THÍCH TÂM TRỌNG
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT
Thứ Ba, 31 tháng 5, 2016
Lời tri ân dâng lên giáo thọ sự
LỜI TRI ÂN ĐẾN GIÁO THỌ SƯ
Ước vọng vươn đến đời sống lý tưởng của mình là điều ai ai cũng có. Nhưng cái gọi là"lý tưởng" ấy còn tùy thuộc vào khả năng tư duy và trình độ nhận thức của mỗi người. Vì vậy, khi nói đến cuộc sống lý tưởng, trước hết chúng ta cần xác định lý tưởng của mình, mục tiêu lý tưởng và con đường đi đến mục tiêu lý tưởng đó. P.Drive từng nói:" Mỗi cuộc đời là một con đường. Con đường mở ra không phải để ta an giấc hay nghỉ ngơi mà để ta bước đi trên đó".
Chúng con, những học Tăng, học Ni đang đồng hành bước vào ngôi nhà Như Lai, cùng tắm mình trong biển Pháp mênh mông. Kiến thức của chúng con chẳng khác nào những con rạch nhỏ đang lần lượt tìm về biển cả để hòa quyện cùng vị mặn của đại dương mênh mông. Vẫn biết "nước bốn biển chỉ có một vị mặn, Giáo Pháp của Như Lai chỉ có duy nhất một vị giải thoát" nhưng, với kiến giải nông cạn, vốn kiến thức còn non kém, người viết chỉ xin góp nhặt những kiến thức học được từ Kinh điển, từ những bài giảng của chư Tôn đức Giáo thọ sư, từ những nhân duyên thuận nghịch trong cuộc sống để thực hiện luận văn này.
Hoàn thành tiểu luận văn này, người viết thành kính tri ân HT. Hiệu trưởng trường cao trung phật học tại TP. HCM, ban giám hiệu trường, chư Tôn đức Giáo thọ sư và chư vị thân Giáo sư đã truyền đạt cho chúng con nhiều kiến thức giá trị về nội điển, ngoại điển, đã tận tình dẫn dắt chúng con những bước đầu học Phật.
Đặc biệt con, người viết xin thành kính đảnh lễ tri ân ĐĐ: THÍCH THIỆN CHƠN, người đã hết lòng hướng dẫn, giúp người viết hoàn thành tiểu luận văn này.
Sau cùng, người viết kính dâng hai Đấng Sanh Thành và chư Pháp Hữu gần xa lời tâm huyết và tri ân chân thành nhất.
Nam Mô Công Đức Lâm Bồ Tát Ma Ha Tát
Lời tri ân dâng lên giáo thọ sự
Lời tri ân dâng lên giáo thọ sự
Trong ba năm tu học tại mái trường thân thương với bao nhiêu kỷ niệm hằng in dấu mà huynh đệ chúng con được sự hướng dẫn của Chư Tôn đức giáo thọ. Trong các khóa tu học chúng con đã học được rất nhiều, học cách giữ giới, cách nói chuyện, cách đi đứng, học từ oai nghi cho đến cách thức tu học và những quy tắc của một Khóa tu hay những thời khóa công phu thực tập. Những âm thanh trầm bổng nhè nhàng từ lời xướng tụng, lời nói ngọt ngào ấm áp được truyền xuống từ Quý thầy giáo thọ, đặt biệt hơn cả là các thời thuyết giảng. Chúng con được Thầy giáo thọ trao truyền những đạo lý, các quy tắc sống, cách chuyển hóa tâm thức từ mê lầm đến giác ngộ v.v… Tất cả hòa cùng những ngọn gió thanh lương ùa vào thanh âm vi diệu, đọng lại trong tâm thức chúng con làm nảy nở cội gốc Bồ-đề đồng thời làm vơi đi những giọt lệ phiền não.
Mừng thay chư Phật ra đời,
Mừng thay giáo pháp khắp nơi lưu truyền.
Mừng thay đại chúng đoàn viên,
Mừng thay đại chúng kết duyên tu hành.
Huynh đệ chúng con chắc không sao quên được, có những ngày mưa dầm rả rích, thế mà chư Tôn đức không quản gió mưa, vẫn ân cần hướng dẫn chúng con trong những lời pháp nhũ bằng cả trái tim ấm áp nghĩa tình. hình ảnh mẫu mực, uy nghiêm của quý Thầy đã đánh động vào hạt giống tâm thức chúng con, làm nảy mầm bao chồi non trí tuệ.
Những khi chúng con mềm lòng yếu đuối, quý Thầy lại hiện thân bằng tình thương của Bồ-tát, tiếp cận lắng nghe và chia sẻ. Tình thương và đức độ mà quý Thầy đã dành cho chúng con trong những tháng ngày quả là vô cùng tận mà không sao có thể diễn tả bằng ngôn từ.
Chúng con nhớ lắm! Nhớ những giây phút êm đềm cùng sẻ chia với huynh đệ, sẻ chia những ân tình, sẻ chia những buồn vui trong cuộc sống. Huynh đệ chúng con được hòa nhập vào dòng pháp và được tưới tẩm bởi đức độ của Quý thầy trong từng dòng chảy thời gian. Cứ mỗi thời khắc trôi qua trong những ngày tu học chúng con dường như cảm nhận được sự an lạc thực tại trong tâm thức mà dòng biến chuyển ấy lại trở mình vương lên từ trí tuệ vô bờ qua lời khuyên dạy của quý thầy, hay những lời khuyên đầy nhiệt huyết của chư huynh đệ đồng học. Tất cả đã trở thành mạch sống, tạo nên một nhịp đập hòa chung với tình thương của từ bi và ánh sáng tuệ giác.
Mang ánh sáng, ngời soi nơi tăm tối
Pháp nhiệm màu Ngài gieo rắc trần gian.
Từ buổi nọ mấy nghìn năm dời đổi
Vẫn còn đây rạng mãi ánh đạo vàng.
Kính bạch quý Thầy! Như vậy, khóa học đang dần khép lại.bao năm nhìn lại bao thành quả tu học với những kỷ niệm buồn vui mà Thầy trò đã gặt hái. Trong sự vui buồn ấy chắc chắn sẽ có những khoảnh khắc an lạc, hòa lẫn cả sự bất an. Chúng con cảm thấy mình được lớn lên thêm một tuổi, chất liệu vững chãi, thảnh thơi, trong tâm được bồi đắp, chúng con cảm thấy hạnh phúc với lòng, nhưng lại thấy thẹn với bản thân vì chưa báo đền một chút thâm ân mà quý ngài đã ban tặng.
Chúng con hứa sẽ luôn ý thức nhận diện tất cả những tập khí vụng về những rác rưởi gây nên rạn nứt đổ vỡ, để chuyển hóa tự tâm và nuôi dưỡng những chất liệu thương yêu, tha thứ, xứng đáng là một hành giả tu học gương mẫu nơi chốn già lam đầy tình người này.
Chúng con chỉ biết ghi nhận những ân tình sâu lắng ấy, gửi vào tâm thức của chánh niệm, thầm cầu nguyện Quý ngài đạo tâm kiên cố, sức khỏe dồi dào, Phật sự hanh thông. Quý Tngài là nơi để chúng con nương về tu học và cũng cố đạo tâm trên bước đường học Phật. Kính chúc chư Huynh đệ đồng học luôn an lành, vững chãi trong dòng đời và đón những thành tựu mới tràn đầy tình thương và phúc lạc.
Nam Mô chứng minh sư Bồ Tát Ma Ha Tát.
Thứ Năm, 26 tháng 5, 2016
TINH HOA CỦA GIỚI LUẬT VÀ SỰ TRUYỀN THỪA CHÁNH PHÁP PHẬT GIÁO
TINH HOA CỦA GIỚI LUẬT VÀ SỰ TRUYỀN THỪA CHÁNH PHÁP PHẬT GIÁO
I. DẪN NHẬP
Khi Đức Phật còn tại thế, hàng đệ tử nương đạo phong của Ngài tu tập mà chứng ngộ. Bởi trí tuệ siêu việt của ngài đã cảm hóa nhân sinh rất có hiệu quả. Do vậy chúng ta càng tự hào biết chừng nào khi nhân loại hòa nhập vào giáo lý thậm thâm vi diệu. Do vậy, Đạo Phật rất cần sự có mặt của Tu sĩ vừa có Giới hạnh, vừa có trình độ Phật học lẫn thế học thật vững vàng mới cùng nhau xây dựng ngôi nhà Chánh Pháp mãi mãi trường tồn, chúng Tăng hưng thịnh. Quả thật, chỉ có Giới luật mới đưa con người lên Bi – Trí - Dũng để đạt đến Chân - Thiện - Mỹ.
Đạo Phật có một sức sống dồi dào bất động, sức sống ấy là Chánh Pháp cũng chính là Giới. Giới là lộ trình sống thực của chân lý, được kết tinh từ nhân cách phẩm chất đạo đức, nhằm nuôi dưỡng lớn công hạnh tự lợi, lợi tha, một yếu tố tác thành Phật quả. Giới cũng chính là cơ năng nòng cốt để xây dựng trật tự kỷ cương, một con người toàn diện trong sáng, nâng cao trí thức, phát triển trí huệ. Bởi Giới luôn tạo chất keo kết nối giữa con người và cuộc đời có cùng một giải pháp, một phương thức đượm nhuần thắm mãi, uốn nắn hàng con Phật trở thanh người mẫu toàn diện trong quá trình tu tập.
Vì hoài bão của người xuất gia là “phục vụ chúng sanh tức cúng dường chư Phật” mà nó đã thể hiện qua những công tác từ thiện xã hội như : Cứu trợ đồng bào lũ lụt, thiên tai, hỏa hoạn, thăm nuôi bệnh nhân ở những trại cùi, đem lại ánh sáng cho người mù, xây dựng nhà tình thương, tình nghĩa v.v…Như thế xã hội là một tổng hợp nhiều cá nhân, gia đình, đoàn thể, sự thanh bình tốt đẹp của xã hội chỉ có thể thành tựu và duy trì trên nền tảng của pháp luật đặc biệt hơn là Giới luật. Pháp luật mang tính răn đe người phạm pháp và bảo vệ người lương thiện. Còn Giới luật là cơ sở của đời sống cao thượng, tự đưa mình vào khuôn phép Đạo đức, Giới luật mang tinh chất cảm hóa nét đẹp xã hội và nhận thức trí tuệ với tinh thần tự giác cao. Chính vì thế cho nên nói rằng Giới luật làm nền tảng cho xã hội hướng thượng.
Như vậy, tinh thần Giới luật của Phật giáo làm nền tảng cho xã hội vươn lên về mọi mặt, có công năng rõ ràng là tạo được niềm tin cho mọi người, điều hòa được sinh hoạt của tập thể, đem lại an lạc cho mình, cho người trong hiện tại và tương lai. Nếu hạnh phúc là đối tượng mà nhân loại mãi đi tìm thì hẳn đúng là Giới luật là những gì mà người ta cần nắm bắt trên đường đi đến nơi ấy. Vì thế chúng ta nên loại bỏ hết thảy ngộ nhận về Giới luật của Phật giáo, để tiến lại gần hơn với nó và tinh tấn hành trì như nắm giữ hạnh phúc của chính bản thân mình.
1. Lý do chọn đề tài:
Lộ trình giải thoát cho con người mà đức Phật nêu ra có thể tóm gọn trong 3 chữ Giới, Định, Tuệ, trong đó Giới là bước đầu tiên mà hành giả cần thực hiện trước khi đạt được Định và Huệ. Do giữ được Giới mà thân tâm không loạn động, nên tâm trí được Định, nhờ đó trí não lần lần phát sáng, ấy là Tuệ. Vì vậy, việc tìm hiểu ý nghĩa của Giới luật Phật giáo là một việc vô cùng cần thiết đối với những ai muốn nghiên cứu về Đạo Phật nhưng cũng không thể chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu suông mà qua nghiên cứu phải áp dụng được vào thực tế, giúp cho hành giả trên con đường đi đến giải thoát.
Đạo Phật có một sức sống dồi dào bất động, sức sống ấy là Chánh Pháp cũng chính là Giới. Giới là lộ trình sống thực của chân lý, được kết tinh từ nhân cách phẩm chất đạo đức, nhằm nuôi dưỡng lớn công hạnh tự lợi, lợi tha, một yếu tố tác thành Phật quả. Giới cũng chính là cơ năng nòng cốt để xây dựng trật tự kỷ cương, một con người toàn diện trong sáng, nâng cao trí thức, phát triển trí huệ. Thế nên, con xin chọn đề tài: “TINH HOA CỦA GIỚI LUẬT VÀ SỰ TRUYỀN THỪA CHÁNH PHÁP PHẬT GIÁO ”
Bởi Giới luôn tạo chất keo kết nối giữa con người và cuộc đời có cùng một giải pháp, một phương thức đượm nhuần thắm mãi, uốn nắn hàng con Phật trở thanh người mẫu toàn diện trong quá trình tu tập.
Do vậy, đề tài này rất thực tiễn trong cuộc sống, bởi nó tạo thành chân lý sống động, soi sáng rạng ngời giữa nhân gian và xua tan bóng tối vô minh của đêm trường tham ái. Do đó, Giới trở thành ngọn đuốc sống trong trái tim bất diệt của nhân sinh.
2. Cơ sở tài liệu:
Trong quá trình thực hiện người viết đã được kham khảo những tài liệu về giới luật do chư vị Tôn túc Hoà thượng, Thượng tọa, Ni trưởng… phiên dịch và chú giải để làm cơ sở nghiên cứu cho tập luận văn này. Mục đích là nói lên vai trò của giới luật có liên quan đến sự tồn tại của Phật pháp và đối với người xuất gia như thế nào? Từ đó mọi người có cái nhìn sâu sắc hơn để nghiêm trì giới luật. Với mục đích ấy nội dung tiểu luận này cũng muốn nhắc lại môỉt lần nữa về sự quan trọng của giới luật trong đời sống xuất gia.
Vì bất cứ một tổ chức đoàn thể nào muốn tồn tại và phát triển lâu dài thì cũng đều phải có một nội quy tuân thủ. Một xã hội muốn thái bình thịnh trị thì phải có luật pháp của xã hội đó, mà người xưa đã nói: “Quốc có quốc pháp, gia có gia quy”, Vậy thì huống chi một đoàn thể tôn giáo mà có thể nói là không có giới luật. Đạo Phật cũng như thế, nhờ có giới luật mới thống nhiếp được Tăng đoàn, nhờ vậy mà Phật giáo tồn tại ngày càng hưng thịnh đến ngày nay. Vì thế, ta có thể khẳng định rằng trải qua hơn 2500 năm lịch sử đầy những thăng trầm, có lúc Phật giáo tưởng chừng như đã biến mất hẳn ngay trên bản địa, nhưng ngược lại Phật giáo vẫn tồn tại và phát triển khắp năm châu. Hiện nay sự thành tựu vượt bậc của khoa học cùng với những tư tưởng tiến hóa của nhân loại đòi hỏi thẩm định lại giá trị của nhiều tư tưởng triết học xưa nay, và đương nhiên những tư tưởng mang tính phi lý, lạc hậu phản khoa học đều phải tự đào thải trước những văn minh tiến bộ của loài người. Thế mà, tòa nhà cổ 25 thế kỷ của Phật giáo vẫn tồn tại cùng năm tháng sừng sững như cây đại thọ giữa núi rừng trùng điệp. Điều này chứng minh rằng Phật giáo đã toát ra một sức sống mãnh liệt bắt nguồn từ một giá trị tinh thần phong phú, tinh thần ấy chính là sự thể hiện giáo pháp trong mỗi đời sống con người, giáo pháp ấy phải chăng là những chân lý vượt cả không gian và thời gian, bao gồm ba tạng kinh, luật, luận.
3. Giới hạn của đề tài:
Bài nghiên cứu này người viết chỉ nghiên cứu một cách khái quát những khía cạnh cơ bản của giới luật đặt trên nền tảng của người Phật tử đi theo con đường giải thoát mà bậc đạo sư đã chỉ dạy, bên cạnh những vẫn đề mang yếu tố khái niệm thì còn có những ví dụ cụ thể giúp cho người đọc có một cảm nhận dễ hiểu nhất. Mong sao qua bài viết giá trị của giới luật sẽ được những người con Phật chú ý và hành trì một cách miên mật hơn, tránh đi quá xa những gì mà chư Phật chư tổ đã dạy.
4. phạm vi nghiên cứu:
Đề tài giới luật cũng đã được rất nhiều học giả nghiên cứu viết thành tiểu luận và sách, do vậy ở đây người viết chỉ muốn nhấn mạnh đến khía cạnh vai trò của giới luật Phật giáo đối với sự tồn tại và phát triển của đạo Phật, với đời sống tu tập và trong các mặt sinh hoạt đời sống khác của con người.
Trong khuôn khổ của một bài tiểu luận ngắn nên người viết chỉ sử dụng phương pháp chính là phân tích, bình luận dựa trên một số tài liệu gốc và thứ cấp, và sẽ không đi quá sâu vào từng đề mục, việc phân tích kĩ hơn sẽ được nghiên cứu trong các bài luận văn mang tính chuyên sâu.
5. Lịch sử nghiên cứu đề tài:
Đề tài giới luật tuy đã có nhiều nhà nghiên cứu như “Giới Luật Cương yếu” của HT. Thích Thiện Siêu, “Theo dấu chân xưa” của HT. Thích Minh Thông, “Giới Luật Học cương yếu” của HT. Thích Thánh Nghiêm, “Trùng trị Tỳ ni sự nghĩa tập yếu” của HT. Thích Đổng Minh, “Một Số vấn đề giới luật” của HT. Thích Phước Sơn…vv. cũng như các vị tăng ni sinh đã nghiên cứu , thế nhưng người viết xin có một hướng đi mới, đống góp mới của riêng mình, nhằm tạo thêm chút sức lực trong việc xác định lại tầm quan trọng của Giới Luật đối với hàng tu sĩ xuất gia trong Phật giáo chúng ta.
6. Phương pháp nghiên cứu đề tài:
Để có hướng đi mới người viết xin trình bày bài nghiên cứu theo phương pháp giải thích vấn đáp. Có nghĩa là theo phương pháp này người đọc sẽ được giải quyết những vấn đề về Giới luật Phật giáo mà theo người viết có lẽ nó sẽ là một bài viết có tính chất chia sẽ kiến thức từ kinh điển cũng như những bài dạy mà khi xưa đấng Thế Tôn đã dạy cho đệ tử của mình.
II. NỘI DỤNG:
1. Ý nghĩa giới luật là gì?
1.1. Giới là gì?
Giới tức là những điều đức Phật răn cấm, khuyên giữ gìn đừng nên trái phạm, để cho thân tâm thanh tịnh. Giới là hàng rào, là bờ đê, là thành quách ngăn giữ bọn quân phi pháp làm cho ba nghiệp thân khẩu ý thanh tịnh là nơi an trú của tất cả các pháp lành là nơi phân định của hành vi thiện và ác là kỷ cương của Phật pháp là mạng sống của tăng già. Vì vậy giới có ý nghĩa rất thù thắng(1).
Giới tiếng Phạn là Si la, phiên âm thành Thi La. Trung Hoa dịch là Thanh Lương nghĩa là mát mẻ do công năng của giới ngăn ngừa sự thiêu đốt của 3 nghiệp.
Thi La nghĩa là mát mẻ ý nói điều ác dễ khiến thân tâm nóng bức còn giới có thể làm thân tâm an nghĩ nên gọi là mát mẻ.
Lại có một định nghĩa khác nữa Thi La là cái đầu, cái đầu thì có thể thấy sắc, nghe thinh, ngửi mùi, nếm vị, biết xúc hiểu pháp,. Người giữ giới có thể thấy sắc của bốn chân lý, nghe ý nghĩa chưa từng nghe, ngửi hương vị 37 giác phần, thưởng thức vị tịch tịnh của hạnh xuất gia, hạnh viễn li, vị chánh giác, biết các xúc tịnh lự, giải thoát, đẳng trì đẳng trí, biết tướng chung và tướng riêng của pháp uẩn, xứ, giới. cho nên Thi La là cái đầu.
