THÍCH TÂM TRỌNG
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT
Thứ Ba, 30 tháng 12, 2014
TÍNH CÁCH PHÁ TRỪ VỌNG CHẤP TRONG KINH LĂNG GIÀ
MỤC LỤC
I. DẪN NHẬP:
II. NỘI DUNG:
1. giới thiệu kinh:
1.1. Giải thích đề mục kinh Lăng Già:
1.2. Giới thiệu sơ lược về Lục Chủng Thành Tựu và Duyên khởi thuyết kinh:
2. Hàng phục tâm – An trụ tâm
21. Phá chấp về Phật, Như Lai, Niết bàn
2.2. Phá chấp về Thánh phàm, Thế giới, Chúng sanh, Phiền não
3. Tinh thần phá chấp triệt để trong kinh lăng già:
III. KẾT LUẬN
SÁCH THAM KHẢO:
TÍNH CÁCH PHÁ TRỪ VỌNG CHẤP TRONG
KINH LĂNG GIÀ
I. DẪN NHẬP:
Mỗi một chúng ta không ai phủ nhận rằng, nền công nghệ thông tin, khoa học phát triển bên cạnh những tác động tích cực, con người phải đối diện với những vấn nạn cam go về chiến tranh, thiên tai, bão lụt, khủng hoảng về kinh tế, đặc biệt là khủng hoảng về tinh thần. Con người bắt đầu cảm thấy chơi vơi, lạc lõng giữa dòng đời sanh diệt. Chính vì vậy, khi tìm hiểu, nghiên cứu về giáo lý đạo Phật không ít nhà khoa học, học giả nghiên cứu đã nghiêng mình kính phục trước Đức Phật và giáo lý mà Ngài để lại.
Đức Phật một nhân vật có trong lịch sử, một con người đơn giản, chân thành, giàu lòng bi mẫn, và những ai được soi sáng bởi những lời Phật dạy đều có được một cuộc sống đầy nghị lực, niềm tin và hạnh phúc. Như H.G. Well có viết: “Các bạn thấy rõ Ngài là một nhân vật đơn giản, chân thành, đơn độc, một mình tự lực phấn đấu cho ánh sáng, một nhân vật sống chứ không phải là thần kỳ, tôi cảm thấy có một Người, đó là Ngài. Ngài đã gửi bức thông điệp cho nhân loại hoàn vũ. Có nhiều tư tưởng tuyệt diệu hiện đại của chúng ta rất gần gũi tương đồng với thông điệp của Ngài, tất cả những đau khổ, bất mãn trong cuộc sống” hay Tổng thống Nehru ca ngợi: “Ðức Phật vĩ đại hơn tất cả các lý thuyết và tín điều, thông điệp bất diệt của Ngài đã làm rung động nhân loại qua nhiều thời đại. Có lẽ không một thời điểm nào trong lịch sử quá khứ mà thông điệp hòa bình của Ngài lại cần thiết hơn cho nhân loại đang đau khổ và cuồng loạn như hiện nay”. Và “Trong thế giới giông tố và xung đột, hận thù và bạo lực, thông diệp của đức Phật sáng chói như vầng thái dương rực rỡ. Có lẽ không bao giờ thông diệp của Ngài lại thiết yếu hơn như trong thời đại của thế giới bom nguyên tử, khinh khí ngày nay. Hai ngàn năm trăm năm qua đã tăng thêm sanh khí và chân lý của thông diệp này. Chúng ta hãy nhớ lại bức thông diệp bất diệt này và hãy cố gắng thi triển tư tưởng và hành động của chúng ta trong ánh sáng giáo lý của Ngài. Có thể chúng ta phải bình thản đương đầu cả đến với những khủng khiếp của thời đại nguyên tử và góp phần nhỏ trong việc khuyến khích nghĩ đúng (Chánh tư duy) và hành động đúng (Chánh nghiệp). Như vậy, sự hiện diện của đức Phật và giáo lý của Ngài trên trái đất này là không thể phủ định được.
Thế nhưng, sẽ không ít người ngạc nhiên, chới với khi biết cách đây hơn 25 thế kỷ về trước Ngài đã phủ định tất cả cái mà ngày nay nhân loại, cảm kích và xem đó như là chân lý, là con đường dẫn đi đến chân trời bình yên.
Có nhiều vấn đề, nhiều lãnh vực liên quan đến đề tài. Tuy nhiên, trong tiểu luận này Người viết xin trình bày những tính cách phá trừ vọng chấp trong kinh lăng già, với những hiểu biết nông cạn của mình không sao tránh khỏi những thiếu sót, kính mong những bậc thiện tri thức bổ túc thêm những gì còn thiếu sót. Người viết xin thành kính tri ân.
II. NỘI DUNG:
1. giới thiệu kinh:
1.1. Giải thích đề mục kinh lăng già:
Một thứ khoáng vật tánh chất cứng chắc và sắc bén. Nó có công năng phá tan tất cả các vật khác mà không bị vật nào phá tan được. Tánh chất sắc bén cứng chắc ấy sẵn có của nó, chẳng phải do một vật nào khác tạo thành, hay do một thứ nào rèn nên. Nên mượn nó làm tỉ dụ “ Trí tuệ sẵn có của chúng sanh”. Từ vô thỉ đến nay ai ai cũng đồng có trí tuệ đó, khi chứng quả Thánh nó không thêm, lúc còn ở địa vị phàm phu nó không bớt, cũng không bị vô minh làm mờ tối, trái lại còn phá tan vô minh như gió thổi mây tan, nắng tiêu sương mốc. Tuy là tịch chiếu như như, mà không phải tịch, không phải chiếu, mà hằng tịch hằng chiếu.
Theo Ấn Độ giáo lăng già là tầm sét của Thần Indra (Đế Thích) nhưng các nhà Ấn Độ học hiện nay cho rằng lăng già biểu trưng cho mặt trời, đồng thời cũng biểu trưng cho cái gì rắn chắc nhất, không thể hủy hoại được. lăng già là một trong bảy loại báu, thường được nói tới trong kinh Phật. Phật giáo Mật tông lăng già với trí tuệ có sức mạnh chế ngự vọng tưởng và ma quỷ, thường quấy rối người tu hành. Kim Cương theo Trần Nhân Tông trong Cư Trần Lạc Đạo phú cho rằng: “kinh lăng già thường ví với chân như hay Phật tính: Đứt trừ nhân ngã, thì thật tướng lăng già”.
KINH là những lời giảng dạy của Đức Phật góp lại thành bộ, Kinh là Khế kinh tức là khế lý và khế cơ. Tất cả những kinh Phật đều phải đủ hai nghĩa khế lý, khế cơ, nghĩa là vừa hợp chân lý vừa hợp căn cơ người. Thiếu một trong hai đều kể trên thì chưa được gọi là kinh được, vì chủ yếu của đạo Phật cốt giáo hóa chúng sanh giác ngộ, thấy được lẽ thật (đúng chân lý) và chúng sanh tin nhận được (hợp căn cơ). Khế cơ và khế lý còn có thể hiểu là tùy duyên bất biến. Kinh Phật nói ngàn đời cũng không sai, đó là bất biến: nhưng vào mỗi thời theo căn cơ mà nói, hoặc thấp hoặc cao đó là tùy duyên.
1.2. Giới thiệu sơ lược về Lục Chủng Thành Tựu và Duyên khởi thuyết kinh:
“Tôi nghe như vầy: Một hôm đức Phật ở nước Xá Vệ (Sravasti) tại rừng Kỳ Đà (Jeta) trong vườn Cấp Cô Độc cùng với chúng đại Tỳ kheo là một ngàn hai trăm năm mươi vị. Khi ấy gần đến giờ thọ trai, đức Thế Tôn đắp y mang bát vào thành Xá Vệ khất thực. Trong thành ấy, Ngài theo thứ lớp khất thực xong, trở về nơi chúng ở. Thọ trai rồi, Ngài dẹp y bát, rửa chân, trải tọa ngồi”.
Thông suốt bộ kinh lăng già qua các chuyển biến tâm lý và tư duy của thánh chúng trong kinh theo một chiều hướng nhất quán không rời rạc. hay cắt xén. Mà kinh Kim Cang đi vào các lập luận uẩn khuất. Vừa phủ định vừa khẳng định khiến cho người đọc ngỡ là lập luận mơ hồ.
Phật nói kinh này để chỉ rõ trong mỗi chúng sanh đều có sẵn đủ bản thể Kim Cang Bát Nhã. Cái diệu dụng của kinh lăng già là làm cho hành giả tu lục độ vạn hạnh, mà không trụ chấp các tướng. Người ngộ được kinh lăng già rồi thì đối với các pháp và mọi việc đều thông suốt vô ngại, những việc làm hàng ngày đều là Phật pháp, tâm bình thường đó cũng là Phật pháp cho đến đi, đứng, nằm, ngồi,…cũng đều là Phật pháp.
Theo thông lệ, trong các kinh Đại thừa đều có nói đến lục chủng chứng tín hay lục chủng thành tựu. Đây là sáu điều kiện để xác chứng niềm tin cho người nghe (lục chủng chứng tín), hoặc sáu điều kiện để thành tựu niềm tin (lục chủng thành tựu). Chúng ta sẽ lần lượt khảo sát sáu điều kiện này trong đoạn kinh đã dẫn ở trên.
“Như thị ngã văn”: thường được dịch “Tôi nghe như vầy”. Thực ra, từ “như vầy” của tiếng Việt không lột tả được hết ý nghĩa của từ chữ Hán “như thị”. Nghe với trạng thái “như thị” nghĩa là không có người nghe và đối tượng nghe, nhưng lại có cái biết chiếu diệu hư minh để thể hội chỗ yếu lý, yếu chỉ của kinh. Cái nghe đó chính là văn thành tựu. Phải nghe trong trạng thái như thị mới khế hợp với pháp như thị, là pháp vượt thoát tất cả mọi khái niệm ngôn ngữ, tất cả tư lự phân biệt. Pháp đó chính là pháp tánh, là vi diệu pháp, là trung đạo đế, đệ nhất nghĩa đế, mà chúng ta không thể dùng tình thức để hiểu. Pháp như thị đó, chính là pháp thành tựu.
“Một thời...”: Vì sao không để thời gian cụ thể ngày tháng năm nào, mà chỉ để một cách chung chung như vậy? - Chúng ta đã biết, giờ giấc ở nước này không giống ở nước khác do đặc điểm địa dư, ngày tháng dương lịch cũng khác với ngày tháng âm lịch; nên nếu đưa ra thời gian cụ thể tại Ấn Độ nơi Phật thuyết pháp, thì khi bản kinh được truyền qua các nước khác, giờ giấc sẽ bị sai lệch. Một lý do quan trọng hơn, thường từ ngữ được sử dụng trong kinh chứa đựng một triết lý rất sâu xa. Thời gian không cố định, trôi chảy như một dòng sông, thời gian là một ý niệm do vọng tưởng sinh ra nên nó không có thực thể. Do vậy, sự quy định về ngày tháng, về ba thời quá khứ, hiện tại, vị lai cũng là ảo tưởng. Trong kinh chỉ ghi “Một thời...” là để đánh bạt tất cả mọi ý niệm về thời gian, để siêu vượt được thời gian. Thời ở đây, chính là thời thành tựu.
“Đức Thế Tôn”: Dịch từ tiếng Phạn “Bà Già Bà”; có lúc gọi là Bà Già Phạm, Bạc A Phạm, Bạc Già Phạm. Thế Tôn là một trong mười hiệu của các vị Phật (Như Lai - Ứng Cúng - Chánh Biến Tri - Minh Hạnh Túc - Thiện Thệ - Thế Gian Giải - Vô thượng sĩ - Điều Ngự Trượng Phu - Thiên Nhân Sư - Phật Thế Tôn). Đức Phật là chủ pháp hội, là người đề xướng và nói lên tinh thần kinh lăng già này. Ngài là bậc toàn giác, đã chứng triệt Kim Cang, nên mới có thể nói Kinh lăng già. Nói cách khác, Phật đã “tâm thông nên thuyết thông”. Tuy nhiên, Ngài không có ý niệm mình là người nói pháp, và các vị trong pháp hội là những người nghe pháp; bởi vì nếu có ý niệm đó, Ngài đã chấp vào tứ tướng, không phải là Phật nữa. Không có người nói pháp và không có đối tượng nghe pháp mới là chủ thành tựu.
“...nhập vào thần thông Đại quang minh tạng, Tam muội chánh thọ, là nơi tất cả Đức Như Lai Quang Nghiêm trụ trì”: Đây là ngôn ngữ của Ấn Độ, nghe rất khó hiểu. Thần thông là gì? - Kinh A Hàm mô tả thần thông là đi xuyên vách xuyên đá, thăng thiên độn thổ..., và mọi người thường cũng hiểu như thế. Nhưng ở đây, thần thông diễn tả sự tự tại vô ngại. Đức Phật nhập vào thần thông Đại quang minh tạng, nghĩa là trí huệ lưu xuất từ tự tâm lăng già của đức Phật trùm khắp pháp giới. Thần thông và trí huệ lấy Như Lai tạng làm thể, tức lấy tâm Viên Giác làm thể. Cho nên, chữ “tạng” kèm theo có nghĩa là cái kho, từ đó thần thông và trí huệ được lưu xuất. “Tam muội” là chánh định, “chánh thọ” cũng là chánh định. Chánh định của Phật là đại định, tức là đi đứng nằm ngồi đều ở trong định. Chánh định này cũng là nơi quang nghiêm trụ trì của tất cả Như Lai. Quang nghiêm trụ trì là gì? . - “Quang” là hào quang, tượng trưng cho trí huệ; “Nghiêm”là trang nghiêm; “Trụ trì” là an trụ nơi tự tánh Viên Giác để giữ gìn tự tánh đó. Chỉ khi nào có trí huệ mới an trụ và giữ gìn được lăng già. Không chỉ riêng Phật Thích Ca mới nhập vào chánh định này, mà cả mười phương chư Phật ba đời cũng đều ở trong định ấy. Điều này nói lên sự bình đẳng của chư Phật, khi đã thành tựu Phật quả.
Nhưng nếu nói chánh định chỉ có ở chư Phật, vậy còn chúng sanh thì sao? - Trong kinh đã nói: “...cũng là giác địa thanh tịnh của tất cả chúng sanh”. Tất cả chúng sanh đều có cái Quang-minh đó, cái tánh lăng già đó, nhưng vì quên và xa rời tánh lăng già, nhập vào trần cảnh rồi tạo nghiệp và thọ khổ. Đức Phật đã xác chứng, tánh Kim Cang là bình đẳng giữa chư Phật và chúng sanh, dù chúng sanh luân hồi trong lục đạo thì tự tánh vẫn không bao giờ mất. Chúng ta cần tin tưởng điều này một cách kiên định thì mới vững tiến trên con đường giác ngộ và giải thoát.
“Ở cảnh giới này, thân tâm hằng vắng lặng, bổn tế bình đẳng viên mãn khắp mười phương”: Bổn tế là bờ mé khởi thủy ban đầu, nghĩa là chỗ cùng tột. Nếu thân tâm của chúng sanh đạt đến trạng thái như thị, thì thể tánh cũng tịch tịnh và bình đẳng đến tột cùng như chư Phật; chỗ này viên mãn khắp mười phương. Một hòn bọt đang trôi nổi trên biển, nếu cho cái tướng bọt đó là thật nó, thì nó xa rời biển cả; nhưng nếu nhận ra nó cũng có đủ tánh ướt như biển, thì trong khoảng sát-na, nó sẽ lấy biển làm tự thể. Chúng ta cũng vậy, chỉ là một hòn bọt trên biển chân như, với chánh báo và y báo như thế này; nhưng nếu chúng ta khéo nhận thì tự tánh lăng già cũng sẵn đủ ở chúng ta, bình đẳng cùng chư Phật, cho nên nói viên mãn mười phương. Chúng ta học Phật, tinh tấn tu hành, mỗi tâm niệm cũng chỉ để nhận lại cái tự tánh bản hữu của mình, mà mình đã mất đi khi khởi chấp thân tâm này là thật.
“... Tùy thuận cảnh giới bất nhị; và ở nơi cảnh bất nhị đó, hiển hiện các cõi Tịnh độ”: Thông thường ở các bản kinh khác, đều có đề cập đến chỗ nơi Phật thuyết kinh, gọi là xứ thành tựu. Trong kinh này, phần xứ thành tựu lại nói đến một nơi chốn rất kỳ lạ, không thể xác định cụ thể ở đâu trong cõi Ta Bà này: Đức Phật khi ở trong chánh định, Ngài tùy thuận cảnh giới bất nhị, và từ cảnh bất nhị này hiện ra các cõi Tịnh độ. Như vậy, xứ thành tựu ở đây là cõi Tịnh độ. Nhưng vì sao chỉ khi ở trong bất nhị mới có thể an trú nơi Tịnh độ? - Rõ ràng Tịnh độ này là Tịnh độ của tự tâm, Tịnh độ ở tại đây và bây giờ. Chỉ khi nào chúng ta an trú vững chãi trong bất nhị pháp môn, nghĩa là tâm chúng ta không còn ở trong trạng thái lưỡng phân nhị nguyên, không còn phân biệt thiện ác, hơn thua...; thì lúc đó, dù đi đứng nằm ngồi hay nói nín động tịnh, ngay mảnh đất Ta Bà này tức khắc trở thành Tịnh độ. Tất cả sắc là sắc Phật, tất cả tiếng là tiếng Phật.
Khi nói kinh lăng già, Phật ở trong trạng thái bất nhị, hiển hiện lên các cõi Tịnh độ. Nếu chúng ta cũng trong trạng thái đó, thì vọng tưởng làm sao có chỗ nảy sinh? Đầu mối của vọng tưởng là lưỡng phân, là nhị nguyên phân biệt; nếu không kẹt hai bên thì vọng tưởng không còn nơi nào gá vào, thấy - nghe - hay - biết đều ở trong Tịnh độ. Như vậy, cõi Tịnh độ này là thế giới mang tính chủ quan. Chỉ có những người đã giác ngộ mới thể nhập được. Đối với các vị ấy, tất cả pháp đều là Phật pháp, cõi Tịnh độ là từ tâm hiện. Đây chính là xứ thành tựu.
“... Cùng với hàng Đại Bồ tát gồm cả thảy mười muôn người cùng nhau câu hội”: Chúng hội trong buổi thuyết pháp này là các hàng Đại Bồ tát, gồm tất cả mười muôn người. Bồ tát thường có hai nghĩa: là một hữu tình chúng sanh đã giác ngộ (Hữu tình giác); sau đó làm lợi ích cho chúng sanh để đạt được công hạnh viên mãn (Giác hữu tình). Các vị Đại Bồ tát trong pháp hội này là những Bồ tát tin được pháp lớn, hiểu được nghĩa lớn, phát tâm lớn, hướng đến quả vị lớn, tu hạnh lớn và chứng được đạo lớn. Các vị muốn triệt chứng lăng già đồng đẳng với Phật và muốn đạt đến quả vị Phật mới thôi, không bao giờ chịu ngừng ở Hóa-thành mà phải đến Bảo-sở. Đây là chúng thành tựu.
2. Hàng phục tâm – An trụ tâm:
“Hàng phục vọng tâm” và “An trụ chơn tâm” là vấn đề khó nhất. Nhưng đó là cái đạo lý cốt yếu từ địa vị gieo nhơn giác ngộ đến địa vị đắc quả giác ngộ. Ý chỉ này cũng đồng với ý chỉ trong kinh Pháp Hoa nói: Phật chỉ vì một đại sự nhân duyên lớn mà ra đời, để khai thị chúng sanh ngộ nhập “Tri Kiến Phật” vậy.
Bồ tát chỉ nên như lời dạy mà trụ. Như vậy, muốn trụ tâm chúng ta phải buông xả đừng dính với sáu trần. Muốn hàng phục tâm phải đưa vọng niệm vào chỗ vô sanh.
Chủ yếu kinh lăng già nằm trong hai câu hỏi của Tu Bồ Đề và hai câu trả lời của Phật về “hàng phục tâm” và “an trú tâm”. Nhưng nếu phân tích thì đoạn hàng phục tâm lấy việc độ sanh vào Vô dư Niết-bàn mà không thấy chúng sanh đắc độ làm chính, đây có phần chú trọng lý vô ngã, phá trừ ngã chấp. Đến đoạn an trú tâm lại lấy việc bố thí không trú tướng làm chính, đây có phần chú trọng lý vô pháp, phá trừ pháp chấp.
Kinh lăng già là kinh mà đức Phật dạy về pháp môn để “hàng phục vọng tâm và an trụ chơn tâm” cho những ai phát bồ đề tâm. Nhưng, phát bồ đề tâm là gì? Một cách đơn giản, phát bồ đề tâm là hưng phát, trưởng dưỡng và thành thục viên mãn tâm bồ đề, tâm giác ngộ, tâm chơn như cho tất cả chúng sanh và mình. Vì khởi niệm phân biệt, phan duyên theo trần cảnh, vọng chấp ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả và các pháp cho là thật có; từ đó, mang lục căn dong ruổi theo lục trần để khởi động lục thức, tạo nghiệp nhân, thọ nghiệp quả, luân chuyển trong lục đạo tứ sanh, quên mất cả đường đi lối về. Mê lộ do đây mà mịt mù không nẻo thoát; tử sinh vì vậy mà quanh quẩn không cùng. Tuy nhiên, dù vọng tướng có sinh diệt đảo điên, song chân tánh vẫn bất tăng bất giảm. Vấn đề là ở chỗ bằng cách nào để trừ vọng quy chơn. Vọng là gì? Chơn là gì? Có thể tạm đặt vai vế cho cả hai để dễ thấu hiểu vấn đề. Trong chiều hướng ấy, chúng ta có thể gọi vọng là khách, chơn là chủ. Khách thì lúc đến lúc đi, lúc không lúc có, không giữ phần tự chủ, tự tại. Chủ thì hiện hữu thường trụ, tự chủ tự tại. Vậy trong chúng sanh, cái gì là vọng, cái gì là chơn? Cái gì sanh diệt, vô thường là vọng, cái gì thường trụ bất biến là chơn. Nếu cứ theo nghĩa này mà luận thì tất cả mọi cái trong chúng sanh từ tâm đến thân, từ trong ra ngoài thảy đều là vọng, vì mọi thứ đều sanh diệt, vô thường. Bởi thế cái ngũ uẩn giả hợp ấy mới được gọi là chúng sanh! Cho nên, chúng sanh là vọng. Vì lẽ ấy, hàng phục vọng tâm chính là hàng phục tâm chúng sanh. Mà muốn hàng phục vọng tâm thì như Phật dạy: “Phật bảo Tu Bồ Đề, các vị Bồ-tát lớn nên như thế mà hàng phục tâm kia. Có tất cả các loại chúng sanh hoặc loài sanh bằng trứng, hoặc loài sanh bằng thai, hoặc loài sanh chỗ ẩm ướt, hoặc hóa sanh, hoặc có hình sắc, hoặc không hình sắc, hoặc có tưởng, hoặc chẳng có tưởng, hoặc chẳng không tưởng, ta đều khiến vào Vô dư Niết-bàn mà được diệt độ đó.”
