THÍCH TÂM TRỌNG
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT
Thứ Sáu, 31 tháng 5, 2013
Giáo giới Phú Lâu Na, Nandaka và La Hầu La
Giáo giới Phú Lâu Na, Nandaka và La Hầu La
A. GIÁO GIỚI PHÚ LÂU NA
(Kinh số 145: Punnovàdasuttam - Discourse On An Exhortation To Punna)
I. NỘI DUNG KINH GIÁO GIỚI PHÚ LÂU NA
1. Lúc Thế Tôn đang trú ở tịnh xá Cấp Cô Độc, Thắng Lâm, thành Xá Vệ (Sàvatthì), Tôn giả Phú Lâu Na đến hầu Thế Tôn, cầu giáo giới trước khi Tôn giả rút vào sống tinh cần độc cư, nhàn tịnh.
Thế Tôn dạy: “Có những sắc do mắt nhận thức, khả ái, khả hỷ, khả lạc, khả ý, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Nếu Tỷ kheo hoan hỷ tán thưởng, chấp thủ và an trú trong ấy, do vậy dục hỷ sanh; và này Punna, Ta nói rằng, từ sự tập khởi của dục hỷ, là sự tập khởi của khổ”.
(Tương tự đối với các căn trần còn lại).
Ngược lại, nếu không hoan hỷ, không chấp thủ, thì dục hủy diệt. Ta nói rằng sự diệt tận dục hỷ là sự diệt tận đau khổ...
2. Tôn giả Punna, sau lời giáo giới của Thế Tôn, đến lưu trú tại xứ Sunaparanta. Thế Tôn hỏi Tôn giả Punna rằng, nếu dân Sunaparanta rất hung bạo, họ sẽ nhục mạ Tôn giả, Tôn giả sẽ như thế nào?
- Thế còn hiền thiện, vì họ chưa đánh đập con. Tôn giả bạch Phật.
- Nếu họ đánh đập ông? Thế Tôn hỏi.
- Thế là họ còn hiền thiện, vì họ chưa đâm chém con bằng dao.
- Nếu họ đâm chém ông bằng dao?
- Thế là họ còn hiền thiện, vì họ chưa đoạt mệnh của con.
- Nếu họ đoạt mệnh của ông thì sao?
- Bạch Thế Tôn, con sẽ nghĩ như sau: “Có những đệ tử của Thế Tôn, ưu phiền và nhàm chán thân thể và sinh mạng đi tìm con dao (để tự sát). Nay ta khỏi đi tìm con dao ấy”.
- Lành thay! Ông sẽ làm những gì ông nghĩ là hợp thời.
3. Lưu trú ở Sunaparanta một mùa mưa, Tôn giả Punna đã nhiếp độ được 500 nam cư sĩ và 500 nữ cư sĩ; sau đó, cũng trong mùa mưa ấy Tôn giả đắc “Tam minh” và mệnh chung, nhập Niết bàn tại đó.
III. BÀN THÊM
1. Gương giác tỉnh và nhiệt tâm hoằng hóa của Tôn giả Punna là đáng để người tu sĩ các đời sau học tập: Chỉ có sự giác tỉnh, không tham ái, không chấp thủ ngũ uẩn mới không ngại các gian nan, nguy hiểm trên đường hoằng pháp vì lợi ích lâu dài của số đông.
2. Pháp tu thiền quán về ngũ uẩn, hay về 18 giới, 18 xúc, gìn giữ 18 ý hành không để vướng mắc vào các cảm thọ hỷ, ưu, xả là dẫn đến sự tận trừ dục hỷ, tận trừ khổ đau. Rất đơn giản, nhưng rất rõ ràng, rất thực và rất trí tuệ! Nhờ đó mà chỉ qua một mùa mưa tinh cần thực hành, Tôn giả Puịịa đã đắc “Tam minh” và nhiếp độ đến 1.000 người vốn có bản chất hung bạo (người dân Sunaparanta).
3. Vấn đề giác tỉnh, nhàm chán thân thể và sinh mạng này không phải là sự biểu hiện tiêu cực của giáo lý, mà nhờ sự giác tỉnh ấy, hành giả mới có thể tích cực xả thân vì lợi tha. Tuy nhiên, ở đây một số đệ tử Đức Phật đã “lấy con dao” không phải vì yếm thế, mà là vì thấy, ở trường hợp của cá nhân họ, không cần đến thân thể và sinh mạng ấy nữa. Do vì họ không có tham ái, chấp thủ một thân khác, một đời sống khác nên họ không vi phạm “giới sát” (tự sát).
Giáo dục Vu Lan
Giáo dục Vu Lan
Vu Lan là ngày báo hiếu. Chữ hiếu trong đạo Phật quan trọng đến nỗi chính đức Phật là người làm gương. Phật nói: Phật ra đời là để làm năm việc: chuyển pháp luân, độ cha mẹ, đem đức tin lại cho những kẻ không có đức tin, ai chưa có chí nguyện bồ tát thì làm cho họ có, và thọ ký làm Phật cho bồ tát. Phật nói như thế để trả lời cho tôn giả Ưu Tùy Ca Diếp khi tôn giả thấy ngài xoay người lại, ngồi hướng về kinh thành Ca Tỳ La Vệ. Phật sắp trở về lại vương quốc để thuyết pháp cho cha sau khi chuyển pháp luân. Phật sẽ lên cung Đao Lợi để thuyết pháp cho mẹ.
Kinh Vu Lan kể chuyện ngài Mục Kiền Liên dùng thần thông tìm mẹ và thấy mẹ đang lâm vào cảnh đói khát của ngạ quỷ dưới địa ngục. Ngài dâng bát cơm cho mẹ, cơm chưa đến miệng đã biến thành lửa. Chuyện ngài Mục Kiền Liên cứu mẹ ở địa ngục đã đi vào máu huyết của văn hóa Việt Nam. Ở đây, chúng tôi chỉ nhắc lại một chi tiết ít thấy ai nhắc đến bởi vì tưởng như không có gì. Đây, kinh Vu Lan ngay đoạn đầu:
Khi ấy tôn giả
Đại Mục Kiền Liên
Mới thành tựu được
Sáu thứ thần thông
Muốn cứu cha mẹ
Đền đáp ân đức
Sinh thành dưỡng dục.
Mới thành tựu được... Ngài Mục Kiền Liên vừa thành tựu được thần thông thì nghĩ ngay đến cha mẹ. Đây không phải là chi tiết. Lại càng không phải là lòng ích kỷ, tham lam riêng cho cha mẹ mình. Đây chính là căn bản của đạo Phật và ngài Mục Kiền Liên làm chính cái việc mà Phật làm và Phật nói. Tại sao chứ “mới” quan trọng như thế trong câu kinh? Tại vì rất nhiều lẽ mà sau đây là hai lẽ chính. Thứ nhất, trong đạo Phật, thân người là rất quý, bởi vì chỉ làm người mới có thề giải thoát được, mà ai đem lại thân người cho ta nếu không phải là mẹ cha? Thứ hai, trong đạo Phật, ngoài cha mẹ ở đời này, còn có cha mẹ trong vô vàn kiếp trước, bởi vậy hiếu với cha mẹ tức là hiếu với chúng sinh. Đức Phật hiếu như thế với chúng sinh. Các bồ tát cũng vậy, mà ngài Mục Kiền Liên là hình ảnh. Chúng sinh của các ngài không phải chỉ ở trần gian mà còn ở trong cả địa ngục. Bởi vậy, đừng thấy dân gian cúng cô hồn ngày rằm tháng bảy mà cười dân gian mê tín. Hãy nhìn nắm tay đang vãi thức ăn tượng trưng trước sân nhà với cái nhìn của trí tuệ và của lòng thương, và hãy chắp thêm cho trí tuệ và lòng thương đôi cánh của tưởng tượng để bay theo thần thông cua ngài Mục Kiền Liên vào chén cơm đang bốc lửa, hãy nhìn như vậy và sẽ thấy thần thoại có khi còn thực hơn cả thực tại sờ sờ trước mắt.
Ngày rằm tháng bảy là ngày Vu Lan báo hiếu. Ngàn rằm tháng bảy còn là ngày Phật Hoan Hỷ. Tại sao Phật vui trong ngày đó? Bởi vì đó là ngày tăng chúng tự tứ. Sau ba tháng an cư, Phật họp chúng tăng lại để “tự tứ”, nghĩa là để sửa lỗi cho nhau và cùng sám hối lỗi. Sám hối như vậy thì tâm thanh tịnh; thấy chúng tăng thanh tịnh, làm sao phật không vui?
Nâng bước chân con vào đời - Ảnh minh họa
Ở đây, chính Phật cung là người làm gương. Nói theo thuật ngữ bây giờ, Phật là người... dân chủ số một. Kinh Tăng A Hàm kể như sau, xin tóm tắt:
Bấy giờ, ngày rằm tháng bảy, đức Thế Tôn trải tọa cụ ngồi giữa chỗ đất trống. Các vị tỷ kheo ngồi chung quanh ngài. Ngài bảo tôn giả A Nan đánh kiền chùy lên. Ngài dạy: hôm nay là ngày tự tứ và tự tứ là làm sạch thân miệng ý. Cứ hai vị tỷ kheo đối diện với nhau mà tự trình bày nhược điểm của hành vi và xin tha thứ lỗi lầm. Thế Tôn nhìn tăng chúng và nói: hôm nay tôi tự tứ: tôi có lỗi với ai không? Thân miệng ý của tôi có phạm lỗi gì không? Đức Thế Tôn hỏi ba lần như vậy. Tôn giả Xá Lợi Phất đứng dậy: Bạch đức Thế Tôn, tăng chúng quan sát Như Lai, không thấy có lỗi gì về thân miệng ý. Như Lai cũng không có lỗi gì với ai. Còn về phần con, con xin hướng về Như Lai mà tự trình bày: con có lỗi gì với Như Lai và tăng chúng không? Đức Thế Tôn bảo: Xá Lợi Phất, tôn giả không có hành động gì phi chánh pháp nơi thân miệng ý. Tôn giả Xá Lợi Phất lại thưa: Bạch đức Thế Tôn, tất cả tỷ kheo ở đây cũng muốn tự tứ: tất cả tỷ kheo ở đây có lỗi gì với Như Lai không?
Phật và các vị A La Hán quanh Phật là những bậc đã sạch thân miệng ý, vậy mà các ngài còn đem chính mình ra để tất cả xét lỗi. Không biết có vị giáo chủ nào khác hành động như vậy chăng? Có cách nào khác làm sạch ngã mạn giản đơn mà rốt ráo như thế hay không? Tự tứ là ngày làm sạch đã đi vào giới luật. Làm sạch thì giải thoát. Đạo Phật chỉ nhắm môi mục đích đó thôi.
Ngày nay, mỗi khi nghe bàn đến vấn đề giáo dục, chúng tôi không khỏi nghĩ đến tinh thần tự tứ. Nếu giáo dục được quan niệm một cách chật hẹp, như là chuyển giao kiến thức, tự tứ vẫn có thể là mẫu mực như thường. Bởi vì kiến thức là gì nếu không được đánh giá thường xuyên để trút bỏ cái sai, lọc khỏi cái lầm? Tinh thần khoa học là gì nếu không phải là luôn luôn tự nghi ngờ, tự chất vấn, tự phê phán? Có ai chẳng biết khoa học xã hội phân biệt rất rõ kiến thức khoa học với kiến thức ý thức hệ?
Nếu giáo dục được quan niệm rộng rãi hơn, như có liên quan đến vấn đề rèn luyện nhân cách, tinh thần tự tứ lại càng mẫu mực hơn nữa. Ngày trước, luân lý Nho giáo của Quốc Văn Giáo Khoa Thư có kể chuyện nhà hiền triết và hai lọ đậu đen, đậu trắng. Hễ ông làm điều gì xấu thì ông thả vào lọ một hạt đậu đen; hễ ông làm điều gì tốt, ông thả vào lọ kia một hạt đậu trắng. Lúc đầu đậu đen nhiều hơn đậu trắng; dần dần đậu trắng nhiều hơn đậu đen. Tự tứ cao hơn thế nhiều lắm, bởi vì cả triết lý tương quan của đạo Phật nằm trong đó: tương quan giữa cá nhân và đoàn thể, tương quan giữa bên trong và bên ngoài, tương quan giữa hình thức và nội dung, tương quan giữa mình và người, người sửa lỗi mình, mình sửa lỗi người, mình sửa lỗi mình, giúp nhau đề giúp chính mình, để sống sáng như gương với mình và với người. Và như thế để làm gì? Để giải thoát, mục đích tối hậu của giáo dục Phật giáo.
Suy nghĩ rộng ra từ tự tứ đến giáo dục, Vu Lan cũng là tấm gương giáo dục của Phật giáo.
Giáo giới Cấp Cô Độc và Giáo giới Channa
Giáo giới Cấp Cô Độc và Giáo giới Channa
A. KINH GIÁO GIớI CẤP CÔ ĐỘC (Kinh số 143.Anathapindikovàdasuttam - Discourse on An Exhortation To Anathapindika)
I. Giải thích từ ngữ
(Các từ ngữ quen thuộc).
II. Nội dung kinh 143
1. Lúc Thế Tôn đang trú ở tịnh xá Cấp Cô Độc, Thắng Lâm, thành Xá Vệ (Sàvatthì), bấy giờ cư sĩ Cấp Cô Độc lâm bệnh rất nặng; cư sĩ sai người nhà đến thay mặt cư sĩ đảnh lễ dưới chân Thế Tôn và đến đảnh lễ dưới chân Tôn giả Sàriputta; dâng lời bạch xin Tôn giả Sàriputta đến trú xứ của cư sĩ Cấp Cô Độc, Tôn giả im lặng nhận lời đi đến thăm cư sĩ với Tôn giả Ànanda.
2. Sau khi thăm hỏi bệnh tình, Tôn giả Sàriputta đã thuyết pháp cho cư sĩ, bao gồm các pháp:
2.1. Nói rõ không chấp thủ 18 giới: cần học tập.
2.2. Không chấp thủ sáu xúc: cần học tập.
2.3. Không chấp thủ 18 thọ: cần học tập.
2.4. Không chấp thủ 5 đại (địa, thủy, hỏa, phong và không đại): cần học tập.
2.5. Không chấp thủ Ngũ uẩn: cần học tập.
2.6. Không chấp thủ Tứ không định: cần học tập.
2.7. Không chấp thủ thế giới này, và các thế giới khác: cần học tập.
2.8. Không chấp thủ các sở kiến, sở văn, sở xúc, sở cầu, sở tri: cần học tập.
3. Cư sĩ Cấp Cô Độc giác ngộ, xúc động và khóc, tán thán là bài pháp lợi ích mà cư sĩ chưa từng nghe. Sau khi hai Tôn giả ra về không bao lâu, cư sĩ xả báo thân và liền được sinh về Đâu Suất Thiên (Tusità). Ngay hôm đó, khi đêm gần mãn, Thiên tử Cấp Cô Độc xuất hiện trước Thế Tôn đảnh lễ và nói kệ tán thán Thế Tôn. Thế Tôn thuật lại câu chuyện Thiên tử Cấp Cô Độc cho chúng Tỷ kheo nghe.
Bấy giờ Tôn giả Ànanda bạch: “Cư sĩ Cấp Cô Độc có lòng tịnh tín bất động đối với Tôn giả Sàriputta".
III. Bàn thêm
1. Với công đức hộ trì Thế Tôn và Giáo hội thời Thế Tôn, cư sĩ Cấp Cô Độc đã có lòng tịnh tín bất động đối với Thế Tôn và đối với Tôn giả Sàriputta - nói khác, cư sĩ đã được xác nhận đắc Tu đà hoàn lúc sinh tiền, nhưng vẫn lâm bệnh nặng trước lúc mệnh chung. Không thể dựa vào cơn bệnh để nghi ngờ công đức hộ trì Chánh pháp và công đức tu tập giải thoát của cư sĩ, ở đây, cần liên hệ với nhiều cơn đau nghiệt ngã của nhiều Đại Tôn giả đã đắc A la hán, với sự kiện Tôn giả Pukkusati (đắc A na hàm) bị bò điên húc, v.v... để thấy rằng: chánh trí, chánh kiến, chân tu độc lập với cái bệnh, không bệnh trước lúc mệnh chung: có thân thì có thể có bệnh nặng ở bất cứ thời điểm nào trong đời sống. Vấn đề đáng quan tâm suy nghĩ là có giác tỉnh hay không giác tỉnh lúc mệnh chung. Có ý kiến ngộ nhận cho rằng bệnh như vậy là do ít tu, ít phúc, nghiệp nặng...
2. Thời Pháp của Tôn giả Sàriputta có tác dụng đánh thức trí tuệ, giác tỉnh của cư sĩ rời khỏi chấp thủ, tham ái hầu tạo một cận tử nghiệp tốt, giải thoát.
Thực sự, sự hiện diện của Tôn giả Sàriputta và Tôn giả Ànanda đã đủ làm sống dậy đạo niệm và sự giác tỉnh của một đời hộ trì Phật pháp của cư sĩ. Bấy giờ là lúc cư sĩ dễ thấy nhất sự tan rã của ngũ uẩn và của các pháp hữu vi. Do thấy rõ sự tan rã đó, tâm ly tham ái, và giải thoát đến.
B. KINH GIÁO GIỚI CHANNA (Kinh số 144. Channa vàdasuttam - Discourse on An Ekhortation to Channa)
I. Giải thích từ ngữ (Các từ ngữ quen thuộc).
II. Nội dung kinh Giáo giới Channa
1. Lúc Thế Tôn trú ở tịnh xá Trúc Lâm (Veluvana), thành Vương Xá (Ràjagaha), Tôn giả Channa, đã đoạn trừ chấp thủ ngã, đang lâm trọng bệnh, rất đau đớn, Tôn giả muốn tự kết liễu mạng sống.