Giới theo luận sư Buddhaghosa định nghĩa kết hợp. Kết hợp có hai nghĩa: Một là phối hợp(samadhana) chỉ sự không bất nhất trong ba nghiệp thân khẩu ý nhờ đức hạnh. Hai là nâng lên(updhasana) nghĩa là nền tảng vì giới là nền tảng của các thiện pháp.
1.2. Luật là gì?
Luật là luật pháp, luật nghi tiếng Phạn là Vinaya, phiên âm là Tỳ Nại Da, Trung Hoa dịch là điều phục, vì có thể dứt nghiệp quấy ác của thân khẩu ý, đoạn trừ phiền não tham sân si và nhờ giới này mà được quả tịch diệt Niết Bàn. Trong kinh Giới Nhân Duyên nói: “Chữ “Tỳ” ngôn ngữ nhà Tần gọi là khử , “Nại Da” gọi là chơn nghĩa là loại bỏ bao nhiêu cái sai quấy để còn lại cái chơn cho nên gọi là chơn. Hàng phục tâm này chấm dứt tâm này đừng cho bất nhất tâm phát khởi nên gọi là chơn. Hàng phục là Giới, chấm dứt là Định, nhẫn là Tuệ”
Giới Luật còn được gọi là Ba La Đề Mộc Xoa, phiên âm từ Patimokka. Gồm tiếp đầu ngữ Pati, có nghĩa hướng về, theo chiều hướng, và mokkha có nghĩa là giải thoát. Theo đó Patimokkha là giải thoát, biệt giải thoát, biệt biệt giải thoát, tùy thuận giải thoát đều là gốc của từ mokkha và diễn thêm nghĩa theo nghĩa toàn bộ của Patimokkha. Ta có thể hiểu Patimokkha là những hành vi, giới hạnh, những học pháp đưa đến sự giải thoát.
Tỳ Ni Man kinh quyển 3 nói: “Ba La Đề Mộc Xoa là tối thắng vì giới là căn bản phát sanh mọi điều lành. Lại giới có hai loại: thế gian và xuất thế. Giới thế gian có thể làm nhân cho xuất thế nên gọi là tối thắng. Lại có giới căn cứ thân miệng và giới căn cứ nơi tâm. Do giới thân miệng mà đạt được giới nơi tâm nên nói đứng đầu là Ba La Đề Mộc Xoa”.
2. Nguyên nhân đức phật chế giới:
Đức Thế Tôn đã là bậc Chánh Đẳng Chánh Giác làm bất cứ việc gì cũng cẩn thận chu đáo, không sơ sót dù là một chuyện nhỏ. Trong 12 năm đầu khi giáo đoàn thành lập chúng tăng hầu hết phần đông là căn cơ trình độ giáo pháp cao siêu là những bậc thánh A la hán, thành phần tu tập đoạn dứt lậu hoặc. Những vị căn cơ còn thấp kém chỉ nghe Đức Thế Tôn khai thị vài lần liền chứng ngộ. Vì thế nếp sống của chư Tăng thuở ấy hoàn toàn thanh tịnh. Tuy đức Thế Tôn chưa chế Giới luật nhưng Giới vẫn có, chỉ giới hạn được trình bày dưới dạng những hình thức đơn giản tổng quát về mặt hộ trì các căn.
Thế Tôn dạy : “Tỳ kheo khi mắt thấy sắc, tai nghe tiếng, lưỡi nếm vị, mũi ngửi hương, thân xúc chạm, ý duyên pháp, vị ấy không nắm giữ tướng chung, cũng không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì khiến cho các căn không được duyên theo, không bị sanh tâm tham ái, ưu bi và các bất thiện pháp khởi lên, nếu có khởi lên Tỳ kheo liền chế ngự nguyên nhân ấy sống thực hành hộ trì các căn”.
Đức Thế Tôn thực hành qua giai đoạn thực hành Trung Đạo Đế, hành Bát chánh đạo dưới hình thức, Tỳ kheo nên giữ Chánh kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm, Chánh định. Qua sự trình bày như trên chúng ta thấy Giới luật tuy có mà chưa rõ ràng.
Trong Kinh Văn Thù Sư lợi quyển ba nói: Tôn giả Văn Thù Sư Lợi bạch Phật: “Bạch Đức Thế Tôn, người tà kiến đời sau sẽ phỉ báng rằng, nếu Đức Như Lai là bậc nhất thiết trí tại sao phải chờ chúng tăng phạm tội rồi mới chế Giới ?”
Đức Phật dạy(2) : “Nếu Ta chế Giới trước khi vi phạm, thì người đời sẽ phỉ báng ta. Họ sẽ bảo rằng tôi không có gây tội, sao lại cưỡng chế ra Giới luật. Đây không phải là nhất thiết trí. Như thế là Như Lai không có tâm từ bi, không lợi lạc, không bảo bọc chúng sanh. Như người không có con lại nói rằng sẽ sanh con vào giờ ấy. Chuyện ấy không thể tin, vì không chân thật. Nếu là sự thấy đứa con người ta mới tin được, cũng thế hữu lậu chưa sanh, tội chưa làm, trời người chưa thấy làm sao chế Giới được. Cho nên cần phải thấy rõ phạm tội, rồi sau đức Thế Tôn mới chế Giới, đây là đúng thời. Này Văn Thù Sư Lợi như y sĩ biết là nguyên nhân tật bịnh và biết thuốc nào ngọt để trị bịnh ấy”.
Từ đó, dần dần về sau trong Giáo đoàn Tăng sanh các hữu lậu với mục đích tâm họ không chân chánh. Do đó tăng đoàn đã xảy ra nhiều trường hợp nhiều Tỳ kheo thiếu kỷ cương nề nếp, đời sống buông lung phóng túng, vi phạm tịnh hạnh … khiến cho Giáo đoàn của Phật bị mang tiếng xấu lây, lại có nhiều ý kiến mâu thuẫn. Để giải quyết những vấn đề đó, Thế Tôn bắt đầu chế Giới để đối trị những lỗi lầm đã xảy ra, ngăn ngừa hành vi bất thiện pháp sắp vi phạm hay đã phạm thì phải sám hối, đồng thời duy trì uy tín của Tăng đoàn.
Giới luật được Đức Thế Tôn chế vào khoảng năm thứ 13 sau khi Đức Phật thành đạo, nhưng tùy phạm tùy kiết, những Giới không nhất định phải chế Giới từ 3 - 4 lần mới thành một Giới. Đây là một trường hợp điển hình nói lên tính linh động và tầm mở rộng của Giới Luật. Trường hợp khác điển hình giới dâm, phải trải qua ba giai đoạn mới thành:
- Giai đọan thứ nhất : Tôn Giả Tu Đề Na con trai của thôn trưởng Ca Lan Đa, do sự yêu cầu của người mẹ phải để lại đứa con trai để nối dõi tông đường, nên Tôn giả đã hành dâm với người vợ cũ. Sau sự việc xảy ra Tôn Giả bị lương tâm cắn rứt, cảm thấy hổ thẹn với những Tỳ kheo thanh tịnh nên thú nhận tội với chư Tăng, chư Tăng bạch Phật, Phật quở trách rồi chế giới: “Tỳ kheo ấy là kẻ Ba La Di không được ở chung”.
- Giai đoạn thứ hai : Một Tỳ kheo chán nản đời sống phạm hạnh, về nhà hành dâm với vợ cũ. Vì trong Giới Phật chế không cho trường hợp chán nản đời sống phạm hạnh. Do đó, Thế Tôn chế thêm “Tỳ kheo nào đã trì học xứ và chấp nhận đời sống của Tỳ kheo, chưa hoàn giới sút kém nhưng không phát lồ, hành dâm dục Tỳ kheo ấy là kẻ Ba La Di không được sống chung”.
- Giai đoạn thứ ba : Một Tỳ kheo sống trong rừng, bị thiên ma nhiễu loạn, nên đã hành dâm với con vượn cái. Nghĩ rằng Giới luật đức Thế Tôn dạy không có trường hợp cùng với loài súc sanh, thêm lần nữa Đức Thế Tôn bổ túc thêm Giới trên cho đầy đủ “Tỳ kheo nào đã thọ trì học xứ và chấp nhận đời sống của Tỳ kheo chưa hoàn giới, giới sút kém những không phát lồ mà hành pháp dâm dục, cho đến cùng với loài súc sanh, Tỳ kheo ấy là kẻ Ba La Di không được sống chung”.
Như thế cho chúng ta nhận xét Giới luật đức Thế Tôn chế tùy theo hoàn cảnh đệ tử vi phạm mà chế thành Giới. Sau đó, đức Thế Tôn nói rõ lý do Giới được thiết lập :
+ Để Tăng chúng được cực thịnh.
+ Để Tăng chúng sống được an ổn.
+ Để kềm chế các Tỳ kheo khó kềm chế.
+ Để các Tỳ kheo sống tâm được an ổn.
+ Để chế ngự các lậu hoặc ngay trong hiện tại.
+ Để chặn đứng các lậu hoặc trong tương lai.
+ Để đem lại tịnh tín tăng cho những người không tin.
+ Để làm tịnh tín tăng trưởng cho những người có lòng tin.
+ Để diệu pháp được tồn tại.
+ Để giới luật được chấp nhận.
Khi Đức Thế Tôn mới nhập diệt những vị Thánh tăng do thấu triệt chơn lý nên bình tĩnh đón nhận sự biệt ly ấy, những vị hữu học thì khóc lóc, đấm ngực kêu la … Nhưng cũng có những vị Tỳ kheo do không phải hảo tâm xuất gia và đã lớn tuổi như ông Sudhadda sung sướng reo mừng mà nói: “Chúng ta đã giải thoát hoàn toàn vị đại sa môn ấy, chúng ta đã bị phiền não nhiều, quấy rầy những lời! Làm thế này không hợp với các ngươi, làm như thế kia không hợp với đạo, nay chúng ta muốn gì chúng ta làm”.
2.1. Định nghĩa về giới luật:
Giới luật theo tinh thần Phật Giáo: Giới(3) là giới luật mà tăng, ni cũng như người tu tại gia phải tuân thủ, là điều kiện để Giác ngộ, cũng có nghĩa là quán hạnh, được hiểu là xem xét và ngăn ngừa hành vi bất thiện của thân khẩu ý (Phòng phi chỉ ác, chế ngự: Ngăn ngừa điều sai trái, chặn đứng việc xấu ác), làm cho cuộc sống của người giữ giới trở nên trong sạch, thoải mái, mát mẻ( thanh lương), luôn giúp hành giả hướng về con đường giải thoát (tùy thuận giải thoát). Giới trong giới bổn gọi là Ba La Đề Mộc Xoa cũng có nghĩa là biệt giải thoát (Pratimoksa), tức giữ giới nào là được giải thoát giới đó, Xứ xứ giải thoát(4) 2.2. Đặc điểm của giới luật:
Giới có công năng giúp giữ gìn bản thể thanh tịnh cho cả hàng xuất gia với cư sĩ, đối với hàng xuất gia thì giới còn giúp cho sự phát triển và hòa hợp của tăng đoàn.
2.2.1. Về công dụng:
- Tác trì: Thực hiện các điều Phật qui định phải hành trì, phải thực thi. Đây chỉ cho các Kiền độ, các pháp yết ma: Tự tứ, thuốc men, phòng giường, y phục…
- Chỉ trì: ngăn ngừa tránh xa các tội lỗi như không uống rượu, ngăn cấm tội ác không được sai phạm như sát sanh, trộm cắp, tà dâm, vọng ngữ…
2.2.2. Về tính chất:
- Tánh giới: tính chất của sự việc, nghĩa là việc đó nếu vi phạm thì có tội.
- Giá giới: là những điều ngăn cấm để khỏi dẫn đến phạm các trọng tội.
2.2.3. Về phương diện sắc thái: giới được chia làm 4 lọai:
- Giới pháp: những điều do Phật chế định.
- Giới thể(5):phát sinh lúc thọ giới Cụ túc khi có đủ 3 nhân tố- giới từ chí thành, giới sư thanh tịnh, giới đàn trang nghiêm
- Giới hạnh: Các hành vi của 3 nghiệp hoạt hiện ra ngoài phù hợp với giáo pháp.
- Giới tướng: Các tướng trạng của giới.
2.3. Mục đích của giới luật Phật giáo:
Đặc biệt chúng ta nhận thấy rằng: Bất kỳ xã hội nào muốn phát triển và tồn tại lâu dài trong cuộc đời cần phải có những con người xã hội đứng đắn. Con người xã hội đứng đắn là con người hoàn hảo về ý thức đạo đức cá nhân với sự vắng mặt của tham sân si ở nội tâm. Sự tuân thủ giới luật không phải là một cái gông cùm áp đặt con người làm điều này không làm điều kia, nó chỉ giúp cho con người quay về với ý thức đạo đức cá nhân của chính họ và diệt tận mọi phiền não khổ đau. Con người sống trong sự thực hành giới có nghĩa là sống trong ý thức đạo đức của chính mình vì thế, mục đích của giới trong Phật giáo là giáo dục con người trở thành người xã hội gương mẫu, người lý tưởng, và người hoàn hảo trong xã hội.
Những lợi ích của giới luật đối với tăng chúng:
Ở phần dẫn nhập của các bộ Quảng luật, thường đề cập đến 10 lợi ích của giới như sau:
* Để nhiếp phục tăng chúng.
* Để tăng chúng được hoan hỷ.
* Để chiết phục những người không biết hổ thẹn.
* Để những người biết hổ thẹn được sống yên ổn.
* Để những người chưa tin phát sinh lòng tin.
* Để những người đã tin càng thêm tin tưởng.
* Để diệt trừ các lậu hoặc ô nhiễm trong hiện tại.
* Để ngăn ngừa các lậu hoặc trong tương lai.
* Để chánh pháp được tồn tại lâu dài.
Nhưng lợi ích này không chỉ dừng lại ở những điểm trên, mà vai trò của nó ảnh hưởng rất lớn trên nhiều mặt của cuốc sống.
2.3.1. Sự tu tập Giới (Sìla):
Trước khi đề cập về sự tu tập giới, chúng ta không quên đề cập đến công năng và nhiệm vụ của nó. Nhiệm vụ của giới gồm có 2 nghĩa: hành động để chấm dứt tà hạnh và thành tựu đức không lỗi nơi người có giới. Bởi thế khi gọi là Giới, cần hiểu rằng nó có nhiệm vụ chặn đứng các tà hạnh là nhiệm vụ của nó theo nghĩa hành động, và bản chất không lỗi kể như nhiệm vụ của nó trong nghĩa thành tựu. Vì ở đây, chính hành động hoặc sự thành tựu được gọi là nhiệm vụ. Còn công năng và lợi ích của việc trì giới là "phòng phi chỉ ác"(6). Chính nhờ hành trì đúng đắn các giới điều đức Phật chế ra, hành giả đạt được sự thanh tịnh về thân-khẩu-ý và đạt được sự vô uý.
Theo quan điểm của đạo Phật, Giới được đặt trên nền tảng tình yêu thương rộng lớn và lòng thương xót đối với tất cả chúng sanh. Vì thế, muốn thành tựu giới trọn vẹn, chúng ta cần phải sống với sự chế ngự của giới bổn Patimokkha, đầy đủ oai nghi chánh hạnh, thấy nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt. Nhờ vậy, 3 nghiệp được thanh tịnh.
Trong khi thực hành giới , chúng ta cần nhất phải giữ gìn thân và miệng bề ngoài cho đúng với giới luật thì tâm trí bên trong mới được trong sạch. Trong và ngoài đều trong sạch, tức nhiên dung nhiếp nhau từ chỗ mê đến chỗ ngộ. Muốn đạt đến chỗ ngộ , hành giả cần phải hướng về những giới điều như : nhiếp luật giới, nhiếp thiện pháp giới, nhiêu ích hữu tình giới(7)... Nếu thực hành đúng Giới học như trên, tức nhiên thân tâm giải thoát được mọi sự ràng buộc và không sanh khởi những hành vi bất thiện. Nhờ có sức mạnh của việc trì giới, chúng ta có thể vượt lên sư chi phối của ngoại cảnh, của nội tâm; hầu tìm đến sự an tịnh cho chính mình ngay trong cuộc đời.
3. Giới được phân thành bốn loại: Giới pháp, giới thể, giới hạnh, giới tướng:
3.1. Giới pháp:
Phật chế năm giới, tám giới cho ưu bà tắc và ưu bà di, chế sáu giới cho thức xoa ma noa, chế mười giới cho sa di và sa di ni, và chế giới cụ túc cho tỳ kheo và tỳ kheo ny. Năm chúng Bồ Tát xuất gia, thọ mười giới trọng, bốn mươi tám giới khinh. Hai chúng Bồ Tát tại gia, thọ sáu giới trọng, hai mươi tám giới khinh. Một trăm tám mươi bốn loại yết ma, ba ngàn oai nghi, tám muôn tế hạnh, cùng vô lượng luật nghi, được gọi là giới pháp.
3.2.Giới thể:
Tức là lúc thọ giới, lãnh nạp giới pháp nơi thân tâm, khiến phát sanh một loại giới thể. Giới thể này, tuy phàm phu không thể nghe thấy biết đến, nhưng suốt đời hằng thường tương tục, có công năng phòng việc xấu ngưng việc ác. Được giới thể bậc ưu hay liệt, tùy theo sự phát tâm cao thấp trong lúc thọ giới. Người cầu giới, đầu tiên phải biết phát tâm. Phát tâm có ba phẩm vị thượng trung hạ.
Thứ nhất, phát tâm hạ phẩm, tức ngay lúc thọ giới, trí huệ mờ mịt, hạ liệt, thệ nguyện không rộng, hoặc tâm tán loạn, duyên cảnh không chu toàn. Tuy thủ trì giới tướng, nhưng không thể phát khởi công dụng của giới thể, tức phát tâm hạ phẩm, tức chỉ được giới thể hạ phẩm.
Thứ hai, phát tâm trung phẩm, tức ngay khi thọ giới, tâm duyên đến tất cả cảnh giới tình cùng vô tình. Song, tại những cảnh duyên này, có phát khởi phần đoạn các việc ác, phần tu các việc thiện, lại chỉ muốn tự giải thoát sanh tử, mà hoàn toàn không có thệ nguyện độ khắp chúng sanh, tức phát tâm trung phẩm, tức đắc giới thể bậc trung.
Thứ ba, phát tâm thượng phẩm, tức ngay nơi thọ giới, tâm tâm tương tục, thấy cảnh sáng trong thanh tịnh, duyên đến tất cả cảnh giới hữu tình lẫn vô tình. Ngay nơi cảnh duyên này, có thể quyết định phát đại thệ nguyện, tức nguyện đoạn tất cả ác, nguyện tu tất cả thiện, nguyện độ tất cả chúng sanh. Đó là phát tâm bậc thượng, tức đắc giới thể bậc thượng. Vì vậy, nếu muốn đắc được giới thể thượng phẩm, phải nên phát tâm thượng phẩm.
Do đó, trước khi thọ giới, phải khai mở tâm rộng rãi, kế đến lập chí cao viễn, thì khi thấy các tướng liền hiểu rõ. Nếu không chuẩn bị kỹ càng, chỉ mơ hồ về pháp tướng, thì làm sao đắc được giới thể thượng phẩm? Hoặc giả, hoàn toàn không phát khởi tâm cầu giới, chỉ được danh thọ giới trống rỗng, thật uổng công sức thọ giới, cùng lãng phí một đời tu. Quý vị hãy thận trọng lưu ý.
Cảnh duyên tuy nhiều, nhưng không ngoài hai loại hữu tình và vô tình. Cảnh duyên loài hữu tình tức là tất cả động vật có sanh mạng như loài người, cá, chim, trùng, thú, v.v... Cảnh duyên vô tình tức là tất cả loài không có sanh mạng như thực vật, khoáng vật, đất đai, núi sông, mặt trăng, mặt trời, tinh sao, cỏ cây, nhà cửa, dụng cụ, thuốc men, v.v...
