THÍCH TÂM TRỌNG
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT
Thứ Ba, 1 tháng 8, 2017
Trần Nhân Tông nhà cai trị bằng tâm Phật thành công lớn
Trần Nhân Tông
nhà cai trị bằng tâm Phật thành công lớn
TS. Lê Sơn
Ban Phật giáo Việt Nam,
Học viện Phật giáo Việt Nam tại Tp. Hồ Chí Minh
Vua Trần Nhân Tông là con trưởng của Thánh Tông, mẹ là Nguyên Thánh Thiên Cảm, vua là cháu gọi Hưng Đạo đại vương bằng cậu ruột.
Sách Đại Việt sử ký toàn thư viết:
“Năm 1258, vua Trần Thánh Tông lấy con gái thứ năm của Yên sinh vương Trần Liễu tên là Thiều làm Thiên Cảm phu nhân. Ít lâu sau phong làm hoàng hậu, rồi sinh Thái tử Khâm vào năm này”.
Thái tử Khâm lên ngôi, tức là vua Trần Nhân Tông, chỉ hưởng dương được 51 năm:
“Đến năm 1278, khi 21 tuổi, Thái tử Khâm lên ngôi. Vua ở ngôi 14 năm, nhường ngôi làm Thái thượng hoàng 5 năm, xuất gia 8 năm, thọ 51 tuổi. Vua nhân từ hòa nhã, cố kết lòng dân, sự nghiệp trùng hưng sáng ngời, thực là bậc vua hiền của nhà Trần.” (Đại Việt sử ký toàn thư, tập II, các tr. 30 ,44)
Nhưng trong cuộc đời khá là ngắn ngủi ấy, ngài đã làm nên sự nghiệp hiển hách, làm vẻ vang cho nước Đại Việt bằng những phương cách vừa mềm dẻo vừa cứng rắn mà ít nhà vua nào làm được. Đồng thời, ngài là Trúc Lâm đại sĩ, vị Tổ sáng lập thiền phái Trúc Lâm, thiền phái duy nhất của Việt Nam truyền tiếp cho đến ngày nay.
Vua Trần Nhân Tông cùng Thượng hoàng Trần Thánh Tông hai lần đánh tan quân xâm lược Nguyên Mông. “Năm 1294, khi làm Thái Thượng hoàng, vua Trần Nhân Tông thân chinh đi đánh Ai Lao, bắt được người và súc vật nhiều không kể xiết”. (Đại Việt sử ký toàn thư, tập II, tr. 73)
“Năm 1301, Thượng hoàng Trần Nhân Tông vân du các nơi và sang Chiêm Thành, hứa gả con gái là công chúa Huyền Trân cho vua Chiêm. Năm 1305, Chế Mân sai sứ sang cầu hôn. Năm 1306 thì công chúa Huyền Trân về với chế Mân, bờ cõi phía Nam nước ta mở rộng đến tận đèo Hải Vân, núi Bạch Mã. Đến năm 1307 thì đổi hai châu Ô, Lý thành châu Thuận và châu Hóa”. (Đại Việt sử ký toàn thư, tập II, các tr. 86, 90, 91).
Đó là thời kỳ cực thịnh của nhà nước Đại Việt. Điều đó khẳng định rằng Trần Nhân Tông là người tài kiêm văn võ, đã làm nên sự nghiệp lừng lẫy, cả võ công, lẫn kinh tế và văn hóa, đã để lại những dấu ấn không bao giờ phai mờ trong tâm trí nhân dân ta.
Cho nên không lạ gì, khi vua Trần Nhân Tông rất được mọi người thương mến kính ngưỡng:
“Khi vua qua đời, linh cửu vua tạm quàn ở điện Diên Hiền. Khi sắp đưa rước, đã đến giờ rồi mà quan lại và dân chúng còn đứng chật cả cung điện. Tể tướng cầm roi xua đuổi mà vẫn không dãn ra được” (Đại Việt sử ký toàn thư, tập II, tr. 95)
Thời bấy giờ, được xem là thời kỳ Tam giáo đồng nguyên, được các nhà nghiên cứu về sau này tán tụng như là thời kỳ vàng son của dân tộc ta. Về sau này, khi trào lưu tư tưởng Nho giáo chiếm ưu thế trong tư duy và điều tiết mọi hoạt động chính trị, văn hóa xã hội nước ta, thì vào thời nhà Trần trào lưu tư tưởng Phật học vẫn còn chiếm ưu thế.
Việc vua Trần Thái Tông đem công chúa Lý Chiêu Thánh gả cho Lê Phụ Trần, người có công cứu giá trong đợt quân Nguyên xâm lược nước ta lần I (1257), cũng như việc vua Trần Thái Tông nhường ngôi cho Thái tử Hoảng, tự xưng là Thượng hoàng, thì nhà Nho Ngô Sĩ Liên thời nhà Lê, thời Nho giáo đang vươn lên chiếm ưu thế, dựa vào đạo Trung hiếu theo học thuyết Nho giáo để phê phán:
“Vua tôi nhà Trần coi thường đạo vợ chồng lại thấy ở đây lần nữa”. “Từ khi Hạ Vũ truyền ngôi cho con thì cha chết con nối, đã thành phép thường mãi mãi. Gia pháp họ Trần lại khác thế: con đã lớn thì cho nối ngôi chính, còn cha lui ở cung Thánh Từ, xưng là Thượng hoàng, cùng trông coi chính sự. Thực ra truyền ngôi chỉ để yên việc sau, chứ mọi việc đều do Thượng hoàng quyết định, vua kế vị không khác gì Hoàng Thái tử cả. Như vậy thì có hợp đạo không?” (Đại Việt sử ký toàn thư, tập II, tr. 29, 30).
Nhưng chính Ngô Sĩ Liên lại khen vua Trần Nhân Tông về việc hành xử không theo đúng nguyên tắc nhà Nho trong câu chuyện sau đây:
Em trai Đỗ Khắc Chung là Đỗ Thiên Thư kiện nhau với người, tình lý đều trái. Người kia đón xa giá tâu bày. Vua hỏi quan xử kiện, được trả lời là án đã xử xong, nhưng hình quan thoái thác không chịu chuẩn định đó thôi. Vua nói, đó là do sự né tránh Khắc Chung đấy. Đang trên đường đi, sai Chánh chưởng nội thư (quan áo xanh tức hoạn quan) là Trần Hùng Thao kiêm chức Kiểm pháp quan để chuẩn định, thì Thiên Thư quả thật là trái.
Ngô Sĩ Liên nói: “Người kiện có điều oan uổng mà được dễ dàng kêu bày, hình quan để chậm án, không thấy có lời trách hỏi, hoạn quan nội thần lạm cử làm pháp quan. Vua làm việc này có ba lầm lỗi kèm theo, nhưng như vậy thì dân tình được thấu lên trên. Việc cai trị kẻ dưới thà sai vì khoan thứ để cho án kiện đọng, lại được xử ngay, cũng thấy được lòng trung hậu của vua” (Đại Việt sử ký toàn thư, tập II, tr. 46)
Ngay từ đầu, vua đã đoán ra có sự né tránh quan to “né tránh Khắc Chung đấy”, nhưng không thấy truy tội viên quan né tránh, cũng như nói gì đến Khắc Chung cả, thậm chí sau này còn cất nhắc Đỗ Thiên Thư, coi như việc kiện cáo dân sự là việc bình thường, cần làm cho ra sự công bằng, nhưng không quá câu chấp, lấy đó mà xét định khả năng từng người. Vua xử sự hướng đến sự hòa thuận đoàn kết là cái quan trọng hơn, không đem việc nhỏ làm ảnh hưởng đến việc lớn.
Nhưng đừng tưởng vua Trần Nhân Tông nặng tình hơn lý mà thiếu cương quyết. Nhà vua còn tỏ ra điều ngược lại, ông là người rất quyết liệt.
Năm 1289, vua sai Nội thư gia Hoàng Tá Thốn đưa bọn Ô Mã Nhi về nước, dùng kế của Hưng Đạo vương, lấy người giỏi bơi lặn, sung làm phu thuyền, ban đêm dùi thuyền cho đắm, bọn Ô mã Nhi đều bị chết đuối cả. Việc này bị ông nhà Nho Ngô Sĩ Liên chê:
“Chữ tín là vật báu của nước, mà làm cho người khác phục mình sâu sắc thì đó là gốc của vương chính. Làm việc bá thuật như thế, muốn được thành công trong một thời mà không biết làm như thế là đã thất tín với muôn đời” (Đại Việt sử ký toàn thư, tập II, tr. 64).
Chữ tín mà Ngô Sĩ Liên muốn nói là chữ tín theo kiểu nhà Nho, là kim chỉ nam cho hành vi người Nho sĩ. Sách Luận ngữ thiên Học nhi có câu: “Đệ tử nhập tắc hiếu, xuất tắc đễ, cẩn nhi tín, phiếm ái chúng nhi thân nhân, hành hữu dư lực tắc dĩ học văn” (Người quân tử ở nhà thì giữ chữ hiếu, ra ngoài biết tôn trọng người khác, cẩn thận mà giữ chữ tín, thương yêu mọi người, gần gũi người có đức Nhân, làm được những điều ấy, còn dư sức thì dùng để học văn).
Nhưng ở đây, đối với bọn giết người, bọn tội ác tày đình như Ô Mã Nhi, bọn chỉ huy trực tiếp tàn hại đất nước ta, nhân dân ta thì trước vong linh của biết bao anh hùng liệt sĩ nước ta trong hai cuộc kháng Nguyên vừa qua mà bọn họ gây nên thì còn giữ chữ tín hư danh ấy làm gì.
Có sự việc khá lạ lùng trong con mắt nhà Nho, nhưng có vẻ bình thường thời Trần Nhân Tông như vụ việc sau đây.
“Nhà Nguyên lập Trần Di Ái làm Lão hầu, sai Sài Xuân (hay Thung?) đem 1.000 quân hộ tống về nước. (Trần Di Ái là chú họ vua, đi sứ sang nhà Nguyên, bị ép nhận chức quan của họ để làm bung xung) Xuân ngạo mạn vô lễ, cưỡi ngựa đi thẳng vào cửa Dương Minh. Vua sai Trần Quang Khải đến sứ quán, Sài Xuân nằm khểnh không ra. Trần Quốc Tuấn gọt tóc, mặc áo vải đến, Xuân liền đứng dậy, mọi người đều kinh ngạc, có biết đâu rằng người Nguyên rất trọng nhà sư. Khi uống trà, lính hầu Sài Xuân cầm cái tên chọc vào đầu Quốc Tuấn đến chảy máu, nhưng sắc mặt Quốc Tuấn vẫn không hề thay đổi. Khi ra về, Sài Xuân tiễn Quốc Tuấn ra tận cửa”. (Đại Việt sử ký toàn thư, tập II, tr. 47)
Nhưng chưa lạ bằng chủ trương cho lập nhà học ở phủ Thiên Trường (đất thang mộc của nhà Trần), cấm người Thiên Thuộc được vào học. Lệ nhà Trần không cho lính Thiên Thuộc (quê vua) “không được học tập văn chương nghệ thuật vì sợ khí lực kém đi”. (Đại Việt sử ký toàn thư, tập II, tr. 47)
Ngay sau khi được tin cấp báo từ Lạng châu là Toa Đô đem 50 vạn quan, nói phao là mượn đường đi đánh Chiêm Thành, mà thực ra là sang xâm lược nước ta thì vua Trần Nhân Tông bày ra việc Hàn Thuyên làm thơ chữ Nôm đuổi được cá sấu. Đó là việc xảy ra vào mùa thu năm 1282, rõ là muốn cho toàn dân tin tưởng rằng bằng trí lực người Nam sẽ đuổi được giặc như đuổi cá sấu vậy.
“Nước ta dùng chữ Nôm thịnh hành từ thời Trần Nhân Tông”. (Đại Việt sử ký toàn thư, tập II, tr. 47)
Cách xử sự của vua Trần Nhân Tông đối với Trần Khánh Dư cũng nặng về chữ tình theo nhà Phật hơn là chữ lý theo nhà Nho.
Khi quân Nguyên xâm lược lần I, Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư nhân chỗ giặc sơ hở, đánh úp được, được vua khen là người có trí lược, nhận làm con nuôi. Rồi đánh thắng giặc man, lên tới tử phục Thượng vị hầu, bằng với các hoàng tử con dòng thứ. Khánh Dư lại thông dâm với công chúa Thiên Thụy, vợ của Hưng Vũ vương Nghiễn, con trai Trần Quốc Tuấn. Vua sai người đánh chết Khánh Dư, nhưng lại dặn chớ đánh dau quá, đừng cho chết. Ít lâu sau xuống chiếu đoạt hết quan tước, tịch biên gia sản của Khánh Dư. Khánh Dư tay trắng lui về Chí Linh, phải sống bằng nghề bán than rất cực khổ. Có lần thuyền vua Trần Nhân Tông đỗ ở bến Bình Than, có chiếc thuyền chở than củi, người lái đội nón lá, mặc áo ngắn. Vua chỉ và bảo quan thị thần: “Người kia chẳng phải là Nhân Huệ vương đó sao?”. Rồi sai người chèo thuyền đuổi theo, đến cửa Đại Than thì gặp, nói có lệnh vua triệu, người ấy trả treo không chịu theo, họ đành trở về. Vua bảo, “Đúng là Nhân Huệ đấy, người thương lái bình thường không bao giờ dám nói thế”, rồi cho triệu tiếp, Khánh Dư đến ra mắt, Vua nói: “Nam nhi mà đến nỗi này thì thực là cùng cực rồi”. Bèn tha tội cho Khánh Dư, phong cho làm Phó Đô tướng quân. (Đại Việt sử ký toàn thư, tập II, các tr. 48, 49).
Ở đây, vấn đề rất trọng đại là cái tình của người chủ tể đất nước đối với từng cá thể nhân dân. Chúng tôi cho rằng Trần Khánh Dư là điển hình của rất nhiều trường hợp như vậy. Nhà vua quan tâm đến hoàn cảnh của từng người dân bình thường như thế thì làm sao đất nước không hùng mạnh!