Độ vào chỗ tịch diệt chính là khi niệm chúng sanh, niệm phân biệt, vọng niệm khởi lên thì lập tức hàng phục bằng cách, vừa trực nhận một cách tỉnh giác rằng đây là những vọng niệm sanh diệt không thực hữu, vừa buông xả không chấp thủ để chúng tự lắng xuống chỗ tịch diệt. Khi niệm chúng sanh đã lắng xuống, tâm thức trở lại trạng thái linh diệu rỗng suốt và bao la không giới hạn, đó chính là chơn tâm. Nhưng vấn đề là làm cách nào để an trụ chơn tâm một cách thật sự? Đây chính là nội dung cốt lõi của kinh Kim Cang mà đức Phật đã khai thị. Đức Phật dạy: “Các Bồ-tát lớn nên như thế mà sanh tâm thanh tịnh, không nên trụ nơi sắc sanh tâm, không nên trụ hương vị xúc pháp sanh tâm, nên không có chỗ trụ mà sanh tâm kia”. Lục căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý) giống như sáu cánh cửa của căn nhà ngũ uẩn giả hợp, để qua đó, vọng thức săn đuổi, đắm trước theo lục trần, sắc, thanh, hương, vị, xúc và pháp. Vọng thức trụ ở đâu thì tâm chúng sanh bị trói buộc ở đó. Sự trói buộc của tâm là chất liệu kiên cố để kiến tạo tòa nhà ngã và pháp chấp vững bền, rồi từ đó, khuấy động ba nghiệp thân, khẩu, ý tạo nhân, thọ quả tiếp nối sự luân chuyển trong tam giới lục đạo. Chính vì vậy, hàng phục vọng tâm rồi, cần phải giải thoát sự trói buộc của tâm vào thế giới hệ lụy của căn, trần và thức để chơn tâm hiện bày trọn vẹn. Không trụ tâm tức là cách nói khác của vô tâm. Vô tâm là gì? Vô tâm là tâm ở trạng thái rỗng suốt không bị trói buộc bởi bất cứ pháp nào, là tâm không quái ngại vì không chấp trước không thủ trước bất cứ vật gì, là tâm thênh thang không dừng trụ ở bất cứ thời và không gian nào. Nhưng nói như vậy thì cũng còn chưa thật sự vén mở được hết những ẩn khuất bên trong. Thật ra, buộc trói hay mở ra, thủ trước hay buông xả, cõi giới hạn hay vô hạn của thời và không gian, tất cả đều thuộc về thế giới của vọng tâm, của tâm chúng sanh, không phải vô tâm, vì vô tâm chỉ là cách nói của hữu tâm để diễn bày về cảnh giới thực chứng mà ở đó tâm chúng sanh đã rũ sạch mọi triền phược. Tâm rũ sạch mọi trần cấu, mọi triền phược thì tâm ấy không còn là tâm chúng sanh nữa mà là chơn tâm. Xin hãy nghe lại bài kệ của Thiền sư Hương Hải nói về diệu dụng của “vô tâm” trong phương thức an trụ chơn tâm:
“Tầm ngưu tu phỏng tích
Học đạo quý vô tâm
Tích tại ngưu hoàn tại
Vô tâm đạo dị tầm”.
Từ pháp môn hàng phục tâm chúng sanh bằng cách độ tận vọng niệm vào cõi tịch diệt đến pháp môn an trụ chơn tâm bằng cách ứng xử vô tâm để viễn ly hệ lụy của căn, trần và thức, cả hai đều phải nhờ đến một diệu lực nhiệm mầu mà nếu không có diệu lực ấy thì không thể đạt thành cứu cánh, diệu lực ấy chính là trí tuệ bát nhã. Tại sao phải cần đến trí tuệ Bát Nhã để hàng phục tâm chúng sanh và an trụ chơn tâm.
Trong cả hai phương thức để hàng phục vọng tâm và an trụ chơn tâm, hành giả đều phải buông xả tất cả vọng chấp về ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả và các pháp như là những thực thể hiện hữu. Khi nào còn một mảy may ý niệm cố chấp về sự thực hữu của ngã và pháp thì vọng tâm điên đảo vẫn còn khởi động, do đó, không thể ngộ chứng và an trú được chơn tâm. Muốn buông xả các vọng chấp ngã và pháp thì hành giả nhất định phải vận dụng đến trí tuệ Bát Nhã để quán nghiệm và hàng phục.
2.1. Phá chấp về Phật, Như Lai, Niết bàn:
Trước hết là việc thọ ký, đức Phật hỏi: “Tu Bồ Đề! về quá khứ đối với trước Phật Nhiên Đăng, ta có: “Đắc pháp” không?”. Tu Bồ Đề thưa: “Bạch Thế Tôn! Đức Như Lai thật không có “đắc pháp” gì cả”. Để xác chứng điều đó và chỉ rõ hơn ở mục thứ 46 Phật dạy: “Đúng như vậy, Như Lai không có đắc pháp gì cả. Nếu Như Lai có đắc pháp thì Phật Nhiên Đăng không thọ ký cho ta rằng về sau ông sẽ thành Phật hiệu là Thích Ca Mâu Ni”.
Thế nhưng ở đây, Phật dùng Trí tuệ lăng già phá cái chấp “Phật có đắc pháp”. Nếu Như Lai còn thấy có Phật Nhiên Đăng thọ ký là còn chấp nhận có pháp Bồ đề để chứng đắc là chấp pháp và mình được thọ ký, đắc pháp Bồ đề là chấp ngã là như thế thì không phải là Phật là Như Lai nữa. lăng già trí phá trừ hết các mây, vô minh, vọng chấp, nhơn ngã v.v… và làm hiển lộ mặt trời Bát Nhã Chơn Không (Chơn Như- Phật tính).
Vì hạt giống vô lậu của mỗi chúng sanh đều có. Mọi chúng sanh đều có tiếng nói huyền diệu và oai đức tự tại ở nơi chính mình “Bản tâm thanh tịnh” của mình. Phật tính, Bát nhã trí hay giác tính sẳn đủ nơi chúng sanh. Vì thế mà trong chương thứ 20 kinh Pháp Hoa. Thường Bất Khinh Bồ tát thường xướng rằng; “Tôi chẳng dám khinh quý Ngài, quý Ngài đều sẽ thành Phật”. Thật vậy, ngay cả Đề Bà Đạt Đa chuyên hành nghịch pháp chướng đạo Bồ đề cũng được thọ ký thành Phật. Hay ngay cả Long Nữ, vừa mang thân nữ, “hữu ngũ lậu”, vừa là phi nhân (rồng), vừa là tiểu nữ (8 tuổi) lại cũng chính là Phật. Những biểu tượng như “Ngọc trong chéo áo gã cùng tử” “Sen trong lò lửa” “lửa trong cây” “Gia trung hữu bảo” tất cả nhằm biểu đạt giác tính viên minh hằng hữu nơi mỗi chúng sanh. Do vậy, “Vô tướng pháp thân không là nam, là nữ, chỉ cần một niệm tương ủng tự khắc viên thành đạo quả đầy đủ y báo chánh báo, thị hiện trang nghiêm, Phật tánh bình đẳng không phân biệt loài nào, hạng nào, nam hay nữ, thông minh học nhiều chữ nghĩa hay mê muội. Nếu một khi đã nhận ra “tự tánh nhiệm mầu” vô thỉ vô chung ở nơi mình, sống hợp tánh ây, thì ngay lúc đó sẽ đạt thành đạo quả. Nếu đem ngọc báu hay thanh tịnh tâm vốn sẳ cò dâng cho Phật. Hay nói cách khác là hướng về “Thể tánh chân thường” thì ngay lúc đó tự nhận ra được “Bổn lai diện mục” của chính mình”.
Ý niệm về “chân tâm” như là bản nguyên của vạn hữu và ý niệm về “Như lai tạng” trong kinh Lăng Già, thể “tự tâm tròn sáng” trong kinh Viên Giác, “Phật tri kiến”,“Phật tính” hay “nhất thừa” trong kinh Pháp Hoa,“chơn tâm minh diệu” trong kinh Lăng Nghiêm,“Pháp giới viên dung” trong Hoa Nghiêm, “Phật tính thường trú” trong kinh Niết Bàn, “lăng già Trí” hay “Không tánh” trong kinh Bát Nhã. Tất cả đều nhằm hướng chúng sanh quay về với phần sẵn có nơi mình, đó là tâm ấn của Chư Phật.
Trong “Nẻo thiền học”, Thiền sư Nhất Hạnh viết “Tâm ấn của chư Phật là việc thực hiện, toàn bích như thái hư, không thiếu không dư, không có chổ sanh diệt, không viễn ly cũng không bất viễn ly, vì vọng duyên giả lập mà gọi vậy”. Vậy tâm ấn là vật có sẵn nơi mọi người, không ai cần trao cho ai, không cần chiếm đoạt, không sợ mất cấp, không phải là một với hiện tượng sinh hoạt. Thánh phàm đều có cả, đầy đủ chẳng tăng chẳng giảm “Chẳng tăng chẳng giảm là vì tâm vọng thấy cảnh cảng vọng nên thấy có Phật có chúng sanh, có Thánh phàm, có thông minh, có đần độn, có trí tuệ, có ngu si, có trong có đục, có sạch có dơ, tự có phân chia cao thấp hơn kém, do đó nói có tăng có giảm. Nương thể Bát Nhã chiếu soi vắng lặng hiện nên chẳng khởi tưởng sanh thì thể chiếu soi lắng sâu, rộng lớn không bờ mé”.
Được trao truyền Tâm ấn thì cũng có nghĩa tương đương với kiến tính, nghĩa là thấy được bản tính của tự thân mình, bản tính này, tâm ấn kia, có khi gọi là pháp thân hoặc chân như, hoặc Phật tính.
Để giúp cho đại chúng hội nhập lý ấy, Phật dạy thêm: “Tu Bồ Đề! Có người nói “Như Lai đặng quả Bồ Đề”. Thật ra, Như Lai là bản thể như như các pháp, nên Như Lai không đặng pháp gì cả. Tu Bồ Đề! Như Lai đặng đạo quả Bồ Đề không phải hư không phải thực. Nếu hiểu được phẩm Như Lai thọ lượng ở kinh Pháp Hoa ta sẽ thấy thêm nghĩa Như Lai ở kinh Bát Nhã này: “Như Lai giả, vô sở tùng lai diệc vô sở khứ, Như Lai là bản thể chân như, bất tăng bất giảm, bất sanh bất diệt. Đến không chổ từ, đi không chổ tới. Như Lai vô thủy vô chung, hiểu như vậy rồi, thì Như Lai hiện tại hay Như Lai thời Phật Nhiên Đăng xa xưa, cũng chẳng có gì gọi là chứng đắc. Hiểu đúng chánh pháp, qua lăng già, từ bạc địa phám phu, tiến lên quả vị Phật, trải qua giai đoạn biến dịch sanh tử bất tư nghì, hãy còn không được gọi là chúng đắc huống hồ địa vị một Như Lai”.
Tỏ ngộ “Bổn nguyên tự tánh thiên chơn Phật” này thì “Một nhảy liền vào đất Như Lai”. Liền “tức tâm tức Phật” Như Long Nữ, ngộ lý cùng tột, mới ba tuổi đã tức khắc chứng quả vô thượng Bồ Đề. Như lời Huyền Giác nói “Thể tức vô sanh, liểu bổn vô tốc”. Như vậy, Huyền giác đã biết được tánh vốn không sanh diệt, vượt lên cả không gian thời gian, làm gì có mau chóng”.
Như Lai vốn như thế, vốn không có thọ ký hay chứng đắc thì làm gì có quá trình tu tập, độ sanh, thuyết pháp, hay nhập Niết bàn. Tổ Bồ Đề Đạt Ma viết: “Người thượng trí chiếu suốt vắng bặt hoàn toàn, rõ tâm là Phật, chẳng đem tâm để được Phật trí. Biết ba thân Phật cùng vạn pháp đều chẳng thể nói được. Đây là tâm giải thoát thành đại. Nếu bày ý rốt ráo này, trong khế kinh có nói: “Phật chẳng thuyết pháp, chẳng độ sanh, chẳng chứng Bồ Đề”. Do đó ở mục 32 Phật dạy: “Tu Bồ Đề! Như Lai nói người nhẫn nhục Ba La Mật mà không thấy mình nhẫn nhục Ba la mật như thế là Nhẫn nhục Ba la mật”.
Lại nữa Bồ tát không chấp nơi bố thí, độ sanh, trang nghiêm thành cõi Phật nên cũng không chấp chứng đắc đạo quả: “Tu Bồ Đề! Như Lai không có một tí gì gọi là đặng đạo quả vô thượng Bồ đề”. Đã không chứng đạo tất không thuyết pháp, giảng đạo “Nếu có người nào không hiểu lời của Phật dạy lại nói rằng: “Như Lai có thuyết pháp” thì người ấy khinh báng Phật.
Vì pháp này bình đẳng không có cao thấp, không ngã, không nhơn, không chúng sanh, không thọ giả, tạm gọi đó là đạo vô thượng Bồ Đề thì làm sao thuyết Đạo bổn vô ngôn: “Thuyết pháp tức là không có pháp gì có thể nói được, mới gọi là thuyết pháp”. Như trong Kinh Niết Bàn nói: “Trong 49 năm ta chưa từng nói một lời nào”.
Do nơi không có quá trình tu tập, chứng đắc đạo quả thành Phật thì đâu có cõi Phật (Niết Bàn) để mà trang nghiêm. “Bồ tát làm trang nghiêm cõi Phật, mà không chấp mình có làm trang nghiêm cõi Phật, mới thật là trang nghiêm cõi Phật”.
Lục Tổ bàn về Niết Bàn: “Trong sát na không có tướng sanh, không có tướng diệt, mà cũng chẳng có sự sanh diệt nào phải diệt đi cả. Đó là cái hiện tiền tuyệt đối, không hạn cuộc bởi một ranh giới nào, nên lúc nào cũng vui”.
Xưa nay có biết bao nhiêu định nghĩa về Niết Bàn nhưng tất cả đều không lột tả được ý nghĩa đích thực của nó. Tổ Bồ Đề Đạt Ma đưa ra một lối nhìn đơn giản: “Chẳng khởi cọng tưởng là Niết Bàn”. “Chỗ không phiền não là Niết Bàn”, “Chỗ không tâm tướng là đáo bỉ ngạn”.
Rồi Ngài cũng chỉ ra: vì hàng tiểu thừa cố hướng đến Niết Bàn, cố dứt trừ phiền não nên tự chướng ngại mình. “Vì người tiểu vọng đoạn phiền não, vọng nhập Niết Bàn, nên bị Niết Bàn làm trệ ngại”. Do vậy: “Bồ tát biết tính phiền não là không bèn chẳng rời lìa không nên thường ở tại Niết Bàn”. Niết Bàn là dụng xứ của chơn tâm hay cũng chính là chơn tâm vậy: “Xuất ly sanh tử, xuất Bát Niết Bàn, tâm không khứ lai là nhập đại Niết Bàn”, rồi Ngài kết: “Thế nên biết rằng Niết Bàn là tâm không vậy”.
Với sự suy nghĩ, phân biệt hay ngôn ngữ thế gian, ta càng bàn về Niết Bàn càng giống rùa giúp cá hiểu “Đất khô là gì?”. Theo Ngài Tông Cảo Thiền Sư đã chọn con đường cho những ai muốn hội nhập vào “cảnh giới Phật”; “muốn biết cảnh giới Phật, phải tịnh cái ý của mình như hư không. Viễn ly vọng tưởng và các điều chấp trước, khiến cho các chổ tâm hướng về đều vô ngại. Cảnh giới Phật không phải là cảnh giới bên ngoài có tướng Phật, đó là cái cảnh giới tự giác Thánh trí vậy. Muốn biết cảnh giới này, không nhờ trang nghiêm tu chứng mà được. Phải tịnh nhiễm của khách trần phiền não trong ý căn từ thời vô thỉ tới giờ. Cái Tâm phải bao la như hư không, lìa xa các chấp thủ của ý thức. Tất cả cái vọng tưởng hư ngụy cũng như hư không. Tu tập như vậy ắt cái cái diệu tâm vô dụng công tự nhiên phản ứng với tất cả điều thiện mà không bị trở ngại”.
Thật tướng của các pháp là Niết Bàn: “Các pháp từ trước đến nay đều là tướng tịch diệt, đó là Niết Bàn”. Ở đây hai cửa “Hữu” và “Vô” không phải là cửa đi đến Niết Bàn, mọi xác định đều bị phủ nhận, để từ đó mở ra một con đường rộng thênh thang không trói buộc. Hành giả “lăng già” không chỗ được, không chỗ đến, không chỗ đoạn trừ, chẳng có pháp gì để phân biệt, chẳng sanh chẳng diệt, cho nên kinh dạy: Niết Bàn chẳng phải có chẳng phải không “Như Lai đặng đạo Bồ Đề không phải hư không phải thật”. Tất cả các pháp chẳng chấp nên trong tịch diệt gọi đó là Niết Bàn.
Nếu có một Niết Bàn nào để mắt, chúng ta nhận thấy là có, thì Niết Bàn ấy cũng chỉ là “Tướng lão tử”. Niết Bàn là có thì Niết Bàn này thuộc vào tướng hữu vi nhân duyên sinh diệt chứ không phải chơn thường. Nếu Niết Bàn là thật có thì tại sao đức Phật bảo “Niết Bàn là không chấp (vô thọ ?). Đã không chấp thì cho dù pháp đó là pháp gì đi nữa thì cũng không thể hiện hữu ở đây được”. Nhưng Phật dạy: Không chấp là Niết Bàn và không có chấp nào là pháp Vô cả. Cho nên, Niết Bàn không thể gọi là Vô được. Như vậy Niết Bàn là chẳng phải có, chẳng phải không, chẳng phải chẳng có, chẳng phải chẳng không. Đây không phải là chỗ suy lường được.
2.2. Phá chấp về Thánh phàm, Thế giới, Chúng sanh, Phiền não:
Phật lại hỏi: Tu Bồ Đề! Nếu vị Tu Đà Hoàn (Tư Đà Hàm, A Na Hàm, A La Hán) nghĩ rằng: Tôi đã đặng quả Tu Đà Hoàn (cho đến quả A La Hán), nghĩ như thế có được không?”.
Tu Bồ Đề thưa: “ Bạch Thế Tôn! Không thể được, Tại sao vậy ? Vì A La Hán phải không còn thấy mình có chứng đắc quả A La Hán. Nếu thấy mình chứng quả A La Hán tức là còn dính mắc về bốn tướng: Ngã, nhơn, chúng sanh và thọ giả, thì không phải thật chứng A La Hán. Bạch Thế Tôn! Cũng như con đây, vì con không còn chấp mình có tu chứng, nên mới được Như Lai chứng nhận: “Tu Bồ Đề đã đặng pháp Tam muội vô tránh, Tu Bồ Đề là người ưa tu hành tịch tịnh. Tu Bồ Đề là vị A La Hán ly dục thứ nhất. Trong chúng Tu Bồ Đề là hơn hết”.
Thật vậy: “ở trong tướng thật chân không, xưa nay vắng lặng, thì các pháp sanh diệt, nhơ sạch, tăng giảm đều chẳng thể được. Thế nên trong Không, không pháp thế gian, nghĩa là không có các pháp phàm phu sáu nhập, mười hai xứ, mười tám giới…Trong Không đã không pháp thế gian, thì có gì để che phủ, gì là khổ vui, lo sợ, gì là cầu pháp xuất thế gian. Do đó trong “Không”, không pháp quán mười hai nhân duyên của Duyên giác, không pháp bốn Thánh đế của Thanh Văn, không pháp sáu độ muôn hạnh, thượng cầu hạ hóa của Bồ Tát. Thế nên trong “Không”, xưa nay trong sạch vắng lặng, vốn không thấy phàm thánh, thiện ác, tịnh uế sai biệt”.
Theo Tuệ Trung Thượng Sĩ trong bài “Phàm Thánh bất dị” có viết: “Thân từ vô tướng xưa nay không, giả dối nên chia thành nhị kiến”. Ta người như móc cũng như sương, Phàm Thánh như sấm cũng như điện. Thế nên đâu biết:
“Ai Phàm chừ ai là Thánh,
Muôn kiếp kiếm tìm mất tánh căn”.
Vậy hết thảy Phàm Thánh toàn do vô vi biểu hiện khác biệt. Bốn đạo quả ấy cũng là Phi, cũng là biểu hiện của Như. Tùy theo thể của chân như hiển lộ nhiều hay ít, hoặc chưa hiển lộ mà có Thánh Phàm các quả cao thấp khác nhau.
Bởi vì trong tánh Bát Nhã chơn không thì ngã và pháp đều không, bốn tướng chẳng còn. Bốn tướng đã không, ngã chấp chẳng còn, thì đâu có gì là chúng sanh hay phi chúng sanh.
Như trong bài tụng của Ngài Phó Đại Sĩ viết:
“Chúng sanh dữ thọ giả
Uẩn thượng lập hư danh
Như qui mao bất thật
Tợ thố giác vô hình”
Trong các kinh điển Đại thừa cũng xác định tính cách hư dối của cái gọi là “Chúng sanh”. Đó là sự giả hợp của các yếu tố bốn đại, uẩn, xứ giới không chân thật.
“Tâm như người thợ vẽ, vẽ các thứ ngũ uẩn
Các pháp trong thế giới, không pháp gì chẳng tạo”.
Trong “Bát Nhã Tâm kinh”: “Quán Tự Tại Bồ Tát hành thâm Bát Nhã Ba La Mật Đa thời chiếu kiến ngũ uẩn giai không độ nhất thiết khổ ách”.
Con người do ngũ uẩn tạo thành, do năm uẩn này vốn là không nên chẳng sanh cũng chẳng diệt: “Chẳng sanh chẳng diệt nghĩa là cái thể Bát Nhã chiếu soi hiện tiền, liền tự biết bốn đại, năm uẩn, tất cả các pháp xưa nay chẳng sanh. Tại sao chẳng sanh? Vì năm uẩn vốn không nên chẳng sanh. Năm uẩn vốn không nên chẳng diệt. Giả tưởng bốn đại, năm uẩn cũng như hoa đốm trong hư không, nguyên không có thể tánh, nên chẳng sanh. Nó đã không sanh thì xưa nay vắng lặng tịch diệt. Chẳng phải xưa có nay không mà gọi là diệt. Bởi hoa đốm trong không là chất huyễn, đương thể tức không, có sanh diệt gì đâu để nói! Năm uẩn của chúng sanh, cũng như hoa đốm trong hư không, đương thể hư giả, hư giả tức là không, nên nói chẳng sanh diệt”.