Chúng sanh tạo nghiệp ác, do mê lầm cảnh duyên trước mắt, như vừa thấy tiền tài, liền khởi tâm muốn ăn cắp; vừa thấy sắc đẹp liền khởi niệm dâm dục. Song, nghiệp ác vốn do cảnh khởi, và nghiệp thiện cũng từ cảnh mà sanh. Cảnh là nơi nương tựa của sự chế giới, cũng chính là nền tảng căn bản phát khởi giới luật. Ví như giới cấm giết hại và dâm dục, do cảnh hữu tình phát khởi mà chế giới. Những giới này, cũng y theo cảnh mà sanh. Giới cấm ăn cắp và nói láo, do cảnh hữu tình và vô tình phát khởi mà chế giới. Thế nên, cảnh của rừng cây thâm thẩm đều là gốc của sự chế giới, và là nhân của sự phát khởi giới. Nếu hưng khởi được tâm từ quảng đại, duyên cảnh hữu tình và vô tình, rồi phát khởi ba thệ nguyện rộng lớn, tương ưng cùng giới pháp, lãnh nạp vào thân, hộ trì suốt đời, tức đắc giới thể thượng phẩm.
3.3. Giới hạnh:
Tức là sau khi đắc giới thể, trong cuộc sống hằng ngày, hành vi động tĩnh, ung dung tự tại, ngừng các việc ác, tu các điều thiện, thuận trì theo giới đã thọ, không vượt ngoài luật Tỳ Ni. Nơi pháp thế gian hay pháp xuất thế gian, cùng tất cả pháp môn tu hành, đều không vượt ngoài giới hạnh, lại chẳng rời tất cả ngoại hạnh, nên đặc biệt gọi là giới hạnh.
3.4. Giới tướng:
Tức là những giới do Phật chế. Nơi mỗi giới, có những phần thọ trì mà phạm và không phạm, lại có phân biệt nặng nhẹ và khai giá. Trì tức là thuận theo giới thể đã thọ mà lập danh, và được phân thành hai phần, chỉ trì cùng tác trì. Phạm tức là do vi phạm giới thể đã thọ mà lập danh, và được phân làm chỉ phạm cùng tác phạm.
Chỉ trì, tức là phương tiện chánh niệm, hộ trì giới thể đã thọ, ngăn ngừa cấm chỉ thân tâm, không tạo việc ác, nên gọi là chỉ. Chỉ mà không vi phạm, thuận theo giới đã thọ, khiến giới thể sáng trong tinh khiết, nên gọi là trì. Trì do chỉ mà thành, tức đối với các việc phi pháp ác nghiệp, không nên làm mà chẳng hề làm, đó là chỉ trì.
Tác trì, nghĩa là chuyên cần thúc liễm ba nghiệp thân miệng ý, tu tập giới hạnh, tức có việc thiện phát khởi thì phải hộ trì, nên gọi là tác. Tác đúng như pháp; thuận theo giới thể đã thọ, nên gọi là trì. Trì do tác mà thành, tức đối với những việc đúng như chánh pháp cùng nghiệp thiện, nên làm thì phải cố làm, đó là tác trì.
Chỉ phạm, tức do tâm ngu si giải đãi, ngã mạn, khiến hành ngược với giới thể đã thọ. Nơi các nghiệp thiện thù thắng, chẳng muốn tu học, nên gọi là chỉ. Chỉ mà có vi phạm, tức phản lại lời nguyện thọ giới, nghĩa là phạm. Phạm do chỉ mà thành, tức ngay nơi nghiệp thiện thù thắng phải nên làm mà không chịu làm, đó là chỉ phạm.
Tác phạm, tức là trong tâm đầy dẫy những chất độc tham sân, si, mạn, nghi, ác kiến. Tâm kích thích thân miệng, tạo cảnh vi phạm luân lý, đó gọi là tác. Tác mà có vi phạm, tức ô nhiễm giới thể đã thọ, nên gọi là phạm. Phạm do tác mà thành, tức nơi nghiệp ác phi pháp không nên làm mà lại cố làm, đó là tác phạm.
Đối với những giới khinh trọng, khai giá trong tạng luật, quý vị phải nghiên cứu tu học kỸ càng. Hiện tại, không thể giảng thuyết tường tận. Những danh tự như thế, được gọi là giới tướng.
4. Quá trình hình thành và phát triển của giới luật Phật giáo:
Luật tạng đã ghi lại rằng đến năm thứ 12 sau ngày Phật thành đạo, giới luật mới thật sự hình thành, chứ nó không được hình thành ngay từ năm đầu tiên thành lập giáo hội. Vì trong thời kì đầu tiên, đệ tử Phật đều là những bậc hảo tâm xuất gia, căn cơ xuất chúng, theo chân Phật trong một thời gian ngắn đều chứng được thánh vị, thánh quả. Tăng đoàn thời kì đầu tiên không cần phải chế định giới luật, đại chúng đều thanh tịnh.
Sau đó, đức Phật phải thiết lập giới luật khi có những hiện tượng vi phạm đời sống phạm hạnh, gây nên những ảnh hưởng không tốt cho đời sống sinh hoạt của tăng già. Giới điều ra đời là để chận đứng các hiện tượng xấu đã xảy ra trong tăng đoàn và ngăn ngừa nó đừng xảy ra về sau.
Hơn 100 năm sau khi đức Phật nhập diệt, do sự bất đồng về việc thọ trì giới luật giữa nhóm tỳ kheo trẻ ở Bạt kỳ và nhóm trưởng lão tỳ kheo, nên đã có kì kiết tập lần 2 để minh định lại những gì là đúng với Phật dạy và những gì đi lệch hướng, tuy nhiên, kết quả lại không giải quyết được gì mà Phật giáo lúc đó lại được chia thành 2 bộ phái Đại chúng bộ và Thượng tọa bộ, và từ đó giới luật cũng được phân thành 2 luật của Nam và Bắc truyền luật tạng.
4.1. Vai trò của giới luật Phật giáo đối với bản thân Phật giáo, con người và xã hội:
Đạo Phật sở dĩ được quảng bá và truyền thừa lâu dài trên thế gian này, thật ra không chỉ vì tự nó chứa đựng một kho tàng đồ sộ giáo lý cao thâm – văn học luận lý như nhiều người thường nhận định, mà điều tiên quyết và thiết yếu chính là Giới luật. Do vậy, đức Thế Tôn hơn bốn mươi năm hoằng hóa lợi sanh đến lúc sắp nhập Niết bàn, Ngài dạy: “Giới luật là mạng mạch của Phật pháp, Giới luật còn là Phật pháp còn; Giới luật mất là Phật pháp mất”.
Trong đời sống tu tập của mỗi hành giả, Giới luật được xem là thức ăn, nước uống để bổ dưỡng cho pháp thân, Giới luật như tròng con mắt của chính mình hãy thận trọng giữ gìn, Như trong kinh Phạm Võng Bồ Tát giới có câu:
“Giới như đèn sáng lớn
Soi sáng đêm tăm tối
Giới như gương báu sáng
Chiếu rõ tất cả pháp”.
Ngày nay trong bối cảnh xã hội xao động, từng bước chuyển mình tương thích với sự phát triển và trổi nhịp của văn minh thời đại; Phật giáo được xem là “chân lý thực tại”, mà cốt lỗi chính là Đạo đức và Giới luật làm nền tảng.
Phật chế giới là để ngăn ngừa sự bại hoại của tăng đoàn, khi dức Phật sắp nhập diệt, ngài dạy các Phật tử đời sau nên lấy giới luật làm thầy. Kinh Hoa Nghiêm nói: “Giới là gốc của vô thượng bồ đề”, tinh thần căn bản của Phật giáo là ở sự tôn nghiêm của giới luật”.
Trong kinh Di Giáo đức Phật dạy rằng: “tất cả các ma vương ngoại đạo, không ai có thể phá hoại được giáo pháp của ta, chỉ có đệ tử ta mới làm cho giáo pháp ta bị hủy diệt”. “Chỉ có trùng trong thân sư tử mới ăn được thịt sư tử mà thôi”.
4.2. Giới đóng vai trò gì trong sự tu tập cá nhân?
Mục đích của giới, trên nguyên tắc, là để " phòng phi chỉ ác", tức là phòng ngừa các điều phi pháp và ngăn chận các điều ác quấy, đồng thời cũng là " chỉ ác tác thiện ", tức là ngăn chận các điều ác và thành tựu các việc lành. Cũng như lời dậy đức Phật trong Kinh Pháp Cú, 183, lập lại bởi thiền sư Ô Sào: " Chư ác mạc tác, Chúng thiện phụng hành, Tự tịnh kỳ ý, Thị chư Phật giáo " (Không làm các điều ác, thành tựu các việc lành, giữ tâm ý thanh tịnh, ấy lời chư Phật dậy).
Điều cũng nên ghi nhận là giới không phải chỉ là một sự cấm đoán đơn thuần (không được làm cái này, không được làm cái nọ) mang tính chất tiêu cực, mà bao hàm cả tính chất tích cực tự nó nẩy lên do sự trì giới. Chẳng hạn như trì giới không sát hại sẽ làm nẩy lên lòng từ bi, không trộm cắp sự bố thí, không nói dối sự thành thật, không tà dâm sự thanh tịnh, không say sưa sự tỉnh thức.
Giới có liên quan mật thiết với hai môn học " vô lậu " khác là Định và Huệ. Kinh Đại Bát Niết Bàn có nhắc lại lời đức Phật: " Định sẽ đem tới kết quả và ích lợi lớn nếu phát triển với Giới, Huệ sẽ đem tới kết quả và ích lợi lớn nếu phát triển với Định. Tâm phát triển với Huệ sẽ giải thoát khỏi các lậu hoặc, tức là dục lậu, hữu lậu, tri kiến lậu và vô minh lậu ". Trong tám Chánh đạo, thì chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng thuộc vào Giới; chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định thuộc vào Định; chánh kiến, chánh tư duy thuộc vào Huệ.
5. Giới luật là nền tảng của sự phát triển Phật giáo :
Giá trị chân chính của một tôn giáo nằm ở hệ thống giáo lý và giới luật, nhưng sức mạnh thật sự của hệ thống này chỉ có thể đo lường ngang qua tổ chức của nó. Nghĩa là, đời sống tu hành của mỗi cá nhân và tập thể phản ánh sự hùng mạnh hay yếu kém của nó.
Để phát triển thì tăng đoàn Phật giáo phải là nơi tôn nghiêm và trong sạch,nếu như không vậy sẽ gây mất niềm tin nơi Phật tử và giáo chúng, đạo Phật sẽ không thể tồn tại và phát triển trong điều kiện như thế.
Tuy nhiên, việc áp dụng giới luật, cũng phải linh hoạt và tùy duyên, chính điều này đã làm cho giới luật Phật giáo ngày càng được hoàn thiện và phát triển qua từng giai đoạn lịch sử.
Phật đã cẩn thận căn dặn: "Này các Tỳ kheo, tuy là những điều do Ta chế định, nhưng nếu không phù hợp với phong tục tập quán của địa phương đó, thì không nên áp dụng. Trái lại, có những điều không do Ta quy định, nhưng vốn là phong tục tập quán của địa phương ấy thì không thể không thi hành"(8).
Rồi Đức Phật bổ túc: "Tỳ kheo khi làm việc vì, nên đem đối chiếu với kinh, luật, nếu việc làm đó phù hợp với tinh thần của kinh, luật thì hãy làm. Ngược lại, nếu việc làm đó trái với tinh thần của kinh, luật, thì không nên làm"(9).
Tóm lại, tinh thần của Phật giáo là "Tùy duyên mà bất biến, bất biến mà vẫn tùy duyên". Chúng ta có thể linh động áp dụng giới luật sao cho tốt nhất để đạt đến mục đích giải thoát, nhưng phải thận trọng trong việc đề xuất những quy định mới, và nhất là không nên tùy tiện sửa đổi giới luật của Phật. Chính sự linh hoạt này đã góp phần vào việc phát triển đạo Phật, vì nếu không linh hoạt, không thay đổi để phù hợp với sự phát triển và thay đổi của xã hội thì đạo Phật cũng không thể tồn tại và phát triển được.
5.1. Công dụng của Giới đức:
Đức Phật được ví như một vị lương y, chữa bệnh tâm linh cho loài người. Con đường hành đạo Ngài dạy được ví như một chương trình trị liệu các đau khổ trong tim và trí óc. Ví dụ này thường được thấy trong kinh điển, để ca ngợi Đức Phật và lời dạy của Ngài, tuy đã xưa nhưng cũng rất thích hợp cho ngày nay. Thiền định Phật giáo được xem như một phương cách chữa trị, và giờ đây có nhiều nhà tâm lý trị liệu đã thử dùng phương cách này như một phần trong công tác trị liệu của họ.
Con đường của Đức Phật không phải chỉ có chánh niệm, các pháp hành thiền Chỉ và thiền Quán, nhưng bao gồm các Giới đức, bắt đầu bằng năm giới căn bản. Thật thế, các giới luật tạo thành bước đi đầu tiên trên con đường đó, con đường Giới-Định-Tuệ. Khuynh hướng ngày nay thường khinh rẻ năm giới luật nầy, cho rằng đó chỉ là các điều lệ của lớp giáo lý vỡ lòng bắt nguồn từ đời sống cỗ xưa, không còn thích hợp cho nếp sống tân tiến hiện đại. Quan niệm đó đã bỏ sót vai trò mà Đức Phật đặt ra cho giới đức: giới đức là phần căn bản của chương trình trị liệu vết thương trong tâm trí. Giới đức đặc biệt để dùng chữa trị hai thứ bệnh đã tạo ra mặc cảm tự ti: hối hận và chối bỏ.
Đây là lúc để giới đức đi vào: giới đức được dùng để chữa các vết thương và vết sẹo. Lòng tự tin lành mạnh bắt nguồn từ một cuộc sống thiện, hợp với các tiêu chuẩn tốt, thực tế, rõ ràng, nhân bản, và đáng kính. Năm điều giới (ngũ giới) được đặt ra để có cuộc sống phù hợp với các tiêu chuẩn này.
5.1.1- Thực tế:
Tiêu chuẩn do giới luật đặt ra rất đơn giản: không cố ý sát hại, không trộm cắp, không tà dâm, không gian dối, không uống rượu hoặc dùng các chất say. Chúng ta đều có thể sống phù hợp với các tiêu chuẩn đó -- dù rằng đôi khi có vài khó khăn, bất tiện, nhưng luôn luôn có thể thực hiện theo được. Có vài người tìm cách diễn dịch các giới điều này, biến thành một loạt các tiêu chuẩn có vẻ cao sang hơn -- chẳng hạn biến cải điều giới thứ hai, không trộm cắp, thành điều giới không phung phí nguồn tài nguyên địa cầu. Làm như thế trông có vẻ thanh cao, nhưng chắc chắn rất khó thực hiện được. Những ai có kinh nghiệm điều trị người bị bệnh tâm thần chắc biết được hậu quả tai hại từ việc áp đặt các tiêu chuẩn quá xa vời, không thực tế. Nếu ta đặt ra những tiêu chuẩn mà bệnh nhân chỉ cần một mức độ cố gắng và chánh niệm vừa phải là có thể đạt được, lòng tự tin của họ sẽ gia tăng mạnh mẽ vì họ nhận thấy rằng chính họ có đủ khả năng để đạt đến các tiêu chuẩn đó. Nhờ thế, họ có thêm nhiều tự tin để thực hiện các công việc khó khăn khác để điều trị bệnh tâm thần của họ.
5.1.2- Rõ ràng:
Giới điều do Đức Phật đặt ra rất rõ ràng, không có những từ ngữ phân vân nghi hoặc, như: "Nếu như..., Cũng có thể là..., Nhưng mà...". Điều nầy có nghĩa các giới điều là những hướng dẫn minh bạch, không có kẽ hở cho các biện minh lý giải lòng vòng, không ngay thẳng. Một hành động chỉ có thể hoặc là phù hợp, hoặc là không phù hợp với giới điều. Rõ ràng như thế! Vì vậy, rất dễ tuân theo, không phân vân nghi ngờ. Những ai đã từng dạy trẻ con đều biết mặc dù chúng thường than phiền về các kỹ luật sắt thép, thật ra, chúng cảm thấy an tâm với những điều lệ rõ ràng, minh bạch, hơn là các điều lệ mơ hồ, dễ mặc cả để thay đổi. Cũng như thế, đối với bản thân, các điều luật giới hạnh minh bạch sẽ không cho phép các ý tưởng gian trá ngủ ngầm tìm cách lén vào khuấy động tâm trí của hành giả. Nếu ta tuân thủ theo giới điều của Đức Phật, ta không thể nào nuôi dưỡng ý tưởng sát hại, và từ đó, ta tạo ra một sự an toàn không hạn chế cho mọi sinh vật. Các giới điều khác sẽ giúp tạo ra một sự an ninh về của cải tài sản, lòng tiết hạnh của mọi người, một sự giao tiếp chân thật, và một cấp độ cao về tâm trí sáng suốt, không bị lu mờ bởi rượu chè say sưa.
5.1.3- Nhân bản:
Giới điều của Đức Phật có tính nhân bản cho người giữ giới lẫn những người giao tiếp chung quanh. Nếu bạn giữ giới, bạn tự đặt mình vào qui luật nghiệp quả, và bạn sẽ thấy rằng những gì bạn giao tiếp với thế giới bên ngoài là kết quả chủ động của nghiệp hành, qua thân-khẫu-ý, mà bạn thực hiện ngay trong giây phút hiện tại. Bạn nhận thức thế giới qua nghiệp hành của chính bạn, và bạn hoàn toàn chủ động để kiểm soát các phản ứng của bạn ngay trong hiện tại. Bạn không bị chi phối bởi hình dáng sắc đẹp bên ngoài, thân thể, trí thông minh, địa vị tiền bạc, vv., vì đó chỉ là các yếu tố ngoại vi đó chỉ là kết quả của nghiệp hành đã tạo ra trong quá khứ. Bạn hoàn toàn sống trong hiện tại. Các giới điều giúp bạn tập trung tâm trí để sống linh hoạt trong các tiêu chuẩn hiền thiện ngay bây giờ và tại chốn nầy, không truy tầm quá khứ, không vọng mống tương lai.
Nếu bạn chung sống với những người biết giữ giới, bạn sẽ thấy mình đang sống trong môi trường hoàn toàn không có nghi ngờ và sợ sệt. Họ quí trọng hạnh phúc của bạn như thể hạnh phúc của họ. Họ không tranh giành khống chế, không tạo cảnh kẻ thắng người thua. Khi họ nói đến lòng từ bi và chánh niệm khi hành thiền, bạn sẽ thấy chúng phản ảnh ngay trong các hành động thường ngày của họ, lời nói và việc làm cùng hợp nhất. Như thế, giới đức không những làm tăng trưởng lòng thiện của từng cá nhân, mà còn giúp tạo một xã hội tốt lành - một xã hội gồm những cá nhân đầy tự tin và biết tôn trọng đời sống lẫn nhau.
5.1.4- Đáng kính:
Khi chúng ta chọn một tập hợp các tiêu chuẩn cho cuộc sống, điều quan trọng bạn cần phải biết là các tiêu chuẩn đó do ai và nhóm nào đề xướng và có nguồn gốc ở đâu, bởi vì khi bạn tuân theo các điều luật đó, hiển nhiên là bạn phải tham gia vào nhóm đó, được nhóm đó thẩm định, và chấp nhận mực thước đo lường cái đúng và cái sai do họ đặt ra. Trong trường hợp của Ngũ giới, bạn không thể nào tìm ra một nhóm nào khác tốt lành hơn: đó là giới điều của Đức Phật và các vị đại đệ tử Thánh tăng đặt ra và thi hành. Trong kinh điển, Ngũ giới thường được gọi là "các tiêu chuẩn của bậc Thánh nhân". Các vị nầy không chấp nhận giới luật vì chúng có tính phổ thông hấp dẫn. Họ chấp nhận chúng qua các kinh nghiệm trong đời sống tu tập của họ và thấy chúng có hiệu quả ích lợi thật sự trên con đường đưa đến giải thoát tối hậu. Có thể có nhiều người vì vô minh mà chê cười bạn khi bạn tuân thủ Ngũ giới, nhưng các bậc Thánh hiền triết sẽ luôn luôn kính trọng và chấp nhận bạn vào trong cộng đồng của họ, và sự kính trọng của họ là có giá trị nhất, so với những người vô minh kia.