Sau này chính Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư đã chỉ huy đánh chiếm đoàn thuyền chở toàn bộ binh lương của quân xâm lược nước ta lần thứ III, do Trương Văn Hổ chỉ huy, khiến cho quân Nguyên phải tháo chạy tán loạn. Và chúng ta có thể suy diễn rằng trong sự nghiệp bảo vệ và xây dựng phát triển đất nước Đại Việt đã có rất rất nhiều Trần Khánh Dư.
Cái tâm quả là có sức mạnh phi thường.
Cách xử sự của vua Trần Nhân Tông trong câu chuyện giữa Lê Tòng Giáo và Đinh Củng Viên cũng lạ, không mang tính Nho chút nào mà rất đời thường.
Lê Tòng Giáo làm chức Tả phụ, vốn bất hòa với quan Hàn lâm phụng chỉ Đinh Củng Viên. Ngày tuyên đọc lời vua đã đến rồi mà Củng Viên cố ý không đưa bản thảo, Tòng Giáo đòi nhiều lần vẫn không được. Đến khi xa gia sắp ra ngoài cung, Củng Viên mới đưa bản thảo, nên Tòng Giáo không thể giảng âm nghĩa là điều bắt buộc khi đọc tờ chiếu đại xá. Vua bảo Củng Viên nhắc âm nghĩa. Tiếng nhắc của Củng Viên to dần, và tiếng của Tòng Giáo nhỏ dần, đến mức chỉ còn nghe tiếng của Củng Viên thôi. Tòng Giáo rất thẹn.
Về cung, vua Nhân Tông cho gọi Tòng Giáo đến bảo: “Củng Viên là sĩ nhân, ngươi là trung quan, sao lại bất hòa đến thế? Ngươi là lưu thủ Thiên Trường, dùng con rươi, quả quít đi lại, đưa tặng lẫn nhau thì có việc gì!”.
Tòng Giáo vỡ lẽ, nên từ đó Tòng Giáo và Củng Viên trở nên hòa thuận, thân nhau.
Một vị vua oai nghi mà đi bày những việc giao thiệp quá bình thường ở đời cho thuộc hạ cấp thấp như vậy, tỏ ra con người rất chu đáo, quan tâm đến từng việc, từ lớn chí nhỏ, xử lý vấn đề coi nặng cái tình hơn là nguyên tắc cứng nhắc thiếu hiệu quả. Xử sự từng việc nhỏ, tưởng là nhỏ nhưng ảnh hưởng lại quá lớn, có giá trị muôn thuở, chính nhà Nho Ngô Sĩ Liên cũng phải khen là có tình và trung hậu:
“Vua bảo kẻ thần hạ tặng biếu giao hảo với nhau, thì chẳng phải là gây cái tệ tư giao ám muội của đám thuộc hạ hay sao? Nhưng, xin thưa rằng giao hảo với tư giao, việc thì giống nhau mà tình thì khác nhau. Vua bảo bầy tôi giao hảo với nhau là để cùng nhau làm tốt việc của nhà vua. Có thể thấy được nhà Trần trung hậu như thế nào!”. (Đại Việt sử ký toàn thư, tập II, các tr. 63)
Và chúng ta cũng có thể suy diễn rằng trong thời của Ngài, đã có biết bao nhiêu trường hợp Lê Tòng Giáo, Đinh Củng Viên. Một đất nước mà nhà vua quan tâm đến việc hòa thuận đoàn kết nho nhỏ như vậy thì nhất định cũng tạo được tình đoàn kết mang tầm quốc gia. Như ta đã thấy mối đoàn kết tiêu biểu giữa Trần Quốc Tuấn và Trần Quang Khải. Từ việc tế nhị anh em giữa Trần Liễu và Trần Cảnh, thiên hạ nghi ngờ cho là có sự hiềm khích giữa con Trần Liễu (Trần Quốc Tuấn) với con Trần Cảnh (Trần Quang Khải) đang là hai trụ cột chống xâm lược. Hai người phải tỏ ra đoàn kết để yên lòng tướng sĩ. Quốc Tuấn tắm cho Quang Khải, Quốc Tuấn gỡ đầu gậy nhọn bằng sắt mà tướng chỉ huy có quyền mang theo bên mình...
Tưởng cũng cần nên biết rằng Trần Nhân Tông rất thông thạo sử sách nhà Nho và đạo lý Thánh hiền.
Năm 1284, được tin quân Nguyên sắp đánh ta lần thứ hai, vua Trần Nhân Tông ngự thuyền nhẹ ra Hải Đông (nay thuộc vùng Hải Dương, Hưng Yên), chiều rồi mà vẫn chưa có cơm ăn, có người lính là Trần Lai dâng cơm gạo xấu, vua khen là trung. Mà Đạo Nho tóm lại là đạo về chữ hiếu và chữ trung mà thôi. Hưng đạo vương vâng mệnh điều quân dân các lộ, thế quân lên dần. Vua làm thơ đề ở đuôi thuyền:
Cối Kê cựu sự quân tu ký,
Hoan Diễn do tồn thập vạn binh”
(Cối Kê chuyện cũ người nên nhớ,
Hoan Diễn còn kia chục vạn quân)
(Đại Việt sử ký toàn thư, tập II, tr. 51)
Người làm thơ hay và chuẩn, liên kết điển tích nhuần nhuyễn và phù hợp tình hình như thế, tất là tinh thông sở học nhà Nho rồi.
Tiện đây, chúng tôi cũng trao đổi thêm một vấn đề đã quá cũ.
Ngày xưa, nhà viết sử của ta thường nhắc đến nguồn gốc lâu đời của nhà vua mở triều đại, như nguồn gốc tộc người Hoa của Sĩ Nhiếp, của nhà Trần, nhà Hồ, nhà Nguyễn. Người ta viết rằng tổ tiên Trần Thái tông qua Việt Nam sinh sống đã năm thế hệ, Sĩ Nhiếp thì sáu thế hệ. Trường hợp Hồ Quý Ly còn xa hơn nữa, gần bốn trăm năm, mười sáu thế hệ. Nhà Nguyễn lại càng quá xa, từ thời quan Thái thú Nguyễn Phu.
Thật ra thì sao? Trần Thái tông, Hồ Quý Ly, Nguyễn Hoàng cũng giống như những nhà vua mở triều đại nhà Đinh, nhà Lê, nhà Lý. Sự nghiệp của họ hoàn toàn giống nhau trên lập trường lãnh đạo nhân dân quyết liệt chống lại ách xâm lược từ phương Bắc. Về mọi phương diện, họ đã được sinh ra và lớn lên trong môi trường Việt, không còn chút ảnh hưởng nào của ông tổ xa xưa trong tư duy cũng như trong mọi cung cách sinh hoạt của họ nữa. Họ hành động như mọi người trong cộng đồng các dân tộc Việt. Ta luôn xin phong làm An Nam quốc vương là sách lược ngoại giao đầy trí tuệ của cha ông ta ngày xưa, để rảnh tay xây dựng đất nước, chứ thật sự ta độc lập hoàn toàn. “Phải nhận rõ là vua nước ta chỉ là một ông vua nước nhỏ, còn vua Tàu là ông vua nước lớn. Phải cần cho khỏi có ngoại xâm ở phía Bắc..” (theo Nguyễn Thiệu Lâu, Quốc sử tạp lục, tr. 143).
Chúng tôi cho rằng ngày nay khoa học phát triển rất cao, xác định rằng gien con người qua mỗi thế hệ biến đổi rất rộng, người ta không chú trọng đến giòng họ trong các trào lưu chính trị, kinh tế. Ngày nay, ở Âu Mỹ, ứng cử viên Tổng thống của một quốc gia, chỉ cần sinh ra trên nước ấy và cư trú liên tục từ 10 năm trở lên, tức là họ cho rằng chỉ cần hai thế hệ là đủ điều kiện làm công dân của nước đó. Sarkozy, Tổng Thống nước Pháp hiện nay, cha là người Hungary, Barach OBama, cha là người Kenya. Ở ta hiện còn cơ chế lý lịch ba đời, ngoài nơi sinh của bản thân, còn có mục nguyên quán, tức nơi sinh của người cha, tức là tính đến thế hệ ông nội.
Các nhà khoa học Mỹ đã làm trắc nghiệm và khảo sát khoa học trên mẫu rất cụ thể, cho biết rằng người da đen gốc Phi không khác gì người da trắng gốc Âu về mặt sinh học, chỉ khác nhau ở trình độ giáo dục và định kiến xã hội mà thôi. (Robert V. Kail và John C. Cavanaugh, Human Development, United States of America, 2000).
Trần Nhân Tông Sở Đắc Giải Thoát Và Tư Tưởng Phật Học
Trần Nhân Tông Sở Đắc Giải Thoát Và Tư Tưởng Phật Học
Thứ ba, 15 Tháng 3 2016 02:11 Quản trị Viên
Về cuộc đời và sự nghiệp lịch sử, giải thoát của vua Trần Nhân Tông, đã có nhiều công trình biên khảo: Trần Nhân Tông, thiền sư Việt Nam; Trần Nhân Tông, nhà văn hóa; Trần Nhân Tông, nhà thơ; Trần Nhân Tông, nhà quân sự; Trần Nhân Tông, nhà lãnh đạo lỗi lạc; Trần Nhân Tông, nhà tư tưởng...
Trong bài khảo luận ngắn này, người viết chỉ đề cập đến một số nét tiêu biểu về Tiểu sử, sở đắc giải thoát và Tư tưởng Phật học của Người.
Về tiểu sử
Dựa theo sử liệu của Nguyễn Lang trong Phật Giáo Việt Nam Sử Luận, tập I, NXB Văn học, Hà Nội 1994, và sử liệu trong Thơ văn Lý Trần, tập II, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội 1989, thì Người tên thật là Trần Khâm, sinh năm 1258; con cả của vua Trần Thánh Tông; năm 20 tuổi lên ngôi báu, hiệu Nhân Tông; năm 36 tuổi làm Thái thượng hoàng, nhường ngôi cho Anh Tông; năm 41 tuổi xuất gia; năm 51 tuổi, 1308, viên tịch ở am Ngọa Vân, núi Yên Tử.
Thiếu thời, Người đòi nhường địa vị Đông cung thái tử cho em để xuất gia. Người thông lãm nội và ngoại điển, học Phật từ nhỏ, học Thiền định dưới sự chỉ dẫn của Tuệ Trung Thượng Sĩ.
Người đã cùng tướng sỹ triều Trần hai lần đánh bại đoàn quân xâm lược Nguyên Mông (năm 1285 và năm 1288) - đoàn quân bách chiến bách thắng đã từng đánh bại nhiều nước ở châu Âu và Tống triều, Trung Quốc; là vị vua yêu nước, anh hùng, rất “thân dân”, đã thực hiện thành công đại đoàn kết dân tộc (triều đình và nhân dân), mở Hội nghị dân chủ Bình Than và Diên Hồng, chủ trương “Tam giáo đồng nguyên”, viết nên trang sử lẫy lừng của dân tộc, và cả thế giới đương thời. Người còn là nhà thơ, nhà văn hóa Việt Nam, là một nhân cách lớn của dân tộc.
Xuất gia, là tổ thứ sáu của thiền phái Yên Tử, và là sơ tổ dòng thiền Trúc Lâm, chủ trương thống nhất các thiền phái Phật Giáo tại Việt Nam (Tỳ-ni-đa-lưu-chi, Vô Ngôn Thông, Thảo Đường) mang nét đặc thù Việt Nam, tích cực dấn thân vào xã hội xây dựng hưng vượng xứ sở bằng từ bi, trí tuệ và đạo đức của Phật giáo.
Người thường giảng dạy kinh, luận và đạo Thiền cho các Tăng sĩ, truyền bá Thập thiện giới cho quần chúng, khuyên dân từ bỏ các dị đoan, hủ tục, đề cao đạo đức Phật giáo.
Một lần Người vân du qua Champa thiết lập bang giao hữu nghị với vua Chiêm là Chế Mân, hứa gả công chúa Huyền Trân cho Chế Mân. Vua Chiêm đã dâng cho Việt Nam hai châu Ô và Rý (Thuận và Hóa) làm sính lễ.
Trần Nhân Tông đã biểu hiện rõ Người là một vị vua anh minh, một nhà lãnh đạo giỏi, một nhà tôn giáo tài ba, và là một thiền sư lỗi lạc.
Sở đắc giải thoát của Trần Nhân Tông
Rất khó có thể biết được sở đắc giải thoát của một người qua sự khảo sát bên ngoài, nhất là người ấy lại là Điều Ngự Giác Hoàng Nhân Tông. Càng khó hơn khi người biên khảo chưa từng trải nghiệm giải thoát (tâm và tuệ giải thoát). Điều duy nhất người biên khảo có thể đề cập là theo dấu các sự kiện biểu hiện thái độ sống, cung cách hành xử, và thi ca, kệ tán của Người để hình dung ra dòng vận hành tâm thức của Điều Ngự:
a) Là một thanh niên thông rõ nội và ngoại điển, hiếu học, hiếu từ, nhân ái, từng trốn khỏi hoàng cung xuất gia tầm đạo, xem ngôi báu như đôi dép cỏ, hẳn là đã có một nhân tố giải thoát hiện diện trong tâm thức người từ thơ ấu: nhân tố ấy đã giục Người vào nơi vắng vẻ, xa xôi của núi Yên Tử, đã giục tâm thức người vươn dậy hướng về ánh sáng núi rừng, rời xa vùng ngã tướng, ngã niệm, cấu uế, thị phi phiền não.
