người ta có thể lái xe hơi hay xe tải chạy lên ngay trên đó. Nhà phát minh ra điện thoại là ông Alexander Graham Bell khi xưa cũng đã cất cánh phi cơ của ông trên mặt hồ ấy. Nó đông cứng đến như vậy. Và tôi liên tưởng đến những thói quen, tập quán của chúng ta, dường như chúng cũng đông đặc giống như mặt nước đá ấy.
Nhưng khi mùa xuân đến, những tảng băng đá đó sẽ tan chảy. Tính chất của nước muôn đời vẫn vậy, chưa bao giờ bị hư hao hoặc mất đi, cho dù là đang ở giữa một mùa đông dài vô tận. Nó chỉ thay đổi hình tướng mà thôi. Và khi tảng băng tan ra, tính chất mầu nhiệm nuôi dưỡng sự sống của nước lại có mặt.
Bản chất bao dung và rộng mở của một tâm bồ đề cũng tương tự như thế. Nó bao giờ cũng có mặt nơi này, cho dù lúc ấy ta có cảm tưởng như tình thương của mình hoàn toàn bị khô cằn hoặc chai đá, dường như mình có thể đáp được cả một chiếc phi cơ lên trên ấy!
Những khi tôi cảm thấy tâm hồn mình như đang ở giữa một mùa đông dài tăm tối, và dường như không gì có thể làm cho nó tan chảy được, tôi chợt nhớ lại hình ảnh này và biết rằng, cho dù tảng băng có đông cứng đến đâu, dòng nước thương yêu vẫn không hề bị khô cạn hay mất đi. Nó lúc nào cũng hiện hữu. Và trong những giây phút ấy, tôi ý thức được tâm bồ đề của mình vẫn đang có mặt, dầu là trong một dạng đông cứng và bất động. Tôi biết rằng, mình có thể làm tan chảy trạng thái đông đặc ấy bằng hơi ấm của tâm từ.
Và một phương cách hay nhất là ta hãy tưởng hoặc nhớ đến một người nào mà mình cảm thấy thương mến, thân thiết, hoặc biết ơn. Có nghĩa là ta khơi dậy năng lượng ấm áp đang có mặt sẵn trong chính ta. Nếu như ta không nghĩ ra được một người nào thì ta có thể nghĩ đến một hoàn cảnh nào đó, hoặc một hoa lá nào mà ta ưa thích chẳng hạn.
Đạo sư Trungpa Rinpoche thường hay nói, "Tất cả mọi người, ai cũng phải ưa thích một cái gì đó. Cho dù đó có thể chỉ là một ổ bánh mì." Ý ông muốn nói, ta hãy tiếp xúc lại với niềm vui sẵn có trong ta, và nuôi dưỡng nó.
Hãy nghĩ đến một người hay một hoàn cảnh nào có thể tự động khơi dậy tâm từ trong ta. Tâm từ là ý muốn đem niềm vui đến cho người khác và giúp cho họ được vơi bớt khổ đau. Đó không phải là một lòng thương hại hoặc một thứ tình cảm máy móc, nhưng được phát xuất từ một cảm nhận rằng, tất cả chúng ta đều cùng chung một hoàn cảnh như nhau. Tâm từ là một mối quan hệ bình đẳng.
Vì vậy, những khi nào ta cảm thấy như mình bị đông cứng, bạn hãy tiếp xúc lại với tình thương ấy đang có mặt sẵn trong ta - cảm xúc đối với người nghèo khó, đớn đau vì bệnh tật, với những người thân, hoặc với bất cứ ai ở nơi nào - hãy để cho nó làm tan chảy những tảng băng đông đá, và mở rộng con tim mình ra. Tình thương cũng giống như là những yếu điểm trên một bức tường thành kiên cố của cái Ngã của mình. Và chúng ta nên tấn công vào những chỗ hở ấy.
Nếu như chúng ta chỉ tiếp xúc được với tâm từ trong một giây phút ngắn ngủi thôi, nó cũng sẽ khiến cho khổ đau của ta được mềm ra, và khả năng hạnh phúc của mình sẽ được tăng trưởng thêm một chút. Và trong ngay giây phút ấy, ta tiếp xúc được lại với bồ đề tâm của mình.
Khi tôi còn nhỏ có những truyện tranh hình về một nhân vật tên là Popeye. Bình thường thì ông ta rất là yếu ớt, và có nhiều khi ông lại bị người khác tìm cách ăn hiếp, hoặc đe doạ. Những lúc ấy ông ta lấy hộp rau spinach ra, và nuốt trọn hết. Ông chỉ cần mở nắp hộp ra và đổ hết vào miệng, và rồi - đùng một cái! Ông trở nên một người có đầy đủ tự tin và một sức mạnh vô địch để đối phó với bất cứ một đối thủ nào.
Và khi chúng ta dùng những cảm xúc thương yêu của mình để tiếp xúc lại với bồ đề tâm thì việc ấy cũng xảy ra với chính ta! Tâm bồ đề cũng giống như là rau spinach của tâm linh vậy. Nhưng xin các bạn đừng nói lại với ai là tôi đã ví dụ như vậy nhé!
a di đa kinh yếu giải
A Di Ðà Kinh Yếu Giải
Linh Phong Ngẫu Ích Trí Húc đại sư soạn
Việt dịch: Bồ Tát giới đệ tử Tuệ Nhuận
Phật Tánh
Lời tựa A Di Ðà Kinh Yếu Giải mới dịch ra tiếng Việt
Tu Thiền Tông mau chóng thành Phật nhất, tu Tịnh Ðộ tông còn mau chóng và chắc chắn hơn. Tu môn này thì mỗi tiếng niệm Phật danh là thấy rõ Phật tính hiện tiền. Thấy rõ Phật tính là thành Phật quả, thành Phật quả là chuyển hóa được quả đất Ta Bà thành quả đất Cực Lạc, là diệt trừ được tai nạn chiến tranh tàn sát cho quần chúng hết đau khổ, là trả lại hạnh phúc, hòa bình, tự do, bình đẳng cho tất cả muôn loài.
Tuệ Nhuận
Phật nói: “Tất cả chúng sinh ai cũng có tính Phật thì ai cũng sẽ thành Phật”.
Bồ Tát Giới nói: “Ông là Phật sẽ thành, tôi là Phật đã thành, thường khởi tin như thế, giới phẩm đầy đủ rồi…”
Theo Phật phải học Phật, học Phật có ba môn: “Giới, Ðịnh, Huệ”, giống như 3 chân cái đỉnh trầm, gãy một chân thành đồ vô dụng; người tam học thiếu một môn cũng là người vô dụng. Học đủ 3 môn áp dụng vào đời sống của mình và của người, gọi là thành Phật.
Học Phật tới đích thâm truyền, chỉ cần hiểu suốt chính nghĩa một câu này, được đầy đủ 3 môn Giới, Ðịnh, Huệ: “Tất cả chúng sinh đều có tính Phật, ai cũng thành Phật”. Nếu ta áp dụng vào đời sống của ta và của muôn loài, ta có 4 thực hiện:
1) Ta thấy ta với mọi loài là bình đẳng (1).
2) Ta không dám xâm lăng áp bức sát hại một loài nào, dù là loài rất nhỏ mọn (2).
3) Ta giữ được định tâm bình đẳng đối với ta và đối với mọi loài (3)
4) Ta có tính Phật, mọi loài cũng có tính Phật, ta thành Phật, mọi loài cũng thành Phật (4)
Mắt thấy thế, tâm biết thế, là mắt Phật, tâm Phật đấy rồi, còn phải tìm đâu nữa. Một người thấy và biết như thế là người siêu phàm thoát tục, người xuất gia, xuất thế, người thành Bồ Tát, thành Phật. Khế Kinh gọi là “người chính biến tri”. Trái lại, kẻ nào không thấy, không biết như thế gọi là kẻ tà kiến, tà tri, là phàm phu si ám, là chúng sinh mê muội trong 7 Thú: Thiên, tiên, nhân, a tu la, súc sinh, ngạ quỷ, địa ngục.
Tính Phật là tính hiểu biết sáng suốt, không sai lầm một ly, tất cả muôn vật, muôn sự, muôn pháp trong vũ trụ vô biên. Tất cả chúng sinh trong 7 thú, ai cũng có tính Phật hiểu biết sáng suốt ấy, lẽ dĩ nhiên ai cũng là bình đẳng, ai cũng là Phật; lẽ dĩ nhiên không còn ai xâm lăng, áp bức, sát hại. Lẽ dĩ nhiên tai nạn chiến tranh phải tuyệt dứt, hạnh phúc, hòa bình phải trở lại. Và lẽ dĩ nhiên không còn có những thế giới và những căn thân của chúng sinh trong 7 thú nữa, chỉ còn một thế giới Cực Lạc với một loại thân vô lượng thọ, vô lượng quang (Amita) mà thôi.
Ðó là công nghiệp Tịnh Ðộ hóa cái thế gian ngũ ấm 7 thú mà người theo đạo Phật phải làm ngay. Sự nghiệp Tịnh Ðộ hóa thế gian ô trược này mà không thành thì sự học Phật của mình chưa có gì, vì mình chưa đủ Giới, Ðịnh, Huệ, chưa hiểu Phật tính là gì, chưa thực hiện được chính nghĩa bình đẳng của Phật.
Học Phật cần phải hiểu tính Phật, cốt để hiểu biết tính của mình, tính của người, tính của muôn vật, muôn pháp trong vũ trụ vô biên (tự giác, giác tha). Mình sở dĩ hiểu biết sáng suốt chu biến như thế, là bởi tính Phật của mình nó hiểu biết.
Kinh Niết Bàn nói: “Tất cả chúng sinh trong 7 thú và các vị Thanh Văn, Duyên Giác đều chẳng thấy được Phật tính của mình. Các vị Thập Trụ Bồ Tát mới thấy được, nhưng thấy không rõ. Chỉ có chư Phật và các vị đại Bồ Tát mới thấy được rõ ràng”.
Ngài Sư Tử Hống Bồ Tát hỏi Phật: “Phật tính của chúng sinh là một hay nhiều? Tất cả chúng sinh cùng có chung Phật tính, hay là mỗi người có một Phật tính riêng biệt?”
Phật đáp: “Tất cả chúng sinh, tất cả chư Phật cùng có chung một Phật tính; nhưng Phật tính chẳng phải một, chẳng phải hai, Phật tính bình đẳng, giống như hư không”.
Nghe Phật dạy ngài Sư Tử Hống Bồ Tát như thế, chúng sinh phàm phu si ám trong 7 thú, liệu có hiểu biết Phật tính của mình nó thế nào không?
Ta nên nghe kỹ, nghe kỹ:
Phật nói: “Nó chẳng phải một”, rõ ràng là nó nhiều. Nhưng Phật lại nói: “Nó chẳng phải hai”, vậy thì nó lại là một. Phật lại nói: “Nó bình đẳng như nhau và nó giống như hư không”, vậy nó vẫn là nhiều (vì nó bằng nhau), nhưng nó giống như hư không thì nó phải là một (vì hư không vô biên, không thể có hai được).
Ta tuy là phàm phu trong bảy thú, nhưng nếu ta có chút thông minh, thẳng thắn mà suy nghĩ, ta cũng hiểu được chính nghĩa lời Phật dạy bảo.
Một khi Phật nói: Phật tính của tôi, của anh, của nó, của chúng sinh, của chư Phật đều là bình đẳng như nhau, hẳn anh cũng hiểu như tôi rằng: Như nói Tính của anh, lẽ dĩ nhiên không phải Tính của tôi. Và khi nói Tính của tôi, cố nhiên cũng không phải Tính của anh. Rõ ràng, anh có một Tính, tôi một Tính: Một với một là hai, đâu có phải là một (đó chính là nghĩa: Bất Nhất). Chỉ có điều Phật lại nói: Tính anh và Tính tôi bình đẳng, rõ ràng 2 Tính của hai ta bằng nhau. Khi đã nhận rõ 2 Tính bằng nhau, nên coi 2 là 1, không nên phân biệt làm 2 (đó là chính nghĩa: Bất Nhị). Phật lại nói: Phật tính của ta bình đẳng như hư không, thì dù biết nó là nhiều, nhưng không ai có tài phân tách hư không ra làm nhiều được, mà phải để nó hợp nhất với nhau làm một (đó là chính nghĩa: “bất nhất mà lại bất nhị” và “bình đẳng mà lại như hư không”).
Khi Phật nói: Phật tính của chúng sinh là bằng nhau, ta phải ước lượng mỗi tính rộng rãi, cao là ngần nào, xem nó có thật bằng nhau hay không. Nhưng Phật đã bảo Tính ấy rộng lớn bằng cả hư không thì chẳng ai có tài đo được hư không vô biên ấy, cũng không thể tách hư không ra làm hai hoặc làm nhiều được.
Vậy ta nên sáng suốt cố hiểu một tí: Phật tính của chúng sinh là bình đẳng (bằng nhau), lẽ dĩ nhiên phải có nhiều cái so sánh với nhau, mới thấy nó bằg nhau; chứ chỉ có một cái thì bằng nhau với cái gì? – Ta đã nhận rõ tính Phật của ta là bằng nhau, lẽ dĩ nhiên không có cái lớn, cái nhỏ, cái nào cũng phải bằng nhau và phải rộng lớn bằng cả hư không; vậy tuy là nhiều, mà ta đành phải để nó hợp nhất với nhau làm một, bởi vì chẳng ai có tài phân tách hư không ra làm 2 hoặc làm nhiều được (đó là chính nghĩa: bất nhị).
Anh và tôi, hai ta cùng sống chung trên một quả đất, trong một hư không. Nhưng anh ở bên Ðông, tôi ở bên Tây, anh đừng mê muội, tưởng lầm quả đất và hư không phải cắt đôi ra làm hai để anh nắm chặt lấy một phần làm của riêng anh và riêng cho tôi một phần làm của riêng tôi! – Không phân tách được đâu!
Hư không và quả đất chẳng khi nào chịu để hai ta chia sẻ nó, nếu ta tham vọng cố làm, thì chỉ thêm nhọc xác gây oán thù với nhau đời đời vô cùng tận; gây cái mầm đại bất bình đẳng, đại chiến tranh thế giới. Mầm ấy chỉ chờ duyên là kết quả tức thì.