5.2. Giới luật là nguồn sinh lực của Tăng già
Để bảo hộ sự thanh tịnh, hòa hợp trong Tăng đoàn và giữ gìn bản thểTỷ kheo không cho hư hủy đồng thời để tránh sự chê bai của người thế tục, tránh gây mất niềm tin Tam bảo của tín thí, Đức Phật đã tuyên bày giới luật.
Giới luật có công năng dứt trừ nghiệp duyên, nghiệp nhân trong đường sanh tử. Không chỉ thọ hưởng phước lành ở vị lai mà ngay trong đời sống hiện tại, nếu chúng ta vâng giữ giới pháp nghiêm cẩn thì cuộc sống sẽ an vui, thân tâm luôn thanh thản.
Kinh Trường Bô có nêu ra 5 lợi ích của việc giữ gìn giới luật như sau:
1. Người có giới đức sẽ hưởng được gia tài pháp bảo nhờ tinh tấn.
2. Người có giới đức được tiếng tốt đồn xa.
3. Người có giới đức không sợ hãi rụt rè khi đến các hội chúng đông đúc.
4. Người có giới đức khi chết tâm không rối loạn.
5. Người có giới đức sau khi mạng chung được sinh về thiện thú, thiên giới.
Đức Phật thiết lập giới bổn không ngoài mục đích muốn kiện toàn bản thể thanh tịnh Tỷ kheo và trang nghiêm hòa hợp Tăng đoàn.
Phật bảo Xá Lợi Phất(10) : “Có 10 việc lợi ích nên chư Phật Như Lai vì đệ tử chế giới…
Mười việc lợi ích đó là:
1. Vì nhiếp phục Tăng chúng.
2. Vì nhằm triệt để nhiếp phục Tăng chúng.
3. Vì muốn cho Tăng chúng an lạc.
4. Vì để nhiếp phục những người không biết hổ thẹn.
5. Vì để cho những người biết hổ thẹn cư trú yên ổn.
6. Vì để cho những người không tin khiến họ tin tưởng.
7. Vì để cho những người đã tin tăng thêm lòng tin.
8. Vì muốn dứt hết pháp lậu hoặc ngay trong hiện tại.
9. Vì để cho những lậu hoặc chưa sinh không thể sinh khởi.
10. Vì muốn cho Chánh pháp được tồn tại lâu dài.
Cho nên đối với hàng xuất gia, giới luật rất cần thiết để thành tựu một Tỷ kheo thanh tịnh và phát triển Tăng đoàn. Nói cách khác, Giới luật chính là nguồn sinh lực của Tăng già, và là kim chỉ nam cho sự sinh hoạt Tăng đoàn.
Tăng già là một đoàn thể Tỷ kheo thanh tịnh hòa hợp, là một trong ba ngôi báu biểu hiện sự tồn tại của Phật pháp, là người trực tiếp thay Phật tuyên dương Chánh pháp để làm lợi lạc quần sanh. Do đó, khi trong Tăng chúng bắt đầu có sự xen tạp, bản thể thanh tịnh Tăng không còn được vẹn toàn, thì khi đó Đức Phật mới chế giới hầu ngăn chặn sự manh nha của các hữu lậu.
Với tinh thần “Tùy phạm tùy chế”, giới luật Phật giáo chủ yếu dựa vào sự tự nguyện của hành giả mà không hề có tính cách giáo điều, ép buộc. Các hành giả sẽ tình nguyện vâng giữ giới pháp một cách nghiêm mật để chu toàn bản thể thanh tịnh Tỷ kheo và xây dựng Tăng đoàn mẫu mực. Tự thân mỗi hành giả, nương vào giới luật để gạn lọc thân tâm, tận trừ mọi lậu hoặc, ngăn chặn nghiệp bất thiện. Nhờ đó mà thân tâm được thúc liễm, đạo hạnh được tăng trưởng, đời sống không bị nhiễm ô trần tục. Một người vâng giữ, nhiều người vâng giữ, rồi từng cá nhân đó hợp lại thành một tập thể trang nghiêm thanh tịnh. Đây chính là điểm khác biệt của Tăng đoàn Phật giáo so với tổ chức của các hội chúng khác.
6. Mục đích xuất gia truyền trao giới đức:
Người xuất gia là những người mẫu mực để làm chỗ dựa tinh thần xứng đáng cho tín đồ, làm gương sáng cho đời và làm lợi ích cho xã hội trong hiện tại cũng như tương lai. Vì họ giữ gìn giới luật thanh tịnh, tất nhiên được giới đức trang nghiêm, thành bậc mô phạm của mọi người. Khi tư duy, nói năng hay làm bất cứ việc gì, chắc chắn đều đem lại những lợi ích cao thượng và thiết thực cho tất cả. Vì vậy, mục đích của người xuất gia là “Hoằng pháp lợi sanh” để đi đến vô thượng giác. Mục đích ấy không phải người xuất gia chỉ làm trong một đời mà đạt được, trái lại phải đời đời, kiếp kiếp hoằng pháp lợi sanh, tự giác, giác tha, giác hạnh viên mãn, thì mới có thể đạt đến tri giác vô thượng. Tuy vậy đời đời, kiếp kiếp đều lấy sự xuất gia của đời này làm cơ bản. Nếu nền móng không chắc chắn thì nhà cửa xiêu vẹo, cũng vậy, sự xuất gia với mục đích không chân chánh thì sẽ không thành tựu được điều gì cả. Cho nên, người xuất gia phải nhận thức rõ và quyết chí theo đuổi mục đích vô thượng của mình. Một người xuất gia với động cơ chân chánh là người đã nhận thức được sự thật khổ đau của cuộc sống, họ nhận thức được rằng cuộc sống này là giả tạm vô thường. Mọi vật trên thế gian này đang bị các ngọn lửa tham, sân, si, sầu bi, khổ não… thiêu đốt và vị ấy mong cầu thoát ra khỏi ngọn lửa ấy bằng cuộc sống phạm hạnh.
Mục đích của người xuất gia là mong muốn đạt được hạnh phúc và giải thoát đích thực ngay tại đời này và nhiều kiếp về sau. Đức Phật là người đã thành đạt mục đích ấy và đã chỉ dạy lại cho con người phương cách đi đến mục đích cao thượng đó. Nghĩa là, Ngài đã chỉ dạy cho hàng đệ tử thấy được giá trị đích thực của đời sống xuất gia, ấy là một đời sống giải thoát.
Vậy hàng xuất gia muốn đạt được mục đích tối hậu như đức Phật, vị ấy phải sống một đời sống mẫu mực trọn vẹn của một thánh giả A-la-hán, nó bao gồm bốn sự thanh tịnh sau:
6.1. Sự thanh tịnh về việc giải thoát luật nghi:
Nghĩa là vị ấy có khả năng đề kháng và chống giữ những dòng nước lũ ô nhiễm từ bên ngoài ngang qua các hành vi của thân, ngữ và ý tràn ngập vào tâm và làm cho tâm dơ bẩn.
6.2. Sự thanh tịnh về phòng hộ căn môn:
Tức là khả năng kiểm soát các giác quan, sáu cánh cửa mà sự ô nhiễm có thể đi vào tâm.
6.3. Sự thanh tịnh về phương tiện sống:
Tức sống theo bốn truyền thống của chư Phật, gọi là bốn thánh chủng gồm :
a) Ba y và bình bát.
b) Sống khất thực.
c) Ngủ nghỉ dưới gốc cây.
d) Dùng dược phẩm trị bệnh.
7. Ứng dụng giới luật thiết thực có lợi ích trong đời sống người xuất gia:
Trước hết, Giới luật được xem như là nơi quy thú tất cả thiện pháp, là phương tiện để ngăn chặn và đoạn trừ các điều ác bộc phát qua thân, khẩu, ý. Điển hình như kinh Hoa Nghiêm nói: “Giới là mẹ sinh ra các công đức”. Thật vậy, Giới luật chính là sinh mạng, là sự sống còn của những người con dòng họ Thích – những hành giả thừa Như Lai xứ, hành Như Lai sự.
Hơn nữa, nếu hành giả biết ứng dụng Giới luật, y chỉ vào Giới luật và sống đúng với nó, có nghĩa là tự mình tìm được cuộc sống thanh tịnh giải thoát. Song về phương diện tích cực thì Giới luật có lợi ích không chỉ riêng cho cá nhân nào, mà nó còn tác động rộng rãi đến cộng đồng xã hội.
7.1. Đơn cử như giới bất sát:
Vì thương yêu chúng sanh, không phân biệt loại nào, chúng sanh nào cũng tham sống sợ chết, cũng cảm thấy đau khổ khi bị xâm phạm thân thể, cảm nhận đựơc niềm đau của chúng sanh như nỗi đau của mình, vì thế mình giữ giới không giết hại. Tâm cảm thông và thương yêu ấy đưa đến giữ giới một cách tự nhiên không gượng ép.
7.2. Giới không trộm cắp:
Vì cảm thông được sự mất mác về tài sản đem đến đau đớn, tiếc nuối, than khóc. Mình không muốn bị mất mác cho nên mình giữ giới không trộm cắp. Nói theo cách của Khổng Tử: “Kỷ sở bất dục vật thi ư nhân”.
7.3. Giới không tà dâm:
Vì cảm thông nỗi đau đớn khổ sở của người bị phản bội, phụ tình, sự mất mác hạnh phúc của kẻ khác. Do sự thương yêu và hiểu biết mà ta giữ giới không tà dâm, đình chỉ được ước muốn bất thiện.
7.4. Giới không nói dối:
Vì cảm thông được tình cảnh của người bị dối gạt, bị trách mắng, bị hãm hại và bị đau khổ do lời nói dối, lời nói bất thiện mà mình từ bỏ nói năng dối trá.
7.5. Giới không uống rượu:
Vì cảm thông được nỗi đau khổ của thân thể mình và sự tàn phá, mê muội do rượu đem đến, vì vậy ta nguyện từ bỏ rượu chè say sưa, các chất gây nghiện.
8. Niệm thanh tịnh và đời sống thanh tịnh:
Là người ấy luôn luôn chánh niệm và tỉnh giác trong bốn oai nghi đi, đứng, nằm, ngồi của mình. Mỗi bước đi của một Tỳ kheo trong đời sống mẫu mực trên là mỗi bước đi ra khỏi các tác nhân gây ra sự rối loạn tâm lý, bước vào an lạc hạnh phúc của tâm giải thoát và tuệ giải thoát. Rõ ràng cuộc sống thanh tịnh nương vào bốn thánh chủng trên là một cuộc sống đặt trên nền tảng của Giới, Định, Tuệ. Đây là con đường độc nhất đưa ta đến giải thoát Niết bàn.
Giới, Định, Tuệ là ba thành tố của con đường trung đạo mà đức Phật đã tự khám phá ra. Hay nói cách khác, tam học này là ba mặt của một thực thể giải thoát. Vì thế, khi hành giả sống đúng con đường trung đạo này chính là đang từng bước nắm giữ hạnh phúc chân thật và tiến vào cánh cửa của Niết bàn. Giới - Định -Tuệ là ba điều không thể tách rời nhau, mỗi khi ta đề cập đến giáo lý Phật giáo. Ba pháp này cũng luôn luôn hiện hữu mỗi khi một trong ba pháp ấy được áp dụng tu tập. Do vậy, khi đề cập đến một tức đã bao hàm cả ba thứ trên rồi.
Mặt khác, đức Phật vì không muốn mang tiếng đồn gần xa của người thế tục, sợ họ nhìn vào nếp sống buông lung “tự tung tự tác” của Tăng đoàn mà mất đi chánh tín hoặc chê bai hiềm tị. Cho nên sự có mặt của Giới luật là yếu tố cần thiết để thành tựu sự thanh tịnh, đồng thời làm mô phạm cho người và giúp cho hành giả bước đi trên con đường thoát ly sanh tử. Nên hiểu rằng Giới luật không phải là điều kiện gượng ép hay bó buộc gì cả mà nó hoàn toàn mang tính tự giác, tự phát nguyện thọ trì, cho nên bất kỳ vị Tỳ kheo nào giữ gìn tịnh giới đều thành tựu được mười điều như sau:
8.1. Nhiếp thủ ư tăng:
Người xuất gia học đạo, khi đăng đàn thọ cụ túc giới sẽ được công nhận vào địa vị chúng trung tôn, chính thức gia nhập Tăng đoàn trở thành một trong ba ngôi báu (Tam bảo) sống thanh tịnh hòa hợp như nước hòa với sữa. Người thọ trì giới pháp sẽ được sự bảo hộ chặt chẽ của Tăng thân. Như vậy giới pháp của Phật tạo cho người xuất gia thọ giới được đứng trong môi trường an ổn. Một Tỳ kheo giữ 250 giới hoặc Tỳ kheo ni giữ 348 giới là để bảo trì sự tồn tại lớn mạnh của Tăng đoàn, nên gọi là “Nhiếp thủ ư Tăng”.
8.2. Linh Tăng hoan hỷ:
Người giữ giới thanh tịnh thì hương giới thơm hẳn hơn các loài hoa bay ngược chiều gió, và hương của người trì giới bay vào trong Tăng chúng làm ai cũng thấy dễ chịu. Ngược lại, người hủy phạm Thánh giới, tuy chúng Tăng không khinh miệt nhưng không thể làm cho Tăng đoàn hoan hỷ được. Hoan hỷ cho tinh thần giới luật thanh tịnh là có sự tiến bộ trong vấn đề tu trì cho tự thân và cho thanh danh ấy, chứ không phải là một sự hoan hỷ vì thấy nhau làm những điều sai trái. Bởi thế, nên khi thọ giới, hàng tu sĩ chúng ta phải giữ gìn giới luật như người đi trong đêm tối tha thiết cần đuốc, nếu ai giữ được chừng nào thì được công đức lớn lao chừng ấy. Cho nên gọi “Linh Tăng hoan hỷ”.
8.3. Linh Tăng an lạc:
Người xuất gia học đạo cất bước đến chân trời cao rộng phải lìa xa thân thuộc họ hàng, lấy trời mây sóng nước làm nhà, chọn người lý tưởng làm ruột thịt, hễ khi thấy vị Tỳ kheo bị ba món độc hành hạ quấy nhiễu thì tăng thân cũng đau lòng. Nếu vi phạm thì cũng như những người lính bị chặt đứt đầu, đoạn luôn cả tính mạng (phạm Ba-la-di). Nên Tăng đoàn phải sống theo giới pháp thanh tịnh, lấy Giới luật làm kỷ cương, thống nhiếp được an ổn. Vì vậy Thánh giới không những có sự lợi ích làm cho Tăng an ổn lợi lạc, mà còn coi đó là “Linh Tăng an lạc”.
8.4. Linh vị tín giả tín:
Một Tỳ kheo như pháp, sống đời sống phạm hạnh có tuệ giới như đức Phật là hình ảnh đoan nghiêm chánh hạnh, có thể thay thế Ngài tuyên dương chánh pháp và trở thành một hình tượng mẫu mực để cho những chúng sanh đang bị lạc lầm trong đêm tối nương vào ngọn đuốc ấy để dẫn họ tới con đường sáng và trở về nhà. Vậy con thuyền phải vững chắc, người lái thuyền phải khỏe mạnh và rõ đường đi mới trở về bến giác được, như thế gọi là “Linh vị tín giả tín”.
8.5. Dĩ tín giả linh tăng trưởng:
Giới luật là hàng rào ngăn chặn những phiền não như thân,khẩu, ý nếu ba nghiệp này thanh tịnh thì sẽ sống với trạng thái định, có thể nói định là hình thức nước trong, vì các thứ bụi phiền não được lắng xuống, nếu nước đã trong thì ánh sáng hiện ra rõ nét. Nhờ vậy mới phát tuệ, nhờ giới mà có định, nhờ định mà có tuệ. Chính vì thế những người đã gieo hạt giống chánh tín vào ruộng phước chúng tăng, thì càng tin rằng sẽ có đầy đủ chất màu mỡ để hạt giống nẩy mầm phát triển và tin rằng hàng Tăng bảo là hình ảnh sống động, có thể thay thế đức Phật lèo lái con thuyền trí tuệ thoát khỏi dòng sanh tử về bến giác an vui. Vì vậy chúng Tăng nghiêm trì giới luật đạt đến giải thoát chừng nào, thì người học hạnh xuất gia càng tin tưởng phấn đấu viễn ly dục lạc chừng ấy, cho nên gọi là “Dĩ tín giả linh tăng trưởng”.
8.6. Nan điều phục giả linh điều phục:
Dưới sự kềm thúc của giới luật thì một người dù phạm tội tới đâu, cố tình che dấu không chịu nhận sự sám hối thì cũng có thể điều phục, xử trị xác thực rõ ràng đến đó. Nếu không điều phục được, Tăng sẽ “Yết-ma” đuổi đi, song tinh thần căn bản ở Tăng đoàn, sự quyết nghị của Tăng đoàn là đại diện cho mười phương Tăng, nên không có vị nào dám dung thân. Vì thế Tăng đoàn chỉ chấp nhận những người sống đúng giới luật, tuyệt đối không chấp nhận người ngoan cố, nên gọi là “Nan điều phục giả linh điều phục”.
8.7. Linh tàm quý giả đắc an lạc:
Người giữ giới luật nghiêm ngặt thì khi họ lỡ phạm vào một điều nhỏ nhặt, họ cũng rất lo sợ. Ví như một người ôm phao qua sông sâu chợt có người đến xin phao, trong một phút vội vàng họ đã cho người kia và sau đó suy nghĩ lại thì thấy hối tiếc vô cùng, vì sợ rằng không có phao thì khó hy vọng qua được bờ bên kia. Đây cũng là tinh thần những người biết tàm quý nếu lỡ để ba nghiệp manh nha khuấy động, và họ kịp thời ra sức dùng Giới luật câu thúc lại do đó không còn sợ hãi, dứt hết phiền não, phấn chấn tinh thần và năng lực tịnh giới đã an tâm cho họ. Do đó, Tăng đoàn thanh tịnh hòa hợp, nên gọi là “Linh tàm quý giả đắc an lạc”.
8.8. Đoạn lậu hoặc hiện tại:
Sở dĩ chúng ta còn dày đặc phiền não là bởi do sáu căn gặp phải sáu trần làm cho phiền não nhiễm ô như thế gọi là lậu hoặc, những thứ ấy khiến cho chúng sanh bị mê mờ mãi trong tam giới không lối thoát ra được. Vì vậy, giới luật cảnh báo rằng tính chất của cái đẹp ấy như hầm lửa dữ, cũng như cỏ khô cần phải tránh xa lửa càng nhiều càng tốt. Do vậy, bản thân thanh tịnh được bảo tồn nghiêm chánh và giới luật luôn luôn tích cực ngăn chặn không cho lậu hoặc bộc phát, để rồi phải tạo thành nghiệp dữ nối dài thêm con đường sanh tử, nên gọi là “Đoạn lậu hoặc hiện tại”.
8.9. Đoạn vị lai hữu lậu:
Nếu như hạt giống phiền não đã nẩy mầm trong tâm, năng lực giải thoát của giới luật chỉ trong thời gian ngắn sẽ bị thứ cỏ dại khởi mọc lan tràn và người làm vườn muốn cho cây thêm trái ngọt không bị cỏ dại lấn hại cạnh tranh thì cần phải đào xới gốc rễ của nó trong mảnh đất tâm không, không còn dấu tích cỏ dại phiền não. Từ nhận thức ấy, hành giả đã đoạn trừ được lậu hoặc bằng năng lực của tịnh giới, nghiệp cũ dứt đi, nghiệp mới không tạo nữa, đó gọi là “Đoạn vị lai hữu lậu”.
8.10. Linh chánh pháp cửu trụ:
Đức Phật đã trao lại vận mệnh Phật pháp cho hàng Tăng bảo và kèm theo lời di chúc: Phải tôn trọng và giữ gìn giới luật, vì chỉ có giới luật mới có đủ năng lực bảo trì giáo hội Tăng đoàn trong cả ba cõi, lúc đó Phật giáo không còn sợ quân ma đánh cướp. Vì thế, lợi ích của việc giữ tịnh giới là tối quan trọng thiết thực cho hành giả nhằm đền trả bốn ân, cứu giúp ba cõi. Thế nên gọi là “Linh chánh pháp cửu trụ”.