Đây là sự choàng tỉnh của tâm thanh tịnh thuộc Dục giới và Sắc giới - còn gọi là tịnh quang tâm của cõi Dục và cõi Sắc - cái tâm thức mở cửa đi vào thiền định, vào “tâm giải thoát”.
b) Năm 20 tuổi đăng quang, đã liền đi vào hai cuộc chiến chống ngoại xâm Nguyên Mông đầy ác liệt và gian khổ: đây là dịp để Người thể nghiệm sâu sắc cái vị đắng của sinh tử, vô thường, mộng mị của nhân tình thế thái, từ đó hào tâm trỗi dậy, tâm khoan dung trỗi dậy, và tâm từ bỏ danh sắc, lợi lộc trần thế trỗi dậy giục Người quyết định hướng sống xả ly của tự thân và xây dựng kỷ cương, đạo đức cho xã hội, như là sự kiện đại đế A-Dục (Asoka) thức tỉnh giữa trận chiến đẫm máu Kalinga, xứ Ấn vào thế kỷ thứ III trước Tây lịch kỷ nguyên, từ bỏ đao, kiếm dùng đạo đức Phật giáo để nhiếp dân.
c) Người được thân cận học hỏi giáo lý trí tuệ từ bậc thạc đức vô nhị thượng nhân Tuệ Trung Thượng Sĩ là nhân duyên lớn giúp Điều Ngự cắm rễ tâm thức vào sâu lòng đất giải thoát: Thượng Sĩ như là một bệ phóng an toàn đẩy phi thuyền Điều Ngự đi vào vùng trời giải thoát bao la, một thể cách giải thoát thực hiện trong đời sống chính trị, xã hội rất thiết thực, rất nhân bản và rất trí tuệ.
Đây là nhân duyên dẫn đến sự ra đời của thiền phái Trúc Lâm Yên Tử đậm đà sắc thái Việt Nam: “Sống đời vui đạo cứ tùy duyên” - cái tinh thần “tùy duyên nhi bất biến”, hay “dĩ bất biến ứng vạn biến”.
d) Chùa Hoa Yên ở trên vùng cao của núi Yên Tử. Chỉ cần ở đó Điều Ngự lên xuống núi đôi lần trong một tuần lễ thì đủ duyên để chứng nghiệm cái rã rời , hư ảo của thân tâm (ngũ uẩn) thành tựu công phu hành trì Tứ Niệm Xứ (thiền định Phật giáo), buông xả tự nhiên hết thảy vọng niệm, cấu uế tâm, thanh thản với núi rừng, và sản sinh ra các thi, kệ, tư tưởng cao vời.
Tất cả, ít nhất, bốn duyên nói trên là nhân tố xác định - hay dấu hiệu xác chứng - tất yếu sở đắc giải thoát rất sâu của Điều Ngự mà về sau Người đã ghi lại trong các thi, kệ cảm tác của Người.
e) Sở đắc giải thoát
Các nhân duyên trên là ánh sáng rọi vào thi, kệ của Người hầu có thể bắt gặp cấp độ tâm thức giải thoát mà Người đã trải nghiệm, như là:
- Trong một buổi “đại tham” ở chùa Sùng Nghiêm, Điều Ngự Giác Hoàng đã mở lời với bài kệ: “Thân như hơi thở qua buồng phổi/ Kiếp tựa mây luồn đỉnh núi xa/ Chim Quyên kêu rã bao ngày tháng/ Đâu phải mùa xuân dễ luống qua (Thân như hô hấp tỵ trung khí/ Thế tự phong hành lĩnh ngoại vân/ Đỗ quyên đề đoạn nguyệt như trú/ Bất thị tâm thường không quá xuân).
(VNPGSL, ibid., tr 374)
Bài kệ ghi rõ một kinh nghiệm thiền quán về thân ngũ uẩn của con người: hành giả hành thiền cần thấy rõ nơi thân, tâm mình cái mỏng manh, vô thường, tạm bợ, không thật; những gì ở trên thân và ngoài thân là vô hộ, vô chủ, không thuộc về ta, không phải là ta, không thuộc về ai, không phải là ai.
Từ kinh nghiệm đó, tâm thức tự động rời xa dục vọng, sân hận, vị kỷ, xan tham, đố kỵ... mà giáp mặt với hân hoan, hỷ lạc, khinh an, thanh thản. Được vậy thì không uổng phí thời gian, tiếp tục nỗ lực, tinh cần thể nghiệm. Đây là lời lẽ nhắc nhở và đánh thức Tăng chúng đi vào thực nghiệm lời đức Phật dạy ở kinh Niết Bàn, phẩm Thánh hạnh, rằng: Chư hành vô thường/ Thị sinh diệt pháp/ Sinh diệt diệt dĩ/ Tịch diệt vi lạc.
Hai câu cuối bài kệ trên là chỗ về của người tu sỹ Phật giáo, là nội dung mà Bồ tát Tuyết Sơn (trong bản kinh) sẵn sàng đổi thân mình cho quỷ La Sát ăn thịt để được nghe. Đó cũng là sở đắc, sở chứng mà Điều Ngự Giác Hoàng muốn trao truyền cho các Tăng sỹ Việt Nam, đánh thức họ đi ra khỏi vùng tâm thức của ngã niệm, của các nghi vấn, thắc mắc nêu ra nhiều câu hỏi ách yếu về sự thật của nhân sinh và thế giới: Họ luôn luôn mong chờ các câu trả lời, các lời giải đáp về thế nào là Phật? Thế nào là Pháp? Thế nào là Tăng? Thế nào là gia phong của chư Phật, chư Tổ?...
Điều Ngự luôn nhấn mạnh vào 8 chữ “sinh diệt diệt dĩ, tịch diệt vi lạc”, nhắc nhở Tăng sỹ hãy quay trở về tự tâm mình để dập tắt các ngã tưởng, vọng tưởng ấy: Khi các ngã tưởng, ngã niệm được dập tắt thì các ngã tướng sinh diệt cũng bị dập tắt - đó là sự dập tắt sinh diệt, trong câu “sinh diệt diệt dĩ - thì tham ái, chấp thủ bị dập tắt theo: đây là thời điểm chứng nghiệm an lạc, giải thoát - điều mà kinh gọi là “Tịch diệt vi lạc” - Điều Ngự cứ mãi dồn Tăng sỹ vào một điểm duy nhất là: vấn đề trọng yếu là chứng nghiệm an lạc, giải thoát, mà không phải nói về, nghĩ về an lạc, không phải là hỏi hay trả lời! Đây cũng là kinh nghiệm tuyệt vời của Tuệ Trung Thượng Sĩ khi Thượng Sĩ bảo: “Đạo bất tại vấn, vấn bất tại đạo”.
Điểm trao truyền kinh nghiệm tâm thức giải thoát này của Điều Ngự Giác Hoàng và của Tuệ Trung Vô nhị Thượng Sĩ đích thị là linh hồn, là sức mạnh tinh thần (hay tâm linh) của Phật giáo đời Trần, của Phật giáo Lý-Trần, đỉnh cao của tư tưởng Phật giáo Việt Nam và tư tưởng Việt Nam vậy: lúc nào mà sức sống thiền định này chuyển vào tư thế yên nghỉ của tư tưởng và văn học thì Phật Giáo Việt Nam và Việt Nam đi vào suy yếu; ngược lại, khi nào tư tưởng và văn học Lý Trần chuyển hiện vào sự sống thì Phật Giáo Việt Nam và Việt Nam ắt hẳn đi vào hùng cường, hưng vượng.
- Ý nghĩa “sinh diệt diệt dĩ” là ý nghĩa “bất sinh bất diệt”, vốn là sự thật muôn thuở của vạn hữu: tất cả hiện hữu đang tồn tại bất sinh bất diệt trong vận hành của Duyên khởi, mãi mãi tồn tại như thế.
Chỉ có các ngã tướng do các ngã niệm, ngã tưởng ảo vọng của con người dựng nên là sinh diệt. Sự thật này thật sự đã được Điều Ngự Giác Hoàng chứng đắc lúc sinh tiền, và an trú vào sự thật đó cho đến thời điểm trút bỏ hơi thở sau cùng - giờ tý, ngày 21 tháng 10 âm lịch, năm 1308 - khi Người nói lên bài Kệ thị tịch giã từ Tăng chúng rằng: Mọi pháp đều không sinh/ Mọi pháp đều không diệt/ Nếu hiểu rõ như thế/ Thì thấy chư Phật thường hiện diện/ Có đi lại, sinh diệt gì đâu? (!) (Nhất thiết pháp bất sinh/ Nhất thiết pháp bất diệt/ Nhược năng như thị giải/ Chư Phật thường hiện tiền/ Hà khứ lai chi hữu?)
(VNPGSL, ibid, tr.395)
Tư tưởng Phật học, thái độ tự tại của Điều Ngự
Từ sở chứng, sở đắc về Định và Tuệ nói trên, qua từng giai đoạn đời sống, Điều Ngự Giác Hoàng đã biểu hiện mức độ uyên áo khác nhau qua thái độ sống và hành xử đầy khoan dung, nhân ái, dũng cảm, trí tuệ mà an nhiên tự tại:
- Lúc tại vị, Người là vị vua yêu nước, anh hùng, “thân dân”, đầy trách nhiệm và thể hiện tốt đẹp đại đoàn kết dân tộc.
- Lúc làm Thái thượng hoàng cũng vậy.
- Lúc tu hành xuất thế thì tự giác, giác tha, xây dựng một Giáo Hội PGVN có kỷ cương, có hồn, thống nhất tư tưởng và tổ chức các hệ phái. Người quan tâm đến việc giới thiệu một nếp sống đạo đức Phật giáo cho nhân dân, và cả việc giữ yên bờ cõi, thiết lập bang giao hữu nghị với Chiêm Thành.
Đời sống thì tự nhiên, tự tại, dung dị, đạm bạc. Người bảo: Niên thiếu chưa từng hiểu sắc, không/ Xuân đến, hoa sắc vướng tơ lòng/ Nay thì thấy rõ bộ mặt thật của chúa Xuân/ Người an nhiên ngắm đóa hồng nở, rụng (Niên thiếu hà tằng liễu sắc, không/ Nhất xuân, tâm sự bách hoa trung/ Như kim khám phá Đông Hoàng diện/ Thiền bản bồ đoàn khán trụy hồng)
(VNPGSL, ibid, tr.391)
Đấy là thái độ sống an nhiên của trí tuệ trước cảnh đời biến động, vô thường, hệt như thái độ của Nhiếp Chính Ỷ Lan thể hiện cẩm nang mà Lý Thánh Tông để lại từ kinh nghiệm sống giá trị rút ra từ Phật giáo: “Vạn biến như lôi, nhất tâm thiền định”.
Trong Cư trần lạc đạo phú, Điều Ngự xác nhận: “... Tranh công danh, lồng nhân ngã, thật ấy phàm ngu/ Xây đạo đức, dời thân tâm, định nên thánh trí...” và “Sống đời vui đạo cứ tùy duyên/ Hễ đói thì ăn, mệt nghỉ liền/ Trong nhà có báu, đừng chạy kiếm/ Vô tâm đối cảnh, hỏi chi thiền?
(vô tâm đối cảnh = trước các sắc trần... tâm không khởi lên lòng tham, lòng sân, lòng si, không ưu bi, sợ hãi) -không dính mắc.
Đây cũng là hệ quả tất nhiên của sự thực hành Định, Tuệ Phật Giáo - nói đủ là Giới, Định, Tuệ.
Tại đây, chúng ta có thể mạnh dạn phát biểu rằng: tư tưởng, triết lý thời Lý, Trần (ở Việt Nam) là tư tưởng, triết lý sống, hay sống triết lý, mà không phải là triết lý thuần túy huyền đàm.
Chúng ta hãy tiếp tục lắng nghe “triết lý sống-sống triết lý” ấy của Điều Ngự khi Điều Ngự nói đến các vấn đề triết lý ách yếu xưa nay của Đông, Tây: Có có không không/ Giây khô cây ngã/ Thầy tu áo vá/ Nhức não, đau đầu (Hữu cú, vô cú/ Đằng khô, thụ đảo/ Kỷ cá nạp tăng/ Chàng đầu hạp não)
Có có không không/ Chẳng có chẳng không/ Ghi dấu mạn thuyền/ Sau nầy tìm kiếm (thanh kiếm)/ Theo bức tranh vẽ/ Đi tìm ngựa đẹp (Hữu cú, vô cú/ Phi hữu, phi vô/ Khắc chu cầu kiếm/ Sách ký án đồ)
Có có không không/ Từ xưa đến nay/ Chấp vào ngón tay/ Quên mất mặt trăng/ Chết đuối trên cạn (đất bằng) (Hữu cú vô cú/ Tự cổ tự kim/ Chấp chỉ vong nguyệt/ Bình địa lục trầm)
Có có không không/ Như thế, như thế/ Tám chữ mở xong/ Không còn gì quan trọng (Hữu cú vô cú/ Như thị, như thị/ Bát tự đả khai/ Toàn vô ba tỵ)
(ba tỵ là cái mũi lớn, ý nói vấn đề nổi bật, quan trọng; Tám chữ: Sinh diệt diệt dĩ. Tịch diệt vi lạc (phẩm Thánh Hạnh, Kinh Niết Bàn))
(VNPGSL, ibid., tr.382-385)
Các nhà tư tưởng xưa nay đều đi vào các tri kiến chủ trương thường hằng, đoạn diệt, vừa thường hằng vừa đoạn diệt, hoặc phi thường phi đoạn...
Các tri kiến ấy đều rơi vào ngã tưởng, ngã niệm cả khi nói đến chân như, tuyệt đối. Đó là hiện tượng ngỡ ngón tay chỉ mặt trăng là mặt trăng, hệt như tưởng rằng nói về thực tại, sự diễn đạt thực tại là thực tại.