Tôn giả Sàriputta cùng Tôn giả Cunda đến thăm và khuyên Tôn giả Channa nhẫn nại chạy chữa thuốc thang (dược liệu), tiếp tục sống, nhưng Tôn giả Channa vẫn không thay đổi ý định kết thúc mạng sống của mình.
2. Tôn giả Sàriputta mạo muội xin ý kiến cho phép của Tôn giả Channa nêu lên một số câu hỏi xem Tôn giả Channa có nhìn vạn hữu: “Cái này không phải của ta, không phải là ta, không phải là tự ngã của ta” không?
Tôn giả Channa xác nhận tự mình đã thấy như thế, đã thấy sự đoạn diệt trong 18 giới, trong sở kiến, sở văn, sở tri...
Tôn giả Sàriputta liền tiếp lời giáo giới: “Do vậy, này Hiền giả Channa, lời dạy này của Thế Tôn cần được tác ý: Ai có chấp trước là có dao động. Ai không chấp trước thì không dao động. Không dao động thì khinh an. Có khinh an thì không hy cầu; không hy cầu thì không khứ lai; không khứ lai thì không tử sinh; không tử sinh thì không có đời này, đời sau, không có giữa hai đời. Như vậy là đoạn tận khổ đau”.
3. Sau khi từ giã Tôn giả Channa, tôn giả Sàriputta đã trình sự việc lên Thế Tôn. Thế Tôn dạy: Tôn giả Channa từ bỏ thân này, nhưng không chấp thủ thân khác; vì thế Channa không có phạm tội.
III. Bàn thêm
1. Đối với vị Tỷ kheo, tự sát cũng phạm tội sát. Nhưng với tâm không chấp thủ ngã, thực sự không chấp thủ thân nào khác, không tham ái, tham trước một thân nào khác thì không phạm tội. Tôn giả Channa biết tự mình đã đoạn trừ chấp thủ ngã, nên việc “đem đến con dao” là không phạm tội.
Tại đây, ý nghĩa phạm tội, phạm trọng giới được xác định nếu tâm hiện hữu tham ái, chấp thủ.
2. Có lẽ sau khi đặt các câu hỏi trắc nghiệm về sự thể chứng đoạn trừ chấp ngã của Tôn giả Channa, Tôn giả Sàriputta biết rõ sự thật đó nên yên tâm không ngăn cản việc Tôn giả Channa đòi “đem đến con dao”.
Sự việc trình lên Thế Tôn toàn bộ cuộc thăm viếng, đàm đạo với Tôn giả Channa và xin lời dạy của Thế Tôn là chỉ để cho Tăng chúng hiểu sự việc, và để trấn an các gia đình thân hữu đã từng hộ trì thân hữu Channa.
Không còn tham ái, chấp thủ thì không còn sanh xứ, nghĩa là vào Niết bàn. Vì thế, Thế Tôn chỉ xác nhận sự không phạm “tội sát” của Tôn giả Channa mà không nói đến sanh xứ của Tôn giả.
Giáo dục tuổi trẻ góp phần xây dựng đời sống văn hóa giáo dục
Giáo dục tuổi trẻ góp phần xây dựng đời sống văn hóa giáo dục
Cố đô Huế với bao danh lam thắng cảnh, đình chùa miếu mạo mà ngày nay đã trở thành di sản văn hóa thế giới, thì cố đô Huế cũng là nơi sản sinh ra Gia đình Phật tử Việt Nam (GĐPTVN), nói một cách thân thương: Huế là "cái nôi" của GĐPT. Trong quá khứ cũng như hiện tại, những huynh trưởng lãnh đạo GĐPT trong nước cũng như nước ngoài, đa số đã bước ra từ "cái nôi Huế".
LÝ THUYẾT CHO HÀNH ĐỘNG
Trong kinh Pháp Hoa, phẩm Thí dụ, đức Phật mô tả căn nhà của một vị trưởng giả đang cháy mà bầy con của vị Trưởng giả thì cứ nhởn nhơ vui đùa trong ngôi nhà ấy, không biết gì là nguy hại. Cuối cùng, vị Trưởng giả phải tương kế tựu kế, chúng ham chơi thì lấy đồ chơi để dụ chúng. Các thứ xe dê, xe trâu, xe hươu đẹp đẽ lộng lẫy chưa từng có được bày ra sân để khích động tính hiếu kỳ và ưa thích của chúng. Khi chúng ra khỏi nhà lửa rồi, vị Trưởng giả cho các con đồng một thứ xe lớn - xe trâu - tượng trưng cho năng lực tế độ của đại thừa.
Ý nghĩa thâm thúy của câu chuyện trong kinh đã giúp cho các vị tiền bối sáng lập GĐPT rút tỉa ra những huyền nghĩa trong ấy để làm lý thuyết cho sinh hoạt của tổ chức GĐPT. Hình ảnh bầy con của vị Trưởng giả kia phải chăng là hình ảnh sống động của thanh thiếu niên bây giờ; nếu những chiếc xe dê, xe hươu, xe trâu đẹp đẽ có đủ mãnh lực lôi kéo những quý tử của vị Trưởng giả ra khỏi ngôi nhà lửa thì sao chúng ta lại không biết dùng những trò chơi, những cuộc cắm trại, những bài ca tiếng hát, những hoạt động thanh niên làm phương tiện dẫn dắt thanh thiếu niên đến với GĐPT, đến với đạo Phật.
TINH THẦN GIÁO DỤC
GĐPT lấy giáo lý nhà Phật làm căn bản lưu truyền vì giáo lý ấy đủ ba điều kiện cần thiết để đào tạo con người theo đúng nghĩa của nó. Bi là phần tình cảm, Trí là phần lý trí, Dũng là phần ý chí, thiếu một trong ba phần ấy, con người khó hoàn hảo.
Tinh thần Bi Trí Dũng của GĐPT không phải chỉ là tiêu chuẩn mà còn là ba đức tính cần thiết cho người đoàn viên. Về phương diện khách quan, không có từ bi thì không có tình người, tình nhân loại, nghĩa đồng bào; không có trí tuệ thì mọi hành động dễ trở thành manh động, mù quáng, phản với chính nghĩa, phản chân lý; không có dũng lực thì sẽ không có sức mạnh tinh thần để đưa đạo vào đời, mà ngược lại sống cuộc sống lệ thuộc và mất tự do. Châm ngôn Bi Trí Dũng đã tạo cho tổ chức GĐPT một uy tín, một địa bàn hoạt động rộng lớn.
Về phương diện chủ quan: không có từ bi thì dễ sa vào đường ác, không có trí tuệ thì mê mờ không thể giác ngộ, không có dũng lực thì dễ trở thành hèn nhát, xu phụ. Châm ngôn Bi trí Dũng bắt nguồn từ ba tiếng: Đại Hùng Đại Lực Đại Từ Bi trong Lăng Nghiêm thập chú, nhưng đã được thanh niên hóa, hiện đại hóa.
Về phương diện thực tế, người nào sống không có yêu thương thì những chất liệu cay độc đắng chát sẽ xâm chiếm tâm hồn, người ấy đã tự đẩy cuộc đời mình đi vào địa ngục băng giá. Người nào sống trong đời mà không có lý trí, người đó tự đưa cuộc đời mình vào khổ lụy chung thân. Còn sống không có dũng lực sẽ không xây dựng một thành quả nào hết cho đời mình.
Bi Trí Dũng phải được gắn kết chặt chẽ với nhau và phát triển đồng bộ vì: Trí không Bi là trí thông minh điêu xảo, Bi không Trí là Bi thương hão thương huyền, Dũng không Trí Bi là Dũng tàn bạo sai đường... (câu Hò Huế)
PHƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC
GĐPT áp dụng các phương pháp giáo dục vào việc hướng dẫn thanh thiếu niên tùy theo độ tuổi, phù hợp với tâm sinh lý từng đối tượng:
* Phương pháp huân tập
* Phương pháp hoạt động
* Phương pháp lý giải
* Phương pháp quán niệm
Phương pháp huân tập
Theo Duy thức học của Phật giáo thì sở dĩ con người (chúng sanh hữu tình) tiếp xúc, phân biệt nhận xét cảm thọ được các sự vật (các Pháp) là do tám món thức gồm: Nhãn thức, Nhĩ thức, Tỷ thức, Thiệt thức, Thân thức, Ý thức, Mạt na thức và A Lại Da thức mà trong đó thì thức thứ tám (A Lại Da thức) có năng lực tích tập, hàm chứa kết nhóm và giữ gìn các chủng tử (hạt giống) của các pháp, giống như cái kho chứa hạt giống để rồi từ đây khi gặp hoàn cảnh, điều kiện thuận tiện, các hạt giống ấy sẽ phát sinh ra hiện hành (như hạt giống khi gặp đất, nước thì sẽ nẩy mầm mọc lên thành cây). Cũng theo Duy thức học, nếu phân biệt theo nguồn gốc chủng tử thì có hai loại:
- Hạt giống đã có sẵn từ vô thỉ kiếp trước (bản hữu chủng tử)
- Hạt giống mới nhặt kiếm, mới tích chứa thêm (tân huân chủng tử).
Nếu phân biệt theo tính tốt, xấu thì chủng tử lại có hai loại:
- Loại hạt giống xấu, ác, bất thiện (Hữu lậu chủng tử)
- Loại hạt giống tốt, thiện lành (Vô lậu chủng tử).
Tất cả bốn loại chủng tử cũ mới, xấu tốt đều được thu hút, nhóm họp, kết tập và tàng trữ cất giấu trong A Lại Da Thức của mỗi một con người. Khi gặp trợ duyên thuận tiện, các chủng tử đã thuần thục ấy sẽ phát sinh ra hiện hành qua ý nghĩ, lời nói, việc làm, hoặc tốt lành hoặc xấu ác, tùy chủng tử vô lậu hay chủng tử hữu lậu phát tác ra. GĐPT vận dụng nguyên lý huân tập chủng tử thành phương pháp giáo dục quan trọng: Phương pháp huân tập mà người xưa thường gọi là: Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng.
GĐPT tạo môi trường thích hợp cho các em như sinh hoạt vui chơi tập thể, đi trại, du ngoạn, sống hòa đồng và giúp đỡ bạn, chăm chỉ học tập, siêng năng làm việc thiện, giữ gìn vệ sinh môi trường, tập nói lời ngay thật, thương người tàn tật, kính người già cả, tôn trọng tài sản của người khác, bảo vệ cây cối cỏ hoa nơi công cộng, không đam mê các trò chơi điện tử hung bạo, không xem phim ảnh thiếu lành mạnh.
Nói chung là tập cho các em có thói quen ưa thích làm nhiều việc hiền thiện để kết tập thật nhiều hạt giống tốt lành vào A Lại Da thức, đồng thời ngăn chặn sự phát triển của hạt giống xấu ác đã có sẵn từ trước, giúp các em biết chối từ khi đối diện với nhiều thử thách quyến rũ, không cờ bạc rượu chè, không hút hít xì ke ma túy, không tỷ số cá độ, không gần gũi bạn bè xấu ác đến lúc vào đời là lúc chủng tử tốt lành đã thuần thục phát sinh ra hiện hành qua hành động lời nói, ý nghĩ tạo thành người tốt, việc tốt.
Phương pháp hoạt động
Phương pháp hoạt động là phương pháp làm phát triển tâm lý, sinh lý, trí tuệ, tình cảm của tuổi thiếu niên bằng chính sự hoạt động của các em. Nói cách khác cho các em học tập, rèn luyện thể chất, trí tuệ, trau dồi ý thức tình cảm ngay trong việc làm của các em, tức là vừa làm vừa học hay vừa chơi vừa học. Áp dụng phương pháp hoạt động bằng các hình thức tạo công việc cho các em làm; trò chơi, trình diễn văn nghệ, tiếp xúc với cảnh vật thiên nhiên, tham gia các sinh hoạt cộng đồng... Phương pháp này phù hợp với tâm lý hiếu động và giai đoạn cơ thể đang độ phát triển của tuổi thiếu niên.
Phương pháp lý giải
Phương pháp lý giải là phương pháp dạy cho các em dùng lý trí để suy xét, nhận định, lý luận phân tích mà tìm hiểu sự vật, nhận thức con đường giác ngộ, tránh được sự sai lầm do suy nghĩ nông cạn, tình cảm bồng bột. Áp dụng phương pháp này bằng cách cho các em nghiên cứu đề tài, tìm đọc sách, báo, tài liệu, kinh luận để tập suy luận, tập thảo luận, tập thuyết trình...
Giới thiệu cho các em tìm hiểu và lý giải tinh thần năm giới cấm và lý nhân quả của Phật giáo liên quan đến luật pháp quốc gia, tìm hiểu tinh thần độc lập tự do, tính nhân bản, tình yêu quê hương đất nước bàn bạc trong 147 điều của Hiến pháp Việt Nam để sống trọn vẹn với quê hương dân tộc.
Phương pháp quán niệm
Phương pháp quán niệm tập cho thanh niên định tâm quan sát, xem xét hiện cảnh, tìm hiểu căn nguyện, kiềm chế được bản tánh không bị tham sân si thúc đẩy mà khởi tâm niệm vọng động dẫn đến sai lầm phạm pháp.
Nhờ phương pháp quán niệm người thanh niên Phật tử am hiểu cặn kẽ, thông suốt dễ dàng từng sự việc, từng vấn đề nên đã hăng hái tham gia tích cực các hoạt động từ thiện xã hội, cứu trợ thiên tai bão lụt, hiến máu cứu người, tham gia ngân hàng máu sống, tham gia đội tình nguyện viên của tổ chức phòng chống HIV - AIDS. Nhờ quán niệm mà người thanh niên thực hiện được nếp sống thiểu dục tri túc để góp phần an ninh xã hội.
60 năm qua, tuổi trẻ Phật giáo Thừa Thiên Huế đã có những cống hiến cho quê hương dân tộc , góp phần gìn giữ bản sắc văn hóa Huế, nền luân lý đạo đức cổ truyền của TT. Huế. Hai ngàn huynh trưởng GĐPT Thừa Thiên Huế đang hoạt động khắp nơi, từ thành thị đến thôn quê, từ miền gió cát Điền Hương, Điền Lộc, Vinh Hải, Vinh Hiền lên tận núi rừng Nam Đông, A Lưới để hướng dẫn, huân tập đời sống văn hóa đạo đức cho con em thành những con ngoan, trò giỏi.
Hàng vạn công dân tốt của Thừa Thiên Huế, hàng ngàn hạt nhân ưu tú trong các cơ quan đoàn thể, xí nghiệp, những bàn tay vàng, những nghệ nhân, những chủ nhân của các gia đình có nếp sống văn hóa hạnh phúc, những tu sĩ Phật giáo... trong số họ rất nhiều người đã từng thấm đượm tinh hoa của Gia đình Phật tử Thừa Thiên Huế.
Tại các cộng đồng dân cư, nơi nào có Niệm Phật đường, có GĐPT sinh hoạt thì nơi đó ít xảy ra tệ nạn xã hội. Cố Hòa thượng Thích Thiện Siêu đã từng dặn dò cho hai chục ngàn đoàn viên GĐPT Thừa Thiên Huế rằng: "... ai đó sa ngã trong cần sa ma túy thì GĐPT không có mặt ở đó; nơi nào cờ bạc rượu chè thì GĐPT không có mặt ở đó; nơi nào quán sá say sưa, ẩu đả giành giật nhau thì GĐPT không có mặt ở đó".
Trong thời buổi kinh tế thị trường hiện nay, vui mừng trước sự kiện Việt Nam gia nhập WTO, chào mừng Việt Nam đăng cai tổ chức Đại lễ Phật đản Liên Hiệp Quốc năm 2008. Gia đình Phật tử sẽ tích cực hơn nữa để góp phần xây dựng đời sống văn hóa đạo đức cho tuổi trẻ Thừa Thiên Huế.
Giáo dục Phật giáo xuyên văn hóa
Giáo dục Phật giáo xuyên văn hóa
Giác Ngộ - Vào tháng tư năm 2003, tôi lái xe đến địa chỉ của chùa Văn Hạnh. Tôi không nhìn thấy gì nhiều trên đường, nhưng khi lái xe qua cổng, tôi đã bắt gặp một bức tượng lớn của một người nữ bình thản và tự tại trong một khu vườn được chăm sóc rất đẹp. Đây là lần tiếp xúc đầu tiên của tôi với Phật giáo.
Khi tôi ra khỏi xe, tôi để ý thấy một người đàn ông nhỏ bé dễ chịu trong bộ đồ xám xuất hiện từ một trong những tòa nhà. Ông ta không nói gì mà chỉ cười hiền hậu. Tôi bắt đầu nói với ông và hỏi xem có ai quan tâm đến việc học tiếng Anh không. Ông ra hiệu cho tôi chờ một lát và đi nhanh vào trong. Một lúc sau, ông trở lại cùng với một phụ nữ tốt bụng nhưng nghiêm nghị tên là Nga. Nga nói với tôi rằng, “sư thầy” của cô, tên là Tinman, vừa mới đến Mỹ ba tháng trước và không nói tiếng Anh. Tôi giải thích với Nga rằng tôi vừa có bằng sư phạm và có thể dạy tiếng Anh miễn phí. Nga nhìn tôi một cách ngờ vực. Tôi không phải người Việt Nam, Tôi không phải là Phật tử, và Tôi không yêu cầu tiền bạc…? Hôm đó chúng tôi lên kế hoạch sẽ gặp vào mỗi thứ bảy. Tôi có cảm giác rằng cô ấy không hi vọng sẽ gặp lại tôi.