Từ những nhận thức trên ta thấy rằng Giới luật có công năng tu chỉnh đưa chúng ta đến chánh tri kiến Phật. Và mười điều thiết yếu trên người hảo tâm xuất gia phải luôn tôn trọng ghi nhớ thực hành, ngõ hầu muôn công đức lành đều từ đó mà được phát sinh ra. Hơn nữa, kết quả của việc giữ giới trước nhất là đem lại lợi ích cho mình và cho người, điều hòa được sinh hoạt tập thể, tạo niềm tin trong lòng mọi người. Dĩ nhiên khi hành giả đem lại lợi ích an lạc cho tự thân người giữ giới đó là trí tuệ, đem lại lợi ích an lạc cho tha nhân đó gọi là từ bi. Từ bi và trí tuệ là yếu tố cốt tủy của đạo Phật, yếu tố này thể hiện tinh thần “Tỳ ni tạng trụ, Phật pháp cửu trụ, tỳ ni tạng diệt, Phật pháp diệc diệt” chứa đựng đầy đủ ý nghĩa “Giới luật là thọ mạng của tăng già, là mạng mạch của Phật pháp”.
9.Giới là sự trường tồn của phật pháp:
Lòng yêu thương chúng sinh của Ðức Phật trong Kinh Lăng Nghiêm có nói, như mẹ thương con, chỉ mong làm sao cho con mình được hết tất cả khó và hưởng tất cả vui, cho nên trong Kinh Hoa Nghiêm nói: "Ðức Phật không có cái tâm tưởng nào khác ngoài tâm đại Từ đại Bi, ban vui cứu khổ cho tất cả chúng sinh". Vì vậy Ðức Phật ra đời, cũng không ngoài mục đích ấy, vì thương chúng sinh như con một mà phải ban vui cứu khổ, và trong kinh Pháp Hoa Ðức Phật nói rõ: "Ðức Phật ra đời vì muốn cho tất cả chúng sinh được Khai Phật tri kiến, Thị Phật tri kiến, Ngộ Phật tri kiến và Nhập Phật tri kiến, được thành Phật như Phật không khác".
Chỉ một hoài bão duy nhất đó mà Ðức Phật mới ra đời và Ðức Phật cũng nói thập phương Chư Phật ra đời cũng một hoài bão duy nhất đó mà thôi. Do đó, tất cả Pháp của phật nói ra cho chúng ta cũng như tất cả chúng sinh, những người có thể tin được, có thể làm được cũng đến nơi mục đích là hết khổ được an vui cứu cánh giải thoát, đầy đủ trí Tuệ đại Từ Bi như Ðức Phật không khác. Cho nên bổn phận hôm nay của chúng ta cũng như các vị Giới Sư, chỉ vì mục đích duy nhất là đem Giáo Pháp của Phật truyền nói lại cho những người kế thừa mình để cho Chánh Pháp của Phật mãi mãi lưu truyền ở thế gian không dứt. Ðể chi? Ðể cho những người hiện tại cũng như tất cả những người ở tương lai và rộng đến tất cả mọi loài chúng sanh đều được nhuần nơi chánh Pháp(11) để hết khổ và được an vui.
9.1. Giới luật có sự liên quan đến vấn đề thịnh suy của phật pháp:
Trong bài tựa Nghi thức tụng Tỳ kheo ni giới bổn có ghi rằng:
“Thế gian, vua lớn nhất
Các dòng, bể là to
Các sao, trăng là sang
Các Thánh, Phật là tột
Trong tất cả các Luật
Giới kinh là chơn hết”.
Chính vì Ba-la-đề-mộc- xoa quan trọng và thù thắng như vậy nên đạo Phật hưng thịnh hay suy vi đều không ngoài phạm vi của giới luật. Ngày nay, trên bước đường hành đạo, người tu hành gặp những khó khăn hay những điều bất như ý thường hay thở than “đời mạt pháp mà!”. Với một thái độ hết sức tiêu cực, đôi khi chán nản nữa. Mạt pháp có nghĩa là chánh pháp đã bị suy vong, suy vong từ hình thức đến nội dung, từ nhận thức đến hành vi. Ý thức tới chánh pháp đã đến thời cùng mạt, ai mà chẳng buồn nản. Thế nhưng, mạt pháp từ đâu mà đến? Từ xã hội bên ngoài hay từ sự phát triển của văn minh nhân loại? Quá khứ trên 2500 năm của Phật giáo ở các nơi đã chứng tỏ Phật giáo có một mạng sống miên viễn. Động lực chính yếu để Phật giáo hiện hữu là do nhu cầu sống của con người. Vì thế, dù xã hội có thay đổi thế nào đi chăng nữa thì Phật Pháp vẫn có mặt bởi vì con người vẫn còn nhu cầu được sống. Như thế, xã hội và văn minh của nhân loại không thể làm cho chánh pháp đi vào thời cùng mạt được.
Mạt pháp - can đảm mà nói do nó đi từ bên trong, cụ thể là từ hành động, cử chỉ, lời nói, ý nghĩ của người tu hành. Ngược lại chánh pháp cũng thế, giáo pháp siêu việt và thực tiễn của đức Phật được sáng tỏ, có giá trị thiết thực trong cuộc sống hiện tại, được phổ cập rộng rãi trong xã hội loài người, tất cả đều tùy thuộc vào tư cách, nói chung từ hình thức đến tâm linh của người tu hành cả. Tư cách ấy được biểu hiện bằng sự nghiêm trì giới luật, đó là vấn đề trọng yếu quyết định vận mệnh của Phật pháp trong mọi thời đại và mọi nơi chốn. Giới hạnh của người tu liên quan đến sự thịnh suy của Phật pháp một cách mật thiết. Chính vì thế nên khi đức Phật sắp vào Niết bàn, Ngài vẫn còn ân cần tha thiết nhắc nhở các đệ tử trong kinh Di giáo, rằng: “Này các Tỳ kheo sau khi ta diệt độ, các thầy phải trân trọng tôn kính tịnh giới, như mù tối mà được mắt sáng, nghèo nàn mà được vàng ngọc. Phải biết tịnh giới là đức thầy cao cả của các thầy. Nếu ta ở đời thì cũng không khác gì tịnh giới ấy”. Âm hưởng của lời dạy ấy đã vượt không gian và thời gian, tồn tại đến ngày nay và trong chúng ta, không ai không biết đến câu:
Tỳ ni tạng trụ, Phật pháp cửu trụ
Tỳ ni tạng diệt, Phật pháp diệc diệt.
Nghĩa là:
“Giới luật còn hành, Phật pháp cũng còn
Giới luật không còn hành, Phật pháp cũng mất”
Bởi thế, đức Thế Tôn chế ra các giới luật. Nó không phải bắt buộc các đệ tử phục tùng mệnh lệnh của Ngài, mà để ngăn ngừa các nghiệp từ ý nghĩ đến hành động, hầu thánh hóa đời sống chúng đệ tử. Cho nên, một thầy Tỳ kheo giới hạnh thanh tịnh là bản sao chụp lại của đời sống thánh giả A-la-hán một cách rõ ràng và hiện thực. Đó là mảnh đất tốt để tăng trưởng thiện pháp, là nền tảng để tiến bộ tâm linh, để phát triển những nhận thức chân chánh, thấy được lẽ thật của cuộc đời. Một khi hành giả có giới luật trang nghiêm tức đã làm một nơi an ổn cho thế gian nương nhờ, và cũng là một thành viên tích cực khiến cho Phật pháp hưng thịnh. Tuy nhiên, nếu giới luật không được nghiêm trì thì chúng đệ tử của Phật sẽ là một cộng đồng ô hợp, có khi còn tai hại cho xã hội nữa. Nếu người xuất gia mà không giữ gìn giới luật thì không thể nào phân biệt được đâu là người xuất gia, đâu là kẻ thế tục. Như vậy, chỉ có giới luật mới tạo nên đức hạnh của người tu, đồng thời cũng góp phần xây dựng cho chúng ta thành những chiến sĩ trên mặt trận đạo đức, tạo nền tảng cho Phật pháp hưng thịnh.
9.2.Giữ Giới - Tiếng Nói Từ Nguồn Tâm:
Giới luật từ khởi thuỷ được chế định chung cho tất cả những ai muốn tu tập theo hạnh giải thoát. Bất cứ một đối tượng nào nếu đủ điều kiện thoát ly sự ràng buộc của gia đình gia nhập tăng đoàn đều phải tuân theo. Bởi giới luật là một điều kiện trọng yếu để bảo trì giới thể cho một tỳ kheo như pháp. Nếu không thọ trì giới luật một cách nghiêm mật thì bản thể thanh tịnh của một tỳ kheo khó có thể được bảo toàn.
Bất cứ một đoàn thể hay một tổ chức nào muốn tồn tại và phát triển thì cũng cần phải có nội quy và điều luật riêng của nó. Phật giáo cũng không ngoài quy luật ấy.
Như chúng ta biết, sau khi thành lập giáo đoàn, trong suốt mười hai năm đầu đức Phật chưa chế định giới luật. Các tỳ kheo lúc ấy chỉ tu tập bằng cách truyền dạy trực tiếp từ kim khẩu của Đức Thế Tôn và chủ yếu là tu tập định cộng giới và đạo cộng giới. Bởi vì, trong những năm đầu tiên này, giáo đoàn phần lớn là những bậc căn cơ cao, một lòng tu tập tiến đến giải thoát và đa phần đều đã chứng quả.
Giới luật Phật giáo được chế định với ba mục đích chính: thứ nhất là ngăn chặn những điều gì làm ngăn trở con đường thánh đạo. Trong giáo đoàn, nếu có bất cứ một điều gì xảy ra mà nó gây tác hại cho hành giả trên phương diện tu chứng, hay thiền định thì đức Phật đều chế giới.
Giới luật mà Đức Phật chế định ra cho hàng đê tử thọ trì là hoàn toàn dựa trên tinh thần tự nguyện, không hề ép buộc và tuyệt đối không áp đặt cho một cá nhân nào. Ai thọ trì thì người ấy được lợi ích. Bởi vì công năng của giới luật chính là “phòng phi chỉ ác” , giúp cho hành giả tránh được mọi hố hầm của tội lỗi thẳng tiến đến bờ giải thoát giác ngộ.
Có được những lợi ích này thông qua việc tu tập giới, chính là do giới luật được thiết lập trên hai nền tảng căn bản. Đó là từ bi và trí tuệ. Từ bi và trí tuệ chẳng những là nền tảng căn bản của giới luật mà còn là nền tảng căn bản cho toàn bộ tam tạng giáo điển của phật giáo.
9.3. Tác động giải thoát của giới luật –Quan hệ Giới Định Huệ:
Tất cả Giới luật đức Thế Tôn đều là những chuẩn mực đạo đức làm nền tảng cho sự giải thoát mọi khổ đau, cắt đứt mọi tham ái ràng buộc. Vì thế Giới luật đóng vai trò quan trọng trong việc tu tập giải thoát. Hành trì Giới luật là làm theo những lời đức Phật dạy, luôn luôn sống với sự chế ngự của Giới Bổn như Ngài từng khuyên cáo: “Này các Tỳ kheo, ta khuyến cáo các người hướng đến Sa môn hạnh, chớ có từ bỏ mục đích này, khi đang còn công việc phải làm hơn nữa? Thân mạng của chúng ta phải được thanh tịnh, phải hộ trì các căn, biết tiết độ trong ăn uống, chú tâm cảnh giác, chánh niệm tỉnh giác…”(12).
Đức Thế Tôn dạy: “Nhơn Giới sanh Định, nhơn Định phát Tuệ”, muốn cầu được trí tuệ tất phải tu Thiền định và trước hết phải giữ gìn Giới luật. Nếu Giới luật mà khuyết thì Thiền định sẽ khó thành. Thiền định không thành thì Trí tuệ cũng không do đâu mà phát sinh. Bởi thế, Tam vô lậu học là pháp môn căn bản của người học Phật, cũng như chiếc đỉnh ba chân, thiếu một chân thì không thể đứng được. Cũng vậy trên đường đi đến giải thoát, nếu thiếu một trong ba yếu tố trên đạo quả sẽ khó thành tựu được.
Như vậy, có thể thấy rằng giáo pháp của đức Phật thì phát triển đồng bộ, mà tam lâu vô học (Giới, Định Tuệ) là cơ sở và cũng là trung tâm của sự phát triển đồng bộ này. Tam lậu vô học như cái đỉnh ba chân, thiếu một chẳng được, nhưng giới luật là cơ sở của tam học, nếu không trì giới thì sự tiến lên con đường giải thoát trở thành vọng tưởng.
Đạo đức Phật giáo (giới) đi cùng với định và tuệ - giới, định, tuệ. Trí tuệ ở đây không phải chỉ là sự thông thái. Nếu chỉ có thông thái mà không có trí tuệ, sự thông thái có thể trở thành một hiểm họa. Giới, Định, Huệ là Tam Học của Phật giáo, phân ra làm ba như vậy cho dễ giải thích. Thật ra chúng tương quan mật thiết với nhau, nương dựa nhau, tuy là ba nhưng đồng một thể.
Từ phân tích trên, có thể thấy rằng công năng của giới luật là nhằm mục đích dứt hẳn nghiệp duyên, nghiệp nhân trong đường sinh tử là con đường giải thoát của Phật tử. Chính vai trò này đã tác động lên người cư sĩ tại gia, người xuất gia. Vì mục đích giải thoát là mục đích cuối cùng cho cả người tại thế cũng như người xuất thế.
9.4. Giới luật là cơ sở xây dựng đạo đức:
Mục tiêu của đạo đức là hạnh phúc, hay nói cách khác, muốn sống có hạnh phúc thì phải sống có đạo đức. Đạo đức phải được xây dựng trên cơ sở những tiêu chuẩn phù hợp với thực tiễn của con người và hoàn cảnh xã hội mà con người đang sống. Có những tiêu chuẩn được coi là đạo đức nhưng nó không thực sự cần thiết và thực sự phù hợp với quy luật hạnh phúc. Có những tiêu chuẩn đạo đức chỉ phù hợp với một giai đoạn lịch sử nào đó. Tóm lại, nó không có tính phổ quát, không đạt chuẩn mực đạo đức toàn diện.
Vì vậy, thiết lập nền tảng đạo đức phải mang tính phổ quát, phù hợp với chân lý và thực tiễn đời sống con người. Đạo Phật có thể cung cấp một hệ thống đạo đức như vậy.
Một người muốn trở thành một Phật tử, tự nguyện đặt mình vào kỷ luật để nuôi dưỡng đời sống tâm linh mà Đức Phật đã thiết lập, họ phải tuân thủ 5 giới, 10 giới, hay nhiều hơn nữa như 250 giới của Tỳ kheo, 48 giới của Bồ tát ở Những giới luật ấy là những nguyên tắc hành trì, để sống có phẩm chất hơn, có tác dụng hướng thượng và hướng thiện tâm lý và hành vi của con người chứ không phải những nguyên tắc bất di bất dịch hoặc cứng nhắc, giáo điều. Giới luật ấy giúp con người nhận ra được một cách sâu sắc hơn về bản chất của cuộc sống và rút ra được hệ quả đạo đức, nuôi dưỡng được niềm tin vào cuộc sống hiện tại và hướng đi của tương lai.
Nếu một người hành trì các nguyên tắc đạo đức hay những giới luật này mà họ không cảm thấy một sự bình an, thanh thản nào thì họ đã không hiểu và hành trì đúng. Trong thực tế, có những Phật tự tuân thủ các nguyên tắc của giới nhưng đời sống của họ vẫn thiếu đạo đức, mối tương hệ của họ với tha nhân bất ổn, các mối quan hệ khác bị khủng hoảng, Đức Phật dạy đấy là rơi vào giới cấm thủ - một trong những kiết sử tạo nên những ức chế tâm lý.
Nguyên tắc hành trì mà Đức Phật thiết lập cho các đệ tử khép mình vào đó để làm đình chỉ dục vọng có thể nói đó là những nguyên tắc khách quan và phổ quát. Đó là năm giới của người Phật tử :
Không giết hại,
Không trộm cắp,
Không quan hệ tình dục phi pháp (tà dâm),
Không dối gạt hại người, và
Không rượu chè say sưa.
Đức Phật xác định rằng một người nếu có hành vi sát sanh, lấy của không cho, tà hạnh trong các dục, nói dối và đắm say các chất gây nghiện ngập thì sẽ có một cuộc sống sợ hãi và hận thù, đồng thời cõi ác đau khổ đang chờ đợi họ; ngược lại một người (Phật tử) từ bỏ sát sanh. thì cuộc sống không có sợ hãi, hận thù và cõi thiện đang chờ đợi họ. Giá trị của một người không phải được đánh giá qua tài sản, thân tướng, dòng họ, địa vịỢmà được đánh giá qua đời sống mà chuẩn mực được thể hiện qua 5 nguyên tắc đạo đức trên. Đức Phật dạy thêm rằng :"Một người mà hành vi của họ được bảo vệ bởi 5 nguyên tắc (giới) trên thì người ấy có thể thành tựu một cách nhanh chóng bốn tăng thượng tâm hiện tại lạc trú"(13).
10. Vai trò của giới luật trong đời sống sinh hoạt xã hội của con người:
Giới luật Phật giáo làm cho con người giải thoát tất cả mọi ràng buộc ở đời cũng như cải tạo những hành vi bất thiện mà con người gây ra trong xã hội. Khi con người sống trong giới (Sìla) và thân tâm trở nên an tịnh không còn phiền não tham sân si, xã hội trở nên an bình, không còn những vấn đề sát sanh, trộm cắp, v.v.; hoặc xung đột, thù oán cũng như những vấn đề xuống cấp đạo đức cá nhân.
Về quan điểm môi trường sinh thái, con người xã hội không những giữ gìn môi trường, cây cối, thảo mộc, đường xá sạch và xanh ; mà còn bảo vệ và chăm sóc chúng bằng ý thức đạo đức của chính mình. Kết quả là xã hội và môi trường sinh thái ngày càng phát triển và tồn tại lâu dài từ trong ánh mắt và trái tim của chúng ta.
Đối với giáo dục, giới Phật giáo có một nền giáo dục tâm lý vượt hẳn trên nền giáo dục ở đời vì tính siêu việt của nó. Điều này có nghĩa là giới Phật giáo có một phương pháp giáo dục tuyệt vời diệt tận mọi phiền não hầu mang lại an lạc hạnh phúc tối thượng cho con người. Từ quan điểm này, vai trò của giới Phật giáo có sự đóng góp to lớn đối với sự phát triển xã hội hiện nay trong nhiều phương diện khác nhau, cụ thể:
* Góp phần mang lại một xã hội an ninh trong đó tài sản mọi người được đảm bảo, hạn chế những cảnh cướp của giết người.
* Góp phần bảo vệ môi trường bằng phương tiện ăn chay, không sát sinh.
* Mang đến cho con người một nền giáo dục nhân bản và trí tuệ, góp phần tạo ra những con người toàn diện không lệch lạc về mặt nhận thức để có những hành vi gây ảnh hưởng xấu cho xã hội.
10.1. Giới có những lợi ích gì trong đời sống xã hội, cộng đồng?
Về mặt xã hội, cộng đồng, thì chúng ta phải phân biệt hai loại giới:
- 5 giới chung cho tất cả các Phật tử, còn gọi là " tánh giới " hay giới " tự nhiên ", và
- các giới dành riêng cho tăng ni, là giới " theo qui ước ".
Năm giới căn bản chung cho các Phật tử có thể gọi là đạo đức tự nhiên, bởi vì được chia sẻ bởi nhiều truyền thống, văn hóa khác nhau. Nếu so sánh với 10 " mệnh lệnh " của Thượng Đế ban cho Moïse trên núi Sinai, theo truyền thống Do Thái và Ky Tô giáo, thì chúng ta nhận thấy 4 mệnh lệnh cuối không khác gì với 4 giới đầu tiên của đạo Phật: " Ngươi sẽ không được giết hại; không được ngoại tình; không được trộm cắp; không được làm chứng gian dối ".