Như vậy đã không chấp có chúng sanh thì không chấp có thật có thế giới và phiền não sanh tử. Vì không có chánh báo thì đâu có nghiệp dụng và y báo. Lại nữa Phật dạy: “Tu Bồ Đề! Như Lai nói các vi trần không phải là vi trần, chỉ tạm gọi là vi trần. Như Lai nói thế giới, không phải thật thế giới, chỉ tạm gọi là thế giới”.
Trong kinh Lăng Già có viết:
“Thế gian lìa sanh diệt
Ví như hoa hư không
Trí chẳng thấy có không
Mà khởi tâm đại bi”
Cõi nước của Phật tức là cõi nước của chúng sanh. những vị Bồ tát này hay chính chỗ nhật dụng của chúng sanh mà thông đạt cảnh giới Phật”.
Bởi vì “cảnh giới tùy tâm hiện” nên biết “Thế gian như hư không hoa, tất cả pháp như huyễn, thế gian hằng như mộng”. Hành giải Kim Cang hằng soi Bát Nhã để thấy:
Biết nhơn pháp vô ngã
Phiền não và sở trí
Thường thanh tịnh không tướng
Mà khởi tâm đại bi.
Do vậy: đối với mọi duyên, mọi cảnh không còn chướng ngại “phiền não tức bồ đề, sanh tử tức Niết Bàn”. Trong phẩm “Nhất thiết Phật Ngữ tâm” Phật dạy: “Lại nữa, Đại Huệ! Các Thanh văn sợ sanh tử vọng tưởng khổ mà cầu Niết Bàn. Chẳng biết sanh tử Niết Bàn sai biệt tất cả tánh, vọng tưởng phi tánh”.
Đây cũng là ý chỉ bày của Lục Tổ trong bài kệ:
Bồ Đề vốn không cây
Gương sáng cũng chẳng đài
Xưa nay không một vặt
Chỗ nào bám bụi trần.
Bài kệ bày chỗ “Vô tướng, vô tu, vô chứng” khác với bài kệ của Thần Tú là có tướng, có tu, có chứng. Thần Tú chỉ thấy dụng chứ chưa thấy thể, thấy tướng sai biệt chứ chưa thấy tánh không, thế nên mới phân biệt Bồ Đề, thân tâm, gương sáng, bụi trần… và tự vọng loạn khởi phiền não. Như Huệ Khả tự dấy bất an rồi đến cầu Bồ Đề Đạt Ma “an tâm” cho.
Do đó Tổ Bồ Đề Đạt Ma dạy: “Thật ra tham sân si cũng không thể tánh chơn thiệt. Chỉ y cứ nơi chúng sanh mà nói đó thôi. Nếu có thể phải chiếu thì thấy rõ tánh của tham sân si là Phật tánh. Ngoài tham sân si không có Phật tánh riêng”. Do vậy “Phiền não tức Bồ Đề”, “Sanh tử tức Niết Bàn”, “Chúng sanh tức Phật”.
3. Tinh thần phá chấp triệt để trong kinh lăng già:
Ngay từ khi mới thành đạo. Đức Phật đã quan sát chúng sanh, do dự cân nhắc chánh pháp này rất thậm thâm vi diệu bặt suy nghĩ, ngôn từ, nay hàng chúng sanh đầy chấp trước vọng tưởng mê muội làm sao có thể hội ngộ được pháp này. Chỉ có bậc thượng căn, thánh trí mới thâm nhập, tỏ được mà thôi. Rồi Ngài định nhập Niết bàn ngay. Vì sự cầu thỉnh “Và lòng từ bi, Ngài đã phương tiện tùy căn cơ mà thuyết pháp trong 49 năm để rồi cuối cùng Ngài đúc kết lại là “Ta chưa từng nói một lời nào”.
Và như vậy thuyết làm sao được ? “Pháp của Như Lai , không thể chấp thủ, nói năng không trúng, suy nghĩ chẳng nhằm, không phải chánh pháp, mà cũng chẳng phi pháp”. Dầu vậy, Ngài cũng chỉ bày phương tiện dể chúng sanh quay về nơi cội nguồn tâm cội tánh viên dung của mình. “Giáo pháp ta nói cũng như chiếc đò, đưa người qua sông, các ông không nên trụ chấp nơi giáo pháp”. Bởi vì ngôn ngữ thế gian không sao phô diễn được nghĩa của các pháp: “Thuyết pháp tức là không có pháp gì có thể là nói pháp chân thật. Như Lai nói thật, nói chơn chánh, không nói dối, không nói sai khác”.
Trong ba hình thức ngôn ngữ (ngôn ngữ phủ định, ngôn ngữ trực chỉ, ngôn ngữ biểu tượng) hình thức “ngôn ngữ phủ định” được dùng xuyên suốt trong Kinh lăng già. “Đại thừa không như phàm phu và Tiểu thừa thấy A vì A là A! Thấy có hay thấy không đều thấy theo cái ngã bản năng. Và chính vì thế mà tai họa cho cuộc đời, chính vì thế mà lý tưởng vị tha cũng thành ra vị kỷ. Đại thừa thấy A là phi A nên mới là A (sở thuyết…tức phi…thị danh) biến mọi hoạt động của bản năng thành mọi hoạt dụng của Đại Thừa. Thích ứng như vậy mới thật viên dung và viên mãn. Thích ứng như vậy mới là Bát Nhã của Kim Cương được hoạt dụng vào sự thích ứng. Thì sự thích ứng không những có, mà còn có một cách hoạt bát chứ không phải tha hóa, không phải tục hóa”.
Vậy lối phủ định ở đây không phải là từ chối, phủ nhận dồn hành giả vào chổ bí mà là phá chấp mở ra chân trời siêu việt mênh mang.
Theo phong cách ấy thì thấy cái gì cũng phi cả. Nhất là phi cả cái phi. Phi thì không vướng mắc vào đâu cả, nhất là vướng vào phóng đãng, phó khí tự nhiên, nhúc nhát, thoái chuyển, lệch hướng, phi làm cho tâm trí và tâm hồn rỗng thông như không gian mà không gian thì phong phú như hoa lá. Mình vơi cuộc đời phi tức mà tức cũng phi ly, siêu nhiên cũng như tục lụy đều không vướng mắc. Ở Kinh lăng già phi có cái ngữ khí trực chỉ: Phi là như thật tri kiến các pháp toàn là như. Nói giản dị: Phi là siêu việt: siêu việt khái niệm là diển tả. Sau này, Long Thọ lập ra Trung quán với bốn chẳng: Chẳng phải có, chẳng phải không, chẳng phải chẳng có, chẳng phải chẳng không và “Bát bất”: Bất sanh-diệt, bất thường-đoạn, nhất-nhị, lai-khứ để đi vào Trung đạo.
“Trung đạo không phải là Niết Bàn, mà là con đường đi đến Niết Bàn. Nó là phương tiện chứ không phải là cứu cánh. Cứu cánh Niết Bàn là tịch diệt tướng, không thể nói bằng lời, nhưng Phật dùng phương tiện để dẫn chúng sanh đi về cứu cánh Niết Bàn”.Do vậy, trong kinh phải dùng đến ngôn từ hay “cái danh”. Sự hiện hữu hay các pháp không có tự thể, không có tự tánh (gọi là tánh không), nó chỉ là một hiện hữu giả danh. Nhưng cái danh biểu lộ cho cái thực. Vì cái danh không phải là cái thực cho nên nó vừa biểu tượng cho cái thực tại tuyệt dối mà vẫn không lìa khỏi bình diện tương đối của nó. Ngôn từ là một hiện hữu tương đối, nó chứa đựng toàn thể kinh nghiệm của nhận thức nó duy trì kinh nghiệm này. Nhưng đó là kinh nghiệm được tập hợp tất cả những sai lầm vọng tưởng. Như lời dạy của Lục Tổ với Thần Hội để lại chúng ta hướng trực nhận thực tại vạn pháp: “Tôi đã nói với ông không danh, không tự ông liền gọi đó là bản nguyên, là Phật tánh, ông nhằm đi lấy cỏ tranh chẻ đầu, cũng chỉ hạng tông đồ của tín giải”.
Lục Tổ dạy: “Chẳng ngộ tức Phật là chúng sanh, khi một niệm ngộ chúng sanh là Phật”, “thế nên biết muôn pháp trọn ở nơi tự tâm, sao chẳng từ trong tự tâm thấy được chân như bản tánh” và đâu phải lâu xa hay trở ngại gì: “Liền khi đó bỗng hóa nhiên (tức là rỗng thênh) lại đặng bản tâm”. Do đó trong Đốn Tông của Huệ Năng, Bát Nhã được phát khởi trong tự tánh theo cách đột xuất (đốn) và chữ đốn này không chỉ có nghĩa là “tức thời”, theo cách bất ngờ hay thình lình; nó cũng có nghĩa là hành vi tự phát, nó là cái thấy, không phải là một hành động có ý thức thuộc phần tự tánh. Nói cách khác “ánh sáng của Bát Nhã phóng ra từ vô niệm; Bát Nhã ở trong thức về sự vật. Đây là cái mà người ta ám chỉ khi nói rằng: “Thấy là không thấy và không thấy là thấy”. hoặc khi nói rằng vô niệm hay tự tánh trở nên ý thức chính nó hằng phương tiện Bát Nhã, tuy nhiên trong ý thức này nó không có phân cách nào giữa chủ và khách. Do đó Huệ Năng nói: “Ai hiểu được chân lý này tức không nghĩ, không nhớ và không dính mắc”.
Như vậy ta hiểu được lối ngôn ngữ phủ định trong Kim lăng già là Phá chấp triệt để: không chơn vọng, không bốn tướng, không bố thí, không chấp nơi thân Phật, sắc tướng, âm thanh Phật, không có thọ ký, tu hành, phước đức hay quả vị, không có Phật pháp, không có thuyết kinh giảng kinh,…Bởi vì: “Như Lai thị chư pháp thật tướng”, “Nhược kiến chư tướng phi tướng tức danh Như Lai”, “Vô sở trùng lai diệc vô sở khứ cố danh Như Lai”, “Nhất thiết chư pháp như thị Phật pháp”. Lý “sắc tức thị không, không tức thị sắc”, “chơn không diệu hữu”, Thể tánh Như hay pháp tánh Không “Bất sanh bất diệt, bất cấu, bất tịnh, bất tăng, bất giảm” là cái xưa nay không dời đổi sau bao đợt nổ tung của sự phá chấp triệt để trong kinh lăng già.
III. KẾT LUẬN:
Tiếng nói đích thực của Phật giáo bao giờ cũng tích cực nhân ái, trí tuệ và thích ứng với mọi căn cơ, đem lại lợi ích cho tất cả. Pháp môn tu tập vì thế cũng có nhiều như số lượng căn cơ sai biệt của con người. Như dù bất cứ tu tập theo pháp môn nào, tâm thức cũng phải vận dụng giới, định, tuệ và tâm đại từ bi để lạoi trừ hoàn toàn chấp thủ, tham ái, để nhổ bật bật tận gốc rễ của khổ đau và đi vào thật thật trí. Giáo lý ấy đặt đặt chúng ta trước một lựa chọn cực kỳ quan yếu. Hoặc là chấp thủ ngã tướng để tiếp tục thiêu cháy tâm thức của mình trong ngọn lửa tam giới, hoặc chấp nhận con đường thực tới vô ngã để chấm dứt khổ đau. Kinh lăng già cũng nói lên truyền thống ấy của Phật Giáo và cũng đặt chúng ta trước một lựa chọn ấy: hoặc tiếp nhận cái chìa khóa của một sản nghiệp giá trị vô lượng, hoặc tiếp tục nổi trôi với tự ngã nhỏ nhen. Tự ngã không vĩnh cửu hay mất đi những một số quan niệm của một số trường phái triết học khác. Pháp cũng vậy, vì kinh lăng già vốn đã nói: “Phàm sở hữu tướng, giai thị hư vọng”. Vì ngã và pháp do duyên sinh mà thành và cũng do duyên sinh mà diệt nên vô thường, vì vô thương nên không có tự tánh, vì không có tự tánh nên nó vốn như như. Nếu con người bám víu vào pháp và ngã chắc chắn sẽ khổ đau. Mỗi hành giả cần phải bỏ những vướng mắc giữa có và không, tốt hay xấu, có như vậy mới thật sự tự tại giữa dòng sanh diệt. Cũng vì mục đích đó nên đức Phật đã phủ nhận mình không hề thuyết pháp. Dựa trên nhân thức về mặt hiện tượng thì đức Phật có thuyết Pháp, có pháp để Phật thuyết, nhưng Phật cũng dạy, Ngã và ngã sở cũng đều do duyên mà hình thành. Ngoài ra, đức Phật thuyết pháp là vì tùy theo các tầng cấp nhận thức của mỗi chúng sanh mà có những phương thức tùy vào khả năng tiếp nhận yếu chỉ thậm thâm ấy.
Qua quá trình tìm hiểu trên ta thấy rằng, những ai đã từng trải nghiệm, sống ở tận đáy của xã hội, bị ném xuống tầng lớp được xem là cặn bã của xã hội, khi cần phải khẳng định ý nghĩa và giá trị sinh tồn, khi ấy may ra mới có thể hiểu được một cái gì đó u áo trong kinh lăng già. Làm thế Làm thế nào để nhìn tất cả đời sống này như một giấc chiêm bao, để thấy đau khổ hay hạnh phúc cũng chỉ như là giấc chiêm bao. Có lẽ quá nhiều người hiểu rõ điều đó và nói quá nhiều về điều đó. Nhưng tỉnh giấc chiêm bao để thấy cái gì hư cái gì thực thì chắc là qua ít. Tụng đọc lăng già để hiểu những phạm trù triết học trong đó, để lý luận và phân tích cái gì là sắc, cái gì là không và thế nào là sắc tức thị không, điều đó chưa phải là quá khó. Nhưng, ngay trong sinh hoạt thực tế, bằng ý nghĩa Kim cang mà nâng cao phẩm giá của mình, giá trị đời sống của mình, điều này chắc không phải là dễ.
SÁCH THAM KHẢO:
1) Thái Hư Đại Sư, Kinh Kim Cang Giảng Lục, Thích Huệ Hưng dịch, Nxb Thành Hội Phật Giáo Thành Phố Hồ Chí Minh, 1991.
2) Thích Minh Châu-Minh chi, Từ điển Phật học Việt Nam, Nxb Khoa học Hà Nội, 1991.
3) Thích Thiện Hoa, Phật Học Phổ Thông, quyển III, Nxb Thành Hội Phật Giáo Thành Phố Hồ Chí Minh, 1992.
4)Nghiên Cứu tư tường Kim Cang – Bát Nhã tâm kinh liên hệ với kinh Tạng Nguyên Thủy, Thích Chơn Thiện dịch và biên soạn, 1996.
5) Suzuki, Thiền Luận, quyền hạ, Tuệ Sỹ dịch, An Tiêm xuất bản lần I, 1973.
6) Thiền sư Nhất Hạnh, Nẻo về Thiền học, Lá Bối xuất bản, 1971.
7) Thiền sư Minh Chánh, Bát Nhã Trực Giải, Nxb Thành Hội Phậ giáo Thành phố Hồ Chí Minh, 1995.
8) Thích Từ Thông, Bát Nhã Ba La Mật Trực Chỉ Đề Cương, Giáo án trường Cao Cấp Phật Học, Nxb Tôn Giáo, 1998.
9) Huyền Giác, Chúng Đạo Ca, Nxb Thành Hội Phật giáo Thành phố Hồ Chí Minh, 1995.
10) Ngộ Tánh Luận Bồ Đề Đạt Ma, HT, Thích Trí Tinh dịch, Nxb Thành Hội Phật giáo Thành phố Hồ Chí Minh, 1996.
11) Kinh Hoa Nghiêm, Thích Trí Tịnh dịch, Chùa Hải Tuệ Sài Gòn, 1964.
12) Thiền sư Hàm Thị, Kinh Lăng Già Tâm Ấn, Thích Thanh Từ dịch, Tu viện Chơn Không, 1975.
13) Kinh Kim Cương, Thích Trí Quang dịch, Sách ấn tống, 1994.
14) Tuệ Sỹ, Triết Học Tánh Không, Nxb An Tiêm, 1970.
15) Thích Thanh Từ, Thiền Sư Việt Nam, Nxb Thành Hội Phật giáo Việt Nam, 1992.
16) Amakuki- Sessan, Bạch Ẩn Thiền Định Ca, Bạch Hạc dịch, 1988.
QUAN NIỆM VỀ ĐỊA NGỤC CỦA CÁC TÔN GIÁO
MỤC LỤC:
I. DẪN NHẬP:
II. NỘI DUNG:
1.Giá trị của tôn giáo:
1.1. Đối với con người:
1.2. Đối với xã hội:
2. Tương Quan Giữa Đức Tin Và Văn Hóa:
3. Quan niệm về sống – chết:
4. Quan điểm tôn giáo về sự bất tử của con người:
5. Quan điểm khoa học và chủ nghĩa vô thần về sự bất tử của con người:
6. Địa Ngục - Nên Hiểu Như Thế Nào?
7. địa ngục theo ấn độ giáo:
7.1. Hành Vi Và Số Phận Của Con Người:
7.2. Sự Cứu Rỗi:
7.2.1. Đường Công Đức:
7.2.2. Đường Tri Thức:
7.3. Đường Sùng Tín:
8. Quan niệm cái chết theo Kitô giáo:
8.1. Luyện ngục:
8.2. Hỏa ngục:
8.3. quan niệm về Satan:
8.4. Địa ngục :
9. Sáu quan niệm quan trọng của đạo hồi giáo:
9.1. Tín điều 2: tin có các thiên thần và ma quỉ:
10. Quan niệm của phật giáo về địa ngục:
10.1. Quan Niệm Phật Giáo Về Thiên Đường Và Địa Ngục
11. Đạo Cao Đài quan niệm về Địa ngục:
11.1. Đạo cao đài Khái niệm về thiên đàng và địa ngục:
12. Nên hiểu như thế nào là địa ngục:
12.1. 18 tầng địa ngục, có hay không?
13. Quan niệm giống nhau của các tôn giáo về thiên đàng hay địa ngục:
14. Địa ngục tại thế gian:
15. Thái độ sống với địa ngục:
III. KẾT LUẬN:
Tài liệu tham khảo:
QUAN NIỆM VỀ ĐỊA NGỤC
CỦA CÁC TÔN GIÁO
I. DẪN NHẬP:
Nếu không kể những chứng tích khảo cổ học cho thấy niềm tin tôn giáo về cuộc sống sau khi chết có từ rất xa xưa, khi mà người ta chôn đồ tùy táng cùng với người chết thì ít nhất cách đây 40.000 năm, tổ tiên con người đã có niềm tin tôn giáo và tham gia các nghi lễ tôn giáo. Trong các xã hội săn bắn và hái lượm, phổ biến là thuyết vật linh, cho rằng vật thể trong thế giới tự nhiên được phú cho nhận thức và tác động đến đời sống con người. Biển cả, núi cao, gió và thậm chí cả cây cối...cũng có thể được coi là những thế lực có tính chất thần thánh sinh ra và chi phối đời sống con người. Xã hội săn bắn, hái lượm có tổ chức chưa phức tạp nên đời sống tôn giáo chủ yếu tồn tại trong gia đình. Địa vị pháp sư (shaman) có thể được trao cho một người như là lãnh tụ tôn giáo nhưng hoạt động này không phải chiếm toàn bộ thời gian của người đó.
Sang đến giai đoạn xã hội trồng trọt và chăn nuôi, niềm tin thần thánh là nguyên nhân hình thành thế giới dần dần được phát triển. Một hệ thống văn hóa đạo đức được ủng hộ bằng việc công nhận thần thánh đồng thời tôn giáo vượt qua khỏi phạm vi gia đình và thường gắn chặt với chính trị, lãnh tụ xã hội thường được xem là vua và tăng lữ như các Pharaoh Ai Cập.
Trước Cách mạng Công nghiệp, tôn giáo đã rất phát triển và là thể chế xã hội vô cùng quan trọng ở khắp các lục địa. Đây cũng là lúc các tôn giáo có nhiều xung đột với nhau: Kitô giáo với Hồi giáo qua nhiều cuộc Thập tự chinh; Ấn Độ giáo xung đột với Phật giáo và về cơ bản đã loại trừ tôn giáo này ra khỏi miền đất phát tích của nó vào thế kỷ 13; người Hồi giáo chinh phục và truyền bá tôn giáo của mình đến những vùng khác...
Từ khi Cách mạng Công nghiệp nổ ra, những tiến bộ của khoa học kỹ thuật đã khiến cho ảnh hưởng của tôn giáo không còn mạnh mẽ như trước, tôn giáo dần bị tách rời khỏi nhà nước. Trong đời sống xã hội, khoa học cũng dần thay thế cho tôn giáo, chẳng hạn một người khi gặp bệnh tật tìm đến bác sỹ nhiều hơn là tu sỹ. Tuy vậy, thậm chí ngay cả cho đến nay, nhiều phong trào tôn giáo mới vẫn tiếp tục phát triển.
II. NỘI DUNG:
1. Giá trị của tôn giáo:
1.1. Đối với con người:
Mọi người chúng ta ai ai cũng nhận thấy trong suốt cuộc đời mình sự đau khổ nhiều hơn sung sướng. Tôn giáo ra đời là để giúp cho con người thoát được cảnh khổ đó, giúp cho linh hồn đi mãi trên con đường tấn hóa đạt đến phẩm vị có đủ quyền năng bằng ông Trời và không bị dừng lại từng chặng ở những nơi dừng chân gọi là phong đô hay địa ngục.
1.2. Đối với xã hội:
Tôn giáo là tổ chức giúp cho nhiều người có phương tiện dìu dắt lẫn nhau, cùng đi cùng tiến còn sự đoạt thành sở nguyện hay là chứng quả cùng không thì hoàn toàn do ở cá nhân mình. Đối với xã hội Tôn giáo còn có tác dụng làm quân bình cuộc sống tinh thần và vật chất, ngăn cản sự tàn sát lẫn nhau.
2. Tương Quan Giữa Đức Tin Và Văn Hóa:
văn hóa là tổng thể các phong tục, tín ngưỡng, tôn giáo, luật lệ, cơ chế, nghệ thuật thẩm mỹ, cư ngụ, ăn uống, ngôn ngữ, hành trang kiến thức và niềm tin mà mỗi một người, mỗi một cộng đồng thu thập được khi sống trong nền văn hóa đó. Như vậy, trong tổng thể văn hóa đó bao gồm cả đức tin. Và như đã nói, đức tin là nguồn gốc và là trung tâm của cả đời sống tôn giáo mà tôn giáo không thể và không bao giờ tách rời khỏi các nền văn hóa, tôn giáo luôn tồn tại trong các nền văn hoá. Điều này thật rõ ràng khi một tôn giáo nhưng lại tồn tại và biểu lộ niềm tin một cách sinh động trong nhiều nền văn hóa khác nhau.