Dạy học
Vào buổi học đầu tiên, tôi mang theo những chữ cái nhỏ bằng nhựa, giấy, bút bi, bút chì và sách của trẻ em. Là một giáo viên cấp một, tôi được chuẩn bị để bắt đầu dạy tiếng Anh từ đầu với những gì căn bản. Nga đưa tôi vào một căn phòng lớn nơi Tinman đang đợi. Ông ta cười một cách lịch thiệp, nhưng tôi có thể nói rằng tôi đã làm ông ta sợ hãi. Tôi rải những chữ cái lên bàn và pha trộn chúng với nhau. Tôi nhìn Tinman và đề nghị ông sắp xếp lại các chữ cái theo trật tự. Tôi rất ngạc nhiên khi ông xếp các chữ cái trong giây lát! Ồ … chờ một chút, con người này đã biết một chút tiếng Anh rồi! Tôi nhận ra rằng có lẽ không phải kiến thức là cái Tinman thiếu, mà là sự thực hành và tự tin khi nói. Tôi để lại một cuốn sách của trẻ em cho ông và nói với ông rằng ông sẽ phải đọc cho tôi nghe vào tuần sau.
Thứ bảy tuần kế tiếp, Tinman gặp tôi ở khu để xe với quyển sách của trẻ em kẹp dưới tay. Ông chào tôi bằng câu “Hello” (xin chào) và ra hiệu cho tôi đi theo ông. Trên đường đến tòa nhà chính, ông đề nghị tôi dừng lại và chỉ vào một đoàn kiến đang diễu hành qua đường chúng tôi đi. Chúng tôi cẩn thận bước qua đàn kiến và đi vào trong. Chúng tôi học được rất nhiều hôm đó. Đây là ngày đầu tiên Tinman chỉ nói tiếng Anh và bài học đầu tiên của tôi về Phật giáo lòng tốt với mọi sinh vật.
Tai nạn
Chỉ một vài tháng sau khi chúng tôi bắt đầu học thì tôi bị một tai nạn nghiêm trọng. Mẹ tôi đi đến chùa để nói với Tinman rằng tôi sẽ không thể đến lớp trong một thời gian, vì tôi không thể đi bộ và di chuyển khó khăn. Lúc đó, không chỉ cơ thể tôi bị thương tổn, mà tinh thần của tôi cũng vậy. Tôi thất vọng khủng khiếp về tình trạng của mình. Tôi không thể đứng, đi bộ hay lái xe. Tôi phải thu hẹp trên xe đẩy, và lệ thuộc vào người khác. Tôi cảm thấy bất lực và vô dụng.
Nam giới và Nữ giới
Các thành viên của chùa Văn Hạnh cư xử tốt với người Mỹ. Theo các Thầy trong chùa thì giáo viên được kính trọng ở Việt Nam. Tôi được chào đón một cách nồng ấm vào cộng đồng và thường ngồi ở phía trước cùng với người lớn trong suốt các buổi tụng Niệm.
Tại một buổi lễ vài năm trước đây, tôi chạy tới Tintam, một trong những thầy tu vừa trở lại Mỹ sau chuyến thăm Việt Nam. Tôi đã rất vui khi gặp ông, và ôm chầm lấy ông, và nói chuyện với ông đầy hứng khởi trong vài phút. Rồi Tintam đi vào để chuẩn bị cho buổi lễ.
Khi tôi vào trong, một vài phụ nữ nghiêm nghị và lạnh lùng gặp tôi. Tôi phát hiện ra rằng không thể chấp nhận về mặt văn hóa khi tôi ôm hoặc ở phía sau cánh cửa đóng cùng với một thầy trong chùa. Việc là một người Mỹ không bỏ qua được việc tôi là một người nữ.
Ảnh tư liệu - Ảnh: Bảo Toàn
Về sau, tôi nói với các thầy về kinh nghiệm này. “Phong cách Mỹ” của tôi làm họ thấy thú vị. Tôi đã rất vụng về với đôi đũa cũng như với các khía cạnh khác của văn hóa Việt Nam. Tôi cố gắng ngồi với nam giới tại một buổi lễ, nhưng đã bị dẫn tới chỗ phụ nữ ngồi. Tôi đã hỏi to, “Tại sao?” Tại sao các vị Ni đi phía sau các vị Tăng? Tại sao Ni ngồi ở vị trí khác? Tại sao nữ giới bị đối xử khác với nam giới? Quan trọng hơn cả, tại sao không có Ni sống trong chùa Tăng? Tôi có bỏ qua gì không nhỉ?
Một ngày kia, một người đàn ông tên là Thiện Ngộ đưa tôi đi quanh chùa Vạn Hạnh. Ông chỉ cho tôi khu vực sinh sống và nghỉ ngơi của các Tăng sĩ gần đó. “Phật giáo rất quan trọng và chúng tôi không muốn bị hiểu sai,” ông nói. Tôi bối rối, nhưng tôi hiểu. Thậm chí một dấu hiệu nhỏ nhất của sự không đàng hoàng cũng làm vô hiệu mọi kết quả mà các Phật tử ở Mỹ phải rất cố gắng để tu luyện – một sự thể hiện đẹp đẽ và thuần khiết của triết lý Phật giáo.
Những thay đổi
Tại buổi hành lễ đầu tiên mà tôi tham dự hơn sáu năm trước đây, tôi để ý thấy chùa có ít hơn một nửa số lượng người bây giờ. Hầu hết những người tham dự là nam giới và nữ giới lớn tuổi người Việt. Kể từ đó đã có nhiều thay đổi. Một đôi uyên ương trẻ đi đến Tinman nhờ ông thực hiện nghi thức cưới cho họ. Họ là các Phật tử, nhưng nói tiếng Anh và đã lớn lên tại Mỹ. Tinman tạo ra một nghi thức cưới lai Mỹ/Phật giáo đầu tiên. Ông cố gắng kết hợp công việc hậu cần (logistics) và cách diễn đạt. Ông quan tâm đến việc thực hiện đúng nhiều đến nỗi ông thực hành nghi thức đó trong vài tuần. Một tuần trước ngày tiến hành nghi thức, tôi ghé chùa mỗi sáng trên đường đi làm để nghe ông đọc lại văn bản. Tôi chắc rằng từ “gold” (vàng) là từ tiếng Anh khó nhất đối với một người nói tiếng Việt bản địa.
Nghi lễ diễn ra một cách tốt đẹp. Đôi uyên ương thấy hài lòng. Họ không chỉ là cặp đầu tiên tiến hành nghi lễ bằng tiếng Anh tại chùa, mà còn là cặp uyên ương mới cưới đầu tiên được phép hôn trong dịp này.
Từ đó ngôi chùa phát triển rất nhanh. Số lượng Tăng sĩ Tăng từ một đến năm người, để đảm bảo có thể thâu nạp số lượng người tham dự (attendees) ngày càng Tăng. Vì số lượng Tăng nên không gian cần cho việc thực hiện nghi lễ cũng lớn hơn. Các nghi lễ bây giờ thường được tổ chức ở khu vực để xe. Quả là một cảnh tượng tuyệt vời khi nhìn khu để xe đầy các ghế.
Thành phần khán giả cũng thay đổi. Nhìn quanh đám đông, người ta sẽ thấy một nhóm người đa dạng hơn – người Mỹ không phải gốc Á châu cũng như người Việt, cả già lẫn trẻ. Tôi thấy điều đáng kể là một phụ nữ, TS. Karma Lekshe Tsomo, đã được mời đến diễn thuyết tại một buổi lễ như thế. Buổi lễ đã được thực hiện bằng cả tiếng Anh và tiếng Việt.
Thay đổi quan trọng nhất ở chùa là các Tăng sĩ. Họ có mặt để nói với bất cứ ai đến chùa tìm kiếm thông tin về Phật giáo và họ cũng có thể trò chuyện bằng cả tiếng Anh và tiếng Việt.
Tinman, vị Tăng sĩ tôi gặp lần đầu sáu năm trước – người đã cầm lấy cuốn sách của trẻ em mà không chế giễu, học chúng cẩn thận, và đọc cho tôi nghe – cũng đã có một vài thay đổi. Bây giờ, ông đến nói chuyện với sinh viên đại học về Phật giáo và ngôi chùa. Vào tháng 5 năm nay, ông nhận được bằng Thạc sĩ về Tôn giáo học tại Đại học phía Tây (UNiversity of the West) ở Los Angeles. Ông dự định tiếp tục theo đuổi việc học và tiến tới làm nghiên cứu sinh.
Chúng ta đi đâu từ đây?
Khi đứng ở hành lang của chùa cùng với TS. Karma Lekshe Tsomo và TS. Bahar Davary tại buổi lễ hôm đó, tôi nhận ra rằng chúng tôi không chỉ là một Phật tử, một tín đồ Cơ đốc giáo, và một người Hồi giáo, mà ba người phụ nữ thấy vui thích trong sự bầu bạn của nhau (three women enjoying each other’s company). Chúng tôi có thể không có tín ngưỡng giống nhau hay đồng ý với nhau về mọi điều, nhưng chúng tôi là những phụ nữ có thể đem lại sự đổi thay.
Từ ngày đó sáu năm trước khi tôi lần đầu tiên tự giới thiệu mình tại chùa Văn Hạnh, cuộc sống của tôi đã thay đổi theo hướng tốt hơn theo nhiều cách khác nhau. Tôi đã gặp gỡ những con người tuyệt vời và có những kinh nghiệm kỳ diệu (fabulous experiences). Nhờ mối quan hệ của tôi với các Phật tử Việt Nam, tôi đã gặp TS. Lekshe Tsomo đầy cảm hứng (inspiring Lekshe Tsomo), người mời tôi đến với hội thảo này.
Ảnh tư liệu - Ảnh: Bảo Toàn
Những điều này xảy ra như thế nào? Chỉ với một chút chủ động (inNitiative) và rất nhiều sự tò mò, tôi tiến đến chùa để xem có thể giúp đỡ như thế nào. Bước đi đó đã đưa đến một loạt đổi thay. Bài học rút ra là mỗi chúng ta, bất kể với kỹ năng hay nền móng nào, đều có tiềm năng để thay đổi bên trong chúng ta. Đặc biệt, mong ước làm lợi cho người khác có thể mở ra nhiều cánh cửa. Tôi hy vọng rằng tất cả chúng ta sẽ tiến về phía trước, mở lòng ra với những cuộc khám phá mới (new adventures), và trở thành tác nhân của sự thay đổi.
Giáo dục Phật giáo
Giáo dục Phật giáo - Phần I
Giác Ngộ - Phật giáo đặt nền tảng trên sự hiểu biết đúng để tin đúng và thực hành đúng. Do đó về căn bản, Phật giáo đã là một con đường giáo dục. Cách nay trên 2.500 năm, khi Tăng đoàn Phật giáo hình thành thì nền giáo dục Phật giáo đã bắt đầu.
Giáo dục Phật giáo là một thực thể
Nền giáo dục đó phát triển theo sự phát triển của Phật giáo, cả về hình thức và nội dung. Chương trình giáo dục Phật giáo từ việc chỉ giới hạn trong lãnh vực Phật pháp, dần dần được mở rộng để trở thành một chương trình giáo dục bao gồm nhiều môn học không thuộc Phật giáo. Những tự viện cũng dần dần phát triển thành những cơ sở giáo dục lớn, trong đó có một số trở thành những đại học đầu tiên trên thế giới như Nalanda và Valabhi. Ngoài ra còn có những trung tâm lớn khác như Vikramsila, Sompori, Salban, Pandit Vihar, Taxila. Ở đó, có những sinh viên đến học từ các nước như Trung Hoa, Miến Điện, Thái Lan,...
Phật giáo truyền đến chỗ nào thì không khí học thuật ở đó nổi lên, các môn học cũng được sửa đổi và gia tăng để đáp ứng với điều kiện và nhu cầu xã hội ở đó.
Ở Việt Nam và Trung Hoa, từ thế kỷ thứ I sau Tây lịch đã có những trung tâm Phật giáo như Luy Lâu, Bành Thành, Lạc Dương.
Ghi nhận về nền giáo dục Phật giáo, Tiến sĩ Pranab Kumar Bar viết:
"Nền giáo dục Phật giáo đã lan rộng từ khắp bán đảo Ấn Độ đến các nước Trung Hoa, Triều Tiên, Nhật Bản, Tây Tạng, Miến Điện, Thái lan, Campuchia, Lào, Việt Nam, Malaysia, Singapore. Khi Phật giáo truyền vào các nước này, giáo dục Phật giáo đã bước những bước tiến lớn với việc thêm vào những môn học mới trong chương trình giảng dạy" (Early Buddhist education and its modern).
Một điểm đặc biệt khác của nền giáo dục Phật giáo với hình thức giáo dục đặc sắc là mùa an cư.
Tự viện: Môi trường chính của nền giáo dục Phật giáo
Cũng theo Tiến sĩ Pranab Kumar Bar, trung tâm chính của nền giáo dục Phật giáo là các tự viện. Ở đó việc giáo dục được mở rộng cho mọi thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, và người học được theo học miễn phí.
Những trung tâm giáo dục Phật giáo đầu tiên như Nalanda và Valabhi, tuy được gọi là đại học, vì có tính cách quy mô và chất lượng cao về đào tạo và tổ chức, nhưng sinh hoạt trong các trung tâm này vẫn là sinh hoạt tu viện. Những đại học Phật giáo của Tây Tạng ngày nay cũng tổ chức theo hình thức tu viện đại học (university monastery).
Ở mức độ khái quát, có thể nói rằng sự phát triển của giáo dục Phật giáo là sự phát triển của nền giáo dục tự viện hay Phật học viện.
Sau khi giác ngộ, Đức Phật đến vườn Lộc Uyển để độ cho năm anh em ông Kiều Trần Như với bài pháp về giáo lý Tứ đế, bài pháp ấy đóng vai trò quan trọng như là xương sống của Phật giáo. Đó là khởi đầu của nền giáo dục Phật giáo. Và khi giáo đoàn được thành lập với sự hình thành của các tinh xá, nền giáo dục tự viện của Phật giáo bắt đầu. Ban đầu, việc giáo dục ở các tinh xá có tính cách cá nhân hay từng nhóm, rồi dần dần tiến tới việc tổ chức thành lớp học, với những bài giảng và những cuộc trao đổi, thảo luận, đặc biệt là trong mùa an cư.
Từ thời Đức Phật, giáo dục Phật giáo đã nhắm vào hai đối tượng tu sĩ và quần chúng. Sau lần an cư đầu tiên, Đức Phật bảo các đệ tử mỗi người đi một nơi, kể cả Ngài, để thuyết giảng giáo pháp mới về sự an vui chân thật cho quần chúng, và từ đó nền giáo dục quần chúng của Phật giáo bắt đầu.
Như vậy, từ mùa an cư đầu tiên, Phật giáo đã mặc nhiên sinh hoạt dưới hai hình thức giáo dục: giáo dục tự viện trong ba tháng an cư mùa mưa, và giáo dục quần chúng trong chín tháng mùa khô.
Theo thời gian, với sự hình thành một cộng đồng cư sĩ lớn mạnh và nhu cầu tu học đòi hỏi nhiều hơn về chất và lượng, việc giáo dục quần chúng dần dần cũng trở nên tập trung, và tự viện cũng trở thành những trung tâm tu học cho cả giới cư sĩ dưới hình thức những khóa tu một hay nhiều ngày.
Bên cạnh nhu cầu học hỏi và truyền bá của chư Tăng Ni trong việc thích ứng với hoàn cảnh và môi trường sống, việc cư sĩ tham gia vào nền giáo dục tự viện cũng là một yếu tố tạo nên sự biến đổi về nội dung và hình thức trong quá trình phát triển của nền giáo dục Phật giáo.
Nói về sự phát triển của nền giáo dục Phật giáo, Giáo sư Masato Mitsuda thuộc Đại học San Francisco State viết:
"Lần đầu tiên, vào khoảng thế kỷ thứ IV trước Tây lịch, người Phật tử thách thức hệ thống giai cấp cứng nhắc của xã hội Ấn Độ khi các tu viện mọc lên nhiều nơi trên đất nước này. Tu viện cung ứng một đời sống cộng đồng trong đó Tăng và Ni học hỏi về giới luật, và được dạy kinh điển truyền miệng từ các vị thầy được gọi là Acarya.
Khi Phật giáo trở nên phổ cập và được chấp nhận, số lượng tu viện cũng tăng lên. Những trường đại học Phật giáo nổi tiếng nhất là Nalanda và Valabhi ở miền Đông và miền Tây Ấn Độ đã được thành lập. Các trường đại học này và những tu viện khác được hộ trì bởi những thương gia giàu có và sự trợ cấp của hoàng gia. Nalanda lên đến tột đỉnh huy hoàng vào thế kỷ thứ VII. Ngài Huyền Tráng viếng Ấn Độ từ năm 626 đến năm 646 và học tại Nalanda ghi lại rằng: Ở Đại học Nalanda, số giáo sư là 1.500 vị và số học viên là 10.000. Một vị Tăng nổi danh khác của Trung Hoa là ngài Pháp Hiển viếng Ấn Độ từ năm 399 đến năm 414 ghi lại rằng: Trong các tu viện, ngoài việc học kinh điển, các môn như văn phạm tiếng Phạn, luận lý học Ấn Độ, và siêu hình học cũng được giảng dạy. Ngoài ra, nghệ thuật Phật giáo và y học cũng là những môn học chủ yếu trong chương trình giáo dục Phật giáo. Đến thế kỷ thứ VII, đời sống trong tu viện của chư Tăng Ni biến đổi trở nên phức tạp, đòi hỏi họ phải phấn đấu một cách có sư phạm hơn. Có thể cho rằng "chủ nghĩa kinh viện" Phật giáo bắt đầu ở thời kỳ này.
Ảnh minh họa
Các tu viện Phật giáo ở Trung Hoa bắt đầu xuất hiện vào thế kỷ thứ I khi Phật giáo được chấp nhận. Trung tâm Phật giáo nổi danh là Lạc Dương được hình thành vào cuối thế kỷ thứ I. Vị Tăng được biết đến và được tôn kính nhiều nhất ở Lạc Dương là An Thế Cao. Ngài là người Partian (một phần của Iran ngày nay) thuộc dòng dõi vương giả. An Thế Cao đến Lạc Dương vào khoảng năm 148. Ngài dịch kinh, phần lớn là về Thiền như định tâm, thiền quán, phương pháp điều khiển hơi thở sang Hán văn. Trong số những người ngoại quốc cộng sự với An Thế Cao có ngài Chi Lâu Ca Sấm, người gốc Seythian, đến Lạc Dương vào khoảng năm 167 và cũng là một nhân vật quan trọng. Khác với An Thế Cao, ngài Chi Lâu Ca Sấm chuyên dịch các kinh về Bát nhã.