Sự tuân thủ những giới cấm hay mệnh lệnh này dĩ nhiên rất có lợi ích cho nhân quần, xã hội. Có thể nói chúng là nền tảng của sự an lạc, thái bình giữa những con người. Hãy thử tưởng tượng một xã hội mà trong đó tất cả mọi người đều giữ được năm giới: không sát hại, không trộm cắp, không dối trá, không tà dâm, không say nghiện, thì xã hội đó sẽ an lạc, thái bình biết bao nhiêu!
Điểm khác biệt là đối với người Phật tử, đó không phải là mệnh lệnh của Thượng Đế hay của một quyền lực nào, mà chính là con đường mình tự chọn đưa tới đến giải thoát và hạnh phúc. Theo HT Thanh Từ, " Không phải được nhiều của cải, tình yêu, v.v... là con người có hạnh phúc. Hạnh phúc là người sống biết tiết chế, biết tôn trọng hạnh phúc của mọi người, biết thành thật thương mến nhau. Một dân tộc văn minh là một dân tộc biết tôn trọng sinh mạng của nhau, tôn trọng những quyền tự do căn bản của con người. Vì thế, năm giới là nền tảng căn bản đem lại hạnh phúc cho con người, xây dựng con người sống đúng ý nghĩa văn minh của nhân loại. Năm giới là cơ bản đạo đức của người Phật tử, khi bắt đầu bước chân trên con đường giác ngộ giải thoát. "
Giới luật dành riêng cho tăng ni có lợi ích khác. Cũng như lời giải thích của đức Phật mỗi khi ngài chế ra một giới: " Vì sự kiện toàn của Tăng già, sự trường tồn của Chánh Pháp, sự an lạc của Tăng chúng, sự tăng trưởng của lòng tin, sự đoạn diệt phiền não trong hiện tại và tương lai... ", giới luật không phải chỉ giúp ích cho sự tu tập của mỗi người, mà còn cần thiết cho sự đoàn kết, sự an tịnh của Tăng đoàn. Giới bổn có thể được xem như là một nội quy nhằm giữ kỷ luật trong một tổ chức và phải được tôn trọng bởi tất cả các thành viên. Chẳng hạn như trong giới bổn Tỳ-kheo có Học pháp, là các điều nên học, nên áp dụng trong sinh hoạt hàng ngày, và Diệt tránh, là các phương thức để giải quyết sự bất hòa giữa tăng chúng.
Nhưng xét kỹ lại, thì chúng ta sẽ thấy có những giới luật " theo qui ước " tạo nghiệp, có những giới luật không. Chẳng hạn như nếu Tỳ-kheo ni phạm hai giới Ba-la-di 5 và 6: " cùng với nam nhân có tâm ô nhiễm, thân thể chạm nhau, xoa bóp, bồng nhau, nắm tay, v.v. " thì đã là tạo nghiệp vì có khả năng lôi kéo đi xa hơn, tức là đến quan hệ tình dục. Nhưng nếu chỉ là đi cùng đường, ngồi bên nhau, hẹn gặp nhau, không có tâm ô nhiễm, thì có là phạm giới và tạo nghiệp không? Đó chính là cái khó khăn của sự phân định giới hạn giữa phạm giới và không phạm giới.
10.1. Giới luật là cơ bản đạo đức thế gian:
10.1.1. Đối với cá nhân:
Đây là việc rất cần thiết cho những người Phật tử khi đã quy y Tam bảo, thọ trì ngũ giới. Giáo hội Phật giáo nói chung và Tăng Ni chúng ta nói riêng là phải cần tạo điều kiện cho Phật tử tham gia những lớp học giáo lý, những buổi thuyết giảng tại chùa để cho họ hiểu rõ tinh thần quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng của một Phật tử. Chúng ta cần nhắc nhở họ thọ trì năm Giới căn bản của người Phật tử tại gia.
Cho nên, chúng ta hãy nhìn lại hàng Phật tử tại thành phố có đầy đủ phương tiện nào là sách vở, trường lớp học giáo lý, thầy hướng dẫn để cho Phật tử có cơ hội tiếp cận giáo lý của đức Phật nhiều hơn. Còn các Phật tử ở các tỉnh vùng sâu vùng xa, có tỉnh thì được quý thầy hướng dẫn, có Tỉnh quận huyện khác Phật tử có muốn tu học nhưng không có ai để hướng dẫn. Có người cho rằng với truyền thống tín ngưỡng của ông cha để lại, người nông dân mến mộ đạo, nhưng vì không có Tăng Ni tu hành đúng chánh pháp để nương tựa vô tình để họ tin theo những thầy đồng bóng, mê tín dị đoan, cho nên làm cho Phật giáo không thể phát triển được. Với tinh thần từ bi, hỷ xả, vô ngã, vị tha của Phật giáo, nếu mọi người biết quay về quy y với Phật thì những tệ nạn của xã hội sẽ giảm dần.
10.1.2. Đối với cộng đồng:
Nếu một công dân nào sống trong cộng đồng xã hội mà biết giữ đúng năm giới của nhà Phật thì gia đình đó hạnh phúc trên thuận dưới hòa. Nếu mọi người trong xã hội biết ứng dụng triệt để sẽ là một xã hội văn minh chan hòa sự cảm thông và thương mến. Cho nên, xã hội biết hướng dẫn mọi người quy y, biết giữ giới đó là việc làm đúng với đường hướng giáo dục của Phật giáo. Vì Phật giáo lấy con người làm trung tâm giáo hóa, đó là những con người hiện đang có mặt ở trên thế gian này. Mục đích của đạo Phật là giáo dục con người đầy đủ đạo đức, chuyển hóa họ từ xấu đến tốt, từ mê trở thành giác, vì thế vấn đề đạo đức không thể thiếu ở mỗi con người chúng ta.
11. giới luật là nền tảng đạo đức xuất thế gian:
11.1 Đối với tự thân tu sĩ:
Việc tu trì Giới luật là vô cùng quan trọng, vì ai tu tập Giới luật được chừng nào thì chứng đạt được chừng ấy. Ai tu tập trọn vẹn thì chứng được trọn vẹn. Giới luật là tự thể giải thoát của Pháp thân không tận diệt của Phật. Y theo Pháp thân này thì siêu độ hai thứ trở ngại : trở ngại vì có phiền não và trở ngại vì không thiện căn, cho nên giữ Giới thì viễn ly được lỗi lầm của ba nghiệp mà thành tựu được ba nghiệp giải thoát (thân giới, khẩu giới và ý giới). Người xuất gia cũng như người lữ khách, muốn đến đích giải thoát thực chứng Niết Bàn, cho nên chúng ta cần phải tinh tấn và trang bị đủ tư lương. Tư lương của người xuất gia là Giới, Định, Huệ, trong đó Giới là bước đi đầu tiên. Đó là lý do vì sao luật quy định Tỳ kheo “năm hạ về truớc phải chuyên học và tinh tường về Giới luật, năm hạ về sau mới được nghiên cứu giáo lý và tham thiền”. Nếu thiếu xót Giới luật thì Định – Huệ không thể phát sanh.
Người ta thường nói chiếc áo chưa thể làm nên ông thầy tu. Thật vậy, chúng ta hãy nghe ngài Trí Húc nói :
“Nếu thân xuất gia mà tâm không thanh bạch giữ đạo, phạm hạnh cao xa, bủa lòng từ bi ra khắp tất cả, thì đó là ăn trộm hình thức của Phật, tội thêm một lớp nữa, không thể không biết”. Điều chính yếu ở đây là tư cách đối với bản thân của nguời xuất gia, trừ những người vì mục đích lợi dưỡng và ngụy trang thì không kể. Tất cả những người xuất gia đều phải hướng đến mục đích cao thượng đó là giải thoát và giác ngộ. Không phải tất cả đều có thể thành đạt mục đích ngay trong đời này, nhưng cuộc sống thanh bạch và giới hạnh là nền tảng nâng cao phẩm giá của nguời xuất gia. Ngay từ khi bước vào chùa, việc đầu tiên của ngừoi xuất gia là học và hành “Tỳ Ni Nhật Dụng” là thiết yếu, những sự thiết yếu áp dụng hằng ngày để chấp trì Giới luật. Tác dụng của việc trì kệ chú là để diệu hóa đời sống và mở rộng tâm nguyện trong đời sống hằng ngày.
Đối với bản thân người xuất gia thì phải thể hiện được đời sống tâm linh giải thoát, ở trên môi luôn nở nụ cười hiền hòa, bước những bước đi an lạc và giải thoát. Đó mới chính là hình bóng của nguời xuất gia tượng trưng cho nền đạo đức từ bi và giải thoát.
11.2 Đối với Tăng già:
Tất cả những hoạt động Phật sự đòi hỏi nơi Tăng già, hay đúng hơn là bổn phận Phật giáo, vì “Phật giáo xương minh do Tăng già hoằng hóa”, nhưng là Tăng già trong xã hội để có thể hoằng truyền Chánh pháp, thì phải được đào tạo cả về Phật học lẫn thế học. Về Phật học, Tăng đoàn phải tạo điều kiện tiếp cận tài liệu và trí thức về sự phát triển và xây dựng xã hội. Sự thành tựu của khoa học kỹ thuật, tâm lý học thanh thiếu niên, các lãnh vực trọng yếu về sự tồn tại của nhân loại, xu hướng quốc tế hóa mọi lãnh vực hiện đại và tương lai. Nói chung hàng Tăng sĩ phải được đào tạo cả Phật học lẫn thế học, vì muốn đem đạo vào đời thì phải hiểu được cuộc đời, nên chúng ta phải nghiên cứu thêm những sách vở bên ngoài. Về Phật học thì Tăng già là rường cột duy trì kỷ cương xuất thế của đạo, nên điều tiên quyết là phải đầy đủ Giới, Định, Tuệ.
Đối với Giới Luật Phật giáo, trước hết sẽ được bộc lộ qua oai nghi của một Tăng sĩ. Chính oai nghi đó là biểu tượng là sự thể hiện rõ lời dạy bảo của đức Phật, cho nên chúng ta được thấm nhuần và hiểu biết đúng đắn. Tuy chưa thể hiện bằng lời nói và việc làm nhưng qua cử chỉ oai nghi mà Phật tử đã nhìn thấy rõ và học ở Tăng già bao điều tốt đẹp, Tăng là mô phạm của Giới luật.
Tuy nhiên, sống thì phải làm việc tu dưỡng, ăn uống và nghỉ ngơi, giữa cuộc sống và môi truờng sống, song chúng ta phải thực hiện lòng từ bi và trí tuệ để đối trị hai chứng bệnh là chấp ngã và chấp pháp. Nếu không thì cái chủ quan hai đối tượng ấy lại sinh ra tham lam, oán ghét và si mê, vì thế chúng ta phải thực hành Giới luật, Thiền định và Trí tuệ để diệt trừ chúng. Nghĩa là chúng ta phải sống sao cho có nề nếp, bình tĩnh và sáng suốt ngay trong cuộc sống hằng ngày của chúng ta, đó cũng là một trong những biện chứng thực tiễn của đạo Phật. Chúng ta muốn thành tựu tốt đẹp trong chủ trương làm cho đạo Phật trường tồn phát triển, trong mục đích cứu khổ độ sanh, trước hết chúng ta phải tự giác, tiến đến giác tha và sau cùng cả mình và người đều đạt tới giác ngộ và giải thoát. Và chúng ta phải làm thế nào để cho mọi nguời sống trong thế giới điên đảo biết tìm đến Tăng già, vì Tăng già là những người có lòng từ bi rộng lớn sẵn sàng chia xẻ niềm vui với họ và tận tình giúp đỡ họ.
12. Tầm quan trọng của giới luật:
Trong bài kinh đầu tiên, đức Phật thuyết minh bốn sự thật đó là Pháp Tứ Đế, trong đó Đạo Đế(14) là phần thực hiện cụ thể cho ai nấy đều thể nghiệm được sự an lạc giải thoát nơi tự tâm. Thông thường khi làm một việc gì, truớc hết phải hiểu biết toàn bộ sự việc, kế đó là quá trình diễn biến xảy ra như thế nào, cuối cùng là bắt tay vào làm việc. Pháp Tứ Đế cũng được thiết lập theo trật tự ấy, đầu tiên là nhận thức đuợc cuộc sống khổ lụy của nhân sinh, kế đến là truy tìm nguyên nhân của sự khổ và cảnh an lạc giải thoát sau khi hết khổ, cuối cùng là biện pháp hành động cụ thể để tu tập nhằm đạt được giác ngộ giải thoát.
Con đường tu tập này chính là Bát Chánh đạo, nó là Pháp tu gốc cho những ai muốn ra khỏi u tối, luân hồi khổ lụy, đây là giáo lý mở rộng của ba Pháp tu hết sức căn bản là Giới, Định, Tuệ, dù tu theo tông phái nào đi nữa cũng không ngoài Pháp Tam Vô Lậu học này.
Giới : được xây dựng trên quan niệm của một tình thương rộng rãi trong cuộc sống thực tế, một tình thương có trí tuệ(14) .
Chánh ngữ, Chánh Nghiệp và Chánh Mạng là ba năng lực tinh thần giúp cho con người có đạo hạnh thanh cao và trí huệ sáng suốt để xây dựng một cuộc sống an lạc và hài hòa trong mối quan hệ giữa cá nhân và cộng đồng xã hội.
Định : là quá trình thanh tịnh hóa tâm ý, tìm ra lý nhân quả, xác định quyết tâm loại trừ và nhổ tận gốc những phiền não, lậu hoặc, ngăn chặn điều ác, phát triển điều thiện, cột chặt những vọng tưởng tâm lý, lóng trong để vận chuyển quá trình quan sát tùy giác đến thể nhập, hiểu biết được thực tướng của các Pháp. Ở đây có điểm đặc biệt đáng lưu ý là Thiền Định hay Thiền Quán không nhằm vào những cái gì hư vô, mà đối tượng Thiền là những hiện thực(15) tồn tại một cách khách quan trong hiện tại.
Tuệ : là tri kiến cao minh, tổng hợp sự hiểu biết về quy luật các mặt tồn tại, biến đổi của mọi sự vật, hiện tượng theo luật nhân quả, theo lý duyên sinh. Đặc điểm của Tuệ giác bao gồm nội dung của những tri kiến trừu tượng “thấu triệt bằng nhãn quan tinh thần” nó bao gồm cả hai nhánh Chánh Tư Duy và Chánh Tri Kiến. Phải có Chánh Tư Duy để viễn ly các chấp thủ và thanh tịnh hóa tâm lý, khai sáng trí huệ đạt đến Chánh Tri Kiến, nhìn sự vật đúng như sự thật của chúng. Sống đúng như sự thật, chứng ngộ giải thoát Niết Bàn.
Con đường Giới, Định, Tuệ (hay Bát Chánh Đạo) là con đường bồi dưỡng một Đạo hạnh trong sáng, một trí tuệ siêu việt, đảm bảo đem lại cuộc sống an lạc, giác ngộ và giải thoát cho con người. Trong kinh Đại Bát Niết Bàn, đức Phật dạy rằng :
“Đây là Giới, đây là Định, đây là Huệ, Định cùng tu với Giới sẽ đưa đến quả vị lợi ích lớn. Huệ cùng tu với Định sẽ đưa đến quả vị hạnh phúc lớn. Tâm cùng tu với Huệ sẽ đưa đến giải thoát hoàn toàn các món lậu hoặc tức là Dục lậu, Hữu lậu, Vô Minh lậu”.
12.1. Giới luật làm cho phật pháp hưng thịnh:
Bài tụng kết Kinh nói : “Trong đời vua là lớn, các sông, biển là to, các sao trăng là sáng, các Thánh Phật là cao. Tất cả trong các Luật, Giới kinh là trên hết”.
Chính vì Ba la đề mộc xoa quan trọng và thù thắng như vậy nên Đạo pháp hưng thịnh hay suy vi đều không ngoài phạm vi của giới luật. Ngày nay trên bước đường hành đạo, người tu hành gặp những khó khăn hay những điều bất như ý thường hay thở than “đời mạt pháp mà” với một thái độ hết sức tiêu cực, đôi khi chán nản nữa. Mạt pháp có nghĩa là Chánh pháp đã bị suy vong, suy vong từ hình thức đến nội dung, từ nhận thức đến hành trì. Ý thức tới chánh pháp đã tới thời cùng mạt, ai mà chẳng buồn, chẳng nản. Thế nhưng mạt pháp từ đâu mà đến? Từ xã hội bên ngoài hay từ sự phát triển của văn minh nhân loại? Quá khứ trên 2.500 năm của Phật giáo ở các nơi đã chứng tỏ Phật giáo có một mạng sống vĩnh viễn. Động lực chính yếu để Phật giáo hiện hữu là do nhu cầu sống của con người. Vì thế, dù xã hội có thay đổi thế nào đi chăng nữa thì Phật pháp vẫn có mặt, bởi vì con người vẫn còn nhu cầu sống. Như thế, xã hội và văn minh của nhân loại không thể làm cho Chánh pháp đi vào thời cùng mạt được.
Giới hạnh của người tu liên quan đến sự thịnh suy của Phật Pháp một cách mật thiết.
Bởi thế, đức Thế Tôn chế ra các Giới luật. Nó không phải bắt buộc các đệ tử phục tùng mệnh lệnh của Ngài, mà để ngăn ngừa các nghiệp từ ý nghĩ đến hành động, hầu thánh hóa đời sống chúng đệ tử. Cho nên, một thầy Tỳ kheo giới hạnh thanh tịnh là bản sao chụp lại của đời sống thánh giả A La hán một cách rõ ràng và hiện thực. Đó là mảnh đất tốt để tăng trưởng thiện pháp, là nền tảng để tiến bộ tâm linh, để phát triển những nhận thức chân chính, thấy được lẽ thật của cuộc đời. Vị có Giới luật trang nghiêm là nơi an ổn cho thế gian nương nhờ, là một thành viên tích cực làm cho Phật pháp hưng thịnh.
Còn Giới luật không được nghiêm trì thì chúng đệ tử của Phật sẽ là một cộng đồng ô hợp, có khi còn tai hại cho xã hội nữa. Người xuất gia mà không giữ gìn giới luật thì không thể nào phân biệt được đâu là người xuất gia, đâu là kẻ thế tục. Như vậy, chỉ có Giới luật mới tạo nên đức hạnh của người tu, mới xây dựng được những người tu hành thành những chiến sĩ trên mặt trận đạo đức, tạo nền tảng cho Phật Pháp hưng thịnh.
12.2. Giới luật là nền tảng cho xã hội hướng thiện:
Phật giáo lấy Pháp xuất thế gian làm cứu cánh dùng pháp thế gian làm phương tiện. Các vị Bồ tát vì mục đích độ sanh đến chỗ cứu cánh nên vào trong thế gian hóa độ chúng sanh. Thế nên, nói mật cách rốt ráo thì Phật Pháp chỉ ở trong thế gian chớ không phải ngoài xã hội, ngoài cuộc đời.
Trong các đệ tử tại gia có những người làm các nghề nghiệp như: công nhân, nông dân, thương buôn, y tế, giáo dục … Trước đây còn có cả vua chúa và các bậc đại thần trong triều v.v… Những người này chưa bao giờ vì tín ngưỡng mà làm trở ngại công việc mưu sinh của mình. Còn đối với chúng xuất gia, quả thực họ không trực tiếp sản xuất làm ra lúa gạo, tơ lụa và các thiết bị công cụ phục vụ cho cuộc sống hằng ngày. Còn lại biết bao nghề nghiệp khác như công chức, giáo dục, y tế v.v… cũng đều không trực tiếp cày ruộng dệt vải, chớ có riêng gì những người xuất gia đệ tử của Phật? Nên biết rằng những người xuất gia không phải chỉ suốt ngày ăn không ngồi rồi, mà thực tế trên vai của họ gánh nặng trách nhiệm hoằng dương Chánh Pháp, giáo hóa đồ chúng. Pháp luật và dư luận là có thể chế tài các tội ác đã vi phạm, nhưng chính sự cảm hóa bằng Giới Luật, bằng đạo đức Tôn giáo mới thực sự ngăn ngừa những tội ác chưa xảy ra. Bởi vì :
“Trong đạo đức, việc con người tự đánh giá hành vi của mình có ý nghĩa rất quan trọng. Đạo đức có thể nói là lĩnh vực quan hệ qua lại giữa các cá nhân, trong đó mỗi người đối xử với nhau y theo cách đánh giá của mình. Đối với pháp luật, việc đánh giá này chiếm vị trí rất thấp”.