Vấn đề là đi vào thực tại để thể nghiệm thực tại mà không phải là nói về hay nghĩ về. Nói khác đi, thực tại thì khác với triết lý, hoặc thực tại là triết lý siêu đẳng. Con đường sống của Điều Ngự Giác Hoàng quả là con đường triết lý siêu đẳng: con đường trở về chính mình để thể nghiệm ở tâm thức mình sự thật và hạnh phúc. Điều Ngự viết:
Gia trung hữu bảo hưu tầm mịch/ Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền (Cư trần lạc đạo phú)
Tịnh độ là lòng trong sạch, chớ còn ngờ hỏi đến Tây phương/ Di-đà là tính sáng soi, mựa phải nhọc tìm về cực lạc (Cư trần lạc đạo phú)
Đó là sự trở về với “dừng tham ái”,”lắng thị phi” và để tâm an nhàn, tịnh lạc: Mình ngồi thành thị/ Nết dùng sơn lâm/ Muôn nghiệp lặng, an nhàn thể tính/ Nửa ngày rỗi, tự tại thân tâm/ Tham ái nguồn dừng, chẳng còn nhớ châu yêu, ngọc qúy/ Thị phi tiếng lặng, được dầu nghe yến thốt, oanh ngâm. (Cư trần lạc đạo phú)
Đó là sự trở về an trú vào giác tỉnh Tính Không (Chân không: Sunyatà), chứng ngộ thực tướng để không còn vướng bận, vướng mắc vào các quan điểm bộ phái Tiểu, Đại, Nam, Bắc, và không còn ngại tránh các thanh sắc trần thế, để “sống đời vui đạo”, tùy duyên mà xử sự: Hỏi phép chân không, hề chi lánh ngại thanh chấp sắc/ Biết chân như, tin bát nhã, chớ còn tìm Phật, Tổ Tây, Đông/ Chứng thực tướng, ngộ vô vi, nào nhọc hỏi kinh thiền Nam Bắc. (Cư trần lạc đạo phú).
Với sự trở về ấy thì mọi sự khác biệt về giai cấp, chủng tộc, màu da, quan điểm hay phái tính đều có đất thực tại nhân bản để gặp gỡ. Đấy là cái nhìn và thái độ sống rất trí tuệ Phật giáo nhằm giúp tự thân tự tại đi ra khỏi các vướng mắc, và giúp xã hội thực hiện được đại đoàn kết dân tộc, giáo hội thống nhất được các bộ phái làm sống dậy mạnh mẽ tiềm năng của dân tộc.
Nếu muốn nói thái độ sống đó của Điều Ngự là rất hiền triết, rất triết lý, rất tư tưởng, thì cần hiểu đó là triết lý rất riêng của Việt Nam gọi là Siêu vượt triết lý (Transcendental Philosophy) hay triết lý Nhân bản thực tại luận (Humanist Realism) vừa giải quyết Vấn đề giải thoát của nhân sinh, vừa giải quyết các vấn đề của quốc gia, xã hội.
Thế là, vào thế kỷ XIII (có thể nói từ thế kỷ XI) Việt Nam đã hình thành một hệ nhân sinh quan và vũ trụ quan rất riêng, mang đậm dấu ấn của trí tuệ và đạo đức Phật giáo của đức Phật Gotama.
Từ đầu thế kỷ XXI này, trước các khủng hoảng của các tư tưởng hệ, bao gồm tư tưởng khoa học, khủng khoảng môi sinh và đạo đức xã hội, triết lý nhân bản thực tại luận của Điều Ngự Giác Hoàng càng nổi bật nét đặc thù rất đáng được thời đại tham cứu. Điều Ngự và Trúc Lâm Yên Tử như đang tỏa sáng hơn bao giờ!
Trần Nhân Tông - Một Hoàng đế anh minh - Một Thiền sư đắc đạo
Trần Nhân Tông - Một Hoàng đế anh minh - Một Thiền sư đắc đạo
Tác giả : Thượng tọa Thích Bảo Nghiêm
Ban Trị sự Thành hội Phật giáo Tp. Hà Nội
Các nhà nghiên cứu đều cho rằng, triều Trần là một điểm son rực rỡ nhất trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, với những chiến công chống giặc ngoại xâm oanh liệt, hào hùng; với đường lối trị quốc đã có những bước phát triển mới để khẳng định vị thế ngày một vững chắc của một quốc gia độc lập sau hàng ngàn năm bị đô hộ bởi phong kiến phương Bắc… Sự nghiệp vĩ đại ấy có được là do công sức của cả dân tộc, song không thể không nhắc tới “sợi dây liên kết” sức mạnh của quần chúng nhân dân - những vị vua anh minh, những danh tướng tài ba…, mà ở đó không thể không nhắc đến hoàng đế Trần Nhân Tông, một hoàng đế đặc biệt, người có nhiều đóng góp quan trọng trong cả ba lĩnh vực: dựng nước, giữ nước và mở nước và là một thiền sư đắc đạo.
Trần Nhân Tông sinh ngày 11/11 năm Mậu Ngọ (tức ngày 7/12/1258), là con trưởng của Trần Thánh Tông, mẹ là Nguyên Thánh Thiên Cảm Hoàng Thái hậu; lên ngôi năm 1278, mất ngày 1/11 năm Mậu Thân (tức ngày 16/11/1308). Vua húy Trần Khâm, Nhân Tông là miếu hiệu, ngoài ra còn có tên là Phật Kim và Nhật Tôn. Sách Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Khi đức vua sinh, được tinh anh của thánh nhân, đạo mạo thuần túy, nhan sắc như vàng, thể chất hoàn toàn, thần khí tươi sáng… gọi là Kim Tiên đồng tử, ở vai bên tả có nốt ruồi đen, cho nên có thể cáng đáng được việc lớn…”[1]
Về sự nghiệp giữ nước: Ngài lên ngôi khi 21 tuổi, cũng là thời kỳ đế quốc Mông Cổ chiếm toàn cõi Trung Hoa, lập ra triều Nguyên và là kẻ thù hung hãn nhất lúc bấy giờ. Chỉ trong vòng nửa thế kỷ, phong kiến Nguyên Mông đã kéo thế giới vào một cuộc chiến tranh khủng khiếp. Kết quả, một đế quốc Nguyên Mông rộng mênh mông được thành lập, từ bờ Hắc Hải đến Thái Bình Dương. Nhưng, cả ba lần đụng đầu với quân dân Đại Việt, thì cả 3 lần đội quân “bách chiến bách thắng” ấy đều bị đánh bại một cách thảm hại (trong đó 2 lần diễn ra dưới thời Trần Nhân Tông trị vì: năm 1285 và 1288). Lẽ tất nhiên, chiến công hiển hách này là của toàn dân tộc, trong đó nổi bật lên những danh tướng như Trần Hưng Đạo, Trần Quang Khải, Trần Nhật Duật, Phạm Ngũ Lão, Trần Quốc Toản,... . nhưng vai trò của Trần Nhân Tông với tư cách là người tổng chỉ huy phải được đặt ở vị trí hàng đầu, bởi lẽ, nếu "vua không hiền" thì dù “tôi có giỏi” cũng không thể phát huy được hết thế mạnh của mình trong việc điều binh nơi trận mạc. Hiểu rõ sức mạnh của đoàn kết, Ngài đã đích thân mở hội nghị quân sự Bình Than để phân bổ các tướng lĩnh, vương hầu đóng giữ những nơi hiểm yếu của đất nước, phong Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn làm Quốc công tiết chế, thống lĩnh toàn quân, mở hội nghị tại điện Diên Hồng để hỏi ý kiến các bô lão đại diện cho trăm họ về việc nên hoà hay nên đánh giặc Nguyên – Mông. Hơn thế nữa, chính vua cũng cầm quân ra trận. Tập hợp được sức mạnh của toàn dân tộc, với những dòng chữ “Sát Thát” thích trên cánh tay hay “Nghĩa dĩ quyên khu, hình vu báo quốc” (vì việc nghĩa mà quên mình, liều thân để báo đền ơn nước) mà toàn thể quân sĩ thích trên bụng, quân dân thời Trần Nhân Tông đã đè bẹp ý đồ bành trướng xuống phía Nam của tên đế quốc cường bạo nhất lúc bấy giờ qua những chiến thắng vang dội như Vạn Kiếp, Vân Đồn… và nhất là chiến thắng Bạch Đằng- trận chiến lớn nhất, mang tính chất quyết chiến chiến lược.
Về sự nghiệp dựng nước: tiếp nối sự nghiệp của các bậc tiền nhân, sau cơn binh lửa, Trần Nhân Tông chú trọng ngay đến việc khuyến khích nông tang, chiêu mộ dân khai khẩn ruộng hoang, mở rộng các công trình thuỷ lợi, chia ruộng đất cho dân, khuyến khích học hành thi cử, tuyển chọn nhân tài, tha tô thuế tạp dịch cho những vùng bị tàn phá, miễm giảm cho các vùng khác…
Là một vị vua nhân hậu, lại đánh giá được vai trò to lớn của quân dân Đại Việt trong hai cuộc kháng chiến, Trần Nhân Tông đã cho sử quan chép tập Trung hưng thực lục và sai vẽ tượng các tướng lĩnh, công hầu có nhiều công lao. Đối với những người có tư tưởng hàng giặc, nhà vua cũng khoan thứ, cho đốt hết những tờ biểu tư thông với giặc để kẻ biết lỗi yên lòng và xoá bỏ mọi hiềm nghi. Còn những người vì hoàn cảnh nào đó mà phải hàng giặc cũng chỉ xử không cho mang họ Trần. Việc làm này đã chứng tỏ đường lối chính trị nhân đạo nhằm ổn định đất nước sau chiến tranh, để bách gia trăm họ an lòng mà xây dựng đất nước,…
Có lẽ bởi đường lối “trị quốc, an dân” đúng đắn ấy nên “lúa mỗi năm gặt bốn lần, tuy vào mùa đông rét, mạ vẫn phơi phới”. Còn về thương mại, không những nền nội thương phát triển, “thôn xóm đều có chợ, mỗi hai ngày họp một lần, trăm món tạp hóa đều dồi dào” mà “cứ 5 dặm thì dựng một ngôi nhà 3 gian, bốn mặt đều đặt sạp để làm chỗ họp chợ” và “nước không có dự trữ, chỉ trông cậy vào việc thuyền bè đến buôn bán”.[2]
Trong lĩnh vực văn hóa, có thể xem Trần Nhân Tông là một trong những người đi tiên phong trong việc sử dụng tiếng Việt trong sáng tác văn học. Cư trần lạc đạo phú và Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca là hai tác phẩm của Trần Nhân Tông được viết bằng tiếng Việt (chữ Nôm). Theo Lê Mạnh Thát: “Hai tác phẩm không những đã lôi cuốn được sự chú ý của người đương thời, mà còn có sức hấp dẫn đối với hậu thế. Tiếng Việt tự bản thân nó đã trở thành một ngôn ngữ văn học. Đây chính là một trong những cống hiến lớn, mà hai tác phẩm này đã mang lại cho văn học Việt Nam”[3]. Như vậy, tiếng Việt vào thời Trần Nhân Tông đã xác lập được vị trí chính thức trong các văn bản mang tính hành chính của nhà nước. Từ kinh nghiệm của các triều đại trước, đồng thời là người lãnh đạo cao nhất trong một giai đoạn lịch sử hết sức cam go và ác liệt, Trần Nhân Tông ý thức sâu sắc rằng, việc bảo vệ độc lập dân tộc không tách rời việc xây dựng và phát huy nền văn hóa dân tộc. Việc sử dụng tiếng Việt trong sáng tác văn học, do đó, đối với Trần Nhân Tông không chỉ dừng lại ở chỗ “nghệ thuật vị nghệ thuật” mà còn phải “vị nhân sinh”, tức là phải đáp ứng được yêu cầu phát huy tính độc lập dân tộc ngay cả trong văn tự và lệnh đại xá của ông cũng phải được đọc thêm bằng tiếng Việt đã chứng thực quan điểm ấy.
Đóng góp quan trọng thứ 3 của Ngài là trong việc mở nước: Cho đến trước thời Trần Nhân Tông, biên giới phía Nam của Đại Việt mới chỉ dừng đến nam Diễn Châu. Vì thế, nói đến mở nước là nói đến "công cuộc Nam tiến" của dân tộc ta, mà ở đó, Trần Nhân Tông phải được đặt ở vị trí cao nhất- người thành công trong việc mở rộng bờ cõi bằng hòa bình, không dùng sức mạnh quân sự - một việc làm hiếm thấy, đưa 2 châu: châu Ô và châu Lý (từ Triệu Phong - Quảng Trị đến Duy Xuyên - Quảng Nam ngày nay) vào bản đồ nước Đại Việt. Châu Ô chính là vùng đất Ô Mã của Chiêm Thành, nơi mà Toa Đô trong lần xâm lược năm 1283 đã báo cáo là vùng đất “nằm gần nước An Nam”; còn châu Lý, tức vùng đất Việt Lý, mà Toa Đô phải đi qua trước khi tiến công vào trại Bố Chính và đất Hoan Ái của ta và đã gây cho ta nhiều tổn thất. Chính cánh quân Toa Đô từ miền Nam kéo ra này đã gây nên diễn biến chính trị và quân sự phức tạp, đến nỗi vua Trần Nhân Tông và Thượng hoàng Thánh Tông đã phải đích thân chỉ huy cánh quân phía Nam của ta đối phó lại và làm nên chiến thắng vang dội, với việc chém đầu Toa Đô, bắt sống gần một vạn quân địch tại trận Tây Kết lần thứ hai.