Giữa thế kỷ thứ I và thế kỷ thứ V, ở Trung Hoa có một số Tăng sĩ chuyên dịch kinh. Thêm vào đó, Tăng sĩ Trung Hoa có cơ hội học về Phệ đà, thiên văn học Ấn Độ, toán học, và những khoa học huyền bí từ những vị Tăng ngoại quốc sống ở Trung Hoa. Ngài Cưu Ma La Thập (413) cũng đã đưa văn học Ấn Độ vào Trung Hoa. Các tu viện tự điều hành như những viện đại học. Khi gia nhập Tăng đoàn, Tăng và Ni được nhận một nền giáo dục ở nhiều mức độ từ thấp đến cao, song song đó, họ thoát khỏi những bất công của xã hội và được xã hội kính trọng. Tuy nhiên, giáo dục ở tu viện có mục đích cao cả hơn, đó là hướng dẫn sự chứng nghiệm sâu nhất về ý nghĩa hiện hữu của con người. Mục đích chính của giáo dục và thực hành Phật pháp là làm cho sự chứng ngộ trở thành hiện thực" (Zen Buddhist perspectives on modern education).
Ngày nay, với nhu cầu học hỏi và truyền bá, chương trình học trong nhiều tự viện Phật giáo đưa thêm những môn học cần thiết và phổ biến như Anh ngữ, khoa học, y học, tin học,… Và các nền giáo dục Phật giáo ngày nay nhờ những phương tiện hiện đại đã tạo nhiều điều kiện thuận lợi trong việc tìm hiểu và học hỏi Phật pháp cho người xuất gia cũng như tại gia, mà internet là một trong những phương tiện hữu hiệu.
Giới - Định - Tuệ: Cái trục của nền giáo dục Phật giáo
Mục tiêu của giáo dục Phật giáo là đạt đến trí tuệ cứu cánh hay trí tuệ chân thật, giúp con người thoát khỏi sự đau khổ, mục đích tối hậu của đời sống.
Với Phật giáo, khổ là vì không hiểu biết. Muốn thoát khổ thì phải có trí tuệ, tức có sự hiểu biết. Khổ bớt dần với mức độ hiểu biết tăng dần. Và khi cái biết đạt đến chỗ toàn triệt thì khổ cũng hoàn toàn chấm dứt.
Biết của Phật giáo là biết về bản chất, về ý nghĩa chân thật của đời sống, của vũ trụ. Nội dung của cái biết đó là nhận rõ tính chất vô thường và duyên khởi của tất cả hiện tượng, hết thảy chúng sanh. Cái biết cứu cánh là cái biết rốt ráo, toàn thể, không thiên lệch. Nó cân xứng và hài hòa của cái tổng thể trí, tình và ý. Cái biết này cho chúng ta thể nghiệm được tính nhất thể bình đẳng với tất cả chúng sanh, khơi dậy trong chúng ta tình thương và sự kết nối.
Cái biết đó vốn có sẵn trong mọi người, mọi chúng sanh, nhưng bị che khuất vì ý nghĩ, lời nói và hành động điên đảo mà chúng ta tạo ra qua thời gian vô tận, đã trở thành một lớp màn dày bao phủ nó. Muốn trở về với cái biết nguyên thủy đó, chúng ta cần phải giữ giới và thiền định.
Giới là những nguyên tắc đạo đức do Đức Phật chế định để giúp con người tự giác kiềm chế sự phóng túng của hành động, lời nói và ý nghĩ. Nhờ sự giữ giới và những phương pháp tu tập khác mà tâm đạt đến trạng thái tập trung, an trụ để sẵn sàng cho sự khai mở tuệ giác.
Giới, Định và Tuệ có thể nói là nền tảng của sự tu tập trong Phật giáo, cũng là cái trục chính trong nền giáo dục Phật giáo.
Trong sách "Để sống đời sống có ý nghĩa", Đức Đạt-lai Lạt-ma viết về Giới, Định, Tuệ như sau:
"Giới, Ðịnh và Tuệ là thứ tự căn bản trong sự tu tập. Lý do như sau:
Ðể cho trí tuệ quán chiếu, loại bỏ những chướng ngại cản trở sự hiểu biết đúng đắn, và loại trừ tận gốc những trạng thái tâm thức sai lầm. Chúng ta cần sự tập trung thiền định, một trạng thái hoàn toàn nhất tâm, trong đó mọi sự lo âu nội tại đều không còn. Nếu không thì tâm thức sẽ phải trải qua nhiều sự đứt đoạn. Không có được sự thiền định nhứt tâm như vậy, trí tuệ sẽ không có sức mạnh, giống như một ngọn đèn cầy ở trong gió không đủ sức phát ra ánh sáng. Vì vậy, thiền định đi trước trí tuệ.
Thiền định nhất tâm để loại trừ những tạp niệm vi tế, chẳng hạn như tâm thức quá căng thẳng hoặc quá phóng túng. Ðể thực hiện việc này, trước tiên chúng ta phải dừng lại những lo âu bằng việc thực hành giới luật để giữ chánh niệm và tỉnh giác trong hành vi và lời nói - luôn luôn tỉnh giác về hành vi bạn đang làm và lời bạn đang nói. Nếu không vượt qua được những xao lãng dễ thấy này, bạn không thể nào vượt qua những xao lãng vi tế hơn. Nhờ giữ chánh niệm, bạn đạt được trạng thái an tịnh của tâm thức, do đó việc thực hành giới luật phải đi trước việc tu tập thiền định…
Nhìn vào ba sự tu tập - giới luật, thiền định và trí tuệ - chúng ta thấy rằng, mỗi thứ có tác dụng như là nền tảng cho cái kế tiếp. (Thứ tự tu tập này được chứng minh rõ ràng trong cuộc đời của Ðức Phật). Vì vậy, toàn bộ tiến trình tâm linh tùy thuộc vào nền tảng giới luật".
Trí tuệ là mục đích, và thiền định là tiến trình thiết yếu để đạt đến trí tuệ. Tuân giữ giới luật là phương pháp giúp tâm an ổn, tạo điều kiện thuận lợi cho tiến trình thiền định. Khi tâm được định thì trí tuệ sẽ thể hiện một cách tự nhiên. Giáo lý của Đức Phật chứa đựng trong ba tạng kinh điển không ra ngoài ba môn học này.
Vì Giới, Định, Tuệ là nền tảng của sự tu học Phật giáo, được gọi là Tam vô lậu học, cho nên giáo dục Phật giáo phải lấy Giới, Định, Tuệ làm trung tâm. Dù trải qua sự phát triển và nhiều thay đổi, nền giáo dục Phật giáo vẫn xoay quanh cái trục ba yếu tố này. Nền giáo dục này có hai bước hay hai mục đích: 1) Tạo niềm tin vào giáo pháp để phát tâm thực hành giáo pháp, tức tu tập Giới, Định, Tuệ; và 2) Hướng dẫn phương pháp thực hành Giới, Định, Tuệ để tiến sâu vào trí tuệ chân thật.
Văn-Tư-Tu: Ba thiện xảo trong quá trình tu học
Để thành tựu trong việc học giáo pháp của Đức Phật, người học cần áp dụng khéo léo tiến trình Văn-Tư-Tu trong việc tu học Giới, Định, Tuệ.
Văn có nghĩa là nghe, tức là học. Thời Đức Phật không có chữ viết, không có văn tự, nên chỉ nghe. Tuy nhiên, nghe theo nghĩa là học thì không những nghe bằng tai, mà còn nghe bằng mắt, tức đọc, nhìn, tìm kiếm. Nghe giáo pháp, đọc kinh điển, chiêm ngưỡng hình tượng. Nghe rồi suy nghĩ để phân biệt đúng sai, xem có thích hợp với mình hay không. Suy nghĩ một cách thấu đáo đến chỗ không còn nghi ngờ. Khi đã suy nghĩ thấu đáo và không còn nghi ngờ thì đem điều học được đó áp dụng vào đời sống, vào thực hành. Ba bước này chẳng những rất quan trọng trong việc học Phật pháp mà còn áp dụng hiệu quả cho mọi ngành học vấn khác.
Dù tu tập theo pháp môn nào, tông phái nào, ba bước trí tuệ này đều phải được áp dụng. Ba bước này phải được áp dụng cho mỗi lãnh vực tu tập. Áp dụng Văn-Tư-Tu trong tu giới, áp dụng Văn-Tư-Tu trong tu thiền định, áp dụng Văn-Tư-Tu trong tu tuệ. Ví dụ tu thiền định, người học tìm tòi, lắng nghe những lời dạy về pháp môn Thiền, suy nghĩ những lời dạy về cách tu tập Thiền, những triệu chứng sai lạc, những chứng bệnh xảy ra khi tu thiền…, rồi áp dụng sự hiểu biết đó vào việc tu tập, quan sát những chướng ngại ngoài thân, trong tâm để điều chỉnh.
Ngược lại, Văn, Tư, Tu cũng cần Giới, Định, Tuệ hỗ trợ. Nếu tâm không ổn định nhờ giữ giới và thiền định thì sự nghe, suy nghĩ và thực hành sẽ không đến nơi đến chốn và không toàn diện.
Ngoài Văn-Tư-Tu, có thể có bước thứ tư là xác minh kết quả tu tập bằng kinh nghiệm. Vì Phật giáo là một con đường thực nghiệm, sự xác minh kết quả tu tập cũng phải bằng con đường thực nghiệm. Trong các giai đoạn tu thiền định, những cảm thọ vi tế cần được xác minh bằng những hiểu biết từ kinh sách của chư Phật, chư Tổ, tốt nhất là được sự xác minh của một vị thầy có thẩm quyền.
Một số phương pháp trong giáo dục Phật giáo
Phật giáo có một hệ thống giáo dục đặt trên nhiều phương tiện mà số lượng được mô tả là tám vạn bốn ngàn. Có nghĩa là phương pháp giáo dục của Phật giáo là vô số, tùy cơ duyên mà ứng dụng. Nhưng nhìn một cách tổng quát, chúng ta thấy có bốn nhóm phương pháp tiêu biểu sau đây thường được Đức Phật và những vị thầy về sau sử dụng.
Thanh thoát mùa an cư
- Dạy dỗ và phát triển từng bước: Vì không phải là một tôn giáo thuần túy đức tin, mà là một con đường phát triển tri kiến và tâm linh để đi đến mục đích sau cùng là trí tuệ cứu cánh, Phật giáo có một hệ thống học hỏi và thực hành mạch lạc. Việc dạy dỗ trong Phật giáo đi từ thấp đến cao, từ thô sơ đến vi tế. Như trong kinh Lăng Nghiêm, Đức Phật ân cần và kiên nhẫn tháo gỡ từng chiếc gút trong cái thấy của ngài A Nan để cuối cùng mở ra cho A Nan và đại chúng cái thấy chân thật, viên thông.
Như chúng ta biết, quá trình tổng quát của giáo dục Phật giáo là Giới, Định rồi đến Tuệ. Mỗi nhóm đều đi từ dễ đến khó, từ thấp đến cao.
Việc Đức Phật dạy La Hầu La cũng cho thấy quá trình tiệm tiến trong sự giáo dục của Phật giáo. Ngài dạy về đạo đức (giới) lúc La Hầu La 7 tuổi, dạy về thiền định lúc 10 tuổi, đến 20 tuổi thì Ngài mới dạy về trí tuệ giải thoát.
Chúng ta biết rằng, sự phát triển của tâm tùy thuộc vào nhiều nguyên nhân và điều kiện, do đó không thể nào thành tựu trong một thời gian ngắn được. Vả lại, sự phát triển của tâm là việc làm cần nhiều nỗ lực, do đó phải trải qua một quá trình. Con đường phát triển tâm để tìm thấy ý nghĩa chân thật của thế giới, của đời sống cần phải thực hiện theo những chỉ dạy sáng suốt, trải qua nhiều năm tháng. Trong lịch sử Phật giáo, quá trình tu hành của các vị thành tựu đạo nghiệp cho chúng ta thấy điều này.
- Quan sát và phân tích: Phương pháp quan sát và phân tích được Đức Phật sử dụng rất nhiều, nhất là trong việc phân tích những khía cạnh phức tạp của tâm.
Kinh Thủ lăng nghiêm, bộ kinh từng bước khai mở tường tận về cái thấy đúng, tức thấy tánh viên thông của các căn, chúng ta thấy phương pháp phân tích được sử dụng triệt để. Trong kinh, rất nhiều lần Đức Phật bảo ngài A Nan dùng khả năng phân tích để trả lời những câu hỏi gợi ý của Ngài:
"Đối với các cảnh vật sum la vạn tượng, ông nên chín chắn phân tích rõ ràng, rồi chỉ cho ta xem, cái nào là cái ‘thấy’ cũng như chỉ các vật, không có lầm lẫn".
"Ông hãy ở nơi vạn tượng mà phân tích kỹ càng, chỉ cho ta xem cái kiến tinh sáng tỏ ấy, rõ ràng đồng như các vật, không được lầm lẫn!"…
Về phương pháp phân tích trong việc dạy dỗ của Đức Phật, Đại đức Pannyavaro viết: "Chúng ta có thể thấy sự tương đồng trong cách tiếp cận của Đức Phật với cách tiếp cận của khoa học về vấn đề tri thức. Đức Phật nhấn mạnh sự quan trọng của quán sát khách quan. Quán sát là chìa khóa trong phương pháp nhận thức của Đức Phật. Chính sự quán sát đã đem đến việc nhận ra bốn chân lý vi diệu (Tứ diệu đế). Và ở giai đoạn cuối của con đường tu tập, chính sự quán sát soi rọi những tính chất của thể nghiệm mà chấm dứt hoàn toàn khổ đau. Như vậy, ở giai đoạn đầu, giữa và cuối trên con đường tu tập do Đức Phật chỉ dạy, quán sát đóng vai trò tối quan trọng. Điều này cũng tương tự như vai trò của quan sát khách quan trong truyền thống khoa học. Truyền thống này khuyên rằng, khi quan sát một vấn đề, trước tiên chúng ta phải thiết lập một nguyên lý tổng quát theo sau bởi một giả thuyết khoa học. Chúng ta thấy phương pháp này tương tự với tiến trình của Tứ diệu đế. Ở đây nguyên lý tổng quát là ‘mọi vấn đề đều có nguyên nhân’ và giả thuyết là ‘nguyên nhân của khổ là tham dục và vô minh’. Chân lý cho rằng nguyên nhân của khổ là tham dục và vô minh được xác minh bằng phương pháp thực nghiệm. Con đường thực nghiệm trong Tứ diệu đế là Đạo đế. Qua sự thực hành Đạo đế, mà chân lý thứ hai, Tập - chân lý về nguyên nhân của khổ, và chân lý thứ ba, Diệt - chân lý về sự chấm dứt khổ, được xác minh. Qua sự thực hành Đạo đế, con người dứt trừ được tham dục và vô minh. Và bằng sự dứt trừ tham dục và vô minh, con người dứt trừ được đau khổ. Phương pháp thực nghiệm đó có thể áp dụng không giới hạn giống như trong khoa học, vì không chỉ Đức Phật đạt được sự chấm dứt khổ, mà mọi người nếu đi theo con đường đó đều đạt đến sự chấm dứt khổ đau.
Do đó, khi chúng ta quan sát kỹ cách tiếp cận của Đức Phật trên vấn đề tri kiến, chúng ta thấy rằng sự tiếp cận của Ngài rất gần với sự tiếp cận của khoa học và điều này tạo nên sự chú ý lớn ở phương Tây. Chúng ta có thể thấy vì sao chính Einstein đã viết trong tự truyện của ông rằng, ông không phải là người có tôn giáo, nhưng nếu chọn một tôn giáo thì đó là đạo Phật. Chúng ta sẽ thấy rõ hơn lý do vì sao điều đó không có gì đáng ngạc nhiên khi theo dõi điều tôi sắp trình bày về phương pháp phân tích của Phật giáo và sự tiếp cận của Phật giáo với kinh nghiệm ở dưới đây.
Kinh nghiệm trong Phật giáo bao gồm hai yếu tố, yếu tố khách quan và yếu tố chủ quan, nói một cách khác là sự vật chung quanh chúng ta và bản thân chúng ta, người nhận thức về những sự vật đó. Phật giáo rất nổi bật về phương pháp phân tích trong lãnh vực triết học và tâm lý học. Điều tôi muốn nói ở đây là Đức Phật đã phân tích kinh nghiệm thành nhiều yếu tố, yếu tố căn bản nhất là năm uẩn - sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Năm uẩn lại được phân tích thành 18 giới,... Phương pháp này là phương pháp phân tích vì nó chia cắt sự vật ra thành những bộ phận nhỏ. Chúng ta không thỏa mãn với sự mơ hồ của kinh nghiệm, nhưng chúng ta phân tích nó, thăm dò nó, chia chẻ nó ra thành những bộ phận giống như tháo gỡ chiếc xe ra thành những bộ phận riêng biệt như bánh, trục,... để cuối cùng hiểu được cách vận hành của nó. Khi chúng ta ngắm một đóa hoa, nghe một bản nhạc, gặp một người bạn, tất cả những kinh nghiệm đó khởi lên như là kết quả của nhiều yếu tố. Đó là điều mà chúng ta gọi là cách tiếp cận bằng phân tích. Và cách tiếp cận bằng phân tích này không xa lạ với khoa học và triết học đương đại. Chúng ta thấy cách tiếp cận bằng phân tích được sử dụng như là then chốt trong khoa học. Trong triết học, truyền thống phân tích có thể thấy rõ nét nhất nơi Bertrand Russel. Có những nghiên cứu so sánh rất thành công giữa triết học của Bertrand Russel và triết học A-tỳ-đàm của Phật giáo. Như vậy, chúng ta thấy phương pháp trong khoa học và triết học Tây phương rất gần với phương pháp phân tích của Phật giáo. Và điều này cũng là một trong những nét đặc biệt lôi kéo sự chú ý của các tư tưởng gia và viện sĩ Tây phương đối với Phật giáo. Trong lãnh vực tâm lý học, các nhà tâm lý học Tây phương đặc biệt quan tâm đến phương pháp phân tích những tác nhân của kinh nghiệm - cảm thọ, ý niệm, thói quen,... Ngày nay, họ đến với Phật giáo để có được cái nhìn sâu xa hơn vào những nguyên lý họ tìm ra" (Buddhism: a modern perspective).
