THÍCH TÂM TRỌNG

THÍCH TÂM TRỌNG
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT

Thứ Hai, 11 tháng 6, 2018

CÁC BÀI VĂN TẾ - CẢNH SÁCH 5

CÁC BÀI VĂN TẾ - CẢNH SÁCH 156 - VĂN CẢNH SÁCH BUỔI SÁNG Bài cảnh sách trong nhà tịnh nghiệp, Tuân lời vàng cổ triết Thiền tông, Muốn tu Tịnh độ thành công, Cốt sao ba nghiệp sạch không làu làu. Thân khẩu ý trước sau tinh khiết, Thời hiện tiền tịnh nghiệp mới nên, Trau dồi ba nghiệp cho chuyên, Vãng sinh Tịnh độ nhân duyên lu mờ. Ngày đến phải sáu thời tinh tiến, Ý miệng thân ba nghiệp cần chuyên, Thân cần lễ bái tọa thiền, Miệng cần phúng tụng lặng yên ít lời. Ý cần chuyên không rời tịnh niệm, Ðêm và ngày kế tiếp không ngơi, Mới hay Tịnh độ hiện thời, Rõ ràng tam muội sáng ngời tự tâm. Ngoài sáu thời chuyên tâm tu tập, Không chuyện trò đón tiếp vãng lai, Nếu còn giao thiệp bề ngoài, Chỉ e tịnh niệm phí hoài công phu. Quy ước ấy ai dù không giữ, Ngôi chủ đường xét xử phạt ngay, Ba lần can gián cố chày, Thời mời ra khỏi nhà này không dung.* 157 - VĂN CẢNH SÁCH PHÂN CÔNG Ðây bài cảnh sách phân công, Ðảm đang chức sự trong tùng lâm ta, Cúng dàng Phật Pháp Tăng già, Làm trong nghĩa vụ lợi ta lợi người. Nên chẳng quản hao hơi nhọc sức, Cố gắng làm công đức vẹn tuyền, Lẽ đâu ngại khó ngại phiền, Mượn điều lẫn tránh ngồi yên sao đành ? Lỡ ra khuyết điểm phát sinh, Công việc chung cũng trở thành dở dang. Nên suy xét đảm đang nghiêm túc, Phục vụ người tức phục vụ mình, Chăm lo củi nước hoàn thành, Cũng là đường lối tu hành cần chuyên. Giúp ta giác ngộ cơ huyền, So đo hơn thiệt não phiền càng tăng. Tổ Tào Khê siêng năng giã gạo, Tổ Tuyết Phong tần tảo làm cơm, Qui Sơn bếp nước chăm nom, Kính Sơn quét tước thường làm vệ sinh, Tổ Bách Trượng thanh minh trong chúng, Ngày không làm thời cũng không ăn, Thọ Xương cầy cấy chung thân, Ðều là những bậc vĩ nhân cửa Thiền. Gương xưa mãi mãi còn truyền, Cần lao phục vụ lực điền tận tâm. Nay đại chúng tùng lâm cộng sư,ï Chức vụ thường thiếu sự gắng công, Ai đủ sức nên xung phong, Rụt rè khoán phế việc chung sao đành, Có công Phật Tổ mới thành, Không thời biển khổ lênh đênh đời đời.* 158 - VĂN CẢNH SÁCH THẢO ÐƯỜNG Bài cảnh sách Thảo Ðường phúng tụng, Xin bạch cùng thất chúng Thiền gia, Thế giới nào khác không hoa, Thân người huyễn hóa như là chiêm bao. Mọi sự vật trước sau đều thế, Là vô thường không thể cậy trông, Nhân tu nếu chẳng sớm trồng, Thời theo cảnh huyễn mãi trong luân hồi. Cũng vì vậy Như Lai thương xót, Hiện ra đời thuyết pháp dạy khuyên, Khiến cho tắt lửa não phiền, Cạn dòng ái dục thoát miền hôn mê. Hết sinh tử xa lìa phiền não, Chứng Niết bàn vui đạo nhiệm mầu, Phép tu giải thoát có nhiều, Tóm tắt thì có ba điều như sau : Tham thiền tu quán làm đầu, Với môn niệm Phật để cầu vãng sinh, Phép tham thiền không thành không lập, Phải tự mình khế hợp chân như, Túc căn nếu chẳng trồng sâu, Ðường đi lắm ngã dễ hầu tới nơi, Huống đời mạt pháp lòng người, Kém phần phúc tuệ trây lười ngả nghiêng. Phép tu quán thâm huyền mầu nhiệm, Xét cho cùng tâm niệm sát na, Hữu vô hai chữ đều xa, Nếu không trí huệ khó mà thành công. Môn niệm Phật phổ thông đệ nhất, Thực rõ ràng đường tắt không hai, Kể từ cổ vãng kim lai, Hiền ngu già trẻ gái trai đều thành. Tứ liệu giản rành rành kể rõ, Tu môn nào dễ khó phân minh, Cốt sao chuyên nhất cho tinh, Chớ ngờ rằng Phật với mình cách xa Ðem sáu chữ Di Ðà đối tượng, Tâm tưởng đều không vướng tạp duyên, Tai nghe bụng nghĩ mắt nhìn, Rõ ràng như Phật hiện tiền trước ta. Ví phút chốc lơ là tản mạn, Thời hôn trầm tán loạn hiện ngay, Phát tâm tinh tiến cao dày, Nối liền tịnh niệm đêm ngày chớ ngơi. Dù tịnh niệm còn chưa kế tiếp, Cứ giữ gìn tịnh nghiệp cho chuyên, Tâm tầm Tịnh độ tưởng liền, Dốc lòng cứ niệm thường xuyên Di Ðà. Thời hiện tại không xa gang tấc, Ngay chốn này Cực lạc rồi đây, Không cần đợi đến sau này, Thân về an dưỡng tháng ngày thanh cao. Ðược thắng lợi dồi dào đến thế, Há lại không quyết chí tu trì, Ðem thân giả tạm suy nghi, Sinh già bệnh chết thọ kỳ bấp bênh, Mà đổi lấy thân vô lượng thọ, Là pháp thân không có động dao, Vui này há chẳng vui sao, Vãng sinh Tịnh độ vui nào còn hơn. Tụng rằng : Trong ba cõi lửa phiền nóng bức, Nước tám dòng công đức thanh lương, Muốn xa cõi uế vô thường, Ðem thân an trụ Lạc bang quê nhà. Thời sáu chữ Di Ðà kế niệm, Như bánh xe liên tiếp quay hoài, Di Ðà Phật chẳng riêng ai, Trí nhân ngày tháng hôm mai tự cường. Kìa tám vạn bốn ngàn hảo tướng, Vốn không ngoài tâm tưởng người ta, Há phiền đức Phật Thích Ca, Ấn chân biến cõi Sa Bà trang nghiêm.* 159 - VĂN CẢNH TỈNH THẾ NHÂN Hỡi ôi ! Ta nên hiểu rằng : Quang cảnh trăm năm, Chỉ trong giây phút, Huyễn thân tứ đại, Há được lâu dài. Tháng ngày vất vả lắm thay, Một sớm nghiệp duyên nặng chĩu, Không biết viên minh nhất tính, Chỉ ham tham dục sáu căn. Công danh lừng lẫy, Ðều là đại mộng, một trang; Phú quý vinh hoa, Khó tránh vô thường hai chữ. Tranh nhân tranh ngã, Rốt cuộc thành không. Khoe giỏi khoe tài, Cuối cùng chẳng thực. Lửa phun, gió thổi, Khi thiêu không kể trẻ già; Hốc núi, khe sâu, Vùi xác anh hùng không ít ! Tóc xanh chưa được mấy, Mà tóc trắng đã đầy đầu, Việc mừng vừa tới nơi, Mà việc buồn đã xâm đến; Một bao máu đặc, Quanh năm ngậm đắng nuốt cay, Bảy thước thân còm, Nảy ý tham tiền tiếc của. Hơi thở ra, khó đã hít được vào, Nay còn đây, ngày mai khôn giữ được. Sóng ái hà, chìm nổi nổi chìm, Lửa hỏa trạch, nấu nung nung nấu, Chẳng muốn xa rời lưới nghiệp. Chỉ rằng : Chưa có công phu, Lệnh vua Diêm la đã sai đòi bắt. Thì Thôi tướng công đâu dám dung tha, Ngoảnh cổ lại thân nhân đều chẳng thấy. Chung quy tạo nghiệp, Báo sự mình mang; Quỷ vương ngục tốt, Coi thường xâu xé. Rừng kiếm núi đao, Khổ sở không cùng. Hoặc vào Thiết tiêu ngục thẳm, Hoặc ở băng giá núi cao, Bị nấu nung muôn tử ngàn sinh, Chịu kìm cặp một dao hai đoạn. Ðói ăn sắt nóng, Khát uống đồng sôi, Mười hai giờ cam chịu đắng cay, Năm trăm kiếp bóng hình chẳng thấy ! Chịu đủ tội nghiệp, Lại vào luân hồi, Thân này từ trước mất đi, Ðổi lấy túi cơm giá áo, Hàm sắt đóng yên, Mang lông mang vẩy. Ðem thịt dâng người, Dùng thân trả nợ. Sống bị búa rìu, Cay đắng lửa bỏng nước sôi. Chết đi oan khiên, Chồng chất hối sao cho kịp. Chi bằng thẳng tới kêu van, Chớ đợi muôn vàn tội lỗi. Trộm nghĩ : Người sinh cõi thế, Cũng như cánh bướm bông hoa, Vận hạn tới nơi, Nào khác móc chiều sương sớm. Ðức Phật mình cao trượng sáu, Cũng còn tịch diệt chốn Song Lâm. Lão Quân thuốc luyện chín viên, Trót hết, hồn quy nơi Thệ Thủy. Thương thay ! Bành Tổ, Sống tám trăm năm; Xót vậy ! Nhan Hồi, Tuổi hơn ba chục; Trẻ già dẫu khác, Sống chết hơn chi ! Lại như : Tam Hoàng tuổi thọ, Chẳng khỏi luân hồi, Ngũ Ðế sống lâu, Chưa là bất tử. Thần Nông thuốc giỏi, Chữa sao cho lại số trời; Biển Thước tài hay, Khôn cứu người về cõi đất. Tần Thủy Hoàng dời non lấp biển, Rồi ra mệnh táng đất Sa Khâu; Sở Bá Vương sức lực bạt sơn, Cũng đến phải Ô Giang tự vẫn. Tề Cảnh Công nuôi chín nghìn ngựa Tứ, Cũng thành công cốc hơn chi ! Hán Hàn Tín mười việc công lao, Há có được còn mãi mãi ? Mạnh Thường Quân ba nghìn kiếm khách, Cũng chết dần mòn; Khổng Phu Tử trò giỏi bảy hai, Nay ai sống nữa ? Ngao ngán nhẽ ! Chu, Tần, Hán, Ngụy, Chốn lâu đài này hóa chốn hoang vu : Tiếc thương thay ! Tấn, Tống, Tề, Lương, Nơi thành quách cũng là nơi quạnh quẽ. Nào những bậc Tiền Hiền Cổ Thánh ! Ai đã từng chất ngọc chứa vàng ? Ai đã từng lưng đai áo tía ? Ai đã từng đoạt lợi tranh danh ? Ai đã từng khoe văn diễu võ ?... Hỡi ôi ! Ðời người ví tựa nước trôi xuôi, Trí dậy anh hùng ở khắp nơi, Hơi thở lúc còn lừng lẫy lắm, Vô thường hạn đến việc buông trôi ! Vậy nên có bài kệ rằng : Tất cả núi non đều tan vỡ hết, Tất cả biển sông đều sẽ khô kiệt, Tất cả cỏ cây đều sẽ tàn lụi, Tất cả muôn vật đều sẽ bại hoại, Mọi sự ái ân rồi sẽ ly biệt, Mọi sự phiền não cũng dần tan hết, Tình thân gia đình, Một sớm đoạn tuyệt, Duy có Pháp thân, Thường còn chẳng diệt. Than hỡi ! Ðời người trăm tuổi, Mau như việc gảy móng tay. Có khác gì chiếc bách trôi xuôi, Hay tương tự trời Tây thỏ lặn. Ðập hòn đá mong tìm ánh lửa, Bóng ngựa câu bên cửa sổ thoáng qua, Ngọn đèn lu trước trận phong ba Hạt móc sớm treo trên đầu ngọn cỏ. Thuyền đã tới bờ, Cây vừa độ mục, Chớp mắt ôi thôi ! Chỉ thấy sáng loè. Sao tình nghĩa còn nhiều vương vít, Mà ý hoài rối rít tơi bời ? Lưới trần gian khin khít muôn trùng, Trí vẫn để trong vòng lăn lộn ! Cảnh ái thằng nút thắt nghìn khoanh, Tình vẫn hướng vào nơi trói buộc. Núi Mạn chất chồng, Gò đống chỗ chỗ trưng bày; Lòng tham sâu thẳm, Biển khơi dòng dòng cuộn đến. Chỉ còn cách sớm hôm niệm Phật, Mới mong về cõi Tịnh yên vui.* 160 - KHUYẾN TU TỊNH ÐỘ Tu hành phương tiện nhiều đường, Niệm Phật một pháp lạ thường dễ thay. Gọi là cầu sinh Tây phương, Cực lạc thế giới ta nay nương về. Gọi là Tịnh độ tu trì, Nghĩa là thanh tịnh tội thì không sinh. Ba tạng mười hai bộ kinh, Kinh nào cũng nói phân minh pháp này. Tám muôn bốn ngàn môn nay, Môn nào cũng khuyến vãng rày Tây phương. Niệm Phật một pháp rõ ràng, Hơn cả mọi pháp chẳng đường nào hơn. Cổ đức bàn rằng các môn, Học đạo như kiến lên non bao giờ. Niệm Phật tu hạnh nhất thừa, Chóng như gió thổi buồm nhờ nước xuôi. Tây phương mà đã sinh rồi, Chỉ phần lên chẳng phần lui sau này. Thượng phẩm Phật quả chứng ngay, Hạ phẩm thì cũng hơn dầy Thiên cung. Công đức lớn rộng chẳng cùng, Tu thời dễ vậy nào chưng khổ gì. Gái trai già trẻ mới khi, Sang hèn Tăng tục cũng thì mặn chay. Ai ai tu cũng được dầy, Ngày mười câu niệm công nay cũng thành. Niệm rồi khấn nguyện phân minh, Sau này đến lúc Phật nghinh tiếp về. Xin người niệm Phật với tôi, Cùng sinh nước Phật rất vui thay là. Thấy Phật rồi khỏi luân hồi, Cùng như đức Phật độ loài quần sinh. Thấy đời mà tiếc cho đời, Có thân bất hoại mà người chẳng tu. Trải trong thế giới Diêm Phù, Dưới trời mấy kẻ thoát lò hoá thi, Chỉ có đạo Phật từ bi, Muốn qua đường khổ tu trì lấy thân. Tụng kinh niệm Phật chủng nhân, Tam quy ngũ giới giữ phần quả sau. Muôn ngàn ức kiếp vui lâu, Khỏi vòng quanh lại được mầu kim thân, Tu Tịnh độ cứ một bề, Chăm chăm lòng chỉ cầu về Tây phương. Công phu một chốc ngày thường, Sau rồi ức kiếp rộng trường được lâu. Ví người buôn bán mãi đâu, Một quan lợi hoá ra hầu làm hai. Trong lòng mừng rỡ chẳng thôi, Ấy là lợi nhỏ lòng thì hỷ hoan. Hay là mất vốn một quan. Trong lòng cũng tiếc lo toan ngại ngần, Ấy là vật ở ngoài thân, Ðược nhỏ mất nhỏ thường thần lo toan. Bụng sáng ta chẳng nghe bàn, Lặn lội mất lớn chẳng toan lo gì. Pháp tu nay khó gặp kỳ, May mà biết được lớn khi thế nào. Mừng nay lại biết là bao, Thế gian như mộng chiêm bao ra gì. Phật nói kinh Di Ðà khi, Ta thấy thế lợi ta thì nói ra, Sáu phương chư Phật đều là, Bảo rằng thành Phật nên mà tín khen. Phật bảo ta ở thế gian, Nói pháp xa rộng khó bàn khó tin. Pháp này phúc lớn nhân duyên, Ai mà gặp được quả nhiên thoát trần. Người thế gian tiểu khí thân, Thấy lời kinh giáo phân vân hững hờ. Ấy là bụng dạ hèn sơ, Còn nhiều tội chướng bơ vơ trong lòng.* 161 - VĂN TẾ CHƯ CHIẾN SĨ TRẬN VONG CHƯ LƯƠNG DÂN TỬ NẠN Hỡi chư chiến sĩ trận vong ! Hỡi chư lương dân tử nạn ! Nhơn sanh tự cổ thùy vô tử, Lưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh. Người sanh trên thế ai không chết, Ðể tấm lòng son rạng sử xanh. Ngọc tuy nát vẫn còn trong sạch, Tre cháy tiêu, mắt nọ cũng còn. Chí trung cang nghĩa khí sắc son, Gương Thánh Ðế nay còn nêu đó ! Nợ nước non ai ai cũng có, Phận công dân giao phó phải mang. Hễ đứng làm nghĩa sĩ anh trang, Phải đáng bực trung thần liệt nữ. Chí Quang Trung đâu màng sanh tử, Chuyện Trưng Vương thanh sử còn ghi. Nay tuy là u hiển biệt ly, Lòng tưởng nhớ các vì tha thiết, Tưởng là tưởng đức dày oanh liệt, Chốn chiến trường sương tuyết hy sinh. Nhưng chẳng may vì nước bỏ mình, Ấy cũng bởi trọn gìn trung đạo. Thôi nợ nước nay đà tận báo, Xin hồi đầu chánh đạo tu thân. Nương cửa thiền phủi sạch trược trần, Sớm kinh kệ chiều lần chuỗi hột, Lấy cam lộ nhành dương nước Phật, Rửa cừu oan diệt tất não phiền. Khá nguyện về Cực lạc Tây thiên, Mà an dưỡng thiêng liêng Bổn giác Sen chín phẩm nở ra trước mắt, Hết tử sanh quả Phật thấy liền. Hỡi các vì hồn có linh thiên, Nơi chín suối khá liền sám hối, Cầu Trời Phật xá tha tội lỗi, Dắt dìu ra khỏi lối u minh. Một lòng thiềng Phật Pháp trọn gìn, Hộ thí chủ khương ninh phước thọ. Giúp lê thứ, trợ an quốc tộ, Lập đức công báo bổ tứ ân, Lời thiết tha đạo đức phân trần, Xin liệt vị hiển linh chứng chiếu.* Nam Mô A Di Ðà Phật. 162 - VĂN TẾ CHIẾN SĨ TRẬN VONG ÐỒNG BÀO TỬ NẠN. Hỡi ôi ! Cơn tạo hóa xoay vần khó tránh, Cuộc trần gian hết thạnh đến suy, Chúng sanh phải chịu khổ nguy, Sanh già bịnh tử biệt ly thảm sầu. Việc may rủi biết đâu chọn lánh, Nhận làm người mang gánh sự trần, Tam cang mới nặng muôn cân, Ngũ thường xử vẹn là phần tu mi. Lẽ sống thác là tùy số phận, Nghĩa vụ tròn đâu quản gì thân, Mình là bổn phận con dâu, Quốc gia hữu sự báo ân đã đành. Vì tổ quốc lợi quyền chủng tộc, Giận quân thù chí dốc tòng quân, Ra đi dạ luống bâng khuâng, Màn sương gối tuyết vô chừng gian nan. Khi lặn suối trèo non vượt bể, Khi lên truông qua ải xuống đèo, Ðai cơm, bầu nước, gươm đeo, Chút thân sống thác do theo số trời. Ra nhập ngũ thân thời chẳng kể, Khổ thay vì cha mẹ ở nhà, Nhớ con thổn thức canh gà, Thương con dựa cửa trông mà sầu đau. Khi sớm tối ai vào thăm viếng, Lúc ốm đau lo chuyện thuốc thang ? Ðêm ngày giọt lệ chứa chan, Cầu trời con đặng thoát nàn đao binh. Chữ trung đặng, mất tình hiếu thảo, Ðánh liều theo máy tạo vần xoay, Trước cờ da ngựa bọc thây, Tiếng kêu cứu nước làm khuây sao đành! Còn thương hỡi gia đình thảm cảnh, Vợ cùng con hiu quạnh trước sau, Con thơ vợ yếu lao nhao, Lấy ai bảo bọc đói đau cơ hàn ? Ðêm tủi phận dở dang duyên nợ, Ngày gượng vui qua đỡ thời gian, Trông cho chiến thắng khải hoàn, Dưỡng nuôi con dại hiệp đoàn phu thê. Nhớ đến cảnh ủ ê tấc dạ, Cùng anh em chung chạ một nhà, Xóm làng cô bác ông bà, Nguyện cầu binh cách hết mà về quê. Người muốn vậy không hề được vậy, Bãi trường sa thịt nát máu tơi, Tên rơi đạn lạc hết đời, Nắm xương vô chủ lạc nơi chiến trường! Người nằm chết ngổn ngang bờ bụi, Dưới hố hầm chân núi cội cây, Kẻ thời ngọn lửa thiêu thây, Người thời trôi lấp sông nầy rạch kia. Ai có phước thi hài chôn lấp, Kẻ nợ phần phó mặc cá chim, Hỡi ơi ! Nợ nước trọn niềm, Ðến ngày chung cuộc xác tìm đâu ra ? Vợ con với mẹ cha đâu biết, Chừng hay tin thì việc đã rồi, Nợ trần phủi sạch ai ôi, Ghi vào lịch sử muôn đời ngợi khen ! Khen anh dũng xông pha tên đạn, Liều thân sinh cứu nạn quốc dân, Sống làm Tướng, thác làm Thần, Non sông gánh vác tử phần đao binh. Chùa thỉnh Phật lập đàn chẩn tế, Tụng cầu siêu cáo lễ Phật trời, Trận vong chiến sĩ vì đời, Thoát vòng lục đạo về nơi trai đàn. Nén hương đốt gội nhuần trước án, Tế anh linh tỏ rạng danh thơm, Ít nhiều hoa quả kỉnh đơm, Gọi là tưởng nhớ người ơn giúp đời. Dạ thương tiếc anh hùng dũng cảm, Nguyện vong hồn sinh ký tử qui, Hồi đầu nương cửa từ bi Về miền Cực lạc Liên trì hoá sinh. Chúng tôi đã lòng thành khấn vái, Phật mười phương quảng đại độ siêu, Nương đàn chẩn tế tiêu dao, Chư vong chiến sĩ đồng bào chứng tri.