Phật tính của anh to bằng cả hư không, Phật tính của tôi cũng phải to bằng cả hư không, thì mới gọi là bằng nhau, là bình đẳng chứ.
Nếu anh và tôi có tài chia được hư không ra làm hai khu vực Ðông và Tây, thực sự thì hư không sẽ mất cá tính hư không bình đẳng của nó rồi, còn chi là hư không bình đẳng nữa. Lại nữa, hư không là vô biên (không có bến bờ), nếu ta có tài chia được nó ra làm 2 khu vực khác nhau, thì nó sẽ mất cá tính vô biên, nó sẽ thành 2 cái hư không hữu biên, là hai cái không thể có được ở thế gian này, nó chỉ là hai cái: lông rùa và sừng thỏ. Phật tính như hư không của hai ta là cá tính diệu chân như, “thường trụ chu biến”.
Thế nào là “thường trụ”? Là nó thường hằng ở suốt cả ba đời: quá khứ, hiện tại, vị lai, chứ nó không cố định chỉ ở một thời gian này hay một thời gian kia. Giờ phút nào nó cũng có mặt hiện tại, không đi đâu, không ở đâu đến.
Thế nào là “chu biến”? Là nó thường hằng ở khắp cả mười phương: Ðông, Tây, Nam, Bắc, tứ duy, thượng, hạ, chứ nó không cố định chỉ ở một phương này hay một phương kia. Chỗ nào cũng phải có mặt nó hiện tại, nó không hề ở đâu đến, cũng không hề đi đâu bao giờ.
Có hiểu được chính nghĩa bốn chữ “thường trụ chu biến” mới hiểu được lời huyền vi của Phật. Phật tính của chúng sinh không có cái lớn, cái nhỏ, cái nào cũng bình đẳng, cái nào cũng rộng lớn bằng cả hư không. Khi mắt Phật, tâm Phật của anh đã mở ra, anh thấy rõ, biết rõ hôm nay anh mới đến ở phương Ðông mà Phật tính như hư không của anh nó vẫn đã ở phương Ðông từ hôm qua, từ bao nhiêu kiếp trước rồi; dù ngày mai anh bỏ phương Ðông đi phương khác, Phật tính của anh vẫn ở mãi đấy không hề đi đâu.
Lại nữa, như hiện nay anh đang ở phương Ðông, tôi ở phương Tây, nhưng Phật tính của hai ta, nó không hề bị bó buộc vào trong hai cái thân ta bé nhỏ mà ở ra làm hai nơi đâu! Tuy thân chúng ta, mỗi người mỗi phương, mà Phật tính của ta, cũng như hư không của ta, nó vẫn thường hằng ở khắp mười phương, chứ không phải đút nút chặt vào trong cái thân ta như một tí hư không bị đút nút chặt vào trong một cái hũ tí hon đâu!
Anh nên nghe kỹ lời Phật dạy dỗ tôn giả Ananda trong kinh Surangàma:
Phật đặt ra một người rất ngu độn, vô minh, tà kiến làm thí dụ, để diễn giảng cái tính Duy Thức (tức Tính Phật) cho tôn giả nghe. Phật nói: Trong thế gian ngũ ấm của ông, có cái Thức ấm, vốn là tính diệu chân như, tính Như Lai tạng nó rộng lớn chu biến thường trụ giống như hư không. Bây giờ có người ở phương Ðông, lấy cái bình Tần Già (5) đút nút miệng bình lại, trong bình ấy đựng đầy hư không, vác đi xa ngàn dặm bố thí cho người bạn ở phương Tây. Người mê muội ấy vọng tưởng rằng cái bình Tần Già của mình đã mang mất một ít hư không ở phương Ðông đi rồi; khi họ đến phương Tây, mở nút đổ ra, họ tưởng sẽ thấy một ít hư không của họ lấy ở phương Ðông đổ vào phương Tây! Không phải thế đâu, các ông thiện nam tử ơi! Khi ông đem thân và bình đựng hư không đi khỏi phương Ðông thì hư không của ông ở phương Ðông vẫn nguyên vẹn chẳng mất đi tí nào. Và khi ông đến phương Tây đem hư không ở bình đổ ra, hẳn ông cũng chẳng thấy ở phương Tây thêm ra được một tí hư không nào!
Bây giờ mắt Phật, tâm Phật của ông đã mở rộng ra, ông đã thấy rõ, biết rõ Phật tính của ông cũng như của tôi, cũng như của chư Phật và của chúng sinh trong mười phương Pháp giới đều là bình đẳng ngang nhau, không có cái nào to, cái nào nhỏ, cái nào cũng rộng lớn bằng cả hư không, nó vẫn y nguyên ở khắp mười phương, nó không đi đâu lại đâu cả, chỉ có cái thân của chúng sinh vác cái bình hành nghiệp vọng thức, vác đi nay đây, mai đó, vòng quanh trong 7 thú đấy mà thôi.
Chúng sinh mê muội trong 7 thú cứ tưởng lầm cái thân ông này to, vác cái bình lớn đựng được nhiều hư không Phật tính, còn cái thân con kiến, con ong bé tí, vác cái bình nhỏ xíu đựng được ít thôi. Vì vô minh tưởng tượng ấy mà nảy nở ra biết bao trí óc bất bình đẳng phân biệt nòi giống, màu da, mạnh ai nấy được, tranh cướp lấy thật nhiều hư không về bè mình, định nô lệ hóa những loài nhược tiểu! Rốt cuộc hư không chẳng cướp được, chỉ cướp được cái bình nghiệp báo thật to. Than ôi! Chiến tranh chưa kết liễu, bình đã vỡ, thân đã tàn. Hư không Phật tính của người nào vẫn nguyên vẹn của người ấy, chẳng ai cướp được của ai một tí nào!
Vì muốn diệt khổ bất bình, chiến tranh, tai nạn do chúng sinh mê muội trong 7 thú đã tạo ra, nên Phật Thích Ca phải giáng sinh vào thế gian ngũ ấm ô trược và nói pháp cho chúng sinh giác ngộ rằng: Phật tính của tất cả chúng sinh, của tất cả chư Phật là bình đẳng, rộng lớn như hư không, bất nhất và bất nhị. Sự nghiệp vô cùng vĩ đại của Phật và quyết định Duy Thức hóa và Tịnh Ðộ hóa cái thế gian ngũ ấm ô trược đầy bất bình: sát, đạo, dâm, vọng, tham, sân, si, mạn, nghi, tà kiến, chuyển nó thành thế giới thất bảo như thế giới Cực Lạc Tây phương của Phật A Di Ðà đã chuyển.
Vậy đương khi ông ngồi đây niệm Phật cầu sinh về Cực Lạc Tây phương, cách xa đây mười vạn ức Phật độ, thế mà Phật tính của ông vẫn đã ở Cực Lạc rồi, chẳng phải chờ khi ông chết, ông vác cái bình Tần Già đựng một ít hư không ở đây về Cực Lạc làm gì! Ông đừng tà kiến vô minh mê muội tưởng lầm như thế.
Còn ai muốn niệm Phật cầu sinh về thế giới Ðông phương của Phật Dược Sư cách xa đây nhiều Phật độ hơn, nhiều bằng mười số cát sông Hằng, thế mà Phật tính của người ấy cũng vốn đã ở phương Ðông rồi, người ấy đừng mê muội đựng một ít hư không ở đây vào cái bình Tần Già mang đi, mang lại cho thêm phiền.
Như vậy, mỗi tiếng niệm Phật của ta ở đây đã rung cảm Phật tính của ta ở khắp mười phương rồi, tùy ý ta muốn hiện sinh ở phương nào, Phật tính của ta hiện thân ngay ở phương ấy. Thật là Bản Như Lai Tạng diệu Chân Như tính của người, của ta, của chúng sinh, của Phật bao giờ cũng thường hằng, linh thông cảm ứng với nhau vô lượng vô biên, vô cùng vô tận!
Nam mô Pháp Giới Tạng Thân A Di Ðà Phật.
Nam mô Vô Biên Thân Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Hư Không Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát.
Tuệ Nhuận
(1) Câu này là đã phát ra trí tính bình đẳng.
(2) Cây này là đã đủ giới luật rồi.
(3) Câu này là đã được nhất tâm bất loạn.
(4) Câu này là đã đủ trí tuệ đại quang minh đại bình đẳng.
(5) Nguyên tiếng Phạm Ấn Ðộ đọc là Kalavinka, dịch âm ra chữ Hán là Ca Lăng Tần Già, là tên con chim ở núi Tuyết Sơn (Hymalaya), tiếng chim hót hay hơn hết các loài chim. Người Ấn Ðộ rất yêu tiếng chim này, nặn cái bình có hình tượng giống con chim này, nên gọi tắt là bình Tần Già.
Lời tựa dịch Phật Thuyết A Di Ðà Kinh Yếu Giải
Người học Phật tinh thâm ai cũng biết tên tuổi ngài Trí Húc Ðại Sư là một lãnh tụ trong giới Thiền tông. Từ miệng Ngài đã nói ra: “Khi Húc mới xuất gia, tự phụ là Thiền Tông, khinh miệt các giáo môn khác, dám nói rằng: ‘Phép Niệm Phật riêng cho người trung căn và hạ căn’. Về sau, nhân vì đau nặng mới phát tâm cầu về Tây Phương, mới chịu nghiên cứu các sách: Diệu Tông, Viên Trung, Vân Thê Sớ Sao, mới biết phép Niệm Phật Tam Muội thực quý giá vô ngần, mới chịu hết lòng niệm Phật với một sức mạnh bằng vạn con trâu kéo không lại.
Một ông bạn tu Tịnh Ðộ của tôi là ông Khứ Bệnh, ông muốn cho ý nghĩa lớn lao của kinh này được rất rõ rệt, mà lời giảng đừng rậm quá, ông yêu cầu tôi trước thuật một Yếu Giải, tôi cũng muốn cùng với các hữu tình trong Pháp giới cùng sinh về Cực Lạc, nên tôi không từ chối, cầm bút viết luôn từ ngày 27 tháng 9 năm Ðinh Hợi, đến mồng 5 tháng 10 vừa xong, tất cả mất chín ngày. Tôi mong rằng mỗi câu, mỗi chữ là một môn tư lương, mỗi người thấy, mỗi người nghe cùng lên ngôi Bất Thoái, người tin, người nghe cùng gieo giống Bồ Ðề, người chê, người khen cùng về nơi Giải Thoát.
Tôi ngửa trông chư Phật, Bồ Tát nhận lấy và chứng minh cho, các bạn đồng học tùy hỷ giúp sức. Kinh Phật nói rằng: ‘Ðời mạt pháp, ức vạn người tu hành, ít có một người tu đắc đạo; chỉ còn nhờ phép Niệm Phật mới được độ thoát’. Than ôi! Nay chính là đời Mạt Pháp rồi mà bỏ pháp môn Niệm Phật này thì còn có pháp môn nào tu học được nữa?”
Trên đây là lời văn kết luận trong sách Yếu Giải kinh Phật thuyết A Di Ðà của ngài Trí Húc Ðại Sư. Riêng về phần tôi, trước đây hơn 20 năm, tôi phát tâm học Phật, tôi cũng tự phụ có đủ thông minh tu học được Thiền tông, tuy không có thầy, mà cũng mon men vào cửa ải ấy. Phúc cho tôi quá, ngày 26 tháng 3 năm Canh Thìn (Mai 1940), tôi được gặp ngài Thái Hư Ðại Sư qua chơi Hà Nội, tôi đến bái yết Ngài trong một khách sạn, tôi hỏi Ngài về Thiền Tông. Ngài nói: “Tôi xét thấy ở Việt Nam, cư sĩ đã tu Tịnh Ðộ rồi, thế là hay hơn cả. Vả chăng, tu Tịnh Ðộ đến chỗ niệm Phật nhất tâm bất loạn thì Thiền Tông của ngài Quán Thế Âm, hay của ngài Ðại Thế Chí đều ở cả trong chỗ ấy rồi”. Tôi liền quy y Ngài và xin Ngài cho nghe thế nào là có nhiều thiện căn, nhiều phúc đức để sinh về Cực Lạc. Ngài nói: “Thông thường, nghĩa thiện căn là tâm Bồ Ðề mình có 5 căn: Tín, Tiến, Niệm, Ðịnh, Huệ. Phép tu Tịnh Ðộ là một pháp môn rất khó tin. Người nào có tâm tin sâu mới chịu dốc lòng phát nguyện đi sinh sống ở Tịnh Ðộ, chỉ người ấy mới có đủ thiện căn (bắt đầu đã có Tín căn và Tiến căn rồi). Lại thêm có tâm niệm Phật luôn luôn không ngừng, là có Niệm căn. Niệm mãi rồi có cái tâm nhất định là Ðịnh căn. Thế là 5 thiện căn, đã có bốn, chỉ còn chờ đón ngày đi sinh sang Tịnh Ðộ, nếu có thể thì trước khi sang, là ngày tỏ ngộ được “vô sinh”, ấy là Huệ căn. Thế là 5 căn đầy đủ cả. Trong khi tu tập năm căn ấy; lại tu thêm các món tư lương Bồ Ðề là tu những phép: Trì Giới, Nhẫn Nhục, Bố Thí v.v… cho có được nhiều duyên phúc đức, thì mới đúng với cái nghĩa: “Ða thiện căn, đa phúc đức nhân duyên, đắc sinh bỉ độ”.
Nghe xong, tôi sung sướng, không dám ngồi lâu nữa, cho được nghe thế là đại phúc rồi, liền cáo từ. Ngài nói: “Tôi biết cư sĩ là một đạo khí, khi về nước có pháp bảo sẽ gởi tặng sau. Chúc cư sĩ vào Như Lai Tạng đem ân huệ Phật nhuần thấm sinh linh”.