Do đó, Giới Luật cần được ứng dụng để làm nền tảng cho mọi sinh hoạt xã hội được tốt đẹp, được thăng hoa, cụ thể như :
12.2.1. Với tinh thần ngũ Giới:
Mỗi cá nhân phải sống làm việc đúng năm nguyên lý Đạo đức nhân bản sau đây:
a. Phải tôn trọng nhân bản, nhân quyền, tức sự sống, quyền được sống bình đẳng căn bản của mỗi nguời trên bình diện “Giới Không Sát Sinh” để giữa mình và người chung sống chung hưởng một nếp sống hòa bình, chấm dứt mọi hình thức chiến tranh. Bởi vì :
“Đau thương khói lửa ngập tràn
Cũng vì hiếu sát tương tàn lẫn nhau”.
b. Phải tôn trọng quyền sở hữu tài sản của mỗi người, không tham nhũng lạm quyền đều dựa trên cơ sở “Giới Không Trộm Cắp” lường gạt và hối lộ công tư. Nghĩa là sống, làm việc và hưởng thụ công bằng hợp tình hợp lý. Vì vậy :
“Không tham, không gạt, không lường
Đó là cuộc sống bình thường thế nhân”
c. Phải quý trọng nếp sống hôn nhân, yêu thương và trân trọng lẫn nhau trên tiêu chuẩn bình đẳng. Nghĩa là vợ chồng ăn ở với nhau phải có thủy có chung cho tới ngày răng long đầu bạc, chồng không trăng hoa, vợ không ngoại tình đây là thể hiện trên bình diện “Giới không tà dâm” với tinh thần một chồng một vợ, có như vậy mới có được một cuộc sống ấm êm và hạnh phúc. Bởi người xưa có câu “Thuận vợ, thuận chồng tát bể đông cũng cạn.” Cho nên :
“Trăm năm trong đạo vợ chồng
Tà dâm không phạm, chữ “đồng” cùng ghi”
d. Phải tôn trọng quyền tự do ngôn luận, tự do phát biểu, những lời nói có tinh thần xây dựng và cảm hóa có lợi cho mình, cho người. Bởi vì một lời hay một ý đẹp có thể xây dựng sự đoàn kết, làm xã hội phồn vinh, làm cho quốc gia hưng thịnh. Trái lại cũng có một câu nói có thể gây ra chia rẽ nội bộ, làm tan vỡ một tổ chức, làm suy yếu sự hùng mạnh của một quốc gia, làm thiệt hại cho cả Dân tộc. Bởi vì lẽ đó nên Giới luật của nhà Phật dạy chúng ta không nên dùng lời lẽ dối trá điêu ngoa, hung bạo, thô tục hay dùng lời lẽ trau chuốt nhằm bóp méo sự thật, trước mặt không khen, sau lưng không chê, để chứng tỏ thâm tâm và ngôn ngữ của mình đều trong sáng, nói lên tinh thần của “Giới không vọng ngữ” đó là thể hiện cách sống lịch sự, có văn hóa giáo dục đối nội cũng như đối ngoại.
“Giữ lời như giữ đôi tròng (mắt)
Giữ tâm thanh tịnh, giữ lòng thẳng ngay”.
e. Không nên trà đình tửu quán hội họp ăn chơi bừa bãi và càng không được dùng các chất làm say người, làm kích thích tinh thần cao độ đầy thú tính như : cần sa, ma túy cá loại hồng phiến, bạch phiến v.v… bởi vì các chất ấy làm mờ trí huệ, thiếu sự suy xét trong cách nghĩ cách làm. Nhờ có thế, nó không làm cho chúng ta bị bê tha, rượu chè hút sách lãng phí cuộc đời tổn hại nhân phẩm. Đồng thời góp phần làm cho xã hội văn minh tiến bộ.
“Mất giống trí tuệ thông minh
Bởi vì uống rượu khó gìn bổn tâm”.
12.2.2 Với tinh thần thập thiện :
Thập thiện tức là 10 điều lành có từ ba nghiệp: Thân, khẩu, ý mà ra.
- Thân nghiệp : có 3 : không giết hại lẫn nhau, không trộm cắp, không tà dâm.
- Khẩu nghiệp : có 4 : không nói dối, không nói lưỡi đôi chiều, không nói lời hung ác, không thêu dệt thêm bớt để bóp méo sự thật.
- Ý nghiệp : có 3 : không tham lam, không sân hận, không si mê.
Trên đây là mười điều thiện, khi mỗi người làm được mười điều ấy rồi thì gia đình hạnh phúc, xã hội an vui, quốc gia hưng thạnh, thế giới hòa bình an lạc. Vì vậy, trong Kinh An Lạc đức Phật dạy rằng:“Con người là tối thắng vì có khả năng chứng được Vô thượng Bồ đề và chuyển được Y báo Chánh báo làm cho thù thắng trang nghiêm”.
Như vậy chính con người tạo ra Thiên đường, cũng chính con người tạo ra địa ngục. Đã thấy rõ trọng tâm rồi chúng ta cần phải nỗ lực phát triển khả năng và định đoạt mọi vấn đề liên quan đến con người xã hội trong hiện tại cũng như trong tương lai.
12.2.3 Với tinh thần lục hòa:
Chúng ta càng mở rộng tình thương đối với mọi người cùng sống chung trong tập thể “mình vì mọi người, mọi người vì mình”. Hay những đồng bào cùng sinh trưởng trong một quốc gia đúng như câu ca dao dân gian :
“Bầu ơi thương lấy bí cùng
Tuy là khác giống, nhưng chung một giàn”
Do đó mọi người có bổn phận đầu tư những kiến thức của mình, đóng góp những ý kiến hay, ứng dụng Giới luật và Luật pháp cho hài hòa, bàn bạc những việc hữu ích cho nghĩa tình càng thêm khắn khít. Ai cũng được phân phát những quyền lợi thật công bằng thì mọi người đều hăng hái đóng góp xây dựng cho tập thể, cho xã hội được thành công, cho quốc gia được giàu mạnh. Bởi mỗi người được thừa hưởng những di sản tinh thần và vật chất của tiền nhân lưu lại hay của mỗi thời đại tạo nên, tất nhiên phải có trách nhiệm làm cho nó được trường tồn và phát triển hơn lên. Vì vậy tinh thần Lục hòa còn thật sự giúp cho trật tự an sinh xã hội và tinh thần đoàn kết nội bộ của các tổ chức Tôn giáo hay cơ quan đoàn thể được vững vàng trong tình thương tương thân tương ái tương trợ lẫn nhau.
12.2.4 Với tinh thần giới luật xuất gia:
Các Giới luật xuất gia đã giúp cho Tăng Ni chân chánh trở thành những người mẫu mực để làm chỗ dựa tinh thần xứng đáng cho tín đồ, làm gương sáng cho đời, làm lợi ích cho xã hội hiện tại cũng như trong tương lai. Những vị giữ gìn Giới luật thanh tịnh, tất nhiên được Giới đức trang nghiêm, thành bậc mô phạm cho mọi người. Những vị này một khi tư duy nói năng và làm việc, chắc chắn đều đem lại lợi ích cao thượng và thiết thực cho mọi người xung quanh. Đặc biệt với tinh thần Lợi tha và bổn nguyện của Bồ tát giới đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến với các Tăng Ni, Phật tử, làm cho họ phát tâm đại từ bi, sẵn sàng xả thân, xả của đem tài vật ra làm việc công ích cho xã hội nước nhà.
Vì hoài bão của người xuất gia là “phục vụ chúng sanh tức cúng dường chư Phật” mà nó đã thể hiện qua những công tác từ thiện xã hội như : Cứu trợ đồng bào lũ lụt, thiên tai, hỏa hoạn, thăm nuôi bệnh nhân ở những trại cùi, đem lại ánh sáng cho người mù, xây dựng nhà tình thương, tình nghĩa v.v…
Như thế xã hội là một tổng hợp nhiều cá nhân, gia đình, đoàn thể, sự thanh bình tốt đẹp của xã hội chỉ có thể thành tựu và duy trì trên nền tảng của pháp luật đặc biệt hơn là Giới luật. Pháp luật mang tính răn đe người phạm pháp và bảo vệ người lương thiện. Còn Giới luật là cơ sở của đời sống cao thượng, tự đưa mình vào khuôn phép Đạo đức, Giới luật mang tinh chất cảm hóa nét đẹp xã hội và nhận thức trí tuệ với tinh thần tự giác cao. Chính vì thế cho nên nói rằng Giới luật làm nền tảng cho xã hội hướng thượng.
Tóm lại tinh thần Giới luật của Phật giáo làm nền tảng cho xã hội vươn lên về mọi mặt, có công năng rõ ràng là tạo được niềm tin cho mọi người, điều hòa được sinh hoạt của tập thể, đem lại an lạc cho mình, cho người trong hiện tại và tương lai. Nếu hạnh phúc là đối tượng mà nhân loại mãi đi tìm thì hẳn đúng là Giới luật là những gì mà người ta cần nắm bắt trên đường đi đến nơi ấy. Vì thế chúng ta nên loại bỏ hết thảy ngộ nhận về Giới luật của Phật giáo, để tiến lại gần hơn với nó và tinh tấn hành trì như nắm giữ hạnh phúc của chính bản thân mình.
13. Lợi ích của sự hành trì Giới Luật
13.1. Quan hệ của Giới Luật trong phạm trù Nhân Quả
“Hai chữ ‘Nhân Quả’ gồm trọn hết thảy các pháp thế gian, xuất thế gian không sót chút gì. Kinh dạy: ‘Bồ Tát sợ nhân, chúng sinh sợ quả.’ Nếu chẳng muốn nhận quả khổ thì phải đoạn trừ nhân xấu ác trước đã. Nếu luôn tu thiện nhân, ắt quyết định hưởng quả vui. Đây chính là điều kinh Thư viết: ‘Tác thiện giáng tường, tác bất thiện giáng ương’(16). Kinh Dịch cũng nói: ‘Tích thiện tất hũu dư khánh, tích bất thiện tất hữu dư ương’(17) .
Cũng chính là muốn nhấn mạnh điểm ‘phòng phi chỉ ác’ của Giới Luật mà cũng là phương cách phòng bị, ngăn ngừa nhân quả, giúp cho hành nhân khéo làm hạnh lành, tránh xa việc xấu, giữ cho thân tâm được trong sạch.
“Thiện – ác chẳng ngoài ba nơi thân, khẩu, ý. Đã biết nhân quả sẽ tự phòng giữ thân - miệng, rửa lòng gột ý. Dù ở trong nhà tối, phòng kín vẫn luôn như đang ở trước các vị thần thánh, chẳng dám móng khởi chút tà niệm tư dục nào, để khỏi bị chiêu cảm quả báo xấu. Đấy chính là đại pháp ‘trí tri, thành ý, chánh tâm, tu thân’ để dạy khắp hết thảy chúng sinh thượng, trung, hạ căn của đức Đại Giác Thế Tôn vậy. Tuy thế, kẻ cuồng sợ bị câu thúc, bảo đó là chấp tướng; kẻ ngu nhằm tránh khỏi bị xấu mặt, bèn bảo đó là chuyện vu vơ. Trừ hai hạng người này ra, có ai lại chẳng tin nhận?” vì thế, từ kẻ phàm phu nghèo hèn cho đến người thanh cao quyền qúi, không ai lại không muốn an hưởng một đời sống hạnh phúc, ấm no, yên ổn, không lo sợ phập phồng, bất an. Muốn được như thế, tất nhiên chúng ta phải tuân thủ qui luật, phép tắc, kỷ cương đạo lý luân thường. Nhất là người xuất gia chân chính thì phải hành trì nghiêm mật giới pháp đã lãnh thọ, trước là giữ gìn thân, khẩu, ý nghiệp của chính mình để không bị vương mang hệ lụy nhân quả, sau là làm gương mẫu cho người người noi theo tu tập để gia đình, xã hội được trật tự, hài hòa, an vui.
13.2. Giới Luật trong phạm trù Tam Vô Lậu Học:
“Phật pháp rộng lớn như pháp giới, rốt ráo như hư không. Luận đến chỗ thiết yếu thì chỉ có ba pháp Giới - Định -Tuệ mà thôi! Nhưng ba pháp này dung nhiếp lẫn nhau, chẳng thể đứng tách riêng ra một mình được. Sơ tâm nhập đạo thì trì giới là nhiệm vụ quan trọng nhất. Do vậy, kinh Lăng Nghiêm nói: ‘Nhiếp tâm là Giới, nhân Giới sanh Định, nhân Định phát Tuệ. Đấy gọi là Tam Vô Lậu Học.’ Do vậy, lúc đức Như Lai mới thành Chánh Giác, liền nói Phạm Võng Kinh Bồ Tát Giới để hết thảy Bồ Tát cùng chư Thiên Thích Phạm, và vua quan, nhân dân dù Tăng hay tục, cho đến đào kép, nô tỳ, hết thảy chúng sanh trong ba ác đạo đều cùng thọ trì. Do vậy, biết Giới chính là lò luyện lớn lao để Như Lai nung phàm luyện thánh vậy.”
Như thế có thể nói, ba pháp này như cái đỉnh có ba chân, nếu thiếu một cái thì cái đỉnh không thể đứng vững được. Tuy nhiên nói có ba nhưng thực ra chi có một, nói có một nhưng lại phải cả ba; bởi vì nhờ giữ Giới mà thân, khẩu, ý nghiệp không vi phạm, tâm được an trụ, nhiếp tâm nên sanh Định, nhờ có Định kết hợp với Giới giữ cho vọng tâm không sanh khởi, nghiệp tận tình không, thấu tột lẽ chân thường, trí óc minh mẫn sáng suốt, đó không phải là công dụng của Tuệ hay sao? Người học Phật cần phải biết rằng dù là Hiển giáo hay Mật giáo, dù Thiền hay Tịnh, v.v. tất cả các pháp phải trọn vẹn Giới - Định - Tuệ thì mới có thể truyền đăng tục diệm, kế vãng khai lai được, còn nếu khiếm khuyết, không đầy đủ thì không thể nào thượng hoằng Phật đạo, hạ hóa quần sinh cho được.
Kinh Phạm Võng dạy: “Ta là Phật đã thành, các ngươi là Phật sẽ thành. Thường nên tin như thế thì giới phẩm đã trọn đủ.” Câu nói này đủ giúp chúng ta nhận thức rõ tầm quan trọng và sự thống nhiếp các pháp của giới luật, do đó các bậc tri thức, các vị hành giả tu trì, không ai mà không lấy Giới Luật làm nền tảng ban đầu học đạo, làm nhiệm vụ trước tiên, và cũng vì sự quan trọng thiết yếu đó nên chắc chắn sự thọ lãnh và hành trì giới luật sẽ đem lại cho chúng ta lợi ích tốt đẹp to lớn trong suốt cuộc đời tu hành của chúng ta.
13.3. Lợi ích của sự thọ lãnh và hành trì Giới Luật:
Theo lời Phật Tổ dạy, thế đạo nhân tâm thời Mạt pháp bị suy hãm đến cùng cực, pháp nhược ma cường, muốn hộ trì Phật pháp, ở cõi tục tương đối dễ, nhưng xuất gia làm Tăng không phải việc đơn giản, dễ làm. Nếu không gặp được minh sư, thiếu người cùng hạnh để nâng đỡ, rèn giũa mình tinh tiến học đạo thì chí hướng thượng của chúng ta có thể bị suy giảm, chẳng còn sốt sắng siêng năng, dễ xuôi theo biếng nhác, trễ lười, uổng phí một đời xuất gia làm Phật tử, cô phụ ân Thầy Tổ, không báo hiếu được mẹ cha. Tổ sư Ấn Quang nói: “Người xuất gia nếu chẳng phải là chân tu thì tập khí đầu đường xó chợ còn quá hơn kẻ tục,” vì thế, người xuất gia, nếu muốn thanh tịnh thân tâm, việc quan trọng đầu tiên là phải nghiêm trì Giới Luật.
“Chúng ta có thể kém tài, nhưng đối với giới luật mà mình đã lãnh thọ thì phải “tịnh như băng tuyết”. Kinh Đại Thừa Bổn Sanh Tâm Địa Quán, Phật dạy: “Vào biển Phật Pháp lấy đức tin làm căn bản, vượt dòng sanh tử lấy giới luật làm thuyền bè. Nếu người xuất gia mà không giữ giới cấm, lại tham đắm, vướng mắc những thú vui thế tục, hủy báng giới pháp của Chư Phật, hạng tỷ kheo như thế không còn được gọi là người xuất gia nữa”. Chúng ta là những trưởng tử Như Lai, giữ gìn mạng mạch Phật Pháp để lưu truyền nơi thế gian, lãnh trách nhiệm “tác Như Lai sứ, hành Như Lai sự”, muốn cho chánh pháp trường tồn thì phải lấy giới làm Thầy. Ba đời chư Phật đều nương vào giới luật mà tu tập cho đến khi thành tựu đạo quả. Như vậy, khi nào không còn người giữ giới nữa thì Phật Pháp cũng từ đó mà hoại diệt, vì không còn người đủ tư cách, đức hạnh để tuyên dương chánh pháp của Như Lai.”
nghênh ngang xem thường giới pháp đã lãnh thọ, mê trái bản tâm, phóng túng làm chuyện thương tổn luân lý, phong tục . . .
14. Tăng sĩ trẻ thời hiện đại và việc giữ gìn giới luật như thế nào?
Là Tăng sĩ, việc “thượng cầu hạ hóa” đưa đạo vào đời là hoài bảo, song việc dụng tâm giữ gìn phạm hạnh không bị đồng hóa bởi thế tục là điều luôn luôn canh cánh bên lòng. Hai chữ “tùy duyên” được chúng ta thực hiện sao cho nó có ý nghĩa tích cực: “tùy thuận chúng sanh, dĩ văn tải đạo” đừng để nó bị biểu thị theo nghĩa “phan duyên trần cảnh, ô nhiễm thân tâm”.
Tuy nhiên với một xã hội hiện đại hóa, văn minh và phát triển, thì chúng ta cũng dùng chút phương tiện giáo hóa thế gian, mới hòa nhập vào cuộc sống của mỗi cá nhân, gia đình và xã hội một cách hợp lý và đầy trí tuệ.
Nhưng với hình thức nào, phương tiện ra sao,căn bản của người xuất gia thì không thể phương tiện được, nói rõ hơn cái gì thuộc về giới tánh, giới thể cái đó không thể phương tiện được.
Nhưng người xuất gia có quyền hòa nhập vào cuộc đời bởi vì “Phật pháp bất ly thế gian giác”. Nhưng không cho nó hòa hợp và hòa tan một cách dễ dàng, ta không nên phương tiện quá khiến mình trở nên thế tục hóa lúc nào không hay.
Với người xuất gia trẻ thời nay có đầy đủ khả năng làm cho Phật pháp hưng thịnh và phát triển mạnh, song bên cạnh đó cũng không ít thành phần tham gia phá hoại làm cho Phật pháp ngày một giảm đi. Mặc dù Phật giáo chú trọng về tâm, về tánh không đặt nặng về tướng lắm, nhưng một con sâu làm rầu nồi canh, một đống phân nhỏ có thể làm ô uế căn nhà rộng, do đó ta không thể xem thường được.
Sống trong một cộng đồng, thường thường cái gì được cho là tốt đẹp thì tập trung phát triển mạnh, điều đó cũng xảy ra không ít phiền toái. Phật giáo đang phát triển trên khắp năm châu bốn bể, nhưng chúng ta đừng sớm hãnh diện và chủ quan mà phải nỗ lực, phấn đấu để bảo vệ Phật pháp ngày càng trong sáng và lành mạnh hơn, vì Phật giáo chúng ta là đạo trí tuệ, đạo bình đẳng, là đạo sống cho nhân loại, không để cho một vết nhơ mà nhòa cả trang giấy trắng.