Nói cách khác, không có tôn giáo nào có thể tồn tại ngoài các nền văn hóa, không có một tôn giáo nào không cần đến một nền văn hóa. Ngược lại, có thể có những nền văn hóa không cần có sự hiện diện của tôn giáo. Đức tin được coi như là thành phần của văn hóa, làm cho văn hóa phong phú hơn, sinh động hơn và ý nghĩa hơn vì nó mang lại cho nền văn hóa những chiều kích tâm linh mạnh mẽ và những khát vọng hướng tới chân thiện mỹ. Có thể nói vận mạng của Giáo hội phụ thuộc vào mối tương quan, phụ thuộc vào cách thức Giáo hội đưa đức tin vào văn hóa như thế nào, phụ thuộc vào việc Giáo hội đối thoại với các nền văn hóa.
Văn hóa gắn liền với mỗi cá nhân, mỗi dân tộc như hình với bóng. Người ta có thể loại bỏ đức tin ra khỏi cuộc sống của họ nhưng không thể loại bỏ văn hoá, nếu loại bỏ văn hóa thì một dân tộc, một cộng đồng không còn là một dân tộc hay một cộng đồng nữa. Như Công đồng Vatican II đã nói ngôi vị con người chỉ đạt được nhân tính đích thực và trọn vẹn nhờ văn hóa. Chính vì thế, Đức Gioan Phao lô II muốn Giáo hội, muốn mỗi người Kitô hữu sống đức tin một cách cụ thể hơn để tỏ rõ mối tương quan giữa đức tin và văn hóa qua lời phát biểu trên.
3. Quan niệm về sống – chết:
Hầu hết mọi hệ thống tư tưởng, chính trị và triết học chỉ giải quyết vấn đề con người khi sống. Như Khổng Tử nói, “Sống còn chưa biết, làm thế nào biết được chết?” Từ quan niệm này nên người ta thường cho rằng quan tâm đến những vấn đề liên quan đến con người khi còn sống thì quan trọng và thực tiễn hơn là quan tâm đến những vấn đề về con người sau khi chết. Tuy nhiên, cách trả lời này đã né tránh câu hỏi làm nhiều người thắc mắc là: “Sự thật về cái chết và điều gì sẽ xảy ra sau khi chết?” Thực ra, nếu chúng ta hiểu được những gì xảy ra sau khi chết thì thái độ của chúng ta đối với cuộc sống sẽ có rất nhiều thay đổi theo chiều hướng tốt hơn.
Cần lưu ý là Khổng Tử không nói rằng chết là tận diệt, là hết; ông cũng không nói rằng không có một đời sống tương lai sau khi chết. Đơn giản ông chỉ muốn nói: sống làm một con người có khuôn phép, có đạo đức thì quan trọng hơn đặt câu hỏi về bản chất của đời sống sau khi chết. Tuy thế, hầu hết các tôn giáo đều có lời dạy về cuộc sống sau khi chết. Có hai học thuyết đề cập đến cái chết có ảnh hưởng trong số các tôn giáo trên thế giới: một là học thuyết một đời sống và học thuyết khác là học thuyết nhiều đời sống. Thiên Chúa giáo là một trong các tôn giáo giảng dạy về học thuyết một đời sống. Theo học thuyết này thì cuộc sống của thân thể vật lý bắt đầu tại lúc được sinh ra, nhưng cũng có một thực thể tâm linh được gọi là “linh hồn” cư ngụ trong thể xác đó. Chết là sự hủy bỏ xác thân, nhưng linh hồn thì không. Sau khi chết, linh hồn tùy thuộc vào sự phán xét của đấng Tạo hóa, hoặc sẽ được lên thiên đường, hoặc sẽ bị đọa xuống địa ngục. Điều này hàm ý rằng, mỗi người chỉ có một cuộc sống trên trái đất và sau đó sẽ tồn tại vĩnh cữu hoặc đầy ân phúc trên thiên đường, hoặc chịu khổ đau ở trong địa ngục, hoàn toàn không có cơ may thoát khỏi. Hàm ý này có trình bày một sự hiểu biết trọn vẹn về lời dạy của Thiên chúa hay không thì chưa rõ. Rất có thể Chúa có nhiều điều để thuyết giảng về việc sống chết nhưng ngài không có thời gian để mang đến cho môn đồ của mình một trình độ hiểu biết cao hơn.
Học thuyết về nhiều đời sống cho rằng, sự sinh ra và chết đi của một chúng sinh chỉ là một khoen trong chuỗi mắt xích vô số kiếp sống của chúng sinh đó. Trong nhiều kiếp sống khác nhau, chúng sanh đã đi lang thang trong sáu cảnh giới hiện hữu: cõi trời, cõi người, cõi a-tu-la, cõi ngạ qủy, cõi súc sinh và cõi địa ngục. Sau khi chết, con người sẽ tái sinh vào một trong các cảnh giới này. Người ấy có thể tái sanh trở lại làm người, nhưng cũng có thể làm một vị thiên, súc sanh, a-tu-la hay một chúng sanh trong cõi địa ngục. Sự thay đổi hình thức đời sống hay sự hiện hữu tiếp diễn không hạn định mãi đến khi nào chuỗi mắt xích này bị phá bỏ. Điều này mỗi khi xảy ra thì khái niệm sanh tử không còn ý nghĩa đối với người đó nữa.
Ấn Độ giáo và Phật giáo thừa nhận học thuyết nhiều đời sống này, nhưng có một sự khác biệt tương đối lớn trong quan điểm của họ về sự phá vỡ chuỗi mắt xích. Ấn Độ giáo giữ vững niềm tin rằng vấn đề sanh tử trở nên vô nghĩa khi con người thể nhập với Brahman - Phạm thiên toàn năng. Phật giáo cho rằng con người giải thoát khỏi vòng luân hồi sanh tử khi đạt được giác ngộ.
Để hiểu được quan niệm của Phật giáo, trước hết chúng ta phải hiểu rằng Phật giáo giải thích vấn đề này ở hai tầm mức. Thứ nhất là tầm mức giác ngộ, đó là lúc mà chân lý tối hậu được chứng nghiệm. Và thứ hai là tầm mức thế tục, tức là ở tầm mức hiểu biết thông thường.
Ở tầm mức giác ngộ, khái niệm về sống và chết không còn được bàn đến nữa. Tôi sẽ giải thích điều này sau. Tuy nhiên, ở tầm mức thế tục, Phật giáo tin vào học thuyết nhiều đời sống và thừa nhận dòng tâm thức của một chúng sanh. Trong trường hợp này, dòng tâm thức có thể tạm so sánh với Linh hồn trong Thiên Chúa giáo và Tự ngã trong Ấn Độ giáo. Trong Phật giáo, tâm thức của một chúng sanh được miêu tả như một dòng suối, trong đó, một khoảnh khắc sau được tạo ra bởi một khoảnh khắc trước. Xin đưa ra thí dụ về xâu chuỗi hạt. Sự di chuyển mỗi hạt chuỗi quyết định sự di chuyển của hạt chuỗi kế tiếp. Tuy nhiên điều quan trọng là những hạt chuỗi này được liên kết lại với nhau bằng một sợi dây; không có một thực thể vĩnh cữu vượt ra khỏi con đường nhân quả.
Còn để chứng minh rằng con người đã tồn tại trước đó và vẫn tiếp diễn sau khi chết thì có một số tài liệu đã đề cập đến. Những tài liệu này ghi lại rằng, có những người bình thường đã nhớ lại được những đời sống quá khứ của họ, hoặc cụ thể như các vị Lạt ma Tây Tạng, họ có thể tiên đoán nơi mà họ sẽ tái sanh trở lại.
Từ phép suy loại này chúng ta có thể thấy rằng học thuyết về nhiều đời sống như Ấn Độ giáo và Phật giáo đã đưa ra thì chí lí và gần với sự thật hơn những học thuyết khác. Do đó, tôi suy ra những kết luận sau đây:
1- Trong vũ trụ cũng có một thực thể tương tự như H2O. Thực thể đó, tôi tạm thời gọi
là “X”. Từ X này, biểu hiện ra những hình thức khác nhau của một chúng sanh, tức là: chư thiên, loài người, A-tu-la, ngạ quỷ, súc sanh và chúng sanh ở địa ngục. Trong Thiên Chúa giáo và Ấn Độ giáo, X được gọi là linh hồn.
2- Sáu hình thức hiện hữu luôn chuyển đổi vị trí. Như một con người có thể tái sanh làm một vị thiên, A-tu-la, súc sanh, ngạ quỷ hay chúng sanh ở địa ngục. Cũng như vậy một chúng sanh ở địa ngục cũng có thể tái sanh ở những hình thức khác nhau bao gồm cả loài người.
3- Theo Phật giáo, một người không thể sống trên thiên giới mãi mãi hay đọa vào trong địa ngục vĩnh hằng. Cuộc sống luôn tiếp diễn, hình thức của nó thay đổi liên tục. Hiện tượng trôi chảy liên tục của chết đi và tái sanh trở lại trong sáu cảnh giới này được gọi là luân hồi tái sanh.
4- Khái niệm về sanh và chết chỉ có nghĩa khi nào con người được đề cập đến như một đối tượng cụ thể. Nếu vấn đề được chuyển đổi trở lại chính bản chất nguyên thủy của đối tượng đó thì khái niệm về sống và chết không còn tác dụng. Nước và H2O là một ví dụ: nước là một đối tượng được xác định cụ thể, nó có thể thay hình đổi dạng, nhưng H2O thì bản chất nó luôn luôn như vậy dù khi nó ở dạng nước, tuyết, hay sương.
5. Đây là điều quan trọng: nếu một người còn chấp chặt mình là một con người có tự ngã thì người ấy còn phải trãi qua sống và chết. Cũng như thế áp dụng đối với nước: nếu nước được nhận diện như là nước thì chúng ta thấy nó có sinh ra và mất đi khi nó thay đổi hình dạng. Nhưng nếu một người nhận mình như là X, thì không có sự chết đi, dù khi hình dạng của X biểu hiện dưới hình thức một con người bị hủy diệt. Như vậy ta thấy, chỉ có một sự thay đổi liên tục về hình thức, trong khi X vẫn không thay đổi. Thêm nữa, áp dụng tương như vậy, nếu nước được xem như là H2O thì nước không có sinh ra mất đi. Do đó, nếu chúng ta khát khao chấm dứt sanh tử luân hồi, điều đầu tiên chúng ta nên làm là xa rời việc chấp thủ tự ngã.
4. Quan điểm tôn giáo về sự bất tử của con người:
Ngay từ thời cổ đại, Kinh Vêđa mà trực tiếp là Kinh Upanishad ở Ấn Độ đã lý giải vấn đề này như sau: Brahman (linh hồn vũ trụ) được coi là thần thánh sáng tạo tất cả. Atman (linh hồn của mỗi con người, mỗi cá thể súc vật, cây cỏ, v.v.), là một bộ phận của linh hồn vũ trụ, nên về nguyên tắc nó cũng bất tử như linh hồn vũ trụ. Khi cơ thể sinh vật chết đi, atman sẽ tách khỏi cơ thể và đầu thai sang một cơ thể khác mới sinh ra, tiếp tục cuộc sống ở một kiếp khác. Kiếp sau có thể là người, là súc vật hay cây cỏ. Linh hồn cứ đầu thai hết kiếp này sang kiếp khác trong một cái vòng tròn lẩn quẩn như vậy gọi là sự luân hồi . Con người chịu hậu quả của hành vi của chính mình gọi là “nghiệp”. Chính cái nghiệp của kiếp này quy định cuộc sống ở kiếp sau. Để giải thoát khỏi cái vòng luân hồi, nghiệp báo, con người phải dốc lòng tu luyện, từ bỏ ham muốn dục vọng để linh hồn được “siêu thoát”, tức thoát khỏi sự ràng buộc của cơ thể và trở về với linh hồn vũ trụ tối cao, đạt đến hạnh phúc và sự bất tử vĩnh hằng.
Phật giáo ra đời trong phong trào đấu tranh chống đạo Bàlamôn, chống lại sự phân biệt đẳng cấp, đòi bình đẳng xã hội, nên không thể không bác bỏ những luận điểm cơ bản của Kinh Vêđa và Kinh Upanishad (những bộ kinh này là cơ sở giáo lý của Đạo Balamôn, tiền thân của Ấn giáo ngày nay). Đạo Phật không thừa nhận linh hồn vũ trụ tối cao Brahman và linh hồn cá thể bất tử atmam. Theo Đạo Phật, cơ thể của chúng sinh được cấu tạo từ những yếu tố vật chất và tinh thần gọi là ngũ uẩn gồm sắc (tức vật chất gồm đất, nước, lửa, gió) và danh (gồm 4 yếu tố tinh thần: thụ, tưởng, hành, thức). Khi chết, những yếu tố này phân hủy, nên không còn cái atman bất tử. Tuy nhiên, Đạo Phật lại thừa nhận sự tái sinh ở kiếp sau và tiếp thu một số yếu tố của Đạo Bàlamôn, như sự luân hồi, nghiệp báo, sự tu luyện để đạt đến sự giải thoát ở cõi vĩnh hằng. Dù sao Đạo Phật rốt cục cũng cho rằng khi con người tu luyện đắc đạo sẽ đạt tới sự giác ngộ và thoát khỏi luân hồi, nghiệp báo, lúc đó linh hồn cá thể sẽ hòa nhập vào cõi Niết bàn và trở thành bất tử, vĩnh cửu. Niết bàn là cái gì, cho đến nay cũng chưa ai biết được, có chăng cũng chỉ là sự tranh cãi về lý thuyết mà thôi.
Các tôn giáo như Kitô giáo do Jesus Christos sáng lập đầu Công nguyên và Hồi giáo do Môhamet sáng lập vào thế kỷ VII đều tin vào sự bất tử của linh hồn con người. Theo Kitô giáo và Hồi giáo, khi chết cơ thể trở về đất bụi nhưng linh hồn vẫn tiếp tục tồn tại. Đến ngày cuối cùng, được gọi là Ngày tận thế hay Ngày phán xử, Thượng đế sẽ phán xét tất cả, cho những ai trong lúc sinh thời đã có lòng tin ở Thượng đế và làm nhiều điều tốt lành sẽ được phục sinh, nghĩa là được sống lại với cả thể xác và linh hồn giống như sự phục sinh của Kitô trước đây, và được lên Thiên đường. Những người khác sẽ bị đày xuống địa ngục vĩnh viễn.
Thiên đường được miêu tả trong Kinh Khải huyền, kinh cuối cùng trong toàn bộ Kinh Thánh của Kitô giáo là Thành phố Giê-ru-sa-lem tráng lệ ở trên trời, có 12 cửa thành, nền và tường thành xây toàn bằng vàng và đủ các loại ngọc quý. Những người được lên Thiên đường sẽ vô cùng hạnh phúc, sẽ trường sinh bất tử, không còn đau khổ, chết chóc. Chúa Giêxu đã mặc khải như sau:
“Tôi thấy Thành Thánh là Giê-ru-sa-lem mới, từ trên trời, từ nơi Thiên Chúa mà xuống, sẵn sàng như tân nương trang điểm để đón tân lang. Rồi tôi nghe phía ngai có tiếng to: Đây là nhà tạm Thiên Chúa ở cùng nhân loại! Người sẽ cư ngụ cùng với họ. Họ sẽ là dân của Người, còn chính Người sẽ là Thiên- Chúa- ở -cùng- họ. Thiên Chúa sẽ lau sạch nước mắt họ. Sẽ không còn sự chết; cũng chẳng còn tang tóc, kêu than và đau khổ nữa, vì những điều cũ đã biến mất.”
5. Quan điểm khoa học và chủ nghĩa vô thần về sự bất tử của con người:
Đối với các nhà khoa học, mặc dù họ rất mong muốn sự bất tử, nhưng lý trí khoa học không chứng minh được có sự bất tử theo quan điểm của các tôn giáo truyền thống nên họ không thể tin vào sự bất tử theo quan điểm của các tôn giáo.
Carl Sagan (1934-1996), nhà thiên văn học nổi tiếng Mỹ đã từng là giáo sư thiên văn học ở Đại học Harvard và Đại học Cornell ở Ithaca, New York viết:
“Nếu có bằng chứng tốt về cuộc sống ở kiếp sau được công bố, tôi sẽ là người sốt sắng trong việc xem xét vấn đề này; nhưng đó phải là những cứ liệu khoa học, không phải là chuyện huyền thoại ... Tôi nói, thà rằng sự thật cay nghiệt còn hơn sự tưởng tượng dùng để an ủi”... “Tôi cũng thích tin rằng sau khi tôi chết tôi sẽ sống lại, rằng một phần tư duy, tình cảm, ký ức của tôi sẽ tiếp tục tồn tại. Nhưng càng muốn tin vào điều đó, và mặc dù những truyền thống văn hóa lâu đời khắp thế giới khẳng định có kiếp sau, tôi càng không thấy có gì hơn rằng đó chỉ là điều suy nghĩ mong ước (a wishful thinking) mà thôi” .
Nhà bác học Albert Eintein (1879-1955) đã phê phán hạn chế của các quan điểm tôn giáo lấy sự mong muốn bất tử của cá nhân và sự hứa hẹn được ban thưởng ở kiếp sau làm động cơ đạo đức của cá nhân. Ông nói: “Tôi không tin vào sự bất tử của cá nhân. Tôi coi đạo đức chỉ liên quan đến con người mà thôi và không có một quyền lực siêu nhân nào ở đằng sau cả.”
Về sự bất tử của cá nhân, Einstein bác bỏ các quan niệm tôn giáo và đưa ra quan niệm về “sự bất tử tương đối”. Einstein nói: “Sự bất tử ư ? Có hai loại. Loại thứ nhất nằm trong trí tương tượng của con người và do vậy chỉ là một ảo tưởng. Có một sự bất tử tương đối đó là sự duy trì ký ức về một cá nhân qua một số thế hệ. Tuy nhiên, chỉ có một sự bất tử thật sự duy nhất, ở phạm vi vũ trụ, đó là sự bất tử của chính vũ trụ. Không có một sự bất tử nào khác” .
Lý luận về sự bất tử tương đối của Albert Einstein được các nhà vô thần phát triển. Theo quan điểm vô thần, sự bất tử tương đối của cá nhân được thực hiện một cách hiện thực bằng những con đường như sau:
Thông qua con cháu của chúng ta. Về mặt sinh học, thế hệ sau thông qua sự di truyền mà kế thừa có chọn lọc và phát triển tất cả những gì mà cơ thể chúng ta đã đạt được. Về mặt ý thức, thế hệ sau sẽ kế thừa những tri thức khoa học, kinh nghiệm sống và chuẩn mực đạo đức, v.v., của thế hệ đi trước. Như vậy theo quan điểm duy vật, chỉ xét về mặt thể xác thôi thì cũng đã thấy chết không phải là hết. Loài người là một dây chuyền vô tận của vô số những thế hệ nối tiếp nhau, mỗi thế hệ là sự phủ định và kế thừa những thành quả phát triển của cơ thể và ý thức của tất cả những thế hệ đi trước. Thế hệ trước để lại mầm sống cho thế hệ sau; thế hệ sau là sự nối tiếp sự sống của thế hệ trước. Cho nên, việc chuẩn bị và chăm lo về mọi mặt cho thế hệ sau cũng chính là vì sự bất tử của con người.
Lý luận về sự bất tử tương đối của cá nhân có một ý nghĩa đạo đức rất sâu sắc. Nó không chỉ bác bỏ ảo tưởng sự bất tử của cá nhân theo quan niệm tôn giáo mà khắc phục được quan niệm tầm thường coi cuộc sống của con người chỉ ngắn ngủi trong mấy chục năm và cái chết là sự chấm dứt hoàn toàn sự tồn tại của một cá nhân. Nó có vai trò thúc đẩy hành vi đạo đức của con người ở những khía cạnh sau đây:
Tóm lại, mong muốn bất tử là tâm lý chung của mọi người, trên cơ sở đó các tôn giáo đưa ra những quan niệm có tính chất ảo tưởng về sự bất tử của cá nhân thông qua con đường tu luyện. Ngay nay, khoa học và triết học đã đem lại một cách giải thích đúng đắn vừa phù hợp với ước vọng của mỗi người, vừa có tính hiện thực và mang một ý nghĩa đạo đức rất cao so với quan niệm tôn giáo đã từng tồn tại trong lịch sử.
6. Địa Ngục - Nên Hiểu Như Thế Nào?
Địa ngục tiếng Hán dịch là vô lạc, khả yếm, khổ khí, khổ cụ, hữu và vô. Sáu nghĩa trên mang nội hàm như sau: vô lạc – không có niềm vui, khả yếm – chỉ cảm thấy đau khổ, khổ khí – không khí làm người ta cảm thấy đau khổ, khổ cụ – dụng cụ tạo nên đau khổ, hữu là có, vô là không. Điều này có nghĩa đen, địa ngục là nơi không có niềm vui, chỉ toàn là đau khổ, là nơi chứa đựng nhiều cực hình và nhiều dụng cụ tra khảo. Tuy nhiên bên cạnh đó, chúng ta cần nhìn nhận một khía cạnh nghĩa khác mang phổ quát hơn, rộng lơn hơn.
Bất kỳ nơi nào có một trong sáu yếu tố trên thì đó chính là nơi địa ngục xuất hiện. Và sự xuất hiện của một yếu tố sẽ kéo theo sự xuất hiện của năm yếu tố còn lại. Nơi nào chúng ta cảm nhận đau khổ thì nơi đó không có niềm vui (hoặc chúng ta không thể cảm nhận được niềm vui cho dù niềm vui vẫn đang hiện diện). Nơi đó sẽ có không khí đau khổ với những con người và những dụng cụ là nguyên nhân gây ra nỗi khổ niềm đau cho chúng ta. Mà nguyên nhân chính gây ra những nỗi khổ niềm đau trên đều xuất phát từ việc chấp có hoặc chấp không ở mỗi người.
Chúng ta thật dễ dàng để cảm nhận địa ngục mà không cần phải sau cái chết diễn ra. Chỉ cần chúng ta có dịp đi đến các bảo tàng chứng tích chiến tranh, những nhà tù, nơi trưng bày những dụng cụ tra tấn đã được sử dụng vào những ngày tháng chiến tranh xảy ra ở bất cứ nơi nào trên Thế Giới. Chúng ta sẽ thấy địa ngục hiện diện thật rõ ràng và mang đầy đủ ý nghĩa của sáu yếu tố vừa nêu.