GIÁO DỤC PHẬT GIÁO QUA THANH TỊNH
GIÁO DỤC PHẬT GIÁO QUA THANH TỊNH
ĐẠO LUẬN
PHẦN DẪN NHẬP
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
“Bảy đóa sen vàng nâng gót tịnh
Đón mừng Bồ tát xuống trần gian”.
Thật là diễm phúc thay! Hạnh phúc thay! Một niềm sung sướng mà nhân loại cách đây hơn hai mươi lăm thế kỷ đã được đón nhận một bậc vĩ nhân giáng sanh vì đại nguyện: “Ta ra đời vì hạnh phúc và an lạc cho chư thiên và loài người”.
Thật đúng như vậy, trong suốt bốn mươi chín năm Ngài đã đi khắp mọi miền để tùy duyên khai ngộ. Ngài đã sinh ra và lớn lên trong nhung lụa, quyền uy, thọ hưởng đầy đủ năm thứ dục lạc ở thế gian, nhưng Ngài đã sớm nhận ra sự nguy hại của chúng và tìm cách thoát ly. Chính sự ra đời của Ngài đã vạch ra cho nhân loại một con đường để tự thanh lọc thân tâm và hướng dẫn con người đi sâu vào lãnh vực giáo dục tâm linh, nhằm chuyển hóa nhân loại có một đời sống và lý tưởng cao đẹp.
Với một tinh thần cởi mở, bao dung và truyền cảm hết sức mầu nhiệm đượm sắc thái hiếu hòa và giải thoát, nên trên bước đường hoằng pháp độ sanh Ngài không bao giờ có một sự phân biệt nào về chủng tộc, vì Ngài cho rằng: “Không có giai cấp trong dòng máu cùng đỏ và nước mắt cùng mặn”. Vì lẽ đó nên từ nam nữ, già trẻ, cho đến những tầng lớp khác nhau trong xã hội kẻ bần cùng, khốn khổ, người phú quý, hạ tiện, học thức hay bình dân v.v … Ngài đều chỉ dạy tất cả về con đường an lạc và giải thoát.
Cuộc sống hôm nay, với bao vấn đề bức bách và cấp thiết trong xã hội, chúng ta phải đối diện với bao thăng trầm của cuộc đời, khoa học ngày càng phát triển, đời sống vật chất càng thăng hoa khiến cho đạo đức con người ngày càng suy giảm, thiên tai, chiến tranh, tệ nạn xã hội xảy ra liên miên tất cả đều do sự sinh hoạt của con người hàng ngày lấy tham dục làm gốc. Vậy hơn bao giờ hết, tiếng nói của Giáo dục qua Thanh Tịnh Đạo Luận là nền tảng để đưa con người trở về với Chân – Thiện – Mỹ. Đó cũng chính là lý do mà người viết muốn thực hiện đề tài này.
2. MỤC ĐÍCH VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU:
Từ nay cõi Thánh bước lần
Bồ đề thêm lớn muôn phần cao xa
Được vào trong pháp vương gia
Đủ duyên đủ phước nghe qua pháp màu.
Đó chính là mục đích cho những ai muốn đạt được hạnh phúc miễn viễn. Với đề tài này người viết chỉ muốn đem sự hiểu biết thiển cận của mình để nghiên cứu, tìm tòi, học hỏi thêm. Đó chính là tâm niệm muốn tìm hiểu trong bốn năm qua. Bởi lẽ Thanh Tịnh đạo là một luận thư được đúc kết bởi những tinh hoa, yếu chỉ của Phật giáo Nam truyền, bộ luận được chia làm 23 chương, trong đó mỗi chương đều có những ý nghĩa rất đặc thù và những phương pháp tu tập riêng biệt, nhưng tất cả đều không ngoài Tam vô lậu học. Chính Ngài Buddhaghosa đã dùng phương tiện để dẫn dắt chúng ta đi từ thấp đến cao, từ dễ đến khó, từ cụ thể đến trừu tượng, nhằm thích ứng căn cơ cho mọi hành giả. Đây chính là phương pháp giáo dục căn bản nhất của Phật giáo. Pháp môn này đã được rút tỉa và đúc kết lại mà không một tôn giáo nào có được. Với ý nghĩa thiết thực và bổ ích như vậy, nhưng do số trang có hạn, cũng như sự hiểu biết của người viết còn nông cạn, nên người viết chỉ có thể trình bày trong phạm vi Tam vô lậu học, nhằm đưa ra một đường hướng giáo dục mới, nhắm thẳng vào tâm lý con người. Bởi lẽ sự giáo dục của Phật giáo chính là đào tạo và giáo dục những con người hoàn thiện đúng mức dựa trên tinh thần căn bản nhất. Đó chính là Tam vô lậu học.
3. PHƯƠNG PHÁP LUẬN:
Trong thời đại ngày nay, xã hội và con người đang hướng đến đỉnh cao của khoa học, văn minh vật chất đẩy con người vào vòng ham muốn của thác loạn vật chất và tìm kiếm miên viễn, đạo đức con người ngày càng xuống cấp trầm trọng, đứng trước một tình trạng thảm họa như vậy, người tu sĩ chúng ta phải đứng vững vàng trong tư thế Giới – Định – Tuệ. Đó chính là hành trang để chúng ta bước vào đời, ngõ hầu thiết lập một nền giáo dục mới cho con người và xã hội hiện tại. Với đề tài rộng lớn này, người viết chỉ muốn trình bày trong phạm vi: “Vài nét về Giáo dục Phật giáo qua Thanh Tịnh Đạo Luận” ở một số điểm chính:
1. Giới thiệu về Thanh Tịnh Đạo Luận.
2. Khái quát về giáo dục.
3. Giới, Định, Tuệ là nền tảng.
4. Giáo dục chuyển hóa tâm linh.
Mong rằng tập văn nhỏ bé này, sẽ phác họa được phần nào về mảng đề tài rộng lớn này.
PHẦN NỘI DUNG
Chương 1: Ý NGHĨA CỦA THANH TỊNH ĐẠO
Có thể nói rằng Thanh Tịnh Đạo là một bộ sách kết tập những tinh hoa trí tuệ từ kinh tạng Nikàya do Ngài Phật Âm (Buddhaghosa) người Ấn Độ mở rộng thành văn học Pàli vào giữa TK thứ V (TL). Bản luận này được trình bày theo thứ tự Giới, Định, Tuệ. Nói gọn hơn là con đường Thiền định với ba mươi bảy phẩm trợ đạo làm tiêu biểu, một điều đáng lưu tâm là bất cứ một phương thức tu tập nào cũng chứa đựng một nội dung Thiền định. Thế nên Thanh Tịnh Đạo là một tác phẩm kinh điển vĩ đại nhất cho những ai đang trên đường hướng đến tâm linh. Trước hết, Thanh Tịnh được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau. Nhưng tựu trung có mấy nghĩa chính như sau: Thứ nhất Thanh Tịnh Đạo được hiểu là Niết bàn; là sự vắng lặng hoàn toàn không còn cấu uế và phiền não, là sự tách rời dứt bỏ ra khỏi ái dục và sự thèm khát ái dục. Đạo là con đường đưa đến sự thanh tịnh giải thoát nên gọi là Thanh Tịnh Đạo (The Path of Purification). Kinh Pháp Cú miêu tả:
“Tất cả hành vô thường
Với tuệ quán thấy vậy
Đau khổ được nhàm chán
Chính con đường thanh tịnh”. [4 – 227]
Nghĩa tiếp theo của Thanh Tịnh Đạo được hiểu như Tứ niệm xứ. Trong kinh Tương ưng V, Đức Thế Tôn dạy: “… Đây là con đường độc nhất khiến chúng sanh được thanh tịnh giúp vượt qua sầu bi, chấm dứt khổ ưu, chứng đạt chánh lý Niết bàn tức là Tứ niệm xứ”. [3 – 56]
Nói một cách đầy đủ và thiết thực hơn thì con đường dẫn đến sự thanh tịnh không gì khác hơn là ba môn học vô lậu: Giới, Định và Tuệ. Sự tu tập tăng thượng giới được nêu bằng Giới, sự tu tập tăng thượng tâm được nêu bằng Định giai đoạn cuối cùng chính là tu tập tăng thượng Tuệ bằng Tuệ.
Tóm lại, con đường thanh tịnh chính là ba pháp học không phiền não, thanh tịnh, dứt các mối ô trược, nhiễm trước. Nên trong kinh Tăng chi bộ Đức Phật dạy về vô lậu như sau: “… Này các Tỳ kheo! Thế nào gọi là vô lậu?” và Đức Phật dạy: “vô lậu là chánh kiến, ngược lại là tà kiến, tà đạo, tà ngữ”. Như vậy trên Giới Định Tuệ là ba pháp căn bản của Phật Giáo muốn chứng quả vô lậu phải tu vô lậu pháp. Chính bài kệ trong kinh Pháp Cú đã tóm tắt những ý kiến trên:
“Không làm các điều ác
Thành tựu các hạnh lành
Giữ tâm ý trong sạch
Chính lời chư Phật dạy.” [4 – 183]
1.1. Ý NGHĨA VỀ GIỚI:
“Người trú giới có trí
Tu tập tâm và tuệ
Nhiệt tâm và thận trọng
Tỳ kheo ấy thoát triền.” [2 – 13]
Như trên, Giới (Sìla) là sự khởi đầu tốt đẹp. Giới là khởi điểm của những thiện pháp đem lại những đức đặc biệt là bất hối v.v… Giới cũng chính là bước đi nền tảng. Nếu nền tảng tốt đẹp thì sự xây dựng được kiên cố, nếu nền móng yếu ớt thì sẽ có nguy cơ sụp đổ. Cũng giống như đất là nền tảng nếu không có nó thì các loài động vật không thể di chuyển. Giới cũng như mảnh đất lành, các hạt giống nhờ đó sinh ra, cũng như không có giới thì ba mươi bảy phẩm trợ đạo cũng không được tu tập viên mãn. Hướng đi của Giới là đem lại lợi ích và an lạc cho mình và cho người, nên giới này giúp đỡ người tu tập thấy nhẹ nhàng thân tâm, an lạc trong từng bước đi. Do vậy, giới không có ý nghĩa là tù túng hay ràng buộc ai cả, mà mỗi hành giả tự nguyện đi trên đường giải thoát của mình thì giữ giới là điều tối quan trọng như người qua sông phải cần chiếc bè, nếu chiếc bè bị hư hỏng thì nguời qua sông phải bị chìm đắm trong dòng nước sanh tử. Giới có tầm quan trọng và ý nghĩa thiết thực như vậy, nên trước khi nhập Niết bàn Đức Thế Tôn đã huấn thị: “Này các Tỳ kheo, sau khi ta diệt độ, các ngươi phải tôn trọng trân quý Ba-la-đề-mộc-xoa (giới) như người đi trong đêm tối gặp ánh sáng, như người nghèo gặp của báu, dẫu ta có trụ ở đời cũng không có pháp gì khác”. Nên biết giáo lý của Đức Phật không phải đem ra mà bàn tán hoặc lý luận suông mà phải tự thân hành giả hành trì, nỗ lực hằng sống với những chân lý ấy. Đức Phật chỉ là người chỉ đường còn đi hay không là tự chính mình, như người uống nước nóng lạnh tự biết, sự tu tập cũng vậy, không ai tu tập thay cho mình, cũng không ai hộ trì cho mình được. Thế nên, gặp được giới là như người qua biển gặp chiếc phao nổi vững chắc, phải tự mình cố bám vào và ý thức rằng mình đang đi trên con đường tiến đến giải thoát để tự mình chọn trách nhiệm về nhận thức và hành động của chính mình.
“Tự mình điều ác làm
Tự mình làm nhiễm ô
Tự mình ác không làm
Tự mình làm thanh tịnh
Tịnh không tịnh tự mình,
Không ai thanh tịnh ai.” [4 – 163]
1.2. Ý NGHĨA VỀ ĐỊNH:
Từ những ý thức trách nhiệm đưa ra những kỷ luật tâm linh cần thiết gọi là Định. Định nguyên ngữ là Samādhi dịch âm là Tam ma địa là sự tập trung chú tâm có lợi ích. Theo Ngài Buddhaghosa có nói rõ về sự tập trung ấy như sau: “Tập trung là sự xoay quanh tâm và tâm sở một cách đều đặn chính đáng vào một đối tượng duy nhất và ở trong một trạng thái quân bình, không phân tán hay xao lãng”[10 – 129]. Như thế Định là bản thể vắng lặng nhất như, như thị của thực tại. Đối với một cá nhân thì Định là trạng thái thanh tịnh, không dao động, chuyên sâu. Định còn được dịch là chánh niệm, là sự thành tựu các hạnh lành ở chặng giữa đem lại các đức tính đặc biệt như thần thông v.v… Như thế, tâm có định mới có sự an bình, sáng suốt không bị kéo theo những xu hướng xấu, có định mới thấy rõ thực tướng của vạn pháp, thông được thực tại. Trong kinh Satipatthàna, Đức Phật tán thán về định như sau: “Này các Tỳ kheo! Đây là con đường độc nhất đưa chúng sanh đến thanh tịnh, thắng được mọi phiền muộn bi thương, diệt trừ khổ đau sầu não đạt đến chánh đạo, chứng đắc Niết bàn”. Quá trình tu tập theo giáo lý của Phật giáo thì Định được xem là nấc thang thứ hai sau giới. Vì nhờ có sự tuân thủ theo các giới điều Phật chế mà hành giả có được sự tập trung gọi là Định. Giới được ví như một bức tường thành kiên cố ngăn chặn các pháp bất thiện, nhất là sự buông xả, tán loạn của tâm. Muốn thành tựu định phải có ý chí mạnh mẽ, nỗ lực tối đa để điều phục tâm điên đảo vào một khuôn khổ nhất định. Ý chí ấy là tuân thủ giới, nhờ sự hỗ trợ của giới mà Định sanh. Trong khi trì giới nếu dùng các pháp quán như: quán thân thể, quán cảm thọ, biến xứ đất v.v… để nhận thấy rõ thật tướng của vạn pháp thì tâm không còn tham đắm, chấp trước. Khi tâm ly tham xuất hiện như một cảm giác khoái lạc, hoan hỷ thì mọi gánh nặng của tham ái, phiền muộn được đặt xuống. Đó chính là ý nghĩa Định.
1.3. Ý NGHĨA VỀ TUỆ:
Chặng đường cuối cùng và giáo lý tốt đẹp được nêu bằng Tuệ (Panõnõa) vì tuệ có khả năng đem lại đức tính bình thản đối với những điều vừa ý và không vừa ý. Trong kinh có dạy:
“Như núi đá kiên cố
Không bị gió lay động
Hủy báng hoặc tán dương
Không lay động bậc trí.”[4 – 81]
Thật vậy, khi vạn pháp đã hoàn toàn lộ rõ dưới cái “thấy” hay “tư duy” như thật thì không còn gì vướng bận về mặt tâm lý của người tu tập. Ý thức hay quan niệm về “ngã” cũng không còn và hòa nhập vào tánh giác đại đồng tức là trí huệ chân thật phát sanh. Đó chính là Tuệ. Một khi đã nhận chân được rõ ràng nghiệp chướng của mình tạo thì tự thân sẽ quay về với sự chân chánh. Cho nên, Tuệ đóng vai trò tiên quyết định hướng phá vỡ mọi chấp chặt sai lầm, để thắp sáng hiện hữu tạo nên định lực phá vỡ bức tường vô minh đưa đến tuệ giác. Qua những ý nghĩa trên ta thấy có trình tự thứ lớp nhưng trong giới luôn có Định và Tuệ, trong Tuệ luôn có Giới và Định. Trong kinh Sodadanda, Đức Thế Tôn dạy rằng: “Này các Tỳ kheo, trí tuệ được giới hạnh làm cho thanh tịnh, giới hạnh được trí tuệ làm cho thanh tịnh. Ở đâu có giới hạnh ở đó có trí tuệ. Ở đâu có trí tuệ ở đó có giới hạnh. Người có giới hạnh nhất định có trí tuệ, người có trí tuệ nhất định có giới hạnh. Giới hạnh và trí tuệ được xem tối thắng nhất ở trên đời”.
Như vậy, con đường thanh tịnh được thể hiện qua Tam vô lậu học là trụ thế ba chân luôn hỗ tương cho nhau và không thể tách rời nhau được. Đi trên đường Tam vô lậu học là đi đến con đường thánh đạo tám ngành, vì tất cả đều có khả năng gột rửa mọi cặn bã, cấu uế, phiền não của nội tâm và làm tịnh hóa ba nghiệp thân, khẩu, ý.
Như trên, vì mục đích đoạn tận khổ đau, đem lại hạnh phúc và an lạc cho mình và người, là đệ tử Phật luôn luôn thực hành đúng theo tinh thần của Giới Định Tuệ, ngõ hầu mở ra một hướng đi mới cho xã hội hiện tại và bước đường mà mỗi người xuất gia phải kinh qua để tiến đến giải thoát.
“… Ở đây chỉ có giới
Là pháp Phật tối thượng
Nếu vị nào có Tuệ
Vị ấy là tối thượng
Người có giới và Tuệ
Chiến thắng giới nhân thiên”.