* 163 - MÔNG SƠN THÍ THỰC DIỄN NGHĨA Trên kính thỉnh thập phương chư Phật, Tận hư không pháp giới mười phương ; Kim cương Hộ pháp thần vương, Thiên long bát bộ dẫn đường chúng sinh. Nhớ Ðịa Tạng u minh giáo chủ, Phóng hào quang cứu khổ độ mê; Từ bi bản nguyện lời thề, Chúng sinh độ tận Bồ đề chứng nên. Xin Ðại thánh Át Nan Tôn giả, Dẫn cô hồn sáu ngả chúng sinh ; Mười phương thập loại hữu tình, Bảo nhau cùng đến nghe Kinh kệ vàng. Cam lộ hiến hai hàng nam nữ, Lễ vật bày các thứ đầy mâm ; Hôm nay trai chủ thành tâm, Thỉnh chư Hiền Thánh giáng lâm đàn tràng. Nhờ phép mầu tựa nương chư Phật, Tụng chân ngôn bí mật tối linh ; Cô hồn mười loại chúng sinh, Về đây thụ hưởng cơm canh cúng dàng. Không hóa có sẵn sàng ăn uống. Ít biến nhiều nhờ lượng phép mầu; Cô hồn già trẻ cùng nhau, Hãy nghe sự tích trước sau mấy lời. 1. Thiết trai hội do ai mà có ? Lập đàn tràng bá thí vì đâu ? Tự Ngài Khánh Hỷ khởi đầu, Quan Âm cứu khổ phép mầu hiện ra. Tiêu Diện quỷ đấy là Bồ Tát, Hóa thân ra cứu vớt chúng sanh ; Khuyên nên niệm Phật tụng kinh, Nhờ câu Thần chú oai linh nhiệm mầu. Cô hồn đâu đấy tới mau, Thụ Cam lộ vị còn đâu hơn này. Ðao binh kệ tán sau đây : 2. Những ai vua chúa xưa nay, Phân chia biên giới tháng ngày giữ nhau; Võ văn các bậc anh hào, Vì dân vì nước cùng nhau giữ gìn. Cành vàng lá ngọc bao phen, Ngựa xe rong ruổi trận tiền tử sinh. Ai thay sống chết cho mình, Số chung hạn tận u minh rước mời. Cô hồn hỡi cô hồn ơi ! Thụ Cam lộ vị đêm dài còn lâu ! 3. Những ai khanh tướng công hầu, Nhà cao cửa rộng biết bao công trình ; Kinh luân chất chứa bên mình, Trí nhân lễ nghĩa tuyển sinh thí trường. Văn chương lỡ bước lầm đường, Học tài thi phận nhỡ nhàng công danh. Thiệt mình riêng chịu đã đành, Khó khăn nhà cửa tan tành đôi nơi. Cô hồn hỡi cô hồn ơi ! Thụ Cam lộ vị cho đời nên thơ ! 4. Những ai mưu lược binh cơ, An bang định quốc cõi bờ chí cao ; Ðánh đông dẹp bắc anh hào, Tướng binh thống lĩnh ra vào trong tay. Tiểu trừ giặc cướp tan ngay, Quên nhà bỏ mạng kế hay cứu đời. Cô hồn hỡi cô hồn ơi ! Thụ Cam lộ vị của người cúng dâng. 5. Những ai cậy thế binh hùng, Sa cơ thất thế bên sông thiệt đời. Hiền ngu già trẻ gái trai, Số cùng mệnh tận quê người bơ vơ. Không quen đất nước bao giờ, Cho nên đói khát bên bờ lả lơi. Cô hồn hỡi cô hồn ơi ! Thụ Cam lộ vị cho đời quang vinh ! 6. Những ai uổng tử trong thành, Gió mưa sấm chớp hoành hành thảm thê ; Ma kêu quỷ rú bốn bề, Khóc than dậy đất ủ ê oán hờn. Biết ai danh phận kém hơn, Thương thay mười loại cô hồn là ai ? Cô hồn hỡi cô hồn ơi ! Thụ Cam lộ vị tuyệt vời thơm ngon ! 7. Những ai binh tướng kinh hồn, Hai bên chiến trận mưa tuôn mây sầu ; Âm vang chiêng trống hồi lâu, Xé gan vỡ mật khí hào bốc lên. Rợp trời cờ kiệu hai bên, Chúng sinh nghiệp chướng não phiền thở than. 8. Trận tiền thành đống tro tàn, Tướng không chỗ trốn nguy nan bỏ đời. Ngựa xe tên đạn bời bời, Ðội binh tán loạn khắp nơi tan tành. Lại còn gươm giáo vây quanh, Ðạn tên bắn xé thân hình đôi nơi. Khổ đau lắm cô hồn ơi ! Lại đây sám hối tội thời tan ngay. 9. Sa vào trận địa nguy thay, Chiến trường bỏ mạng ai hay thế nào. Xe đè ngựa kéo lộn nhào, Máu trôi thịt nát chó vào tha xương. Ðoạt mồi hổ đói đón đường, Tranh nhau cắn xé thảm thương mạng người. Cô hồn hỡi cô hồn ơi ! Thụ Cam lộ vị cho đời giải oan ! 10. Những ai sinh chỗ vua quan, Trung tâm văn hoá mãi ham quê người. Trai lành gái tốt những ai, Bán làm tôi tớ cho người phương xa. Họ hàng tìm kiếm chẳng ra, Chết nơi đất khách xót xa ngậm ngùi. Cô hồn hỡi cô hồn ơi ! Thụ Cam lồ vị ngọt bùi mới cam ! 11. Những ai con Bắc cha Nam, Ngựa xe tan vỡ biết làm sao đây ? Nhà tan nước mất khổ thay, Ðường đi cách trở đắng cay muôn phần. Họ hàng thân thích xa gần, Biết ngày nào được quây quần gặp nhau. Cô hồn thủy lục những đâu ? Mau về truy điếu nguyện cầu sạch trong. 12. Tuyệt đường lương thực tay không, Lại còn chết đói ngoài đồng tha ma. Bị quân cướp giật không tha, Giết người cướp của cùng là tranh nhau. Thương thay ác nghiệp cơ cầu, Một khi đã đến tránh đâu tội trời. Cô hồn hỡi cô hồn ơi ! Thụ Cam lộ vị cho đời ung dung ! 13. Những ai đói rét lạnh lùng, Mùa đông tháng giá hãi hùng gớm ghê ! Tên rơi đạn lạc tứ bề, Ðầy trời mưa tuyết đi về khó khăn. Áo quần che chẳng kín thân, Rét run cầm cập tử thần đến nơi. Cô hồn hỡi cô hồn ơi ! Thụ Cam lộ vị cho đời ấm no ! 14. Những ai rắn cắn hổ vồ, Thiên lôi dịch lệ cơ đồ nát tan. Tường siêu nhà đổ ngập tràn, Trôi sông thắt cổ chết oan đầy đường. Ai người thân thích xót thương, Gọi là cúng tiến nắm xương rã rời. Cô hồn hỡi cô hồn ơi ! Thụ Cam lộ vị thảnh thơi lắm mà ! 15. Những ai cướp của đất nhà, Lại còn sát hại chẳng tha mạng người. Kẻ này hung ác nhất đời, Phép vua luật nước chẳng coi ra gì. Bắt giam vào ngục một khi, Gậy roi đánh đập thân thì nát tan. Lại còn cắt thịt moi gan, Ðể đền tội ác hết van lạy trời. Cô hồn hỡi cô hồn ơi ! Thụ Cam lộ vị cho đời tỉnh ra ! 16. Những ai hiếu thuận mẹ cha, Cưu mang chín tháng khó mà báo ân. Công lao cúc dục ân cần, Tu trì hiếu đễ được phần nào chăng. Oan gia ngỗ nghịch hung hăng, Rồi ra mệnh táng hết đường nào đi. Một mai về cõi âm ty, Tội kia phúc nọ biết gì đúng sai. Cô hồn hỡi cô hồn ơi ! Thụ Cam lộ vị cho đời thanh cao ! 17. Những ai mang nặng đẻ đau, Lâm bồn một sớm ai vào thăm nom. Tấm thân sinh nở gầy còm, Ðau như dao cắt sớm hôm hãi hùng. Sinh không tử lại hoàn không, Thương thay số phận mảnh mong một đời. Cô hồn hỡi cô hồn ơi ! Thụ Cam lộ vị sau đời dài lâu ! 18. Những ai buôn quán bán cầu, Sông Ngô bể Sở gặp đâu là nhà. Tham tài bỏ mạng phương xa, Hồn đường phách sá biết là cậy ai. Vợ con vái đất kêu trời, Cũng đành vĩnh biệt ngậm ngùi mà thôi ! Cô hồn hỡi cô hồn ơi ! Thụ Cam lộ vị tuyệt vời ngon ghê ! 19. Những ai sông nước đi về, Lênh đênh sóng gió thuyền bè ngả nghiêng. Ðắm chìm trôi giạt một phen, Còn đâu xuôi ngược xuống lên nữa mà. Xác trôi chim mổ quạ tha, Thương thay chôn cất biết là cậy ai ? Cô hồn hỡi cô hồn ơi ! Thụ Cam lộ vị tuyệt vời cao sang ! 20. Những ai là kẻ lang thang, Cửa nhà chẳng đoái xóm làng chẳng trông. Sinh nhai nghề nghiệp cũng không, Vui chơi ca hát lầu hồng sớm khuya. Xóm đào ngõ hạnh đi về, Ðêm trường mờ mịt say mê nói cười. Bơ vơ góc bể chân trời, Bạn bè dư đãng biết người là ai ? Cô hồn hỡi cô hồn ơi ! Thụ Cam lộ vị tuyệt vời biết bao ! 21. Những ai cạo bỏ tóc râu, Tìm thầy để học đạo mầu từ bi. Dù gặp phải gian nguy hiểm trở, Vẫn một lòng quyết chí theo thầy ; Chân không chưa ngộ lý hay, Vô thường hai chữ thoát ngay khó mà. Nguyện giác linh Phật Ðà tiếp dẫn, Chứng vô sinh pháp nhẫn cao siêu. 22. Khoa nghi diễn đọc mấy điều, Gọi là hồi hướng ít nhiều chúng sinh. Nay trai soạn lòng thành cúng tiến, Cùng hương hoa phẩm vật kính dâng ; Cầu cho vong giả siêu thăng, Phúc lưu tín chủ số hằng hà sa. Xin kính tạ các tòa chư vị, Cùng Thiên Long hoan hỷ hộ trì ; Cát tường như ý từ bi, Nhân duyên công đức độ trì chúng sinh. A Di Ðà chứng minh, Cùng thành Phật đạo cùng sinh liên đài.* 164 - VĂN TẾ CÔ HỒN Hỡi ôi ! Miền U cảnh lạnh lùng tăm tối, Chốn Huỳnh tuyền nhiều lối nhọc nhằn. Ẩn dạ đài đợi dứt kiếp căn, Cõi Tịnh độ siêu thăng chưa được. Ấy bởi tội lỗi gây kiếp trước, Nhiều nghiệt oan, ít phước đức công. Nên phải mang phiền não dập dồn, Chịu thống khổ, phách hồn xiêu lạc. Cầu chư Phật oai thần tế bạt, Lên Thiên đàng, siêu thoát trần ai. Nay trai diên đạm bạc kỉnh bày, Xin chư vị tề lai thọ hưởng. Giúp lê thứ quốc gia thạnh vọng, Hộ đạo tràng tăng trưởng cơ duyên, Ðộ mười phương sanh chúng bình yên, Cùng thí chủ diên niên hạnh phúc. Lụy trào đế hầu vương đáng kính, Vận nước vong khó tính mưu thành. Xưa cửu trùng điện các liệt oanh, Rủi một phút tan tành cơ nghiệp. Chư tướng soái binh cơ quyền nhiếp, Chốn chiến trường nhiều dịp tận trung. Vì sa cơ hồn xuống Diêm cung, Nơi dương thế âm dung đà khuất. Tài bút nghiên văn thần báo quốc, Tấm lòng son công chất nhà vàng. Nào hay đâu dị lộ tìm đàng, Rồi một thuở danh vang tể tướng. Nhà cơ cẩn thấy trời bốn hướng, Lo bút nghiên vụ tưởng công danh. Mười năm ngồi cửa sổ lạnh tanh, Ba thước đất vùi danh tài tử. Nhàm cuộc thế lánh thân am tự, Nương Phật đường gắng giữ kệ kinh. Ðèn tắt khuya Thiền thất hư minh, Hồn theo gió đăng trình âm cảnh. Thảm cho đấng tu chơn dưỡng tánh, Chốn lâm tòng đói lạnh không màng. Lòng dốc trông nhập đặng Tiên bang, Chí chưa toại tầm đàng Ðịa phủ. Những sĩ tốt tùng chinh đội ngũ, Tại trận tiền củ củ oai hùng. Chịu tuyết sương mưa nắng lạnh lùng, Lằn tên đạn không dung tánh mạng. Lo đồ lợi thương hồ buôn bán, Nương thủy triều ngày tháng kinh thương. Sóng ba đào phong võ khó lường, Thân trôi nổi gởi xương bụng cá. Mười tháng chẵn mang con trong dạ, Lúc lầm bồn mạng đã tìm Tiên. Thị huyết hồ nạn sản chi khiên, Hoa mới nở vội liền mưa gió. Tánh ngỗ nghịch hiếu trung chẳng có, Công sanh thành chưa rõ cao dày. Hoặc huyền lương độc dược ra tay, Bị lôi chấn đọa đày ngục thất. Người bóng quáng thêm mang bịnh tật, Thác giữa đàng không đất gởi thây. Hồn dật dờ theo gió theo mây, Thành Uổng tử đêm ngày đói lạnh. Người nghèo khó đốn cây non lãnh, Chịu nhọc nhằn khổ hạnh cơ hàn. Bị độc trùng ác thú hổ lang, Hoặc hỏa thán tầm phong dị lộ. Người lương thiện tao phùng tật đố, Bị ngọt ngon dụ dỗ hại thầm. Oan hồn tìm đến chốn u thâm, Còn mắc phải gian cầm gìn giữ. Gái khuê các giai nhơn mỹ nữ, Chẳng trọn tình cư xử nợ khiên. Xưa hương xông phấn ướp phấn duyên, Nay đến chốn Huỳnh tuyền sở ỷ. Kẻ tù tội mắc vòng lao lý, Chúng tôi đoài nô tỷ khổ thân. Thêm phạt hành độc thủ bất nhân, Hồn lìa cách dương trần rất thảm. Bị hỏa hoạn tâm hồn mê ám, Lúc kinh hoàng khổ thảm biết bao ! Tìm đường ra khỏi ngọn lửa cao, Rủi một phút thân thiêu tro bụi. Cơn thủy nạn hoảng kinh bối rối, Họa lụt tràn trôi nổi cửa nhà. Mạng số suy, thần tử chẳng tha, Theo dòng nước hồn ma vĩnh biệt. Khi bão tố đá cây ngã liệt, Sập cửa nhà đè chết nào hay. Hồn dật dờ theo cảnh gió mây, Chịu đau đớn đọa đày nẻo tối. Cuộc tang thương tuần hoàn thay đổi, Chấn động miền non núi đất liền. Bị lấp chôn hồn phách đảo điên, Chịu muôn nỗi não phiền đau đớn. Bị xe cán nát thây rùng rợn, Vận kiếp xui họa lớn nào hay. Bà con trông than khóc thảm thay, Cơn hoảng hốt hồn lai uổng tử. Vì ái dục si tình tự tử, Cơn đắm mê nào sợ tội mang. Gieo mình nơi biển nghiệp sông oan, Hồn phách chịu muôn vàn lạnh lẽo. Ít phước đức họa tai lôi kéo, Ðời lao công nhiều nẻo hiểm nguy, Trên giàn cao ngã té bất kỳ, Thân tan nát hồn phi phách tán. Nơi chiến địa lâm cơn tạc đạn, Thi hài tiêu tứ tán khó nhìn. Thảm thương cho hồn phách linh đinh, Miền âm cảnh muôn nghìn khổ não. Người lương thiện chết oan điên đảo, Vì đạn tên lạc náo xóm làng. Oan hồn cam vào chốn nguy nan, Chịu u ám, xa đàng giải thoát. Bị khổ bức vì tình đen bạc, Tự hủy mình cam chác nghiệp sâu. Mũi đạn xuyên, muôn kiếp khổ sầu, Hồn phưởng phất biết đâu nương dựa ! Bị cướp giặc lòng tham hung dữ, Ðoạt của rồi giết chủ thác oan. Hồn dật dờ thảm khổ muôn đàng, Kết thù oán khôn toan siêu độ. Ðời mạc kiếp loạn ly tội lỗi, Bị hiếp dâm đến nỗi bỏ mình. Phách hồn oan lạc lối u minh. Lòng khổ bức muôn nghìn oán hận. Ðời giặc giã nghịch thù vô tận, Chôn sống người giữa đám đồng hoang. Tiếng khóc la oán khí đầy tràn, Trong giây phút dương gian cách biệt. Giặc bất lương giết người chẳng tiếc, Trói lương dân thù ghét quăng sông. Lặn hụp nơi nước cuốn giữa dòng, Thân trôi nổi, oan hồn thơ thẩn. Bị oán chạ chém đâm tàn nhẫn, Hoặc thù hiềm giết lẫn mạng vong. Hồn phất phơ nơi chốn long đong, Biết bao thuở thoát vòng khổ não. Xe lật đổ, đụng nhau táo bạo, Chết giữa đàng khôn bảo toàn thi. Thây nằm phơi, hồn đã biệt ly, Bà con thấy, ai bi thống thiết ! Người tắm biển tắm sông biệt tích, Kẻ lội chìm, tê liệt tay chân. Cơn rủi ro dòng nước gởi thây, Hồn lạnh lẽo tháng ngày thảm khổ. Trong cơ xưởng nhơn công phục vụ, Bị máy lôi vào chỗ hiểm nguy. Hoặc điện hơi giựt ngã cấp kỳ, Rủi một phút hồn phi phách tán. Còn nhiều loại hồn oan ta thán, Nơi suối vàng thê thảm ngậm ngùi, Các hồn chưa mãn kiếp Phong đô, Ðương xiêu lạc khắp nơi khổ não. Lời thiển bạc nay đà trần tố, Thương xót thay nỗi khổ các vì. Hồn linh thiêng hiển hích chứng tri, Xin sám hối tiền phi hậu quá. Xét tội lỗi oan khiên vay trả, Giác ngộ tua diệt cả ác duyên, Ý tịnh thanh dứt sạch não phiền, Giữ ba nghiệp vẹn tuyền trong sạch. Quy y Phật tịnh yên hồn phách, Nhẫn tâm tồn, giải sạch cừu oan. Phật dạy rằng tạo tội, tội mang, Luật nhân quả rõ ràng khó tránh. Muốn giải thoát, noi gương Phật Thánh, Chưởng Bồ đề, xa lánh tội căn. Nguyện Từ Tôn Tam Bảo mười phang, Ðộ chư vị thoát đàng khổ não. Dẫn Hồn Vương lòng thương khuyên bảo, Thập Ðiện đồng mở đạo Từ bi. Giảm phạt hành, ân huệ bố thi, Ðức Ðịa Tạng đại bi cứu rỗi. Linh hồn đặng xa nơi ngục tối, Vãng sinh miền Tịnh Ðộ thảnh thơi. Hết lòng thương nay tỏ mấy lời, Xin chư vị khắp nơi chứng chiếu. Nam mô A Di Ðà Phật.* 165 - BÁT NHÃ TÂM KINH Quán Tự Tại thực hành trí tuệ, Bát Nhã ba la mật sáng ngời ; Bấy giờ Bồ Tát quán soi, Thấy rằng năm uẩn ba đời đều không. Ðộ tất cả qua vòng khổ ách, Hãy nghe này, Xá Lợi Phất ông ! Sắc nào có khác gì không, Không nào khác sắc, sắc không vốn đồng. Cả thọ tưởng thức hành cũng thế, Tánh chân không các pháp viên thành ; Thảy đều chẳng diệt, chẳng sanh, Chẳng nhơ chẳng sạch chẳng tăng giảm gì. Trong chân không chẳng hề có sắc, Chẳng thọ, hành, tưởng, thức trong không, Mắt, tai, mũi, lưỡi, ý, thân, Sắc, thanh, vị, xúc, pháp, hương không còn. Không nhãn thức đến không ý thức, Không vô minh hoặc hết vô minh, Không điều già chết chúng sanh, Hết già hết chết thực tình cũng không. Không trí tuệ cũng không chứng đắc ; Bởi có gì là chỗ đắc đâu, Bấy lâu Bồ Tát dựa vào, Ba la mật ấy, đi sâu thực hành. Mọi chướng ngại, quanh minh tan biến, Mọi việc đều chẳng khiến hoảng kinh ; Xa lìa mộng tưởng đảo điên, Niết bàn rốt ráo an nhiên thanh nhàn. Ba la mật rõ ràng trí tuệ, Mà ba đời chư Phật nương qua ; Bồ đề vô thượng chứng ra, Nên coi Bát Nhã ba la mật là : Lời thần chú sâu xa bậc nhất, Lời chú thần rất mực quang minh ; Chú thần cao cả anh linh, Là lời thần chú thực tình cao siêu. Trừ dứt được mọi điều đau khổ, Ðúng như vầy, muôn thuở không sai ; Ngài liền đọc lại chú này, Ðể người trì niệm sáng bày chân tâm : Yết đế yết đế, ba la yết đế, ba la tăng yết đế, Bồ đề tát bà ha.* (3lần)