Song song bên cạnh đó, cũng thật dễ dàng để thấy được cảnh giới địa ngục hiện diện ngay ở xung quanh ta. Nếu như đối diện với một cảnh tượng hai bên đang to tiếng, tranh cãi hoặc thậm chí là ẩu đã với nhau thì địa ngục lập tức được xây dựng tại nơi đó và trong khoảng thời gian đó. Chính vì một bên chấp có và một bên chấp không là nguyên nhân gây ra địa ngục. Không khí căng thẳng, những vật dụng luôn luôn trong tình thế chuẩn bị gây tổn thương cho đối phương. Không chỉ là những dụng cụ vô tri mà lời nói, suy nghĩ và hành động đều trong trạng thái sẵn sàng gây ra nỗi khổ niềm đau cho phía còn lại. Khi những yếu tố đó hiện diện thì lập tức những đối tượng đang ở trong cảnh giới địa ngục sẽ chỉ cảm nhận được toàn khổ đau mà không có được một niềm vui nhỏ bé nào cả.
7. địa ngục theo ấn độ giáo:
Ấn độ giáo tuyên bố là tôn giáo cổ nhất trên đất. Tuy vậy, nó có cội rễ trong Duy Linh Thuyết. Duy Linh Thuyết tới phiên nó lại có cội rễ trong độc thần giáo của thuở Sáng Tạo. Vì thế, chính xác hơn phải nói rằng Ấn độ giáo là tôn giáo cổ nhất có tên gọi. Lịch sử của nó lùi về tận những ngày từ thời của Ápraham.
Thật khó định nghĩa Ấn độ giáo, vì các niềm tin của nó rất khác nhau. Một số người theo Ấn độ giáo thờ lạy một vị thần là Brahman (Bà-la-môn) trong khi các tín đồ khác không tin một vị thần có thân vị. Một số người là người ăn chay (họ không ăn thịt) trong khi những người khác lại ăn thịt. Đối với nhiều người, Ấn độ giáo là một tôn giáo, trong khi đối với những người khác nó là một triết lý của cuộc sống. Một vị tổng thống trước kia của Ấn độ đã nói rằng Ấn độ giáo là một nền văn hóa hơn là một tín điều. Từ ngữ Hindu đến từ chữ Sindhu là một từ phạn ngữ (Sanskrit) để chỉ về sông Indus ở Ấn độ. Người theo Ấn độ giáo gọi tôn giáo của họ là Sanatana dharma có nghĩa là “đạo vĩnh hằng hay chân lý vĩnh hằng.” Nó bao gồm cả những niềm tin tôn giáo lẫn những ý niệm luân lý.
Tính khoang nhượng (dung chịu). Ấn độ giáo có lẽ là tôn giáo khoang nhượng nhất trong tất cả các tôn giáo. Những niềm tin của nó, cũng như các thần tượng của nó, thật vô số. Ấn độ giáo chấp nhận các vị thần lớn nhỏ, các đền chùa và các thầy tư tế của nó. Khi đạo Phật và tôn phái Jain xuất hiện thì Ấn độ giáo đã mở cửa và để cho các giáo phái đó tràn vào sự chính thống của tư tưởng Ấn giáo. Tuy nhiên, Ấn độ giáo không phải là một tôn giáo truyền giáo như Hồi giáo hay Cơ Đốc Giáo. Nó lớn lên do sự hấp thụ các tôn giáo khác. Điều nầy đặt nền tảng trên truyền thống của dân Aryan. Họ đã rất quan tâm đến những sự phát sinh sâu nhiệm hơn về cuộc sống và những thắc mắc về thực tại, về con người và về Thượng Đế.
7.1. Hành Vi Và Số Phận Của Con Người:
Karma. Trong niềm tin Ấn độ giáo, số phận của một người có liên hệ đến hành vi của người đó. Sự cứu rỗi tùy thuộc nơi Karma của một người. Nguồn gốc chính của sự dạy dỗ về Karma được tìm thấy trong bộ Kinh Upanishads, là thẩm quyền giáo lý của Ấn độ giáo. Karma theo nghĩa đen có nghĩa là “nghiệp” (tức là công việc làm) và nó bị buộc chặt vào luật nhân quả. Niềm tin nầy cho rằng atman (hồn người hay tiểu ngã) có thể được hợp nhất với Brahman là Đại hồn (hay đại ngã). Sự hiệp nhất nầy được hoàn thành qua Karman của một người mà nó lại tuỳ thuộc vào việc lành và sự từ bỏ mình. Một người sẽ tiết chế dục vọng của mình khi người đó nghĩ đến nghiệp quả của mình. Tuy nhiên, không có sự phán xét, sự ăn năn hay là sự tha thứ trong tiến trình đó. Đúng như chính định luật đó. Bằng việc thiện linh hồn con người có thể tìm được moksha (sự giải thoát) khỏi samsara (kiếp luân hồi).
Sự luân hồi. Niềm tin nơi sự luân hồi hay sự chuyển kiếp (linh hồn chuyển sinh) là Samsara. Việc linh hồn chuyển sinh được giải thích như sau: Khi một người qua đời, linh hồn không chết nhưng được đầu thai trong một hình thể sống khác. Tiến trình nầy được lặp đi lặp lại một vòng quay bất tận. Sự đầu thai có thể ở mức độ cao hơn hay thấp hơn cuộc sống trước đó. Nó có thể thuộc về cõi trời, cõi địa ngục hay nhân gian. Nó có thể xảy ra ở bất cứ hình thái nào của cuộc sống: con người, thú vật, cây cỏ... Một người ở tình trạng xã hội thấp vẫn có thể đầu thai thành một rajah (tù trưởng) hay là một Brahmin (quý tộc, thượng lưu). Hoặc người đó có thể thành một người bần cùng trong xã hội, một con thú vật, một con bọ, một con trùng, hay là cây cối, cát đá hoặc là một linh hồn ở cõi địa ngục. Một số người Ấn độ giáo tin rằng có tám triệu rưỡi các hình thái khác nhau mà một người có thể bị hóa thân vào đó.
Người theo Ấn độ giáo nói như thế nào về hình thái mà người đó sẽ đầu thai ở kiếp sau? Theo niềm tin của người Ấn độ giáo, điều nầy được quyết định theo luật nghiệp quả. Tư tưởng, lời nói, hành động của một người ở đời nầy sẽ có hậu quả tốt hay xấu cho đời sau của người đó. Chính định luật thời cổ cho rằng một người sẽ gặt cái mình đã gieo. Kinh Upanishads nói rằng:
Một Brahmin ăn cắp vàng của một Brahmin sẽ trải qua một ngàn lần thân phận làm nhện rắn, thằn lằn. Nếu ăn cắp ngũ cốc, người đó sẽ trở thành một con chuột. Nếu ăn cắp hoa quả hay cũ rễ thì sẽ trở thành một con khỉ. Ăn cắp một phụ nữ sẽ trở thành một con gấu. Ăn cắp một con gia súc sẽ trở thành một con dê dực.
7.2. Sự Cứu Rỗi:
Con Đường Ba Lối. Đối với người Ấn độ giáo, Moksha hay là sự cứu rỗi không phải là sự giải thoát khỏi tội lỗi đã vi phạm luật của Thượng Đế. Nó chỉ là sự giải thoát khỏi toàn bộ tình trạng con người, tình trạng đó bao gồm thân xác, cõi vật chất và thời gian. Nó cũng có nghĩa là được giải thoát khỏi vòng luân hồi. Có ba đường dẫn đến sự cứu rỗi: đường công đức, đường tri thức và đường sùng tín.
7.2.1. Đường Công Đức:
Đây là đường cứu rỗi thông qua các bổn phận tôn giáo, gọi là Karma marga. Bằng việc thực hiện một số nghi lễ tôn giáo nào đó, người Ấn độ giáo tin rằng họ sẽ đến gần hơn với sự giải thoát khỏi vòng nghiệp quả (Karma). Công việc nầy sẽ kéo dài cho đến lúc họ được đầu thai vào bậc cao nhất làm một Brahmin.
7.2.2. Đường Tri Thức:
Đường tri thức được đặt cơ sở trên nhất nguyên thuyết, đó là niềm tin cho rằng thực tại duy nhất là Brahman. Niềm tin nầy cho rằng nan đề của con người đến từ sự không hiểu biết rằng mình và Brahman là một. Tư tưởng cho rằng con người cách biệt với Brahman là một ảo tưởng. Khi một người có sự hiểu biết rằng mình và Brahman là một, thì người đó được giải thoát khỏi xiềng xích của bánh xe luân hồi. Sự giải thoát nầy xảy ra sau nhiều lần suy tư và tự ghép mình vào kỷ luật.
7.3. Đường Sùng Tín:
Đường cứu rỗi thứ ba là Brakti Marga, tức là “sự yêu thích sùng tín.” Đây là một đề tài đặc biệt trong Sách thánh, Kinh Bhagavad Gita, nó đòi hỏi phải yêu thích, sùng tín thần Brahman và các thần linh khác. Sự sùng tín nầy cũng giải thoát khỏi vòng luân hồi và chuẩn bị linh hồn cho sự kết hiệp vĩnh hằng với Thượng Đế.
Dường như khá xa lạ cho chúng ta, khi thấy có quá nhiều ý niệm về Thượng Đế trong cùng một tôn giáo. Trong đường Brakti (sùng tín), Thượng Đế là một Thượng Đế có thân vị, là niềm tin hữu thần. Trong Đường Tri Thức, Thượng Đế là một phần của vũ trụ, đó là niềm tin Phiếm thần. Những niềm tin khác thì chia thượng Đế ra thành nhiều nhân cách và Ngài chẳng còn hiện hữu nữa. Đây là niềm tin vô thần. Tuy nhiên, trong Ấn độ giáo, tất cả các niềm tin đó đều tồn tại bên cạnh nhau. Triết lý của trường phái Yoga thuộc thuyết nhị nguyên, nhưng những tín đồ của nó tin nơi một Thượng Đế thuộc một loại, và do đó nó cũng có niềm tin hữu thần. Thượng Đế đó không phải là Đấng Tạo Hóa mà là một linh hồn trọn vẹn, không bị ảnh hưởng bởi sự vật. Theo triết lý Yoga, tâm trí học biết được cách để kiểm soát toàn bộ thân thể. Khi điều nầy xảy ra thì linh hồn sẽ được giải thoát khỏi sự vật, và được hiệp nhất với Thượng Đế.
8. Quan niệm cái chết theo Kitô giáo:
Người kitô hữu luôn sống trong ý thức : mình sẽ chết. Họ không coi sự chết là một cái gì bình thường. Với họ sự chết vẫn như một rạn vỡ, một bất toàn và trở nên như một định mệnh con người phải lãnh lấy. Bởi vì Thiên Chúa đã không tạo ra sự chết, cũng không vui mừng khi thấy sinh vật chết đi. Người đã tạo dựng để chúng tồn tại.
Thánh Phaolô trong thư Rôma đã minh chứng cái chết như là hậu quả của tội : “Vì một người duy nhất, mà tội lỗi đã xâm nhập trần gian, và tội lỗi gây nên sự chết; như thế, sự chết đã lan tràn tới mọi người, bởi vì mọi người đã phạm tội”.
Chết không phải là ý định của Thiên Chúa. Con người không thể tự cứu nổi mình. Con người vẫn phải chết. Con người dường như bất lực và bế tắc trước thân phận phải chết của mình. Chính lúc này Thiên Chúa đã can thiệp vào. Ngài đã ban chính Con Một Mình cho nhân loại để ai tin và sống đời sống mới trong Con của Ngài thì sẽ được cứu.
Thật vậy, nhờ được mạc khải, người Kitô hữu tin rằng : Đức Kitô khi xuống thế đã đảo lộn tình trạng bi đát của con người. Đức Kitô, Con Thiên Chúa, đã lãnh lấy sự chết loài người và đã chiến thắng sự chết bằng sự phục sinh. Đức Kitô đã đem lại một hy vọng mới cho con người : ngang qua sự chết, nhờ Đức Kitô, họ cũng sẽ được phục sinh để vĩnh viễn gặp gỡ Thiên Chúa.
Đối với đức tin Kitô giáo, sự chết là một thất bại nhưng cũng là một sự chiến thắng, một đổ vỡ nhưng cũng là một sự viên mãn; sự chết chấm dứt đời sống trần thế nhưng cũng là đường dẫn vào đời sống vĩnh cửu. Để hiểu sự chết theo quan niệm Kitô giáo rõ hơn, chúng ta hãy cùng tìm hiểu qua các đề mục : Cái chết trong Kinh thánh, cái chết của Đức Kitô, cái chết của Kitô hữu.
8.1. Luyện ngục:
Những người chết trong ân nghĩa Chúa, nhưng chưa được thanh luyện hoàn toàn, mặc dù chắc chắn được cứu độ đời đời, còn phải chịu thanh luyện sau khi chết, để đạt sự thánh thiện cần thiết để được hưởng phúc Thiên Đàng, nơi đó người ta gọi là luyện ngục.
Luyện ngục là sự cần thiết để ta tham dự vào sự sống của Thiên Chúa. Muốn được kết hợp với Thiên Chúa, chúng ta phải có một tình yêu hoàn hảo của Ngài. Chẳng ai dám nghĩ rằng khi chết đi mình ở trong tình trạng hoàn hảo để hưởng hạnh phúc nhan thánh Chúa ngoại trừ Đức trinh nữ Maria, vì thế cần phải có thời gian để thanh luyện. Tuy nhiên sự thanh luyện này có một ý nghĩa tích cực. Chúng ta phải hiểu luyện ngục không phải là một đau khổ bị áp đặt, nhưng đó là một đau khổ tự nguyện. Đau khổ như thế không phải là nỗi buồn nhưng là một niềm vui. Thánh Catherine de Gêne đã viết : “chẳng có gì , trừ nước trời, sánh với niềm vui luyện ngục, bởi vì ta càng bị thiêu đốt bởi lửa mến tinh lọc, ta thấy được mình trở nên tinh tuyền và có khả năng gặp gỡ Thiên Chúa”.
Sự tinh luyện nơi luyện ngục đụng chạm đến cái sâu thẳm của hữu thể, không thể không có đau đớn. Điều quan trọng chính là rũ bỏ hoàn toàn chính mình để có thể dâng hiến hoàn toàn cho Thiên Chúa. Sự rũ bỏ mình chính là đau khổ diễn ra trong hiện tại. Như thế, ngay tại đời này đã có luyện ngục rồi, nhưng được hoàn tất bên kia cái chết.
8.2. Hỏa ngục:
Hỏa ngục chính là tình trạng con người dứt khoát tự loại trừ khỏi sự hiệp thông với Thiên Chúa và chư thánh.
Cựu ước gọi âm phủ, hỏa ngục là chỗ ở của những người chết, đó là Shéol, là chốn hẹn hò của mọi sinh linh, là nơi bóng tối âm u ngự trị, nơi ánh sáng không khác gì đêm tối. Đó là nơi mọi kẻ sống phải xuống, và họ sẽ không bao giờ trở lên nữa, đồng thời không thể ca tụng Thiên Chúa, không còn mong đợi sự công chính hay lòng trung tín của Chúa.
Hỏa ngục dành cho người tội lỗi không thể là số phận của kẻ công chính, nhất là khi họ vì muốn trung thành với Thiên Chúa đã phải chịu người tội lỗi bách hại và đôi khi giết chết. Hỏa ngục không còn định chỗ ở tận đáy sâu của lòng đất nhưng là vũ trụ sổ lòng chống lại kẻ ngu dại. Câu chuyện người giàu có phải xa chốn hỏa ngục và Lazarô trong lòng Abraham cho thấy giữa họ có một vực thẳm lớn lao, không thể vượt qua. Lửa và vực thẳm, cơn giận của trời và đất nứt ra, sự chút dữ của Thiên Chúa và sự đối nghịch của muôn vật đó là hỏa ngục.
Trong Tân ước Đức Giêsu quan tâm nhiều đến việc sự sống phải hư mất, đến việc bị phân cách với Người hơn là mô tả hỏa ngục theo môi trường Người. Các dụ ngôn người giàu xấu tính là một quả quyết minh bạch về hỏa ngục, tuy nhiên Đức Giêsu cũng nói đến hỏa ngục với những hình ảnh dữ dội nhất, khắc nghiệt nhất: khóc lóc nghiến răng trong lò lửa rực nóng, Gêhenna, nơi dò bọ không hề chết và lửa không hề tắt, nơi Thiên Chúa có thể tiêu diệt cả hồn lẫn xác .
Đức Giêsu không chỉ nói về hỏa ngục như là một thực tại để đe dọa; Người còn tuyên bố rằng chính Người sẽ sai các Thiên Thần ném vào lò lửa rực nóng những kẻ làm điều ác, và tuyên bố lời chúc dữ : “Hỡi kẻ bị nguyền rủa, hãy xa khuất mặt Ta mà vào lửa đời đời”. Chính Người đã phán: Ta không biết các ngươi, hãy ném nó ra ngoài, nơi chốn tối tăm.
8.3. quan niệm về Satan:
Trong Thiên chúa giáo, quỷ Satan là một thiên thần do Chúa trời tạo ra, nhưng do nổi loạn chống đối nên đã bị đuổi khỏi thiên đường. Sau đó Satan đã trở thành thủ lĩnh của các thiên thần “hư hỏng”. Quỷ Satan có rất nhiều tên giống như tính cách xảo trá và tàn ác của mình: thần tăm tối, cha gian dối, quỷ Luxiphe. Quỷ Satan chẳng phải nam hay nữ, nhưng trong các truyền thuyết, hoặc hình ảnh minh họa thường là nam giới, có cơ thể cường tráng và khuôn mặt dữ dằn với 2 chiếc sừng nhọn hoắt trên đầu. Quỷ Satan cũng có nhiều phép biến hóa, bay lượn và có nội lực khá cao, vương quốc của Satan ở dưới địa ngục và Santan có thể trực tiếp hoặc sai khiến các loại quỷ khác đi phá hoại thế giới.
Trong Kinh thánh có nhắc đến hình ảnh quỷ Satan xuất hiện dưới dạng con rắn để cám dỗ ông Adam và bà Eva trong vườn địa đàng. Trong cuốn kinh khác, Satan lại xuất hiện như con rồng đỏ đi đánh nhau với con người. Trong Kinh thánh cũng mô tả, quỷ Satan luôn tìm cách cám dỗ Chúa Giêsu, các thánh khác và gây rắc rối cho con người. Quỷ Satan được mô tả có tiếng kêu gầm gào như sư tử rống, luôn rình rập, lượn tìm để nuốt sống một ai đó. Satan rất “đa mưu túc kế”, thâm độc, vì thế người ta mới có câu cửa miệng là “quỷ kế”. Một trong những điểm mạnh nhất của quỷ Satan đó là khả năng thuyết phục, các trò xảo quyệt khéo léo vì thế Satan lôi kéo được rất nhiều “tay chân” để thực hiện các kế hoạch phá hoại của mình.
Nhiều quan niệm trong tôn giáo cho rằng Satan có khả năng nhập vào con người và biến những người đó thành những kẻ độc ác. Thậm chí chính Satan đã gây ra các bệnh tâm thần và là nguyên nhân của những vụ giết người.
Chữ Satan được nhìn rất ác cảm trong suốt thời gian dài của lịch sử, phần đông nhìn Satan như là phần tà, thuộc về ma quỉ, độc ác. Dưới cái nhìn của những người thiên chúa giáo cái tên và danh từ Satan để ám chỉ những chuyện làm nghịch với Thiên Chúa và đức tin của họ . Kể từ khi có đạo Thiên chúa, sự thực tập luyện tà thuật bị cấm đoán và nguyền rủa . Cho nên những buổi tập luyện đều được giữ bí mật và kín đáo. Bất cứ người nào thực tập tà thuật đều là kẻ thù của giáo hội và đươc dán cho nhãn hiệu thầy pháp và phù thủy ,đôi còn bị giết chết .
8.4. Địa ngục :
Giê-su đã dạy ít nhất hai điều về chuyện gì sẽ xảy ra sau khi chết. Theo điều thứ nhất, sau khi chết, một người sẽ bị phán xét và hoặc được lên Thiên đàng hoặc bị xuống Địa ngục. Nhưng theo điều thứ nhì thì khi một người chết, người đó sẽ vẫn nằm trong mộ cho đến khi Giê-su trở lại, và chỉ khi đó, họ sẽ đến trước mặt Giê-su để bị phán xét. Điều nầy chứng tỏ Giê-su chẳng biết chuyện gì sẽ xảy ra nên chỉ ức đoán mà thôi. Tuy nhiên, Giê-su thì rất rõ ràng về một chuyện, đó là dù Địa ngục hoặc Thiên đàng, hể ai không tin vào Ngài thì chắc chắn sẽ bị rơi vào Địa ngục, là nơi sẽ bị trừng phạt đời đời. Thật không còn ngờ gì nữa, đây là điều ít hấp dẫn nhất trong tất cả các lời dạy của Giê-su. Đàng sau tất cả sự hiền lành và lời cổ vũ cho yêu thương và tha thứ thì ẩn náu sự đe dọa ghê gớm của một lời nguyền rủa đời đời.
Ngày nay, hầu hết những tín đồ Thiên Chúa giáo có đầu óc tiến bộ thì rất khó chịu với những điều như thế và tìm cách hợp lý hóa chúng để nghe hợp tai hơn. Trước hết, họ cố gắng làm cho Giê-su hay Chúa Trời không chịu trách nhiệm về chuyện một người bị đày xuống địa ngục bằng cách nói rằng Giê-su không đày ta mà chính bản thân ta, vì làm điều dữ, nên tự đày mình xuống Địa ngục. Nhưng nói như vậy thì hoàn toàn mâu thuẫn với Kinh Thánh vốn liên tục xác định rằng người chết thì bị phán xét trước khi bị đày xuống Địa ngục. Sự phán xét nầy không phải là một quy trình tự động mà là kết quả của một quyết định có ý thức của Giê-su hay Chúa Trời, “Bởi lòng ngươi cứng cỏi không ăn năn, thì sự chấp chứa cho mình sự giận về ngày thạnh nộ, khi sẽ hiện ra sự phán xét công bằng của Chúa Trời” .
Trong truyện ngụ ngôn Mười Minas (Lời ví dụ về những nén bạc), Giê-su đã kể chuyện một vị vua ra lệnh cho những kẻ hầu làm một số chuyện rồi bỏ đi mất. Khi vị vua trở lại, vài người hầu đã hoàn tất công việc theo đúng chỉ thị của vua, nhưng vài người khác không thi hành như vậy. Để kết thúc câu chuyện, Giê-su đã cho nhà vua nói như thế nầy: “Còn như những kẻ nghịch cùng ta, không muốn ta cai trị họ, hãy kéo họ đến đây, và chém trước mắt ta.”. Ý nghĩa của truyện ngụ ngôn quá rõ ràng, rằng đích thân Giê-su sẽ phán xét và phạt những kẻ nào chối bỏ Ngài.