Có thể thấy, Chiêm Thành có một vị thế hết sức xung yếu trong chiến lược phòng thủ quốc gia Đại Việt. Và vì thế, việc yên ổn biên cương phía Nam được vua Trần Nhân Tông đặt ra. Nhưng giải quyết vấn đề đó bằng cách nào? Có lẽ không có gì êm đẹp và hiệu quả hơn một cuộc hôn nhân mang tính chất quốc gia. Lịch sử đã ghi nhận “cuộc đối thoại” giữa hai vương triều Việt - Champa do Trần Nhân Tông khởi xướng là ngọn nguồn dẫn đến cuộc hôn nhân Chế Mân - Huyền Trân. Để có được “cuộc đối thoại” đầy ngoạn mục ấy, Trần Nhân Tông vừa gây dựng thế lực của Đại Việt, vừa tạo cho chính bản thân mình một uy đức bằng việc gửi 2 vạn quân và 500 chiến thuyền chi viện, góp phần giúp Champa chiến thắng quân Nguyên Mông trong cuộc chiến tranh Nguyên - Champa (1283). Điều đó đã giúp Ngài đủ sức thuyết phục Champa đi theo con đường hòa bình trong việc bang giao giữa hai quốc gia. Trong lời đề từ cho bức tranh Trúc Lâm đại sĩ xuất sơn đồ, Trần Chí Chính viết: “Có lúc Ngài viễn du hóa độ cho các nước lân bang, phía Nam đến tận Chiêm Thành, đã từng khất thực ở trong thành. Vua nước Chiêm Thành biết được điều đó, hết sức kính trọng mời, dâng cúng trai lễ, sắp sẵn thuyền bè, thân hành tiễn Ngài về nước và đem đất hai Châu làm lễ cúng dâng cho Ngài. Ấy là Thần Châu và Hóa Châu nay vậy”[4]. Nhưng, cái vĩ đại của vua Trần Nhân Tông là ở chỗ, sau 2 cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông năm 1285 và năm 1288 thắng lợi, dù cho thanh thế Đại Việt đã lẫy lừng khắp cõi Đông Nam Á, vậy mà Ngài vẫn chọn kế sách mở nước bằng con đường hữu nghị và hòa bình chứ không dùng đến binh đao.
Có thêm vùng đất mới, địa giới Đại Việt về phía Nam đã vượt qua đèo Hải Vân, trong đó có hai cửa biển: Tư Hiền và Đà Nẵng. Đây là những cửa biển sâu và rất thuận lợi cho thủy quân, lại kết hợp với núi cao hiểm trở nên không chỉ góp phần bảo vệ biên cương phía Nam, mà hơn thế nữa, nó đã mở ra bước phát triển mới trong chiến lược Nam tiến của dân tộc ta. Có thể xem việc làm của vua Trần Nhân Tông là bước then chốt của quá trình Nam tiến, bởi chỉ chưa đầy một thế kỷ sau khi Ô, Lý sáp nhập vào Đại Việt, Hồ Quý Ly đã có thêm Thăng Hoa và Tư Nghĩa và thêm nửa thế kỷ nữa, Lê Thánh Tông đã cắm mốc trên núi Đá Bia ở Phú Yên...
Như vậy là ở cả 3 lĩnh vực: giữ nước, dựng nước và mở nước, Trần Nhân Tông đều có những đóng góp đáng kể; song, điểm được coi là nổi bật nhất trong cuộc đời, sự nghiệp của Ngài là việc sáng lập ra phái thiền Trúc Lâm - Yên Tử - dòng thiền của riêng người Việt. Có thể nói, thiền phái Trúc Lâm là sự kết hợp của 4 dòng thiền đã có mặt ở nước Việt: thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi (thế kỷ VI), Vô Ngôn Thông (thế kỷ XI), Thảo Đường (thời Lý) và Lâm Tế (thế kỷ 13). Như vậy, chỉ riêng sự ra đời của dòng thiền này cũng đã thể hiện tinh thần và khả năng đoàn kết/dung hội của nó. Không chỉ là sự kết hợp giữa các dòng thiền, ta còn có thể thấy giáo lý của thiền phái Trúc Lâm là sự kết hợp giữa triết học siêu nhiên của Phật giáo với nhân sinh quan của Nho giáo và vũ trụ quan của Lão giáo, là sự thể hiện tư tưởng “tam giáo đồng nguyên”…, mà 4 câu cuối hội thứ nhất trong bài phú Cư trần lạc đạo của Trần Nhân Tông đã nói rõ điều đó:
…Lò hoán cốt, ước phi thăng, đàn thần mới phục;
Nhắm trường sinh về thượng giới, thuốc thỏ còn đam,
Sách Dịch xem chơi, yêu tính sáng, yêu hơn châu báu,
Kinh nhàn đọc dấu, trọng lòng rồi trọng nữa hoàng kim.
Đặc biệt hơn, đây là thiền phái đầu tiên do một người Việt Nam sáng lập, mà người đó lại chính là một vị hoàng đế đứng đầu một đất nước, đã từng chiến thắng đội quân hung hãn nhất ở thế kỷ 13.
Thiền phái Trúc Lâm đề cao sự tự ngộ, sự nỗ lực rèn luyện của hết thảy mọi người. Dù xuất gia hay tại gia, sống trong chùa hay ở ngoài đời, miễn là biết tu tập, cải tạo tâm từ ác chuyển thành thiện, biết phá trừ vô minh, tham dục thì đều đi đến con đường giác ngộ. Nhắc tới thiền phái Trúc Lâm còn là nhắc tới tinh thần “nhập thế” của Phật giáo với tư tưởng “hòa quang đồng trần”. Đó “là Phật giáo của mọi người, nó không hạn chế trong tăng sĩ cũng không hạn chế trong chùa chiền. Ai cũng biện tâm được, không kể là xuất gia hay tại gia. Ở giữa trần tục chứ không cần ở chùa, ở núi vẫn có thể vui với đạo. Tư tưởng đó làm cho đạo Phật mặc dù có giáo lý cao siêu thâm diệu nhưng vẫn có nền tảng quần chúng rất rộng rãi. Đó là sức mạnh của số đông”[5]. Tính nhập thế cao độ ấy được thể hiện ở chỗ: Trần Nhân Tông đã từng tu Phật trước khi lãnh đạo 2 cuộc kháng Nguyên - Mông vĩ đại, nhưng khi đất nước gặp cơn nguy biến thì cầm gươm hiệu triệu toàn dân ra trận, lúc thiên hạ thái bình thì tham thiền nhập định, thuyết giảng từ bi, bác ái, khoan hòa…
Ðiều quan trọng hơn, sự ra đời Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử đã góp phần cổ vũ tinh thần người dân nước Việt về khả năng phát huy những giá trị văn hóa bản địa, văn hóa truyền thống. Ðây cũng chính là sự đáp ứng nhu cầu đời sống tâm linh, tín ngưỡng của mỗi cộng đồng người ở từng thời đại, giai đoạn lịch sử cụ thể. Chính Ngài đã đem giáo lý ngũ giới, thập thiện đi khắp nơi để giáo hóa nhân dân, khuyên họ nên phá bỏ “dâm từ”, giúp họ trở nên hiền hòa và đạo đức hơn. Có thể nói, Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử đã tạo nên lực hấp dẫn mạnh mẽ, là nền tảng cho sự ra đời hàng trăm ngôi chùa lớn nhỏ, tập hợp tăng chúng cùng quy hướng theo một dòng tu hành mang đậm sắc thái Phật giáo dân tộc. Bản thân hình tượng ba vị sư tổ cũng được nghệ thuật hóa thành tranh thờ, tượng thờ, tạo ra một loại chùa riêng của một thiền phái trong hệ thống chùa tháp Việt Nam, như chùa Hoa Yên (Quảng Ninh), chùa Phổ Minh (Nam Định), chùa Thanh Mai, chùa Côn Sơn, chùa Minh Khánh (Hải Dương), chùa Vĩnh Nghiêm (Bắc Giang), chùa Đại Bi (Bắc Ninh)… và hình tượng hóa thành những nhân vật trong kho tàng văn học bác học cũng như văn học bình dân. Không những thế, sự ra đời của dòng thiền này còn mở ra phong trào học Phật mới. Lấy tôn chỉ Thiền tông: “Giáo ngoại biệt truyền, bất lập văn tự, trực chỉ nhân tâm, kiến tính thành Phật” làm chủ đạo, Đức đệ nhất Tổ đã khéo léo kết hợp giảng kinh thuyết pháp, giúp cho người học Phật hiểu sâu kinh điển, chuyển những lời kinh chết trong sách vở thành những bài kinh sống nơi người, chứng minh cho tâm thiền sáng ngời không có gì sai khác.
Đánh giá về dòng thiền này, Nguyễn Lang viết: “Phật giáo Trúc Lâm là một nền Phật giáo độc lập, uy tín tinh thần của nó là uy tín tinh thần quốc gia Đại Việt. Nó là xương sống của một nền văn hóa Việt Nam độc lập. Nền Phật giáo này tuy có tiếp nhận những ảnh hưởng của Phật giáo Trung Hoa, Ấn Độ và Tây Tạng nhưng vẫn giữ cá tính đặc biệt của mình”.
Điểm qua vài nét chính trong cuộc đời và sự nghiệp của đức vua Trần Nhân Tông để có thể thấy, các nhà nghiên cứu đã không quá lời khi khẳng định, Ngài là một vị minh quân, một thiên tài chính trị, một nhà quân sự tài ba và là người có công lớn trong tiến trình phát triển của Phật giáo Việt Nam.
Cuối cùng, xin được mượn mấy lời kệ trong Cư trần lạc đạo phú của Ngài để kết thúc bài tham luận của mình:
Bụt ở trong nhà
Chẳng phải tìm xa
Nhân khuây bổn
Nên ta tìm Bụt
Chín mới hay
Chính Bụt là ta.
Đó cũng chính là cốt lõi, là tư tưởng chủ đạo của đức đệ nhất tổ Trần Nhân Tông, của Thiền học Trúc Lâm, của Phật giáo thời Trần nói riêng và của Phật giáo Việt Nam nói chung, luôn đề cao tư tưởng “Phật tại tâm” mà chúng ta vẫn hằng theo đuổi./.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Đào Duy Anh, Đất nước Việt Nam qua các đời, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1964.
2. Đại Việt sử ký toàn thư, Tập 2, Nxb. Khoa học Xã hội. Hà Nội, 1998.
3. Nguyễn Lang, Việt Nam Phật giáo sử luận, Nxb. Văn học, Hà Nội, 2000.
4. Lê Mạnh Thát, Trần Nhân Tông toàn tập, Nxb. Tp. Hồ Chí Minh, 2000.
5. Thiền học thời Trần, Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam ấn hành, năm 1995.
6. Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam, Viện Triết học, Lịch sử Phật giáo Việt Nam, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1991.
[1] Đại Việt sử ký toàn thư. Tập 2 – Nxb KHXH, H.,1998. Tr.44.
[2] Lê Mạnh Thát, Trần Nhân Tông toàn tập. Nxb Tp. Hồ Chí Minh., Tp.HCM, 2000. Tr.165.
[3] Lê Mạnh Thát. Sđd., Tr.274.
[4] Lê Mạnh Thát. Sđd., Tr.202.
[5] Dẫn theo Ngô Văn Lệ, Thử tìm hiểu nguyên nhân phát triển đạo Phật thời Trần, trong Thiền học thời Trần, Viện nghiên cứu Phật học Việt Nam ấn hành, năm 1995. Tr. 290.
Trần Nhân Tông - Vị anh hùng dân tộc và sự nghiệp bảo vệ tổ quốc
Trần Nhân Tông -
Vị anh hùng dân tộc và sự nghiệp bảo vệ tổ quốc
Thượng tọa Thích Gia Quang
Phó Tổng thư ký Hội đồng trị sự TWGHPGVN
Lịch sử hơn bốn ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc ta là những bản trường ca bất hủ, những trang vàng chói lọi để lại cho con cháu muôn đời, là hành trang cho những thế hệ sau tự hào bước tiếp. Nhìn vào những trang sử vẻ vang ấy của lịch sử dân tộc, tất cả chúng ta đều thừa nhận triều đại nhà Trần là một trong những triều đại hưng thịnh và vẻ vang nhất trong lịch sử nước ta. Nguyên nhân nào đã đưa đến sự hưng thịnh ấy? Chắc chắn là sẽ có rất nhiều nguyên nhân. Ở mỗi góc độ nghiên cứu và phân tích ta lại thấy có một nguyên nhân sâu xa khác nhau. Mặc dù vậy không ai có thể phủ nhận được vai trò to lớn của Phật giáo và các cá nhân lãnh tụ mà cụ thể là các bậc Vua hiền trong những thành tựu rực rỡ của triều đại nhà Trần, trong số đó nổi bật hơn cả chính là vai trò của Vua Trần Nhân Tông mẫu hình tác giả Hoàng đế - Thiền sư - Thi sĩ tiêu biểu cho cả một thời đại huy hoàng trong lịch sử dân tộc.
1. Trần Nhân Tông thân thế sự nghiệp (1258-1308)
Thái thượng hoàng Trần Nhân Tông, nguyên là vị vua thứ ba của triều Trần, tên húy là Khâm, sinh ngày 11/11/1258, là trưởng nam của vua Trần Thánh Tông. Sử cũ chép rằng, khi mới cất tiếng khóc chào đời, thái tử Trần Khâm đã lộ rõ tướng là người phi phàm, nói theo lời của sách Đại Việt sử ký toàn thư, "tinh anh thánh nhân, thuần tuý đạo mạo, sắc thái như vàng, thể chất hoàn hảo, thần khí tươi sáng".
Lên ngôi năm 21 tuổi, Trần Nhân Tông đã cùng vua cha cầm quân hai lần đánh thắng kẻ thù xâm lược hùng mạnh nhất thời đó (vào năm 1285 và 1288) và có nhiều đóng góp trong việc mở mang và củng cố bờ cõi về phía Tây và phía Nam. Ông là người không bao giờ chủ quan với vốn kiến thức thu lượm được trong cuộc đời không ít biến cố và thử thách và cho tới hơi thở cuối cùng vẫn tràn trề ham muốn thế thiên hành đạo để tôn vinh cái thiện và lòng nhân.
Năm 1293, sau khi xã tắc hai phen chồn ngựa đá, non sông một thuở vững âu vàng, Trần Nhân Tông đã nhường ngôi cho con và lui về đất cũ Thiên Trường, dành thời gian chủ yếu để chuyên chú nghiên cứu đạo Phật. Tháng 8/1299, Trần Nhân Tông xuất gia vào núi Yên Tử tu khổ hạnh ở ngọn Tử Tiêu, pháp hiệu là Hương Vân Đại Đầu Đà, tự là Trúc Lâm Đại Sĩ.