Lại một hạnh phúc, tôi không nhớ vì đâu, có lẽ là của một bạn hiền đem biếu, trong tủ kinh tôi có một quyển Di Ðà Yếu Giải, tôi đọc qua một lần như người mới tìm thấy vật báu của mình mất đã nhiều đời. Tôi phát tâm dịch ra Việt văn để cống hiến đồng nhân; vì ít phúc duyên, từ đấy đến nay vẫn không dịch được. Nay tôi họp anh em lại diễn giảng sách ấy, mong có người nối chí và giúp sức, nhưng chưa gặp ai, một thân vừa già vừa đau, tôi cầu nguyện cho thân tôi được bệnh tật tiêu trừ, nhất là cái cố tật Vô Minh; thời gian tao loạn cấp lắm, lần này tôi phải gắng hết sức dịch cho xong. Ngửa mong chư Phật, Bồ Tát phù trì và các vị thiện tri thức tùy hỷ gia bị, ngõ hầu cùng với hết thảy người nhất tâm tín nguyện niệm “Nam mô A Di Ðà Phật” cùng về Cực Lạc Tây Phương.
Trước khi dịch kinh này và để các vị chứng minh phép tu Tịnh Ðộ cao quý và chắc chắn hơn phép tu Thiền Tông, tôi hãy dịch, của ngài Vĩnh Minh Thọ thiền sư, là một vị đại đức trong Thiền Tông mà cũng phải tu Tịnh Ðộ. Bốn bài kệ của Ngài như sau này:
Có Thiền tông, có Tịnh Ðộ,
Như thêm sừng cho mãnh hổ.
Ðời hiện tại làm thầy người,
Ðời vị lai làm Phật, Tổ.
Có Thiền tông, không Tịnh Ðộ,
Mười người tu, chín người rớt
Ấm cảnh (1) nếu thấy hiện ra,
Chỉ chớp mắt là theo nó.
Không Thiền tông, có Tịnh Ðộ
Vạn người tu, vạn người đỗ (đắc).
Ðã được thấy A Di Ðà,
Còn lo gì chẳng khai ngộ.
Không Thiền Tông, không Tịnh Ðộ,
Ðịa ngục đêm ngày đau khổ
Muôn đời nghìn kiếp còn lâu,
Nhờ cậy ai, ai tế độ?
Hà Nội, sáng ngày 7 tháng 10 năm Tân Mão (ngày 5 tháng 11 năm 1951)
Bồ Tát giới đệ tử
Tuệ Nhuận cẩn tự
(1) Ấm cảnh là cảnh Ngũ Ấm: Sắc, Thọ, Tưởng, Hành và Thức. Năm cảnh này thường hiện ra để che lấp tâm Bồ Ðề. Người tu Thiền Tông cốt ngồi yên để soi thấy tâm Bồ Ðề hiện ra. Nhưng nếu chẳng thấy tâm Bồ Ðề mà chỉ thấy ấm cảnh hiện ra, tức thì phải theo nó đi làm chúng sinh mãi mãi.
Chánh Văn
Lời tựa Phật Thuyết A Di Ðà Kinh Yếu Giải
Nguyên là chư Phật thương xót lũ người mê, phải tùy cơ của mỗi người mà bố thí cho lời giáo hóa.
Ðưa người tới đích, tuy chỉ có một đích thôi, mà dùng phương tiện để đưa đi, tất phải dùng nhiều phương tiện. Trong hết thảy các phép phương tiện, tìm lấy một phép rất thẳng, rất mau, rất tròn, rất chóng, thì không phép nào bằng phép “niệm Phật cầu sinh Tịnh Ðộ”. Lại trong các phép niệm Phật, tìm lấy một phép giản dị, rất ổn đáng thì không phép nào bằng phép “tín, nguyện, chuyên trì danh hiệu”. Thế cho nên ba bộ kinh nói về Tịnh Ðộ đều có lưu hành, mà cổ nhân chỉ chọn lấy một bộ kinh A Di Ðà làm khóa tụng hàng ngày. Thế chẳng phải là một phép Trì Danh ấy hợp với tất cả ba hạng người: thượng căn, trung căn, và hạ căn, tóm thâu được cả phần Sự, phần Lý không còn thiếu sót. Cả Thiền tông và các giáo môn khác cũng không thể ra ngoài được phép Trì Danh này. Thực là một phép chẳng khá nghĩ bàn vậy.
Về việc chú thích và giải nghĩa kinh này, thời đại nào cũng không thiếu người, nhưng còn để lại ở đời không có mấy. Bộ sách Sớ Sao của ngài Vân Thê thì rộng lớn tinh vi, bộ Viên Trung Sao của ngài U Khê thì cao cả sâu rộng, như hai vầng mặt trời, mặt trăng ở giữa trời, ai có mắt mà chẳng thấy rõ. Chỉ vì văn chương giàu có lắm, nghĩa lý phồn thịnh nhiều không bờ, không bến chẳng ai đo lường được, đến nỗi những người mới học, biết ít, khó bề ngoi lên để mở lòng tin và phát nguyện. Cho nên tôi chẳng quản ngu hèn, lại trước thuật sách Yếu Giải này, chẳng dám cùng với hai ông cạnh tranh mà lập dị, và cũng chẳng dám cố ép cho được đồng ý với hai ông.
Trước hết, tôi rút ở trong những câu văn của bộ kinh này, lấy 5 tầng nghĩa lý huyền vi mà giải thích:
I. Thích nghĩa rõ cái tên đề của bộ kinh.
II. Biện luận thể chất của bộ kinh.
III. Nói rõ tôn chỉ của bộ kinh.
IV. Nói rõ lực dụng của bộ kinh.
V. Nói về giáo tướng của bộ kinh.
(Lời người dịch:
Ðọc tụng bộ kinh này, phải biết rõ năm tầng nghĩa huyền vi ấy thì người tu mới thấy có hiệu nghiệm và đắc đạo).
Phương pháp thực hành tu Tịnh Ðộ
Phép niệm Phật A Di Ðà cầu sinh Tịnh Ðộ là một Ðốn pháp, khiến người tu thấy rõ ngay tâm tính Bồ Ðề của mình sống lâu vô lượng và sáng suốt vô lượng, cũng như tâm tính Bồ Ðề của Phật Thích Ca, Phật A Di Ðà và chư Phật, chư Bồ Tát các loài chúng sinh ở khắp mười phương pháp giới, hết thảy ai ai cũng có tâm tính Bồ Ðề (tâm tính Phật) bình đẳng như nhau, không hơn, không kém.
Ai muốn thực hành đạo Bồ Tát để chứng nhận được tâm Bồ Ðề của mình, hãy nên thọ giới Tam Quy, mỗi tháng ăn chay 6 ngày, mỗi ngày niệm sáu chữ Nam Mô A Di Ðà Phật trong nửa giờ để ổn định tinh thần, dụng công niệm được càng nhiều, càng lâu, càng chóng thấy rõ tâm Bồ Ðề của mình, của Phật và của chúng sinh hiện ra. Bởi vì tâm Bồ Ðề của mình thể tính của nó vốn yên tịnh, mình dùng sức động đến nó thì nó mới hiện ra, mà nó chỉ hiện ra trong một giây lát thôi (tức là một niệm, một sát na thôi). Nếu mình không niệm Phật luôn để giữ lấy nó thì nó liền bị lu mờ bởi những niệm khác lấn át nó đi, nó không hiện ra được nữa.
Tiến lên một bậc nữa, là phát nguyện giữ 5 giới, hoặc 1,2 3, 4 giới cũng được, mỗi tháng ăn chay 10 ngày, hoặc ăn chay mỗi năm 3 tháng hoặc ăn trường kỳ.
Niệm danh hiệu Phật A Di Ðà mỗi ngày từ 10 tràng cho đến 50 tràng hoặc 100 tràng (mỗi tràng là 108 quả, mỗi quả là một tiếng niện, cho cẩn thận).
Ăn chay mỗi tháng 6 ngày là: mồng 8, 14, 15, 23, 29, 30 (tháng thiếu ăn sụt lại ngày 28 và 29). Ăn chay mỗi tháng 10 ngày là mồng 1, 8, 14, 15, 23, 24, 28, 29 30 (tháng thiếu ăn sụt lại ngày 27, 28, 29). Ăn chay thì không được ăn hành, hẹ, kiệu, tỏi, thịt, cá, chỉ ăn rau, đậu, trái quả, nấm mộc nhĩ, các loại thảo mộc thôi.
Thọ giới Tam Quy là Quy Phật, Quy Pháp, Quy Tăng rồi thì không được theo các đạo thần, thánh, chúa, tiên nào khác nữa.
Thọ năm giới:
1. Không được sát hại chúng sinh, động vật.
2. Không được trộm cắp, lừa đảo, làm giặc, ăn cướp.
3. Không được tà dâm, gian dâm, ngoại tình.
4. Không được nói dối, chửi rủa, nói đòn xóc hai đầu, nói thêu dệt, khiêu dâm.
5. Không được uống rượu và ăn các thứ có chất say mê.
Hơn nũa, là mỗi ngày tụng thần chú này, gọi là thần chú:
Bạt Nhất Thiết Khinh Trọng Nghiệp Chướng, Ðắc Sinh Tịnh Ðộ Ðà Ra Ni
(đây là dịch âm Ấn Ðộ sang chữ Hán)
Nại ma lạt đáp nạp, đặc ra gia giã. Nại ma a rị giã, a mi đả bạt giã, đát đạt cả đát giã. A ra hát đế, tam mê tam bất đạt dã.
Ðạt đích giã thát: Úm, a mi rị đế, a mi rị đả, ôn ba vĩ. A mi rị đả, tam ba vĩ. A mi rị đả, cát rị tỷ. A mi rị đả, tiết đế. A mi rị đả, đế tế. A mi rị đả, vi kiết lan đế. A mi rị đả, vi kiết lan đế. Quả mi nễ. A mi rị đả, quả quả nại, kiết rị đế cát rị. A mi rị đả, đốn độ tỷ. Tô oa rị, tát rị oa, a tặc thát, tát đát nễ. Tát rị oa. Quả rị ma. Cát rị xá. Cát rị giả. Cát rị sa hát (142 chữ).
(Ðây là dịch âm Ấn Ðộ bằng chữ La Mã thì đúng hơn).
Nam mô ra tờ na, tờ ra gia gia. Nam mô a rị gia, a mi ta bà gia, ta ta ga ta gia, a ra ha tê, sam mia sam bồ đà gia.
Ta đi gia tha: aum, a mi ri tê. A mi ri ta, ôn ba vi. A mi ri ta, sam ba vi. A mi ri ta, ca ri pi. A mi ri ta, pi tê. A mi ri ta, tê chê. A mi ri ta, vi ga lan tê. A mi ri ta, vi ga lan tê. Ga mi nê. A mi ri ta, ga ga nai. Ga ri tê ca ri. A mi ri ta, tôn tô tô pi. Sô oa ri. Sa ri oa. A lắt thát, sa ta nê. Sa ri oa. Ga ri ma. Ca ri xa. Ca ri gia. Ca so ha (142 chữ).
Thần chú này lại còn có tên gọi là:
Vô Lượng Thọ Quang Như Lai căn bản chân ngôn.
Thần chú này do ngài Tam Tạng Pháp Sư Sa-ra-ba mới dịch rất tường tận, hiện có chép trong sách Niệm Phật Trực Chỉ ta nên tụng trì.
Người tụng chú này sẽ được đại tinh tấn, mau chóng sinh Tịnh Ðộ. Tụng được một biến, tức thì diệt được ở trong thân hết thảy mọi tội ngũ nghịch, thập ác. Tụng được 10 vạn biến, tức thì nhận được tâm Bồ Ðề nhớ mãi chẳng quên. Tụng được 20 vạn biến tức thì cảm thấy mầm Bồ Ðề đã sinh. Tụng được 30 vạn biến, Phật A Di Ðà thường ở đỉnh đầu, quyết định sinh Tịnh Ðộ.
Ăn chay niệm Phật trì chú lâu ngày, tự nhiên tâm mình yên lặng, dẹp hết tham, sân, si, mạn, nghi, tà kiến, hào quang tuệ giác hiện ra, thế là thấy Phật A Di Ðà, được sinh Tịnh Ðộ hiện lúc đang sống ở đời này, chứ không phải chỉ chờ đến lúc chết rồi mới được sinh.
Lời nguyên bạt
Kinh Phật nói: “Tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức” (29). Cổ nhân nói: “Niệm tự tính Di Ðà, sinh duyy tâm tịnh độ” (30). Hợp hai câu này lại mà soi xét thì cái nghĩa câu “Thị tâm tác Phật, thị tâm thị Phật; tâm ngoại vô Phật, Phật ngoại vô tâm” (31) rất rõ vậy.
Người đời sau chẳng hiểu được cái nghĩa ấy liền bỏ cõi Cực Lạc Tây Phương mà nói cõi Tịnh Ðộ Duy Tâm nào khác kia. Và bỏ danh hiệu Phật A Di Ðà mà nói cõi Phật A Di Ðà tự tính nào khác kia. Có lẽ họ cho rằng ngoài cái tâm họ, có ông Phật nào chăng? Hay là ngoài Phật A Di Ðà, còn có cái tâm nào khác chăng?
Ngài Linh Phong Ðại Sư (32) đã hiểu suốt được toàn thể cái tâm tính của con người, nói vốn không có chỗ nào là ngoài cả (33). Ðặc biệt đem bộ kinh này ra, Ngài rút lấy những yếu giải; mỗi khi mở ra đọc, người có tín, nguyện, trì danh tự mình có thể cầm lấy những nghĩa ấy làm khoán ước cho mình được.
Chẳng những lời nói giản dị mà ý nghĩa chu đáo, lại còn khiến cho cái tông chỉ rất khó, hiếm có này, vang lên như tiếng mõ, tiếng trống. Mở hết tạng kinh ra, không còn giấu diếm gì, thực là xưa nay chưa từng có vậy.
Ðặt tên là sách Yếu Giải chính vì là tâm yếu vô thượng vậy.
Cổ Ngô đệ tử Tịnh nghiệp Khứ Bệnh Chính Tri cẩn chí
Sách Yếu Giải của ngài Ngẫu Ích đại sư phát minh được tôn chỉ chân chính về phép tu niệm Phật ở trong kinh Di Ðà này, chỉ điểm cho quy vào cái tâm Tín và Nguyện, cứu độ được cả ba hạng người: thượng căn, trung căn và hạ căn, tóm thâu được cả muôn hạnh tu hành vào trong đó.