Kinh Thánh cũng từng nói rõ, rằng chủ yếu không phải hành động của chúng ta, mà lòng tin, sẽ xác định cho ta lên Thiên đàng hay xuống Địa ngục. Một tín đồ Thiên Chúa giáo hư đốn và mất nết sẽ lên Thiên đàng, còn một Phật tử đạo đức và nhân ái sẽ xuống Địa ngục đời đời. Nhưng không phải chỉ ai không chịu làm tín đồ Thiên Chúa giáo là bị trừng phạt đâu, cả những người chưa bao giờ nghe nói đến Giê-su cũng bị lửa địa ngục thiêu đốt đời đời. Theo Kinh Thánh thì chân lý của Thiên Chúa giáo quá hiển nhiên nên ai cũng phải biết, còn nếu không biết thì không phải là tại chân lý đó không được tuyên thuyết mà tại vì ta đã quyết định lờ đi không thèm biết đến.
Cách tiếp theo mà tín đồ Thiên Chúa giáo nỗ lực giải thích là Địa ngục thật sự không phải là một nơi tra khảo cực hình mà là nơi để thanh tẩy cho trong sạch khi xa Chúa Trời. Nhưng một lần nữa, giải thích nầy lại mâu thuẫn với Kinh Thánh. Giê-su mô tả Địa ngục là một nơi có “lửa đời đời do ma quỷ và những quỷ sứ của nó soạn sẳn” và là một nơi “rên rĩ nghiến răng khóc than”, ở đó kẻ có tội van xin uống nước “vì tôi bị khổ trong lửa nầy quá đỗi. Giê-su còn nói rằng quyền năng của Chúa Trời đày chúng ta vào Địa ngục đời đời là để chúng ta kính sợ Ngài.
Một sách lược khác mà tín đồ Thiên Chúa giáo tiến bộ thường dùng để làm cho Địa ngục bớt tàn ác là nói rằng những đọan viết về Địa ngục trong Kinh Thánh thì không nên hiểu theo nghĩa đen. Nhưng tại sao không nên ? Nếu chúng ta đã phải chấp nhận nghĩa đen của chuyện Giê-su chết thay cho ta, Giê-su đau khổ trên cây thập tự, Giê-su phục sinh, Giê-su cứu chuộc, Giê-su tái sinh, Giê-su sẽ trở lại, Giê-su sinh ra mà Mẹ vẫn đồng trinh, thì tại sao ta lại không tin vào một Địa ngục đời đời ? Tại sao tín đồ Thiên Chúa giáo sẵn sàng chứng thực và chấp nhận một số điều nầy mà không chứng thực và chấp nhận một số điều khác của Giê-su ? Lẽ dĩ nhiên lý do thì rất rõ ràng. Đối với những đầu óc văn minh hiện đại, ý niệm rằng người phi-Thiên Chúa giáo phải đày vào một Địa ngục đời đời thì có vẻ trả thù, hận thù, tàn ác và bất công.
Những tín đồ Thiên Chúa giáo có đầu óc tiến bộ cảm thấy bối rối ngại ngùng phải chấp nhận điều tại sao mà Giê-su lại có thể nghĩ ra một ý nghĩ tàn ác quái dị như thế trước những chứng cớ không thể phủ bác trong Kinh Thánh. Còn những tín đồ Thiên Chúa giáo bảo thủ và mới theo thì ít thắc mắc câu nệ về Địa ngục hơn đồng đạo của họ. Họ sẽ năng nổ tuyên bố xác nhận Địa ngục đời đời là có thật, và mau mắn dọa rằng số phận của ta là ở đó nếu ta không tin vào Giê-su. Thái độ đó làm họ mất thiện cảm khi so sánh với những người đồng đạo tiến bộ nhưng ít nhất cũng làm cho họ tự hào vì nó phản ánh đúng đắn lời dạy của Giê-su.
9. Sáu quan niệm quan trọng của đạo hồi giáo:
Các sách viết về giáo lý Hồi Giáo đều đồng nhất tóm lược tất cả các tín-điều căn-bản (fundamental beliefs) thành 6 điều chính yếu được gọi là "SÁU TRỤ CỘT CỦA ĐỨC TIN":
1. Tin có một Thiên Chúa Duy Nhất (The Only God).
2. Tin có các Thiên Thần và Ma Quỉ
3. Tin các sách Mặc Khải (Books of Revelation)
4. Tin các vị Thiên Sứ (Messengers/Prophets)
5. Tin có ngày tận thế, xác kẻ chết sống lại, mọi người sẽ được Thiên Chúa xét xử trong Ngày Phán Xét Cuối Cùng.
6. Mọi việc do Thiên Chúa tiền định, nhưng mọi người đều có ý chí tự do.
9.1. Tín điều 2: tin có các thiên thần và ma quỉ:
Niềm tin vào các Thiên thần, nhất là các Thiên thần hộ mạng, là niềm tin chung của các đạo Thiên Chúa. Theo các nhà nghiên cứu tôn giáo thì hiện nay có tới 70% dân Mỹ tin có Thiên thần. Nói chung, người ta cho rằng Thiên thần là những sinh vật linh thiêng (spiritual beings) có nhiệm vụ làm trung gian giữa Thiên Chúa và loài người. Vì vậy Thiên thần cũng được coi là Thiên sứ.
Ý niệm về Thiên thần đã có từ trên 4000 năm qua. Các nhà khảo cổ đã tìm thấy tại thành phố UR ở Babylon một phiến đá có khắc hình nổi một người đàn ông có hai cánh. Hình này được xác định thuộc niên đại 2300 năm TCN. Tuy nhiên, ý niệm về Thiên thần của Babylon đã không đi vào Kinh Thánh Do Thái.
Các nhà tôn-giáo-học chuyên nghiên cứu về Thiên thần cho rằng ý niệm Thiên thần phát xuất từ Hỏa Giáo Ba Tư. Hỏa Giáo được sáng lập bởi một triết gia Ba Tư tên là Zoroaster vào khoảng thế kỷ 12 TCN. Hỏa giáo trở thành quốc giáo của đế quốc Ba Tư từ thế kỷ 10 TCN đến thế kỷ 7 sau Công Nguyên. Vào năm 579 TCN, đế quốc Ba Tư chiếm Babylon (tức Iraq ngày nay), đến năm 539, Ba Tư chiếm Do Thái và cai trị vùng này nhiều thế kỷ. Do đó, đạo Do Thái đã du nhập các ý niệm về Thiên thần của Hỏa Giáo từ thời gian này.
Các sách Kinh Thánh Cựu Ước của Do Thái có trước thời gian này đều không nói gì đến các Thiên thần.
Ki Tô Giáo du nhập ý niệm Thiên thần của Hỏa Giáo Ba Tư qua sách Kinh Thánh Cựu Ước của đạo Do Thái. Tuy nhiên, Ki Tô Giáo đã khai thác ý niệm Thiên thần nhiều hơn đạo Do Thái.
Đối với Ki Tô Giáo, Thiên thần Gabriel trở thành một Thiên thần chuyên về việc đi thông báo các mệnh lệnh của Thiên Chúa. Chẳng hạn Gabriel báo tin cho bà Maria về việc bà thụ thai để sinh ra Jesus hoặc báo tin cho Joseph phải trốn sang Ai Cập v.v... Thiên thần Micae được Công Giáo La Mã khắc họa như một tên lính La Mã tay cầm cái giáo dài đâm vào đầu một con rắn mà ông ta đạp dưới chân. Dưới thời Ngô Đình Diệm làm tổng thống VNCH, Thiên thần Micae (Micheal/ Saint Michel) được Diệm chọn làm thánh tổ của binh chủng nhảy dù. Con rắn ở dưới chân của thiên thần Micae được giải thích là biểu tượng của chủ nghĩa "Cộng Sản vô thần" . Trong thực tế, binh chủng nhảy dù đã là lực lượng chủ yếu làm cuộc đảo chánh chống Diệm năm 1960 và lật đổ chế độ Diệm năm 1963. Con rắn dưới chân Thiên thần Micae trong thực tế là biểu tượng của chính chế độ Công Giáo Ngô Đình Diệm!
Ý niệm về các Thiên thần của Hỏa giáo Ba Tư truyền qua đạo Do Thái và đạo Ki Tô sang đạo Hồi. Trong đạo Hồi, thiên thần Gabriel trở thành một vị Thiên sứ đặc biệt của Thiên Chúa Allah truyền mọi mệnh lệnh và mọi điều mặc khải cho Muhammad ghi chép. Vì vậy kinh Koran được gọi là "Thiên Kinh" ghi chép lời Chúa (Words of God). Nếu không tin có Thiên thần thì kinh Koran sẽ bị mất hết giá trị và không thể có đạo Hồi. Tin tức đầu tiên mà Gabriel thông báo cho Muhammad biết là việc Thiên Chúa đã chọn ông làm Tông Đồ của Ngài: "Này Muhammad! Con đã được Thiên Chúa chọn làm tông đồ của Ngài! và ta là Gabriel!".
Ngoài hai vị Thiên thần Gabriel và Micae rất nổi danh trong các đạo độc thần còn có một số Thiên thần khác không được các đạo này đồng nhất tin theo:
- Thiên thần Raphael được Công Giáo La Mã tin là vị Thiên thần chuyên cứu nguy. Đạo Do Thái, đạo Hồi và Tin Lành phủ nhận sự hiện hữu của Thiên thần Raphael.
- Về Thiên thần của sự chết: Ki Tô Giáo tin rằng tên của ngài là Andrew. Ngài rất đẹp và nhân từ, thường giúp người ta trút linh hồn trong bình an êm ái. Đạo Hồi gọi tên ngài là Arazel. Ngài đón linh hồn các tín đồ ngoan đạo để rước về thiên đàng. Ngài hành hạ những kẻ không tin Chúa và vứt linh hồn của chúng xuống hỏa ngục.
- Thiên thần Israfel: Cả hai đạo Ki Tô và Hồi đều tin rằng đến ngày tận thế, tức là Ngày Phán Xét Cuối Cùng, Thiên thần Israfel sẽ thổi kèn trumpet để đánh thức tất cả mọi người chết sống dậy để tập trung tại thung lũng Kindron ở ngoại ô Jerusalem nghe Chúa phán xử lần chót có tính chung quyết!...
Quan niệm về Quỉ: Cả ba đạo độc thần đều đồng nhất trong quan niệm cho rằng quỉ là những Thiên thần sa ngã nên bị Chúa phạt đày xuống hỏa ngục. Ki Tô Giáo học theo sách Enoch trong bộ Kinh Thánh của Do Thái, một sản phẩm du nhập thần học của Hỏa Giáo Ba Tư, cho rằng Thiên thần Lucifer lãnh đạo một cuộc đảo chánh trên Thiên Đàng để cướp ngôi của Thiên Chúa. Lucifer trở thành hiện thân của lòng kiêu ngạo bị Chúa phạt thành quỉ có đuôi, có sừng và có tai giống tai dơi. Từ đó Lucifer mang tên là Satan. Người Hồi Giáo gọi Satan là Shaitan hoặc Iblis (do phiên âm từ tiếng Hy Lạp Diablos).
Hồi Giáo tin rằng Satan sẽ được Thiên Chúa tha tội trong ngày Phán Xét Cuối Cùng và được phục hồi tư cách thiên thần như xưa. Satan không phải là thủ lãnh của bầy quỉ cai quản hỏa ngục mà chỉ là kẻ cai quản các kẻ ác trên thế gian. Thiên Chúa trao chức vụ thủ lãnh hỏa ngục cho thiên thần Mali.
Ngoài niềm tin về Thiên thần và quỉ, đạo Hồi còn có thêm một loại thần linh thứ ba là Jinn (số ít) hoặc Jinni (số nhiều). Ki Tô Giáo không tin có loại thần linh này. Theo đạo Hồi thì Jinn là một loại thần linh thường biến hình thành người hoặc loài vật, được Thiên Chúa cấu tạo nên từ lửa. Kinh Koran ghi rằng: "Con người được tạo nên bằng đất sét, Jinn được chế tạo từ ngọn lửa".
Quan niệm về Jinn xuất phát từ Babylon vào khoảng 3000 năm TCN. Người Babylon gọi Jinn là "Cherubims". Đạo Do Thái du nhập "Cherubims" vào Sách Sáng Thế Ký (Genesis) là sách đầu tiên trong bộ thánh kinh của đạo Do Thái. Sách Sáng Thế Ký kể rằng: Sau khi Adam và Evà phạm tội ăn trái cấm liền bị Chúa đuổi ra khỏi vườn Địa Đàng. Chúa sai các Cherubims trú đóng ở phía đông vườn Địa Đàng để chặn lối dẫn đến "Cây của Sự Sống".
Cũng cùng một nguồn gốc từ Kinh Thánh Cựu Ước, Ki Tô Giáo bác bỏ Cherubims nên không bao giờ nhắc tới chúng. Trong khi đó, đạo Hồi chấp nhận niềm tin vào Cherubims và gọi chúng bằng tiếng Ả Rập là Jinn.
Muhammad đã xác nhận đạo Hồi không mang lại một điều gì mới mà chỉ xác nhận lại những điều Thiên Chúa đã mặc khải trong Kinh Thánh Cựu Ước của đạo Do Thái và trong sách Phúc Âm của đạo Ki Tô. Kinh Koran chỉ là một SỰ NHẮC LẠI. Muhammad cũng tự coi mình là một kẻ nhắc lại: "Kẻ nhắc lại đó đến với anh từ Thiên Chúa để cảnh báo anh".
10. Quan niệm của phật giáo về địa ngục:
Theo quan niệm chung, khi người ta nói đến "địa ngục", là người ta nói đến một hình thức trừng phạt tội lỗi của "linh hồn". Vậy địa ngục không gì khác hơn là môi trường đọa đày của những tâm hồn tội lỗi. Hay nếu phát biểu một cách “Phật học” và tổng quát hơn, thì "địa ngục là cảnh giới của những sinh linh tội lỗi". Những “sinh linh” nầy, (bao gồm cả ma quỷ, phần nhiều là vô hình), khi trả hết quả xấu, có thể luân hồi vào một cảnh giới tương ứng với bản tánh của họ.
Nhưng đối với thế gian, hai chữ "tội lỗi" thường rất mờ nghĩa, nhiều khi còn mâu thuẫn là đằng khác. Chẳng hạng như tại một số quốc gia theo đạo Hồi mà ăn thịt heo, thì thật là tội lỗi, còn xơi thịt bò thì lại không sao. Ngược lại ở những nước theo Ấn Ðộ giáo, kẻ nào dám tiêu thụ thịt bò, là kẻ ấy phạm rất nhiều tội lỗi, mà ăn thịt heo thì lại không sao. Người thuần thành theo Ấn Độ giáo không bao giờ dám nhìn miếng thịt bò, chứ đùng nói là tiêu thụ, vì sợ phạm thánh.
Kẻ soạn quyển sách nhỏ bé nầy đã một thời tòng học, tại viện cao đẳng Phật học Nalanda, một vùng thôn quê nước Ấn Ðộ. Ở đây, nơi nào có một bụi é-tím hay một bụi é-xanh, là nơi đó có một bàn thờ thần thánh. Dù cho giống cây ấy mọc ngay giữa đám ruộng, gây trở ngại cho việc canh tác, người ta cũng không dám nhổ bỏ, vì sợ phạm thánh và tội lỗi !
Rồi cũng tại nơi đây giống rau muống là thứ "cỏ dại" mà dân địa phương xem là "ô trược", chỉ dành để nuôi heo bò, lại được sinh viên Việt Nam rất chiếu cố. Tức là cùng một vật mà ở Ấn Ðộ rất bị coi thường, "khi dể", trong khi đó tại VN, nhất là miền Bắc thì rau muống là món “légume” phổ thông ăn rất tốt.
Xem như thế đủ thấy rằng, hai chữ “ô-trược” hay "tội lỗi" của thế gian, thường không đồng nghĩa với danh từ tội lỗi trong Phật Giáo !
Vậy Phật Giáo quan niệm hai chữ tội lỗi như thế nào ? Theo Phật Giáo “tội lỗi chính là sự tự ý thức rằng hành động của mình, gây đau khổ cho đồng loại, hay cho một sinh vật khác”. Và gây đau khổ là ác độc !
Cũng có người lý luận : "Do hấp thụ những nền văn hóa (tin có thần thánh và thượng đế) khác nhau, mà cùng một hành động làm đổ máu, có thể ở nơi nầy cho là gây đau khổ, còn ở nơi khác thì lại xem như một hình thức “nghi lễ” tự nhiên, nhất là để cúng tế, hướng về các đấng thiêng liêng, vì hy sinh cho thần thánh, thì không gây đau khổ, không ác độc. -Như thế, đâu là quy tắc để ấn định chuyện “thiện- ác” hay tội lỗi ?!".
Với lối ngụy biện, dựa trên sự né tránh hậu quả, viện dẫn theo tín thành tôn giáo, một cách vô trách nhiệm trên đây, Ðức Phật lúc còn tại tiền, đã không chủ trương tranh luận với những kẻ cố chấp, si mê, tham lam và vị kỷ, vì đó là một điều vô ích.
Nhưng Ngài vẫn do lòng từ bi, gián tiếp giảng giải trong mọi kinh điển, khuyên các hàng học Phật sau nầy, nên tự vấn, suy gẫm, và tìm trả lời câu hỏi sau đây : “Ai có thể tin rằng khi người ta đem một con thú ra giết chết, để lấy máu tế thần tế thánh (hoặc để ăn, viện dẫn là "vật dưỡng nhơn"), rồi bảo đó là lẽ tự nhiên, hay vì lẽ thiêng liêng, và không biết con thú bất hạnh ấy đang chịu sự đau đớn ?”, hoặc “Khi người ta cuồng tín, hành hạ một nạn nhân (như thời cổ Ai-Cập, vợ phải bị chôn sống chung mộ, theo người chồng qua đời), mà người ta không ý thức được rằng người đàn bà ấy đang tuyệt vọng, khốn khổ ?”
-Hay Ðó chỉ là một hành động từ bản tánh tham lam, ác độc, hối lộ thần thánh, mà con người vì bị ngu dân, ích kỷ và cuồng tín, mà không dám nhìn nhận, rồi qui hết trách nhiệm vào những quyền lực siêu nhiên trừu tượng, một cách hoàn toàn vô lý, xảo trá, và phản tự nhiên !?
Bình tâm xét kỹ, thì không có một tôn giáo nào, một nền văn hóa nào, có thể biến hẳn cái cảm quan, hay cảm tình và ý thức của con người, trở thành trái ngược, để thấy sự mê tín là hữu lý, để kết luận sự dả man tàn ác là một việc tốt "hướng về thiêng liêng", để lấy cái chết của sinh vật nầy bồi dưỡng cho sinh vật khác là một điều “mành mạnh” tự nhiên, -dù nền văn hóa ấy hay tôn giáo ấy, có lối suy nghĩ nghịch chiều nhất trần gian đi nữa !
-Ai có thể chấp nhận rằng con người vì tin tưởng một đấng toàn năng mà mất hết mọi cảm giác, đảo ngược mọi ý thức bình thường, để có thể làm một việc ác độc mà không biết gì về tác dụng của nó, và yên tâm cho đó là hành động theo "ý muốn" của thần linh ?-Hoặc đã làm xong một điều tội lỗi rồi, mà tin rằng nếu cầu xin thần linh tha thứ, thì tội kia sẽ hết ?
Nói tóm lại "ý thức mình (con người) đã gây đau khổ đến một đối tượng nào đó chính là tội lỗi". -Và tạo tội lỗi hay tạo đau khổ chính là xây địa ngục cho chính mình ! Phật Giáo còn nói rõ hơn "Tội lỗi là sự thành hình hay kết quả đau khổ của kẻ tạo ác nghiệp".
Theo Phật Giáo, có ba loại chịu đựng đau khổ, là biểu tượng của thoái hóa, của sa đọa, hay của địa ngục :
1/ Ðau khổ vì nghiệp quả hiện tại, hay còn gọi là đau khổ thuần vật chất. Ðây là sự đau khổ của thể xác, của bệnh hoạn, do những phản xạ tự nhiên, từ các hệ thần kinh, từ các tế bào bị thương, hay từ mạch máu nhiễm độc do vi trùng gây ra. Loại nầy tạm ví như khi ta ăn cơm vô ý cắn trúng lưỡi, hoặc lúc đóng đinh đập nhầm đầu ngón tay. Sự đau khổ này có thể xem tương đương với trạng thái đau khổ của các loài thú vật, khi va chạm với những khắc nghiệt của thiên nhiên.
2/ Ðau khổ vì nghiệp quả đa thời, hay còn gọi là đau khổ thuộc về tinh thần. Ðây chính là sự đau khổ đeo dính trong tâm, xuyên suốt dòng thời gian, chẳng hạng như sợ sệt, bức xúc, tiếc rẻ, nhớ nhung, bất toại nguyện, oán hận, hay hoang mang v.v...
3/ Ðau khổ vì nghiệp quả huân tập, hay còn gọi là đau khổ cả thể xác lẫn tinh thần. Nói cách khác, ấy là loại đau khổ hầu như dành riêng cho thế giới loài người. (mang thân Ngũ uẩn, gồm Sắc, thọ, tưởng, hành, và thức). Nó là sự hỗn hợp của hai loại chịu đựng đau khổ kể trên, và nó cũng chính là hậu quả "tất nhiên" của "bánh xe luân hồi", bao gồm những pháp hành bất thiện, hoặc bao gồm những hành vi, vừa thiện vừa bất thiện, thuộc “vật chất lẫn tinh thần”, hay thuộc danh và sắc.
Nếu sắp lại theo thứ tự từ thấp lên cao, hay từ khía cạnh cụ thể đến khía cạnh trừu tượng, thì ba loại đau khổ ấy có thể viết ra như sau :
1-Ðau khổ của thể xác, khi tái sinh làm “động vật” (kể cả loài người), như đói khát, lạnh nóng, hay bệnh hoạn, phản xạ sinh hóa trong xương thịt (cơ bắp), qua các giai đoạn, sinh, thành, trụ, hoại. Cụ thể.
2-Ðau khổ của linh hồn (tinh thần), khi tái sinh làm một số chúng sinh có “trí khôn” (chấp thủ), biết tư duy, hay “biết” dày vò tâm ý qua tư tưởng khao khát, trong "đọa cảnh bất toại nguyện", như thiên ma (A Tu La), Ngạ Qủy, cô hồn, các đẳng..v..v.. Trừu tượng.
3-Ðau khổ của “địa ngục trần gian” (thể xác lẫn tinh thần), đặc biệt là khi tái sinh làm người, và vì tham sân si, khát vọng, mà xung đột tranh giành không ngừng, để thõa mãn sự sống. Cả trừu tượng lẫn cụ thể.