CÁC BÀI SÁM VĂN CẦU AN CẦU SIÊU 4

CÁC BÀI SÁM VĂN CẦU AN CẦU SIÊU 143 - SÁM CẦU NGUYỆN TRAI TĂNG Nay tín chủ lòng thành phát nguyện, Lễ cúng dường phụng hiến chư Tăng. Sắm sanh vật uống, thức ăn, Thuốc men, mùng chiếu, áo chăn cúng dường. Là tứ sự thông thường mọi việc, Sắp gom vào một tiệc trai Tăng. Lễ này vốn lễ cầu an, Hiền tiền phụ mẫu được ban phước nhiều. Và cũng để cầu siêu báo bổ, Trong Cửu Huyền Thất Tổ từ xưa. Ðược nhờ ân đức móc mưa, Tiêu diêu khoái lạc phước thừa sanh thiên. Cùng nội ngoại hai bên cật ruột, Tổ tông đồng quyến thuộc lục thân. Kẻ xa cho chí người gần, Thảy đều thọ hưởng phước phần vẻ vang. Lòng tin tưởng trong hàng Tăng chúng, Bủa đức lành mưa phún nước rơi. Từ bi thương xót cứu đời, Ra ơn chú nguyện như lời cầu xin. Vậy gom cả tâm linh hòa nguyện, Phước lành nầy phổ biến thế gian. Chúng sanh khắp cõi các hàng, Siêu vòng nghiệp chướng thoát đàng trầm luân. Xứ xứ thảy thấm nhuần đạo đức, Người người đều ra sức cần tu. Mưa hòa gió thuận êm ru, Trăm nhà phước lạc muôn thu thái bình. Ðịa ngục bớt hãm hình thống khổ, Ngạ quỉ thường được chỗ siêu lên. Súc sanh vượt cõi thấp hèn, Theo duyên tiến hóa đua chen lần lần. Ðường thiện đạo chư thần cải dữ, Cõi nhơn người biết xử khoan dung. Nhịp nhàng theo lẽ sống chung, Chư thiên hòa hiệp thảy đồng yên vui. Mớ vật chất lấp vùi hố thẳm, Nẻo tinh thần bước giẫm lên cao. Thánh vương phải mặt anh hào, Hiền thần đức hạnh thanh cao dạy đời. Dân lành biết giữ lời khuyến nhủ, Chỉ chuyên lo chăm chú tu hành. Không người giàu có ỷ mình, Không người nghèo khổ, ghét ganh khích hiềm. Chốn tù tội ngày đêm trống vắng, Nạn điên khùng mất hẳn hôn trầm. Ăn xin, đui, điếc, què, câm, Bao nhiêu những cảnh thương tâm chẳng còn. Núi xương trắng mau mòn thán oán, Biển máu đào chóng cạn thù hằn. Bầu trời độc khí tiêu tan, Mùi hương bác ái thơm lan khắp cùng. Chúng sanh biết tôn sùng Phật Pháp, Tiếng kệ kinh lấn áp lợi danh. Ai ai lánh dữ về lành, Bến mê Ðông độ đổi thành Tây phương. Không còn phải vấn vương tứ khổ, Nỗi khổ sanh đến độ khổ già. Khổ đau oằn oại rên la, Ngặt nghèo khổ chết, xót xa bi sầu. Kỉnh đức Phật nhiệm mầu đạo chánh, Trọng chư Tăng khổ hạnh công dày. Quí yêu Pháp bảo bực thầy, Biết cây đuốc sáng hiệp vầy nương theo. Kẻ sống chớ giàu nghèo xao xuyến, Người thác đừng lưu luyến tríu mê. Sanh giả không, tử giả không hề, Sống nương cõi tạm, thác về quê xưa. Vong linh được cải chừa nghiệp dữ, Giữa ngày nầy tứ sự cúng dâng. Là ngày tín chủ trai Tăng. Cầu siêu nghiệp tội vong nhân bấy chầy. Ðược thọ thưởng đủ đầy phẩm thực, Lại chi dùng phước đức dồi dào. Thêm nghe nhạc Pháp thanh tao, Vội vàng thức tỉnh xôn xao qui đầu. Lối tham chấp từ lâu được giải, Nợ buộc ràng oan trái dứt tiêu. Cất mình bay nhẹ cao siêu, Thung dung khoái lạc tiêu diêu thanh nhàn. Người hiện tại bình an thơ thới. Sức khỏe tăng, phấn khởi tinh thần, Sống lâu tuổi thọ thêm phần, Trí thông, huệ sáng, sắc thân tốt màu. Ý nghiêm mật giồi trau đức hạnh, Mắt tinh vi theo chánh bỏ tà. Ðoan trang mặc áo nhu hòa, Ngồi tòa thanh tịnh, vào nhà Từ Bi. Học thấu suốt huyền vi phép nhiệm, Diệt tâm phàm vọng niệm chẳng sanh. Tập trung tư tưởng điển lành, Hào quang rạng chói chung quanh đỉnh đầu. Bồ đề nguyện đạo mầu chứng đắc, Bồ Tát thân dìu dắt thế trần, Trang nghiêm thị hiện oai thần, Ðộ trong sanh chúng tinh cần chuyên tu. Người người biết công phu thiền định, Dưỡng tinh thần thanh tịnh tự nhiên, Cõi đời biển ái lặng yên, Sông mê trong vắt não phiền còn đâu. Chúng sanh thảy quay đầu bến giác, Kẻ sống vui, người thác nhẹ nhàng, Ðàn na tín thí công ơn, Phước điền rộng đức, huệ sơn cao tài. Hữu tình vốn nhơn loài động vật, Vô tình là cây đất bao đồng. Thảy đều đắc quả thành công, Cả nên Phật đạo hiện trong kiếp này.* 144 - KỆ VĂN VÔ SINH NIỆM PHẬT “Lửa mồi ánh chớp có gì đâu ? Ân ái sao còn quấn quít nhau ! Một túi da khô đầy bảo vật, Tấm thân vàng kệch rượu cơm bầu. Luân hồi sống chết ai là khỏi, Tờ lệnh Diêm La kíp tới hầu, Phúc tội tóc tơ bày rõ hết, Phân minh sổ sách trước như sau. Cột đồng giường sắt trông ghê khiếp, Than khóc kêu gào tránh được đâu ? Hối lại tu hành e đã muộn, Ðầu thai làm kiếp ngựa hay trâu. Nghiệp duyên chồng chất quên đời trước, Nhờ Phật rồi đây mới thoát cầu, Một điểm “Chân như” ai nấy sẵn, Thoát vòng sinh tử niệm lên mau. “Quạ bay, thỏ chạy chóng như thoi, Than hỡi ! Ðời ta được mấy hồi, Chỉ cõi Tây phương nơi Lạc cảnh. Quay đầu ta kíp niệm đi thôi ! Nam mô A Di Ðà Phật (1 tràng) Dù cho nhà ngọc với kho vàng, Cảnh đến Vô thường khó nỗi mang, Chỉ cõi Tây phương nơi Lạc cảnh, Quan Âm Bồ Tát độ cho sang. Nam mô Quán Thế Âm Bồ Tát (10 tiếng) Sống lâu bảy chục mấy ai đâu, Trăm tuổi xem như bóng ngựa câu. Chỉ cõi Tây phương nơi Lạc cảnh. Cầu xin Thế Chí độ sang mau. Nam mô Ðại Thế Chí Bồ Tát (10 tiếng) Giơ tay, cất bước tội ngang mày, Ðịa ngục đao sơn cửa rộng thay, Chỉ cõi Tây phương nơi Lạc cảnh, Cầu xin Ðịa Tạng độ sang ngay. Nam mô Ðịa Tạng Vương Bồ Tát (10 tiếng) Hàm đan giấc mộng có hay chi ? Cuộc thế lân la cái nỗi gì ? Chỉ cõi Tây phương an lạc cảnh. Thanh Tịnh Bồ Tát độ cho về. Nam mô Thanh Tịnh Hải Chúng Bồ Tát (10 tiếng) Nguyện vong chóng sinh sang Tịnh độ, Ngôi cửu liên là chỗ náu nương, Vô sinh, sen nở ngát hương, Chư tôn Bồ Tát bên đường tiếp nghinh. Chốn ao báu muôn sen đua nở, Phật Di Ðà, Thế Chí, Quan Âm, Tiếp hồn lên cõi Lạc tâm, Phát lời thệ nguyện dự phần tiêu dao.* 145 - SÁM TIÊU TAI GIẢI HẠN Con nay dốc hết tâm thành, Kính lạy đức Phật Xí Thạnh Quang Vương. Nếu con sắp bị tai ương, Cúi xin chư Phật đoái thương giải nàn: La Hầu hay bị tai oan, Tháng giêng, tháng bảy vô vàn điêu linh. Con nguyền học đạo sửa mình, Sân si dứt sạch, Phúc tinh phò trì. Thổ Tú, Thủy Diệu sầu bi, Tháng tư, Tháng tám thiếu gì nhiễu nhương. Cúi xin Phật Tổ xót thương, Giúp cho con được gia đường bình yên. Thái Bạch hết sạch cửa nhà, Tháng năm tan tác vào ra bực mình. Khẩn cầu Cửu Diệu Thất Tinh, Cứu con thoát khỏi điêu linh cửa nhà. Thái Dương tiền bạc kiếm ra, Tháng mười, tháng sáu cửa nhà bình an. Con hằng tâm nguyện vái van, Cầu cho con được an nhàn thảnh thơi. Vân Hớn dù có nói chơi, Tháng hai, tháng tám bị lời thị phi. Con nguyền học đạo Từ bi, Nhớ lời Phật dạy, khắc ghi vào lòng. Kế Ðô gia thất long đong, Tháng ba, tháng chín, xa chồng xa cha. Khấn cầu đức Phật Thích Ca, Quán Âm phò hộ cửa nhà bình yên. Thái Âm, mười một truân chuyên, Tháng chín tốt đẹp, của tiền khá ra. Khuyên người theo chánh bỏ ta,ø Trau giồi đức hạnh, mới là chân tu. Mộc Ðức, bổn mạng không xui, Tháng chạp, phúc lộc, hưởng vui, thanh bình. Gắng lo bố thí, phóng sinh, Ðể cho hết thảy gia đình bình an. Nguyện cho Ðại hạn tiêu tan, Tiểu hạn hết sạch, an nhàn thảnh thơi. Nguyện cho con được đời đời, Hành Bồ Tát đạo, cứu người lầm than.* 146 - SÁM KỆ GIẢI NGHIỆP SÚC SINH Chúng sanh đấy có bấy nhiêu, Lắng tai nghe lấy những điều dạy răn : Các ngươi trước lòng trần tục lắm, Nên kiếp này chìm đắm sông mê. Bấy lâu chẳng biết tu trì, Gây bao tội ác lại về mình mang. Sống đọa đày chết thường đau khổ, Lông, da, sừng có đỡ được đâu, Dù là bay trước lặn sau, Lưới vây, tên bắn, lưỡi câu thả mồi. Tát cạn bắt cùng hơi hun độc, Lúc đó dù kêu khóc ai thương, Nằm trên chốc thớt lạ thường, Hồn còn phảng phất nấu rang xong rồi. Muôn phần chết nay ngươi cầm chắc, May sao nhờ các bậc thiện nhân, Cứu cho ngươi được thoát thân, Ðến đây lại được nhờ ân pháp mầu. Vậy ngươi kíp hồi đầu quy Phật, Cùng dốc lòng quy Pháp quy Tăng, Quy rồi tội chướng sạch băng, Trí khôn sáng tỏ tưng bừng khắp nơi. Phát tâm tu sau rồi được hưởng, Về phương Tây sung sướng đời đời, Lên tòa sen hưởng thảnh thơi, Không hề luân chuyển yên vui tháng ngày. Xin đại chúng ra tay cứu khổ, Phát tâm cầu Phật độ chúng sanh, Cùng nhau dốc một lòng thành, Cầu cho thoát khỏi trong vành trầm luân.* 147 - VĂN CÚNG CỬU HUYỀN THẤT TỔ Thành kính lạy Cửu Huyền Thất Tổ, Ngỏ đáp ơn báo bổ sanh thành, Con quy y Phật tu hành, Cửu Huyền Thất Tổ lòng thành chứng tri. Noi theo hạnh từ bi của Phật, Bỏ dứt đi những tật xấu xa, Trau giồi đức hạnh thuận hòa, Ðạo thành cứu độ Mẹ, Cha, Cửu Huyền. Nay phẩm vật hiện tiền dâng cúng, Hương, đăng, hoa chúc tụng cầu xin, Cửu Huyền Thất Tổ hương linh, Chứng lòng hiếu thảo ân sinh thuở đầu. Công dạy dỗ cao sâu thăm thẳm, Công dưỡng nuôi khó gẫm gì hơn, Ăn cay, uống đắng không sờn, Vì con đau khổ không hờn phiền chi. Cha mẹ rất từ bi hà hải, Nội ngoại đồng bác ái tình thương, Cửu Huyền Thất Tổ đồng nương, Từ đời vô thỉ khôn lường kiếp sinh. Ân dưỡng dục minh minh như hải, Ân sanh thành tợ Thái Sơn cao, Con nay muốn đáp công lao, Ðền ơn trả nghĩa thế nào cho xong. Lời Phật dạy mênh mông biển khổ, Cõi Ta bà không chỗ dựa nương, Chúng sanh vì bởi tình thương, Tình ân, tình ái mà vương nghiệp sầu. Sanh tử mãi biết đâu mà kể, Cứ trầm luân trong bể ái hà, Cũng vì bản ngã chấp ta, Tham lam, sân giận, cùng là si mê. Những tội lỗi không hề dứt bỏ, Ðường tử sanh nên khó bước qua, Làm con muốn cứu mẹ cha, Cửu Huyền Thất Tổ, ông bà đền ân. Ðem phẩm vật cúng dâng Tam Bảo, Nhờ chư Tăng tâm đạo cầu nguyền, Cầu cho Thất Tổ Cửu Huyền, Siêu sinh Tịnh độ phước duyên đủ đầy. Ai muốn đáp công thầy dạy dỗ, Hay đền ơn Thất Tổ Cửu Huyền, Chúng sanh tất cả các miền, Thì nên phát đại lời nguyền độ tha. Trước xuất thế lìa xa cõi tục, Sau diệt tiêu lòng dục, tánh phàm, Chẳng còn ưa chuộng, muốn ham, Thân tâm thanh tịnh, Già lam dựa kề. Tu chứng đắc Bồ đề Phật quả, Ðộ chúng sanh tất cả siêu thăng, Vượt lên cửu phẩm thượng tầng, Là phương trả nghĩa đáp bằng công lao. Ai hiếu tử mau mau ghi nhớ, Muốn đáp đền mối nợ từ xưa, Cần nên tu niệm sớm trưa, Công dầy quả mãn phước thừa báo ân.* 148 - VĂN CÚNG TỔ TIÊN Ðốt nén hương thơm, Chí tâm bái thỉnh : Trời đẻ, đất nuôi, Ðức che chở lấy gì lường kịp; Nước nguồn, cây gốc, Công bón vun biết sánh chi tầy. Ðây nền nhân, đây nền nghĩa, Do Tổ tiên gây dựng mà nên ; Nọ lá ngọc, nọ cành vàng, Bởi công đức chất chồng mới có. - Hiểu đạo nghĩa mới thành gần gũi ; Rõ nguồn cơn sẽ chẳng xa đâu. - Dù âm dương, u hiểm khác nhau Nhưng Phật pháp đề huề thật dễ. - Xin nguyện Tổ tiên chư linh : Trượng phép mầu tựa nương chư Phật, Nhờ chân ngôn bí mật tối linh, Về đây thụ hưởng đan thành, Nén hương bát nước cơm canh cúng dàng. - Lại đốt hương thơm, hai phen triệu thỉnh: Công Tổ tiên non cao biển rộng, Phận cháu con phải cúng phải thờ ; Nén hương nghi ngút khói đưa, Chư linh phảng phất như vừa đâu đây. Xin triệu thỉnh về ngay thụ hưởng Chút tâm thành nhất hướng kính dâng, Trượng thừa Tam Bảo gia ân, Hộ trì tiếp dẫn dự phần trai nghi. Xin nguyện chư linh : Trượng phép mầu tựa nương chư Phật, Nhờ chân ngôn bí mật tối linh, Về đây thụ hưởng đan thành, Nén hương bát nước cơm canh cúng dàng. Nam mô An Bảo Tọa Bồ Tát Ma Ha Tát.* 149 - VĂN CÚNG CHA MẸ Ðốt nén hương thơm, chí tâm bái thỉnh : Trời cao vòi vọi, đất rộng thênh thang, Từ bé rồi đến lúc lớn khôn, Công của cha bằng trời cao biển rộng ; Nằm chỗ ướt nhường con chỗ ráo, Ðức của mẹ như núi cả sông dài. Lòng chỉ lo báo đáp nghĩa sinh thành : Ý những đáp sớm hôm thường định tỉnh. Tuy âm dương xa cách khôn lường, Nhưng Phật pháp gia trì tất ứng. Xin nguyện Phụ (Mẫu) thân chân linh : Trượng phép mầu tựa nương chư Phật, Nhờ chân ngôn bí mật tối linh, Về đây thụ hưởng đan thành, Nén hương bát nước cơm canh cúng dàng. - Lại đốt hương thơm, hai phen triệu thỉnh: Nhớ ơn đức cha mẹ sinh dưỡng, Khác nào như bể rộng sông sâu. Nền Nhân, cội Phúc là đâu ? Phận con cái phải nghĩ câu báo đền. - Nay thời tiết nhân duyên vừa đến, Trước linh sàng thân quyến tề quy, Tụng kinh niệm Phật gia trì, Nghe câu triệu thỉnh hồn về thụ trai. Xin nguyện Phụ (Mẫu) thân chân linh : Trượng phép mầu tựa nương chư Phật, Nhờ chân ngôn bí mật tối linh, Về đây thụ hưởng đan thành, Nén hương bát nước cơm canh cúng dàng. Nam mô An Bảo Tọa Bồ Tát Ma Ha Tát.* 150 - VĂN CÚNG VỢ CHỒNG Ðốt nén hương thơm, Nhất tâm triệu thỉnh : Tình như Loan Phụng, Nghĩa tựa sắt cầm. Bao tháng năm khăng khít keo sơn, Nay bỗng chốc phân chia đôi ngả, Ðau xót nhé ! Kẻ đi người ở. Buồn thương thay ! Ðấy khuất đây còn, Báo đáp nhau chút nghĩa sắt son Cầu Phật độ cho hồn sang Tịnh cảnh. Xin nguyện Lương quân (Hiền thê) chân linh : Trượng phép mầu tựa nương chư Phật, Nhờ chân ngôn bí mật tối linh, Về đây thụ hưởng đan thành, Nén hương bát nước cơm canh cúng dàng. - Lại đốt hương thơm hai phen triệu thỉnh: Chim Loan Phụng từ xưa hòa hợp, Ðàn sắt cầm bỗng dứt dây tơ, Âm dương đôi ngã cách xa, Bóng kia hình nọ bây giờ tìm đâu ? Lòng thành kính ai cầu chư Phật, Phóng Từ quang cứu vớt chân linh Về nơi An dưỡng Vô sinh, Dự ngôi bất thoái vô minh sạch lầu. - Xin nguyện Lương quân (Hiền thê) chân linh : Trượng phép mầu tựa nương chư Phật, Nhờ chân ngôn bí mật tối linh, Về đây thụ hưởng đan thành, Nén hương bát nước cơm canh cúng dàng. Nam mô An Bảo Tọa Bồ Tát Ma Ha Tát.* 151 - VĂN CÚNG CON CHÁU Ðốt nén hương thơm, Lòng thương triệu thỉnh : Ân thâm nghĩa trọng, Con nỡ sao rứt bỏ cho đành ? Gan héo ruột rầu, Cha mẹ muốn quên đi chẳng được. Hẳn duyên nghiệp không từ kiếp trước, Nên giờ đây con cướp công lao, Ðể mẹ cha sống cảnh quạnh hiu. Nhìn ngó lại con đã theo tuyền lộ. Nay triệu thỉnh hồn nhờ Phật độ, Về đây cùng thụ hưởng chút dư ân, Thôi không duyên, không nợ cũng thâm tình, Con phù hộ cho gia đình an lạc. - Cầu nguyện cho chân linh con Trượng phép mầu tựa nương chư Phật Nhờ chân ngôn bí mật tối linh, Về đây thụ hưởng đan thành, Nén hương, bát nước, cơm canh khuyên mời. - Lại đốt hương thơm, hai phen triệu thỉnh: Mối tình Phụ (Mẫu) tử, chút nghĩa cái con, Nuôi bao năm mong được lớn khôn, Nay bỗng chốc lá xanh sớm rụng, Ðau xót nhẽ ! Thần hôn cô quạnh, Ngậm ngùi thay ! Ngày tháng đìu hiu, Nghĩ đến con thương nhớ trăm chiều, Cầu Phật độ cho hồn siêu cõi Tịnh. Cúi nguyện cho chân linh con : Trượng phép mầu tựa nương chư Phật, Nhờ chân ngôn bí mật tối linh, Về đây thụ hưởng đan thành, Nén hương, bát nước, cơm canh khuyên mời. Nam mô An Bảo Tọa Bồ Tát Ma Ha Tát.