Chương 2: KHÁI QUÁT VỀ GIÁO DỤC
Chúng ta có thể khẳng định giáo dục là vấn đề muôn thuở mà trong mỗi chúng ta không ai lại không được tiếp nhận. Từ thuở thiếu thời cho đến lúc trưởng thành… chúng ta được tiếp nhận nhiều cách thức và hoàn cảnh giáo dục khác nhau tùy thuộc vào mỗi thời đại. Và con người có hoàn thiện được nhân cách hay không phần nhiều đều do giáo dục mà nên. Ngày nay, xã hội ngày càng phát triển thì giáo dục cũng chuyển biến theo hoàn cảnh của xã hội ấy. Cho nên, có những nền giáo dục với nhiều hình thức lẫn nội dung đều khác nhau, nhằm đáp ứng những mục tiêu chung cho con người trong cuộc sống ngày càng phong phú và đa dạng hơn.
Như chúng ta đã biết, lịch sử của Phật giáo là sự truyền bá và giáo dục trong suốt bốn mươi chín năm mà đức Thế Tôn đã dày công hoằng hóa. Sự hình thành đó được phát triển theo tinh thần giáo hóa của Ngài đối với hàng đệ tử. Sự truyền dạy của Ngài luôn nhắm thẳng vào đối tượng. Ngài không những dạy con người biết cách sống đẹp, cách làm người mà (sự truyền dạy đó) còn tùy theo từng trường hợp, căn cơ và trình độ khác nhau của mỗi người, nhằm mục đích là xoa dịu nỗi đau và hướng dẫn con người tu tập hướng đến giác ngộ. Có thể nói rằng Đức Phật là một nhà tâm lý, một mẫu người giáo dục lý tưởng nhất. Nhờ những phương pháp giáo dục tuyệt vời của Ngài mà con người thoát được khổ đau do tham, sân, si chi phối. Một nền giáo dục hữu ích như vậy, chúng ta phải hiểu rõ rằng: Sự giáo dục của Phật giáo không gì hơn là giúp con người giải thoát đạt được niềm an vui trong đời sống bình nhật. Do những ý nghĩa thiết thực như trên mà Phật giáo đã ảnh hưởng trên toàn thế giới, từ chúng xuất gia cho đến Phật tử tại gia, các nhà trí thức, các nhà khoa học v.v… đều học hỏi nghiên cứu và thực hành trong giáo pháp của đấng Từ phụ.
Nhìn chung, giáo dục Phật giáo không gì hơn là phát triển và cải thiện đời sống. Với tinh thần từ bi – vô ngã chỉ mong sao với hành trang Giới – Định – Tuệ này giúp hành giả trong cuộc sống hiện tại được an lạc và đạt mục đích tối thượng trong tương lai.
2.1. ĐỊNH NGHĨA:
Có lẽ trong chúng ta ai cũng biết, khi nói về giáo dục là nói đến việc dạy dỗ, truyền trao những kinh nghiệm, kiến thức v.v… mà người thầy truyền lại cho học trò.
Nhưng khi định nghĩa về giáo dục thì có nhiều cách khác nhau.
Giáo dục theo viện ngôn ngữ Việt Nam định nghĩa: “Giáo dục là những hoạt động nhằm tác động một cách có hệ thống đến sự phát triển tinh thần, thể chất của một đối tượng nào đó, làm cho đối tượng ấy dần dần có được những phẩm chất và năng lực như yêu cầu đề ra”.
Trong quyển “Muốn làm nên” ông Phạm Cao Tùng đã định nghĩa giáo dục một cách ngắn gọn nhưng thiết thực hơn: “Sự giáo dục là một nghệ thuật làm nên một người”.
Hòa thượng Hiệu trưởng Học viện Phật Giáo Việt Nam tại Thành Phố Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh: “Đường hướng giáo dục của Đức Phật chính là sự hoàn thiện hay giải thoát của con người trên cơ sở đánh thức, nuôi dưỡng và phát triển giới đức, tâm đức, tuệ đức của mỗi cá nhân. Do đó một môi trường tu học đáp ứng được mục tiêu trên cần phải có đủ Giới – Định – Tuệ và các điều kiện hỗ trợ cho việc phát triển giới đức, tâm đức, tuệ đức. Đạo Phật chú ý kiến tạo các môi trường giáo dục, khuyến khích sự phát triển giới đức, tâm đức, tuệ đức của cá nhân”.[19 – 261]
Do vậy, khó có một khuôn mẫu để nói về giáo dục một cách chung nhất, vì qua mỗi thế hệ, thời đại đổi thay. Nên chúng ta chỉ có thể nói giáo dục giúp phát triển về tinh thần đạo đức con người có liên hệ đến cá nhân và tập thể, thái độ và nhân cách của mỗi người.
Từ những ý nghĩa trên, giáo dục Phật giáo không chỉ day cho con người hoàn thiện nhân cách mà còn đánh thức con người đưa đến chuyển hóa tình trạng đau khổ, giúp con người nhận diện được đâu là chân hạnh phúc và thấu triệt được khổ đau. Nói cách khác, con người phải được giáo dục như thế nào để trở thành tự mình làm chủ, chứ không bị xoay chuyển bởi các đối tượng xung quanh.
2.2. MỤC ĐÍCH
Giáo dục dù được nhìn ở góc độ nào cũng có phần quan trọng. Trong cuộc sống, mục đích của giáo dục cũng chính là một điểm của mọi hoạt động con người. Những hoạt động ấy mang tính lâu dài và góp phần không nhỏ vào việc phát triển thể chất, tinh thần. Mục đích được hiểu theo Aristotle – một học giả phương tây – là “Mục đích giáo dục là đạt được hạnh phúc và hạnh phúc hoàn toàn”. Còn theo Platon định nghĩa; “Mục đích giáo dục là đem lại cho thể xác và linh hồn sự toàn hảo”. Nhưng theo Socrates – một học giả kiến thức uyên thâm của Hy Lạp – thì “mục đích giáo dục là làm cho tiêu tan sự lầm lẫn và khám phá chân lý”. Những định nghĩa trên ít nhiều cũng nói lên được những mục đích mà con người trong cuộc sống muốn đạt đến, tùy theo từng chí hướng và lý tưởng của mỗi người. Nhưng theo Phật giáo mục đích được hiểu một cách thiết thực hơn, đó là sự giáo dục đào tạo con người có đầy đủ trí tuệ, nhận diện được khổ đau, đạt được hạnh phúc chân thật. Đó cũng chính là mục đích mà tự thân Đức Phật đã đạt đến bằng những sự thực nghiệm tâm linh và quá trình tu tập của mình. Ngài như một vị lương y tùy bệnh mà cho thuốc. Nên khi sắp vào Niết bàn, Ngài đã từ bi huấn thị:
“Ta, ví như lương y
Biết bệnh chỉ thuốc hay
Nếu uống hay không uống
Lỗi không phải nơi Thầy
Giống như người chỉ đường
Hướng dẫn con đường thẳng
Đi theo hay không đi
Lỗi không nơi người dẫn”.
Như vậy, mục đích của giáo dục Phật giáo là người học Phật phải tự mình hiểu rõ giáo lý của mình và chọn cho mình một hướng đi đúng đắn, tự mình tu tập. Vì giáo lý của Phật nếu muốn đạt mục đích thì phải tự mình thực nghiệm chứ không phải đem ra mà lý luận suông, Đức Phật đã là người chỉ đường, thì tự mình phải cảm nhận được những thực tế khách quan trong cuộc sống, phải biết vận dụng khế lý, khế cơ để đạt đến một giá trị tuyệt đối và mục đích cuối cùng đó là “chân hạnh phúc”.
2.3. MỤC TIÊU
Trong cuộc sống, con người luôn có một mục tiêu để mà hướng đến những thành tựu, những lý tưởng cao đẹp. Vì chỉ có lý tưởng mới bẻ lái cho thuyền đời và trổ hoa cho cuộc sống. Xưa nay, quan niệm Đông Tây đều có những mục tiêu đào tạo khác nhau, nhưng vẫn có những điểm chung là đào tạo ra mẫu người lãnh đạo về trí tuệ, chính trị, đạo đức, v.v… Ở Trung Quốc thời xưa chính là hướng đến mục tiêu đào tạo các bậc thánh có trí tuệ, đạo đức cao vời. Theo Platon, ông quan niệm đào tạo đến ba phương diện: trí tuệ, đạo đức và xã hội. Riêng Socrates thì chỉ chú trọng đến con người đạo đức.
Ngày nay, xã hội và khoa học phát triển cuộc sống được nâng cao thì mục tiêu đào tạo của giáo dục là đào tạo ra những con người chuyên môn hóa theo từng ngành nghề, có khả năng làm cho xã hội phát triển phù hợp với xã hội hiện đại là điều thiết yếu. Tuy nhiên, vật chất càng nhiều nhưng tinh thần đạo đức con người càng suy giảm. Nên mục tiêu chính của Phật giáo là giúp mỗi cá nhân tự nhận diện khổ đau, nguyên nhân đưa đến sự đau khổ và con đường diệt khổ, tự thân hành giả phải từ bỏ tham, sân, si, loại trừ năm triền cái, thành tựu năm thiền chi, dần dần đạt đến các tầng thiền và tiến đến giải thoát giác ngộ thể nhập pháp thân. Vậy nên, sự giáo dục của Phật giáo không những đề cập đến mục tiêu giải thoát của từng cá nhân mà còn đề cập đến con người xã hội. Hòa thượng Thích Chơn Thiện đã nói: “Một đường hướng giáo dục tốt luôn nhắm đến hai mục tiêu chính là đào tạo con người xã hội và con người chính nó, con người xã hội đáp ứng với những yêu cầu cho xã hội như kinh tế, chính trị, văn hóa. Con người chính nó là con người toàn diện phát triển tâm lý, sinh lý, ý chí, tình cảm và trí tuệ đang trôi chảy. Nếu như một hệ thống giáo dục mà thiếu một trong hai mục tiêu ấy thì nền giáo dục không được hoàn chỉnh”.[13 – 60]
2.3.1Cá nhân:
Đức Phật dạy: “Con người sinh ra đều có sự khác nhau về vật lý, tâm lý, các khả năng về trí tuệ và giai cấp trong xã hội, nên con người phải chịu trách nhiệm về nhận thức và hành động của chính bản thân mình, không phải lệ thuộc hay phó thác đời mình cho một đấng quyền năng nào cả. Ngài dạy: “Ngươi phải làm công việc của ngươi vì Như Lai chỉ dạy con đường”. Thật vậy, Ngài không thể biến hóa cho một kẻ tội lỗi thành một người trong sạch khi chính bản thân người ấy luôn chìm đắm trong khát vọng, đam mê, suy nghĩ và hành động lỗi lầm. Chỉ vì lòng từ bi mà Ngài đã dạy cho họ những con đường giáo dục khác nhau trên cơ sở tinh thần giáo dục cá nhân nhằm thích hợp với từng căn cơ của mỗi người. Và chính bản thân người đó phải tự mình nỗ lực. Bởi vì trong đạo Phật tinh thần tự giác rất quan trọng, vì chỉ có khả năng tự giác thì người ấy mới có thể dễ dàng thành tựu được nhân cách của chính mình. Bằng những ví dụ cụ thể Đức Phật đã minh định rất rõ ràng:
“Dầu tại bãi chiến trường
Thắng vạn ngàn quân địch
Tự thắng mình tốt hơn
Thật chiến thắng tối thượng” [4 – 103]
Vì thế, theo đạo Phật, giá trị tinh thần của một cá nhân phải thực hiện tốt để hoàn thiện được giới đức, tâm đức và tuệ đức. Bên cạnh đó, Đức Phật đã dùng nhiều phương tiện, ngôn ngữ để giáo hóa chúng sanh. Đối với người bình dân ít học, Ngài sử dụng ngôn ngữ dễ hiểu, cử chỉ, ví dụ cụ thể gần gũi với người nghe như:
Ai sống ở đời này
Ái dục được hàng phục
Sầu rơi khỏi nơi ấy
Như nước rơi lá sen. [4 – 336]
Đối với các tu sĩ hoặc giới trí thức, học giả, Ngài dạy: “Này các Tỳ kheo, mắt của ngươi là biển cả. Tai, mũi, lưỡi, thân, ý của ngươi là biển cả. Lực kích thích của nó là làm bằng các sắc. Ai điều phục được các xung lực bằng các sắc ấy. Này các Tỳ kheo, người ấy được gọi là người đã vượt qua biển cả của mắt, với các sóng và nước xoáy, Bà la môn ấy đã đến bờ bên kia và đứng trên đất liền”.
Như thế, các lời dạy trên, ứng với tinh thần tu tập của Phật giáo, luôn luôn nhấn mạnh đến tinh thần trách nhiệm cá nhân. Nhờ có tinh thần trách nhiệm cá nhân thì luật nhân quả mới được hình thành. Nếu không có tinh thần trách nhiệm cá nhân thì luật pháp của xã hội sẽ không được thi hành và nước nhà sẽ rơi vào đại loạn. Như trên, tinh thần trách nhiệm cá nhân cũng chính là một trong những nhân tố chính yếu để thành lập các hệ thống giáo dục. Đó chính là một trong những tinh thần căn bản nhất của giáo dục Phật giáo và xã hội.
Và mỗi người hãy tự nỗ lực bản thân, tự học, tự hành, tự chịu trách nhiệm, phải tự mình tỉnh giác thực hiện theo Tam học thì sẽ được những kết quả tốt đẹp.
2.3.2. Xã hội:
Vạn vật trong cuộc sống luôn trôi chảy với mối tương quan tương duyên vô cùng vô tận. Con người cũng không ngoài quy luật đó. Nghĩa là con người luôn có liên hệ đến môi trường xung quanh. Xã hội chính là do những tế bào cá nhân xây dựng nên, sẽ không có xã hội nếu không có sự độc lập, tự do của cá thể. Như vậy, cá nhân là của tập thể và tập thể là của cá nhân, cả hai cùng nương nhau mà tồn tại. Do vậy, không thể xem nhẹ cá nhân hay tập thể. Trang Tử bàn: “Mỗi vật đều có cái tính phận riêng, nên mỗi vật đều có cái tận thiện của nó. Cái tận thiện của hạt ngọc trai khác với cái tận thiện của đóa hoa hồng… không ai có quyền nêu một cái tận thiện lý tưởng nào để làm mẫu mực cho người khác phải theo”. Như trên, để giáo dục con người cá nhân thành con người xã hội là một vấn đề nan giải. Vì xã hội thì muôn màu, muôn vẻ, và mỗi người sinh ra đều mang những biệt nghiệp khác nhau nên hành động cũng luôn sai khác. Nếu cá nhân đó hành động theo chiều hướng thiện thì xã hội sẽ tốt đẹp và ngược lại thì chính là mối hiểm họa và tai ương cho nhân loại. Nên Đức Phật là một nhà tâm lý, Ngài hiểu rõ muốn thành lập một xã hội có được nền trật tự và đạo đức phải bắt đầu từng cá nhân. Ngài luôn tạo cho cá nhân có một niềm tin sâu sắc, một sự thông cảm sâu xa và hiểu biết đúng đắn. Theo Ngài, một xã hội có tốt đẹp hay không là tự thân của mỗi người phải có sự hiểu biết và hành động đúng đắn. Nói khác hơn, đó chính là chánh kiến, chánh ngữ … chánh định. Bởi vì một xã hội toàn diện chỉ được xây dựng khi con người thoát khỏi tham, sân, si và thành tựu được tinh thần vô ngã vị tha mà thôi.
2.4. ĐỐI TƯỢNG GIÁO DỤC PHẬT GIÁO:
Xưa nay, đối tượng của giáo dục chính là con người nhưng khi định nghĩa về con người thì không có một định nghĩa nào hoàn chỉnh. Theo quan niệm của các học giả phương Tây thì cho rằng: “Con người là một sản phẩm đặc biệt cao cấp của Thượng đế và là một sinh vật có lý trí”. Mác nói: “Con người là tổng hòa của các mối quan hệ xã hội”. Theo Phật giáo con người là do năm uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành, thức) hợp lại mà thành, nó được hình thành trên tinh thần vô ngã. Theo lý thuyết về nhân tính qua kinh tạng Pàli, Thượng tọa Thích Chơn Thiện viết: “Con người là thế! Do các duyên thuộc thế giới vật lý và tâm lý mà sanh. Mỗi người có liên hệ mật thiết với tha nhân, xã hội và thiên nhiên mà không bao giờ tự nó có thể hiện hữu”. Như vậy, mỗi con người có những nhân tính riêng nên hình thành những nhân cách riêng biệt mà có thể trau dồi chuyển hóa đến chân – thiện – mỹ.
Như trên, đối tượng của giáo dục Phật giáo chính là con người vì con người là trên hết, con người có thể thực hiện mọi việc tốt lành. Cho nên, hễ những ai chưa thoát khỏi xiềng xích của tham ái trói buộc và vô minh dục vọng làm điên đảo thì những nguời ấy chính là đối tượng cần được tiếp nhận ánh sáng của đấng Từ Phụ, ngõ hầu giúp họ vẹn toàn được giới đức, tâm đức và tuệ đức. Đây chính là mục tiêu mà giáo dục Phật giáo hướng đến giúp con người tự thân và con người xã hội tiếp xúc gần hơn với ánh sáng giác ngộ.