Phật Giáo tuy không xác nhận có một "địa ngục nhất định", do một đấng “thẩm quyền toàn năng” nào đó dựng lên, để trừng phạt những ai không tuân theo ý muốn của đấng “toàn năng” ấy. Nhưng Phật Giáo tin chắc có một tình trạng "khổ đọa" có thể được mắt trần nhìn thấy, và cũng có thể vì bị cách nghiệp, không được mắt trần nhìn thấy.
Tình trạng khổ đọa ấy người ta muốn gọi bằng danh từ gì cũng được, như “nhân cách hóa” là "địa ngục âm ty" chẳng hạng. Nhưng điều chính yếu mà chúng tôi muốn làm sáng tỏ ở đây, là "âm cảnh tù ngục" kia, không bị hạn chế bởi thời gian lẫn không gian, như con người thường tưởng tượng, -mà một cách chánh đáng hơn "âm cảnh tù ngục" ấy, theo đạo Phật, là một khổ cảnh do chính nạn nhân, vì bị vô minh ái dục che áng, mà tăm tối thường xuyên tạo ra.
10.1. Quan Niệm Phật Giáo Về Thiên Đường Và Địa Ngục
Người Phật Tử không chấp nhận những nơi đó là trường cửu. Thật vô lý khi đầy đọa một người nào đó vào địa ngực vĩnh viễn vì những nhược điểm của y nhưng rất hợp lý nếu cho y có cơ hội tự mình tu sửa. Theo quan điểm Phật Giáo, những kẻ bị vào địa ngục có thể tự chuyển hóa để hướng thượng do những công đức đã tạo được trước đó. Cửa địa ngục không khóa. Địa ngục chỉ là một nơi tạm bợ và không có lý do nào bắt những chúng sanh đó phải chịu đau khổ mãi mãi ở nơi đó.Giáo lý của Đức Phật cho chúng ta thấy có thiên đường và địa ngục không những bên kia thế giới này, mà cũng có ngay chính trong thế giới này.
Do vậy, quan niệm thiên đường và địa ngục rất hợp lý. Chẳng hạn, Đức Phật một lần nói: “khi người thiểu trí cỡ trung bình khẳng định là có Địa Ngục dưới đại dương, kẻ đó đã quyết đoán sai lầm và vô căn cứ”. “Địa Ngục” là từ ngữ dùng để chỉ những cảm giác đau đớn. Ý kiến về một nơi chốn đặc biệt đã được tạo sẵn hoặc một cảnh giới tạo ra bởi thượng đế như thiên đường và địa ngục không thể chấp nhận được theo quan niệm Phật Giáo.Lửa địa ngục trong thế giới này còn nóng hơn lửa địa ngục bên kia thế giới. Không có lửa nào bằng lửa sân hận, ái dục, tham lam và si mê.
Theo Đức Phật chúng ta đang bị thiêu đốt bởi mười một loại đau khổ vật chất và tinh thần: tham lam, sân hận, bệnh ảo tưởng, suy tàn, chết, lo âu, than van, đau đớn (vật chất và tinh thần) sầu muộn và nuối tiếc. Con người có thể đốt cháy toàn thể thế giới với các loại lửa này do sự thiếu điều hòa về tâm linh. Theo một quan điểm Phật Giáo, cách dễ nhất định nghĩa địa ngục và thiên đường là bất luận nơi đâu có nhiều khổ đau ở thế gian này hay trong bất cứ cảnh giới nào, chỗ đó là địa ngục cho những người đau khổ. Nơi đâu có nhiều lạc thú và hạnh phúc, ở thế gian này hay trong bất cứ cảnh giới nào khác, cõi đó là thiên đường cho những người vui hưởng đời sống trần thế tại nơi chốn đặc biệt đó.
Tuy nhiên, cảnh giới của loài người có lẫn lộn cả đau đớn lẫn sung sướng, con người kinh nghiệm được cả đau khổ lẫn hạnh phúc, và do đó có thể chứng nghiệm được bản chất thực sự của đời sống. Nhưng ở nhiều cảnh giới, chúng sinh nơi đó ít có cơ hội coù được sự chứng ngộ này. Có nơi, đau khổ nhiều hơn hạnh phúc, có nơi lạc thú nhiều hơn đau khổ.Người Phật Tử tin rằng sau khi chết sẽ có tái sanh vào một trong số những kiếp sống có thể có được. Kiếp sống tương lai này đưôïc tạo nên bởi chập tư tưởng cuối cùng của một người lúc sắp chết. Tư tưởng cuối cùng này quyết định kiếp sống tương lai do kết quả những hành động quá khứ của người đó trong kiếp này hoặc kiếp trước.
Thiên đường là một cõi tạm dành cho những ai đã tạo được nhiều hành động tốt đẹp được hưởng những lạc thú giác quan thêm một thời gian dài nữa. Địa ngục là một cõi tạm khác mà những người tội lỗi phải chịu thêm nhiều đau khổ về vật chất và tinh thần. Không có lý do nào để tin là các nơi đó thường còn. Không có thượng đế ở sau hậu trường thiên đưòng và địa ngục. Mỗi và mọi người đều kinh nghiệm khác nhau tùy theo thiện hay ác nghiệp của mình. Người Phật Tử chưa bao giờ thuyết phục ai đến với Đạo mình bằng cách đe dọa lửa điạ ngục hay cám dỗ bằng thiên đường.
Lý tưởng chính của họ là xây dựng cá tính và huấn luyện tinh thần. Người Phật Tử tu tập không cần phải nhắm đến thiên đường hay phát triển tâm sợ hãi địa ngục. Bổn phận của họ là sống đứng đắn bằng cách giữ vững những phẩm tính của con người và niềm an lạc trong tâm.
11. Đạo Cao Đài quan niệm về Địa ngục:
một cách rất khoa học, như sau: Địa ngục là một cảnh giới hoàn toàn trái ngược với cảnh Cực Lạc Niết Bàn hay Bồng Lai Tiên cảnh. Cảnh Cực Lạc Niết Bàn thì trong sáng, tốt đẹp, an vui; đối lại cảnh Địa ngục tăm tối, ô trược, đau khổ.
Do đó, Đạo Cao Đài đổi chữ Địa ngục thành chữ U Minh Địa giới thì rất đúng và tránh được điều mê tín dị đoan.
Cõi U Minh Địa giới gồm 4 quả Địa cầu: Số 69, 70, 71, và 72 trong dãy Thất thập nhị Địa mà Địa cầu của nhơn loại chúng ta đang ở là Địa cầu số 68. Đó là 4 Địa cầu trọng trược, tối tăm, lạnh lẽo, chìm sâu dưới đáy vũ trụ, buồn thảm vô cùng.
Những người gian tà độc ác, phạm nhiều trọng tội trong kiếp sanh, khi chết thì linh hồn và chơn thần xuất ra bị bao phủ bởi một chất khí ô trược nặng nề, không thể bay lên được, mà bị kéo rơi xuống vào một trong bốn quả Địa cầu của U Minh Địa theo luật hấp dẫn đồng khí tương cầu.
Thánh giáo của Đức Chí Tôn:
"Nếu các con cho Địa ngục là ở dưới đất thì lầm lắm! Trong trung tim trái đất chỉ toàn là lửa. Vả trong vũ trụ nầy có biết bao nhiêu là trái địa cầu, những trái thanh thì vượt nổi lên trên mà hưởng lấy khí Dương rất đỗi nhẹ nhàng sáng suốt, còn những trái trọng trược thì lặn chìm xuống dưới mà bị lấy khí Âm rất đen tối u minh.
Vậy, nếu các con, hoặc đã phạm tội với Trời, hoặc mang đại ác với người, thì linh hồn tất phải bị đọa xuống nơi mấy trái địa cầu mà Âm khí nặng nề khốn nạn ấy để chịu buồn rầu, khổ cực, nhức nhối tâm hồn, xốn xang trí não.
Đó là Nhân quả, nghiệp chướng, oan gia của các con đã tạo gieo, nó theo các con mà hành phạt lấy các con, chớ không có cưa xẻ, trừng trị như người ta hiểu lầm, thường gọi là Thập Điện Diêm Vương đâu.
Những cõi ấy, linh hồn nào rủi ro bị đọa lạc vào thì càng ngày càng thêm mê muội, tối tăm mãi mãi. Ôi! Khốn khổ biết bao! Thầy khó tả ra những sự đọa đày trải qua của các linh hồn phạm tội phải cam chịu trong mấy cõi ấy."
Các Đấng Giáo Chủ của các tôn giáo cũng biết Địa ngục là như thế, nhưng tại sao lại ra kinh sách nói rằng Địa ngục có những hình phạt ghê gớm như xay cưa đốt giã, hình bào lạc, cua kình xé thây, ao huyết phẩn gậy cây đánh đầu?
Bởi vì trình độ nhơn sanh lúc đó còn thấp, mô tả ra những điều ghê gớm như thế cốt để người ta kinh sợ, không dám làm ác, lo làm điều lành.
Trong quyển Kinh Thiên Đạo và Thế Đạo có hai bài kinh còn nói đến các cảnh trừng phạt các tội hồn nơi Địa ngục: Kinh Sám Hối và Giới Tâm Kinh.
Kinh Sám Hối do các Đấng thiêng liêng giáng cơ ban cho Minh Lý Đạo (Tam Tông Miếu) vào năm 1925. Bài Giới Tâm Kinh do các Đấng ban cho Chi Minh Tân.
Đây là hai bài kinh mà Hội Thánh vâng lịnh Đức Chí Tôn thỉnh về làm Kinh của Đạo Cao Đài thuở mới Khai Đạo.
Chúng ta cần phải lưu ý để phân biệt, kinh nào là kinh chánh gốc của Đạo Cao Đài, và kinh nào là kinh thỉnh nơi các tôn giáo khác. Nhưng trong các bài kinh của Đạo Cao Đài, các Đấng vẫn dùng chữ "Địa ngục" mà chúng ta phải hiểu đây là cõi U Minh Địa giới gồm 4 Địa cầu chìm sâu dưới đáy vũ trụ.
Trong thời kỳ khởi đầu của Đạo Cao Đài, Đức Chí Tôn Đại khai Ân Xá, nên Đức Chí Tôn ra lịnh đóng cửa Địa ngục, không cho đày đọa các linh hồn tội lỗi xuống cõi U Minh nữa, mà Đức Chí Tôn giao cho DTC mở ra cõi Âm Quang để dạy Đạo cho các linh hồn nầy. Đức Địa Tạng Vương Bồ Tát dạy Đạo cho các nam tội hồn, và Thất Nương DTC dạy Đạo cho các nữ tội hồn. Khi các tội hồn thức tỉnh, học đạo biết hồi đầu hướng thiện thì được cho tái kiếp nơi cõi trần mà trả quả và tu hành, hầu sớm được trở về cùng Đức Chí Tôn và Phật Mẫu.
Thánh giáo của Đức Chí Tôn nói rằng: Khi nào Đức Phạm Hộ Pháp thoát xác trở về thiêng liêng, Ngài sẽ vâng lịnh Đức Chí Tôn đi đóng cửa các Địa ngục.
11.1. Đạo cao đài Khái niệm về thiên đàng và địa ngục:
Con đường Thiêng Liêng Hằng Sống là đường đi của chơn thần sau khi rời khỏi thể xác trở về Thượng Đế để rồi sẽ còn tiếp tục luân hồi nhiều kiếp nữa trên đường tấn hóa.
Muốn hiểu được lộ trình nầy cần phải hiểu thế nào là Thiên Đàng, thế nào là Địa Ngục, Thượng Đế là ai?
Cõi trần chúng ta ở đây là một lữ quán, chỗ trọ tạm thời của các đẳng (hạng) chơn linh. Quê hương thật sự của chúng ta là Niết Bàn hay xứ Thiên Đàng, chúng ta đến đây như một người khách lạ dừng chân nơi quán trọ nên gọi là khách trần.
Bây giờ hãy bắt đầu từ vị trí hiện tại của chúng ta trên mặt địa cầu 68 nầy, thử tìm hiểu chúng ta sẽ đi về đâu sẽ làm gì trong cuộc sống và sau khi chết.
Con người sinh ra trên mặt đất lớn lên già rồi chết, đó là định luật chung của Tạo Hóa, những tài sản, của cải, gia tài đều phải bỏ lại cho thế gian và cái chết người đời thường nhầm lẫn là hết. Sự thật không phải vậy. Nơi con người chúng ta có ba phần :xác thịt, đệ nhị xác thân và chơn linh, con người gọi là chết khi đệ nhị xác thân và chơn linh cùng một lúc rời khỏi xác thịt mang theo những tư tưởng lành dữ trong suốt kiếp sanh của mình. Từ đây đệ nhị xác thân và chơn linh vẫn còn tiếp tục hoạt động dù không có xác thịt hữu hình, nó vẫn hoạt động, nó vẫn sống dưới hình thức tư tưởng và những tư tưởng nầy tiếp nối tư tưởng hàng ngày của chúng ta khi còn ở thế. Nó vẫn biết đi, đứng, ăn, nói, cười nhưng chỉ toàn là ảo giác, những sinh hoạt ấy mường tượng như trong giấc chiêm bao vậy.
Thường thường sau khi rời khỏi thể xác thì cái phần còn lại thường gọi là chơn thần của chúng ta có hai con đường phải theo :
- Một là nhập vào cỏi Niết-Bàn tức là trở về nơi quê hương thật sự của chơn linh của chúng ta, trở về với Thượng Đế mà không bị một trở ngại nào. Đó là trường hợp của những kẻ đắc Đạo.
- Hai là phải dừng chơn ở một nơi trung gian trên con đường về tới Thiên Đàng, gọi là phong đô hay âm quang địa phủ, địa ngục, diêm đình. Chơn thần dừng chân nơi đây lâu hay mau tùy theo tội tình quả kiếp của mình để giải thần định trí nghĩa là chờ cho đến lúc quên hết những tư tưởng và hình ảnh xấu xa của tội lỗi mà mình đã nghĩ đến hoặc đã làm khi còn sanh tiền. Những sự đau khổ, sợ hãi, hối hận triền miên đến với chơn thần, kèm theo những hình ảnh đau thương mà mình đã gây ra cho kẻ khác khi còn sống từ từ hiện ra trước mắt y như một cuồn phim của kẻ vô hình nào đó đã lén quay tất cả hành vi, tư tưởng dù thầm lén của chúng ta trong suốt cuộc sống. Đại khái nó giống như hình phạt của lương tâm khi chúng ta làm điều lỗi và biết ăn năn khi còn ở thế, nhưng cường độ đau khổ mạnh hơn gấp trăm ngàn lần .
Cho đến khi thần an trí định nghĩa là "phạt xong" thì chơn thần mới được phép ruổi dong trên con đường thiêng liêng hằng sống để trở về cùng Thượng Đế và định cho mình lộ trình sắp tới phải đi về đâu để học hỏi thêm trong vũ trụ nầy, thường thường phải chuyển kiếp đầu thai.
Bây giờ giả sử chơn linh của chúng ta nương náo trong đệ nhị xác thân đã về tới cõi Niết bàn là nơi chúng ta vui hưởng thanh nhàn an lạc đời đời, đó là một nơi trong càn khôn vũ trụ mà cũng là một trạng thái tâm linh sẽ đạt đến khi đắc Đạo.
Riêng đối với mấy em , đời sống hãy còn gắn liền với những cảm xúc buồn, vui, ghét, giận thì Thầy phải nói rằng đây là một nơi vui sướng vô ngần. Sự vui sướng nơi đây không thể nào diển tả được bằng ngôn ngữ hằng ngày của chúng ta.
Những người có tư tưởng cao thượng khi làm được một điều lành, một hành vi tốt đẹp như giúp đở người khác được toại nguyện theo đường lành thì liền trong tâm tư có một sự vui sướng trào dâng đến cực độ, đại khái nó giống như sự vui sướng mà mấy em sẽ bắt gặp trên con đường hướng về Thượng Đế nhưng cường độ sự vui sướng trong cõi hư linh kia mạnh hơn rất nhiều.
Thiên Đàng hay Niết Bàn là cõi hư vô tịch-diệt, chơn linh nhập được vào cõi đó phải có đồng bản tính nghĩa là yên tĩnh hoàn toàn. Mấy em khó mà tưởng tượng ra nổi cảnh không không ấy như thế nào, chỉ khi nào mấy em tu hành đạt đến mức ấy mới biết rõ, ngay cả các bậc chơn tu đắc đạo cũng phải nhìn nhận rằng tất cả các tiếng nói, chữ viết của loài người hiện không đủ để diển tả những kinh nghiệm mà các Ngài đã sống qua trong cõi ấy. Tuy nhiên, Thầy muốn nêu ra đây để mấy em có khái niệm về một cõi Thiên Đàng nho nhỏ tại tâm của mỗi người và có một đức tin vững mạnh rằng Niết-Bàn là điều có thật trong vũ trụ chớ không phải là điều huyển hoặc do người đời bày vẽ ra để dối gạt mấy em.
Tóm lại trên đây là khái niệm rất sơ lược và thiếu sót về hai cõi Thiên Đàng và Địa Ngục. Cái quyền năng làm chủ tất cả những cõi Trời những hoạt động vô hình hay hữu hình của tất cả mọi đẳng cấp chơn linh, mọi vì tinh tú, là quyền năng của Thượng Đế. Đó là Đấng vô hình toàn năng, toàn tri, Chí Tôn, Chí Đại, thiên biến vạn hóa, có mặt luôn luôn và không bao giờ mất. Người đời tôn sùng Thượng Đế với nhiều danh hiệu khác nhau như :
- Đấng Giê-Hô-Va của Đạo Do Thái.
- Đức Chúa Trời của Thiên Chúa Giáo.
- Đức Chí Tôn của Cao Đài Giáo.
Nhưng tựu trung chỉ có một Đấng duy nhất mà thôi đó là Đấng Tạo Hóa tức là Ông Trời.
12. Nên hiểu như thế nào là địa ngục:
Địa ngục tiếng Hán dịch là vô lạc, khả yếm, khổ khí, khổ cụ, hữu và vô. Sáu nghĩa trên mang nội hàm như sau: vô lạc – không có niềm vui, khả yếm – chỉ cảm thấy đau khổ, khổ khí – không khí làm người ta cảm thấy đau khổ, khổ cụ – dụng cụ tạo nên đau khổ, hữu là có, vô là không. Điều này có nghĩa đen, địa ngục là nơi không có niềm vui, chỉ toàn là đau khổ, là nơi chứa đựng nhiều cực hình và nhiều dụng cụ tra khảo. Tuy nhiên bên cạnh đó, chúng ta cần nhìn nhận một khía cạnh nghĩa khác mang phổ quát hơn, rộng lơn hơn.
Bất kỳ nơi nào có một trong sáu yếu tố trên thì đó chính là nơi địa ngục xuất hiện. Và sự xuất hiện của một yếu tố sẽ kéo theo sự xuất hiện của năm yếu tố còn lại. Nơi nào chúng ta cảm nhận đau khổ thì nơi đó không có niềm vui (hoặc chúng ta không thể cảm nhận được niềm vui cho dù niềm vui vẫn đang hiện diện). Nơi đó sẽ có không khí đau khổ với những con người và những dụng cụ là nguyên nhân gây ra nỗi khổ niềm đau cho chúng ta. Mà nguyên nhân chính gây ra những nỗi khổ niềm đau trên đều xuất phát từ việc chấp có hoặc chấp không ở mỗi người.
Chúng ta thật dễ dàng để cảm nhận địa ngục mà không cần phải sau cái chết diễn ra. Chỉ cần chúng ta có dịp đi đến các bảo tàng chứng tích chiến tranh, những nhà tù, nơi trưng bày những dụng cụ tra tấn đã được sử dụng vào những ngày tháng chiến tranh xảy ra ở bất cứ nơi nào trên Thế Giới. Chúng ta sẽ thấy địa ngục hiện diện thật rõ ràng và mang đầy đủ ý nghĩa của sáu yếu tố vừa nêu.
Song song bên cạnh đó, cũng thật dễ dàng để thấy được cảnh giới địa ngục hiện diện ngay ở xung quanh ta. Nếu như đối diện với một cảnh tượng hai bên đang to tiếng, tranh cãi hoặc thậm chí là ẩu đã với nhau thì địa ngục lập tức được xây dựng tại nơi đó và trong khoảng thời gian đó. Chính vì một bên chấp có và một bên chấp không là nguyên nhân gây ra địa ngục. Không khí căng thẳng, những vật dụng luôn luôn trong tình thế chuẩn bị gây tổn thương cho đối phương. Không chỉ là những dụng cụ vô tri mà lời nói, suy nghĩ và hành động đều trong trạng thái sẵn sàng gây ra nỗi khổ niềm đau cho phía còn lại. Khi những yếu tố đó hiện diện thì lập tức những đối tượng đang ở trong cảnh giới địa ngục sẽ chỉ cảm nhận được toàn khổ đau mà không có được một niềm vui nhỏ bé nào cả.
12.1. 18 tầng địa ngục, có hay không?
Quan niệm dân gian và ngay cả trong một số kinh điển Phật giáo có đề cập đến khái niệm 18 tầng Địa Ngục và 10 vị Diêm Vương cai quản với vô vàn những cực hình, những nỗi khổ niềm đau cùng cực vây kín lấy tội nhân.
Khái niệm Địa Ngục cũng được một số tôn giáo khác đề cập đến như một con đường đen tối dành cho những ai không phục tùng, tuân theo và tôn thờ vị giáo chủ của những tôn giáo đó. Ai nghe theo những giáo điều thì sau khi chết sẽ ở nơi hạnh phúc vĩnh hằng, còn ai không tin tưởng thì sẽ bị đọa đày nơi địa ngục đớn đau. Điều này trở thành một công cụ đắc lực cho các tôn giáo nói trên vì nó nắm bắt được tâm lý của các tín đồ. Thật hấp dẫn vô cùng khi chỉ cần nghe theo những điều được chỉ dạy và đổi lại được sống vĩnh hằng nơi hạnh phúc. Đánh vào lòng tham của con người là mục tiêu của địa ngục theo quan điểm của những tôn giáo khác.
18 tầng địa ngục nếu hiểu đúng theo như nghĩa nội hàm của nó thì sẽ khác rất nhiều so với những hình ảnh mà chúng ta thường thấy. Nơi đó cũng có những đau khổ, nhưng không phải là do vua Diêm La phán xét, không có các quỷ sứ hành hình ngày đêm. 18 tầng Địa Ngục này không phải là một cảnh giới sống, chúng ta cần hiểu nó là một trạng thái vật lý ở ngoại cảnh kéo theo trạng thái tâm lý trong nội tâm.
Những cặp phạm trù có và không sẽ tạo ra những nỗi khổ niềm đau liên quan đến việc ghét mà gặp mặt hoặc yêu phải chia lìa ở mỗi người. Và khi đối diện với những nỗi khổ niềm đau như vậy, thì chính là lúc con người bị đọa lạc vào trong địa ngục. Chỉ cần xuất hiện sự chấp trước, phân biệt giữa hữu và vô thì ngay lập tức các yếu tố kéo theo như bất lạc, khả yểm, khổ khí và khổ cụ lập tức cùng xuất hiện.