Trong kinh đức Phật dạy rằng: “tất cả các ma vương ngoại đạo, không ai có thể phá hoại được giáo pháp của ta, chỉ có đệ tử ta mới làm cho giáo pháp ta bị hủy diệt”. “Chỉ có trùng trong thân sư tử mới ăn được thịt sư tử mà thôi”.
14.1. Giới Luật Phật giáo có thể làm gì cho đạo đức xã hội?
Trong thời đại ngày nay khoa học đã mang lại cho con người những ân huệ kỳ diệu nhưng bên cạnh đó cũng đã gây ra bao nhiêu tai họa khủng khiếp, bằng sức mạnh của vũ khí tối tân và sức quyến rũ của văn minh vật chất, khoa học đã làm cho đạo đức nhân phẩm của con người bị khinh rẻ, suy đồi, tha hóa đến mức trầm trọng, bên cạnh đó môi trường sống đang bị de dọa và hủy hoại bởi các phóng xạ hạt nhân, bởi bụi khói và các chất phế thải công nghiệp rồi chiến tranh tàn phá, bệnh tật hoành hành, nạn đói và thất nghiệp lan tràn khắp nơi. Tấc nhiên không thể phủ nhận sự tiến bộ của khoa học vì đó là điều cần thiết và tất yếu nhưng vấn đề quan trọng ở đây là phải ứng dụng làm sao để đem lại lợi ích hoàn toàn thiết thực cho con người. Và ở đây giới luật Phật giáo có thể song hành cùng khoa học thực hiện điều đó.
Khoa học nếu được ứng dụng với mục đích vì hòa bình của nhân loại vì an vui hạnh phúc của tất cả chúng sanh thì có đâu chiến tranh có đâu con người chạy theo chủ nghĩa thực dụng để đánh mất lương tâm của mình. Đã đến lúc con người quay trở lại tìm lại diện mục đạo đức của mình. Và một nền đạo đức nhân bản thiết thực đem lại hạnh phúc hòa bình cho nhân loại không thể tìm kiếm đâu xa đó là đạo đức Phật giáo. Một nền đạo đức xây dựng trên nền tảng của giới luật mà Thế Tôn đã dạy cách đây 25 thế kỷ.
15. Giới luật là nền tảng của sự giác ngộ giải thoát:
Giác ngộ và giải thoát là sự thông suốt hai mặt sự và lý của các pháp. Nhờ tâm trí sáng suốt mà cởi bỏ được sự trói buộc của hoặc nghiệp, thoát ra khỏi tam giới và chứng đắc Niết bàn. Điển hình trong bài kinh đầu tiên, đức Phật thuyết minh bốn sự thật (Tứ đế). Trong đó, Đạo đế là phần thực hiện cụ thể cho ai nấy đều thể nghiệm được sự an lạc và giải thoát nơi tâm. Thông thường, khi làm một việc gì trước hết phải hiểu biết toàn bộ sự việc, kế đó là quá trình diễn tiến xảy ra như thế nào, và cuối cùng thì mới bắt tay vào làm việc. Pháp Tứ đế cũng được thiết lập theo trật tự đó. Điều đầu tiên là chúng ta nhận thức được cuộc sống khổ não của nhân sinh, kế đến là truy tìm nguyên nhân chính yếu của sự khổ và cảnh an lạc giải thoát sau khi hết khổ. Cuối cùng là biện pháp, hành động cụ thể sáng tỏ để tu tập, nhằm đạt được giác ngộ. Con đường tu tập này chính là Bát chánh đạo, nó là pháp tu căn bản cho những ai muốn thoát khỏi u tối, luân hồi khổ lụy. Đồng thời cũng chính là giáo lý mở rộng của ba pháp tu hết sức căn bản là Giới – Định – Tuệ, cho dù hành giả tu theo tông phái nào đi nữa, thì vẫn không ngoài pháp môn Tam vô lậu học này.
Giới hay giới luật được xây dựng trên quan niệm của một tình thương rộng rãi trong cuộc sống, một tình thương có trí tuệ phân biệt chánh tà. Chánh ngữ, chánh nghiệp và chánh mạng là ba năng lực tinh thần giúp con người có đạo hạnh thanh cao và trí tuệ sáng suốt, hầu xây dựng một cuộc sống an lạc và thanh tịnh, hài hòa trong mối quan hệ giữa quyền lợi cá nhân và cộng đồng tập thể.
Định là quá trình thanh tịnh hoá tâm, tìm ra lý Nhân quả, xác quyết loại trừ và nhổ tận gốc những phiền não, lậu hoặc (Chánh tinh tấn), ngăn chặn những điều xấu ác và phát triển điều thiện (Chánh niệm). Cột chặt những vọng tưởng tâm lý, đưa quá trình quan sát từ tri giác đến thể nhập, hiểu biết được thực tướng của sự vật (Chánh định). Ở đây có điểm đặc biệt đáng lưu ý là thiền định hay thiền quán không nhắm vào những điều hư vô, huyền ảo, trái lại đối tượng của thiền là những hiện thực như vật lý, sinh lý, tâm lý, ý niệm…tồn tại một cách khách quan trong cuộc sống hiện tại.
Tuệ là tri kiến cao minh, nó tổng hợp sự hiểu biết về các mặt quy luật tồn tại biến đổi của mọi sự vật và hiện tượng theo quy luật nhân quả hoặc theo lý duyên sinh.
16. Sự đóng góp của giới luật đối với vấn đề môi trường
Trong vũ trụ bao la, hành tinh chúng ta vô cùng nhỏ bé và sự sống vô cùng mong manh trước một số vấn đề bức xúc đang đối mặt. và một trong số đó là vấn đề khủng hoản môi sinh.
Môi sinh là từ khác của thiên nhiên và khủng hoảng môi sinh chính là sự thay đổi không thuận lợi về môi trường sống chung quanh.
Nhân loại trên thế giới đang rất tự hào trước những thành tựu của khoa học vì vậy đã xảy ra hiện tượng suy tôn vật chất và các tiện nghi máy móc như là cứu cánh của đời sống. Cùng với nhịp phát triển vũ bảo của đời sống văn minh sự xói mòn niềm tin đối với những giá trị truyền thống ngày càng mạnh mẽ con người không còn sống với những chuẩn mực đạo đức cơ bản và trên tất cả chính là do thiếu trách nhiệm và thiện chí nên việc triệt để khai thác các nguồn tài nguyên tăng trường sự phát triển kinh tế đã khiến cho đời sống con người trên hành tinh đang đứng trên bờ vực của nguy cơ hủy diệt khủng khiếp: Sự ô nhiễm môi trường.
Phát triển luôn luôn là trọng tâm của mỗi quốc gia. Phát triển được hiểu theo nghĩa hạn hẹp là sự phát triển kinh tế, là xây dựng và phát triển mọi năng lực tiềm tàng trong sản xuất nhằm đáp ứng nhu cầu của dân chúng. Phát triển cũng được hiểu là sự thay đổi toàn bộ, hệ thống xã hội để phục vị yêu cầu càng ngày càng nhiều của người dân về mặt vật chất lẫn tinh thần.
Trên thực tế con người chỉ chú trọng đến phần vật chất do đó đã không ngừng phát triển sản xuất và thiên nhiên đã trở thành nguồn nguyên liệu không ngừng bị khai thác và khống chế.
III. KẾT LUẬN:
Giới luật đóng vai trò rất quan trọng không những đối với bản thân Phật giáo và tăng đồ mà nó còn có vai trò trong nhiều mặt của cuộc sống. Nghiên cứu giới luật là để ứng dụng trong đời sống hàng ngày, không phải là nghiên cứu suông và vô bổ, trong tinh thần này thì Phật tử phải đặt mục tiêu trí tuệ lên hàng đầu. Học thôi chưa đủ mà phải có thực nghiệm của sự tu đạo. Bằng phương pháp hành trì giới luật để trang nghiêm pháp thân. Như thế mới đủ trí lực, đủ bản lĩnh, đủ nhẫn nhục, đủ từ bi, đủ khiêm hạ, đủ bất khuất để dấn thân trong sứ mạng: “hành Như Lai sứ, tác Như Lai sự”. Cho nên đuốc trí tuệ luôn tỏa sáng, đem giới luật áp dụng vào đời cho tỏ đạo.
Lại nữa mỗi hành giả tu tập phải ý thức được rằng: “giới luật là mạng mạch, là nhịp đập của con tim, là không khí, là thức ăn, nước uống cho đời sống hằng ngày. Nếu ai không khéo nỗ lực hành trì một cách nghiêm túc, e rằng đã không đem lại hạnh phúc an lạc mà ngược lại nó sẽ trở thành sự trói buộc cho chính bản thân mình mà còn ảnh hưởng cho đạo pháp và dân tộc.
Đạo Phật và đoàn thể cộng đồng Tăng lữ được tồn tại ngày nay đều do sống trong khuôn vàng thước ngọc của luật nghi quy giới. Phạm hạnh và tri túc là phương châm nằm lòng ngay từ bước đầu nhập đạo, bởi có trưởng dưỡng đạo tâm mới trang nghiêm Giáo hội. Đó cũng chính là tinh thần lục hòa, con đường bát chánh đạo. Giá trị đạo đức luôn được thăng hoa bằng đèn thiền đuốc tuệ.
Mục đích giới luật của Phật giáo là hòa nhập giữa giới và trí tuệ trong nhân gian. Bởi giới cũng như đóa hoa sen sống giữa bùn nhơ nước đục vẫn tinh khiết, vươn lên không có mùi tanh mà còn tỏa ra mùi hương thơm ngát. Như trong kinh Pháp Cú có dạy:
“Hương các loài hoa sen
Không ngược theo chiều gió
Nhưng hương người đức hạnh
Ngược gió khắp tung bay”.
Hơn bao giờ hết Giới – Định – Tuệ là hệ thống giáo lý cứu khổ của đức Phật, vẫn luôn hữu dụng có giá trị giáo dục đạo đức tâm lý trong sáng thực tế và toàn bích hổ tương tác động lẫn nhau cho con người. Bởi vì Giới luật đức Phật chế ra không phải nói suông vô ích, mà vô cùng có ý nghĩa để củng cố phát huy đạo đức, mở rộng lòng từ trong Giáo đoàn Tăng già, giữ vững hạnh lành cho Phật tử tại gia và cộng đồng xã hội nhân loại. Thế nên, trong Kinh Đại Bát Niết Bàn đức Phật dạy rằng : “Đây là Giới, đây là Định, đây là Tuệ. Định cùng tu với Giới sẽ đưa đến quả vị lợi ích lớn, Huệ cùng tu với Định sẽ đưa đến quả vị hạnh phúc lớn, Tâm cùng tu với Huệ sẽ đưa đến giải thoát hoàn toàn các món lậu hoặc tức dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu”.
Đức Phật luôn đề cao an lạc hạnh phúc tinh thần đời sống, đầy đủ Giới đức, Tâm đức và Tuệ đức, một đời sống tránh xa hai cực đoan, không hành hạ thân xác sống khổ hạnh, không hưởng thọ dục lạc, một nếp sống giới hạnh cao đẹp mà mọi người từ phương Đông – Tây, nam nữ, già trẻ, xuất gia tại gia đều nương Giới mà trọn vẹn.
Hoài vọng của đức Phật khi xiển dương Chánh pháp là đem đến sự trật tự, đạo đức và công bằng trong xã hội. Muốn đáp ứng khát vọng hạnh phúc ấy mà không có đạo đức, thì khổ đau vẫn tồn tại mãi. Thế nên Giới xây dựng cho hàng xuất gia lẫn tại gia một nếp sống đạo đức, mà đỉnh cao của nếp sống đạo đức ấy là sự giải thoát an lạc nhất.
Để trao dồi giới hạnh mỗi tu sĩ phải chú trọng trong việc học kinh luật. Bởi vì: “Kinh luật không rõ thì mất cái thần của giới thì huệ nhơn đâu mà tỏ ngộ. Luật không phải là Thiền, nhưng hành giả muốn tham thiền phải lấy kinh luật làm phép tắc. Bởi “Kinh là lời của Phật, Thiền là tâm của Phật, Luật là hạnh của Phật. Với bản nguyện mang lợi lạc cho chúng sanh, Phật thị hiện thuyết pháp nhiệm mầu khiến chúng sanh lìa khổ được vui. Chúng ta với trách nhiệm “Thừa Như Lai xứ hành Như Lai sự” chúng ta nên lấy bản nguyện của Phật làm bản nguyện của chính mình. Muốn vậy trước tiên phải học những điều đức Phật dạy, hành những gì Ngài đã làm thì chúng ta mới có đủ tư lương hoằng pháp lợi sanh báo Phật ân đức.
Giới như nước thiên nhiên trong lành, bồi bổ dinh dưỡng cho nguồn sống an lạc khắp mọi chúng sanh. Phật pháp như biển cả, có khả năng dung chứa tất cả nước của sông ngòi thành một vị mặn, lời dạy của Đức Phật bao dung tất cả giáo lý thành một sự giác ngộ giải thoát. Bởi Giới làm cương lĩnh thống nhất, giáo hóa tiền đồ Phật giáo, vì vậy Giới luật làm sự sống còn của giáo lý. Điều này chứng minh Giới dã làm tăng thêm nguồn sinh lực của Tăng già xưa cũng như thế hệ ngày nay. Do đó, con người từ đây sống chan hòa trong ánh sáng trí huệ và hương ấm tình thương trọn vẹn đúng nghĩa thăng hoa. Chính lúc này đây, Giáo pháp ngày càng trở nên sống động, đa dạng phong phú bằng nhiều phương tiện khác nhau, đi thẳng vào cuộc đời gắn liền với xã hội, tích cực góp phần thể hiện vai trò chức năng của Phật giáo. Vận dụng giáo lý khế cơ, khế lý trong Kinh – Luật – Luận trở thành một ngọn đèn trong sáng, một cây đời mãi mãi xanh tươi.
Còn nếu ai khéo hộ trì giới luật, xem giới luật là thầy dẫn đường đi trong đêm tối vô minh thì người đó ngày một thăng hoa trong đời sống của tâm linh, sớm cải thiện được mọi hành vi xấu ác, làm cho phẩm hạnh và giá trị đạo đức tăng trưởng một cách trọn vẹn. Bởi đạo đức của một con người theo định nghĩa đều nằm trong giới luật Phật giáo mà ra. Do vậy, nếu một con người, một xã hội, một quốc gia… biết áp dụng giới luật vào đời sống hằng ngày thì điều chắc chắn con người đó, xã hội đó, sẽ là một xã hội hạnh phúc và tốt đẹp.
Sống theo giới luật là sống một đời sống tích cực và tốt đẹp trên thế gian theo những hướng dẫn của đạo Phật , nó sẽ đem đến hạnh phúc, bình an và niềm vui cho mình và cho người. Đời sống đó thật sự có giá trị hơn nhiều so với đời sống bon chen để thỏa mãn bản ngã và lòng tham. Đời sống đó cũng thiết lập một hợp đồng bảo hiểm cho tương lai sau khi chết. Nếu chúng ta có thể nói một cách thành thật và nghiêm túc với nhau rằng anh hay chị là niềm phúc lành cho chúng tôi, chúng ta là những hành giả trên con đường đạo đức Phật giáo, đang đi trên con đường Bát Chánh đạo. Một bộ luật cho đời sống đạo đức được thử nghiệm qua thời gian, hợp lý, thực tiễn là cần yếu cho mọi người, lời dạy của Đức Phật cho chúng ta một bộ luật như vậy nếu chúng ta chấp nhận và sống theo.
Việc giữ giới là vô cùng quan trọng vì Phật thấy khi làm những việc xấu đó thì phải bị đọa địa ngục, ngã quỷ, súc sinh nên Ngài mới ban giới luật để tốt cho chúng ta. Nhớ lại lời cuối cùng đức Phật căn dặn đệ tử của mình trước khi nhập Niết Bàn: “Giới luật là Thầy của mọi người. Giới luật còn là Phật giáo còn, giới luật mất là Phật giáo mất”. Giới luật không chỉ giúp mỗi người phật tử mà bất kì ai theo tôn giáo nào đi chăng nữa nếu giữ gìn ngũ giới sẽ luôn giữ được một tâm hồn thanh thản, an nhiên, vô vi tâm rỗng như hư không.
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1. Dr. Bodhippriya Subhadra Siriwardena – Đạo Đức Phật giáo và giới luật cho người tại gia, Thị giới dịch.
2. Viên Trí- Ý nghĩa Giới Luật NXB Tôn giáo Hà Nội 2005.
3. Thích Quang Thạnh – Tìm hiểu về giới luật trong PG – Delhi 2001.
4. HT Thánh Nghiêm- Thích Cương yếu giới luật- NXB PĐ 2007.
5. Thích Phước Sơn- Một số vấn đề về giới luật T1- NXBPĐ 2006.
6. Thích nữ Trí Hải- Sự tích giới luật- NXB Tôn giáo 2005.
7. Thích Thiên Siêu- Cương yếu giới luật- NXB Tôn giáo 2002.
8. Hòa Thượng Thích Trí Thủ, Yết ma yếu chỉ, Tứ phần hiệp chú tập I, II, TCCPHVN, 1991.
9. Hòa Thượng Thích Đổng Minh, Luật Tỳ kheo giới bổn sớ nghĩa, PL 2533.
10. Hòa Thượng Thích Đổng Minh, Trùng trị tỳ ni sự nghĩa tập yếu tập I, 1995.
11. Hòa Thượng Thích Minh Châu, Kinh Trung bộ I, II, VNCPHVN, 1992.
12. Hòa Thượng Thích Chơn Thiện, Tăng già thời đức Phật, VNCPHVN, 1991.
13. Thích Thánh Nghiêm, Giới luật học cương yếu, dg Tuệ Đăng, PL2538- 1994.
14. HT.Thích Thiện Hoa, Phật học phổ thông quyển I, II, Nxb Tôn giáo Hà Nội, 1996.
15. Thích Minh Thông, Theo dấu chân xưa, Nxb Tôn Giáo Hà nội, 2003.
16. Thích Nữ Trí Hải (dịch), Thanh tịnh đạo luận tập 1, 1993.
17. Thích Nữ Trí Hải (dịch), Tứ Phần Tỳ Kheo Ni giới bổn tập I, 1995.
18. Thích Thiện Siêu, Cương yếu giới luật, Viện nghiên cứu Phật học Việt Nam, năm 1996.
19. Nguyễn Thiện Tống, Bảo vệ môi trường cho hôm nay và mai sau, TPHCM, xb 1991.
20. Việt Nam Những vấn đề tài nguyên và môi trường, Hà Nội Xuất bản 1986.
21. Kinh An Lạc - Dịch từ kinh Pháp Cú trong Hán Tạng - Kinh thứ 23.
22. KINH ĐẠI BÁT NIẾT BÀN Dịch Từ Hán Sang Việt: Tỳ Kheo Thích Trí Tịnh Tịnh Xá Minh Đăng Quang, Hoa Kỳ Xuất Bản 1990, Nhà Xuất Bản Tôn Giáo Hà Nội, 2009.
23. KINH DI GIÁO Đoàn Trung Còn và Nguyễn Minh Tiến dịch và chú giải Nhà xuất bản: Tôn giáo.
24. HT Thích Minh Châu (dịch), Tương Ưng I, VNCPHVN ấn hành, 1993.
25. HT Thích Minh Châu (dịch),Tăng Chi bộ kinh I, II, ĐTKVN, 1996. 17. HT Thích Minh Châu (dịch), Trường bộ kinh I,II, VNCPHVN ấn hành, 1991.
26. HT Thích Minh Châu (dịch), Kinh Tứ Niệm Xứ, Trung bộ I, VNCPHVN ấn hành, 1991.
27. Phật học Phổ Thông quyển nhất Thành Hội PG Tp HCM ấn hành 1997.
28. Phật học khái luận -Thích Chơn Thiện-Ban giáo dục Tăng Ni ấn hành 1993.
29. Đạo Phật với con người -Thích Tậm Châu -NXB Tâm Quang 1964.
30. Khoá Hư lục giảng giải-Thích Thanh Từ- TV Thường Chiếu ấn hành-1996.
Đăng ký:
Nhận xét (Atom)