* 152 - SÁM GIÁC LINH TỐNG TÁNG Ðời người như một giấc mơ, Trăm năm nào khác cuộc cờ đổi thay. Tuần hườn máy tạo chuyển xoay, Chết đi, sống ở xưa nay lẽ thường. Hương, đăng, hoa, quả cúng dường, Nguyện cầu Tam Bảo mười phương chứng lòng. Hôm nay ta hãy đồng thời, Ðưa người nhẹ bước về nơi Phật đường. Cũng vì bác ái lòng thương, Cầu cho người được về nương Bồ đề. Xa lìa biển khổ tối mê, Tam đồ, lục đạo, mà về Tây phương. Dứt lìa sanh tử vấn vương, Ở nơi Phật quốc an khương đời đời. Vậy nên đây có đôi lời, Nhắc người bóng cũ nay thời biệt ly. Cảnh đời lắm nỗi sầu bi, Tình ân phụ mẫu nay thời cách xa. Cảnh đời như bóng phù hoa, Tình thâm huynh đệ phải xa hội này. Cảnh đời nào khác chòm mây, Tình chồng nghĩa vợ hôm nay xa lìa. Cảnh đời như bọt nước kia, Tình thương cho mấy cũng lìa với nhau. Cảnh đời như gió thổi mau, Tình thương con cháu thế sao cũng lìa. Cảnh đời như bể dâu kia, Tình bằng cố hữu cũng chia đôi đường, Cảnh đời như thể sa sương, Tình thâm quyến thuộc cũng thường cách nhau. Cảnh đời như đá mài dao, Cả hai mòn hết có nào bền lâu ? Cảnh đời như lửa đốt dầu, Cháy mau thì hết có đâu còn hoài. Cảnh đời nghĩ luống bi ai, Khác nào hoa nở rồi mai hoa tàn ! Cảnh đời khó nỗi thở than, Khác nào một đám rừng hoang mịt mù. Cảnh đời vì bởi chẳng tu, Nên đường sanh tử lu bu không lìa. Cảnh đời vì bởi trau tria, Ðeo theo vật chất khó lìa lợi danh. Cảnh đời như biển nước xanh, Gió cuồng, sóng cuộn mé gành lao xao. Cảnh đời như giấc chiêm bao, Như lằn điển chớp, khác nào tiếng vang. Cảnh đời như đống tro tàn, Giống như Dã Tràng xe cát biển Ðông. Cảnh đời như thể mật ong, Thoa vào lưỡi kiếm gạt lòng trẻ em. Cảnh đời nhìn kỹ mà xem, Khi về âm cảnh nào đem món gì ? Cảnh đời là khối hiệp ly ! Nay dời, mai đổi theo thì thời gian. Hồi nào ở chốn đền vàng, Bây giờ gởi xác đồng hoang một mình, Hồi nào mắt đẹp, mày xinh, Bây giờ một đống thịt sình mà thôi ! Hồi nào đứng đứng, ngồi ngồi, Bây giờ yên lặng như chồi cây khô, Hồi nào trang điểm khôi ngô, Bây giờ nhắm mắt mà vô quan tài ! Hồi nào tình bạn bắt tay, Bây giờ cắt đứt làm hai con đường. Hồi nào mền, nệm, gối, giường, Bây giờ dứt bỏ thảm thương vô cùng. Hồi nào xưng bá, xưng hùng, Bây giờ nhắm mắt mà chun xuống mồ. Hồi nào lên xuống, ra vô, Bây giờ yên lặng như đồ bất tri. Hồi nào ứng cử khoa thi, Bây giờ sao dứt mà đi cho đành. Hồi nào tham lợi, tham danh, Bây giờ một đám cỏ xanh nắm mồ. Hồi nào du lịch giang hồ, Bây giờ ở chốn đồng khô băng ngàn. Hồi nào trau ngọc chuốt vàng, Bây giờ một đống xương tàn rũ da. Hồi nào múa, hát, đờn, ca, Bây giờ lìa bỏ tách xa xóm làng. Hồi nào kiệu phụng, lầu vàng, Hồi nào mặt biển sóng tràn nhấp nhô, Hồi nào anh, chị, chú, cô, Bây giờ chẳng thấy ra vô bóng hình. Hồi nào con, vợ của mình, Bây giờ hai ngã thình lình cách xa. Hồi nào mẹ mẹ, cha cha, Bây giờ bóng đã khuất qua xế rồi, Hồi nào tớ, chủ, quân, tôi, Bây giờ như giọt nước trôi giữa dòng. Hồi nào bác, thím, em, chồng, Bây giờ cách biệt hết mong được gần. Hồi nào yểm cựu nghinh tân, Bây giờ chỉ thấy mộ phần thiết tha. Cảnh đời bách chiết, thiên ma, Huỳnh tuyền choán lộ phải qua một lần. Ở trong cảnh thế dương trần, Dầu cho vua, chúa, quan, dân, sang, hèn. Hạng nào cũng thể bóng đèn, Hết tim thì tắt một phen mịt mù. Dầu cho kẻ trí, người ngu, Kẻ khôn, người dại hình thù nhỏ to. Rốt rồi cũng táng một gò, Của trần để lại chẳng cho đem về ! Có gì tríu mến, tham mê, Ðeo theo vật chất nghiệp nghề làm chi ? Thế rồi cũng bỏ mà đi, Nghĩ ra lắm nỗi sầu bi dập dồn. Tiếng kêu ơi hỡi linh hồn ! Cảnh đời nay biển, mai cồn tỉnh chưa ? Tỉnh rồi dứt mối say sưa, Thì là có Phật rước đưa qua liền. Do hồi đời sống sanh tiền, Gieo nhiều miếng ruộng phước điền khắp nơi ! Bây giờ an hưởng vui chơi, Cũng như trong lúc đương đời có tu. Cho nên mới được võng dù, Không còn trăng trói ngục tù trần lao. Dứt lìa sanh tử đớn đau, Ở nơi Phật quốc ra vào thảnh thơi. Chẳng còn nghĩ đến việc đời, Cõi trần giả tạm vốn thời đổi thay. Nếu như muốn vậy hôm nay, Phải lo tu trước ngày mai là nhờ. Biết rằng phải ngộ thiền cơ, Mau mau nhẹ gót qua bờ sông mê. Khi nào bỏ thế về quê, Thì là có Phật dựa kề một bên. Rước đem về đến cõi trên, Hưởng điều khoái lạc vững bền dài lâu. Ðôi lời kính chúc mong cầu, Nhờ ơn chư Phật rước thâu hồn về. Khỏi vòng biển khổ, sông mê, Tam đồ, lục đạo; dựa kề hoa sen. Nhìn xem thấy rõ bóng đèn, Quang minh rạng chói một phen sáng lòa. Nguyện cầu với đức Di Ðà, Từ bi tế độ những là chúng sanh. Dầu loài vô giác, hữu tình, Thảy đều được phước về sinh nước Ngài. THÍCH CA PHẬT TỔ NHƯ LAI, QUAN ÂM, THẾ CHÍ cùng Ngài TẠNG VƯƠNG. Từ bi mở tấm lòng thương, Nước mưa cam lộ mười phương rưới vào. Chúng sanh tất cả trần lao, Nương theo quả giác về mau Niết bàn.* 153 - SÁM CẦU SIÊU Cuộc nhân thế như tràng ảo mộng, Chuỗi thời gian tựa bóng bạch câu. Ðời người gẫm có bao lâu, Tử vong là một nhịp cầu phải qua. Cơn tử biệt châu sa lệ đổ, Cảnh chia phôi thảm khổ sầu bi ; Não nề kẻ ở người đi, Khóc than nghẹn tiếng, biệt ly nát lòng. Những tiếc rẻ tấm công cha mẹ, Nợ cưu mang bồng bế dưỡng nuôi; Vật trong vũ trụ đắp bồi, Hôm nay một phút thôi rồi bỏ đi. Một thể sống đã ly cõi sống, Ðem hình hài tăm bóng về đâu ? Mênh mông trời đất nhiệm mầu, Huyền vi máy tạo cơ cầu ai hay ! Trong Phật Pháp giãi bày tỏ rõ, Người thế gian nếu có tâm lành, Việc làm trong thuở bình sanh, Giúp người cứu vật để dành phước to. Ngày nhắm mắt khỏi lo chi nữa, Khối âm công tích chứa từ xưa, Nẻo về đã có người đưa, Cõi riêng đã có phước thừa an vui. Bằng có kẻ một đời qua luống, Chưa kịp gieo miếng ruộng phước lành. Thì người quyến thuộc chung quanh Thay người quá vãng làm lành gieo duyên: Dưới chơn Phật kiền thiềng đảnh lễ, Nghe câu kinh kính nể chắp tay. Trai Tăng cung dưỡng các thầy, Qui y, giữ giới, ăn chay, hành thiền. Phát tâm rộng thí tiền, thí gạo, Thương người nghèo cho áo, cho cơm. Những ngày cúng kiến quảy đơm, Ðừng bày giết vật oán hờn về sau. Phải duyên cũng sửa cầu bồi lộ, Gặp vật thì ủng hộ phóng sanh. Một nhơn tốt, một quả lành, Phước này hồi hướng vong linh hưởng nhờ. Cõi trần thế mơ hồ giả tạm. Kiếp nhơn loài như đám phù vân, Hiệp tan, tan hiệp xoay vần. Mà cơn tan hiệp, là phần thương đau. Ngao ngán nỗi thảm sầu vô tận, Thức tỉnh cơn phiền hận vĩnh miên. Dầu rằng khổ hải vô biên, Hồi đầu thị ngạn, nghiệp duyên sạch lần. Âu cũng bởi lòng trần vọng niệm, Ðể xa rời một điểm chơn như, Ðường trần từ đó ngẩn ngơ, Càng dong ruỗi bước, càng mờ mịt xa. Do tâm ý tạo ra nghiệp cảnh, Cho thân hình chịu lãnh đau thương, Tỉnh ra một giấc mộng trường, Liệu bề giải khổ, tìm đường thoát sinh. Trước bửu tọa nghe kinh sám hối, Lượng từ bi xả tội lỗi lầm; Nước dương rửa sạch trần tâm, Qui y Tam Bảo kỉnh thâm phụng thờ. Hồn được nhẹ là nhờ phép nhiệm, “A Di Ðà “, rán niệm Phật danh. Phật xưa sẵn có nguyện lành, Niệm danh mười tiếng được sanh nước Ngài. Niệm chuyên chú đừng sai chỗ diệu, Chớ luyến trần mê tríu tiếc thương. Luyến trần ngăn lấp con đường, Thoát trần thức tỉnh tỏ tường lối đi. Mê tríu dứt, tức thì nhẹ bước, Giác ngộ xong Phật rước theo Ngài, A Di Ðà Phật Như Lai, Hiện thân tọa bửu liên đài độ sanh.* 154 - SÁM VĂN LÂM CHUNG Ðầu ngưỡng vọng Tây phương Phật Tổ, A Di Ðà Phật độ trần gian. Từ bi cứu kẻ lâm nàn, Trong giờ bịnh ngặt, linh quang từ trần. Nhờ đức cả Quan Âm tế độ, Văn Thù đồng ủng hộ Giác linh. Phổ Hiền, Ðịa Tạng Thánh minh, Hộ người khỏi bị vật mình trở trăn. Mong Phật Tổ bủa giăng ân đức, Trợ vong hồn thêm sức thiêng liêng. Kim thân Phật hiện nhãn tiền, Phóng hào quang giải nghiệp duyên não phiền. Trấn hồn phách, độ yên tâm cảnh, Diệt ác tà, pháp tánh qui chơn. Lục căn, lục thức, lục trần, Thảy đều thanh tịnh, Chơn thần định an. Kìa trước mắt đài vàng cửa Phật, Rước những người chơn chất thiện lương. Tĩnh lòng quán cõi Tây phương. A Di Ðà Phật niệm thường chớ sai. Ðừng vọng tưởng trần ai ân ái, Bỏ lợi danh khổ hải luân hồi, Giữ lòng định tĩnh mà thôi, Một niềm tưởng Phật, vãng hồi Tịnh bang. Cầu Di Lặc, Nhiên Ðăng Cổ Phật, Thích Ca đồng gom phách hồn thâu. An trong một giấc tịnh mầu, Xuất ra nơi đỉnh huyền châu nê hoàn. Noi đại đạo minh quang Chánh Giác, Thoát khỏi vòng sóng thác trầm luân. Hồn linh theo dõi Phước Thần, Nương nơi phước báu siêu thăng kịp giờ.* 155 - SÁM NGUYỆN CẦU SIÊU Quy mạng lễ mười phương Tam bảo, Khắp ba đời chánh đạo Bồ đề. Nay con thành kính hướng về, Chí tâm sám nguyện tư vì hương linh. Chúng con bởi vô minh bất giác, Nên tử sanh trôi dạt luân hồi. Ðể cho nghiệp lực cuốn lôi, Ðẩy đưa ràng buộc từ đời xưa xa. Nhờ chút niệm nên đà sanh được, Làm thân người trong kiếp sống này. Trải qua những tháng năm dài, Chung quy rồi cũng đến ngày tử vong. Tất cả những điều trong cuộc thế, Ðã sống theo những lẽ phàm tình. Chỉ vì nghĩ đến thân mình, Mà gây tạo tác muôn nghìn oán ân. Ðem trọn cả cái THÂN, MIỆNG, Ý, Quay cuồng nơi tục lụy hồng trần. Bởi con chẳng rõ VỌNG CHÂN, Lại không tri kiến định phân chánh tà. Lầm chấp vào “CÁI TA” hư ngụy, Lấy “VỌNG TÂM PHÀM Ý” làm mình. Cho nên tư tưởng tánh tình, Dẫy đầy tà ác VÔ MINH mê lầm. Những cái gì thuận lòng hợp dạ, Thì thích, THAM MUỐN cả không ngơi. Còn khi bị nghịch ý rồi, Căm tức, SÂN HẬN tạo thời ác duyên. Tánh tình trở thành PHIỀN NÃO chướng, Làm cội nguồn ý tưởng nảy sanh, Chẳng rõ xấu ác, tốt lành, Chỉ biết phải trái theo mình nghĩ thôi. Bị danh lợi, tình đời thúc đẩy, Tạo gây nên đầy dẫy ác nhân, Nào là những nghiệp nơi THÂN : Sát sanh trộm cướp, tà dâm, rượu chè. Cùng bao thứ đam mê đọa lạc, Khiến thành người bạo ác, xấu xa, Nào từ LỜI NÓI thốt ra : Những điều dối trá, điêu ngoa, ngang tàng. Hoặc đâm thọc, khoe khoang, khêu gợi, Khinh khi và chửi bới hỗn hào, Càng ngày tội lỗi càng cao, Thế mà con vẫn có nào biết đâu. Ðã vậy tánh hiểm sâu xảo quyệt, Khiến cho con chỉ biết lợi mình, Mặc cho tổn hại chúng sinh, Miễn sao thỏa ý thích tình thì thôi. Bởi thế nên một đời tạo nghiệp, Ðành trải thân nhiều kiếp khổ mê, Bao nhiêu tội chướng nặng nề, Bao nhiều phiền não, sở tri chất chồng. Ðều tích lũy vào trong TẠNG THỨC, Kết tạo thành nghiệp lực buộc ràng, Tùy theo nhân tố đã làm, Ðẩy đưa dắt dẫn đôi đàng đọa thăng. Theo cái sự vận hành nhân quả, Tà ác thì sa đọa đắm chìm, Ðịa ngục, ngạ quỉ, súc sanh, Khổ đau, đói khát, ngục hình tối tăm. Trải bao kiếp khó mong thoát khỏi, Bởi đấy là cảnh giới đọa đầy, Ðể đền trả nghiệp đã gây, Cho nên rất đỗi lâu dài khổ nguy. Hoặc lúc sống thường thì làm thiện, Tạo phúc lành tinh tiến huân tu, Thể hiện đức hạnh nhân từ, Hóa sanh thiên giới thường cư lâu dài. Hay sẽ được tái lai trần cảnh, Tùy nhân xưa thọ lành phúc phần, Hay sanh cảnh giới quỷ thần, Ðều do nghiệp lực chuyển vần đẩy đưa. Chúng con từ xa xưa vô thủy, Quanh quẩn trong tục lụy luân hồi, Sáu đường, ba cõi nổi trôi Bởi chưa giác ngộ để hồi lại tâm. Nay nhờ lượng hồng ân Tam Bảo, Mà được nương theo đạo Bồ đề, Khiến con giải bớt khổ mê, Khiến con thức tỉnh hướng về nẻo chân. Xin thành khẩn ân cần sám hối, Những mê lầm, tội lỗi ác tà, Kể từ những kiếp xưa xa, Cho đến hiện tại cùng là hậu lai. Những nghiệp chướng tự tay gây tạo, Hoặc cố tình xúi bảo người làm, Hoặc do vô ý vương mang, Hoặc cùng kẻ khác tính toan thực hành. Nay nương vào nguyện lành chư Phật, Và quang minh pháp lực oai thần, Khiến cho nghiệp chướng giảm lần, Khiến cho phước huệ được phần phát sanh. Ðể tâm thức thiện lành trong sáng, Mà tỏ ngộ được ánh đạo mầu, Bao nhiêu phiền não nặng sâu, Bao nhiêu oan trái cũng mau giải trừ. Nhờ Pháp Bảo Dược Sư Quán Ðảnh, Và bổn nguyện siêu thắng vô lường, Của đấng Vô thượng Y vương, Cũng là oai đức mười phương độ trì. Nguyện Tam Bảo thường thì gia hộ, Ðến chúng sanh mê khổ trầm luân, Thảy đều thọ lãnh hồng ân, Thảy đều giải thoát khỏi dòng sông mê. Lại thành kính nguyện về tất cả, Chư Bồ Tát hỷ xả, từ bi, Dùng mọi phương tiện huyền vi, Ứng hóa gia hộ độ trì chúng sanh. Ðồng được ánh quang lành nhuần thấm, Giải tan dần mê vọng vô minh, Khiến cho trí sáng phát sinh, Khiến cho nghiệp chướng tội tình nhẹ vơi. Việc xấu ác đồng thời xa lánh, Ðiều tốt lành cố gắng huân tu, Giữ tâm trong sạch hòa nhu, Nương theo Chánh pháp công phu hành trì. Thể hiện lòng đại bi đại xả, Hằng rộng làm tất cả việc lành, Nguyện cho lục đạo chúng sanh, Thảy đều giác ngộ phát tâm Bồ đề. Ðạo giải thoát thẳng về tới chốn, Không ai còn lăn lộn tử sanh, Vô thượng Chánh giác chóng thành, Nguyện xin chư Phật mười phương gia trì. Nay chúng con đã vì vong giả, Mà sám nguyện với cả lòng thành, Ðược bao phước lực phát sinh, Xin hồi hướng đến hương linh đủ đầy. Và nhờ Pháp bảo này hộ niệm, Nguyện mười phương ứng hiện oai thần, Phóng quang tiếp dẫn hương linh, Nương công đức lực siêu sinh cõi lành.*

CÁC BÀI SÁM VĂN SÁM HỐI - PHÁT NGUYỆN 3