Lại còn lời nói rất giản dị mà ý nghĩa rốt ráo phần sự, phần lý dung hòa cai quát được cả, đặt tên sách là Yếu Giải thì thực là thiết yếu lắm vậy.
Tôi biên tập bộ sách Tịnh Ðộ Hội Nguyên, tôi cũng lược bỏ phần Quán Hạnh chỉ chuyên chú phần Trì Danh để hợp với sách Yếu Giải này thành một bộ, khiến người tu Tịnh nghiệp biết rõ các thuyết tu Tịnh Ðộ đều phù hợp với Phật thuyết, ngõ hầu người ta mới chịu chuyên một hạnh tu niệm Phật mà không còn nghi ngờ gì nữa.
Tháng Mạnh Hạ, năm Canh Tý
Hậu học Ngô Chiếu chí
Dịch xong ngày 25 tháng 5 chánh, năm Nhâm Thìn (17-6-1952)
Tuệ Nhuận
Kiểm lại ngày 18 tháng 5 dư, năm Nhâm Thìn (9-7-1952)
(1) Ðoạn này thích nghĩa bốn chữ “như thị ngã văn”. Trên đầu các kinh của Phật nói bao giờ cũng phải có 4 chữ này, là một sự tối quan trọng. Khi Phật sắp vào Niết Bàn, ngài A Nan hỏi: “Sau này con chép kinh Phật thì phải chép thế nào?” Phật dạy: “Bao giờ cũng phải viết một câu: “Như thị ngã văn” lên trên hết”. Bởi thế mà các vị học giả phải giải thích nghĩa câu này cho cực kỳ hết nghĩa tinh vi. Mỗi khi Phật ấn chứng cho một pháp nào là chính pháp, Phật thường nhắc đi, nhắc lại hai chữ “như thị”. Theo nghĩa thế gian, chữ “như thị” chỉ có nghĩa là như thế này, hay như thế kia mà thôi. Nhưng theo nghĩa huyền vi của Phật thì phải hiểu Phật dạy: “Như thị” là như thế nào có hiểu được rốt ráo thì mới phải là người đã giác ngộ. Trong kinh Pháp Hoa, Phật đã giải thích tất cả các pháp trong thế gian này đều phải ở trong khuôn khổ mười cái “như thị” tức là: Tướng, tính, thể, lực, tác, nhân, duyên, quả, báo và bản mạt cứu kính đẳng. Bởi vì tâm tính của con người ta nó như như bất động mà nó tạo ra vạn pháp thì vạn pháp phải đúng như thế. Cho nên tất cả các pháp chép ở trong các kinh Phật đều là: “Như thị” không sai. Và như thị đây là tôi được nghe của Phật nói, chứ không phải tôi nói.
(2) 8 cái khổ phận đoạn là 1) sinh 2) lão 3) bệnh 4) tử 5) cầu chẳng được 6) xa lìa người yêu 7) gặp người oán ghét 8) thân ngũ ấm bừng bừng như lửa cháy.
(3) Người ta phải có 6 căn để mà hưởng thụ cái vui, là: nhĩ căn, nhãn căn, tỷ căn, thiệt căn, thân căn, và ý căn. Những cái để cho người ta hưởng thụ có 6 trần, là: thanh trần, sắc trần, hương trần, vị trần, xúc trần, và pháp trần. Mỗi căn đối với một trần, phát ra 6 cái biết vui hay khổ, gọi là Lục Thức. Sáu căn, sáu trần, sáu thức cộng lại thành 18 giới, tức là hết thảy mọi nhân vật ở các thế gian, Phật gọi là Pháp Giới.
(4) Sát na là tiếng Ấn Ðộ, ta gọi là một loáng, là một thời gian ngắn hơn một giây đồng hồ nhiều lắm.
(5) Vô lậu: là không chảy ra, tức là trong sạch, không còn mọi phiền não xấu xa, bẩn thỉu chảy ra.
(6) Tà mệnh: Các tỳ kheo làm việc chẳng đúng như pháp để sống gọi là “tà mệnh”, nghĩa là cái mạng sống gian tà. Có 4 tà mạng: 1) Làm ruộng, làm vườn, làm thuốc để kiếm cơm, áo, gọi là Hạ Khẩu Thực 2) Làm những phép ngửa xem trăng, sao, mặt trời, mưa, gió, sấm, sét, chớp để kiếm cơm áo, gọi là Ngưỡng Khẩu Thực 3) Nịnh hót những người hào phú, quyền thế, đi sứ bốn phương, nói khoác kiếm nhiều lợi, gọi là Phương Khẩu Thực 4) Học những phép bùa chú, tà thuật, bói toán cát hung để kiếm cơm áo, gọi là Duy Khẩu Thực.
(7) Chữ “ảnh” và “chất” rút ở kinh Lăng Già quyển 1. Phật thí dụ cái thức A-lại-gia của mỗi người nó tạo ra vạn pháp, giống như một cái gương rất lớn không có bến bờ giới hạn nào (infiniment grand). Vạn vật vạn pháp khắp tam giới, khắp vũ trụ, giống như cái bóng hiện ra trong cái gương Thức đại khổng lồ ấy. Ý Phật muốn nói vạn pháp và trời đất chỉ có thể hiện ra được ở trong thể chất của thức Alaya, cũng như vạn cái bóng (ảnh) chỉ có thể hiện ra được ở trong thể chất (chất) của cái gương. Chỗ có chất gương thì phải có ảnh bóng, chỗ có ảnh bóng tức là chỗ có chất gương; nhưng phải cái chất gương của Thức Alaya thì chỗ nào cũng có, vì nó không có giới hạn, bến bờ. Nó không giống như chất gương soi của thế gian có cạnh, có góc. Câu này nói: Tâm Phật và tâm chúng sinh cùng làm ảnh, chất lẫn cho nhau. Thân độ của chúng sinh làm ảnh thì tâm Phật làm chất gương. Ý nói: Phật ở trong tâm thức chúng sinh, chúng sinh ở trong tâm thức của Phật, tuy ở trong nhau mà không dính chặt lấy nhau, giống như ảnh bóng ở trong chất gương, mà không dính chặt lấy chất gương vậy!
(8) “Thử tức, điểu không” là câu chế giễu người học Phật ngu si, chỉ thấy nói thì cũng nói mà không hiểu, không tin, không tự thân thực hành gì cả. Ðại khái như nghe nói: “Phật tức tâm, tâm tức Phật” thì cũng cứ lập lại “tức tức” giống như tiếng chuột kêu “tức tức”, mà chẳng hiểu “tức tức” là gì. Lại nghe nói: “Vạn pháp là không” thì cũng nói: “Không, không” giống như tiếng chim kêu “không không” mà chẳng hiểu “không không” là cái gì. “Thử tức” là chuột kêu tức tức, “điểu không” là chim kêu không không.
(9) Bản Giác là cái tâm tính giác ngộ của mình vốn sẵn có từ vô thủy.
(10) Thủy Giác là cái tâm tính giác ngộ của mình mới bắt đầu tỉnh thức dậy từ giờ phút này. Người niệm Phật cần phải hiểu cái danh hiệu Phật A Di Ðà là Bản Giác, cất tiếng lên niệm Phật A Di Ðà là Thủy Giác.
(11) Nói rằng tu “thành Phật” mà chính nghĩa thì không có “thành” và cũng không có nghĩa “bất thành”, là thế nào? - Bởi vì trong Tính đức của con người thì ai ai cũng có sẵn cả ba thân Phật rồi, chứ có phải bây giờ mới tu thành đâu, cho nên không có nghĩa là “thành”. Lại bởi vì tuy có sẵn cả 3 thân Phật đấy, nhưng mà phải có Tu đức thì mới “thành” ra được. Thế là nói về Tính đức thì không có nghĩa “thành”; nói về Tu đức thì không có nghĩa “bất thành”, mà phải có nghĩa “thành”.
(12) Nhị Thừa là 2 bậc Thanh Văn và Duyên Giác. “Ðịnh tính” là cái tính quyết định chỉ ở Tiểu Thừa thôi.
(13) Câu này ý nói mình niệm Phật thì thành cho mình và đồng thời cũng thành cho người khác; cũng như Phật A Di Ðà đã tu cho mình thành Phật mà đồng thời cho cả chúng sinh thành Phật. Như thế gọi là “một quả đã thành, hết thảy quả đều thành” (nhất thành, nhất thiết thành).
(14) Chữ Trụ ở đây có lẽ là lầm, Tín thì phải hơn vì ở dưới nói ngôi Trụ thứ nhất của Viên Giáo đã là Niệm Bất Thoái.
(15) Ðối với các ngôi của người dân ở Cực Lạc, thì hết thảy các ngôi đều chẳng phải là ở vào ngôi nào cả, mà lại ở vào hết thảy các ngôi.
(16) Chỉ một đời là tu trọn vẹn, đầy đủ, được thành Phật.
(17) Ở đời có một hạng người chỉ cố niệm Phật để đè nén vọng tưởng thôi, chẳng biết cầu vãng sinh, cho nên phải hết sức nói vỡ ra cái ý nghĩa này.
(18) Câu này nghĩa sáng rõ như ban ngày, người có mắt sáng đều thấy: “Tây phương A Di Ðà Phật thị ngã tâm tạo”. Chữ “tạo” chính nghĩa là “tạo tác” (créer) (nghĩa này đúng với nghĩa: “Nhất thiết duy tâm tạo”). Kẻ nào xuyên tạc chữ “tạo” ra một nghĩa khác, tức là ma thuyết. Nhưng cái tâm tạo ra Phật đây là tâm Bồ Ðề thường trụ sống lâu và sáng suốt vô cùng, tràn đầy khắp cả vũ trụ, chứ không phải vọng tưởng sinh diệt ở trong óc, trong tim.
(19) Nhị Biên chính là Nhị Biên Kiến, tức là tà kiến có hai biên, chấp lấy một bên nào cũng là tà kiến. Chấp vạn pháp là Hữu, là Vô, là Thường, là Ðoạn đều là Biên Kiến. Nó làm rối loạn tâm mình, tạo ra 2 cảnh điên đảo là sinh tử của phàm phu và Niết Bàn của Tiểu Thừa.
(20) “Khẳng tâm” là bằng lòng chịu. Bằng lòng chịu diệt cho hết vọng tâm nghĩ lăng xăng, để cho Chân Tâm mình niệm Phật, mà cứ để cho cái tâm nó nghĩ lăng xăng; thế là không phải tâm mình niệm, thế mà mình cứ mê say tưởng là mình niệm. Cho nên các Tổ phải đánh thức mình bằng một câu hỏi thật mạnh: “Người niệm Phật là ai?” để cho mình giật mình tỉnh lại, mà thốt ra rằng: “Chết rồi, không phải tâm tôi niệm ra, cái ma chướng nó nhập vào tôi nó niệm, mà tôi lại nhận lầm nó là tôi” (Rõ ràng là Vô Ngã, mà cố chấp là Hữu Ngã).
(21) Ðại Viên Kính Trí là nói cái trí sáng của Phật giống như gương tròn to bằng cả vũ trụ. Hải Ấn tam muội là định tâm của Phật lắng trong như nước bể in được cả trời đất vào trong.
(22) Nguyên âm Brahma, Ấn Ðộ đọc là Udumbara, dịch nghĩa ra chữ Hán là Linh Thụy, Tường Thụy (điềm thiêng, điềm lành), là một giống cây ở Ấn Ðộ, cao hơn một trượng, không có hoa mà có quả (giống như cây sung và cây vả của ta), người đời nói 3.000 năm nó mới khai hoa một lần, là khi có vua Kim Luân hay có Phật ra đời. Trong kinh Pháp Hoa, mỗi khi Phật nói đến nhân vật nào hiếm có, Phật dùng nó làm thí dụ.
(23) Tập là tập quán, Khí là khí lực (hơi sức) tức là những hơi sức của mọi tập quán như tham lam, giận dữ, ngu si, ngạo mạn, nghi ngờ, tà kiến v.v… đều là tập quán của con người từ vô thủy, khó mà trừ diệt được hết thật sạch tột cùng, dù tu đến bực A La Hán, Bồ Tát vẫn chưa hết.
(24) Hộ: hộ trì giúp đỡ, niệm: quyến niệm thương nhớ.
(25) Tam Muội là tiếng Ấn Ðộ, đọc là Samadhi, nghĩa là chính định, định tâm. Nhất Hạnh Tam Muội tức là Niệm Phật Tam Muội hay là Nhất Tâm Niệm Phật, không còn loạn tưởng. Chuyên tâm niệm một danh hiệu Phật thôi.
(26) Vô Sinh Pháp Nhẫn là một ngôi Bồ Tát đã soi thấy vạn pháp đều là bất sinh bất diệt, nhưng “tương tự” là “gần giống như” thì chưa được chính thức, còn phải niệm Phật nhiều nữa thì mới được là “chân Vô Sinh Pháp Nhẫn”.
(27) Ðồng Sinh Tính là Phật tính, vì nó sinh ra đồng với Phật.
(28) Pháp Tính là pháp thân, là tâm Bồ Ðề. Ðồng thể là đồng một thể chất.
(29) Câu này nghĩa là: ba cõi Dục giới, Sắc Giới, Vô Sắc Giới chỉ duy tâm mình tạo ra, vạn pháp chỉ duy thức mình tạo ra.
(30) Câu này nghĩa là: Mình niệm ông Phật Di Ðà của cái tính của mình kia để cầu sinh vào cõi Tịnh Ðộ của cái tâm của mình kia.
(31) Câu này nghĩa là: Tâm ấy nó tạo tác ra Phật, tâm ấy nó là Phật. Ngoài tâm không có Phật, ngoài Phật không có tâm.
(32) Linh Phong Ðại Sư là tên hiệu của tổ Trí Húc.
(33) Vì Tổ đã giác ngộ được thể chất của tâm, nó rộng lớn như hư không, nó không bờ, không bến, thì còn có chỗ nào là ngoài tâm nữa? Chỗ nào cũng là tâm cả, cõi Tịnh Ðộ, Phật A Di Ðà cũng chỉ ở nội trong tâm mình thôi, chẳng có chỗ nào ngoài tâm mình để cho cõi Tịnh Ðộ và Phật A Di Ðà ở.