Trần Nhân Tông đã có những đóng góp xuất sắc vào lịch sử chống ngoại xâm, xây dựng đất nước, phát triển tư tưởng Phật giáo dân tộc và là một trong những tác giả đi đầu trong việc sáng tác thơ phú bằng chữ Hán và chữ Nôm. Với tầm vóc danh nhân văn hóa, hình ảnh Trần Nhân Tông đã tỏa sáng trên tư cách một vị hoàng đế sáng suốt, vị thuỷ tổ của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử và để lại những áng thi ca thấm đậm lẽ đạo tình đời. Trần Nhân Tông đã về cõi tây phương cực lạc năm 1308, nghiệm sinh đúng nửa thế kỷ trên cõi đời.
2. Trần Nhân Tông - vị anh hùng dân tộc
Một thời đại thịnh trị không phải chỉ được đánh dấu bằng những võ công oanh liệt mà phải là sự phát triển đồng bộ và toàn diện của cả dân tộc trên khắp các mặt, từ vật chất đến tinh thần, từ kinh tế đến văn hoá xã hội. Thời đại thịnh trị không phải chỉ có những vị vua giỏi tôi hiền mà đỉnh cao của nó là sự phát triển về mặt trí tuệ, tâm linh. Bắt nguồn từ truyền thống tâm linh Phật mà cả dân tộc đã biến thành một dàn hợp xướng dưới sự chỉ đạo của một người nhạc trưởng tài ba. Và trong khung cảnh thời đại lịch sử này đã sản xuất cho dân tộc ta một nhà quân sự thiên tài, một nhà chính trị thông minh và trên cao hết, một nhà đạo sư, người thầy hướng dẫn tâm linh cho toàn thể dân tộc, đó là vị quân vương Phật tử Trần Nhân Tông.
Xây dựng một đất nước cường thịnh:
Giai đoạn trị vì của vua Trần Nhân Tông là thời kỳ mà xã hội rất ổn định. Vua biết cách thu phục nhân tâm. Dân chúng cả nước đồng lòng, đồng sức vì Vua. Cảnh thái bình tươi đẹp sau mỗi lần dẹp giặc ngoại xâm là những điểm sáng rất đáng ghi nhớ. Chưa có thời kỳ nào trước đó việc quan tâm đến dân chúng lại được chú ý như thời kỳ này. Trường lớp rất được mở mang, Nho học được toàn thịnh. Việc thi cử đã được mở theo định kỳ để lấy người tài giỏi ra giúp nước, chính điều đó đã lý giải cho việc thời Trần có nhiều tướng tài, giỏi đến thế. Ngoài Quốc Tử Giám có tại kinh đô từ đời nhà Lý, nhà Trần cho lập thêm Quốc Học Viện để giảng Tứ Thư và Ngũ Kinh. Tại các lộ cũng cho mở trường học để dạy cho dân chúng.
Văn hóa thời kỳ này phát triển rực rỡ với nhiều kiến trúc độc đáo. Đây cũng là giai đoạn đã đào tạo được khá nhiều học giả nổi tiếng, văn chương thơ phú cũng phát triển. Chính Vua Nhân Tông là người giỏi văn chương. Ông còn để lại trên ba mươi tác phẩm, trong đó có các bài tán, minh, thơ chữ Hán và hai bài phú chữ Nôm. Các sáng tác của Trần Nhân Tông trải rộng diện đề tài từ dòng thơ chiến trận đến tâm sự buồn vui đời thường, từ vận mệnh quốc gia đến nỗi niềm người khuê phụ, từ lối thơ xướng họa đến tức sự, từ thơ bang giao đến vịnh cảnh non sông tươi đẹp, từ tiếng nói bậc đế vương đến sâu thẳm chất Thiền...
Dù là bậc Vua nhưng Nhân Tông không hề kiêu căng, xa lạ mà trái lại rất gần gũi mọi người. Chính điều đó lý giải tại sao Nhân Tông lại giỏi dùng người đến vậy. Chắc hẳn trong chúng ta không ai không biết đến việc Nhân Tông khéo léo trong sử dụng vị tướng Trần Khánh Dư hay Trần Quốc Toản như thế nào? Mỗi khi đi ngoài đường gặp gia nhân của các vương thần thì hay dừng lại hỏi han, không cho vệ sĩ nạt nộ họ. Vua nói “Lúc thái bình thì nhờ có thị vệ tả hữu, mà lúc nước nhà lâm nạn, thì chính những người gia nhân ấy đi theo bảo vệ”. Việc dụng người tài của Nhân Tông có lẽ ít bậc vua nào sánh kịp.
Khi phân tích những nguyên nhân làm nên những thành tựu trong giai đoạn trị vì của Nhân Tông có lẽ không thể không nhắc đến vai trò của Phật giáo. Vua Nhân Tông có căn bản vững chắc về Phật học, thấm nhuần giáo lý Từ, Bi, Hỷ, Xả. Ông biết dùng Phật giáo để liên kết nhân tâm trong việc xây dựng và bảo vệ đất nước. Thời đại Nhân Tông là thời đại mà Phật giáo đời Trần hưng thịnh đến cực độ. Thế nhưng tinh thần từ bi và khoan dung của đạo Phật không hề đi đôi với một thái độ tiêu cực và quên lãng. Hội Nghị Diên Hồng do Trần Nhân Tông triệu tập đã nói lên được sự đồng tâm nhất trí của vua dân thời ấy. “Ðánh”, quyết nghị đồng thanh của Hội Nghị Diên Hồng là một tiếng nói của ý thức tự chủ và tinh thần tự cường, tự lực của dân Việt trong thời đại Phật Giáo đời Trần. Đây là đỉnh cao của sự đoàn kết toàn dân tộc mà chính nhờ sự liên kết nhân tâm, tinh thần hoà hợp – vô ngã vị tha của đạo Phật mà Vua tôi thời Trần đã thấm nhuần.
Chính Nhân Tông đã sử dụng được tiềm năng của Phật Giáo để phục vụ cho chính trị. Sự kiện xuất gia của vua, cũng như những năm hành đạo trong dân gian của vua, đã khiến Giáo Hội Phật Giáo Trúc Lâm trở nên một lực lượng tôn giáo hùng mạnh yểm trợ cho triều đại. Biểu lộ tình thương chân thật với từng người hầu hèn mọn của các vương hầu, hành vi ấy còn có người làm được, chứ yêu thương cả kẻ thù của mình thì chỉ có Nhân Tông, một người đã thấm nhuần tinh thần từ bi, vị tha của Phật giáo, một Tổ sư Thiền mới làm được như vậy mà thôi.
Hãy thử phân tích nguyên nhân của 3 lần chiến thắng quân Nguyên Mông: Một đế quốc được xem là hùng mạnh nhất lúc bấy giờ, đi đến đâu là thắng đến đó, vậy mà 3 lần mang quân sang nước ta là 3 lần tháo chạy đến không đường về. Vì đâu mà các triều Vua nhà Trần lại có thể tập hợp được nhiều tướng tài như vậy, tập hợp được sức mạnh quần chúng nhân dân lớn đến thế? Trong khi ta vũ khí thô sơ hơn giặc thì thắng thế nào đây? Ta thấy chính các vị Vua của nhà Trần đều là những Phật tử am hiểu sâu sắc Phật học, thấm nhuấn giáo lý nên các Ngài đã biết dùng Từ, Bi, Hỷ, Xả để thu phục nhân tâm, đã khiến cho trên dưới một lòng quyết tâm đánh giặc. Tư tưởng Phật giáo đó của các Vua triều Trần không chỉ để sử dụng những lúc có ngoại xâm mà chính là ngay trong thời bình với tình thương vô hạn đối với quần chúng nhân dân nên khi giặc đến thì lòng quyết tâm và sức dân mới lên cao đến như vậy.
Tóm lại, trong một đất nước có vua sáng, tôi hiền, triều đình hòa hợp, trên dưới một lòng, trên từ Thiên tử, dưới đến thứ dân, từ một em bé thơ ngây đến những cụ già đầu bạc, tất cả đều một lòng vì dân, vì nước. Trong mọi lĩnh vực quân sự, ngoại giao, giáo dục, chính trị, đều có những nhân tài xuất chúng. Mọi người trong xã hội đều có tinh thần độc lập, tự chủ, tự tín và tự cường. Như thế, tất nhiên có đủ điều kiện để xây dựng một quốc gia hùng mạnh. Nhưng điều quan trọng hơn hết chính là tư tưởng chủ đạo để hướng dẫn tất cả mọi hoạt động ấy. Đó chính là tinh thần Phật giáo. Một tinh thần nhập thế hành động, từ bi cứu khổ, lấy con người làm đối tượng để phụng sự nhân sinh.
Vai trò chấn hưng Phật giáo:
Một trong những sự nghiệp lớn của vua Trần Nhân Tông còn để lại mà đời sau không thể không nhắc đến, đó là nỗ lực hoằng truyền chính pháp, chấn hưng đạo Phật. “Từ cuối đời Lý, đạo Phật Việt Nam đã có những dấu hiệu suy thoái. Khi tinh thần đạo lý từ bi suy sụp thì tín ngưỡng quyền năng ma thuật lộng hành đưa con người vào vòng mê tín. Bên cạnh đó là những tệ trạng xã hội khác gây ra bởi sự tôn sùng đạo Phật quá mức nhưng lại thiếu sự điều hướng, tổ chức. Chuyện đúc tượng xây chùa tráng lệ nguy nga hơn cả cung vua là hiện tượng khá phổ biến. Tình trạng “thiên hạ bán vi tăng” dưới thời Lý không phải là điều đáng mừng cho Phật giáo mà là điều lo nghĩ cho tất cả những ai có ý thức trách nhiệm. Bởi vì không thiếu gì những kẻ xấu đã lợi dụng chốn thiền môn, cấu kết với giới tăng sĩ biến chất để làm những điều xằng bậy”. Tình hình này đã được phản ảnh trong bản điều trần của Đàm Dĩ Mông được ghi chép lại trong Đại Việt sử lược: “Nay Tăng đồ cùng với dịch phu quá nửa, bọn chúng tự kết bè đảng, dựng bậy thầy trò, tụ nhóm, ở bầy, làm nhiều việc dơ, hoặc ở giới trường tinh xá, ngang nhiên rượu thịt, hoặc tại thiền phòng tịnh viện, riêng tự gian dâm, ngày ẩn tối ra, như đàn cáo chuột. Chúng làm nát tục hư đạo, dần dần thành thói. Việc đó nếu không cấm, để lâu càng tệ thêm”.
Đứng trước tình trạng này, một con người hành động và là một Phật tử có ý thức trách nhiệm với đạo pháp, vua Trần Nhân Tông phải làm gì đây? Vua biết chắc một điều rằng, Ngài không thể dùng quyền uy của vương triều để chấn hưng đạo Phật. Triều đình có thể ban hành những đạo dụ để răn dân, trừng phạt những điều sai quấy, thế nhưng quyền lực vẫn không đủ sức mạnh để lay chuyển một tệ trạng đã bám sâu gốc rễ trong lòng xã hội. Vua Trần Nhân Tông đã phải đi trên một con đường gay go hơn, đó là con đường cảm hoá nhân tâm, lấy bản thân của mình ra làm gương sáng cho người đời noi theo. Thế nên khi khoác lên mình chiếc tăng bào, vua đã lặn lội “đi khắp nơi sức dân gian phá hủy các dâm từ và thuyết pháp khuyên dân làm mười điều thiện”. Hào quang của một vị vua anh hùng hai lần đại thắng quân Nguyên nay là một tăng sĩ đầu trần chân đất đi khuyến tu vẫn có sức mạnh thuyết phục hơn cả một ngàn đạo luật của triều đình. Sức mạnh thuyết phục đó chính là tình thương. Thế nên khi vua ra đi, cả dân tộc đã ngậm ngùi đưa tiễn, vì kể từ đây đất nước sẽ vắng bóng một đấng từ phụ. Tang lễ của Ngài, người dân tham dự đông như nêm cối, tràn ngập từ kinh đô cho đến bến sông Hồng đến độ linh vị của vua không thể nào di chuyển được, thế mới biết dân chúng đã thương yêu Ngài đến mức nào. Vua mất đi, nhưng thông điệp khuyến tu của Ngài còn vang vọng mãi đến muôn đời sau.
Vua Trần Nhân Tông là một trong những Phật tử lại là người đứng đầu đất nước nên có một vị trí hết sức quan trọng không những đối với Phật giáo nước ta mà đối với cả dân tộc. Ngài là nhà tư tưởng và là một nhà chính trị kiệt xuất. Trong thời gian lãnh đạo đất nước, Ngài đã làm nên những trang sử vẻ vang cho dân tộc, chấn hưng Phật giáo nước nhà, đưa Phật giáo Việt Nam phát triển đến chỗ cực thịnh.
Vai trò Thiền phái Trúc Lâm:
Như trên đã nói Trần Nhân Tông là người có công lớn trong việc chấn hưng Phật giáo nước nhà, tuy nhiên không chỉ có vậy ông còn là ông tổ của Thiền phái Trúc Lâm - người sáng lập xây dựng hoàn chỉnh một phái Thiền độc lập gọi là “Trúc Lâm Yên Tử”. Dòng thiền Trúc Lâm đã có những tác động tích cực to lớn đối với lịch sử dân tộc và Phật giáo và được kế thừa liên tục thậm chí cho đến ngày nay. Đây không những là một dòng thiền do một người Việt Nam sáng lập, mà dòng thiền này còn có những điểm đặc biệt về học lý và thực tiễn tu tập, mà ta đã vạch ra ở trên, nhằm đáp ứng lại yêu cầu phát triển của lịch sử dân tộc. Dòng thiền này đúng ra phải có một nghiên cứu riêng độc lập mới có thể làm rõ nhiều vấn đề về lịch sử và học lý.