CÁC BÀI SÁM VĂN SÁM HỐI - PHÁT NGUYỆN 128 - SÁM VĂN PHÁT NGUYỆN Ðệ tử kính lạy, Ðức Phật Thích Ca, Là ngôi giáo chủ cõi Ta Bà. Ðức Phật A Di Ðà, Là thầy dẫn đường về cõi Cực Lạc. Mười phương chư Phật, Vô thượng Phật pháp, Cùng Thanh Hiền Tăng. Ðệ tử lâu đời lâu kiếp, Nghiệp chướng nặng nề. Tham giận kiêu căng, Si mê lầm lạc. Ngày nay nhờ Phật, Biết sự lỗi lầm, Thành tâm sám hối. Thề tránh điều dữ, Nguyện làm việc lành. Ngưỡng mong ơn Phật, Từ bi gia hộ : Thân không tật bịnh, Tâm không phiền não. Hằng ngày yên vui tu tập, Phép Phật nhiệm mầu. Ðể mau ra khỏi luân hồi, Minh tâm kiến tánh. Trí huệ sáng suốt, Ðến khi lâm chung. Nhờ Phật Di Ðà, Quan Âm, Thế Chí. Cùng mười phương chư Phật, Vô lượng Bồ Tát, Ðồng thời phóng đại hào quang. Tiếp dẫn đệ tử, Về thế giới Tây phương Cực Lạc, Phật A Di Ðà. Ðể đệ tử hằng ngày, Hầu Phật nghe pháp. Chứng quả Vô sanh, Làm thân tự tại. Rồi trở lại cõi nầy, Và trong vô lượng thế giới khác, Ðặng cứu độ các bậc Sư trưởng, Cha mẹ, anh em, Thân bằng quyến thuộc, Cùng tất cả chúng sanh, Ðồng thành Phật đạo.* * * * 129 - SÁM NHỨT TÂM Một lòng làm lễ Tây phương, A DI ÐÀ Phật xót thương độ đời. Tịnh quang Phật rọi lòng con, Y như từ thệ hộ con đạo thành. Con nay chánh niệm hồng danh, A DI ÐÀ PHẬT, đức lành tụng xưng. Bồ đề chánh đạo kỉnh tuân, Cầu sanh Tịnh độ an phần thảnh thơi. Phật xưa thệ có mấy lời : “Chúng sanh nào muốn sanh thời nước ta. Hết lòng tín ngưỡng sâu xa, Mười phen niệm đủ danh ta đành rành. Nếu mà chẳng đặng vãng sanh, Nguyện ngôi Chánh giác chẳng đành giữ yên”. Bởi vì niệm Phật nhân duyên, Ðặng vào hải thệ tâm thiền Như Lai. Nhờ nương sức Phật lành dai, Các tội tiêu diệt, lớn hoài thiện căn. Mạng chung gần tới thời gian, Biết trước giờ đến khỏi mang bịnh sầu. Lòng không tham luyến vọng cầu, Ý không điên đảo tợ vào Thiền nguyên. Phật cùng chúng Thánh linh thiêng, Kim đài cầm tới hiện tiền tiếp nghinh. Nội trong một niệm vãng sinh. Về nước Cực lạc tịnh thanh Niết bàn. Sen nở thấy Phật rõ ràng, Liền nghe Phật pháp chơn toàn tối cao. Mở ngay Phật huệ trí mầu Chúng sanh đều độ khỏi âu lỗi lầm. Bồ đề hải thệ thậm thâm, Cầu cho thỏa mãn chí tâm nguyện lành.* 130 - SÁM THẬP PHƯƠNG Mười phương ba đời Phật, Di Ðà đệ nhứt danh, Ðộ sanh lên chín phẩm, Oai đức rộng thinh thinh. Con nay quy y Phật, Diệt ba nghiệp mê tình, Bao nhiêu phần phước đức, Hồi hướng khắp nhơn sanh. Nguyện cùng người niệm Phật, Cảm ứng hiện điềm lành, Lâm chung thấy cảnh Phật, Trước mắt hiện đành rành. Thấy nghe đều tinh tấn, Cực lạc đặng vãng sinh, Thấy Phật dứt sanh tử, Như Phật độ hàm linh. Trừ vô biên phiền não, Tu vô lượng pháp lành, Chúng sanh nguyền tế độ, Phật đạo thảy viên thành. Hư không còn có hết, Bổn nguyện vốn không cùng, Hữu tình, vô tình khắp, Trí huệ chứng viên thông. THẬP NGUYỆN MỘT nguyền lễ kính Như Lai, HAI nguyền xứng tán công dày Thế Tôn. BA nguyền tu phước cúng dường, BỐN nguyền sám hối nghiệp vương tội trần. NĂM nguyền tùy hỷ công huân, SÁU nguyền thỉnh Phật công dày Thế Tôn. BẢY nguyền thỉnh Phật ở đời, TÁM nguyền học Phật tùy thời phát minh. CHÍN nguyền hằng nguyện chúng sinh, MƯỜI nguyền hồi hướng phước lành khắp nơi.* 131 - SÁM NGUYỆN KHỂ THỦ Cúi đầu làm lễ cõi Tây phương, Tiếp dẫn chúng sanh ÐẠI PHẬT VƯƠNG; Nay phát nguyện cầu sanh Tịnh độ, Từ bi xin cứu kẻ trần dương. Nay đệ tử thành tâm phát nguyện, Vì bốn ơn trọng hiện trong đời; Cùng chúng sinh khổ não lưng vơi, Trong ba cõi khắp nơi Pháp giới. Muốn cầu đạo Bồ đề chánh đại, Vô thượng môn nhứt phái chơn truyền. Nên niệm hồng danh Phật tinh chuyên, Cầu trực vãng Tây thiên Tịnh độ. Bởi nghiệp trọng phước khinh thọ khổ, Chướng nghiệp sâu, huệ ngộ tâm suy. Lòng nhiễm trần dễ khởi sân si, Cõi tịnh đức diệu vi khó đạt. Nay trước Phật kỉnh thành nguyện phát, Dốc ăn năn tội ác lỗi dày. Chúng sanh cùng đệ tử xưa nay, Trong khoảng kiếp mê say Bổn tánh. Tham, sân, si, dấy loàn tâm cảnh, Ba nghiệp đều nhiễm thạnh trược trần. Tội lỗi gây vô lượng khôn phân, Các nghiệp kết muôn lần rất chặc. Nay đệ tử nguyện trừ tức khắc, Kể từ đây tội ác lánh xa. Nguyện lỗi lầm sau chẳng tạo ra, Tu Thánh đạo quyết mà chẳng thối. Ðặng Chánh Giác đạo thành siêu rỗi. Ðộ chúng sanh chìm nổi ái hà. Này cúi xin PHẬT TỔ DI ÐÀ, Sức từ nguyện ứng ra chứng chiếu Lòng thương xót độ con đắc diệu, Trong cảnh thiền quán chiếu tánh minh. Hoặc là trong mộng mị giấc linh, Xem thấy Phật hiện hình kim sắc. Ðặng vào cõi DI ÐÀ Phật sát, Nước cam lồ rảy mát đỉnh môn. Phật hào quang rọi suốt thân hồn, Tay chà đỉnh khai thông khiếu cả. Ðắp y phục thân con cảm hóa, Chướng nghiệp xưa tội quá tiêu liền. Thiện căn thường tăng trưởng cố kiên. Vô minh phá, não phiền tận diệt. Diệu giác tánh hoát khai chí triệt, Tịch quang chơn cảnh thiệt hiện tiền. Lúc mạng chung giờ đến biết liền, Thân an ổn khỏi liền bịnh nạn. Tâm chẳng có luyến tham mê loạn, Các căn đều viên mãn qui nguyên Chánh niệm minh phát cảnh chơn thiền, Các pháp thảy tự nhiên tịch tịnh. Lòng vắng lặng cũng như thiền định, Ðức DI ÐÀ với lịnh QUAN ÂM. ÐẠI THẾ CHÍ chư THÁNH HIỀN TĂNG, Ðồng phóng điển lai lâm tiếp dẫn. Có đài báu tràng phan hộ tấn, Mùi hương thơm phát phấn tinh thần. Cõi thượng thiên nhạc tấu hoan hân, Tây phương cảnh hiện gần trước mắt. Nghe thấy rõ, chúng sanh khoái lạc, Phát Bồ đề Diệu giác nguyện tâm. Ngồi Kim Cang đài báu linh thâm, Con nhờ Phật từ tâm dẫn lộ. Trong nháy mắt Tây phương tới chỗ, Ðặng sanh vào Phật độ quang huy. Mắt ngó trong thất bửu liên trì, Bông nở hoát tức thì thấy Phật. Chư Bồ Tát hiện thân kim sắc, Phóng hào quang Phật quốc chiếu minh. Nghe diệu âm pháp diễn chí linh, Con chứng đặng Vô sinh Pháp nhẫn. Trong giây phút tâm thần tinh tấn, Hầu các vì Phật tận tâm chơn. Nhờ Như Lai thọ ký ân cần, Liền chứng đặng tam thân tứ trí. Ngũ nhãn phát, lục thông du hí, Vạn pháp môn thần bí hoát thông. Công đức thành, an dưỡng chẳng mong, Trở lại thế hết lòng độ chúng. Phân thân khắp mười phương hiện ứng, Bố thần thông diệu dụng phi thường. Dùng đủ cơ tiện lợi, diệu phương, Hầu độ chúng hết vương khổ hiểm. Lòng thanh tịnh, trược trần khỏi nhiễm, Ðặng sanh nơi mầu nhiệm Tây phang. Nếu chúng sanh thế giới chưa an, Phiền não nghiệp, vạn ban chưa dứt. Thì đại nguyện con chưa tròn thật, Nên phải nguyền lập tất quả công. Nay công tu, lễ Phật đều đồng, Nguyền rải khắp cả trong sanh chúng. Ðặng báo đáp bốn ơn đức trọng, Ðộ thế gian tam chúng hữu tình. Chí nguyện cùng Pháp giới chúng sinh, Ðồng đặng chứng Viên minh chủng trí.* 132 - SÁM QUI MẠNG DIỄN NGHĨA Qui mạng mười phường ÐIỀU NGỰ SƯ, Diễn dương thanh tịnh pháp Chơn Như, Tam thừa tứ quả Tăng siêu thoát, Xin mở từ bi tiếp độ cho. Vì đệ tử tự lầm Chơn tánh, Bị cuốn lôi theo cảnh mê si. Ðọa tử sanh chìm nổi khổ nguy, Nhiễm thinh sắc, lụy vì tham dục. Bởi thập sử, thập triền câu thúc, Tích tạo thành hữu lậu chi nhơn. Lục căn, trần, tác tội muôn phần, Chìm biển khổ, nhiễm thâm tà ác. Chấp nhơn ngã, vạy ngay xuyên tạc, Chướng nghiệp xưa tạo tác dập dồn. Các tai khiên tội lỗi muội hôn, Ngưỡng TAM BẢO TỪ TÔN hóa độ. Nay đệ tử lòng thành hối ngộ, Nguyện NĂNG NHƠN cứu hộ phàm gian. Dắt dìu ra khỏi chốn khổ nàn. Thoát phiền não nghiệt oan vực thẳm. Ðặng tới chốn Bồ đề bỉ ngạn, Chứng Niết bàn trực phản chơn nguyên, Nguyện đời nay mạng vị phước điền, Cả thảy đặng diên niên thạnh vượng. Lai sanh, các linh miêu trí chủng, Ðồng phát khai tăng trưởng cơ năng. Sanh gặp miền đại đức phước tăng, Minh sư độ chỉ đàng Chơn đạo. Lòng chánh tín xuất gia thọ giáo, Giữ đồng chơn nhập đạo tu hành. Lục căn thường thông lợi tinh minh Tam nghiệp vốn chơn thành hòa nhã. Lòng chẳng nhiễm trần duyên tội quá, Phạm hạnh thường một dạ dồi trau. Chuyên giữ gìn cấm giới không xao, Trần nghiệp chẳng xông vào tâm tánh. Oai nghi giữ nghiêm trang chơn chánh, Loài muỗi mòng quyết chẳng tổn thương. Tám nạn hằng xa lánh khỏi vương, Bốn duyên phước khiến thường đặng gặp. Trí Bát Nhã hiện tiền soi khắp, Tâm Bồ đề giữ chặt chẳng lui. Chánh pháp hằng chung thỉ cần tu, Ðại thừa giáo học cho liễu ngộ. Mở hoát cửa chơn hành lục độ, Vượt tam kỳ kiếp khổ hải hà. Dựng pháp tràng tứ xứ gần xa, Phá nghi võng đứt ra từng đoạn. Hàng phục cả chúng ma xâm loạn, Tam bửu gìn viên mãn xương long. Thờ thập phương chư Phật hết lòng, Chẳng biết nhọc, cũng không giải đãi. Dốc tu học pháp môn cả thảy, Cho đạt thông chánh đại lý chơn. Quyết rộng làm phước huệ nghĩa nhơn, Hầu lợi khắp trần gian sanh chúng. Ðặng sáu thứ thần thông diệu dụng, Tu một đời, quả chứng Phật tôn. Trở lại nơi pháp giới lập công, Ði khắp chốn bụi hồng độ thế. Noi gương PHẬT QUAN ÂM từ huệ, Hạnh PHỔ HIỀN nguyện thệ hải hà. Trong các phương cảnh giới Ta bà, Tùy hình loại hiện ra sắc thể. Diễn dương pháp huyền vi diệu đế, Ðộ các loài đọa bể trầm luân. Khắp các nơi địa ngục khổ thâm, Cùng ngạ quỉ, thú cầm ác lộ, Hoặc đại phóng quang minh cứu độ, Hoặc biến thần thông hộ các loài. Thấy tướng con hóa hiện vãng lai, Cùng nghe tiếng con nay thuyết pháp. Cả thảy phát Bồ đề tâm Phật, Thoát khỏi nơi khổ bức luân hồi. Ngục hỏa thiêu, sông tuyết các nơi, Thảy đều hóa rừng thơm nồng nực. Nước đồng nóng, sắt hoàn đỏ hực, Hóa ra miền tịnh lạc Niết bàn. Người ác nhơn sừng đội lông mang. Kẻ thù oán, cừu oan để dạ. Ðồng dứt hết não phiền nghiệp cả, Ðặng vẻ vui thong thả an nhàn. Ðời bịnh nguy hiện có thuốc thang, Cứu lành mạnh khỏi mang trầm trệ. Buổi đói khó hóa sanh cốc mễ, Cứu sanh linh những kẻ đói nghèo. Cả chúng dân lợi ích đồng đều, Ðặng hưng vượng gặp nhiều duyên phước Bà con cả xa gần kiếp trước, Cùng các người quyến thuộc đời nay, Nơi tứ sanh nguyện khỏi đọa đày, Tình luyến ái dứt ngay muôn kiếp. Cả thảy với chúng sanh hết nghiệp, Phật đạo thành vĩnh kiếp thung dung. Cõi hư không tuy có tận cùng, Lời con nguyện vẫn không cùng tận. Hữu tình với vô tình đồng tấn, Chứng vô sanh, trí đặng viên minh.* 133 - SÁM VĂN NHỚ ƠN PHẬT Ðời chen lộn ngàn đường tội lỗi, Ta bước riêng một lối thanh cao, Ðạo vàng quí báu biết bao, Vừa mình tu tỉnh, vừa trau sửa người! Cùng giải thoát khỏi nơi biển khổ. Cùng rước đưa khỏi chỗ sông mê, Lối đi đã sẵn đường về, Công người khai vẹt ai hề nhớ chăng? Ðức Phật Tổ toàn năng toàn giác, Sanh trong trần nhưng khác người trần, Nhìn xem cuộc thế chuyển vần, Cảm thương muôn loại chịu phần đau thương. Lòng tha thiết tìm phương cứu chữa, Tự đem mình nghiệm thửa pháp môn, Dấn thân vào chốn núi non, Bỏ lìa điện ngọc, lầu son, ngai vàng! Tình phụ tử dứt ngang quyết liệt, Nghĩa phu thê đoạn tuyệt can trường, Vượt qua tấm vách thế thường, Hiển nhiên khai mở con đường độ sanh. Buổi sơ khởi, một mình nhọc khổ, Bước vân du, nhiều chỗ lọc lừa, Thấp cao đạo lý chẳng vừa, Bao phen tìm kiếm vẫn chưa thấy gì! Ngài thong thả suy đi nghĩ lại, Ðạo phải chăng ở tại lòng ta ? Hẳn nhờ thiền định tìm ra, Xếp chơn ngồi lại kiết già công phu. Sáu năm chẵn, khư khư kiên nhẫn, Tấm thân gầy trơ nắm xương da, Dãi dầu nắng táp mưa sa, Yếu lần đến đỗi thân đà mỏn hơi. Chợt tỉnh ngộ, tức thời thấy rõ, Ðạo chưa thành, thân bỏ sao đang, Ðộ đời nguyện lớn thênh thang, Mỏi mòn thể vóc, đảm đang sao rồi. Nghĩ cạn lẽ, bèn thôi ép xác. Ðịnh ăn dùng đạm bạc thô sơ, Mỗi ngày một bữa ngọ trưa, Miễn vừa nuôi xác, lại vừa trau tâm. Tấm áo mặc một thân rách rã, Lượm vải thô, chằm vá khíu khâu, Khẻ khầm từng miếng kế đâu, Thành y bá nạp tạm hầu che thân. Rồi lần lượt bước chân giải thoát, Ðem gương lành, ôm bát hóa trai, Ðói no đắp đổi qua ngày, Nếu chưa thành đạo nào ai biết mình. Còn gặp phải điêu linh gay cấn, Tục truyền rằng : ngộ trận Ma Vương, Lúc Ngài nhập định phóng quang, Ma Vương binh tướng nghinh ngang đánh đùa. Nhưng chúng phải bị thua chạy trốn, Ngài vẫn ngồi an ổn tự nhiên, Từ bi gương mặt dịu hiền, Từ bi nhập định tham thiền phóng quang. Bên ngoài đã lăng xăng rắc rối, Bên trong còn tội lỗi gợi khêu : Những hàng ma nữ cợt trêu, Ấy là dục vọng quẩn theo bóng hình. Nhưng Ngài dụng sức linh thiền định, Vững tinh thần, thanh tịnh chơn tâm. Vọng căn nguồn gốc đã tầm, Tham lam, sân giận, si lầm dang xa. Ðắc trí tuệ soi ra vạn pháp, Phóng hào quang chiếu khắp tứ phương, Lục thông chứng pháp phi thường, Biết bao cố gắng, khôn lường công lao, Nắng vằng vặc, mưa rào gió lốc, Tròi trọi thân dưới gốc Bồ đề, Nhứt tâm phát một lời thề : “Nếu chưa thành đạo chẳng hề dậy đi”. Bền nguyện lực sau khi đắc quả, Ði khắp nơi hoằng hóa chúng sanh. Ðầu tiên trên bước lữ hành, Lẻ loi chỉ có một mình đường xa. Nhưng lần lượt trải qua các xứ, Phục thâu nhiều đệ tử giỏi giang, Lập thành Giáo hội Ðạo tràng, Ðắp tô xong xả con đường Tây phương, Ðoàn hậu tấn noi gương hành đạo, Chỗ gởi thân rốt ráo Niết bàn, Khởi hành từ chốn trần gian, Về nơi Cực Lạc dưỡng an đời đời. Từ ngàn trước bao người dong ruỗi, Nay chốn này đến buổi chúng ta, Con dòng hưởng lấy tài gia, Ðoái nhìn sự nghiệp thương cha công trình. Càng rộng lớn, kinh dinh đồ sộ, Là người xưa lao khổ lại càng, Tìm ra được ánh đạo vàng, Nhọc nhằn một kẻ, vẻ vang muôn người. Ôi! Thật đáng cho đời kính ngưỡng, Công đức Ngài vô lượng vô biên, Hỡi chư Phật tử hữu duyên, Nhớ ơn Từ Phụ, cần chuyên tu hành. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mưu Ni Phật.* 134 - SÁM NGUYỆN Chúng con xin chí thành kính lễ, Khắp mười phương Tam thế Như Lai, Cha lành tất cả muôn loài, Sa bà Giáo chủ đức ngài Thích Ca. Dược Sư Quang Phật Ðà giáo chủ, Cõi Lưu ly Tịnh độ Ðông phương, Di Lặc Tôn Phật pháp vương, Long hoa giáo chủ rộng thương gia trì. Chúng con bởi mê si bất giác, Trôi lăn vô số kiếp tử sanh, Vì không tỏ ngộ chân tâm, Lại theo vọng tưởng mê lầm đảo điên. Ðắm đuối nơi vọng duyên giả dối, Tạo gây nên tội lỗi vô cùng, Tánh tham hưng khởi đầy lòng, Ðắm say danh, lợi, tài, tình, uống ăn. Chẳng hợp ý thì tâm sân hận, Nổi nóng lên căm phẩn oán thù, Tham lam, sân hận, si ngu, Là nguồn gây tạo lu bù nghiệp duyên. Những tánh ác này chuyên thúc đẩy, Khiến cho con sằng bậy lắm điều, Gây nên ác nghiệp quá nhiều, Làm con cứ mãi chạy theo thói tà. Thân, khẩu, ý sanh ra mọi tội, Phát khởi lên đều bởi sáu căn, Mắt ưa sắc, lưỡi ham ăn, Tai say mê tiếng, mũi thuần mến hương. Thân thích xúc, ý vương mọi pháp, Hợp cùng nhau tạo tác vô cùng, Xấu xa tội lỗi chất chồng, Hại người, hại vật thật không thiếu gì. Lại từ miệng thốt thì lời nói, Vì thế nên tội lỗi thêm ra, Nào lời dối trá, gian tà, Lường gạt, xảo quyệt, điêu ngoa lắm điều. Nào khoe khoang, dệt thêu, khêu gợi, Ðâm thọc và chửi bới, hỗn hào, Thật là độc hại biết bao, Khiến cho ác nghiệp càng cao càng dầy. Lại đem cái thân này tạo tác, Nên nhiều điều tàn ác bất lương, Những là ám hại, đả thương, Sát sanh, trộm cướp, gạt lường, tà dâm. Và vô số lỗi lầm to nhỏ, Gây lắm điều đau khổ oán hờn, Khiến cho nào vật, nào nhân, Mang lòng thù hận kết thêm tội tình. Oan trái đã tự mình gây tạo, Thì tất nhiên quả báo phải đền, Ðể rồi ân oán triền miên, Ðem thân gánh chịu đảo điên luân hồi. Nghiệp phiền não đã thời đầy dẫy, Tâm trí lại mang lấy vô minh, Cố chấp theo thiển ý mình, Những sự hiểu biết mê lầm tối tăm. Nên thường hay tin sằng, tưởng bậy, Ý thức thật sái quấy quá nhiều, Không phân tỏ được những điều, Chánh tà, thiện ác, cao siêu, thấp hèn. Chỉ dựa vào thói quen suy tưởng, Cho nên sở tri chướng kết thành, Bởi ba chướng ấy ngại ngăn, Khiến con luân chuyển tử sanh bao đời. Thân chẳng khác bèo trôi sóng vỗ, Chịu đắm chìm bể khổ sông mê, Bấy lâu chưa biết lối về, Cam lòng theo nghiệp dắt đi đủ đường. Chư Phật rộng lòng thương con dại, Vì cứu cho thoát khỏi luân hồi, Từ bi thị hiện nơi đời, Dắt đường chỉ lối muôn loài khổ mê. Ðều tỉnh ngộ trở về bến giác, Ðể không còn trôi dạt tử sanh, Con nay dốc một lòng thành, Cúi xin giải tỏa tội tình của con. Bằng tơ tóc chẳng còn dám giấu, Sám hối cầu Tam bảo chứng minh, Trước là sạch tội của mình, Sau xin cho cả chúng sanh muôn loài. Bao tội lỗi đồng thời giải thoát, Dốc lòng thành xin Phật rộng thương, Từ nay chẳng dám tưởng màng, Gây nên tội ác để mang sau này. Việc phúc thiện đêm ngày xin gắng, Mở rộng lòng bình đẳng vị tha, Thấy ai đau khổ xót xa, Quyết tìm phương tiện giúp cho an lành. Làm lợi lạc chúng sanh khắp cả, Bỏ hẳn lòng chấp ngã chấp nhân, Nguyện cho tất cả chúng sanh, Tỏ ngộ chánh pháp, phát tâm Bồ đề. Ðạo giải thoát thẳng về tới chốn, Không ai còn lăn lộn tử sanh, Vô thượng Chánh giác chóng thành, Nguyện xin chư Phật mười phương hộ trì. Con có công đức gì đã tạo, Cúng dàng lên Tam Bảo chứng minh, Rồi xin hồi hướng chúng sinh, Khắp trong pháp giới đều thành Phật mau.