Kẻ nào bỏ Phật A Di Ðà ở Tây Phương Cực Lạc không niệm không cầu mà lại đi cầu Phật A Di Dà và cõi Tịnh Ðộ nào khác của cái tâm tính của mình kia thì chỉ là kẻ si mê, không hiểu cái tâm tính của mình nó rộng lớn thế nào và cũng chẳng hiểu biết Phật và Tịnh Ðộ ở đâu cả!
C. PHẦN LƯU THÔNG
(LƯU THÔNG PHẬN)
Một pháp môn Tín, Nguyện, Trì Danh này hoàn toàn thu được tất cả và vượt lên trên tất cả các pháp môn. Về bề dọc thì giống với hết thảy các pháp môn, về bề ngang thì khác hẳn với các pháp môn (Câu nói này rất là minh bạch. Trong các kinh luận, cũng có nghĩa về bề ngang là tùy người tu đoạn trừ được mê hoặc nhiều hay ít, tức là ở một cõi Ðồng Cư mà thấy được 3 cõi trên. Như thế: Bề ngang có nghĩa là chứng được quả vị; bề dọc có nghĩa là đoạn trừ mê hoặc).
Kinh này đã là kinh “không ai hỏi mà tự Phật nói ra” thì chẳng ai có thể lưu thông, truyền bá được. Chỉ có Phật cùng Phật mới có tài năng thấu hết được Thực tướng của mọi pháp, vậy kinh này chỉ có ở cảnh giới Phật và chỉ có chư Phật mới có thể cùng nhau mà lưu thông cho nhau được mà thôi.
Ðoạn văn kinh này chia làm 2 phần lớn:
1. PHỔ KHUYẾN (khuyên tất cả nên tu).
2. KẾT KHUYẾN (kết lại khuyên tu).
Trong phần Phổ Khuyến, có 3 đoạn:
1. Khuyến Tín Lưu Thông.
2. Khuyến Nguyện Lưu Thông.
3. Khuyến Hạnh Lưu Thông.
PHỔ KHUYẾN
1. Khuyến tín lưu thông
Trong đoạn Khuyến Tín Lưu Thông, trước là chư Phật nêu cái tên kinh lên, sau là Phật Thích Ca thích nghĩa tên kinh (Kinh này, theo bản dịch đời Ðường thì có những 10 đoạn nói về 10 phương; nhưng bản dịch này rút bớt đi, chỉ có 6 đoạn về sáu phương thôi). Dưới đây là chư Phật trong sáu phương nêu cái tên bộ kinh này lên.
1. Phương Ðông
Kinh văn
Hán: Xá Lợi Phất! Như ngã kim giả tán thán A Di Ðà Phật bất khả tư nghị công đức chi lợi. Ðông phương diệc hữu A Súc Bệ Phật, Tu Di Tướng Phật, Ðại Tu Di Phật, Tu Di Quang Phật, Diệu Âm Phật, như thị đẳng hằng hà sa số chư Phật, các ư kỳ quốc, xuất quảng trường thiệt tướng biến phú tam thiên đại thiên thế giới, thuyết thành thực ngôn: “Nhữ đẳng chúng sinh đương tín thị Xưng Tán Bất Khả Tư Nghị Công Ðức Nhất Thiết Chư Phật Sở Hộ Niệm kinh”.
Việt: Xá Lợi Phất ơi! Như ta ngày nay khen sự lợi ích về công đức của Phật A Di Ðà chẳng xiết nghĩ bàn thì bên Ðông Phương cũng có chư Phật: Phật A Súc Bệ, Phật Tu Di Tướng, Phật Ðại Tu Di, Phật Tu Di Quang, Phật Diệu Âm, còn nhiều Phật khác như cát sông Hằng cũng như thế nữa, đều ở nước mình và đều hiện ra tướng lưỡi rộng dài che khắp ba nghìn đại thiên thế giới, nói lời thành thật rằng: Chúng sinh ngươi nên tin kinh này là một bản kinh “tán thán công đức chẳng xiết nghĩ bàn và được hết thảy chư Phật hộ niệm”.
Bốn chữ “bất khả tư nghị” là chẳng khá nghĩ bàn. Giải thích lược qua có 5 ý nghĩa:
1. Người niệm Phật có thể vượt tắt ra ngoài tam giới ngay, chẳng phải cứ đợi đến ngày đoạn trừ mê hoặc.
2. Cứ sinh sang Tây phương rồi là được lên đủ cả 4 cõi Tịnh Ðộ, chẳng phải noi lên dàn dần từng cõi một (Ý nghĩa này là nói người niệm Phật sinh sang Tây phương là được thành Bồ Tát bất thoái và Nhất Sinh Bổ Xứ ngay).
3. Cứ chuyên trì niệm danh hiệu Phật thôi, chẳng cần đến các phép phương tiện nào khác như là tu Thiền Ðịnh và quán tưởng (ý nghĩa này có công đức lớn lao trong phép tu Tịnh Ðộ).
4. Trong một tuần 7 ngày có thể thành công, chẳng cần đến nhiều kiếp, nhiều đời, nhiều năm, nhiều tháng.
5. Cứ trì niệm một danh hiệu Phật A Di Ðà, tức là được chư Phật hộ niệm, chẳng khác gì người trì niệm danh hiệu của hết thảy chư Phật.
Năm ý nghĩa này đều nhờ ở Nguyện lớn và Hạnh lớn của thầy ta mới được thành tựu như thế. Cho nên Phật Thích Ca nói rằng: “Ðây là sự lợi ích về công đức của Phật A Di Ðà chẳng khá nghĩ bàn”.
Lại còn ý nghĩa nữa là: Người tu hành cứ việc Tín, Nguyện, Trì Danh sẽ thu nhiếp được hoàn toàn công đức của Phật A Di Ðà làm thành công đức của mình cho nên cũng nói rằng: “Ðây là sự lợi ích về công đức của Phật A Di Ðà chẳng thể nghĩ bàn” (chỉ cậy sức mình giỏi mà tu thành được thì hiếm lắm!)
Lại ở bài dưới, Phật Thích Ca còn nói rằng: “Công đức chẳng xiết nghĩ bàn của chư Phật kia… và công đức của ta chẳng xiết nghĩ bàn…” Thế là chư Phật kia và Phật Thích Ca cũng đều lấy công đức của Phật A Di Ðà làm của mình vậy.
Chữ A Súc Bệ là tiếng Ấn Ðộ, dịch ra chữ Hán là Vô Ðộng, nghĩa là không chuyển động. Mỗi vị Phật đều có vô lượng công đức, cho nên tùy cơ mà lập ra vô lượng danh hiệu. Có khi lấy nghĩa về nhân, hoặc về quả, về tính, về tướng, về hạnh, về nguyện v.v… Tuy nói một quả, mà trong vẫn đủ 4 phần lợi ích Tất Ðàn. Cứ tùy theo mỗi một danh hiệu là hiểu rõ ra một công đức, nhiều lắm nói đến cả kiếp cũng chẳng nói hết được.
Quãng hư không đi về phương Ðông chẳng thể đi đến đâu là hết được thì những thế giới ở đấy nhiều lắm, cũng chẳng thể nói hết được. Những thế giới ở đấy đã chẳng thể nói hết được thì chư Phật ở những thế giới ấy nhiều lắm cũng chẳng thể kể ra hết được, mà phải tạm nói là “nhiều bằng số cát sông Hằng” đấy thôi.
Các vị Phật nhiều như thế, vị nào cũng hiện ra tướng lưỡi rộng dài khuyên nên tin kinh này mà tu hạnh niệm Phật, thế mà chúng sinh vẫn chẳng chịu tin thì ngoan cố, u minh lắm lắm.
Người thường giữ được giới Bất Vọng Ngữ trong 3 đời, khi sinh ra có lưỡi rộng dài, lè ra uốn lên đến mũi. Ðức Phật của Tạng Giáo giữ giới Bất Vọng Ngữ trong 3 đại a tăng kỳ kiếp cho nên khi sanh ra lưỡi mỏng và rộng dài lè ra che kín cả mặt. Nay Ngài đã triệt để chứng được pháp môn mầu nhiệm Ðại Thừa Tịnh Ðộ này cho nên lưỡi che khắp Ðại Thiên Thế Giới là để nêu rõ chính lý pháp thân thực xứng hợp với chân thân là một sự thực có vậy.
Trong 6 đoạn văn nói về 6 phương, đoạn nào chư Phật cũng nêu ra cái tên kinh này ra, gọi là kinh: “Xưng Tán Bất Khả Tư Nghị Công Ðức, Nhất Thiết Chư Phật Sở Hộ Niệm” chính là căn bản lưu thông truyền bá kinh này. Ngài pháp sư Cưu Ma La Thập thuận theo người ở đây ưa nói vắn tắt, mà dịch tên kinh này là kinh A Di Ðà, tật là khéo dịch, hợp với hạnh tu Trì Danh (kinh niệm Phật A Di Ðà). Ngài pháp sư Trần Huyền Trang lại dịch là kinh “Xưng Tán Tịnh Ðộ Phật Nhiếp Thụ”. Lời văn tuy có tường tận hay sơ lược khác nhau, nhưng chính nghĩa vẫn không có thêm, bớt.
2. Phương Nam
Kinh văn
Hán: Xá Lợi Phất! Nam phương thế giới hữu Nhật Nguyệt Ðăng Phật, Danh Văn Quang Phật, Ðại Diệm Kiên Phật, Tu Di Ðăng Phật, Vô Lượng Tinh Tấn Phật, như thị đẳng hằng hà sa số chư Phật, các ư kỳ quốc, xuất quảng trường thiệt tướng biến phú tam thiên đại thiên thế giới, thuyết thành thực ngôn: “Nhữ đẳng chúng sinh đương tín thị Xưng Tán Bất Khả Tư Nghị Công Ðức Nhất Thiết Chư Phật Sở Hộ Niệm kinh”.
Việt: Xá Lợi Phất ơi! Thế giới Nam Phương cũng có chư Phật: Phật Nhật Nguyệt Ðăng, Phật Danh Văn Quang, Phật Ðại Diệm Kiên, Phật Tu Di Ðăng, Phật Vô Lượng Tinh Tấn, còn nhiều Phật khác như cát sông Hằng cũng như thế nữa, đều ở nước mình và đều hiện ra tướng lưỡi rộng dài che khắp ba nghìn đại thiên thế giới, nói lời thành thật rằng: Chúng sinh ngươi nên tin kinh này là một bản kinh “tán thán công đức chẳng xiết nghĩ bàn và được hết thảy chư Phật hộ niệm”.
3. Phương Tây
Kinh văn
Hán: Xá Lợi Phất! Tây phương thế giới hữu Vô Lượng Thọ Phật, Vô Lượng Tướng Phật, Vô Lượng Tràng Phật, Ðại Quang Phật, Ðại Minh Phật, Bảo Tướng Phật, Tịnh Quang Phật, như thị đẳng hằng hà sa số chư Phật, các ư kỳ quốc, xuất quảng trường thiệt tướng biến phú tam thiên đại thiên thế giới, thuyết thành thực ngôn: “Nhữ đẳng chúng sinh đương tín thị Xưng Tán Bất Khả Tư Nghị Công Ðức Nhất Thiết Chư Phật Sở Hộ Niệm kinh”.
Việt: Xá Lợi Phất ơi! Thế giới Tây Phương cũng có chư Phật: Phật Vô Lượng Thọ, Phật Vô Lượng Tướng, Phật Vô Lượng Tràng, Phật Ðại Quang, Phật Ðại Minh, Phật Bảo Tướng, Phật Tịnh Quang, còn nhiều Phật khác như cát sông Hằng cũng như thế nữa, đều ở nước mình và đều hiện ra tướng lưỡi rộng dài che khắp ba nghìn đại thiên thế giới, nói lời thành thật rằng: Chúng sinh ngươi nên tin kinh này là một bản kinh “tán thán công đức chẳng xiết nghĩ bàn và được hết thảy chư Phật hộ niệm”.
4. Phương Bắc
Kinh văn
Hán: Xá Lợi Phất! Bắc Phương thế giới hữu Diệm Kiên Phật, Tối Thắng Âm Phật, Nan Trở Phật, Nhật Sinh Phật, Võng Minh Phật, như thị đẳng hằng hà sa số chư Phật, các ư kỳ quốc, xuất quảng trường thiệt tướng biến phú tam thiên đại thiên thế giới, thuyết thành thực ngôn: “Nhữ đẳng chúng sinh đương tín thị Xưng Tán Bất Khả Tư Nghị Công Ðức Nhất Thiết Chư Phật Sở Hộ Niệm kinh”.
Việt: Xá Lợi Phất ơi! Thế giới Bắc Phương cũng có chư Phật: Phật A Diệm Kiên, Phật Tối Thắng Âm, Phật Nan Trở, Phật Nhật Sinh, Phật Võng Minh, còn nhiều Phật khác như cát sông Hằng cũng như thế nữa, đều ở nước mình và đều hiện ra tướng lưỡi rộng dài che khắp ba nghìn đại thiên thế giới, nói lời thành thật rằng: Chúng sinh ngươi nên tin kinh này là một bản kinh “tán thán công đức chẳng xiết nghĩ bàn và được hết thảy chư Phật hộ niệm”.
5. Hạ phương
Kinh văn
Hán: Xá Lợi Phất! Hạ phương thế giới hữu Sư Tử Phật, Danh Văn Phật, Danh Quang Phật, Ðạt Ma Phật, Pháp Tràng Phật, Trì Pháp Phật, như thị đẳng hằng hà sa số chư Phật, các ư kỳ quốc, xuất quảng trường thiệt tướng biến phú tam thiên đại thiên thế giới, thuyết thành thực ngôn: “Nhữ đẳng chúng sinh đương tín thị Xưng Tán Bất Khả Tư Nghị Công Ðức Nhất Thiết Chư Phật Sở Hộ Niệm kinh”.