Chương 3: ĐƯỜNG LỐI GIÁO DỤC CỦA PHẬT GIÁO
Có lẽ nỗi băn khoăn lớn nhất xưa nay của các nhà giáo dục là tìm ra một đường hướng giáo dục, dạy cho con người những gì và phương pháp dạy đó như thế nào, để đem lại một kết quả tốt đẹp. Các nhà giáo dục luôn nghĩ đến việc đào tạo một con người có một trình độ nhất định để phù hợp với nếp sống văn hóa, văn minh đang phát triển, nhằm mục đích xây dựng cho con người có một cuộc sống ấm no hạnh phúc. Thế nhưng nền văn minh vật chất ấy phát triển đến đâu thì lại làm băng hoại đời sống và tư tưởng của con người đến đó. Thánh Gandhi đã nói: “Tri thức của con người tiến đến đâu thì sự ngu dốt cũng tiến theo đến đó”. Vậy nên, Đức Phật là một nhà giáo dục vĩ đại, Ngài nhận thấy thân này, của cải, vật chất .v.v… đều do nhân duyên tác hợp mà thành nên Ngài đã vạch ra cho nhân loại một đường hướng tốt đẹp, phù hợp với lẽ sống mà suốt hơn hai mươi lăm thế kỷ qua đến bây giờ vẫn luôn sống động. Con đường ấy chủ yếu là nhắm vào mặt tâm linh, nhằm giải thoát những chướng ngại trong cuộc sống thường nhật. Đường hướng ấy không phải áp đặt những tri thức từ bên ngoài mà khơi dậy cái tri thức vốn có ở bên trong. Con đường ấy, xuyên suốt mọi đối tượng, được xây dựng trên nền móng căn bản nhất đó là Thiền và Luật. Đây chính là một phong cách sống đạo vị và an lạc cho mọi người mà không một nền giáo dục nào có được.
3.1. GIỚI ĐỊNH TUỆ LÀ NỀN TẢNG
Từ định nghĩa trên chúng ta có thể nhấn mạnh rằng: Giới là nền tảng của người con Phật. Đó chính là nền tảng của sự phát triển tinh thần. Nếp sống thực hành giới là nếp sống đạo đức. Chính giới đã giúp chúng ta chế ngự được ba nghiệp. Do vậy, nếu hành giả quyết tâm thực hành tham thiền thì dẫn đến sự an lạc, ổn định tâm lý, sáng suốt tâm hồn thì cuộc sống sẽ vững vàng an trú trong hiện tại. Nhờ vậy mà định phát sanh, nếu hành giả thực hành định chơn chánh thì tâm sẽ được hoàn toàn an trụ, vượt qua các chướng ngại không còn bị lục trần làm xao động, người thực hành thiền định sẽ có tác dụng tăng trưởng được ký ức, ổn định tâm lý, phục hồi năng lượng, đem đến sự thoải mái cho tâm hồn, giúp cá nhân khai mở nguồn sáng tạo tâm lý, tiếp xúc được với hạnh phúc của nội tâm đưa đến sự thành tựu thiền quán, đoạn trừ các lậu hoặc. Nền tảng thứ ba được thành lập chính là Tuệ. Tuệ giúp hành giả thành tựu chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ v.v … Sự thành tựu này là nhân tố quyết định trong việc xây dựng văn hóa Giáo dục của nhân bản và trí tuệ dẫn đến giải thoát tri kiến thể nhập sự thật như như của vạn hữu pháp giới. Vậy nên, nền tảng của giáo dục Phật giáo không gì hơn là Giới – Định – Tuệ, điều này được thể hiện rất nhiều trong các kinh điển. Trong bài diễn văn khai mạc, Hòa thượng Viện trưởng Viện nghiên cứu Phật học Việt Nam có nói: “Có thể nói rằng toàn bộ giáo lý của Đức Phật là một hệ thống khai triển nội dung Giới – Định – Tuệ”. Và cũng trong một bài tham luận khác Hòa thượng cũng có bài viết với nhan đề “Giới, Định, Tuệ là con đường chấm dứt khổ đau, sanh tử luân hồi”. Trong đó, Hòa thượng đã nhấn mạnh: “Tam vô lậu học là một chương trình giáo dục, một hệ thống tu học cho hàng xuất gia đã được Đức Phật truyền dạy trong nhiều kinh điển”. Do vậy, người thực hành đầy đủ ba môn học này sẽ chế ngự được ba nghiệp (thân, miệng, ý) dẫn đến sự an lạc, ổn định tâm lý, sáng suốt cho tâm hồn. Cố Hòa thượng Trưởng ban Giáo dục Tăng Ni cũng đã nhấn mạnh về điều này: “Để thực hiện giải thoát phải tu tập nội dung giáo lý của Giới, Định, Tuệ”.
Như vậy, nền giáo dục của Phật giáo luôn dựa vào giáo lý căn bản Giới, Định, Tuệ để làm phương hướng giáo dục. Đó là nền tảng của sự phát triển tinh thần và nền tảng ấy được xây dựng vững chắc bởi các đệ tử xuất gia, quyết tâm thực hành pháp tham thiền hay định tâm, trang nghiêm trì giới. Chính pháp thực hành định chơn chánh luôn giữ tâm ở trạng thái quân bình, không giao động, tâm hoàn toàn an trụ không còn bị ngoại cảnh làm xao xuyến. “Đã thấu triệt cái gì phải thấu triệt, phải trau dồi những gì được trau dồi, phải dứt bỏ những gì đã dứt bỏ”. Đó chính là nền tảng của một nếp sống cao đẹp hướng thượng. Bởi vì, theo đạo Phật đó chính là con đường hữu ích, là một nền tảng được xây dựng bằng đời sống tâm linh, một tinh thần thiết yếu để có được một đời sống trong sạch, tinh khiết dẫn đến nhàm chán sinh tử, dứt bỏ tham sân, thấu đạt được tâm ý an tịnh.
“Người tâm ý an tịnh
Lời an nghiệp cũng an
Chánh trí chơn giải thoát
Tịnh lạc là vị ấy” [4 – 96].
3.2. ỨNG DỤNG GIỚI – ĐỊNH – TUỆ VÀO NỀN GIÁO DỤC
Sách có câu: “Học đi đôi với hành” hay “Học mà không tu là cái đãy đựng sách”. Thế nên, mỗi chúng ta phải ý thức rằng, dù có học rộng hiểu nhiều mà không áp dụng vào cuộc sống thì sự học ấy chỉ đáp ứng về mặt “giải” mà thôi. Giáo lý của đạo Phật cũng thế không phải đến để mà thấy mà phải sống và thực nghiệm chân lý ấy mới mong có lợi ích. Khi một hành giả nguyện đi trên con đường giới luật thì đồng nghĩa với việc vị ấy phải biết sống và áp dụng ba pháp học vào cuộc sống. Vì lẽ đó nên người sống đúng với tinh thần của giới học là phải biết thực hành các đức tính ít ham muốn, biết vừa đủ, sống viễn ly, độc cư, tinh cần v.v… Phải biết hổ thẹn, sợ hãi những điều ác mình đã gây tạo, phải sống không để ngoại cảnh chi phối tâm của mình, khi đã ý thức như vậy tức là đã đứng vững trên đất giới, người đó đã có hàng rào vững chắc được bao bọc bởi giới luật như người trồng trọt có hàng rào quanh khu vườn của mình thì không sợ trộm cướp và trâu bò phá hoại. Kinh dạy:
“Như mái nhà khéo lợp
Mưa không xâm nhập vào
Cũng vậy tâm khéo tu
Tham dục không xâm nhập”. [4 – 14]
Một khi tham dục không còn, hành giả an tâm hành thiền nhờ chế ngự các căn mà loại trừ các triền cái dần dần hưởng được hỷ lạc của sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền. Đức Phật dạy: “Như có hoa sen xanh, sen đỏ, sen trắng từ đáy hồ lớn lên trong nước. Các hoa sen ấy không có chỗ nào trên toàn thân không bị hồ nước ấy thấm nhuần”. [18 – 20]
Với tâm không còn phiền não trong sáng như vậy, hành giả hiểu biết rõ khổ, tập, diệt, đạo và con đường chấm dứt chúng, đoạn trừ các lậu hoặc thành tựu an lạc, giải thoát.
Như vậy, muốn thăng hoa trong cuộc sống hiện tại cũng như tương lai hãy ứng dụng Giới, Định, Tuệ vào cuộc sống để điều phục tâm ý, ngăn chặn những rối loạn điên đảo của tâm lý, sống tỉnh thức trong từng ý niệm, thấy rõ từng sát na trong cuộc sống đang vận hành theo nhân duyên sanh diệt là một tinh thần sống rất thiết thực. Ứng dụng Giới, Định, Tuệ vào đời sống để ý thức rằng giữa thời đại văn minh vật chất đầy dẫy nhưng đời sống tâm linh và nhu cầu tinh thần không được thỏa mãn, con người luôn cảm thấy bất an. Hãy áp dụng Giới, Định, Tuệ vào đời sống để ngăn chặn những rối loạn điên đảo của tâm lý, đồng thời lập lại một trật tự đạo đức cho con người và xã hội hiện đại. Ứng dụng Giới, Định, Tuệ vào đời sống cũng chính là đồng nghĩa với giáo dục, nhằm tịnh hóa thân tâm qua sự nỗ lực của mỗi người, tự mình ý thức trách nhiệm việc của mình đã làm chứ không phải ai khác. Trong buổi khai giảng khóa IV, Hòa thượng Hiệu trưởng Học viện Phật Giáo Việt Nam tại TPHCM đã nói:
- Là sinh viên Phật giáo trong thời kỳ xã hội hóa, hiện đại hóa, tiến lên văn minh toàn cầu hóa, với tinh thần “Duy Tuệ Thị Nghiệp” sống bằng pháp hạnh vô ngã, vị tha bổn phận và trách nhiệm chúng ta phải luôn tinh cần phát huy toàn triệt khả năng giới đức, tâm đức và tuệ đức, phải tập trung chuyên sâu hơn nữa các môn Phật học lẫn thế học, nhằm đáp ứng nhu cầu xã hội, đồng thời nêu cao gương hạnh Phật trong sứ mệnh lịch sử giao phó là “Truyền trì mạng mạch, tiếp dẫn hậu lai, hoằng pháp độ sanh, báo Phật ân đức” ngay trong cuộc sống này.
Như vậy, ứng dụng Giới, Định, Tuệ vào cuộc sống chính là tạo cho mỗi hành giả một nền tảng vững chắc như kiềng ba chân dù sóng gió cuộc đời vùi dập, hành giả vẫn như như bất động, đứng thẳng trên tâm địa mà không hề bị lay chuyển.
3.3. GIÁO DỤC CHUYỂN HÓA TÂM LINH
“Lang thang làm khách phong trần mãi
Ngày vắng xa quê vạn dặm trường”.
Không biết tự bao giờ chúng ta cứ lang thang mãi trong bao kiếp tái sanh trùng phùng của vòng luân hồi sanh tử. Chúng ta như một gã cùng tử lang thang nơi phương trời vô định mãi đi tìm châu báu mà không biết mình có sẵn ngọc châu trong chéo áo. Kinh dạy:
Trong nhà của báu thôi tìm kiếm
Đối cảnh vô tâm hỏi chi Thiền!
Thật đúng như vậy! Kho tàng giáo lý của Phật có tám vạn bốn ngàn pháp môn, nhiệm vụ của chúng ta là phải định hướng và chọn lựa cho mình một pháp môn thích hợp phù hợp với căn cơ của mình, nhằm mục đích là giải thoát mọi sự ràng buộc của thân tâm, quay về với sự tự chứng tự nội nói khác hơn là ngôi nhà tâm linh thật sự của chính mình. Đó mới chính là niềm hạnh phúc vô biên.
Khi nói đến tâm linh là nói đến một lãnh vực của tâm thức muôn màu muôn vẻ, giống như một vườn hoa lộng lẫy có đủ sắc hương. Kinh Pháp cú có dạy:
“ Tâm khó thấy tế nhị
Theo các dục quay cuồng
Lành thay điều phục tâm
Tâm điều an lạc đến”. [4 – 36]
Như thế, tâm là một địch thủ nguy hiểm nhất mà cũng là một người bạn tốt nhất. Tâm có thể vân du khắp mọi nẻo đường. Willam James một nhà Tâm lý học, một chuyên gia Triết học đã nhận xét như sau: “Tâm linh là một dòng sông, một sự nối tiếp những trạng thái, những đợt sóng, những hiểu biết, những cảm giác, những ước muốn, những ý định … đi qua và trở lại không ngừng tất cả những cái đó làm nên đời sống bên trong của chúng ta”. Đời sống nội tâm chính là tất cả đang hình thành một dòng chảy cảm xúc, những ý tưởng vi tế nhưng rất thật của con người.
Con đường chuyển hóa tâm linh chính là những pháp môn, phương tiện để mỗi cá nhân tự mình thực nghiệm nhằm khám phá thực tại nhiệm mầu. Giáo lý của đạo Phật không chủ ý là dạy cho chúng ta các pháp môn, mà chủ yếu là hướng dẫn chúng ta thấy rõ tinh thần cốt lõi của các pháp môn dưới cái nhìn duyên sinh vô ngã. Giáo lý ấy đặt trên nền tảng tâm linh và giải thoát. Giáo lý ấy như một biểu đồ hướng dẫn tuy có muôn vạn nẻo nhưng trong đó:
“Ý về muôn vạn nẻo
Thiền lộ tâm an nhiên
Từng bước gió mát dây
Từng bước nở hoa sen”.
Con đường Thiền quán như một con thuyền để chúng ta vượt qua bến bờ tri thức, giúp chúng ta có khả năng tự phản tỉnh, tự kiểm soát và thanh lọc thân tâm.
Vấn đề đã được đặt ra, nhiệm vụ của chúng ta phải hiểu rõ sự vận hành của tâm thức và những cơ chế hoạt động của chúng. Bởi lẽ, xưa nay tâm ta vẫn đang bị phủ kín bởi bức tường vọng kiến, vô minh mà không gì phá vỡ. Phương châm “liên tục và hành trì” là lời di huấn tối hậu của đấng Từ phụ. Ngài dạy không có một sự giải thoát nào, không có một sự thanh lọc nào có thể thực hiện được nếu không có sự nỗ lực của cá nhân. Nên phương pháp tham thiền giúp chúng ta nhận ra được những tham muốn, khát ái, đam mê, chấp thủ, những lạc thú tầm thường của thế gian. Từ đây, ý niệm tỉnh giác được hình thành và chỉ có chánh niệm tỉnh giác mới có sức mạnh vô biên giúp chúng ta vượt ra ngoài thế giới ảo mộng, nhận thức được thân này do năm uẩn, mười hai nhân duyên, v.v… hòa hợp mà thành, chúng vô thường vô ngã, không có một chủ thể nhất định hay “thân này không phải là ta, không phải là tự ngã của ta. Hiểu rõ như vậy, để chúng ta dễ dàng tiếp xúc với cuộc sống hiện tại đầy dẫy khổ đau. Đức Phật đã từng dạy: “Hãy tự mình thắp đuốc lên mà đi”. Thắp lên ánh sáng hiện hữu phá tan màn vô minh đưa đến tuệ giác. Hay:
“Quay về nương tựa
Hải đảo tự thân
Chánh niệm là Bụt
Soi sáng xa gần”.
Như thế, con đường chuyển hóa tâm linh chính là nền tảng để bước lên thềm thang giác ngộ. Nền tảng ấy chỉ được xây đắp khi chúng ta quay về với con đường thanh tịnh, với tự tâm của mình diệt trừ cố chấp vô minh, phát triển trí huệ bát nhã thì cánh cửa giải thoát sẽ hé mở, chúng ta mới thật sự tiếp xúc được với những nguyên lý nhiệm mầu của thực tại.
PHẦN KẾT LUẬN
Giáo lý Thanh Tịnh Đạo được trình bày là một giáo lý căn bản của Phật giáo Nam truyền, toàn bộ nội dung của bộ luận lấy ba môn học Giới, Định, Tuệ làm cương lĩnh. Bản luận được trình bày rất khúc chiết, rõ ràng, mạch lạc làm cho chúng ta thấy rõ tính chất vô thường, khổ, không vô ngã của vạn pháp. Song song với sự trình bày đó, các phương pháp tu tập cũng được sắp xếp thành một hệ thống từ thấp đến cao, từ dễ đến khó khăn nhằm tạo mục đích dễ dàng cho những ai có hoài bão thám hiểm đại dương chánh pháp và khát khao hương vị tinh truyền của hệ thống giáo lý Nguyên thủy. Chính thông điệp này đã hướng dẫn kẻ phàm phu đi vào Tam học, hiểu rõ hơn về chân tướng của cuộc đời và tìm cách thoát khỏi cuộc đời đầy tham vọng ấy. Đây chính là một cơ sở giáo dục nhằm thiết lập một hệ thống tâm linh đạo đức cao cả bằng cách nhìn nhận sự tướng của các pháp và sự chứng đạt qua lý duyên sinh.
Hiện nay, ngành giáo dục Việt Nam nói riêng và thế giới nói chung đã phát triển cả hình thức lẫn nội dung. Hướng phát triển giáo dục ấy làm nên văn hóa văn minh hiện tại. Tuy nhiên, nền đạo đức đang bị xuống cấp trầm trọng và xã hội đang ở thời điểm báo động. Hiện tại, nhân loại đang đối mặt với làn sóng của toàn cầu hóa và sự bùng nổ về những quyền lợi và tham vọng, mâu thuẫn giữa con người ngày càng vi tế và quyết liệt hơn. Đây chính là thời điểm mà nền giáo dục cần phải chỉnh đốn lại, đánh giá mục tiêu và hướng phát triển của chính giáo dục. Nhân đây, chúng ta càng thấy rõ hơn vai trò của Phật giáo và giáo dục Phật giáo quan trọng như thế nào. Chính nền giáo dục qua Giới, Định, Tuệ là một nếp sống đạo đức và đồng thời đó cũng chính là một nhân tố quyết định giúp cá nhân khai mở được nguồn sáng tạo trong việc xây dựng văn hóa giáo dục và văn hóa trí tuệ.
Như thế, giáo lý của đạo Phật nói chung và Tam vô lậu học nói riêng đã được chuyển tải vào cuộc đời bằng nhiều phương tiện khác nhau nhằm thích ứng với từng căn cơ, sở trường và mức độ tiếp nhận, với khả năng tự mình ứng dụng làm lợi ích cho tự thân, tự tâm và giải thoát trong cuộc sống hiện tại tốt đẹp. Đồng thời góp phần xây dựng một xã hội an lạc hạnh phúc miên viễn.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Thích Minh Châu – Tăng Chi Bộ Kinh I – trường Cao cấp Phật học Việt Nam cơ sở II ấn hành năm 1987.