* 135 - SÁM VĂN PHỔ HIỀN HẠNH NGUYỆN Trong bao nhiêu mười phương cõi nước, Cả ba đời các đức Pháp vương, Con dùng ba nghiệp tịnh xương,(sạch tốt) Khắp lễ tất cả mười phương vẹn tuyền. Sức thần oai Phổ Hiền hạnh nguyện, Trước Như Lai khắp hiện tự thân, Mỗi thân lại hiện trần thân, Thân thân lễ khắp sát trần Thế Tôn. Trong một trần có trần số Phật, Ðều ở trong hội bực Thượng Nhân, Khắp cùng pháp giới mảy trần, Sâu tin chư Phật đều thường đầy trong. Biển âm thanh đều dùng trọn vận, Diệu ngôn từ vô tận khắp vang, Vị lai cả kiếp thảy toàn, (tất cả) Ngợi khen Phật đức biển ngàn rất sâu! Tràng hoa đẹp rất xinh thơm ngát, Cùng hương xoa, kỹ nhạc, lọng tàn, Như kia đồ tốt trang hoàng, Cúng dường chư Phật con toàn kính dâng. Y tối thắng cùng hương tối thắng, Với đuốc đèn, hương phấn, hương xông, Ðều nhiều như Diệu Cao phong,(núi Tu Di) Cúng dường chư Phật con đồng dâng lên. Tâm thắng giải mông mênh con dụng, Phật ba đời thảy cũng tin kiên, (tin chắc) Ðều nương hạnh nguyện Phổ Hiền, Cúng dường chư Phật khắp miền mười phương. Các tội ác xưa con lầm lỡ, Do tham sân muôn thuở xui nên, Từ thân ngữ ý sanh lên, Nay con cả thảy đều bền sám luôn. Các chúng sanh khắp mười phương cõi, Bậc nhị thừa, Hữu học cùng Vô, Như Lai Bồ Tát vẹn tuyền, Có bao công đức con nguyền vui ưa. Thế gian Ðăng trong mười phương nước, Lúc tối sơ thành được Bồ đề, Nay con đều thỉnh một bề, Giảng truyền pháp diệu vỗ về quần sanh. Các đức Phật muốn toan nhập diệt, Con chí thành mải miết ân cần : Cúi mong ở mãi kiếp trần, Làm cho lợi lạc khắp quần sanh linh. Bao nhiêu phước cúng dường, lễ, tán, Thỉnh ở đời cùng giảng pháp luân, Vui theo, sám hối thiện căn, Hồi sanh, hướng Phật, cao thăng Bồ đề. Con nguyện đem đức dày thắng lợi, Hồi hướng chơn pháp giới tối cao, Tánh, tướng Tam Bảo thế nào, Hải Ấn Tam Muội dung vào tục, chơn. Biển công đức không lường như thế, Nay con đều đem để hồi về : Dưới cho muôn loại nương kề, Cùng con đồng chứng Bồ đề đạo chơn. Bao nhiêu chúng nơi thân, khẩu, ý, Lòng mê lầm móng nghĩ sân, si, Chê bai chánh pháp Mâu Ni, (Phật) Thân tâm phạm quấy kể gì phải chăng. Như trên nghiệp chướng tội thâm, Nguyện tiêu diệt hết ác tâm chẳng còn. Trí huệ khắp đầy tròn pháp giới, Ðộ chúng sanh chẳng nại gian lao, Hư không thế giới dẫu hao, Chúng sanh, phiền não với nào nghiệp chung. (cùng tận) Nay con hồi hướng rộng lung, Cũng như bốn pháp vô cùng vô biên.* Nam Mô Ðại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát Ma Ha Tát. 136 - SÁM VĂN PHỔ HIỀN HẠNH NGUYỆN NGHĨA Xin chư Phật mười phương thế giới, Tại thế gian thương đoái đến con, Ðời này, đời trước tội dồn, Tử sanh vô thỉ nghiệp tồn đến nay. Tội con tạo hoặc bày kẻ khác, Tội thấy người làm ác mừng vui, Của chùa của sãi khắp nơi, Tự lấy, xúi lấy, tươi cười mừng theo. Tội Vô gián năm điều tự tạo, Thấy mừng theo hoặc bảo người làm, Mười điều bất thiện tự con, Xúi người can phạm thấy mà mừng theo. Bày hoặc giấu bao nhiêu tội ấy, Ðáng đọa vào ngạ quỉ, súc sanh, Ðịa ngục, ác thú phạt hành, Biên địa, ác kiến hoặc thành tiện nhơn. Các tội ấy nay con sám hối, Phật chứng tri thương đoái đến con, Thành tâm quì trước Thế Tôn, Sự tình mọi nỗi nguồn cơn giãi bày. Hoặc đời trước, đời này, đời khác, Con giữ gìn giới pháp tịnh thanh, Hạnh tu bố thí thường hành, Hoặc cơm một vắt nhịn dành muôn chim. Hoặc tịnh hạnh căn hiền đã có, Sẵn căn hiền hộ độ chúng sanh, Bồ đề gieo giống căn lành, Căn lành sẵn có phát sanh trí mầu. Căn lành ấy gồm thâu vô lượng, Thảy đều xin hồi hướng Bồ đề, Con xin phát nguyện trở về, Theo ba đời Phật không hề sai ngoa. Những tội lỗi con đà sám hối, Các phước lành nhuần gội bấy nhiêu, Thành tâm kỉnh Phật công nhiều, Nguyện thành Bồ Tát cao siêu độ đời. Phật quá khứ, vị lại, hiện tại, Trong chúng sanh tối đại thắng vương, Biển khơi công đức khôn lường, Nay con qui mạng cúng dường kính cung. Trong tất cả mười phương thế giới, Trong ba đời các vị Pháp vương, Miệng lòng trong sạch cúng dưng, Chí tâm đảnh lễ mười phương vẹn tuyền. Oai thần lực Phổ Hiền hạnh nguyện, Trước Như Lai phổ hiện chơn thân, Mỗi thân thể hiện vô ngần, Mỗi thân đảnh lễ nhiều thân Phật Ðà. Trong mảnh bụi hằng sa số Phật, Khắp nơi nơi Bồ Tát hội vào, Bụi trần pháp giới biết bao, Cùng tin có Phật dồi dào nơi nơi. Biển âm thinh khắp trời xưng tụng, Lời diệu huyền cất giọng đề cao, Trải bao thế kiếp mai sau, Tán dương công Phật dạt dào biển khơi. Tràng hoa đẹp xinh tươi bát ngát, Cùng lọng tàng kỹ nhạc trầm hương, Vật mầu, thức trí trang hoàng, Con xin cúng Phật mười phương ba đời. Y tối thắng hương trầm tối thắng, Ðèn đuốc cùng hương phấn, hương xông, Của nhiều như núi chất chồng, Con xin cúng Phật với lòng kính tin. Lòng con mở rộng thinh thăm thẳm, Phật ba đời khăng khắng niềm tin, Nương theo hạnh nguyện Phổ Hiền, Con xin cúng Phật với lòng kính tin. Các nghiệp ác tạo thành từ trước, Tham sân si đã trót gieo nhân, Từ lời, từ ý, từ thân, Nay con sám hối một lần trọn xong. Bực nhị thừa học cùng hết học, Chúng sanh gồm các bậc mười phương, Như Lai, Bồ Tát các hàng, Bao nhiêu công đức con toàn mừng vui. Ðèn chiếu thế mười phương Phật bảo, Lúc tối sơ thành đạo Bồ đề, Nay con thành kính thỉnh về, Chuyển vô thượng diệu Bồ đề pháp luân. Chư Phật muốn Niết bàn nhập diệt, Con chí thành, chí thiết cầu van, Cúi mong Phật ở trần hoàn , Làm cho lợi lạc các hàng chúng sanh. Lễ tán cúng phước dành thỉnh Phật, Tại thế gian chuyển pháp độ sanh, Vui theo sám hối căn lành, Xin hồi hướng đến chúng sanh đạo tràng. Nguyện công đức muôn vàn thắng lợi, Hồi hướng về pháp giới cao xa, Tán dương Phật, Pháp, Tăng già, Ấn tam muội được dung hòa tục chơn. Biển công đức mênh mông vô lượng, Con xin đem hồi hướng tận cùng, Cho người tội miệng, thân, lòng, Khinh chê chánh pháp trong vòng lầm sai. Các nghiệp chướng tạo gây thế ấy, Nguyện diệt tiêu một mảy chẳng còn, Trí minh niệm khắp đầy tròn, Ðộ sanh bất thối, sắt son một lòng. Dầu cùng tận hư không thế giới, Tận chúng sanh tội lỗi não phiền, Phước con hồi hướng khắp miền, Cũng như bốn pháp vô biên vô cùng. Nam Mô Ðại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát.* * * * 137 - SÁM NGUYỆN VỀ CÕI PHẬT Con xin lạy đấng Ðại Hùng, Ðức Ngài giải thoát khỏi vòng trần duyên. Cảnh đời con sống đảo điên, Ðau thương lắm nỗi, ưu phiền xiết bao. Áo trần con lỡ mặc vào, Nợ trần con biết ngày nào cởi ra! Cũng như đứa trẻ lìa nhà, Lạc loài càng bước, càng xa, xa vời. Bơ vơ trên quảng đường đời, Kìa là hoang vắng, nọ thời rừng hoang. Thập thò mãnh hổ ác lang, Trí con khủng khiếp kinh hoàng khóc la! Chập chờn bóng quỉ, hình ma, Tâm con hồi hộp thiết tha nguyện cầu! Rừng đời càng bước càng sâu, Là càng rùng rợn lo âu phập phồng! Yếu thơ trước cảnh hãi hùng, Nhỏ nhen con thấy lạnh lùng thân côi! Ðường về nhà đạo xa xôi, Ðường theo cuộc thế, ôi thôi đoạn trường! Sấn vào trong cõi bi thương, Trăm ngàn nỗi thảm vấn vương bên mình! Chung quanh đầy những khổ hình, Chẳng hay con mắc tội tình chi đây! Ngán cho số kiếp đọa đày, Tủi cho thân phận lạc loài éo le. Bàng hoàng giữa chốn rừng mê, Không ai giùm chỉ đường về cho con! Ngây thơ trí nhớ đâu còn, Lại thêm nạn chướng giết mòn tánh linh! Ðồng thời nhiều kẻ chung quanh, Rủ con vào nghiệp chúng sanh luân hồi! Dây oan khi đã cột rồi, Tên ghi, hồn gởi thì thôi còn gì! Giấc mơ nhiều kiếp li bì, Càng quanh lộn mãi, càng si mê hoài! Mãi lo xây đắp mộng đài, Ở nơi huyễn cảnh dặc dài thời gian! Niên hoa mấy độ nở tàn, Chủ nhơn khuất bóng trong màn vô minh. Cõi trần kiếp kiếp lụy mình! Dây thương vấn vít lưới tình bủa giăng! Áo quần vật chất trói trăng, Cửa nhà nhốt phạt miếng ăn hành hà. Cơn đau hấp hối rên la, Hung thần ác quỉ cõi ma hoành hành. Mảnh thân khổ sống cam đành, Lại thêm khổ chết giựt giành chia phuôi. Lòng con luống những ngậm ngùi, Trót đem linh tánh nhuộm mùi trần gian. Thân này đã lỡ vương mang, Khổ này mới phải trăm đàng tai ương. Não nề với cảnh đau thương, Lắm khi con muốn tìm đường thoát thân. Than ôi! Dính chặt lưới trần, Dễ gì tháo gỡ một lần cho ra! Nghiệp duyên chẳng chịu buông tha, Sức con yếu kém khó qua phép đời. Kiếp trần biển khổ chơi vơi, Con đang trồi hụp đuối hơi vẫy vùng. Cúi xin lạy đấng Ðại Hùng, Ðức Ngài giải thoát khỏi vòng trần duyên. Từ bi vô lượng vô biên, Cứu con thoát chốn oan khiên đọa đày! Cúi xin đảnh lễ Ðức Ngài.* * * * 138 - SÁM NGÃ NIỆM III Con từ kiếp trước không lường, Mất chơn bản tánh nên vương cõi trần. Luân hồi sanh tử chút thân, Thay hình đổi dạng bao lần đắng cay. Phước dư nhờ chút thiện này, Thân người được gặp theo thầy xuất gia. Cạo đầu mặc áo cà sa, Hủy trai, phá giới tạo ra tội nhiều. Sát sanh hại vật đủ điều, Ăn nhai uế tạp đắm yêu thân hình. Của người riêng chiếm vào mình, Nhờ duyên Tam bảo dụng tình tiêu hoang. Bôn xu cầu cạnh đủ đường, Rượu ngon, gái đẹp lòng thường say sưa. Khinh Tăng, hủy báng Phật thừa, Mẹ cha, thầy bạn u ơ bạc tình. Khoe hay, giấu dốt của mình, Sự người tốt đẹp lại sinh chê gièm, Lợi danh dối trá đã quen, Thị phi nhơn ngã đua chen với đời. Tưởng xằng chẳng lúc nào ngơi, Tấm lòng tán loạn suốt đời hư sinh, Việc người mách lẻo thời tinh, Việc mình niệm Phật tụng kinh thì lười. Bề ngoài đạo đức lòe đời, Mà trong ngã mạn khinh người gớm ghê. Biếng lười chỉ thích ngủ nghê, Tham lam bủn xỉn ai chê cũng liều. Gốc nhơ trồng cấy đã nhiều, Cánh bèo biển khổ theo chiều gió đưa! Ðã không chút thiện nương nhờ, Trong ba đường dữ bao giờ tránh qua ? Ngưỡng trông đức Phật A Di Ðà, Quán Âm, Thế Chí đôi tòa thần thông. Từ bi lượng cả bao dong, Cứu con tội cấu sạch không mọi màu. Ðời này cho chí đời sau, Sáu căn, ba nghiệp sạch làu như gương. Rỗng không tội tánh mọi đường, Khắp trong pháp giới chẳng vương bụi trần.* 139 - SÁM QUY NGUYỆN Trầm hương xông ngát điện, Sen nở Phật hiện thân, Pháp giới thành thanh tịnh, Chúng sanh lắng nghiệp trần. Ðệ tử tâm thành, Hướng về Tam Bảo, Phật là thầy chỉ đạo, Bậc tỉnh thức vẹn toàn. Tướng tốt đoan trang, Trí và bi viên mãn, Pháp là con đường sáng, Dẫn người thoát cõi mê. Ðưa con trở về, Sống cuộc đời tỉnh thức, Tăng là đoàn thể đẹp, Cùng đi trên đường vui. Tu tập giải thoát, Làm an lạc cuộc đời, Ðệ tử nương nhờ Tam Bảo, Trên con đường học đạo. Biết Tam bảo của tự tâm, Nguyện xin chuyên cần, Làm sáng lòng ba viên ngọc quý. Nguyện theo hơi thở, Nở nụ cười tươi, Nguyện học nhìn cuộc đời, Bằng con mắt quán chiếu. Nguyện xin tìm hiểu, Nổi khổ của mọi loài, Tập từ bi, Hành hỷ xả, Sáng cho người thêm niềm vui, Chiều giúp người bớt khổ. Ðệ tử nguyện sống, Cuộc đời thiểu dục, Nếp sống lành mạnh an hòa, Cho thân thể kiện khương. Nguyện rũ bỏ âu lo, Học tha thứ bao dung, Cho tâm tư nhẹ nhõm. Ðệ tử xin nguyện, Ơn sâu đền báo, Ơn cha mẹ, ơn thầy, Ơn bạn bè, chúng sanh. Nguyện tu học tinh chuyên, Cho cây bi trí nở hoa, Mong một ngày kia, Có khả năng cứu độ mọi loài. Vượt cả ngoài cõi khổ, Xin nguyện Phật Pháp Tăng chứng minh. Gia hộ cho đệ tử chúng con, Viên thành đại nguyện.* 140 - SÁM HỐI NGUYỆN VĂN Nay con nguyện sám hối Phật tiền, Nguyện trừ nghiệp chướng tiền khiên nhiễm tà. Ba đường ác đạo lánh xa, Sân, si, tham dục quyết mà chế răn. Con nguyền nghe Phật, Pháp, Tăng, Cần tu Giới, Ðịnh, Huệ hằng chẳng sai. Con nguyền học Phật bền dai, Bồ đề tâm niệm hôm mai chí thiền. DI ÐÀ PHẬT thấy nhãn tiền, Con nguyền sanh chốn tịnh yên Niết bàn. Phân thân khắp cả trần gian, Con nguyền phổ độ chúng sanh các hàng. MẮT thấy chư Phật mười phương, TAI thường nghe tiếng pháp lành diệu dương. MŨI không ngửi các trần hương, MIỆNG đàm Bát Nhã, trí thường xét xa. THÂN con chẳng nhiễm trược tà, Ý không tưởng sự sai ngoa lỗi lầm. Vô lượng kiếp tạo tội thâm, Chẳng dè trược nhiễm, tự tâm muôn vàn. Xưa kia Phật ở thế gian, Thời con bị đọa trong đàng trầm luân. Ngày nay thọ đặng nhơn thân, Phật đà diệt độ muôn phần tiếc thay! Thân này mang nghiệp chướng dày, Ngưỡng trông chẳng thấy Phật rày kim thân. Con nay trước Phật, Pháp, Tăng, Mọi điều bày tỏ, ăn năn chí thành. Nguyện nay tới kiếp lai sanh, Ba đời chư Phật lòng lành huệ ban. Phép mầu thọ ký rõ ràng, Ðặng sanh Cực Lạc Tây phương Niết bàn. Sen nở thấy Phật tôn nhan, Hào quang chiếu diệu tiêu tan tội tình. Từ đây dứt nghiệp tử sinh, Con nguyền tinh tấn quang minh tu hành. Sen vàng chín phẩm hóa sanh, Ấy là cha mẹ tạo thành chơn thân. Thường xem thấy Phật hoan hân, Vô sanh liễu ngộ muôn phần thảnh thơi. Bạn cùng Bồ Tát chẳng rời, Diệt tiêu ba chướng, dứt thời khổ căn. Trí huệ khi đặng mở mang, Khắp nguyền độ chúng nghiệp căn giải trừ. Bồ Tát đạo cả thường tu, Nguyện thành Vô thượng Chơn Như đạo thiền. Ba đời chư Phật linh thiêng, Văn Thù, Thế Chí, Phổ Hiền, Quan Âm. Cùng chư Bồ Tát huệ thâm, Xót thương đến kẻ luân trầm khổ nguy. Cúi xin Ðức Cả từ bi, Ðộ con thành đạo, thoát ly hồng trần.* 141 - VĂN SÁM HỐI TAM NGHIỆP Trước Phật đài con xin sám hối, Xét lại mình tội lỗi từ xưa, Hoặc là nhiều kiếp dây dưa, Chập chồng nghiệp quấy có thừa núi cao. Thân đựng chứa biết bao tật xấu, Bước chân đi theo dấu đường đời, Cách ăn thói ở tùy thời, Nào con có tránh khỏi nơi tội tình. Tội thứ nhứt : Sát sinh thực nhục, Thuở bé thơ đến lúc trưởng thành, Vì con cha mẹ cam đành, Giết loài muông thú nuôi sanh mạng nầy. Con cũng có tự gây lấy nghiệp, Cùng bao người gián tiếp trợ duyên, Thức ăn bán ở thị thiền, Sát sanh tội bởi đồng tiền trao tay. Thân con lỡ tạo vay nghiệp ác, Muôn vạn loài oan thác vì con, Ví như thây ướp hằng còn, Từ xưa chất để nên hòn núi cao. Tính một kiếp dồn bao nhiêu kiếp, Thân con đây tội nghiệp dẫy đầy, Xét ra thì thịt xương này, Lại là xương thịt muôn thây tạo thành. Cũng có lúc lòng lành bất nhẫn, Nghe tiếng kêu hối hận giựt mình, Máu me ràn rụa thân hình, Mắt trông cảnh thảm động tình xót xa. Con nguyện hứa thứ tha tất cả, Lòng dặn lòng cải hóa tự thân, Học đòi theo bậc Triết nhân, Tạm dùng rau trái nuôi thân qua ngày. Nhưng trong cõi trần ai bụi bặm, Giữ làm sao khỏi lấm tấc son, Biết bao nghiệp sát cỏn con, Nhiều lần vô ý dập dồn tội khiên. Nay đến trước Phật tiền sám hối, Lượng từ bi xá tội lỗi lầm, Ăn năn gội rửa lòng phàm, Con nguyền sửa đổi việc làm từ nay. Tội thứ hai : Tham tài trộm đạo, Thói vạy tà gian xảo xấu xa, Hoặc từ nhiều kiếp trải qua, Hoặc thời thơ bé tạo ra tội tình. Nhìn lại tấm thân hình trưởng đại, Hẳn có khi tội trái lôi thôi, Của người nhọc đổ mồ hôi, Dùng mưu chước lấy đắp bồi thân ta. Tội thứ ba : Dâm tà loạn phép, Lỗi đạo hằng mang nghiệp vào thân, Tấm lòng yểm cựu nghinh tân, Làm sao tranh khỏi xoay vần trái oan ? Ðường tình ái đã chan chan tội, Nẻo dâm tà càng lỗi nặng lung, Tấm thân tội lỗi thẹn thùng, Kiếp này kiếp khác chập chồng bằng non. Tội thứ tư: Vọng ngôn dối trá, Lợi cho mình thiên hạ hại thân, Vẽ duyên thêu dệt xa gần, Muôn điều rối rắm, trăm phần đảo điên. Thói lưỡng thiệt hai bên đâm thọc, Cho đôi đàng trách móc lẫn nhau, Mở lời để hại về sau, Một câu thất đức họa sâu không ngừa. Tội thứ năm : Say sưa chè rượu, Lỗi giới điều do tửu nhập tâm, Thêm lòng ham muốn tham lam, Càng thâu chất chứa, càng làm mê say. Bịnh sân hận ai tài chuyên chữa, Nổi nóng lên như lửa cháy rừng, Si mê đâu biết tỏ tường, Cõi mơ muôn vạn nẻo đường nhá nhem! Năm giới chánh cộng thêm giới phụ, Tam nghiệp chung tính đủ thập điều, Phật ban giới cấm đã nhiều, Mà con lỗi phép chẳng theo luật Ngài. Hoặc vô ý không hay tội trượng, Hoặc yếu hèn chẳng cưỡng được tâm, Tự làm hoặc xúi người làm, Hoặc nghe thấy ác lòng phàm đua vui. Từ vô thỉ tạo rồi nghiệp chướng, Ðến những nay vô lượng kiếp sinh, Mỗi phen mang lấy thân hình, Tạo gây lắm thứ tội tình nghiệp duyên. Tấc lòng thành con nguyền sám hối, Xét tội xưa tránh lỗi về sau, Cầu xin nước tịnh rưới vào, Tâm con được sạch làu làu hôm nay. Con cố gắng từ đây sắp tới, Giữ đúng theo ngũ giới Phật truyền, Cần trau tam nghiệp trọn hiền, Pháp tu thập thiện vẹn tuyền mới cam. Mong đến chốn già lam Phật cảnh, Giã cõi đời ảo ảnh phù du, Con về con học phép tu, Làm dân đất Phật thiên thu sống đời. Ðường giải thoát lòng con chí dốc, Quyết phăng tìm theo gốc tu chơn, Nương nhờ Tam Bảo là hơn, Con nguyền chẳng dám khinh lờn dễ duôi. Ðược thưởng thức chút mùi vị đạo, Xin nhớ ơn Tam Bảo ghi lòng, Con nay sám hối vừa xong, Nghiệp trần nhẹ phủi không không sạch rồi. Con cầu nguyện người đời tỉnh thức, Thọ phước lành đạo đức thưởng ban, Cầu xin Phật hiện thế gian, Cầu xin Tam Bảo cứu an muôn loài.