Việt: Xá Lợi Phất ơi! Thế giới Hạ phương cũng có chư Phật: Phật Sư Tử, Phật Danh Văn, Phật Danh Quang, Phật Ðạt Ma, Phật Pháp Tràng, Phật Trì Pháp, còn nhiều Phật khác như cát sông Hằng cũng như thế nữa, đều ở nước mình và đều hiện ra tướng lưỡi rộng dài che khắp ba nghìn đại thiên thế giới, nói lời thành thật, rằng: Chúng sinh ngươi nên tin kinh này là một bản kinh “tán thán công đức chẳng xiết nghĩ bàn và được hết thảy chư Phật hộ niệm”.
Trong đoạn này có danh hiệu đức Phật Ðạt Ma là tiếng Ấn Ðộ, dịch ra chữ Hán là Pháp.
(Trong 6 phương, Phật nói về 4 phương Ðông, Tây, Nam, Bắc thì ta còn có thể hiểu được, đây là nói về Hạ phương và đoạn sau nói về Thượng Phương thì người không học Phật rất khó hiểu, khó tin).
Thế nào là Hạ phương? Là cái phương ở bên dưới quả đất của ta đây, nghĩa là ở dưới cái vòng phong luân, thủy luân, kim luân của quả đất này, lại có các tầng trời cao nhất, như là cõi trời Phi Phi Tưởng v.v… và xuống mãi, xuống mãi còn có trùng trùng điệp điệp vô cùng tận hằng hà sa số thế giới nữa (Thế là ở bên dưới quả đất của ta ở đây, lại có vô số các ông trời ở đấy. Bên dưới quả đất lại có các ông trời ở thật là một sự lạ. Chỉ kinh Phật nói thế, xưa nay chưa có đạo nào, kinh sách nào nói thế. Ý tưởng người không có Phật học tin làm sao được, thật là một sự rất khó tin trong muôn vàn sự khó tin).
6. Thượng Phương
Kinh văn
Hán: Xá Lợi Phất! Thượng phương thế giới hữu Phạm Âm Phật, Tú Vương Phật, Hương Thượng Phật, Hương Quang Phật, Ðại Diệm Kiên Phật, Tạp Sắc Bảo Hoa Nghiêm Thân Phật, Ta La Thọ Vương Phật, Bảo Hoa Ðức Phật, Kiến Nhất Thiết Nghĩa Phật, Như Tu Di Sơn Phật, như thị đẳng hằng hà sa số chư Phật, các ư kỳ quốc, xuất quảng trường thiệt tướng biến phú tam thiên đại thiên thế giới, thuyết thành thực ngôn: “Nhữ đẳng chúng sinh đương tín thị Xưng Tán Bất Khả Tư Nghị Công Ðức Nhất Thiết Chư Phật Sở Hộ Niệm kinh”.
Việt: Xá Lợi Phất ơi! Thế giới Thượng Phương cũng có chư Phật: Phật Phạm Âm, Phật Tú Vương, Phật Hương Thượng, Phật Hương Quang, Phật Ðại Diệm Kiên, Phật Tạp Sắc Bảo Hoa Nghiêm Thân, Phật Ta La Thọ Vương, Phật Bảo Hoa Ðức, Phật Kiến Nhất Thiết Nghĩa, Phật Như Tu Di Sơn, còn nhiều Phật khác như cát sông Hằng cũng như thế nữa, đều ở nước mình và đều hiện ra tướng lưỡi rộng dài che khắp ba nghìn đại thiên thế giới, nói lời thành thật, rằng: Chúng sinh ngươi nên tin kinh này là một bản kinh “tán thán công đức chẳng xiết nghĩ bàn và được hết thảy chư Phật hộ niệm”.
Thế nào là thượng phương? Là cái phương ở trên quả đất của ta ở đây, đã có các cõi trời cao nhất như là cõi trời Phi Phi Tưởng v.v… thế mà ở trên các tầng trời ấy, lại có vô số quả đất khác cũng có đủ các vòng kim luân, thủy luân, phong luân và tam giới v.v… lên mãi, lên mãi còn có trùng trùng điệp điệp vô cùng tận hằng hà sa số thế giới nữa (Thế là ở trên chỗ các ông trời ở, lại có vô số trái đất và người ở, thế có lạ không? Người không có Phật học tin làm sao, hiểu làm sao được? Mắt Phật soi thấu triệt đến thế là tuyệt đối, chỉ vì Phật đã triệt để dùng được tâm Bồ Ðề Vô Thượng của Phật).
Hoặc có người hỏi: Trong các phương, phương nào cũng có Tịnh Ðộ, cớ gì chỉ tán thán riêng Tịnh Ðộ ở Tây Phương?
Xin thưa: Ngài hỏi thế, chẳng phải là câu hỏi có ý nghĩa gì (thật khéo trả lời). Giả sử tôi tán thán Tịnh Ðộ của Phật A Súc Bệ thì ngài lại nghi mà hỏi: Cớ gì chỉ tán thán riêng Tịnh Ðộ ở Ðông Phương? Câu hỏi của ngài thành ra lẩn quẩn, đùa chơi!
Lại có người hỏi: Thế sao không tưởng niệm cả 10 phương pháp giới? (nghiên cứu kỹ câu trả lời dưới đây, đủ biết câu hỏi này cũng là câu lẩn quẩn, đùa chơi!)
Xin thưa: Vì có 3 nghĩa: 1) Khiến người mới vào đạo nhận được tâm Bồ Ðề của mình 2) Vì bản nguyện của Phật A Di Ðà hơn hết thảy 3) Vì Phật A Di Ðà với chúng sinh ở cõi này có duyên riêng.
Bởi vì Phật độ chúng sinh và chúng sinh chịu giáo hóa của Phật, giữa quãng ấy có khó, có dễ, có thiển, có thâm, tóm lại đều tại duyên cả. Tại duyên là phải có nhiều ân đức vừa sâu vừa rộng (tức là bản nguyện hơn hết thảy), và phải có nhiều lối mở dạy cho người ta (tức là nêu cái tâm Bồ Ðề cho người ta thấy rõ). Có thế thì mới đủ 4 lợi ích bố thí cho người ta:
1) Khiến cho người ta vui mừng, tin sâu vào đạo (tức là lợi ích Hoan Hỷ).
2) Khiến cho người ta phải xúc động cái mầm thiện gieo từ kiếp trước (tức là lợi ích Sinh Thiện).
3) Khiến cho ma chướng không thể cản được người ta nữa (tức là lợi ích Phá Ác).
4) Khiến cho người ta mở rộng được thể tánh Bồ Ðề của người ta (tức là lợi ích Nhập Lý).
Chư Phật vốn là từ trong Pháp Thân của các Ngài mà hiển hiện ra hình tích lưu lại cho đời, cốt để cố kết lấy cái mầm duyên với đời, cho cả người thế gian và người xuất thế gian, hết thảy đều thần diệu chẳng khá nghĩ bàn. Các Ngài tôn trọng giáo lý Ðại Thừa, đem tuyên dương vào hải hội (tức là vì cả thế giới). Các Ngài lăn vào bể khổ (tức là vì nhân loại đối trị tính ác). Tâm nhân từ của các Ngài khế hợp với tâm Thường Tịch Quang (tức là Ðệ Nhất Nghĩa), vì thế mà vạn đức phải kính vâng các Ngài, quần linh phải chầu cả về các Ngài.
Ta lại nên biết mầm thành Phật phải nhờ duyên mới khởi lên được, duyên ấy tức là cả Pháp Giới; vậy thì một niệm tức là hết thảy niệm, một chúng sinh tức là hết thảy chúng sinh, một hương, một hoa, một thanh, một sắc… cho đến một khi chịu sám hối, được thụ ký, được xoa đầu, được dắt tay v.v… khắp cả 10 phương, suốt cả ba đời, không một chỗ nào, không một giây phút nào mà không lan tràn, dung hòa khắp cả tâm một, cho nên cái nhân tăng thượng duyên này (cái duyên làm cho tăng thêm lên) được gọi là pháp giới duyên khởi.
Ðó chính là cái nghĩa “biến duyên pháp giới”, tức là tưởng niệm và kết duyên với cả 10 phương pháp giới vậy. Như thế (thì vẫn chẳng ra ngoài pháp giới), người tu ở ngôi thấp kém vẫn có thể quyết chí chuyên cầu sinh sống ở Tây phương được. Và người tu ở ngôi cao sâu (thì còn pháp giới nào nữa) mà phải bỏ Tây phương để mong cầu riêng lấy một thế giới Hoa Tạng?
Nếu người nào còn bảo Tây Phương là Quyền Giáo, Hoa Tạng mới là Thực Giáo, Tây Phương là Tiểu Thừa, Hoa Tạng mới là Ðại Thừa thì hoàn toàn là sa đọa vào hạng chúng sinh mang cái thức tính Biến Kế Chấp (là cái ý tưởng mơ hồ). Bởi vì người ấy chẳng hiểu thế nào là Quyền, là Thực, là Ðại, là Tiểu, tất cả 4 giáo môn chỉ là đồng một thể, mà không có tự tính riêng biệt (câu này phá tan được cái tâm nghi hoặc từ hơn một nghìn năm nay)
Dưới đây, Phật Thích Ca thích nghĩa cái TÊN bộ kinh này:
Kinh văn
Hán: Xá Lợi Phất! Ư nhữ ý vân hà? Hà cố danh vi Nhất Thiết Chư Phật Chi Sở Hộ Niệm? Xá Lợi Phất! Nhược hữu thiện nam tử, thiện nữ nhân văn thị kinh, thọ trì giả, cập văn chư Phật danh giả, thị chư thiện nam tử, thiện nữ nhân giai vi nhất thiết chư Phật chi sở hộ niệm, giai đắc bất thoái chuyển ư A-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề. Thị cố Xá Lợi Phất! Nhữ đẳng giai đương tín thụ ngã ngữ cập chư Phật sở thuyết.
Việt: Xá Lợi Phất ơi! Ý ông thế nào? Sao gọi kinh này là kinh “Nhất thiết chư Phật hộ niệm”? Xá Lợi Phất này! Nếu có thiện nam hay là thiện nữ nghe kinh này rồi, mà chịu nhớ lấy cả những danh hiệu chư Phật sáu phương, nghe rồi nhớ lấy thì thiện nam ấy hay thiện nữ ấy đều được hết thảy chư Phật hộ niệm và được tới cõi A-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề chẳng hề lui chuyển. Vì thế cho nên, ông Xá Lợi Phất cùng các ông đây đều nên tin chịu lời ta và lời chư Phật đã nói.
Bộ kinh này chuyên nói về tâm yếu vô thượng (tức là nói cái tâm trọng yếu hơn hết), những danh hiệu của chư Phật, hết thảy đều hiểu rõ muôn ngàn công đức đầy đủ rốt ráo trên hết, cho nên người nào được nghe kinh này và danh hiệu của chư Phật ở kinh này đều được chư Phật hộ niệm. Lại người nghe kinh và thụ trì kinh tức là người chấp trì danh hiệu (người niệm Phật). Bởi vì danh hiệu của Phật A Di Ðà bao giờ cũng được chư Phật hộ niệm.
Hoặc có người hỏi: Chỉ nghe danh hiệu chư Phật mà chưa giữ được nghĩa kinh thì có được chư Phật hộ niệm (24) lên ngôi Bất Thoái không?
Thưa: Cái nghĩa “nghe” ở đây có phần Cuộc và phần Thông.
Về phần Cuộc thì như kinh Chiêm Sát có nói: “Kẻ nào mang cái tâm tạp loạn nhơ bẩn thì tuy có niệm danh hiệu của ta mà vẫn chẳng phải là đã được nghe danh hiệu của ta, vì tâm người ấy chưa quyết định tin và hiểu, thì chỉ được quả báo phúc thiện ở thế gian thôi, chẳng được lợi ích mầu nhiệm sâu xa rộng lớn. Nếu người niệm Phật đã được đến chỗ Nhất Hạnh Tam Muội (25) thì mới thành được cái tâm có đức hạnh mầu nhiệm rộng lớn và được gọi là đã lên ngôi Tương Tự Vô Sinh Pháp Nhẫn (26). Có thế mới thật là người đã được nghe danh hiệu chư Phật ở khắp mười phương..”
Vậy thời chữ “nghe” ở đoạn kinh này cũng phải có nghĩa sâu xa như ở trong kinh Chiêm Sát. Cho nên cần phải nghe rồi, phải niệm Phật đến chỗ Nhất Tâm Bất Loạn thì mới đáng là “người đã được nghe danh hiệu của chư Phật, được Phật hộ niệm”. Thế là “nghe” ở đây thuộc về nghĩa Cuộc.
Còn nghĩa chữ “nghe” thuộc về phần Thông là: tâm từ bi chư Phật chẳng khá nghĩ bàn, công đức danh hiệu của chư Phật chẳng khá nghĩ bàn, cho nên người nào một khi được nghe một danh hiệu Phật rồi thì bất luận người ấy là người hữu tâm hay vô tâm, tin hay chẳng tin đều đã thành ra cái mầm duyên tốt rồi. Huống chi Phật độ chúng sinh là bình đẳng, coi kẻ oán, kẻ thân như nhau, không hề mỏi mệt. Miễn là được nghe danh hiệu Phật tất là được Phật hộ niệm, còn nghi gì nữa?
Nhưng cứ theo như bộ Kim Cương Tam Luận nói thì một vị Bồ Tát có căn đã chín rồi mới được Phật hộ niệm, tức là được ở vào ngôi Ðịa Bồ Tát về Biệt Giáo, hay là ngôi Trụ Bồ Tát về Viên Giáo, bởi vì người nào cứ đúng sức mình tu (tự lực) mà tu, tất là phải tu vào bậc “Ðồng Sinh Tính” (27) rồi mới được Phật hộ niệm.
Còn như tu Niệm Phật là lối tu nhờ vào sức người (tha lực) thì mau, cho nên lên ngôi “tương tự Vô Sinh Pháp Nhẫn” cũng đã được Phật hộ niệm rồi. Và cả đến những người còn ở dưới ngôi Tương Tự ấy cũng đều có cái nghĩa “được Phật hộ niệm” về phần Thông. Và xuống đến dưới nữa là hạng người chỉ một khi được nghe danh hiệu Phật thôi (nhất văn Phật danh), đối với Ðồng Thể Pháp Tính (28) của người ấy đã có một sức mạnh phát ra rồi, thì cũng đã gây được cái nhân tốt về đời sau này, chẳng bao giờ lui mất.