[2] Thích Minh Châu – Tương Ưng Bộ Kinh V – Tu thư Phật học Việt Nam ấn hành 1982.
[3] Thích Minh Châu – Trung Bộ Kinh – Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam ấn hành 1992.
[4] Thích Minh Châu – Kinh Pháp Cú – Thiền viện Vạn Hạnh ấn hành 1996.
[5] Thích Minh Châu – Đức Phật nhà giáo dục vĩ đại – Nhà xuất bản Tôn giáo ấn hành 2005.
[6] Thích Quảng Độ – Nguyên thủy Phật giáo tư tưởng luận – Khuông Việt ấn hành 1971.
[7] Thích Quảng Độ – Tiểu thừa Phật giáo tư tưởng luận – Khuông Việt ấn hành 1971.
[8] Kim Định – Triết lý giáo dục – Ca dao xuất bản 1975.
[9] Thích Nhất Hạnh – Đạo Phật con đường thực nghiệm tâm linh – www.daophatngaynay.com
[10] Thích Nữ Trí Hải – Thanh Tịnh Đạo Luận – chùa Pháp Vân Ponoma, USA ấn hành năm 1992.
[11] Nguyên Hồng – Giáo dục học Phật giáo– Nhà xuất bản Tôn giáo – 2004.
[12] Phạm Kim Khánh – Đức Phật và Phật Pháp – Nhà xuất bản TPHCM ấn hành 1998.
[13] Phạm Kim Khánh – Phật giáo một nguồn hạnh phúc – Nhà xuất bản TPHCM ấn hành 1995.
[14] Thích Chơn Thiện – Phật học khái luận – Ban giáo dục Tăng Ni ấn hành năm 1993.
[15] Thích Giác Toàn – Giáo dục Phật giáo – Tài liệu học tập năm 2003.
[16] Thích Phước Sơn – Thanh Tịnh Đạo Luận Toản Yếu – Nhà xuất bản Tôn giáo năm 2004.
[17] Thích Phước Sơn – Tính chất Giáo dục của Giới luật Phật giáo – www.daophatngaynay.com
[18] Nhiều tác giả – Giáo dục Phật giáo trong thời hiện đại – Nhà xuất bản TPHCM năm 2001.
[19] Báo Giác Ngộ số 74, 80, 88 năm 2001.
[20] Báo Giác Ngộ số 251 năm 2004.
Giáo dục ở tự viện
Giáo dục ở tự viện
Giác Ngộ - Trước khi chịu ảnh hưởng sự giáo dục của trường lớp theo văn hóa Tây phương, nền giáo dục của Đông phương nói chung và ở Việt Nam nói riêng, mang tính cách gia đình, tính cách thầy trò theo tinh thần Nho giáo của Khổng Mạnh. Tuy nhiên, có thể thấy rõ việc giáo dục ở tự viện của Phật giáo Việt Nam đã góp phần quan trọng cho xã hội nước ta ở nhiều lãnh vực.
Thật vậy, những bài học của Phật giáo đã ảnh hưởng sâu sắc đến việc khai mở tâm trí, phát huy sự hiểu biết cho nhiều người và xây dựng cho cộng đồng xã hội những con người vừa có tài năng, vừa có nếp sống văn hóa và đạo đức. Thực tế cho thấy người ta đến chùa, ngoài việc đọc tụng kinh điển của Đức Phật, họ còn được gần gũi những bậc cao Tăng để học đạo đức làm người và học kiến thức văn hóa của xã hội.
Lịch sử nước ta đã lưu lại những việc làm tốt đẹp của sự giáo dục theo Phật giáo. Từ thời kỳ Việt Nam lập quốc, đa số vua quan đều học ở chùa; điển hình như vua Lý Nam Đế trước khi khởi nghiệp đã học đạo ở chùa. Ngoài ra, người chịu ảnh hưởng rõ nét sự đào tạo của chùa là Lý Công Uẩn, tức vua Lý Thái Tổ. Vị vua này đã được Thiền sư Vạn Hạnh un đúc, nuôi dưỡng, dạy dỗ thành người tài đức có công lớn trong việc mở mang triều đại nhà Lý, một triều đại mà theo cố giáo sư Hoàng Xuân Hãn nhận xét là triều đại thịnh trị và thuần từ nhất trong lịch sử nước ta. Từ đó về sau, các tự viện Phật giáo vừa đào tạo tu sĩ và Thiền sư, đồng thời cũng đào tạo được những người có tài an bang tế thế nổi tiếng.
Cho đến khi Quốc Tử Giám được thành lập và tổ chức nền giáo dục theo tinh thần Tam giáo đồng nguyên, thì đất nước ta mới chính thức có trường đào tạo người làm quan.
Từ đó về sau, chùa chỉ đào tạo người đạo đức. Tuy nhiên, việc chính yếu có thể thấy rõ là chùa chiền hay Phật giáo Việt Nam vẫn luôn giúp đỡ triều đình ổn định xã hội, cũng như đóng vai trò quan trọng cho an sinh xã hội. Có thể khẳng định rằng từ thời kỳ xa xưa cho đến ngày nay, hầu hết người dân Việt Nam vẫn còn ít nhiều chịu ảnh hưởng sự giáo dục đạo đức của các tự viện Phật giáo.
Hiện nay, các chùa đều tổ chức những khóa học giáo lý, giảng dạy về đạo đức cho Phật tử, giúp họ vừa đóng góp được việc làm tốt đẹp trong các hoạt động xã hội, vừa gìn giữ được nếp sống đạo đức mà chính yếu là nếp sống xây dựng trên nền tảng năm giới và mười giới theo Phật dạy.
Như các Phật tử đã biết, năm giới là không sát sinh, không gian tham trộm cướp, không tà dâm, không nói dối, không nói lời hung ác, không nói lời gây chia rẽ và không sử dụng những chất kích thích làm mất tự chủ. Mười giới gồm năm giới vừa nói cộng thêm năm giới mang tính cách tích cực hơn nữa; đó là chẳng những không sát sinh mà còn phóng sinh, còn bảo vệ mạng sống của tất cả các loài, kể cả bảo vệ môi trường sống của trái đất này. Chẳng những không gian tham, trộm cướp mà còn bố thí, san sẻ của cải vật chất cho những người kém may mắn hơn mình. Chẳng những sống cuộc đời đoan chánh mà còn hướng dẫn người khác cũng sống tốt đẹp như mình. Chẳng những không nói dối, không nói hung ác, không nói lời gây mất đoàn kết, mà luôn nói lời ngay thật, nói lời từ ái, nói lời tạo sự hòa thuận giữa mọi người. Chẳng những không sử dụng chất làm mất sự sáng suốt, mà còn hướng dẫn được nhiều người thoát khỏi con đường nghiện ngập, giúp họ không bị mất nhân phẩm, tâm trí không mê muội và giữ được gia đình hạnh phúc của họ.
Thiết nghĩ việc giữ gìn năm giới cho đến mười giới như trên, người Phật tử không tạo những việc tội lỗi, không nói lời tội lỗi, không suy nghĩ tội lỗi, mà hơn thế nữa còn làm những việc tốt đẹp và lời nói cùng suy nghĩ tốt đẹp. Vì vậy, năm giới cho đến mười giới chính là nền tảng đạo đức căn bản thiết thực nhất và có giá trị lớn lao cho việc xây dựng mẫu người sống đạo đức, tạo dựng được gia đình hạnh phúc, hòa thuận, góp phần xây dựng cộng đồng xã hội mà mọi người có thể tin cậy lẫn nhau, giúp đỡ lẫn nhau, cùng an vui, đoàn kết, phát triển, cho đến góp phần giúp trái đất của chúng ta được trong sạch, xanh đẹp, kéo dài được tuổi thọ, giúp cho thế giới hòa bình, mọi người và mọi loài cùng chung sống trong sự chia sẻ, nâng đỡ cùng phát triển cộng tồn.
Tóm lại, năm giới hay mười giới của Đức Phật dạy đã có giá trị từ thuở Ngài tại thế, cho đến ngày nay vẫn còn nguyên giá trị hữu ích cho cuộc sống tốt đẹp của cả nhân loại. Thật vậy, khi mà hận thù, bạo lực, chiến tranh hàng ngày vẫn đang diễn ra ở khắp mọi nơi, khi mà sự sống của con người và nhiều chủng loại khác đã bị hủy diệt và đang bị đe dọa, khi mà lá phổi của địa cầu này đang bị chọc thủng, khi mà môi trường sống của con người đang từng ngày bị ô nhiễm trầm trọng, chỉ vì lòng tham lam, ích kỷ, thù hận, mê muội của con người, thì hơn bao giờ hết việc tuân thủ năm giới cho đến mười giới của Đức Phật vẫn vô cùng cần thiết cho cuộc sống tốt đẹp, an lạc, hòa bình của từng người, từng gia đình, từng quốc gia và cho cả cộng đồng nhân loại cùng muôn loài trên quả địa cầu này.
Giận: Một sức mạnh để chuyển đổi
Giận: Một sức mạnh để chuyển đổi
Trong muôn vàn những cảm xúc phức tạp lẫn tinh tế của con người, thật khó có thể tìm thấy một xúc cảm nào gây xáo động hơn sự tức giận. Trong công việc của một nhà trị liệu, tôi thường nghe những mâu thuẫn trong tư tưởng về sự tức giận mỗi ngày.
Người ta nói rằng: “Tôi cảm thấy giận chồng/vợ tôi, tôi cảm thấy giận bạn tôi, giận con tôi, giận ông chủ của tôi,…”. Và “tôi đã đọc những cuốn sách tôn giáo, trong đó dạy rằng chúng ta không nên tức giận, tức giận là phiền não, là độc tố, là tội lỗi. Hoặc, tức giận là một sự che đậy cho những cảm xúc thực của chúng ta, như là sự lo sợ. Đúng ra tôi không nên tức giận. Nhưng tôi đã tức giận”.
Thật là quá gò ép khi cảm thấy rằng có những điều lẽ ra chúng ta không nên để cho nó xảy ra. Sự thật là chúng ta không thể điều khiển được những xúc cảm của ta, cũng như chúng ta không thể điều khiển được thời tiết. Tại sao chúng ta không nghĩ đến một cách khéo léo hơn để hành xử với cơn giận?
Tôi tin rằng mọi xúc cảm xuất hiện trong ta đều muốn nói với chúng ta những điều gì đó quan trọng, về nội tâm của chúng ta cũng như về ngoại cảnh. Tức giận là một sự “khôn khéo” của chúng ta để cho chúng ta biết rằng có một vài thứ cần phải thay đổi. Sự tức giận là một phần không thể thiếu trong hệ điều khiển cảm xúc mà tất cả mọi người đều đã được trang bị sẵn.
Với tư cách là một nhà tâm lý liệu pháp đã được tu học giáo lý của đạo Phật, tôi muốn trình bày một quan điểm hơi khác lạ, rằng sự tức giận là một xúc cảm mạnh mẽ, sâu sắc và hoàn toàn thật, nó có giá trị riêng của nó. Giận là một phản ứng trung thực trước những tình huống mà ở đó bản chất của tính chính trực trong chúng ta bị xâm phạm, và nó giúp cho chúng ta có thêm nghị lực để thiết lập lại những ranh giới đã bị xâm hại ấy. Giận là một sức mạnh mà chúng ta cần để thiết lập ranh giới, tạo ra những giới hạn và để hành động. Nó là một sức mạnh để chúng ta làm những điều gì đó khác hơn.
Carolyn là một thiếu nữ ở tuổi 30. Cô ta thông minh, xinh đẹp nhưng lại phiền muộn. Cô ấy bảo rằng, tính tình của mẹ cô ta thật đáng chán, và cô cảm thấy lo ngại cho sức khỏe của bản thân. Nấp dưới những cảm xúc đó là sự giận dữ mà đôi khi nó bộc phát dữ dội không thể lường được. Bởi vì người phụ nữ thuộc thế hệ mẹ của cô ấy là những người nhu mì, họ dễ dàng chấp nhận tất cả, không hề đòi hỏi hay đấu tranh cho quyền lợi của mình.
Một người con gái hiền lành thì chỉ có thể buồn chứ không nên giận hờn. Carolyn là một cô gái hiền lành. Và cô ấy đang bị kẹt, đang không có hạnh phúc. Song cô ta đủ sáng suốt để nhìn nhận sự khó chịu của cơn giận bị kiềm nén, và đủ dũng khí để tiếp tục làm điều đó.
Một vị thần Phẫn nộ trong Phật giáo Tây Tạng
Tôi bảo với cô ta rằng, sự tức giận ấy có một sức mạnh giúp thay đổi cuộc sống của bạn. Hãy nhìn vào nó, thử xem xét kích cỡ của nó. Theo dõi bằng cảm tính xem nó tạo ra những cảm giác như thế nào bên trong bạn. Và cô ấy đã thốt lên trong sự ngạc nhiên rằng, tôi cảm thấy nó lớn dần lên rất nhiều. Theo kinh nghiệm của mình, tôi nói tiếp, giận là một nguồn năng lượng lớn mạnh, nó có thể làm thay đổi thế giới. Có lẽ bạn đã sớm gạt bỏ năng lượng ấy qua một bên, nhưng bây giờ bạn cần đến nó để tiến xa hơn.
Hành xử với cơn giận theo cách này đòi hỏi chúng ta phải có sự nhận thức rõ ràng về những diễn biến trong thân thể ta - cảm nhận một cách chính xác về sự trỗi dậy của năng lượng, từ đỉnh đầu cho đến những ngón chân. Chú ý ngậm miệng lại, nắm chặt nắm tay và làm cho nguồn năng lượng ấy lớn dần lên trong khi vẫn bám giữ lấy nó. Chúng ta có thể dùng những cảm nhận thuần túy về sự tức giận để hiểu thêm về chính mình - biết được những điều rất quan trọng như là chúng ta đang có mặc cảm tội lỗi hoặc là chúng ta đang bị lôi kéo. Ngay cả với những tình huống đã xảy ra cách đấy vài năm, chúng vẫn có thể được cảm nhận một cách rõ ràng về những điều mà cơ thể chúng ta đã gợi nhắc cho chúng ta biết trong khoảng thời gian đó.
Cách làm này có thể tạo nên sức mạnh để chọc thủng những ‘bức màn’ xúc cảm về sự thất vọng và chán nản mà chúng thường thể hiện ra bên ngoài khi sự tức giận bị kiềm nén, chúng là sự trá hình của cơn giận. Sự tức giận có đủ năng lượng để thay đổi cuộc sống của chúng ta, nếu chúng ta khéo léo hành xử với nó. Và những thay đổi ấy không phải diễn ra một cách khó chịu hay thô tháo, chúng diễn ra một cách rõ ràng và hùng mạnh.
Thường thì những người nổi giận họ biểu lộ những vấn đề ấy theo cách ngược lại. Chúng ta luôn cảm nhận được sự tức giận chứ không phải là không, công việc vẫn là nhận diện sự tức giận và bám theo những xúc cảm của nó, thay vì chìm vào trong cơn giận dữ nguy hại, kiềm giữ lấy nó chứ không phản ứng hay khuấy động nó. Nhiệm vụ ở đây là tập trung chú ý vào sức mạnh của cơn giận và để cho nó tác động lên bạn, củng cố những ranh giới của chính bạn thay vì để mặc cho ngoại cảnh xâm hại.
Khi sự mâu thuẫn xuất hiện, bạn có những sự lựa chọn. Bạn có thể tác động ngược trở lại, nhưng việc làm này sẽ gây ra nhiều nguy hại. Bạn cũng có thể dừng lại, và bỏ lỡ cơ hội như đã được đề cập đến. Hoặc là bạn có thể phản ứng một cách trung thực bằng cách tập trung và theo dõi những sức mạnh đang lớn dần lên bởi cơn tức giận và chúng đang vận hành trong từng huyết quản của bạn. Bạn nhận ra được rằng: “Tôi bị tổn thương bởi những gì anh đã gây ra. Điều đó không dễ chịu đối với tôi”. Sự tức giận giúp chúng ta hiểu rõ hơn về chính mình, giúp ta làm sáng tỏ những điều bị lu mờ bởi sự che lấp của vô thức.
Bây giờ chúng ta chú ý xem cách mà cơn giận dùng để thiết lập ranh giới rõ ràng, nó bảo rằng, bạn không được vượt qua giới tuyến này, bạn không được bóp méo tôi, không được phá hỏng tôi. Đây là không gian của tôi và kia là của bạn. Đấy không phải là ích kỷ, nó chỉ mang một ý nghĩa thông thường và cũng là để tôn trọng chính mình và người khác. Ưu điểm của sự tức giận là ở nơi khả năng tạo ra những ranh giới và phân định rạch ròi về những điểm khác nhau. Đấy chính là mục đích của nó và chúng ta thật là phụ bạc với mục đích ấy khi chúng ta vứt bỏ nó, không thèm để ý đến nó.
Sự tức giận có một giá trị bền vững không thể nào thay đổi, và nó đã được biểu tượng hóa thành những vị thần Phẫn nộ trong Phật giáo Tây Tạng. Họ không phải là những yêu ma độc ác, họ là những vị Phật đã giác ngộ, là những hóa thân của lòng từ bi với tâm tỉnh giác trong việc sử dụng một cách khéo léo năng lượng thuần khiết của sự tức giận để phá tan những tâm trạng căng thẳng và bi quan. Tất cả chúng ta có thể đã dùng đến một số năng lượng của sự phẫn nộ ấy trong cuộc sống của chúng ta để nhằm vào những chướng ngại bên trong cũng như bên ngoài. Tinh thần vô úy và tính thuần khiết của sự tức giận, như đã được diễn tả một cách hình tượng bằng những vị thần Phẫn nộ, khẳng định rằng, khả năng tiềm ẩn của sự tức giận có thể tạo ra được những năng lực mạnh mẽ và tinh tế cho sự thăng hoa của cuộc sống.
Đăng ký:
Nhận xét (Atom)