* 142 - SÁM NGUỒN TÂM Biển thương sóng lớn rạt rào, Sông mê vạn nẻo dồn vào còn vơi. Lợi danh, tình kết sử đời, Không tu khó thoát lưới trời cao minh. Dở hay thiện ác tự mình, Nghiệp duyên như bóng với hình không sai. Ðạo vàng Phật Tổ Như Lai, Từ bi quảng độ mọi loài chúng sanh. Mau tu tự giác cứu mình, Và làm gương sáng gia đình soi chung. Tự thân gội rửa lập công, Hạnh lòng ngũ giới, tín lòng tam qui. Kệ kinh hôm sớm hành trì, Khởi nguồn tri đức tìm về Tây phương. Bốn mươi tám nguyện Phật vương, Quang minh vạn nẻo dẫn đường thiện sinh. Ðộ người giữ giới làm lành, Tỏ thông Phật pháp thực hành từ bi. Bảo hoa ban rải tứ vi, Dù chưa đắc đạo chân Tri cũng tường , Nam mô Công Ðức đạo tràng, Bồ đề chân lý Kim Cang sáng ngời. Tu nhất kiếp ngộ nhứt thời, Niết bàn Tịnh độ là nơi nương nhờ.*

CÁC BÀI SÁM VĂN XƯNG TÁN KỶ NIỆM PHẬT BỒ TÁT 2

SÁM VĂN XƯNG TÁN TAM THẾ PHẬT Vô thượng cảnh Niết bàn ÐẠI GIÁC, Phóng hào quang chiếu đạt Tam thiên, Hư linh hoạt bát vô biên, Quán thông Pháp giới, định yên đất trời. PHẬT, BỒ TÁT ba đời mười hướng, Ánh kim quang muôn trượng chói lòa, Từ bi thệ nguyện hải hà, Ðộ trong lục đạo thoát mà khổ nguy. Tây phương cảnh Tổng trì Cực lạc, A DI ÐÀ PHẬT tác Tịnh bang, Kim thân vô lượng hào quang, Thọ mạng kiếp kiếp muôn vàn khôn phân. Xưa bốn tám nguyện chơn quảng đại, Ðộ chúng sinh tam giới mười phang, Ðồng lên chín phẩm sen vàng, Hưởng phần khoái lạc tịnh an thanh nhàn, Ta bà giới khổ nàn Uế độ, Ngũ trược thời PHẬT TỔ THÍCH CA. Giáng trần độ chúng hằng sa, Dùng, Bi, Trí, Dũng, diễn ra phép mầu. Ðạo Chánh giác cao sâu Bát nhã, Cả Tam thừa, Tứ quả, gội nhuần, Phép thiền giải thoát độ nhơn, Khỏi nơi khổ hải, đặng gần Thiên Thai. Cõi Ðâu Suất, Liên đài chói rạng, DI LẶC NHƯ LAI quảng độ sanh, Từ Thị diệu lạc tánh thành, Tử kim trăm ức thân sanh khắp cùng. Ðời mạt kiếp muôn trùng tai họa, Kế THÍCH CA PHẬT hóa vạn linh, Ðương lai trần thế hạ sinh Long Hoa đại hội diễn minh đạo mầu. Phép Bồ Tát cao sâu huyền diệu, QUAN THẾ ÂM lượng liệu hóa thân, Nhành dương quét sạch trược trần, Tịnh bình cam lộ giải tan não phiền. Ðại bi rải khắp miền Nam Thiệm, Tìm tiếng kêu nguy hiểm khóc than, Cứu người thoát khỏi tai nàn, Ðồng đăng Bát nhã từ thoàn Tây qui. CHIẾN THẮNG PHẬT hộ trì bốn biển, Cứu chúng sanh tai biến vương mang, Tà ma quỉ quái kinh hoàng, Phục tùng Thánh lịnh, qui hàng pháp minh. THỦ GIÀ LAM, oai linh HỘ PHÁP, Trục tà ma, hộ Phật, Pháp, Tăng, Ðộ người thiện niệm đạo hằng, Thân tâm an tịnh, huệ tăng phước tràn. Thượng thiên cảnh KIM CANG BÁT BỘ, Chư Thiện Thần cứu khổ giải oan, Thập phương BỒ TÁT hóa thân, Lịch đại chư Tổ, ân cần hộ nhơn. Hóa vạn loại ngộ chơn Chánh giác, Ra khỏi miền đọa lạc trầm luân, Ðồng lên bệ Phật chín tầng, Muôn năm an hưởng kim thân Bồ Ðề. Dạ thành kỉnh một bề qui mạng, Pháp Pháp Tăng tiếp vãng Niết Bàn, Cầu PHẬT, BỒ TÁT mười phang, Giải tiêu thủy hỏa tai nàn đao binh. Hộ quốc thái, an ninh lê thứ, Khắp năm châu xứ xứ hòa bình, Ðạo mầu Chánh giác phổ minh, Chúng sanh đồng đặng vãng sinh cõi Thiền, Nam mô Thập Phương Tam Thế Phật, Bồ Tát Thánh Chúng.* 119 - SÁM VĂN KỶ NIỆM PHẬT ÐẢN Ngày xưa vào giữa tháng Tư, Chúng sanh mừng đức Ðại Từ cung nghinh. Ngày nay kỷ niệm Ðản Sanh, Thiện nam, tín nữ lòng thành dâng hương. Thông hòa thế giới mười phương, Một lòng hướng thiện, một đường cần tu. Giải oan, quên hận, dứt thù, Thương yêu, cứu trợ, hòa nhu, tươi cười. Vì đời, đức Phật ra đời, Vớt người mê đắm, cứu người khổ đau. Hy sinh danh lợi sang giàu, Vẹn nguyền tu niệm quản bao phong trần. Sáu năm ép xác, gầy thân, Năm năm tầm đạo, bước chân mỏi mòn. Ðộ sanh bốn chín năm tròn, Thân vàng dầu mỏn, lòng son chẳng dời. Treo gương giải thoát soi đời, Treo gương từ ái dạy người từ bi. Lợi sanh xả kỷ trường kỳ, Siêu sanh độ thế huyền vi đạo tràng. Tịch nhiên cứu cánh Niết bàn, Ðưa người giác ngộ lên đàng tiêu diêu. Ðạo Từ quí báu cao siêu, Giúp đời kể biết bao nhiêu cho cùng, Nhơn ngày Khánh Ðản lễ chung, Cùng trong Phật tử, cùng đồng pháp môn. Hiệp vầy dưới bóng Từ Tôn, Một lòng thành kính ghi ơn cao dày.* Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. 120 - SÁM VĂN KỶ KIỆM PHẬT NIẾT BÀN - Chúng con cung kính nghe rằng : Ðức Bổn Sư Từ phụ, Ba đời đạo quả vuông tròn, Giáo pháp lưu truyền vũ trụ. Sáu độ tu nhơn đầy đủ, Pháp vương nhập diệt Niết bàn. Tuy rằng : Chân tánh thường an, Sao khỏi hóa thân biến dịch. - Nhớ xưa đấng cha lành họ Thích, Khi hóa thân tuổi đã tám mươi. Hóa du khắp cả trời người, Ðại sự nhân duyên đã mãn. Người từng báo tin ba tháng, Rằng ta sẽ nhập Niết Bàn... - Một hôm cùng chúng lên đàng, Ði về phía rừng Song Thọ, Giữa đêm trăng thanh sáng tỏ, Trước mặt đông đủ Thánh Hiền. Với cùng vô số nhơn thiên, Tay phóng hào quang rực rỡ. Mọi người hết thảy lo sợ, Ðợi chờ biến cố xảy ra... Với cả rừng cây Ta La, Lúc ấy biến thành sắc trắng, Ðấng Chánh Ðẳng, Chánh Giác, Người tuyên bố như vầy : - Ta nay đã đến ngày, Vào Niết bàn tịch diệt, Vậy những gì chưa biết, Với những gì hoài nghi, Bất luận một việc chi, Các người cứ xin hỏi, Ta Ðạo Sư ba cõi, Sẽ giải thích rõ ràng. Ðể mọi người tâm an, Ta ra đi vui vẻ. A Nan nghe cặn kẽ, Lòng bối rối băn khoăn, Liền quì gối thưa rằng : Xin Thế Tôn từ mẫn. Dạy các điều thỉnh vấn, Xin bày tỏ sau đây : - Chư Tăng lấy ai làm thầy, Chư Tăng nương đâu để sống, Sau khi Thế Tôn vãng bóng, Tại các Pháp hội xưa nay ? Và việc nữa thấy này : Các Tỳ kheo ác tánh, Các Tỳ kheo thô hạnh, Làm thế nào ở chung ? Việc quan trọng sau cùng, Khi kết tập kinh điển. Nên mở đầu mỗi quyển, Bằng những câu thế nào ? Trước khi vào phần chính. Dạy các việc thế này: Chư Tăng lấy giới luật làm Thầy Chư Tăng lấy lục hòa để sống. Sau khi ta vắng bóng, Ở chung mà tu hành, Còn những người chẳng lành, Thì đồng tâm mặc tẫn. Việc kết tập cẩn thận, Mở đầu kinh thế này : Rằng tôi nghe như vầy, Một thuở nọ đức Phật... Lời lẽ phải thành thật, Ðúng lời dạy của Thầy... - Nghe Phật dạy tới đây A Nan liền cúi lạy. Xin vâng lời Phật dạy, Lòng buồn bã ngại ngùng, Trước lời dạy sau cùng, Ðầy lo âu xúc động Không biết thức hay mộng, Nay NGHE THẤY tại đây, Mai chỉ nghe như vậy, Mà không thấy Thầy nữa ! Rồi giờ ăn đến bữa, Ai ngồi trước Chư Tăng, Ai dạy bảo khuyên răn, Ai dắt dìu đại chúng. Ai hóa duyên ứng cúng, Ai phục ngoại hàng ma...? - Ôi thôi ! Còn đâu Giáo chủ Ta bà ! Ôi thôi ! Còn đâu Ðạo Sư vũ trụ! - Ðêm đấy cỏ cây ủ rũ, Cúi đầu lễ Phật Niết bàn ! Ðêm ấy Thánh chúng bàng hoàng, Quỳ khóc Thầy nhập diệt ! Biết bao nỗi niềm thương tiếc, Chi xiết mất mát thiệt thòi. Rồi từ đây đường về Xá Vệ trăng soi, Nào thấy bóng thầy La Hán. Nẻo đến Linh Sơn gió thoảng, Ðâu nghe tiếng pháp Giác Hoàng ! Và còn buồn hơn nữa : - Kỳ Viên tấc đất tấc vàng. Tịnh xá giờ này mây che gió lạnh, Ta La đôi cây đôi nhánh, Kim thân ngày đó lửa tắt củi tàn ! Vậy thì người đi đâu ? - Chẳng theo chân Tịnh Phạn phụ hoàng ? Không nối gót Ma Gia thánh mẫu ? Chúng sinh khó mà hiểu thấu, Chư Phật hẳn đã cảm thông. Và rồi cũng từ đó : Tây Thiên - Ấn Ðộ núi sông, Vắng mặt Pháp vương cao cả. Lộc Uyển, Trúc Lâm sơn dã, Mờ hình Từ phụ nghiêm trang ! Nhưng giờ thì chỉ còn : - Nhục thân xá lợi ngọc vàng, Tháp miếu phụng thờ bốn biển. Xá lợi Pháp thân kinh điển, Thọ trì đọc tụng năm châu. - Mấy nghìn năm truyền bá pháp mầu, Xe pháp biết bao vất vả ! - Mấy nghìn năm lưu thông đạo cả, Thuyền từ chi xiết gian nguy. - Gieo rắc từ bi, mở mang trí tuệ. Cứu nhân độ thế, cứu quốc an dân. - Nơi nơi mát mẻ tứ thân, Xứ xứ thấm nhuần Pháp vũ, - Ân ban cây cỏ, đức hòa càn khôn. Ðiên đảo tỉnh hồn, lợi danh tan mộng. - Nghìn thu cửa thần cao rộng, Muôn thuở nhà Phật thâm nghiêm. - Nhớ xưa cũng ngày đêm này : - Ta La trăng sáng trọn đêm, Ðưa Phật đến thành Bất thối Bản tự đèn chong suốt tối, Rước người về từ cõi Vô dư. Ðến đây : Hương giới hiến cúng một lư, Hoa lòng kính dâng mấy đóa. Trống chuyển luân Bát Nhã, Âm nhạc cử tác Thánh ca. Tất cả hướng về thành cũ Thi Na. Tất cả vọng đến vườn xưa Song Thọ. Gởi hồn xuôi theo chiều gió, Dâng lòng đến với làn hương, Cúng dường ngôi Trí Tuệ khôn lường, Tôn vinh đấng Từ Bi vô lượng.* Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. 121 - MƯỜI HAI ÐẠI NGUYỆN CỦA ÐỨC QUÁN THẾ ÂM Nguyện Thứ Nhứt : Khi thành Bồ Tát Danh hiệu tôi : Tự Tại Quán Âm Mười hai lời nguyện cao thâm “Nghe tiếng cứu khổ”, Quán Âm thề nguyền. Nguyện Thứ Hai : Không nài gian khổ Quyết một lòng cứu độ chúng sanh Luôn luôn thị hiện biển Ðông Vớt người chìm đắm, khi dông gió nhiều. Nguyện Thứ Ba : Ta Bà ứng hiện Chốn U Minh nhiều chuyện khổ đau Oan oan tương báo hại nhau Nghe tiếng than thở, mau mau cứu liền. Nguyện Thứ Tư : Hay trừ yêu quái Bao nhiêu loài ma quỉ gớm ghê Ðộ cho chúng hết u mê Dứt trừ nguy hiểm, không hề nhiễu nhương. Nguyện Thứ Năm : Tay cầm dương liễu Nước cam lồ rưới mát nhân thiên Chúng sanh điên đảo, đảo điên An vui mát mẻ, ưu phiền tiêu tan. Nguyện Thứ Sáu : Thường hành bình đẳng Lòng từ bi thương xót chúng sanh Hỷ xả tất cả lỗi lầm Thường hành bình đẳng, chúng sanh mọi loài. Nguyện Thứ Bảy : Dứt ba đường dữ Chốn ngục hình, ngạ quỉ, súc sanh Cọp beo... thú dữ vây quanh Quán Âm thị hiện, chúng sanh thoát nàn. Nguyện Thứ Tám : Giải thoát còng la Nếu tội nhân sắp bị khảo tra Thành tâm lễ bái thiết tha Quán Âm phò hộ, thoát ra nhẹ nhàng. Nguyện Thứ Chín : Cứu vớt hàm linh Trên con thuyền Bát Nhã lênh đênh Bốn bề biển khổ chông chênh Quán Âm độ hết, đưa lên Niết Bàn. Nguyện Thứ Mười : Tây phương tiếp dẫn Tràng hòa thơm, kỹ nhạc, lộng tàn Tràng phan, bảo cái trang hoàng Quán Âm tiếp dẫn, đưa đàng về Tây. Nguyện Mười Một : Di Ðà thọ ký Cảnh Tây phương, tuổi thọ khôn lường Chúng sanh muốn sống miên trường Quán Âm nhớ niệm, Tây phương mau về. Nguyện Mười Hai : Tu hành tinh tấn Dù thân nầy tan nát cũng đành Thành tâm nghiêm chỉnh thực hành Mười hai câu nguyện độ sanh đời đời.* 122 - VĂN TÁN NGUYỆN QUAN ÂM Cúi đầu làm lễ QUAN ÂM, Phật tiền đệ tử chí tâm khẩn nguyền: Một cầu mở hoát tâm nguyên, Biết liền cả thảy pháp thiền NHƯ LAI. Hai cầu Bát Nhã tánh khai, Sớm đặng trí huệ nhãn rày quang minh. Ba cầu từ huệ rộng thinh, Ðộ liền cả thảy chúng sinh khỏi nàn. Bốn cầu tâm địa mở mang, Sớm đặng phương tiện trí toan lẹ làng. Năm cầu tâm đạo vẹn toàn, Liền lên Bát Nhã từ thoàn Tây qui. Sáu cầu tránh khỏi tai nguy, Sớm qua khổ hải thoát ly hồng trần. Bảy cầu thanh tịnh tâm thân, Mau thành GIỚI, ÐỊNH, HUỆ chơn pháp thiền. Tám cầu đạo hạnh cố kiên, Sớm lên bỉ ngạn tịnh yên Niết Bàn. Chín cầu tánh đặng thanh an, Vô vi diệu trí minh quang phát liền. Mười cầu hành đạo tinh chuyên, Sớm thành Phật tánh diệu viên Bồ đề. Mong ơn Bồ Tát chứng tri, Ðộ cho đệ tử tu trì thành công.* 123 - SÁM VĂN QUAN ÂM MƯỜI HAI NGUYỆN Cúi đầu làm lễ VIÊN THÔNG, QUAN ÂM TỰ TẠI mở lòng độ hơn. Từ bi quảng đại vô lường, Lập hoằng thệ nguyện vẹt đường khổ nguy. Một niềm lòng chẳng ngại chi, QUAN ÂM ân đức chơn vi hải hà. Thường cư Nam Hải Phổ Ðà, Chí nguyền độ chúng khỏi sa tội tình. Ta bà thế giới u minh, QUAN ÂM thường trụ hiện hình khắp nơi, Tầm thinh cứu kẻ lưng vơi, Chí nguyền độ thế về nơi an nhàn. Trừ yêu trục quỉ kinh mang, QUAN ÂM oai đức phục hàng chúng Ma. Vớt người nguy hiểm đọa sa, Chí nguyền phổ tế, nhọc mà chẳng than. Thường cầm thanh tịnh bình vàng, QUAN ÂM cậy có nhành dương cam lồ, Rưới tâm phiền não lửa lò, Chí nguyền độ chúng an cư Niết bàn. Từ bi tánh đức mở mang, QUAN ÂM hỉ xả tâm hoàn huệ thông, Thường hành bình đẳng đại đồng, Chí nguyền hóa độ khắp trong muôn loài. Mười phương tuần sát đêm ngày, QUAN ÂM tinh tấn mựa nài công lao, Ðộ đều nhơn vật khỏi hao, Chí nguyền diệt tận khổ đau ba đường. Một lòng vọng tưởng Nam Sơn, QUAN ÂM lễ bái ân cần hôm mai. Xem nơi xiềng tỏa đọa đày, Chí nguyền độ kẻ mang tai khỏi nàn. Từ bi tạo chiếc Pháp thoàn, QUAN ÂM dạo khắp khổ nàn biển khơi. Ðộ người lặn hụp chơi vơi, Chí nguyền tiếp dẫn về nơi Niết bàn. Tràng phan bửu cái nghiêm trang, QUAN ÂM sắp đặt rỡ ràng trước sau Rước người niệm Phật chẳng xao, Chí nguyền dìu dắt thẳng vào Tây phương. Vô Lượng Thọ Phật cõi thường, QUAN ÂM thọ ký, chỉ đường vô sanh, Từ bi phổ hóa hàm linh, Chí nguyền độ chúng kiến minh Di Ðà. Ðoan nghiêm thân hiện sáng lòa, QUAN ÂM diệu tướng thiệt là vô song, Lực, hùng, bi, trí viên dung, Mười hai đại nguyện quả công tu tròn.