Chữ “a-nậu-đa-la” nguyên âm Ấn Ðộ đọc là Anuttara, dịch ra chữ Hán là Vô Thượng, nghĩa là “trên hết”. Chữ Tam-miệu Tam-bồ-đề nguyên âm Ấn Ðộ đọc là Samyak Sambodhi, dịch ra chữ Hán là Chính Ðẳng Chính Giác, nghĩa là giác ngộ bình đẳng chân chính hoàn toàn. Vậy Anuttara Samyak Sambodhi là cái quả chính giác ngộ hoàn toàn của bậc Ðại Thừa.
Chữ Bất Thoái ở đây là “viên tam bất thoái”, nghĩa là viên mãn đầy đủ ba ngôi Bất Thoái như trên đã giải thích. Viên Tam Bất Thoái là một danh từ khác nhưng cùng một nghĩa với danh từ “nhất sinh thành Phật” nghĩa là chỉ có một lần sinh chót ấy là thành Phật. Bởi thế, Phật Thích Ca cố khuyên bọn ông Thân Tử (tức Xá Lợi Phất) đều nên tin chịu lời kinh này vậy.
Công đức được nghe danh hiệu Phật mầu nhiệm như thế, Phật Thích Ca và chư Phật khắp mười phương đều tuyên truyền nói ra như thế, mà ta lại còn không tin ư?
Ðoạn thứ nhất “Khuyến Tín Lưu Thông” đến đây là hết.
2. Khuyến nguyện lưu thông
Kinh văn
Hán: Xá Lợi Phất! Nhược hữu nhân dĩ phát nguyện, kim phát nguyện, đương phát nguyện, dục sinh A Di Ðà Phật quốc giả; thị chư nhân đẳng giai đắc bất thoái chuyển ư A-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề, ư bỉ quốc độ, nhược dĩ sinh, nhược kim sinh, nhược đương sinh. Thị cố, Xá Lợi Phất! Chư thiện nam tử, thiện nữ nhân nhược hữu tín giả, ưng đương phát nguyện sinh bỉ quốc độ.
Việt: Xá Lợi Phất ơi! Nếu có những người muốn sinh sang nước Phật A Di Ðà mà đã phát nguyện, hoặc nay mới nguyện, hoặc mai mới nguyện thì những người ấy đều được tới cõi A-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề chẳng hề lui chuyển, và đều được sinh sang cõi nước kia: ai đã phát nguyện thì đã sinh rồi, ai nay mới nguyện thì nay được sinh; còn mai mới nguyện thì mai được sinh. Bởi thế, cho nên Xá Lợi Phất ơi! Các thiện nam ơi, các thiện nữ ơi, nếu có ai tin thì nên phát nguyện sinh sang nước kia.
Trong đoạn kinh này có mấy câu: Ai đã phát nguyện thì đã sinh rồi; ai nay mới nguyện thì nay được sinh; còn mai mới nguyện thì mai được sinh… Ðó chính là lời Phật Thích Ca hiển rõ cho ta biết rằng:
“Ai đã y cứ vào cái tâm Tịnh Tín của mình mà phát ra lời nguyện cầu sinh Tịnh Ðộ thì lời nguyện ấy quyết không là nguyện hư ảo vậy”.
Hễ không có Tín thì chẳng thể nào phát nguyện được, mà đã không có Nguyện, không có Tín, thì cũng chẳng thể nào được sinh. Cho nên Phật Thích Ca nói: “Nếu có ai TiN thì nên phát NGUYỆN…”
Lại còn Nguyện ấy là khoán ước của Tín và là then chốt của Hạnh, thì Nguyện phải là một việc thiết yếu lắm. Phật nói một chữ Nguyện thì phải hiểu chữ Tín và chữ Hạnh đều ở cả trong chữ Nguyện ấy rồi. Vì thế mà Phật phải ân cần đến ba lần khuyên phát nguyện.
Lại còn câu cuối đoạn kinh này là: “Nguyện sinh bỉ quốc độ” (nguyện sinh sang nước kia). Câu kinh này tức là 2 pháp môn Hân và Yểm (Hân là hân hoan vui thích, Yểm là yểm ly: chán bỏ).
a) Pháp môn Yểm là yểm ly Ta Bà (chán bỏ cõi Ta Bà vì tệ ác lắm!), phép này cùng với phép tu:
Y vào Khổ Ðế và Tập Ðế mà phát ra 2 hoằng nguyện là: “Chúng sinh vô biên thệ nguyện độ” và “phiền não vô tận thệ nguyện đoạn” cùng ứng hợp với nhau.
b) Pháp môn Hân là hân cầu Cực Lạc (vui cầu sang Cực Lạc, vì yên tĩnh lắm!), phép này cùng với phép tu:
Y vào Ðạo Ðế và Diệt Ðế mà phát ra 2 hoằng nguyện là: “Pháp môn vô lượng thệ nguyện học” và “Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành”.
Vì có Phật nguyện rộng lớn như thế, cho nên Phật mới bảo: “Thì những người ấy đều được tới cõi A nậu đa la tam miệu tam bồ đề chẳng hề lui chuyển” tức là đắc đạo Bồ Ðề, lên ngôi Bất Thoái.
(Ðoạn văn này là cả một bí quyết của tông Tịnh Ðộ mà người đời phần đông mơ mộng không hiểu được rõ ràng đến nơi đến chốn, vì thế mà hiện nay tuy có rất nhiều người niệm Phật mà rất ít người được thành công).
Hoặc có người hỏi: Như ai nay phát nguyện thì chỉ nói là: rồi mai sẽ được sinh mới phải, cớ sao lại nói: “Ai nay phát nguyện thì nay được sinh” là nghĩa làm sao?
Thưa: Câu này cũng có 2 nghĩa:
1. Chữ “nay” ở trong câu này là rút vào một thời kỳ mà nói là “nay”. Như người nào giờ phút này phát nguyện niệm danh hiệu Phật thì đến giờ phút lâm chung (sắp chết) quyết định được sinh Tịnh Ðộ (Phải có cái nghĩa này mới khiến người niệm Phật chỉ tu trong một đời, một thời kỳ thiết yếu là nhất định thành công không thể sai lạc. Nay phát nguyện thì nay được sinh, chính là nghĩa thế. Chữ “nay” ở đây có nghĩa là: Chỉ trong một đời này).
Chữ “Nay” ở trong câu này là rút vào “một niệm” (một giây phút, một sát na) mà nói là “nay”. Nghĩa là mỗi một niệm mà tâm mình ứng hợp với tâm Phật thế là ngay một niệm ấy mình đã được sinh rồi. Niệm nào, niệm nào cũng ứng hợp như thế thì niệm nào, niệm nào mình cũng đã được sinh ngay rồi (Phải có cái nghĩa này mới khiến người niệm Phật thâm nhập vào phép tu “Nhất Hạnh Tam Muội” hay là “Niệm Phật Tam Muội”, bởi thế mà nói: Nay phát nguyện thì nay được sinh)
Nhân mầu nhiệm và quả mầu nhiệm của người niệm Phật đều chẳng bao giờ lìa khỏi. Một tâm (một tâm tức là tâm mình và tâm Phật ứng hợp với nhau làm một), nhân và quả ấy giống như 2 đầu cán cân, hễ lên thì đồng thời lên ngay, xuống thì đồng thời cũng xuống ngay.Vậy thì, người niệm Phật cần gì phải đợi đến hết kiếp Ta Bà rồi mới được sinh vào ao thất bảo? Không, chỉ ngay giờ phút này ta có tín tâm, ta có phát nguyện, ta niệm danh hiệu Phật thì bóng đài sen vàng tươi sáng sủa của ta đã hiện ra ngay rồi. Ta không phải là người trong cõi Ta Bà nữa! (Câu này là một sự thực có đúng với chân lý, chứ không phải là chỉ lý luận suông đâu!) Thực là một phép tu: Cực viên, cực đốn, nan nghị, nan tư (rất đầy đủ, rất mau chóng, rất khó bàn, rất khó nghĩ) chỉ có các bậc đại trí tuệ mới thâm tín, thâm hiểu được.
3. Khuyến hạnh lưu thông
Trong đoạn Khuyến Hạnh Lưu Thông, trước là lời chư Phật khen ngợi đức Giáo Chủ Thích Ca, sau là lời đức Giáo Chủ kết lại mà than thở.
Kinh văn
Hán: Xá Lợi Phất! Như ngã kim giả, xưng tán chư Phật bất khả tư nghị công đức, bỉ chư Phật đẳng diệc xưng tán ngã bất khả tư nghị công đức, nhi tác thị ngôn: “Thích Ca Mâu Ni Phật năng vi thậm nan hy hữu chi sự, năng ư Ta Bà quốc độ ngũ trược ác thế: kiếp trược, kiến trược, phiền não trược, chúng sinh trược, mạng trược trung đắc a nậu đa la tam miệu tam bồ đề, vị chư chúng sinh, thuyết thị nhất thiết thế gian nan tín chi pháp.
Việt: Xá Lợi Phất ơi! Như ta ngày nay ngợi khen công đức chẳng xiết nghĩ bàn của chư Phật kia, thì chư Phật kia cũng lại ngợi khen công đức của ta chẳng xiết nghĩ bàn mà nói câu này: “Phật Thích Ca Mâu Ni làm được những việc rất khó hiếm có, ở ngay giữa cõi Ta Bà kham khổ, lại vào cái đời có năm ác trược: một là kiếp trược, hai là kiến trược, ba: phiền não trược, bốn: chúng sinh trược, năm là mạng trược, thế mà chứng được a nậu đa la tam miệu tam bồ đề; lại vì chúng sinh nói ra phép ấy là phép hết thảy thế gian khó tin.
(Câu kinh cuối cùng này hệ trọng ở hai chữ “Trì Danh”, cho nên thuộc về Khuyến Hạnh Lưu Thông).
Trí tuệ và công đức của các đức Phật đều là bình đẳng như nhau cả, nhưng mà đem ra bố thí giáo hóa thì có chỗ dễ và có chỗ khó: Như ở cõi Tịnh Ðộ mà tu thành Bồ Ðề thì dễ, mà ở cõi đời trược thế này thì khó lắm! Vì chúng sinh ở trược thế nói pháp Tiệm (hiểu dần dần) còn dễ, chứ nói pháp Ðốn (hiểu ngay) thì khó nữa! Vì chúng sinh ở trược thế nói các pháp Ðốn khác còn dễ, mà nói cái pháp Ðốn vượt tắt ngang sang Tịnh Ðộ thì lại càng khó nữa!
Vì chúng sinh ở trược thế nói cái pháp diệu quán “đốn tu, đốn chứng để vượt tắt ngang sang Tịnh Ðộ” đã chẳng dễ gì, thế mà nay lại nói cái pháp “tu chứng” này chẳng cần cù khó nhọc gì, chỉ có trì niệm danh hiệu Phật A Di Ðà thôi mà được lên ngay ngôi Bồ Tát Bất Thoái thì thực là một phép phương tiện đệ nhất, đặc biệt lạ lùng, mầu nhiệm hơn hết, vượt hẳn ra ngoài sức tưởng tượng nghĩ bàn của loài người. Ðó là một khó khăn trong các khó khăn. Bởi thế mà chư Phật ở khắp mười phương, không một vị nào là không suy tôn đức Phật Thích Ca của ta là một vị Phật dũng mãnh hơn hết.
Ngũ trược ác thế (đời có 5 vẩn đục độc ác):
1) Kiếp Trược là thời đại tụ hợp toàn những pháp vẩn đục cả. Không có cái hạnh tu Niệm Phật này là một hạnh tu mang cả ác nghiệp mà vượt tắt ra ngoài vòng Kiếp Trược thì không tài nào mà độ thoát được những chúng sinh ở trong ở trong vòng Kiếp Trược ấy (phép tu này giống như người bị quân cướp bao vây phải phá vòng vây mà ra).
2) Kiến Trược là thời đại có 5 tà kiến, nó sai khiến con người mau lẹ lắm, thịnh hành lắm (ngũ lợi sử tà kiến tăng thịnh).
Năm tà kiến ấy là:
1. Thân kiến là si mê lầm tưởng thấy thân ta và những vật của ta là thực có.
2. Biên kiến là khi đã cố chấp thân ta và vật của ta là thực có, tất phải thiên về một bên nào: hoặc theo chủ nghĩa thân ta chết là hết chuyện, là đoạn diệt, là Vô; hoặc theo chủ nghĩa thân ta chết mà vẫn còn, không mất, không thay đổi, thân ta là thường trụ, là Hữu.
3. Kiến thủ kiến là học theo những ý kiến chủ nghĩa tà ngụy, kém cỏi, hẹp hòi của các tà thuyết, tà đạo, cho là mầu nhiệm hay hơn hết.
4. Giới thủ kiến là học theo những giới luật nhảm nhí của bọn tà ma để cầu sinh lên trời v.v… cho thế là chân chính giữ được giới và đắc đạo.
5. Tà kiến là học theo tất cả những lý luận, những chủ nghĩa, những đạo giáo sai lầm cho là đời người không có nhân, có quả chi hết, cũng không có thiện báo, ác báo chi cả.
Chúng sinh và loài người ở vào thời đại có 5 tà kiến này nó làm cho tối tăm mù quáng, đắm chìm vẩn đục, cho nên gọi là đời Kiến Trược. Không có cái hạnh tu Niệm Phật này là một hạnh tu chẳng cần đến phép Phương Tiện nào khác mà cũng khai ngộ được tâm của mình thì độ thoát làm sao được những chúng sinh ở trong vòng Kiến Trược ấy? (Phép tu này là một quyết định chặt chẽ, không cho một ý kiến nào khác xen lẫn vào nữa).
3) Phiền Não Trược: Là thời đại có 5 phiền não, nó cứ ngấm ngầm sai khiến con người, nó nguy lắm và thịnh hành lắm (ngũ độn sử phiền hoặc tăng thịnh).
Năm phiền não ấy là:
a. Tham lam: yêu thích, ham muốn.
b. Sân hận: giận dữ, thù hằn.
c. Si mê: ngu dốt, mê muội.
d. Mạn: kiêu ngạo, khinh người, trịch thượng.
e. Nghi ngờ: không có tín tâm chân thật.