Một người đã ở tuyệt đỉnh của quyền lực và danh vọng như thế, một bước là lên xe xuống ngựa, cung phi mỹ nữ, kẻ hầu người hạ bao quanh, thế mà nay đã lìa bỏ ngôi báu vào năm ba mươi bốn tuổi, cái tuổi được coi như đẹp đẽ nhất của đời người để bước theo bước chân của Tổ Ca Diếp trước đây, thực hành hạnh đầu đà, đầu trần chân đất, trong cái khí hậu khắc nghiệt của vùng nhiệt đới Việt Nam, lặn lội khắp nơi đem mưa pháp rải ra khắp chốn, cứu độ nhân gian. Mang trái tim Bồ Tát, nung nấu bởi ý nguyện Bồ Tát, tấm gương xả thân vì đạo của Ngài là một sự thể hiện tinh thần Bồ Tát đạo, khiến Ngài trở thành môt nhân vật hiếm có trong lịch sử truyền bá đạo Phật tại Việt Nam.
Trên quan điểm lịch sử cụ thể, chúng ta có thể khẳng định vị thế Trần Nhân Tông trên tư cách vị tổ của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, người có khả năng thâu thái những giá trị tinh thần Phật giáo từ bên ngoài để sáng tạo nên một Thiền phái bản địa, nội sinh trên cơ sở thực tiễn xã hội và mạch nguồn tư tưởng văn hóa dân tộc. Trải qua trường kỳ lịch sử, tinh thần Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử vẫn được phát huy và đến nay tiếp tục phát triển, có được ảnh hưởng mạnh mẽ trong nước và mở rộng ở nhiều Thiền viện trên thế giới.
Với một tinh thần nhập thế tích cực, dấn thân triệt để, đem đạo vào đời vì hạnh phúc của nhân quần xã hội như thế, dòng Thiền Trúc Lâm chắc chắn không thể nào lại không mang dấu ấn của người đã sáng lập ra nó. Một người vừa thông hiểu tất cả những gì là uyên áo nhất của giáo lý đạo Phật, nhưng đồng thời cũng biết cả nghệ thuật điều binh khiển tướng, một nửa đời người xông pha trên mình ngựa giữ yên bờ cõi, mang lại an vui cho trăm họ, vua Trần Nhân Tông không những đã kế thừa được những tinh hoa của quá khứ, mà đồng thời còn có khả năng tổng hợp được những giá trị của thời đại, từ đó với những kinh nghiệm sống của đời mình, vua đã phát huy truyền thống tâm linh Việt Phật đến một mức độ rực rỡ nhất, đem Phật pháp gắn liền với thế gian pháp, biến những giáo lý cao siêu trở thành một triết lý hành động thực tiễn, có thể tóm gọn vào bốn chữ giản dị: “CƯ TRẦN LẠC ĐẠO”.
3. Trần Nhân Tông với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc
Có lẽ thành tựu về quân sự thì khó có thời kỳ lịch sử phong kiến nào của nước ta có thể bì kịp đời vua Nhân Tông với 2 lần chiến thắng quân Nguyên Mông. Quân Nguyên Mông là đoàn quân thiện chiến, đánh bộ giỏi, cưỡi ngựa hay, vượt đường xa, từng đánh chiếm cả nửa châu Âu và rất tự hào là ít khi thất bại. Trong khi ta vũ khi quá thô sơ. Thế mà lần nào chúng sang xâm lược nước ta, cũng đều chuốc lấy thất bại thê thảm. Những chiến công lừng lẫy của quân dân ta có nhiều nguyên nhân mà một trong những nguyên nhân đó chính là tài thao lược, đức dũng cảm của các tướng sỹ lúc bấy giờ. Các tướng đã biết dùng sở trường của mình để chọi sở đoản của địch. Và trên hết là một lãnh tụ thiên tài về quân sự. Chính Ông chứ không ai khác lúc đó mới là người có quyền điều binh khiển tướng, bố trí trận đồ.
Sinh ra giữa thời hào khí Ðông A đạt tới đỉnh cao, Ông đã lãnh đạo nhân dân nước Ðại Việt đập tan hai cuộc xâm lược của những đạo quân Nguyên Mông hùng mạnh (vào các năm 1285, 1287-1288). Với việc tổ chức hội nghị Diên Hồng và Bình Than, Ông trở thành hiện thân của tinh thần đại đoàn kết toàn dân, ý chí quyết tâm đánh thắng giặc ngoại xâm, bảo vệ vững chắc quyền độc lập dân tộc.
Trong thời điểm vận nước vào lúc nguy nan, Ông đã cho khắc câu thơ: Cối Kê việc cũ ngươi nên nhớ - Hoan, Diễn còn kia chục vạn quân (Cối Kê cựu sự quân tu ký - Hoan, Diễn do tồn thập vạn binh) vào thuyền Ngự để động viên quân sĩ và khẳng định niềm tin vào ngày chiến thắng. Trở về Chiêu Lăng làm lễ dâng thắng trận, Ông viết hai câu thơ nổi tiếng, thể hiện niềm tự hào và khẳng định sức mạnh dân tộc: Xã tắc hai phen chồn ngựa đá - Non sông ngàn thuở vững âu vàng (Xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã - Sơn hà thiên cổ điện kim âu)... Và phải nói rằng, Ông cũng là người trực tiếp điều binh khiển tướng để củng cố vững chắc vùng biên giới phía tây và phía nam đất nước. Chính tài năng quân sự lỗi lạc của mình mà Trần Nhân Tông đã có thể lãnh đạo nhân dân đánh thắng quân Nguyên - Mông.
Hình ảnh một lãnh tụ quốc gia cầm quân ra trận khi Tổ quốc lâm nguy mà đồng thời cũng là một Thiền sư siêu thoát lúc đất nước thanh bình, đó là kết tinh kỳ diệu của một nền Phật giáo tự chủ, trong một quốc gia độc lập phú cường. Nhìn lại suốt chiều dài lịch sử dân tộc kể từ khi Phật giáo được truyền bá vào nước ta, Phật giáo gắn liền với sự phát triển của lịch sử dân tộc, lấy sứ mệnh của dân tộc làm sứ mệnh của mình. Ðó là tính nhất quán của lịch sử Phật giáo Việt Nam, được biểu hiện qua những bước chuyển mình, đáp ứng yêu cầu của từng chặng đường lịch sử cụ thể, vì lợi ích chung của dân tộc. Giáo sư Trần Văn Giàu đã rất có lý khi nhận định rằng: “Bình minh của dân tộc ta đã gắn với Phật giáo...”.
Dấu ấn tâm son hay cơ phong tiếp nhân độ thế của Đức Phật hoàng Trần Nhân Tông
Dấu ấn tâm son hay cơ phong tiếp nhân độ thế của Đức Phật hoàng Trần Nhân Tông
Tác giả: Chính Trung
Ban Phật giáo Việt Nam, Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam
Đức vua TRẦN NHÂN TÔNG (1258-1308) là vị Vua thứ tư của triều đại nhà Trần (1226-1400). Một đấng minh quân đã cùng các danh tướng Trần Hưng Đạo, Trần Quang Khải, Trần Khánh Dư, Trần Nhật Duật, Trần Bình Trọng, Trần Quốc Toản, Phạm Ngũ Lão, Yết Kiêu, Dã Tượng…, và quân dân cả nước, viết nên những trang sử vàng trong lịch sử Đại Việt, bằng sự nghiệp “Đánh Què, Bẻ Lọi” vó ngựa của đoàn quân xâm lăng hung bạo nhất thời bấy giờ: Đế quốc Nguyên Mông, vào thế kỷ thứ 13. Đó là nói về lãnh vực quân sự, ở lãnh vực chính trị, Ngài là người đã vận dụng pháp Phật vào ngoại giao để mang về cho đất nước hai châu Ô và châu Lý, mà không tốn một giọt máu, một mũi tên nào! Thành quả này, tạo nên cơ sở làm bàn đạp cho cuộc Nam tiến về sau của dân tộc. Vâng! Ở lãnh vực quân sự, chính trị, mọi người ở mọi thời đại đều dành cho Ngài một sự tôn kính đặc biệt (… đám tang của Ngài quân dân cả nước đến chiêm bái linh cữu đông đến nỗi không thể di quan được). Riêng ở lãnh vực đạo Phật, tôi cũng chắc là các Phật tử, các tín đồ từ xưa đến nay đều dành cho Ngài một sự ngưỡng phục, xưng tán, lễ kính.
Nhân ngày đại lễ tưởng niệm và hội thảo khoa học 700 năm ngày mất của ĐỨC VUA - PHẬT HOÀNG TRẦN NHÂN TÔNG, chúng ta cùng nhìn lại để chiêm ngưỡng một lần nữa, hoặc nhiều lần nữa “DẤU ẤN TÂM SON” mà từ thuở ấy, Ngài đã in trên dãy non sông gấm vóc Việt Nam yêu dấu của chúng ta với cả tấm lòng. Rồi, mỗi người trong chúng ta nhờ hồng ân của Ngài, tôi tin là sẽ rút ra từ cuộc hội thảo này - nơi hội tụ các bậc tinh hoa của các miền trên đất nước - những bài học thiết thực có thể vận dụng bổ ích cho sự nghiệp phục vụ tổ quốc, dân tộc ở hiện tại cũng như tương lai.
Trong phạm vi bài tham luận, cho phép tôi trình bày những ý tưởng còn thô thiển của mình qua nội dung các đề mục được triển khai, giới hạn trong khuôn khổ thuộc lãnh vực đạo Phật. Xin đi thẳng vào đề.
Câu hỏi 1:
Ngài - Phật tử Trần Khâm - Đức Vua Trần Nhân Tông đã tu học theo tông môn nào trong đạo Phật?
Đáp:
Ngài tu học theo thiền tông (tâm tông) trong đạo Phật.
Câu hỏi 2:
Ngài thọ học với ai?
Đáp:
Trực tiếp: với Tuệ Trung Thượng Sĩ (1230-1291), với thân phụ Đức Vua Trần Thánh Tông (1240-1290).
Gián tiếp với các thiền khách đương thời và qua sách vở kinh kệ thuộc nội điển lẫn ngoại điển.
Câu hỏi 3:
Công phu tu tập của Ngài có đạt đến kết quả là chứng đắc hay không?
Đáp:
Có
Câu hỏi 4:
Sau khi chứng đắc Ngài có hoằng pháp hay không?
Đáp:
Có
Câu hỏi 5:
Về sau, Ngài có truyền đăng cho hậu thế tục diệm (truyền tâm ấn) hay không?
Đáp:
Có. Ngài truyền tâm ấn lại cho thiền sư Pháp Loa làm Tổ thứ hai dòng Thiền Trúc Lâm - Yên Tử[1].
Câu hỏi 6:
Ngài đã hoằng pháp như thế nào?
Đáp:
Đây là trọng tâm của bài viết. Ta cùng khảo sát dưới đây:
* Hấp thụ trực tiếp từ phong cách siêu việt của Thầy là Tuệ Trung Thượng Sĩ (cũng là Bác ruột):
a/ Thánh phàm chẳng vướng bận: “Phật là Phật, anh là anh…”
b/ Sanh tử chẳng màng chi:
Giữa trời phỏng có đôi vành chuyển
Biển cả ngại gì bọt nước xao
c/ Tự tại giữa cõi trần:
Pháp thân chẳng ngăn ngại
Có gì là đục trong
d/ Độ người pháp vô ngần
Rảnh, ném trái rừng kêu vượn tiếp
Lười, câu cá suối gọi cò tranh…
… và nhất là thiền cơ cao tuyệt của Thượng Sĩ.
Kiến giải trình kiến giải
Tự ấn mắt làm quái
Ấn mắt làm quái rồi
Rõ ràng thường tự tại
Sắc tức là không, không là sắc
Ba đời chư Phật quyền biến đặt
Không vốn không sắc, sắc không không
Thể tánh làu làu chẳng được mất
(Sắc tức thị không không thị sắc
Tam thế như lai phương tiện lực
Không bổn vô sắc sắc vô không
Thể tánh minh minh phi đắc thất)
(Xem bốn tiểu đề trên: a, b, c, d, thiền cơ, trong sách dịch Tuệ Trung Thượng Sĩ của Trúc Thiên)
* Được nuôi dưỡng từ dòng sữa từ ái, đại bi của Vua cha là Trần Thánh Tông - cũng là một đại thiền sư có pháp hiệu là Vô Nhị Thượng Nhân, cùng thời với Thầy của Ngài.
* Và gián tiếp từ các khách thiền đương thời, bạn hữu của Thầy, của Cha, và từ sách vở kinh, điển, kệ, lục trong nhà Phật cũng như trong bách gia chư tử. Cho nên, Cơ Phong Tiếp Nhân Độ Thế của ĐỨC VUA - PHẬT HOÀNG TRẦN NHÂN TÔNG có thể nói là “Bất Khả Tư Nghì” khi xét về phương diện “Thể”. Ở hai phương diện “Tướng” và “Dụng” ta có thể thảo luận đôi chút:
Từ điển Phật học Huệ Quang ghi:
Cơ phong: Cơ là tác dụng của tâm bị giáo pháp kích phát mà hoạt động, hoặc là then chốt, cơ nghi khế hợp chân lý; Phong là trạng thái nhạy bén của thiền cơ hoạt dụng. Ý nói khi bậc thầy hoặc vị thiền tăng cùng người khác đối cơ hoặc dẫn dắt người học, bậc thầy thường mượn ý sâu xa không tìm được tung tích cho đến không phải ngôn ngữ mang tính logic để diễn đạt cảnh giới của mình hoặc để trắc nghiệm đối phương.
Cơ dụng: Huyền cơ diệu dụng, các thiền sư đã đại triệt ngộ, dùng những phương pháp vượt ngoài lời nói như vung tay hoặc đánh hét v.v… để giúp người học tiến vào cảnh giới thiền định sâu xa gọi là cơ dụng, hay cơ phong khắt khe mạnh bạo.
Cơ giáo: Căn cơ của chúng sinh và giáo pháp của đức Phật. Đức Phật tùy theo căn cơ sai khác của chúng sinh mà thuyết pháp có sâu, cạn.
Cơ nghi: Giáo pháp thích nghi với căn cơ của chúng sinh.
Cơ ngữ: Ngữ cú khế hợp với cơ pháp thần diệu. Bởi khi thuyết pháp cần phải khế lý và khế cơ. Văn và nghĩa đều rõ ràng.