Bên cạnh đó, khi đối diện với những nỗi khổ niềm đau, nếu không có thái độ buông xả và thường xuyên tập luyện trên tinh thần vô thường, vô ngã thì chúng ta dễ dàng bị nhấn chìm bởi cảm thọ đau khổ. Và khi bị cảm thọ đau khổ vây kín thì lúc đó đại địa ngục Vô Gián được thiết lập và giam cầm người đang thọ khổ. Vô có nghĩa là không, gián là gián đoạn; ý chỉ nỗi khổ niềm đau luôn luôn được duy trì và không có lúc nào ngưng nghĩ đối với người chịu đựng. Xét về khía cạnh tâm lý học, chúng ta dễ dàng nhận thấy được điều này ở mỗi con người khi họ sống cùng với những niệm tham, sân, si phát triển trong tâm thức. Một người đang nóng giận và không biết thực tập hạnh buông xả sẽ bị sự nóng giận thiêu đốt cùng cực. Một người với lòng tham lam không giới hạn mà không biết quán niệm bố thí thì sẽ bị chính lòng tham bức bách, thôi thúc. Một người sống thiếu trí tuệ tự giam mình vào những vô minh, phiền não mà không biết tự mình chuyển hóa những lối sống sai lầm thì tự thân cũng đang bị ngục vô gián giam giữ.
Nếu có một cái nhìn về Địa Ngục như vừa trình bày ở trên, chúng ta sẽ thấy được rằng: “Địa Ngục vừa thật có mà lại vừa không thật có”. Địa Ngục có khi nào chúng ta bị đọa đày trong những nỗi khổ niềm đau do sự chấp trước về có hoặc không gây ra những mâu thuẫn, tranh cãi. Và bên cạnh đó, Địa Ngục không thật sự có ở dưới lòng đất, cũng không thật sự có ở đằng sau cái chết diễn ra; bởi vì, Địa Ngục có khẳ năng hiện diện ngay trong đời sống hiện tại của mỗi người. Sự có và không có của Địa Ngục không phải là hai phạm trù đối nghịch nhau, phản biện nhau và trái ngược nhau. Ngược lại, sự có và không có sự hiện diện của Địa Ngục lại là sự bổ sung cho nhau, tương quan với nhau và là hai mặt của một chỉnh thể hợp nhất.
13. Quan niệm giống nhau của các tôn giáo về thiên đàng hay địa ngục:
Tất cả những con người trên thế gian này đang sống giữa quãng đời đua chen, tranh đấu, tìm đủ mọi thủ đoạn để giành hơn thua lẫn nhau, kẻ giầu còn muốn giàu thêm, mọi người từ già đến trẻ, ai ai cũng ngày đêm suy nghĩ, tìm ra trăm phương ngàn kế để lo cho ta, cho gia đình rồi lại lo cho thân bằng quyến thuộc, làm sao cho hơn người khác, cứ như thế ai ai cũng mang trong người cái nghiệp, nghiệp tham, sân, si. Ít có ai nghĩ đến quả báo, một ngày nào đó rồi ta cũng phải chết, chỉ gặp một chút nghịch cảnh là hồn lìa khỏi xác. Bạn bè thân hữu như kẻ bạn đường, vàng bạc, châu báu, tiền của chỉ là phương tiện sinh nhai nào có chi chắc thật.
Cái chắc thật là linh hồn, còn gọi là thần thức, chỉ có linh hồn mới có cái thật, tất cả các tôn giáo, Phật Giáo, Khổng giáo, Lão giáo, Nho giáo, Cao Đài Giáo, Hồi Giáo, Hòa Hảo... Các vị thánh nhân sáng lập ra các thuyết giáo, để truyền bá cho mọi người chỉ nhắm mục đích, răn dạy, khuyên bảo cho nhân loại trên thế gian loại bỏ các ý nghĩ và hành động gây nghiệp báo. Thật vậy, nếu ta chịu khó đọc sách, nghiên cứu và dành thì giờ đi nghe thuyết pháp của các vị chân tu truyền giáo, ta có thể cải đổi được bản ngã và hiểu được linh hồn là phần quan trọng đối với ta khi nhắm mắt ngàn thu.
Hiện nay chúng ta đang đứng giữa hai con đường, con đường nuôi thân ích kỷ, tham lam, ác độc, si mê dẫn đến địa ngục khổ đau. Con đường khác là nuôi tâm vị tha, bố thí, từ bi, sáng suốt dẫn đến thiên đàng, an lạc. Nếu ta theo con đường nuôi thân tội lỗi thì thân chúng ta phạm ba tội: Sát sanh, trộm cắp và dâm dục. Miệng phạm 4 tội: nói láo, vu oan giá họa, nói thêm bớt và chửi rủa. Ý ta cũng phạm 3 lỗi: Tham lam, sân hận và cuồng si. Bây giờ chúng ta quay về nẻo thiện thì thân, miệng và ý sẽ quay đầu trở lại: Thân không sát sanh mà phóng sanh, giúp người không cầu lợi, miệng nói lời chân thật, đứng đắn, hòa giải và dịu dàng, ý không tham lam mà phải bố thí, từ bi và sáng suốt. Ở đây, vì đức mỏng, tội dày nên chúng ta chưa dám nghĩ đến cảnh niết bàn của chư Phật đầy đủ 4 đức: Chân thường, chơn lạc, chơn ngã, và chơn tịnh mà tôi chỉ bàn đến ác và thiện, khổ và vui để định rõ hai con đường hầu giúp chúng ta cùng đi.
Tôi sinh ra và lớn lên hấp thụ trong một gia đình nho giáo, có lẽ đối với hiện tại thì đã lỗi thời, theo quan niệm của một số người. Nhưng tôi vẫn không bao giờ quên được những điều tôi đã học, học sinh lúc đó đối với thầy rất tôn kính, trọng thầy như cha đẻ, sống thì tết chết thì giỗ, đã là đồng môn thì tất cả đều phải đóng góp để nuôi thầy, tết thầy, và khi thầy chết phải làm giỗ, cùng góp sức với các con đẻ của thầy.
Nếu chúng ta cứ lấy ân oán, để trả thù lẫn nhau thì không bao giờ hết. Khổng Tử cũng đã dậy cho ta rằng “Oan oan tương báo, ác giả ác báo, thiện ác đáo đầu chung hữu báo”. Nếu ai cũng cứ nghĩ đến hơn thua, ân oán giang hồ thì nghiệp chướng oan gia cứ chồng chất, không bao giờ hết nạn binh đao, không bao giờ hết được cái tội lỗi của con người đã gây ra.
Mạnh Tử cũng đã phát huy chủ thuyết Khổng Tử để khuyên răn người đời cần phải có Đức. Đức được tạo dựng bởi Đạo, Đạo là một con đường hướng dẫn ta đi đến Chân, Thiện, Mỹ hầu đạt được cái Đức, cho nên ngài đã nói “Đạo bất viễn nhân, nhân chi vi đạo nhi viễn nhân, bất khả dĩ vi Đạo”. Đạo không thể xa con người, người không thể xa Đạo, tất cả ai ai trên thế gian này cũng phải có Đạo. Đạo đây là đạo ông bà, cha mẹ đã để lại những lời vàng thước ngọc và các Đạo Phật, Đạo Khổng, Đạo Lão, Đạo Nho, Đạo Cao Đài, Đạo Hoà Hảo v.v...
Đạo Công giáo cho rằng chỉ cách duy nhất thông qua cầu nguyện thì mới có thể đạt được hòa bình và sự rửa tội.
Lễ cầu nguyện có hai hình thức là cá nhân và tập thể. Đạo Công giáo cũng như đạo Hồi đều có hai hình thức cầu nguyện này. Trong đạo Công giáo, lễ cầu nguyện tập thể diễn ra trong Nhà thờ Thiên chúa, còn trong đạo Hồi, lễ cầu nguyện tập thể diễn ra trong nhà thờ Hồi giáo. Hoạt động thờ cúng và các nghi lễ công cộng cũng đóng vai trò quan trọng trong đạo Hinđu.
Trong đạo Hồi, mọi tín đồ đều phải ngồi cầu nguyện (Namaz) 5 lần trong một ngày.
Mục đích chính của Namaz cũng giống như mục đích cầu nguyện của các tôn giáo khác. Đó là bày tỏ ước mong được nhận ân huệ của Thánh Allah và nguồn cảm hứng thúc đẩy con người đi theo con đường đúng đắn của Thánh Allah cũng như được đấng tối cao ban phát cho nhiều sức mạnh hơn.
Giới thiệu những thành quả của Namaz, người ta cho rằng một người khi đọc Namaz với một thân thể và tâm hồn trong sạch, sẽ được Thánh Allah cho lên Thiên đường và tội lỗi của người đó sẽ được tha thứ.
Namaz cũng truyền cảm hứng tới những người tôn thờ (namazi) đi theo con đường của tôn giáo và luật pháp. Đồng thời, nó cũng cứu giúp con người tránh xa những hành động tội lỗi.
Cũng giống với đạo Hinđu có huấn thị buộc người cầu nguyện phải có thân thể và tâm hồn trong sạch, thì trong đạo Hồi, một namazi phải đọc Namaz để tẩy sạch thân thể và tâm hồn. Có một sự tương đồng ngạc nhiên giữa lời chào (Sajda) của Namaz trong đạo Hồi và phần tỏ lòng tôn kính trong đạo Hinđu – hai tư thế khi làm lễ thờ cúng trong hai tôn giáo.
Trong Phật giáo, nghi lễ thờ cúng ngay thuở ban đầu chưa được đặt ra, nó chỉ có sau khi Đức Phật nhập diệt. Tuy nhiên, cho đến ngày nay, nghi lễ thờ cúng lại là yếu tố quan trọng, thể hiện tính sống động của sinh hoạt Phật giáo nói chung và thể hiện tính đặc trưng của mỗi hệ phái Phật giáo nói riêng trong hoạt động tôn giáo của mình. Bên cạnh đó, Kinh sách để tụng niệm (dạng thức có tính tương đồng với cầu nguyện của các tôn giáo khác) vẫn nắm giữ một vai trò then chốt trong đạo Phật. Tuy nhiên, thuở đầu, không có bản giao kèo nào cho việc thờ cúng hay cầu nguyện trong đạo Phật. Theo lời Đức Phật, riêng cách chỉ dẫn đạo đức tốt là hành động tôn giáo chính nhưng với sự trải qua thời gian, thì nghi lễ thờ cúng, kinh cầu nguyện và hòa giải đã được hòa nhập vào đạo Phật.
14. Địa ngục tại thế gian:
Về phương diện tiêu cực, Địa Ngục dễ dàng làm cho con người rơi vào những quan điểm mê tín dị đoan, thần quyền và thuyết định mệnh. Về phương diện tích cực, Địa Ngục là bài học thiết thực nhất về quy luật Nhân Quả và là động lực thúc đẩy mỗi người sống có chất lượng hơn. Tuy nhiên đa phần các bạn trẻ, có phần e ngại, lo sợ khi tiếp xúc với Địa Ngục và các cực hình nơi Địa Ngục. Nguyên nhân là các bạn chưa hiểu rõ Địa Ngục là gì và sự lầm tưởng rằng sau cái chết thì địa ngục mới hiện diện và hiện hữu. Điều này không đúng, bởi vì, địa ngục hiện diện ngay tại thế gian này và sau cái chết kia, không có một nhà tù nào được xây dựng, không có vua Diêm La, Phán quan, đầu trâu, mặt ngựa hay các quỷ sứ hành hình các tội nhân. Nếu sau cái chết, có Địa Ngục đi chăng nữa, thì đó chính là sự “không chấp nhận” cái chết đang diễn ra với mình và sự không chấp nhận đó trở thành sự chấp trước, níu kéo sự sống của kiếp sống vừa qua.
Thay vì suy nghĩ Địa Ngục là một cảnh giới đằng sau cái chết, chúng ta hãy tự thực tập nhìn Địa Ngục đang diễn ra ngay trong kiếp sống hiện tại của chúng ta. Trong kinh Địa Tạng Thập Vương Biến Tướng có kể ra những danh hiệu Địa Ngục điển hình như sau: địa ngục dùng roi đánh, địa ngục chém chặt, địa ngục lạnh giá, địa ngục giường lửa... Chỉ cần nghe cái tên của Địa Ngục chúng ta cũng đã dễ dàng tưởng tượng được những cực hình trong ngục và cảm nhận được nỗi thống khổ trong ngục. Để sinh động hơn trong việc thực tập nhìn Địa Ngục tại thế gian, chúng tôi xin mời bạn nhìn vào một đĩa thịt dê nướng mà chúng ta có thể dễ dàng nhìn thấy được trong các quán nhậu.
Thông thường khi chế biến thịt dê, để tránh cho mùi khai đặc trưng của thịt dê, người đầu bếp thường cho con dê uống rượu thật say rồi dùng roi đánh thật mạnh để con dê tiết ra mồ hôi. Nếu làm theo phương pháp này, thì miếng thịt khi ăn không còn mùi hôi đặc trưng nữa. Chúng ta không bàn về giá trị ẩm thực và giá trị dinh dưỡng của thịt dê. Nhưng thông qua phương thức chế biến này, chúng ta sẽ thấy được địa ngục hiện diện. Chúng sanh đang đau khổ là con dê chuẩn bị làm thịt. Nó sẽ chịu đựng đau đớn của “ngục dùng roi đánh”. Rồi con dê bị giết và chặt ra nhiều miếng thịt nhỏ hơn – đó là “ngục chém chặt”. Để bảo quản thịt cho được tươi ngon, người ta đem những miếng thịt cho vào ngăn đá để giữ đông – đây là “ngục lạnh giá”. Và cuối cùng là phương thức chế biến món ăn, nếu là đem nướng thì địa ngục “giường lửa” thật sự đang hiện diện và hiện hữu ngay tại thế gian. Và nếu nhìn kỹ hơn nữa, thì lúc này, người đầu bếp chẳng khác nào là vua Diêm La, dụng cụ làm bếp là những khổ cụ tra tấn và thực khách chẳng khác nào những quỷ sứ đang hành hạ tội nhân nơi địa ngục.
Nếu một ai đó, phản bác lại rằng, sau khi con dê nó chết đi thì nó không cảm nhận được đau đớn về mặt thể xác, nên địa ngục lạnh giá và địa ngục giường lửa như vừa giải thích ở trên là không được hợp lý hoàn toàn. Chúng tôi xin phép không phân tích và biện luận, sau cái chết thì còn có “sự đau” nữa hay không. Thay vào đó, chúng tôi xin được phép dẫn chứng những ví dụ điển hình hơn cho hai ngục vừa nêu. Xin mời toàn bộ đại chúng cùng nhìn vào một đàn cá vừa mới được bắt lên khỏi đại dương và cho ngay vào hầm nước đá trên những con tàu lớn – đó là địa ngục lạnh giá. Và mời đại chúng tiếp tục nhìn những con cá Kèo bị nước sống trên những lò than hồng – đây là địa ngục giường lửa thực tế nhất.
Bên cạnh những danh hiệu Địa Ngục biểu thị sự đau khổ của thể xác, chúng ta cũng cần nhận định có những danh hiệu Địa Ngục biểu thị sự đau khổ của nội tâm. Khi chúng ta buông xuôi tự thả mình trôi theo dòng ác nghiệp thì đó chính là “ngục mọt ăn”. Những thói hư tật xấu sẽ gặm nhắm dần dần, từ từ và ăn chết đi những hạt giống thiện trong mỗi người, nếu như họ cứ có thái độ bỏ mặc và không có thái độ sống tích cực hơn trong đời sống hiện tại. Điều này, dễ nhận thấy nhất ở một số lượng lớn các thanh niên trẻ ngày nay với lối sống hưởng thụ và hủy hoại tuổi trẻ. Quên mình trong những cuộc ăn chơi, nhậu nhẹt; đốt cháy tuổi xuân bằng các thứ xì ke, ma túy, thuốc lắc,… Lối sống buông thả, bất cần và không nhìn nhận hậu quả về sau là những con mọt đang ăn dần ăn mòn mỗi con người. Đây là hình ảnh rõ nét nhất của “ngục mọt ăn”
15. Thái độ sống với địa ngục:
Khi nhìn nhận Địa Ngục không hẳn đằng sau của sự chết, chúng ta cần có một thái độ sống thích hợp với những Địa Ngục “hiện tại”.
Nếu bản thân mỗi người đang bị giam giữ trong những Địa Ngục tâm lý như Địa Ngục “vạc dầu sôi”, “ngục mọt ăn”,… thì hãy tự thức tỉnh, nhận thức được rằng mình đang đau khổ vì những ngục tù do chính bản thân của chúng ta xây dựng nên. Chỉ cần nhận diện được, ta đang đau khổ vì những ngục tù do ta tạo dựng; lập tức, Địa Ngục sẽ bị phá vỡ hoàn toàn.
Bên cạnh đó, hãy tập nhìn những Địa Ngục khác đang giam hãm những chúng sanh đầy đau khổ khác. Dùng sự quán chiếu Từ Bi để có cách nhìn và lối sống tích cực hơn, chất lượng hơn; có như vậy, ta vừa giúp được những chúng sanh đang bị khổ đau và cũng vừa nuôi dưỡng được những hạt giống thiện trong tâm thức của chúng ta.
Với hình ảnh ẩn dụ từ cây Tích Trượng với 4 vòng – Tứ Đế và 12 khoen – 12 nhân duyên; cùng viên Minh Châu tượng trưng cho Trí Tuệ chiếu sáng Vô Minh của ngài Bồ Tát Địa Tạng; mỗi người học Phật cần sáng suốt nhận định Địa Ngục có thật hay không có thật không quan trọng bằng việc phá vỡ và chuyển hóa những nỗi khổ niềm đau do Địa Ngục gây ra cho chúng ta và cho chúng sanh.
III. KẾT LUẬN:
Bằng việc biết rõ tình trạng thật ở trong đời sống trần tục, người hiểu biết cố gắng quyết định cách sống của họ và sống hòa bình không làm hại kẻ khác và cũng làm việc để giúp đỡ chúng sanh. Chúng ta thích có một sự hiện hữu thuận lợi, tốt đẹp và vui sướng. Nhưng ước vọng của chúng ta là rất khó thực hiện. Thế giới không được sắp xếp theo ý của chúng ta. Sự hình thành cuộc đời này không xảy ra chỉ để thích ứng với chúng ta. Thế giới vận hành theo luật và bản chất vũ trụ của chính nó. Những điều này là công bằng - cho dù chúng ta giàu hay nghèo, có học hay thất học. Là những người có tôn giáo, chúng ta có thể duy trì hạnh phúc và sự mãn nguyện thông qua sự hiểu biết này. Khi những khó khăn, bệnh tật, lo lắng, xáo trộn và tai họa đến với chúng ta, chúng ta không nên than vãn cũng không nên nguyền rủa hay đổ lỗi cho kẻ khác. Chúng ta nên xem tình huống này một cách cẩn thận để hiểu ai hay điều gì chịu trách nhiệm cho tất cả những vấn đề hay có điều gì bên ngoài chúng ta có thể bị khiển trách hay không. Đôi khi chúng ta đã làm một số điều sai trái. Đừng nghĩ rằng chúng ta luôn luôn đúng và người khác là sai. Mọi người trên cõi đời này đều phạm phải sai lầm.
Chúng ta đang sống trong một thế giới mà ở đó chúng ta luôn gặp phải sự va chạm, bất đồng, xung đột, tai họa, bất ổn và chiến tranh. Do đó, sự thách thức là tìm kiếm hòa bình ở trong một thế giới nơi đó bất đồng và va chạm là đang xảy ra hàng ngày.
Tín ngưỡng tôn giáo là niềm tin và sự sùng bái thần thánh hay các quyền lực vô biên, siêu nhiên, vào cuộc sống sau khi chết..., tóm lại, là những phát biểu mà vì đó các thành viên của một tôn giáo nào đó gắn bó vào đó.[3] Câu chuyện về Adam và Eva là một ví dụ về tín ngưỡng tôn giáo. Tín ngưỡng thường phát sinh khi một lãnh tụ tinh thần khẳng định một số hiểu biết đặc biệt về chân lý thần thánh và tổ chức tín đồ của mình. Cũng có quan điểm cho rằng, tíng ngưỡng tôn giáo là hoạt động tôn giáo ít hay không có điểm chung với các tổ chức tôn giáo khác trong một xã hội cụ thể.[4] Theo quan điểm này thì tín ngưỡng là một cái gì đó hoàn toàn mới, nó có thể là kết quả của sự truyền bá quan điểm tôn giáo từ một xã hội này sang một xã hội khác, nơi mà nó chưa từng có tiền lệ. Do vậy khi mới hình thành, tín ngưỡng thường chưa được chính thức hóa và hay có mâu thuẫn với xã hội, nếu tiếp tục phát triển, tín ngưỡng sẽ trở nên có tổ chức, nghi lễ chặt chẽ hơn và có thể trở thành tôn giáo. Tuy nhiên tín ngưỡng tôn giáo không phải là các giáo phái, giáo phái là những nhóm ly khai với giáo hội hay tổ chức tôn giáo truyền thống của nó còn tín ngưỡng thì hoàn toàn mới.
Niềm tin và thực tiễn tôn giáo vô cùng đa dạng và có rất nhiều tôn giáo trên thế giới ngày nay, có tôn giáo chỉ hạn chế trong một vùng địa lý không lớn nhưng có những tôn giáo có thể gọi là tôn giáo thế giới với nhiều triệu tín đồ ở khắp nơi trên thế giới. Nói chung có khoảng 87 phần trăm dân số thế giới đang gắn bó với một tôn giáo nào đó; chỉ có khoảng 13 phần trăm là không tôn giáo
Tài liệu tham khảo
(1) Tòa Tổng Giám mục Thành phố Hồ Chí Minh, Kinh thánh trọn bộ Cựu ước và Tân ước, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 1998, tr. 2306.
(2) Theo báo Gardien, thứ bảy, ngày 12 tháng 1 năm 2002
(3) Carl Sagan, The Demon-Haunted World (1996),
http://www.positiveatheism.org/hist/quotes/sagan.htm
(4)Albert Einstein the Human Side, Helen Dukas and Banesh Hoffman, eds., Princeton University Press, 1981, p. 39.
http://answers.yahoo.com/question/index?qid=20080308074844AA9yhPY
(5) Out of My Later Years, Philosophical Library, New York, 1950.
http://www.positiveatheism.org/hist/quotes/einstein.htm
(6)Albert Einstein, quoted in Madalyn Murray O'Hair, All the Questions You Ever Wanted to Ask American Atheists (1982) vol. ii., p. 29
http://www.positiveatheism.org/hist/quotes/einstein.htm
Đăng ký:
Nhận xét (Atom)