Năm cái Tâm Sở xấu xa này luôn luôn ngấm ngầm làm phiền não, rung động, rối loạn, vẩn đục cái tâm tính yên tĩnh trong sạch, sáng suốt của con người cho nên gọi là đời Phiền Não Trược. Không có cái hạnh tu Niệm Phật này là một hạnh tu nhận ngay cái tâm phàm là tâm Phật thì không có phép nào độ thoát được những chúng sinh ở trong vòng Phiền Não Trược ấy! (Phép tu này là bình đẳng, không lấy riêng ai, không bỏ riêng ai cả!)
4) Chúng Sinh Trược: là cái thân thể và cái thế giới của ta ở đây do 5 Kiến Trược và và 5 Phiền Não Trược cảm ứng mà hiện ra 5 phần (ngũ ấm) hòa hợp với nhau. Nó rất thô bỉ, tệ ác, nó giả tạm mà gọi là “thân thể chúng sinh”.
Thân Ngũ Ấm có một phần Sắc (tức là cái thân có 5 căn và cái thế giới có 6 trần) và 4 phần Tâm (tức là Thụ, Tưởng, Hành, Thức). Cả một phần Sắc và 4 phần Tâm đều hủ lậu, đê liệt, vẩn đục cho nên gọi là Chúng Sinh Trược. Không có cái hạnh tu Niệm Phật này, là một hạnh tu vui cầu Cực Lạc, chán ghét Ta Bà, thì lấy gì mà độ thoát được những người ở trong vòng Chúng Sinh Trược ấy? (Phép tu này là một phép tu rõ ràng lấy thiện, bỏ ác).
5) Mạng Trược là phần nhân, phần quả đều kém cỏi, mạng sống ngắn ngủi quá, già lắm cũng chẳng đầy đủ một trăm năm cho nên gọi là đời Mạng Trược. Không có cái hạnh tu Niệm Phật này là một hạnh tu chẳng cần phí nhiều thời giờ, ngày, tháng, năm, đời, kiếp và cũng chẳng phải khó nhọc, cần khổ gì, thì không thể nào độ thoát ngay được những chúng sinh ở trong vòng Mạng Trược ấy? (Phép tu này vừa với sức lượng của từng người, ai tu cũng được thỏa mãn).
Lại còn nữa, là chỉ cứ một tâm Tín Nguyện trang nghiêm như thế mà niệm Phật thì mỗi một tiếng niệm Nam Mô A Di Ðà Phật là:
- Chuyển ngay được Kiếp Trược thành ra Thanh Tịnh Hải Hội (một hội tu của các vị Bồ Tát rất trong lặng như bể khơi).
- Chuyển ngay được Kiến Trược thành ra Vô Lượng Quang (trí quang sáng suốt vô lượng).
- Chuyển ngay được Phiền Não Trược thành ra Thường Tịch Quang (tâm thường trụ, vắng lặng, sáng suốt).
- Chuyển ngay được Chúng Sinh Trược thành ra thân Liên Hoa Hóa Sinh (thân ở trong hoa sen hóa sinh ra).
- Chuyển ngay được Mạng Trược thành ra Vô Lượng Thọ (mạng sống lâu vô lượng).
Thế cho nên mỗi một tiếng niệm Nam Mô A Di Ðà Phật là một phép tu tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề mà đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật đã chứng được ở ngay giữa đời ngũ trược ác thế này (nghĩa lý câu này thực hiếm có, đó là bí quyết của tông Tịnh Ðộ từ nghìn xưa, nhất đán mở tung ra cho mọi người thấy rõ). Nay Ngài đem toàn thể quả Phật ấy, Ngài trao cho các chúng sinh ở đời Ngũ Trược ác thế này, theo đấy mà tu. Ðó là cảnh giới hành vi của chư Phật; vậy chỉ có Phật Thích Ca cùng với chư Phật khắp 10 phương mới thấu suốt hết được. Ngoài giới Phật còn 9 giới khác (là Bồ Tát, Duyên Giác, Thanh Văn, thiên, nhân, a tu la, địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh) thì tự lực mình chẳng thể nào mà tự hiểu, tự tin được.
Trong đoạn này, chữ “chư chúng sinh” là chỉ riêng cho hạng chúng sinh ở đời ngũ trược ác thế.
Chữ “nhất thiết thế gian” là chỉ suốt các khí thế gian trong 4 cõi và các tình thế gian trong 9 pháp giới (khí thế gian là trái đất, tình thế gian là những thân chúng sinh ở trên trái đất).
Trong đoạn văn Khuyến Hạnh Lưu Thông, lời chư Phật ở khắp mười phương khen ngợi đức Giáo Chủ Thích Ca đến đây là hết.
Dưới đây là lời đức Giáo Chủ Thích Ca tự kết lại mà than thở với tôn giả Xá Lợi Phất và giao phó cho tôn giả.
Kinh văn: Xá Lợi Phất! Ðương tri ngã ư ngũ trược ác thế hành thử nan sự, đắc a-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề, thuyết thử nan tín chi pháp, thị vi thậm nan!
Việt: Xá Lợi Phất ơi! Ông nên biết rằng: Ở giữa cõi đời có năm trược ác mà ta đã làm việc rất khó kia: là đã chứng được a nậu đa la tam miệu tam bồ đề và ta đã nói phép khó tin ấy, để cho hết thảy các thế gian nghe, như thế thực là những việc rất khó.
Chỉ có một hạnh tu “Tín, Nguyện, Trì Danh” chẳng xen lẫn vào một việc nào khác nữa, mà chuyển được cả năm trược ác, đó là một cảnh giới tu hành chẳng thể nào nghĩ bàn được. Giả sử không có đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni giáng sinh vào đời ác thế, không có Ngài thị hiện tu đắc đạo tâm Bồ Ðề, không có Ngài dùng trí tuệ lớn lao và tâm thương cứu rộng lớn để thấy rõ hạnh tu này, để thực hành hạnh tu này, để nói ra hạnh tu này thì bọn chúng sinh ta nhờ vào đâu mà bẩm thụ được hạnh tu này?
Nhưng loài người chúng ta:
a) Hiện đang ở trong Kiếp Trược quyết định là bị cái thời đại vẩn đục này nó vây bọc ta, nó làm khổ não, áp bức ta.
b) Hiện đang ở trong Kiến Trược, quyết định là ta bị cái trí xảo trá của bọn tà sư nó trói buộc.
c) Hiện đang ở trong Phiền NãoTrược, quyết định là ta bị cái tâm tham dục nó hãm hại và cái nghiệp độc ác nó kích thích.
d) Hiện đang ở trong Chúng Sinh Trược, quyết định là ta đành chịu ở yên trong cái thân bẩn thỉu này mà chẳng biết rõ là bẩn thỉu, cam chịu cái thân hèn kém, yếu ớt này mà chẳng thể nào bay cao lên được.
e) Hiện đang ở trong Mạng Trược, quyết định là ta bị cái ma lực vô thường nó nuốt mất đời sống nhanh như tia lửa chớp nhoáng, trở bàn tay không kịp (năm đoạn này nên hợp với 5 đoạn trên nói: Nếu không có phép Niệm Phật này thì quyết không độ thoát được ra ngoài 5 vòng trược ác).
Nếu chúng ta không biết đích xác phép tu Tín Nguyện Trì Danh này là một việc rất khó khăn, thì có lẽ ta cứ mơ tưởng có một phép tu nào khác có thể cứu ta ra khỏi được vòng ngũ trược! (Ta nên biết cái tôn chỉ thậm nan này, từ xưa đến nay, chưa ai nói rõ ra được đích xác như thế!)
Kiếp người chúng ta ví như ở vào trong cái nhà lửa cháy bốn bên rồi, mà vẫn cứ nô đùa, bàn cãi suông chơi với nhau hoài. Chỉ có ai biết đích thực là một việc rất khó khăn thì mới giết cho chết hẳn cái tâm tham dục, tà ngụy đi, và mới biết quý báu phép tu Nhất Hạnh này (tức là phép Niệm Phật chánh định: Nhất Hạnh Tam Muội hay là Niệm Phật Tam Muội. Bảo cho người biết quý báu phép tu niệm Phật là công đức đến muôn đời về sau).
Chỉ vì thế mà đức Phật Bổn Sư phải hết lời nói đi, nói lại: “Khó lắm! khó lắm!”Ðó là thâm tâm Ngài muốn phó chúc, bọn ta cần phải biết.
Phần Phổ Khuyến đến đây là hết.
KẾT KHUYẾN
Kinh văn
Hán: Phật thuyết thử kinh dĩ, Xá Lợi Phất cập chư tỳ khưu, nhất thiết thế gian, thiên, nhân, a tu la đẳng, văn Phật sở thuyết, hoan hỷ tín thụ, tác lễ nhi khứ.
Việt: Phật nói kinh này, khi đã xong rồi, ngài Xá Lợi Phất và các tỳ khưu, hết thảy thế gian, cõi trời, cõi người, cõi A Tu La và các cõi khác, nghe lời Phật nói, vui mừng tin chịu, làm lễ rồi đi.
Pháp môn Niệm Phật này thực chẳng khá nghĩ bàn, rất khó tin, khó hiểu, trong đệ tự Phật, không có một người nào biết đến mà hỏi Phật.
Trí tuệ Phật soi thấy cơ duyên chúng sinh thành Phật đã chín rồi. Mặc dầu không ai hỏi, mà tự Phật nói ra phép Niệm Phật này khiến chúng sinh được 4 lợi ích (đây là thích nghĩa 8 chữ: hoan hỷ, tín thụ, tác lễ, nhi khứ).
Phật nói phép tu Niệm Phật này, giống như một trận mưa hợp thời làm cho nhân vật, cỏ cây mát mẻ, thấm nhuần, nảy nở, lớn lên, thế gọi là “hoan hỷ” (vui mừng). Ðó là phần lợi ích do pháp Phật bố thí cho toàn thể thế giới.
Trong tâm không còn nghi hoặc một tơ hào nữa, thì gọi là Tín (tin). Lãnh nạp lấy nghĩa Phật vào tâm chẳng giờ phút nào quên, thế gọi là Thụ (chịu). Ðó là hai phần lợi ích vì tin lời Phật mà làm thiện, vì chịu lời Phật mà bỏ ác.
Ðem thân mạng quay về với Phật, ứng hợp với toàn thể pháp giới trùng trùng duyên khởi, thế gọi là “tác lễ” (làm lễ). Ðó là phần lợi ích được hiểu suốt vào Ðệ Nhất Nghĩa của Phật.
Nhưng trong mỗi một lợi ích, thực ra lợi ích nào cũng có đủ cả 4 lợi ích (được một lợi ích tức là được cả 4 lợi ích). Ðấy chỉ là muốn cho dễ hiểu mà tạm phân biệt ra làm 4 đấy thôi. Người nghe kinh tự mình đã thực hành, đã được 4 phần lợi lợi ích rồi, cứ một chiều tiến mãi không lui, đem kinh này đi mà lưu thông truyền bá khắp nơi để báo đền ân Phật, thế gọi là “nhi khứ” (rồi đi). Ði mãi suốt đời vị lai, giáo hóa cho mọi người được 4 phần lợi ích ấy nó vô cùng tận.
Kinh Phật có nói: “Ðến đời Mạt Pháp, ức vạn người tu hành, ít khi có một người đắc đạo, chỉ còn nhờ vào phép tu Niệm Phật này mà được độ thoát thôi!” Than ôi! Ðời bây giờ chính là đời Mạt Pháp rồi (thổ lộ hết tâm can), nếu chúng ta bỏ pháp môn Niệm Phật này là một pháp bất khả tư nghị, thì còn có pháp môn nào để cho ta tu học được nữa?
Húc tôi đây, khi mới xuất gia, tự phụ là một nhà Thiền Tông, khinh thường các giáo điển, dám nói bậy rằng phép tu “trì niệm danh hiệu Phật” chỉ là một phương tiện bày ra riêng cho bọn người trung căn và hạ căn (hiện thân thuyết pháp). Về sau, nhân vì tôi đau nặng, mới chịu phát tâm cầu sinh về Tây Phương, rồi tôi lại chịu nghiên cứu 2 bộ sách Diệu Tông và Viên Trung, cả bộ Di Ðà Sớ Sao của ngài Vân Thê và nhiều sách khác nữa, tôi mới biết phép Niệm Phật Tam Muội thực là một viên ngọc châu quý giá vô ngần, tôi mới chịu hết lòng chấp trì danh hiệu Phật với một sức mạnh bằng vạn con trâu cũng không kìm lại được.
Ông Khứ Bệnh, bạn thân của tôi, ông theo nghiệp tu Tịnh Ðộ đã lâu năm, ông muốn cho tôn chỉ rất lớn của bộ kinh Phật Thuyết A Di Ðà này được thật rõ rệt mà lời nói đừng có phiền phức, ông thỉnh cầu tôi làm ra Yếu Giải, và ý tôi cũng muốn cùng với tất cả hữu tình trong pháp giới này cùng sinh sống ở cõi Cực Lạc, lý ưng tôi không thể từ chối được (lời nói bất đắc dĩ). Tôi cầm bút viết vào ngày 27 tháng 9 năm Ðinh Hợi đến mồng 5 tháng 10 vừa xong, tất cả có 9 ngày, hoàn thành bộ A Di Ðà Kinh Yếu Giải. Tôi cầu nguyện mỗi một câu, một chữ trong bộ sách này sẽ là một món tư lương để người ăn đường về Cực Lạc (quả nhiên mỗi chữ là một món ăn thực sự). Và mỗi một người được thấy hay một người được nghe, sẽ đều được lên ngôi Bất Thoái cả. Cả người tin và người nghi cũng gieo được mầm đạo, người tán thán và người phỉ báng cũng đều được giải thoát về Tịnh Ðộ.
Tôi ngưỡng mong chỉ có chư Phật, chư Bồ Tát nhiếp thọ chứng minh cho. Và các bạn đồng học tùy hỷ gia hộ cho.
Phật Thuyết A Di Ðà Kinh Yếu Giải đến đây là hết.
Tây Hữu đạo nhân, Ngẫu Ích Trí Húc gác bút viết lời bạt này năm 49 tuổi.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)