* 124 - THIỆN SINH KỆ VĂN Sắp bình minh mỗi ngày, Nghe gà gáy dậy ngay, Ðánh răng, rửa mặt sạch, Y phục liền đổi thay. Trang nghiêm lại đạo tràng, Sửa bông, thắp đèn nhang, Thay nước cho thanh tịnh, Cúng dàng Phật Pháp Tăng. Chắp tay cung kính lễ, Tam bảo khắp tam the,á Phát nguyện báo tứ ân, Chuyên cần không biếng trễ. Ân sư trưởng, mẹ cha, Ân xã hội, nước nhà, Ân chúng sinh muôn loại, Ân Phật Pháp Tăng già. Nên phát tâm chơn thật, Hành sáu Ba la mật, Pháp môn thật nhiệm mầu, Ðưa đến quả vị Phật. Một là phát bi tâm, BỐ THÍ khắp xa gần, Ðộ người bớt mê khổ, Khiến ta dứt keo tham. Hai là TRÌ GIỚI luật, Ðể ngăn ngừa phóng dật, Vi phạm các điều răn, Cho phước sanh, tội mất. Ba là khẩu, ý, thân, NHẪN NHỤC trừ nóng sân, Ðối với mọi nghịch cảnh, Khiến hằng được an lành. Bốn là thường gắng sức, TINH TẤN trong mọi lúc, Diệt lười biếng, hôn trầm, Ðể thành tựu công đức. Năm là chăm TU THIỀN, Diệt ý mã, tâm viên, Khiến tâm hằng khế hội, Chân như tánh diệu huyền. Sáu là TRÍ BÁT NHÃ, Văn, tư, tu hành cả, Diệt vọng tưởng, ngu si, Ðể thành bậc GIÁC GIẢ. Ngày tháng chẳng chờ người, Siêng tu chớ biếng lười, Sanh, già, bệnh, chết khổ, Thân mạng, được bao thời. Huống chi khi sắp chết, Chẳng ai thay cho hết, Không chốn nào dựa nương, Oằn oại trong rên xiết. Dù cho có sang giàu, Thuốc thang chữa được đâu, Phước trời còn lúc hết, Phước người được bao lâu. Nào mẹ, cha, con, vợ... Ðều như khách ngủ trọ, Ðêm qua cùng sống chung, Sáng nay đà tan vỡ. Có hợp là có ly, Trần thế thật khổ nguy, Vô thường là như vậy, Mau lo việc tu trì. Vả lại trong sáu ngả, Do nghiệp đưa đẩy cả, Luân hồi không tạm dừng, Sống chết thật vất vả. Nay may được thân người, Nghe gặp chánh pháp rồi, Hãy mau tự tu tiến, Và khuyến hóa cho đời. Thuyền từ là lục độ, Hay vượt qua biển khổ, Sinh tử để đến bờ, An vui nơi tịnh thổ. Chư Phật Vô Lượng Quang, Cha lành cõi Lạc bang, Nguyện lực thật rộng lớn, Tiếp dẫn đến đài vàng. Thọ ký Bồ đề đạo, Dứt khổ mê phiền não, Bất thoái chuyển chóng thành, Quả vô thượng rốt ráo. Tứ chúng hãy vâng lời, Cõi Phật quyết cầu sang, Ðể thoát ly sanh tử, Thể nhập đại Niết bàn.* 125 - BỐN MƯƠI TÁM LỜI NGUYỆN CỦA ÐỨC PHẬT A DI ÐÀ. Nguyện Thứ Nhứt : khi tôi thành Phật, Trong nước tôi, không có ngục hình, Hay loài ngạ quỉ, súc sanh, Không bao giờ có sanh thành nơi đây. Tôi nguyện không được như vầy, Thề không thành Phật lời này không sai. Nguyện Thứ Hai : nhân dân trong nước, Ðều hóa sanh từ “Chín Phẩm Liên”, Nương theo nguyện lực tinh chuyên, Ðến khi thọ mạng, sen liền nở hoa. Nguyện Thứ Ba : hóa ra vật thực, Nhiều thứ ngon, khỏi phải tìm cầu, Dùng xong, vật dụng liền thâu, Không cần phải rửa, phải lau nhọc nhằn. Nguyện Thứ Tư : y phục mỗi ngày, Muốn bao nhiêu : áo, mũ, dép, giầy, Thảy đều hóa đủ trưng bày, Khỏi mua, khỏi giặt, khỏi may cực lòng. Nguyện Thứ Năm : thành trì bát ngát, Nhiều lâu đài , cung điện nguy nga, Bảy hàng cây báu đơm hoa, Hương thơm ngào ngạt, tỏa ra nhe nhàng. Nguyện Thứ Sáu : kính mến tương giao, Không xan tham, giúp đỡ lẫn nhau, Không lời qua lại trước sau, Không ganh, không ghét, thương nhau vô vàn. Nguyện Thứ Bảy : nhân dân trong nước, Không có lòng uế trước, dâm ô, Cũng không có tiếng tục thô, Cùng là nóng giận, hồ đồ ngu si. Nguyện Thứ Tám : chuyên trì chánh niệm, Nhớ điều hay, điều dở bỏ đi, Nếu ai muốn nói chuyện gì, Người kia hiểu ý, tức thì khỏi phân. Nguyện Thứ Chín : chỉ nghe điều thiện, Có hơi đâu, nghĩ chuyện dông dài, Chuyên tâm tu niệm hằng ngày, Rồi ra nghiệp chướng dứt ngay không còn. Nguyện Thứ Mười : biết thân này huyễn, Thì không nên tham luyến thế gian, Khổ thay trần thế không an, Xin đừng tham đắm, vô vàn điêu linh. Nguyện Mười Một : trời, người tuy khác, Hình dung đồng một sắc vàng y, Người người nghiêm chỉnh phương phi, Mặt mày đẹp đẽ, không chi sánh bằng. Nguyện Mười Hai : Thinh Văn, Duyên Giác, Nhờ chuyên cần tu tập hành thiền, Cho đến động vật... nhân, thiên, Chứng quả Duyên Giác, Thinh Văn không lường. Nguyện Mười Ba : dân số Phật Ðà, Không còn có số tính ra cho bằng, Nhiều như số cát sông Hằng, Tại An Dưỡng Quốc, khó phân khó lường. Nguyện Mười Bốn : sống đời trường thọ, Cảnh thanh nhàn hưởng thọ tự nhiên, Không sao tính được vận niên, Sống lâu vô lượng, vô biên đời đời. Nguyện Mười Lăm : hưởng lạc an nhàn, Trọn sống đời Cực lạc, cao sang, Như người vượt thoát trần gian, Lậu hoặc dứt hết, Lạc bang vui vầy. Nguyện Mười Sáu : thanh tịnh trang nghiêm, Hẳn xa lìa vọng tưởng triền miên, Sống đời tịch tịnh an nhiên, Niết-bàn hiển hiện, Chân nguyên tỏ bày. Nguyện Mười Bảy : thực hành đạo cả, Suốt đêm ngày ròng rã độ sinh, Thiết tha nói pháp tụng kinh, Hoằng khai Phật đạo, công trình hơn ai. Nguyện Mười Tám : biết được kiếp trước, Hễ vừa sanh vào cõi nước tôi, Người người rõ chuyện xa xôi, Trăm, ngàn, muôn kiếp qua rồi đều thông. Nguyện Mười Chín : “cái thấy ” thông suốt, Dân chúng tôi có thể xa trông, Toàn thể vũ trụ mênh mông, Rõ ràng trước mặt, đều không trở ngại. Nguyện Hai Mươi : “cái nghe” rõ ràng, Ở phương xa, chư Phật nói kinh, Thảy đều nghe rõ âm thinh, Nghìn muôn ức cõi, như hình đâu đây. Nguyện Hăm Mốt : biết rõ tâm người, Cách trăm ngàn thế giới xa xăm, Chúng sanh vừa mới mống tâm, Dân tôi đều biết, không nhầm mảy may. Nguyện Hăm Hai : thong dong tự tại, Những tận đâu, chẳng nại đường xa, Chỉ trong khoảnh khắc vượt qua, Mười phương các cõi như là dạo chơi. Nguyện Hăm Ba : công đức vui mừng, Khen ngợi tôi, đại chúng đồng thanh, Phát tâm vui vẻ hiền lành, Lâm chung sẽ được, hóa sanh sen vàng. Nguyện Hăm Bốn : quang minh chiếu diệu, Nơi đảnh tôi rực rỡ vô ngần, Sáng hơn nhật nguyệt muôn lần, Luôn luôn tỏ rạng, khó phân đêm ngày. Nguyện Hăm Lăm : hào quang chói lọi, Ðến tận nơi các cõi U Minh, Chư Thiên cho đến bàng sinh, Thấy hào quang sáng, tự mình quy y. Nguyện Hăm Sáu : quang minh cảm hóa, Khắp mười phương các cõi nhân dân, Hào quang chiếu đến bản thân, Từ hòa tâm tánh hơn dân cõi trời. Nguyện Hăm Bảy : vãng sanh Tịnh độ, Cho những người giữ giới, ăn chay, Ðến những ai thiền định, đêm ngày, Khi nào mãn báo thân nầy Tôi và Thánh chúng đông vầy, Phóng quang tiếp dẫn, lên ngay sen vàng. Nguyện Hăm Tám : trời, người các cõi, Nghe danh tôi, trần thiết huy hoàng, Ngày đêm tưởng niệm vái van, Người ấy sẽ được, Lạc bang sanh về. Nguyện Hăm Chín : chúng sanh các cõi, Nếu dốc lòng ra khỏi bến mê, Tên tôi mười niệm, không hề, Xao lãng chánh niệm, được về Tây phương. Trừ những kẻ tánh tình ngỗ nghịch, Cùng những người báng Phật, Pháp, Tăng. Ra vào tập tánh hung hăng, Chắc đọa địa ngục, muôn năm thọ hình. Nguyện Ba Mươi : mọi điều như ý, Kiếp trước đây tạo nghiệp không lành, Hôm nay, phát nguyện tu hành, Tây Phương Cực Lạc, cầu sanh dễ dàng. Nguyện Băm Mốt : mọi người cung kính, Nghe tên tôi, đảnh lễ cúng dàng, Người đó sẽ được dễ dàng, Trời, người, kính nể, quy hàng, tán dương. Nguyện Băm Hai : sanh làm nam giới, Những đàn bà con gái chán đời, Phát tâm tín niệm danh tôi, Thân sau sẽ khỏi luân hồi nữ nhi. Nguyện Băm Ba : chứng liền đạo quả, Bậc “Nhất Sanh Bổ Xứ” chứng liền, Lại còn những vị siêu nhiên, Muốn sanh cõi khác, tôi liền giúp cho. Giúp cho hạnh nguyện Phổ Hiền, “Tịch Diệt”, “Phạm Hạnh” cần chuyên thi hành. Rồi ra giáo hóa chúng sanh, Chứng nên Phật quả, viên thành nguyền xưa. Nguyện Băm Bốn : nhân dân trong nước, Muốn sanh về cõi khác độ sanh, Nếu không như nguyện, cũng không, Ðọa ba đường dữ, thoát vòng trầm luân. Nguyện Băm Lăm : các hàng Bồ Tát, Muốn cúng dường chư Phật những đâu, Hương, hoa, anh lạc, trân châu, Mang đi khắp cả, vừa hầu bữa ăn. Nguyện Băm Sáu : được như ý nguyện, Nếu ước muốn mọi vật có liền, Ðưa đi khắp cả các miền, Cúng dường chư Phật, về liền chưa trưa. Nguyện Băm Bảy : thông minh trí tuệ, Hàng Bồ Tát phúng tụng các kinh, Liền được trí huệ thông minh, Diễn dương Chánh Pháp, tài tình cao siêu. Nguyện Băm Tám : biện tài vô ngại, Chư Tôn Bồ Tát huệ sáng ngời, Giảng kinh thuyết pháp khắp nơi, Biện tài vô ngại, không người sánh phân. Nguyện Băm Chín : nhân dân trong nước, Ba mươi hai tướng tốt trang nghiêm, Kim cang thần lực vô biên, In như chư Phật, kim thân sáng ngời. Nguyện Bốn Mươi : quốc độ trang nghiêm, Trong cây báu, muốn xem chư Phật, Mười phương các cõi ở xa, Hiển hiện trước mặt như là soi gương. Nguyện Bốn Mốt : mọi đường công đức, Bồ Tát nào chưa được hoàn toàn, Có thể biết được Ðạo tràng, Bề cao cho đến bốn ngàn do tha. Nguyện Bốn Hai : người, vật khôn lường, Quốc độ tôi, đồ vật, chúng sinh ... Mỗi người mỗi vật tịnh minh, Dù chứng thiên nhãn, chẳng nhìn hết đâu. Nguyện Bốn Ba : mọi người trong nước, Chí mong cầu nghe được Pháp, Kinh, Tự nhiên có sẵn âm thinh, Không cần mời thỉnh, theo tình thế gian. Nguyện Bốn Bốn : Bồ Tát, Thinh Văn, Trong nước tôi, trí huệ oai linh, Trên đảnh có ánh quang minh, Biện tài nói pháp, in hình Thế Tôn. Nguyện Bốn Lăm : mười phương Bồ Tát, Nghe tên tôi phát nguyện quy y, Lại thêm thiền định hành trì, Liền được giải thoát không gì vướng ngăn. Nếu chí muốn cúng dường chư Phật, Trong khoảnh khắc khắp cả các phương, Ðường xa tuy khó đo lường, Nương nhờ thần lực, trên đường thong dong. Nguyện Bốn Sáu : chư Tôn Bồ Tát, Ở phương xa, tinh tấn tu hành, Tam muội, giải thoát chứng xong, Thường thấy chư Phật số đông không lường. Nguyện Bốn Bảy : dân số đông dầy, Hàng hàng lớp lớp về đây tu hành, Người người nguyện thỏa vô sanh, Vào hàng Bất thối, viên thành nơi đây. Nguyện Bốn Tám : hoàn thành Pháp Nhẫn, Người người đều thành khẩn quy y, Hoàn thành nguyện lớn một khi, Nhất, nhị, tam nhẫn, hành trì luôn luôn. Pháp Tạng phát nguyện vừa xong, Mười phương các cõi thảy đồng hân hoan, Hương, hoa, kỹ nhạc, lộng tàn, Cúng dường Giáo Chủ Lạc Bang Di Ðà.* 126 - BÀI KINH TÁM ÐIỀU Kinh tám điều người trên hiểu biết, Con Phật thời nên hết đêm ngày, Dốc lòng tụng niệm không ngơi, Tám điều hiểu biết của người bậc trên. Thứ nhất : biết thế gian không chắc, Hiểu rõ rằng cõi nước yếu nguy, Thân này nào có ra chi, Ðất, nước, gió, lửa hợp về lại tan. Luống những chịu muôn ngàn đau khổ, Ngũ ấm([1]) không, còn có mình sao, Khác nào như cảnh chiêm bao. Biến thiên sinh diệt, ai nào chủ trương, Lòng này chính là nguồn độc ác, Ðem thân ra gánh vác tội tình. Nay đà xem xét cho rành, Dần dần xa lánh tử sinh có ngày. Ðiều thứ hai : ta đây hiểu biết, Ham muốn nhiều chỉ mệt mà thôi, Chết đi, sống lại bao đời, Tham là gốc khổ, mấy người tỉnh đâu. Ham muốn ít, không cầu cạnh mấy, Thân tâm đều tự tại tiêu dao, Ðiều thứ ba : rõ trước sau, Lòng không chán đủ, tham cầu không ngơi, Gây nên tội tầy trời tầy bể, Bồ Tát không như thế bao giờ, Biết vừa nên chẳng cầu dư, Phận nghèo giữ đạo sớm trưa an nhàn. Cốt sao cho trí khôn sáng tỏ, Ðiều thứ tư : cũng rõ gót đầu, Biếng lười sa xuống vực sâu, Nên cần tinh tiến để cầu tiến lên. Phá sạch hết điều phiền não trước, Bốn con ma ([2]) dẹp hết là xong, Ngục ngũ ấm thoát khỏi vòng, Thứ năm : biết rõ thủy chung muôn loài, Thuần chỉ những sống say chết ngủ, Bồ Tát thường lấy đó làm lo. Học hành chẳng quản công phu, Nghe nhiều học rộng cốt cho thành tài. Trí tuệ lớn vẹn đầy sau trước, Dạy muôn loài đều được yên vui, Sáu là : hiểu rõ đầu đuôi, Nghèo cùng khổ não lắm người thù riêng, Thường mắc phải ác duyên hoạnh họa. Bồ Tát cho khắp cả muôn loài, Một niềm bình đẳng không hai, Oán thân như một lòng đầy từ bi, Ðiều xấu cũ không hề vướng vít, Kẻ xấu xa chẳng ghét không chê, Thứ bảy : biết ngủ nghê ăn uống, Danh, Sắc, Tài ham muốn là nguy, Dù chưa thay đổi hình nghi, Còn là người tục chẳng mê thói đời, Áo, bát, pháp đêm ngày tưởng nhớ, Theo đạo mầu chí cố xuất gia, Giữ gìn trong ngọc trắng ngà, Nết thanh cao giữ thật là thanh cao. Lòng từ bi lúc nào cũng đủ, Thứ tám là : biết rõ tử sinh, Khác nào lửa cháy bên thành, Chứa chan khổ não nghĩ tình xót thương, Mở lòng rộng tìm đường cứu vớt, Thay muôn loài chịu hết đắng cay, Khiến cho hết thảy muôn loài, Ðều cùng giải thoát tháng ngày yên vui. Tám việc ấy là nơi chư Phật, Cùng các Ngài Bồ Tát Ðại nhân, Ðều cùng hiểu rõ nguồn cơn, Từ bi trí tuệ sửa tròn trước sau, Làm việc đạo bấy lâu tinh tiến, Thuyền Pháp thân chở đến Niết bàn, Là nơi yên tĩnh an nhàn, Lại về cõi khổ cưu mang mọi loài, Tám việc trước ta đây hiểu biết, Mở đường ra cho hết thảy đi, Khiến bao loài trước ngu si, Biết sống, chết, khổ bỏ lìa muốn năm, ([3]) Theo đạo chính tận tâm tu tập, Nếu quả là con Phật tụng đây, Trong khi nghĩ tám việc này, Bao nhiêu tội lỗi tức thời sạch ngay. Ðạo Bồ đề thẳng tới nơi, Lên ngôi Chính giác chỉ giây phút thành, Ðoạn tuyệt hẳn đường sanh nẻo tử. Ðời đời thường ở chỗ yên vui.* 127 - SÁM A DI ÐÀ PHẬT Nam mô Giáo chủ Tây phang, A DI ÐÀ Phật tịnh an Niết bàn, Kim thân vô lượng hào quang, Thọ mạng kiếp kiếp muôn vàn khôn phân. Từ bi rải khắp đức ân, Hóa miền Tịnh độ muôn phần trang nghiêm. Ðức công phổ độ vô biên, Khắp trong tam giới các miền chúng sanh. Lực, Hùng, Bi, Trí, lập thành, Liên trì hải hội đức lành sấm vang. Có hàng La Hán, Thinh Văn, Cùng chư Bồ Tát pháp năng cao cường. Chúng sanh trong cõi Tây phương, Chẳng hề thối chuyển, hằng nương đạo trường. Tu hành tiến hóa phi thường, Một đời thành đạo chứng chơn Phật Ðà. Số người đắc quả hằng sa, Ở ngôi Bồ Tát, Ta bà độ sanh. Thiện nam tín nữ kính thành. Một niềm tín ngưỡng trì danh hiệu Ngài. Lâm chung giờ đến chẳng sai, Di Ðà chúng Thánh hiện ngay nhãn tiền. Thân an tâm chẳng đảo điên. Liền sanh Cực Lạc Tây thiên Di Ðà. Ðức công Phật Tổ hải hà, Nguyện xưa bốn tám thiệt là từ bi. Chúng sanh tín ngưỡng qui y, A DI ÐÀ Phật độ ly khổ nàn... Hằng ngày hộ niệm tâm an, Liền đặng phước huệ, Tịnh bang vãng hồi. Ai mà trước phát nguyện rồi, Hoặc là nay nguyện, hoặc rồi nguyện sau. Muốn sanh cõi Phật tối cao, Ðạo mầu Chánh Giác trước sau chắc thành. Ngưỡng trông đức cả tột lành, Hiển linh soi xét lòng thành chứng minh. Ðộ cho bá tánh khương ninh, Nhà an nước trị, hòa bình năm châu. Phép mầu phương tiện cao sâu, Thần thông độ khắp hồi đầu tánh linh. Hữu tình cùng với vô tình, Ðồng thành chủng trí, vãng sinh Niết bàn. Lại nguyền Tam bảo đạo tràng, Nhờ ân Phật Tổ điểm ban diệu huyền. Ðạo mầu chánh giác hoằng tuyên, Pháp môn vĩnh viễn rộng truyền khắp nơi. Ðộ người biển khổ lưng vơi. Lên thuyền Bát Nhã về nơi thanh nhàn.* PHỤ LỤC KỆ VĂN A NAN THỈNH PHẬT CHỨNG MINH Tâm Chánh Ðịnh như như bất động, Phật Ba thân nhân thế khó tìm. Trăm ngàn muốn kiếp đảo điên, Vô minh dứt sạch, chứng liền Pháp Thân. Nay con nguyền chứng ngôi Chánh Giác, Ðộ chúng sanh như cát sông Hằng. Thân, tâm này nát như trần, (bụi) Hồng ân chư Phật, chút phần báo ơn. Cung thỉnh Thế Tôn lại chứng minh, Ðời năm trược con xin vào trước, Một chúng sanh quả Phật chưa thành, Con nguyền không chứng Vô Sanh Niết Bàn. Ðại Hùng, Ðại Lực, Ðại Từ Bi, Giúp con dứt sạch sân, si, buồn, phiền. Ðể sớm được lên miền Thượng Giác, Ngồi Ðạo Tràng bát ngát mười phương. Hư không có thể tiêu tan, Nguyện con kiên cố không hề lung lay. Nam Mô Thường Trụ Thập Phương Phật, Nam Mô Thường Trụ Thập Phương Pháp, Nam Mô Thường Trụ Thập Phương Tăng.*