Vâng! Ngộ đạo và chứng đạo từ khi còn là cư sĩ (lúc ở ngôi vị Thái Thượng Hoàng) nên những hành xử của Ngài đều khế hợp với tinh thần giáo lý nhà Phật. Cơ nghi, cơ dụng của Ngài trong thời kỳ này chỉ có người đắc đạo mới thấy rõ. Cụ thể như:
1/ Để kết hợp lòng người từ tướng, sĩ, quân, dân, các bô lão khắp miền trong nước, Ngài đã tổ chức hội nghị Bình Than, Diên Hồng làm nguyên động lực, hậu thuẫn, tạo thành một sức mạnh tổng hợp để chống lại cuộc xâm lăng của đế quốc Nguyên Mông. Lịch sử đã cho thấy việc làm này rất đúng đắn: Việc làm đó phát xuất từ một Phật tử đã chứng ngộ đạo: Phật tử Trần Nhân Tông (Ngài đã áp dụng nguyên lý nhân duyên cụ thể là tăng thượng duyên)!
2/ Sau khi chiến thắng quân Nguyên, mặc dù các triều thần tham mưu ngăn cản do hậu quả của cuộc chiến tranh để lại chưa khắc phục, nhưng Ngài vẫn tiến quân Tây thượng (đánh Ai Lao (1294)) và chiến thắng. Đó là Ngài đã dùng “khí lực” để đánh chứ không phải dùng sức lực để khắc địch. Điều này triều thần không thể thấy được, do triều thần không có “Thiền quán” về tương quan khí, thế, lực giữa Đại Việt và Ai Lao lúc bấy giờ mà đơn thuần chỉ xét về tương quan lực lượng, thế theo cái nhìn của quân sự.
3/ Về quyết định “trấn nước” chết tươi tướng giặc ác ôn Ô Mã Nhi.
Ô Mã Nhi là một tên tướng đầu sỏ của giặc, khi đem vó ngựa xâm lăng nước ta, hắn là người hung ác nhất, gặp quân dân ta thì tàn sát thẳng tay nên sau khi bị bắt và được trả về phương Bắc. Hội đồng tướng lĩnh đề nghị theo kế của Tiết Chế Trần Hưng Đạo, là lấy người giỏi lặn làm phu chèo thuyền để đưa trả y về nước, đợi ban đêm đục cho chìm thuyền, “trấn nước chết tươi” bọn giặc. Mọi người đang phân vân “Nên” hay “Không nên”. Vua Trần Nhân Tông đã quyết định “Nên”. Sau này, các nhà Nho phê bình (xem trong Đại Việt Sử Ký Toàn Thư). Họ nào biết như Vua Trần Nhân Tông - một Phật tử - thường biết nhân quả không sai chạy. Gieo gió thì gặp bão, vay nợ thì phải trả. Nhất là nợ máu với một dân tộc, với một đất nước. Mấy ai hiểu được, thấu được lý này: Họ tưởng chừng như quyết định của Ngài chỉ có lợi cho đất nước dân tộc Đại Việt, mà không hề có lợi cho đương sự: Ô Mã Nhi! Lợi cho Ô Mã Nhi ở chỗ nào? - Hãy học tập và nghiên cứu cho tường tận giáo lý đạo Phật sẽ lý giải được sự việc này.
4/ Nam du Chiêm Thành. Được Vua Chiêm “Cúng dường” hai châu Ô và châu Lý (lịch sử Việt Nam từ lúc lập quốc cho đến thời kỳ này không có một vị Vua nào có được công đức như vậy. Thử hỏi, nếu không phải từ phước duyên của Ngài - gả công chúa Huyền Trân, con gái duy nhất của Ngài cho Vua Chiêm - từ trí tuệ cao tột của Ngài - không tức thị sắc, sắc tức thị không - từ cơ nghi, cơ ngữ của một vị Thiền sư khi đối cơ với một vị Vua ngoại quốc, thì làm sao có được thành quả như vậy. Công đức này có thể so sánh với thành quả của Đức Phật Thích Ca khi Ngài thuyết pháp độ Vua Tần-bà-sa-la và sau đó được Vua xây dựng cúng dường Tịnh xá Trúc Lâm trên phần đất của trưởng giả Ca-lan-đà ở nước Ma-Kiệt-Đà.
5/ Theo truyền thống hoằng pháp chỉ đạo của Thiền tông từ trước cho đến thời Ngài thì các Thiền sư tối kỵ là dùng lại phương pháp khai thị của các Thiền sư tiền bối (xem Bích Nham Lục), nhưng riêng ở Vua Phật Trần Nhân Tông, Ngài sử dụng các phương pháp của các vị tiền bối một cách rất tự nhiên. Không sợ hiểu lầm là người chưa đắc đạo. Đó là do, Ngài đã tiếp thu được - như đã nói trên - từ ông nội Ngài, từ cha Ngài, từ Thầy Ngài và chính từ bản thân Ngài qua hai cuộc kháng chiến chống quân Nguyên. Cái nguyên lý của Thiền pháp này, Thiền cơ này, cơ phong này, cơ nghi này, cơ dụng này, đó là: “MỘT LẦN DÙNG MỘT LẦN MỚI” (Nhất Thời Niêm Thử Nhất Thời Tân). Nó đã siêu việt qua hai khái niệm, mới và cũ, ta và người, miễn là nó có lợi cho đương sự, giúp đương sự mở mắt thấu được lý và sự viên thông. Ta thử thưởng thức một vài cơ dụng của Ngài sau đây:
...
Có vị tăng hỏi:
- Thế nào là Phật ?
Ngài đáp:
- Nhận đến như xưa vẫn chẳng phải:
- Thế nào là Pháp?
- Nhận đến như xưa vẫn chẳng phải:
- Thế nào là tăng?
- Nhận đến như xưa vẫn chẳng phải:
- Cứu cánh thế nào?
- Chữ bát đã bày trao hết sạch, đâu còn có việc nói cùng anh.
(Bát tự đả khai phân phó liễu, cánh vô dư sự khả trình anh)
Lại hỏi:
- Thế nào là một việc hướng thượng?
Ngài đáp:
- Đầu gậy khêu nhật nguyệt
- Dùng công án cũ làm gì?
Ngài đáp:
- Một lần nhắc lại một lần mới
(Nguyên tác: Nhất thời niêm thử nhất thời tân)
6/ Cơ phong mang sắc thái tổng hợp, cảm ứng.
Rút kinh nghiệm từ hai cuộc kháng chiến chống quân Nguyên trong cuộc đời, từ khi còn là một cư sĩ Phật giáo (lúc tại vị Thái Thượng Hoàng), Ngài cư trần lạc đạo, và lúc nào cũng cùng người hòa quang vui sống (xem Cư Trần Lạc Đạo Phú). Sau này khi xuất gia ở núi Yên Tử, Ngài lại kiên tâm trì hạnh đầu đà cho đến khi thành đạo (xem Đắc Thú Lâm Tuyền Thành Đạo Ca). Thời gian hành cước hoằng pháp độ sinh, Ngài lại khuyến nhân dân Phật tử tu tập theo “Pháp Thập Thiện”. Vốn là một Thiền sư (một vị sư tổ, kết hợp ba tông phái: Phái thiền Tỳ-Ni-Đa-Lưu-Chi, phái thiền Vô Ngôn Thông, phái thiền Thảo Đường vào trong thiền môn Trúc Lâm - Yên Tử) nên Ngài khai thị cho các bậc thượng căn bằng các cơ nghi thích hợp với họ, còn với các bậc trung căn và hạ căn thì Ngài lại khuyến tu theo pháp thập thiện (Giáo tông, tịnh độ tông). Điều này khiến chúng ta học tập được một bài học từ Ngài, đó là: Phải từ cảm tình chúng sanh đến ứng pháp cứu độ thích nghi từng đương sự. Bất lệ tông môn thiền hay giáo, tịnh hay mật, miễn sao đương cơ viễn ly đau khổ hướng đến hạnh phúc, cứu cánh niết bàn.
Đối với ĐỨC VUA - PHẬT HOÀNG TRẦN NHÂN TÔNG, hẳn Ngài thấm nhuần lý:
Nhạn quá trường không.
Ảnh trầm hàn thủy
Nhạn vô lưu tích chi ý
Thủy vô lưu ảnh chi tâm
Nhưng trên cõi đời này, có sự kiện nào không để lại dấu vết, câu thơ: “Hồng trảo đạp tuyết nê” mà người xưa nói, phải đâu là vô lý. Cuộc đời của Danh Nhân Văn Hóa - Trần Nhân Tông - người viết mạo muội tán thán xưng tụng với Ngài cụm mỹ từ này, sáng chói tỏa hào quang kể từ khi Ngài xuất sanh (Ngài chẳng được Vua cha, mẫu hậu đặt tên là Phật Kim đó sao) cho đến khi Ngài thị hiện niết bàn.
Thị hiện sanh, tướng tốt đến độ theo tướng mà đặt tên Phật Kim.
Nhập thế cục, phước duyên cao dày đến độ muốn từ mà chẳng được, phải làm Vua trăm họ.
Học đạo, nấu chín pháp trong một thời gian rất ngắn, nếu tiền kiếp chẳng phải là một Hòa Thượng Đắc Đạo thì sao được vậy.
Hành cước độ sinh khắp đất nước, từ trước đến giờ (đến thời của Ngài) chưa có vị sư tăng nào có cước lực dõng mãnh như thế.
Tây thượng an tây
Nam du đắc địa
Hợp nhất tam phái thành một. Cổ kim chưa thấy
Dụng pháp tung hoành. Cơ phong cao tuyệt
Tiếp ngọn đèn pháp không hổ danh sư phụ
Truyền ánh sáng đạo đà hết sức hết lòng
Sống lạc đạo giữa cõi trần hữu hay vô đạo - chẳng màng - chẳng ngại. Ngài đã có pháp độ sinh.
Có hay không câu thuyết pháp - Xem nè - Đoàn của Ngài siêu việt hai biên tới những sáu thần thông.
Cho nên gặp thượng căn, Ngài truyền pháp tổ
Gặp trung, hạ căn Ngài dạy pháp mười hay.
Xưa không thẹn với thầy, cha, bạn bè, sử sách, giơ cao ngọn đèn pháp hướng tiên phong.
Nay kính cẩn viết về Người như cha, như thầy, như bạn, như sách xưa, như đèn sáng hướng về sau: Đây Một NGỌN ĐÈN LÒNG. Đây Một DẤU ẤN TÂM SON muôn đời ngời sáng, sắc không phai.
Còn về sau thì thế nào? Đố ai mà biết được!
Người Viết
Thư Viện Xá Lợi Thánh Phố Hồ Chí Minh Ngày 11 tháng 11 - 2008
CHÍNH TRUNG cẩn bút
Tài Liệu Tham Khảo
1.ĐẠI VIỆT SỬ KÝ TOÀN THƯ
2.THIỀN SƯ VIỆT NAM - Hòa Thượng Thích Thanh Từ
3.TAM TỔ HÀNH TRẠNG - Á Nam Trần Tuấn Khải dịch
4.TAM TỔ THỰC LỤC - Thích Phước Sơn dịch và chú
5.TAM TỔ TRÚC LÂM - Hòa Thượng Thích Thanh Từ
6.THÁNH TĂNG giảng giải - Hòa Thượng Thích Thanh Từ
7.HAI QUÃNG ĐỜI CỦA SƠ TỔ TRÚC LÂM
8.TOÀN TẬP TRẦN NHÂN TÔNG - Lê Mạnh Thát
9.THIỀN HỌC ĐỜI TRẦN - Ban Phật Giáo Việt Nam - Ban Phật Giáo Chuyên Môn - Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam
10. THÁNH ĐĂNG LỤC giảng giải - Hòa Thượng Thích Thanh Từ
11. KINH THẬP THIỆN giảng giải - Hòa Thượng Thích Thanh Từ
12. KINH THẬP THIỆN - Thích Hoàn Quang
13. TUỆ TRUNG THƯỢNG SĨ NGỮ LỤC giảng giải - Hòa Thượng Thích Thanh Từ
14. KINH THẬP THIỆN NGHIỆP ĐẠO - Thích Trí Thủ dịch
15. NGHIÊN CỨU VỀ THIỀN UYỂN TẬP ANH - Lê Mạnh Thát
16. BÍCH NHAM LỤC - Hòa Thượng Thích Thanh Từ
17. THÁI TÔN HOÀNG ĐẾ NGỰ CHẾ KHÓA HƯ KINH - dịch giả Thiều Chửu Diễn Nghĩa
18. KHÓA HƯ LỤC - dịch giả Sa-Môn Thích Thanh Kiểm
19. THIỀN HỌC TRẦN THÁI TÔNG - Nguyễn Đăng Thục
20. KHÓA HƯ LỤC GIẢNG GIẢI - Hòa Thượng Thích Thanh Từ
21. THƯỢNG SĨ HUỆ TRUNG - TRẦN QUỐC TẢNG - NGỮ LỤC - Trúc Thiên dịch
22. TUỆ TRUNG THƯỢNG SĨ NGỮ LỤC giảng giải - Hòa Thượng Thích Thanh Từ
23. LỊCH SỬ PHẬT GIÁO VIỆT NAM - Lê Mạnh Thát
24. VIỆT NAM PHẬT GIÁO SỬ LUẬN - Nguyễn Lang
25. VIỆT NAM PHẬT GIÁO SỬ LƯỢC - Thượng Tọa Thích Mật Thể
26. TỪ ĐIỂN PHẬT HỌC HUỆ QUANG - Hòa Thượng Thích Minh Cảnh chủ biên
[1] Để hiểu rõ thêm một cách sâu rộng các câu hỏi trên, cũng như để hiểu biết thêm về cuộc đời của danh nhân văn hóa - Đức Vua Trần Nhân Tông - đề nghị bạn đọc nên tìm xem các quyển sách mà người viết liệt kê phía dưới.
Đăng ký:
Nhận xét (Atom)